Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 05:11:01 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận quyết chiến lịch sử Xuân 1975  (Đọc 18152 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #50 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:45:21 PM »

       
TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY Ở THÀNH PHỐ  SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ

        Vào đầu mùa khô 1974-1975, tình hình chiến trường B2 có những nét mới. Tháng 9 năm 1974, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục, về thành phố Sài Gòn, Trung ương Cục đã họp với thành uỷ đánh giá tình hình địch, ta, kiểm điểm những chủ trương hoạt động của ta và đi đến kết luận: địch đang khủng hoảng toàn diện, quần chúng đang chuyển mạnh. Cần phải tích cực hoạt động, phát động quần chúng đưa phong trào lên, chống tư tưởng ngại khó, chần chừ, cố thủ. Phải có quyết tâm lớn, khai thác thời cơ phát triển phong trào, tiến lên mở rộng vùng giải phóng liên vùng, liên xã, liên huyện. Lãnh đạo thành phố chia ra hai cánh: cánh A phụ trách đô thị; cánh B phụ trách nông thôn.

        Sau Hội nghị Trung ương Cục ngày 15 tháng 9 năm 1974, Thành uỷ mở Hội nghị toàn thể cán bộ nông thôn (cánh B) gồm trên 300 đồng chí. Cuộc họp kéo dài một tháng. Kiểm điểm tình hình nông thôn tính đến lúc này, ở 80 xã ven và 14 xã đô thị hoá, ta đều đã có cơ sở; trong số 337 ấp, ta có cơ sở ở 251 ấp, còn 86 ấp trắng. Vùng nông thôn có 80 chi bộ đảng với 601 đảng viên; có 40 chi đoàn với 284 đoàn viên thanh niên lao động. Sau khi kiểm điểm mọi mặt, phê phán tư tưởng co thủ, hữu khuynh, hội nghị chủ trương:  phát động quần chúng, đẩy mạnh ba mũi giáp công mở "lõm", mở vùng, xây dựng củng cố vùng căn cứ Củ Chi, xây dựng các vùng, các "lõm" giải phóng liên hoàn, diệt ác, phá kìm, làm tan rã phòng vệ dân sự, diệt đồn, bốt và giữ luôn không cho địch đóng lại.

        Theo kế hoạch chung của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền, đợt một của chiến trường B2 mở ra từ ngày 5 tháng 12 năm 1974 tới cuối tháng 2 năm 1975. Như vậy chiến trường B2 hoạt động sớm một bước so với các chiến trường khác ở miền Nam.

        Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền, trong đợt một, thành phố đã đẩy mạnh hoạt động mọi mặt và giành được thắng lợi lớn, trong ba tháng đã hoàn thành căn bản nhiệm vụ dự kiến cho cả năm 1975. Chỉ tính riêng vùng nông thôn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 4281 tên địch, bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm 13 tàu chiến, phá hỏng 78 xe quân sự, chiếm 84 đồn, bốt và 5 kho, giải phóng hoàn toàn thêm 3 xã và giải phóng cơ bản thêm 4 xã, 37 ấp với 17.000 dân.

        Sang đợt hai, từ ngày 9 tháng 3 năm 1975 quân và dân Sài Gòn - Gia Định lại đẩy mạnh hoạt động lên một bước mới. Ta phá huỷ 5 xe tăng địch tại Phú Hoà Đong, diệt 7 bốt địch ở Tân Thạnh Tây, Thái Mỹ, Xuân Thới Sơn. Đặc biệt ngày 20 tháng 3 tiểu đoàn "Quyết thắng" đã phối hợp cùng quân bộ đội địa phương và du kích Củ Chi diệt và bắt sống đoàn xe chở đạn 51 chiếc và 2 xe hộ tống trên đường số 1 ở Củ Chi; sau đó, chặn đánh thiệt hại nặng 2 đại đội, tiêu diệt 1 đại đội và 2 trung đội địch đến ứng cứu. Ta còn tiến công địch ở sân bay Đồng Dù, kho xăng Vũng Bè (Gò Vấp), diệt địch ở Tân Túc, v.v... tạo thế đứng chân sát vào thành phố.

        Sau chiến thắng Phước Long (6-1-1975), thực tế chứng minh Mỹ khó còn khả năng can thiệp. Ngụy quyền tay sai ở Sài Gòn để tang thất bại Phước Long, hội nghị bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975 đã hạ quyết tâm chiến lược, thông qua kế hoạch cơ bản hai năm giải phóng miền Nam (1975-1976), đồng thời dự kiến nếu thời cơ đến thì giải phóng miền Nam trong năm 1975.

        Sau khi ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột (10-3-1975), tiếp đó giải phóng Tây Nguyên và một loạt tỉnh từ Trị - Thiên đến khu 5, ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định: "Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm".

        Trước đó, ngày 29 tháng 3, Trung ương Cục họp Hội nghị lần thứ 15 và ra Nghị quyết đặc biệt, đánh giá tình hình chung miền Nam, thắng lợi của ta, thất bại của địch, đề ra nhiệm vụ của đảng bộ là: "Động viên toàn Đảng,  toàn quân, toàn dân tập trung cao nhất mọi sức mạnh tinh thần và lực lượng của mình, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, ba thứ quân, ba vùng, vùng lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sập toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân với khí thế tiến công quyết liệt, thần tốc, táo bạo và quyết giành toàn thắng, giải phóng xã mình, huyện mình, tỉnh mình và toàn miền Nam".

        Chiều ngày 7 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Bộ Chính trị, tới căn cứ của Bộ tư lệnh Miền. Sáng ngày 8 tháng 4 đồng chí phổ biến nghị quyết của Bộ chính trị và công bố quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định (sau này mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh) do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh và đồng chí Phạm Hùng làm Chính uỷ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, phó Bí thư Trung ương Cục, được phân công phụ trách mũi nổi dậy của quần chúng ở thành phố. Đồng chí Võ Văn Kiệt được phân công phụ trách việc tiếp quản thành phố.
       
        Nghị quyết của Bộ Chính trị càng soi sáng thêm nhận định của Trung ương Cục là chính xác. Riêng chủ trương "xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện,  tỉnh giải phóng tỉnh" thì chưa đặt ra ngay vì điều kiện chưa chín muồi. Nghị quyết Bộ Chính trị còn xác định cụ thể thời gian giải phóng thành phố và giải phóng miền Nam.

        Sau khi được phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị, Trung ương Cục đã làm việc với Thường vụ thành uỷ vào ngày 12 tháng 4. Thường vụ thành uỷ đã ban hành tài liệu hướng dẫn "những việc cần làm ngay trong giai đoạn trước, trong và sau khi thành phố được giải phóng". Tài liệu xác định: "hiện nay chúng ta đang ở vào thời kỳ trực tiếp cách mạng ở thành thị, là giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, hoàn thành giai đoạn chốt của cách mạng dân tộc dân chủ miền Nam".

        Về khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa ở đô thị, tài liệu chỉ rõ:

        "Lúc nào sẽ có thời cơ khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa ở đô thị? Đó là lúc mà các cuộc công kích và khởi nghĩa của ta xung quanh thành phố giành được những thắng lợi hết sức to lớn làm cho:

        - Những lực lượng chủ lực bảo vệ xung quanh thành phố của địch bị đánh quy, tổn thất nặng nề;

        - Bọn địch đảo chính lẫn nhau, hoặc phải thay đổi cấp lãnh đạo chủ chốt;

        - Và những tình hình ấy đã làm cho ngụy quân, ngụy quyền rối loạn, không kiểm soát được tình thế, mất hẳn ý chí chiến đấu, rút chạy. Một tình trạng vô chính phủ rối loạn diễn ra ở thành phố.

        Lúc đó phải hết sức kiên quyết phát động khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa ở đô thị dù đại quân chưa vào tiếp nhận thành phố; chống mọi tư tưởng trông chờ...".

        "Trước hết cướp chính quyền ở cơ sở. Đập tan bộ máy kìm kẹp ở phường, khóm, xã, ấp, xí nghiệp, trường, chợ của địch...".

        "Nhanh chóng từ khởi nghĩa ở cơ sở chuyển lên khởi nghĩa cướp chính quyền ở từng quận và toàn thành phố".

        Về chỉ đạo, Thường vụ thành ủy chủ trương điều chỉnh lại hai cánh A và B. Cánh A phụ trách các huyện Bình Chánh, Nhà Bè và nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Cánh B phụ trách các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Đức và thị xã Gia Định.

        Trung ương Cục nhanh chóng điều động cán bộ bổ sung, tăng cường cho thành phố. Thành uỷ cấp tốc phổ biến nhiệm vụ cho các cánh. Cánh A về bám địa bàn Vườn Thơm, cánh B về phía nam Củ Chi. Những cán bộ được đưa về nội thành trước lên đường ngay, còn phần lớn áp sát thành phố trên những hướng được phân công. Tới trước ngày chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, ở nội thành đã có hơn 700 cán bộ và vùng ven - trên 1.000 cán bộ; ngoài ra, còn 1.300 cán bộ đã tiếp cận chỉ cách 13-15 km, sẵn sàng vào thành phố. Ở nội thành và vùng ven, có 1.290 đảng viên (riêng nội thành là 735) với hơn 10.000 quần chúng nòng cốt. Có 40 lõm chính trị với 7.000 quần chúng đã giành được quyền làm chủ ở mức độ khác nhau. Có 400 tổ chức công khai và biến tướng với gần 25.000 người do ta nắm.

        Theo chủ trương của Thành ủy, đã nhanh chóng tăng cường lực lượng vũ trang thành phố Sài Gòn - Gia Định, rút từ du kích tăng cường cho bộ đội địa phương và rút từ bộ đội địa phương tăng cường cho các đơn vị tập trung của Thành, lập thêm trung đoàn Gia Định 2 lấy tên là trung đoàn "Đất thép". Đến lúc này, bộ đội tập trung của thành phố có 2 trung đoàn và 5 tiểu đoàn. Mỗi huyện có từ 1-2 đại đội. Ngoài 3345 du kích, còn có 233 tự vệ mật. Có 6 trung đoàn đặc công của trên đã nằm ở thành phố và vùng ven. Biệt động có 1 lữ đoàn gồm 3 tiểu đoàn và 9 đội, 60 tổ.

        Đã chuẩn bị được 6 nhà in để in tài liệu cách mạng, cùng hàng trăm xe phóng thanh. Trong các "lõm" chính trị, các cơ sở tại nội thành đã chuẩn bị may cờ. Các đội tuyên truyền xung phong được thành lập, các đội an ninh vũ trang đã được triển khai xuống ven đô.

        Như vậy trước khi bước vào chiến dịch, cùng với lực lượng của trên tiến về giải phóng thành phố, lực lượng tại chỗ trong và ven thành phố đã được động viên và bố trí sẵn sàng hành động*.

        Quân và dân ta đi vào chiến dịch với khí thế quyết tâm tiến công và nổi dậy giải phóng thành phố, giành thắng lợi hoàn toàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #51 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:47:38 PM »

   
*

*      *

        Vì đây là hang ổ cuối cùng của chúng nên bọn Thiệu đã cố gắng đến mức cao nhất hòng tránh khỏi sự sụp đổ nhanh chóng. Mỹ cũng cố tìm cách cứu vớt ngụy; ngày 28 tháng 3 năm 1975, tướng Uây-en, tham mưu trưởng lục quân Mỹ, được cử đến Sài Gòn giúp ngụy vạch kế hoạch phòng thủ. Ở tuyến ngoài, chúng bố trí 5 sư đoàn và 2 lữ đoàn, ở tuyến ngoại vi thành phố - 1 sư đoàn và 1 lữ đoàn chia thành 4 khu phòng thủ. Trong nội đô, chúng tổ chức thành 5 liên khu chống thâm nhập và nổi dậy. Ngày 2 tháng 4, Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng ngụy, kêu gào giữ phần đất còn lại. Ngày 5 tháng 4, Thiệu ra lệnh "tử thủ" Phan Rang.

        Lực lượng ngụy tại Phan Rang có 1 lữ đoàn, 6 tiểu đoàn 1 chi đoàn xe bọc thép, 7 trận địa pháo và 1 sư đoàn không quân gồm 100 máy bay các loại. Đây là một cụm phòng thủ từ xa để giữ Sài Gòn, do tên tướng Viễn Vĩnh Nghi, tư lệnh bộ chỉ huy tiền phương quân khu 3 ngụy chỉ huy. Thiệu đinh ninh phải mất nhiều tháng nữa, quân ta mới với tới được Sài Gòn. Nhưng chúng đã lầm, chiến dịch Hồ Chí Minh như một bàn tay thép đang nắm lại đưa dần chúng vào chỗ chết.

        Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 25 tháng 4 năm 1975 có thể coi là thời gian chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch.

        Ở cánh đông, từ ngày 14 đến 16 tháng 4, quân ta tiến công tiêu diệt, giải phóng Phan Rang; ngày 18 tháng 4 giải phóng Phan Thiết. Tiếp theo, ngày 22 tháng 4, giải phóng thị xã Hàm Tân.

        Tại Long Khánh, từ ngày 9 tháng 4, quân ta tiến công thị xã Xuân Lộc. Tới ngày 20 tháng 4, địch bị thiệt hại nặng và bị chia cắt ở Trảng Bom, lại bị tan vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang, Thiệu vội vã ra lệnh cho quân ngụy ở  Xuân Lộc rút chạy về cố thủ ở Biên Hoà.

        Ở cánh bắc và tây - bắc, các quân đoàn, sư đoàn của ta từ Tây Nguyên, đồng bằng khu 5, từ đồng bằng sông Hồng cấp tốc hành quân về đây. Lực lượng vũ trang tại chỗ và quần chúng cách mạng đã tích cực tham gia chuẩn bị cho các lực lượng này nhanh chóng bước vào chiến đấu.

        Ở cánh nam và tây - nam, quân ta cắt đứt lộ 4 từ Bến Lức tới Tân An, từ dưới Tân An tới Trung Lương, từ Cai Lậy tới An Hữu. Quá về phía tây, ta cắt lộ Cần Thơ - Vĩnh Long. Các lực lượng sẽ đánh từ hướng tây vào thành phố mở đường vùng Quẹo Ba xuống phía tây sông Vàm Cỏ Đông và chuẩn bị vượt sông. Các trung đoàn 24, 88, 271b sẽ đánh từ hướng nam vào thành phố, phải hành quân từ Cái Bè, Cai Lậy qua Chợ Gạo, Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc để kịp có mặt ở phía nam thành phố vào ngày 29 tháng 4. Trong khi đó, ở hướng đông, đoàn 10 cắt sông Lòng Tàu, chặn đường ra biển.

        Các lực lượng chính trị, vũ trang của thành phố căn cứ vào nhiệm vụ được giao, tiến vào thành phố và những địa bàn đã được phân công.

         Tới trước giờ nổ súng ngày 26 tháng 4 năm 1975, vòng vây của ta xung quanh thành phố đã được khép chặt.

        Về phía địch, ngày 18 tháng 4 bộ trưởng quốc phòng ngụy Trần Văn Đôn, sau khi đi kiểm tra, đa thốt lên: "Tình trạng nguy ngập thật sự. Sự sống chỉ còn có thể tính từng ngày, từng tuần, không thể tính từng tháng". Cùng ngày chính quyền Pho-Kít-sinh-giơ ra lệnh di tản bọn Mỹ ở Sài Gòn; cử Đin Brao phụ trách lực lượng đặc nhiệm gồm 35 tàu chiến, có 4 tàu sân bay và hàng trăm máy bay để tiến hành di tản dưới cái tên "Cuộc hành quân người liều mạng". Cuộc rút chạy của Mỹ bắt đầu từ ngày 21 tháng 4. Uây-en than thở: "Tình hình quân sự là tuyệt vọng".

        Từ ngày 4 tháng 4, Thiệu cho chính phủ Trần Thiện Khiêm từ chức; ngày 14 tháng 4 cho Nguyễn Bá Cẩn lên thay Khiêm. Và sau một thời gian dùng dằng ngoạn cố, cuối cùng, ngày 21 tháng 4, Thiệu cũng phải rời khỏi dinh Độc lập để Trần Văn Hương lên thay.

        Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là thời gian tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Theo quyết định của Bộ chỉ huy chiến dịch, nhiệm vụ của 5 cánh quân chủ lực là nhanh chóng đánh chiếm 5 mục tiêu chủ yếu: dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát.

        Cách đánh được quyết định như sau: "Dùng một bộ phận bao vây, chia cắt, chặn giữ quân địch lại không cho chúng rút chạy về Sài Gòn, tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh chủ lực của địch phòng thủ vòng ngoài, đồng thời dùng đại bộ phận lực lượng của ta nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hoá mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào năm mục tiêu đã được chọn lựa trong nội thành".

        Nhiệm vụ các lực lượng vũ trang của thành phố, các lực lượng biệt động, đặc công là chiếm giữ các cầu, không cho địch phá khi rút chạy, chiếm các bàn đạp, mở đường và dẫn đường cho bội đội chủ lực tiến công, đồng thời trừ gian diệt ác, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiệm vụ của lực lượng chính trị là kết hợp với lực lượng vũ trang phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

        Về địch, ngày 28 tháng 4, với sự dàn xếp, thúc ép của Mỹ và những thế lực nước ngoài khác, Trần Văn Hương từ chức để Dương Văn Minh lên làm tổng thống.

        Về ta, các mũi tiến quân của chủ lực diễn ra như sau: Ở hướng bắc, quân đoàn 1 sau khi diệt nhiều trận địa pháo của địch, tiến công tiêu diệt căn cứ Lai Khê do sư đoàn 5 ngụy chiếm giữ, đánh chiếm Tân Uyên, Phú Lợi, đánh địch ở An Lợi, Búng, đánh chiếm Lái Thiêu, rồi thẳng tiến xuống Bình Phước; trên đường tiến đã đánh tan lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp ngụy từ Biên Hoà chạy về ở phía đông cầu Bình Phước, bắt sống 180 xe các loại. Lực lượng vũ trang địa phương và biệt động đã chiếm giữ cầu Bình Phước và phía tây chờ chủ lực vào.

        Quân chủ lực tiếp tục chia làm hai cánh: một cánh vòng sang An Phú Đông đánh vào Gò Vấp; một cánh tiến thẳng xuống Bình Triệu rồi theo đường Hàng Xanh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Tại đây đơn vị biệt động Z28 do đồng chí Lê Văn Vĩnh, Anh hùng quân đội, chỉ huy, đã chiếm phía trong thu chìa khoá, sổ sách, tài liệu, đòn quân chủ lực đánh từ phía ngoài vào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #52 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:49:22 PM »

        Ở hướng tây-bắc, quân đoàn 3 diệt 11 trong tổng số 18 trận địa pháo địch, rồi tiến công vào sư đoàn 25 ngụy ở căn cứ Đồng Dù. Địch tháo chạy tán loạn, nhưng tới Tân Phú Trung gần cầu Bông thì tên sư đoàn trưởng Lý Tòng Bá cùng với lũ tàn quân đều bị bắt, vì cầu Bong đã bị trung đoàn Gia Định chiếm giữ từ trước. Sau khi chiếm Đồng Dù, quân ta tiếp tục quét địch ở các vị trên bên ngoài và dọc đường lên Gò Vấp; Lập Tảo, Phước Hiệp, Suối Sâu, Trà Võ, Bến Mương. Bầu Nâu, Cầm Giàng, diệt 1 trung đoàn ngụy, bắt sống 600 tên.

        Quân chủ lực qua cầu Bông đánh thành Ông Năm, qua trường huấn luyện Quang Trung xuống thẳng Bà Quẹo suốt chặng đường 15km mà trung đoàn "Quyết thắng" (Gia Định 1) đã chiếm giữ từ trước.

        Sáng 30 tháng 4, từ Bà Quẹo quân ta tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh quân dù và khu truyền tin.

        Tại hướng tây-nam, sư đoàn 9 binh đoàn 230 vượt sông Vàm Cỏ Đông đánh chiếm Hậu Nghĩa, Đức Hoà, bắt sống 1.000 tên địch, rồi tiến xuống Bà Hom, đường vòng quanh thành phố (xa lộ Đại Hàn). Sáng 30 tháng 4 đánh chiếm Biệt khu thủ đô.

        Tại Tân An, quân ta diệt và làm tan rã sư đoàn 22 và liên đoàn biệt động quân số 6 ngụy, giải phóng Tân An, Thủ Thừa.

        Trung đoàn 16 theo đường 4 đánh vào Bình Điền, An Lạc rồi tiến vào Chợ Lớn. Các trung đoàn 24, 38 từ Hưng Long, Đa Phước, nam cầu chữ Y được nhân dân đưa xe đò chở vào thành phố đánh chiếm Tổng nha cảnh sát ngụy sáng ngày 30 tháng 4.

        Tại hướng đông, quân đoàn 4 tiến đánh Trảng Bom, Hố Nai, Hốc Bà Thức và căn cứ quân khu 3 ngụy, sân bay Biên Hoà và thị xã Biên Hoà; một cánh khác đánh chiếm Tam Hiệp. Xe tăng của quân đoàn 4 vòng ra xa lộ, theo sau quân đoàn 2, tiến vào thành phố chiếm Bộ quốc phòng ngụy, cảng Bạch Đằng và đài phát thanh.

        Tại hướng đông-nam, quân đoàn 2 đánh chiếm căn cứ Nước Trong; sư đoàn 3 (quân khu 5) diệt 1 lữ đoàn dù, giải phóng Bà Rịa, rồi tiến xuống giải phóng Vũng Tàu; một cánh đánh chiếm Long Thành rồi tiến về Nhơn Trạch, một cánh vượt sông Buông tiến lên Long Bình. Trước đó, đoàn 116 đặc công đã hai lần tiến công cầu Đồng Nai, đánh tan 1 tiểu đoàn dù ngụy và diệt một đoàn xe ngụy 15 chiếc từ Long Thành chạy về, chiếm giữ cầu và nam khu Long bình đợi quân chủ lực vào. Đồng chí Tống Việt Dương, Anh hùng quân đội, cho đoàn 116 (trừ 2 đại đội ở lại giữ cầu) lên xe tăng của lữ đoàn 203 quân đoàn 2 cùng tiến vào thành phố theo xa lộ Biên Hoà-Sài Gòn. Đồng chí hướng dẫn xe tăng ta đánh vào khu liên trường huyện cảnh sát ngụy ở Tăng Nhơn Phú, diệt và làm tan rã địch ở đây rồi tiến đến Cầu Rạch Chiếc. Tại đây một đơn vị biệt động đã anh dũng chiến đấu giữ cầu chờ quân chủ lực vào. Tới khu vực xã An Phú (Thủ Đức), bộ binh địch bắn ra ráo riết; đoàn 116 đã đánh tan bọn này để xe tăng ta tiếp tục tiến lên. Đoàn xe tăng tới ngã tư Hàng Canh thì gặp xe của cán bộ tình báo ta trong thành phố ra bắt liên lạc, dẫn đường đến Thị Nghè rồi theo đại lộ Thống Nhất vào chiếm dinh Độc lập lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Các lực lượng tập trung của thành phố Sài Gòn-Gia Định đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; đã đánh chiếm và giữ vững các cầu vào thành phố không cho địch phá, chiếm giữ các địa bàn, đón và dẫn đường quân chủ lực vào thành phố. Chiếm giữ cầu xa lộ Đồng Nai, cầu Ghềnh, cầu Rạch Cát, cầu Mới, cầu Rạch Chiếc, cầu Bình Phước, cầu Chợ Mới, cầu Tân An, cầu Bông, cầu Tham Lương. cầu Bà Hom, cầu Phú Lâm, cầu Nhị Thiên Đường, hai lần tiến công cầu Tân cảng Sài Gòn. Ngoài ra còn đánh chiếm nhiều mục tiêu; Bến Gò, nam khu Long Bình, sở chỉ huy trung đoàn 15 thiết giáp ngụy căn cứ Bình Trung, Phú Hữu, các căn cứ dọc lộ 8, lộ 15, Tân Thành Đông, Xuân Thới Thượng, ngã ba Giồng ngã năm Vĩnh Lộc, Tân Thới Nhất, Tân Thới Hiệp, Tân Hào, Tân Túc, đài phát thanh Quân Tra, trạm ra-đa Phú Lâm, ấp Bình Hưng, trụ sở hành chính quận 7, căn cứ Ky Thù Ôn, căn cứ 61 pháo binh tại Cổ Loa, trại Phù Đông (Gò Vấp), v.v...

        Đặc biệt đoàn 10 đã đánh chiếm căn cứ Phước Khánh, cảng hải quân, kho dầu Nhà Bè, khống chế sông Lòng Tàu và sông Sài Gòn, cắt đường ra biển, bắn chìm, bắn cháy 12 tàu địch. Trung đoàn "Quyết thắng" (Gia Định 1) tiến công 3.000 tên địch từ Đồng Dù và Hậu Nghĩa chạy về, buộc chúng phải đầu hàng. Tiểu đoàn 4 Gia Định cùng với đặc công mở hai cửa phía bắc sân bay chờ chủ lực vào. Trung đoàn "Đất thép" (Gia Định 2) từ lộ 8 tiến chiếm chi khu Hóc Môn rồi tiến thẳng xuống tiểu khu Gia Định. Tiểu đoàn 197 từ Tân Kiên tiến qua An Lạc chiếm lộ 4 (ở ngã ba lộ 4 - xa lộ Đại Hàn) diệt địch ở Đồng Khánh - Trần Hưng Đạo - Lê Lợi- Tự Do tiến vào dinh Độc lập, sau đó chiếm công ty điện lực và bốt cảnh sát cạnh hạ viện ngụy.

        Phối hợp với không quân và pháo binh chủ lực đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, trung đoàn 115 đặc công đã bắn 100 đạn ĐKB và trung đoàn 117 bắn 200 đạn ĐBK vào sân bay.

        Lực lượng vũ trang tại chỗ của nhiều huyện, quận đã hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy diệt và làm tan rã ngụy quyền các cấp, giành quyền làm chủ từ xã ấp, phường khóm trở lên.

        Mũi nổi dậy của quần chúng thật sôi nổi. Trước sự thất bại và tan rã của quân ngụy, quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tại chỗ đã giải phóng các huyện lỵ Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Chánh. Trước khí thế tiến công của các binh đoàn chủ lực của lực lượng vũ trang địa phương và nổi dậy của quần chúng, ngụy quyền địch ở hầu hết các xã ấp tan rã nhanh chóng. Quần chúng còn ráo riết vận động binh lính ngụy, làm cho các sắc lính địa phương của địch tan rã nhanh chóng. Tại Bình Chánh, 4 chị phụ nữ gọi hàng 2 tiểu đoàn bảo an. Ở nội thành, khi các cánh quân chủ lực của ta tiến vào, quần chúng kết hợp với một ít lực lượng vũ trang tại chỗ đã vùng dậy đánh chiếm một số vị trí rồi treo cờ, vận động, uy hiếp làm tan rã địch, chiếm trụ sở khóm, phường. Những nơi quần chúng đã nổi dậy giành được quyền làm chủ là:

        - Quận 1: Phường Trần Quang Khải, xóm Chùa xưởng Nông Cơ.

        - Quận 2: Phường Huyện Sĩ, phường Bến Thành.

        - Quận 3: Phường Bàn Cờ, phường Trương Minh Giảng, cuộc cảnh sát quận và toà hành chính quận.

        - Quận 4: Phường Khánh Hội, phường Xóm Chiếu, nhà máy chỉ Khánh Hội.

        -  Quận 5: Phường Chợ Quán, phường An Đông, câu lạc bộ sĩ quan, đồn Cây Mai, cuộc cảnh sát quận, toà hành chính quận.

        - Quận 6: Phường Bình Tây, phường Phú Lâm, phường Bình Phú, phường Chợ, cuộc cảnh sát quận, toà hành chính quận.

        - Quận 7: Phường Hàng Thai, phường Bến Đá, phường Cây Sung, phường Bình Đông, cuộc cảnh sát quận, toà hành chính quận.

        - Quận 8: Phường Rạch Ông, phường Hưng Phú, phường Chánh Hưng, toà hành chính quận.

        - Quận 10: Phường Nguyễn Tri Phương, phường Chí Hoà, phường Minh Mạnh, phường Nhật Tảo, phường Phan Thanh Giản, toà hành chính quận.

        - Quận 11: Phường Bình Thới, phường Cầu Tre, cuộc cảnh sát quận, toà hành chính quận.

        - Quận Phú Nhuận: Ấp Đông Nhất, ấp Đông Ba, ấp Trung Nhất, ấp Tây Nhìn.

        - Quận Tân Bình: xã Phú Thọ Hoà, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hoà, Phú Tân Sơn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #53 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:51:17 PM »


        Ấp Bắc Ái 13, các trụ sở các ty và toà hành chính tỉnh Gia Định, xã Bình Quới tây, khu vực Thị Nghê, trụ sở hội đồng xã Thạch Mỹ Tây thuộc Bình Hoà (nay là quận Bình Thạnh).

        Ngoài ra, ở những phường còn lại, trước khí thế tổng tiến công và nổi dậy của ta, ngụy quyền và toàn bộ cảnh sát, phòng vệ dân sự đã tan rã tại chỗ.

        Thành tích nổi bật của nhân dân thành phố là toàn bộ các xí nghiệp công nghiệp lớn nhỏ, các kho lương thực, vật tư đều được giữ gìn chờ người của cách mạng vào tiếp nhận. Nhân viên các công sở đã giữ gìn tài sản, đặc biệt là các hồ sơ quan trọng chờ người của ta vào bàn giao. Có người giữ kho tiền, vàng đã giấu chìa khoá rồi đi trốn, chờ tình hình tương đối ổn định mới mời Ban quân quản đến giao nộp đầy đủ. Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

        - Xí nghiệp Vimitex: tự vệ mật dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng đã làm chủ nhà máy trước ngày 30 tháng 4.

        - Xí nghiệp Phong Phú: nửa giờ trước khi tổng thống ngụy tuyên bố trên đài phát thanh, 7 nữ công nhân cơ sở của ta đã bắt "nhân dân tự vệ" của ngụy, kéo cờ cách mạng làm chủ nhà máy.

        - Xí nghiệp Liên Phương (nay là Phước Long): công nhân dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng đã chiếm nhà máy và treo cờ cách mạng.

        - Xí nghiệp Vinatexcô: Công nhân đã chiếm giữ nhà máy trước ngày 30 tháng 4.

        - Nhà đèn Chợ Quán: Công nhân đã chiếm giữ nhà máy và treo cờ từ tối 29 tháng 4.

        - Nhà đèn Thủ Đức: Đồng chí Đô, cán bộ công vận Thủ Đức, vào nhà máy và tiếp tục sản xuất, không để một giờ mất điện.

        - Nhà máy nước Thủ Đức: Trước 30 tháng 4 mấy ngày đã có nhiều tốp lính ngụy và xe pháo từ Long Khánh chạy về đóng trong nhà máy, những công nhân được đảng viên lãnh đạo vẫn tích cực chuẩn bị và may sẵn hai lá cờ cách mạng. Vào lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, khi có tiếng xe tăng của ta từ phía cầu Đồng Nai tiến vào, đồng chí Muôn, đảng viên, đã treo một lá cờ của ta ở nơi cao nhất. Địch đóng tại nhà máy tưởng quân ta đã vào tới nơi nên bỏ chạy tán loạn. Ta đã bảo vệ nhà máy an toàn, tiếp tục cung cấp đủ nước cho thành phố.

        Ngay sau khi giải phóng, công nhân, thanh niên, học sinh, trí thức đã góp sức giữ gìn trật tự, an ninh, vệ sinh công cộng, bảo vệ thành phố. Các hiện tượng cướp bóc, hôi của được chấp dứt ngay. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Sự đóng góp to lớn của nhân dân đến nay vẫn chưa tổng kết được.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, công tác binh vận, tình báo, an ninh, công tác vận động các tầng lớp trên, việc vận dụng sách lược của Đảng đã đóng góp rất có hiệu quả vào thắng lợi. Tổ chức của ta từ nhiều cánh, nhiều phía, đã có ảnh hưởng tới một số người chủ chốt trong ngụy quyền trung ương, bộ tổng tham mưu và cảnh sát ngụy, góp phần làm cho ngụy quyền, ngụy quân cảnh sát và các bộ máy kìm kẹp của ngụy nhanh chóng tê liệt và tan rã.

        Cho đến nay vẫn chưa có số liệu tổng kết chung về chiến dịch Hồ Chí Minh. Riêng về lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố, bước đầu đã tổng hợp được kết quả diệt địch như sau: diệt 31.305 địch, bắt 12.619 tên; chiếm 9 cầu, 2 kho, 21 đồn, 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề, 1 tiểu khu, 1 bến cảng (Tân Cảng) và nhiều cơ sở khác, khu 12.275 súng, 88 xe quân sự, 183 máy truyền tin, 216 tấn đạn và nhiều phương tiện chiến tranh khác.

        Khoảng 40 vạn quân ngụy và hơn 10 vạn cảnh sát đã ra trình diện sau ngày giải phóng. Việc tiếp quân thành phố nhìn chung là tốt. Ở một số nơi, kẻ xấu lợi dụng thời cơ đứng ra tổ chức chính quyền, mạo nhận cách mạng nhưng ta đã kịp thời phát hiện, giải tán và thiết lập chính quyền cách mạng chân chính.

        Uỷ ban quân quản được tổ chức nhanh chóng, với 2.600 cán bộ, nhân viên, đã làm được nhiệm vụ bảo vệ và quản lý thành phố, truy quét địch, giữ gìn an ninh, trật tự. Chỉ sau một tháng rưỡi, ta đã xây dựng và củng cố được chính quyền cách mạng: xây dựng và nắm chắc được chính quyền ở tất cả 91 phường trong thành phố; nắm chắc được 413 khóm trong tổng số 552 khóm; xây dựng và nắm chắc được chính quyền ở tất cả 79 xã; xây dựng được chính quyền ở 149 ấp trong tổng số 374 ấp.

        Xây dựng Đảng và các đoàn thể quần chúng cách mạng cũng có bước phát triển nhảy vọt. Trước ngày 30 tháng 4, ở nội thành chỉ có 735 đảng viên thì đến ngày 15 thang 6, đã có 2.013 đảng viên (thuộc Đảng bộ thành phố). Ở ngoại thành tới tháng 6 đã có 160 chi bộ với 555 đảng viên  và 354 đoàn viên. Tới ngày 15 tháng 6, ở nội thành đã có 1.001 cán bộ và chíến sĩ an ninh và 8.676 cán bộ, chiến sĩ tự vệ và bộ đội địa phương.

        Phần lớn các xí nghiệp công nghiệp được phục hồi và sản xuất bình thường. Nhiều vấn đề xã hội to lớn được giải quyết: cứu đói cho hàng triệu người; tập trung chữa chạy ngay cho 10 vạn người nghiện xì ke, ma tuý; giải quyết đưa về quê và đi sản xuất 10 vạn gái bán dâm, chữa chạy cho hàng chục vạn người mắc các bệnh hiểm nghèo; truy quét hơn 5.000 tên lưu manh bị giam ở các khám xổng ra khi giải phóng...

        Chỉ 5 tháng sau ngày giải phóng, thành phố chấm dứt chế độ quân quản, bộ máy chính quyền cách mạng đã hoạt động đều ở tất cả các cấp, cuộc sống và mọi sinh hoạt đều bình thường. Đó là một thành tích to lớn của thành phố sau ngày toàn thắng.

        Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh là kết quả của 21 năm chống Mỹ, cứu nước, của 30 năm chiến tranh giải phóng và giữ nước, của 45 năm vận động cách mạng của Đảng ta nói chung và của Đảng bộ thành phố nói riêng. Đó là kết quả sức mạnh tổng hợp của quân và dân cả nước, của các binh đoàn chủ lực cùng với các lực lượng chính trị và lực lượng quân sự tại chỗ, của các giai cấp cách mạng và tầng lớp nhân dân yêu nước của thành phố, trước hết là giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, thanh niên, trí thức yêu nước và tiến bộ. Đó là thắng lợi của tư tưởng chiến lược tiến công với đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng sáng tạo và linh hoạt, là cuộc tiến công và nổi dậy rất kịp thời, mạnh mẽ, phối hợp nhịp nhàng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, trước hết là của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và của Trung ương Cục miền Nam.

        Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh là kết tinh tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, lòng hy sinh dũng cảm vô bờ bến của nhân dân và quân đội anh hùng của chúng ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #54 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:53:55 PM »

       
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975

Đại tá  ĐẶNG VĂN TỐ       

        Từ mùa khô 1974, bộ đội chủ lực Miền đã tiến công thắng lợi giải phóng Phước Long. Đồng bằng sông Cửu Long mở từng chiến dịch tiến công tổng hợp từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1974 đánh phá bình định trên khắp cả ba vùng. Có hướng tiến công bằng vũ trang (chủ lực khu), có khu vực tiến hành nổi dậy bằng chính trị và binh vận có vũ trang hỗ trợ, chủ động gỡ đồn như ở Thạch Tri, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, dọc sông Măng Thích, Vĩnh Long, vùng yếu Gò Công, v.v. mở ra nhiều vùng giải phóng và làm chủ rộng lớn. Bộ máy “bình định” của địch ở cơ sở bị rệu rã, chỗ nào ta mở là địch bỏ, đơn vị nào bị diệt là chúng xoá luôn phiên hiệu. Chúng đôn quân lãnh thổ lên các liên đoàn bảo an cơ động. Cuối cùng, vùng 4 chiến thuật của địch chỉ còn chủ lực và các liên đoàn bảo an, lực lượng vũ trang phản động ở cơ sở coi như suy sụp hẳn. Tên tư lệnh vùng 4 chiến thuật đã phải thú nhận trong một báo cáo: “Ở quân khu 4, an ninh ngày một sụp đổ từ cuối năm 1973, lực lượng quân lãnh thổ sa sút nghiêm trọng, nếu để kéo dài thêm nữa quân lãnh thổ sẽ tan rã, đồn bốt sẽ không còn, không thể nào bình định được. Hiện cộng sản đánh khắp nơi không ngăn chặn được, lực lượng lãnh thổ chưa chấn chỉnh xong, đã mất đất, mất dân mà thiếu khả năng thu hồi thì dần dần sẽ chết. Bình định sẽ thất bại mà nếu có làm được thì cũng bị phá sạch”.

        Vào mùa xuân năm 1975, trong thế liên tục tiến công và nổi dậy,từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1975, thế chiến tranh nhân dân đánh phá “bình định” của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển mạnh mẽ, đều khắp ra sát các thị xã, thị trấn, các trục giao thông chiến lược thuỷ bộ, các căn cứ quân sự lớn của địch (Cần Thơ, Mỹ Tho). Ta đã mở thế luồn sâu, tạo được chỗ đứng chân và làm chủ nhiều lõm giải phóng ở vùng đông Long An, vùng yếu Gò Công, vùng Hoà Hảo An Giang, các cán bộ chính trị và binh vận, lực lượng đặc công, biệt động đã cài sâu vào các thị xã, thị trấn, bám chặt các đơn vị địch.

        Đến tháng 3 năm 1975, lực lượng địch bố trí như sau: sư đoàn 7 ở Mỹ Tho, Vĩnh Trà, sư đoàn 9 ở biên giới, sư đoàn 21 ở Chương Thiện. 105 liên đoàn bảo an bố trí ở các tỉnh, các liên đoàn biệt động quân rút khỏi đồng bằng sông Cửu Long về phòng thủ miền Đông Nam Bộ. Về phía ta, lực lượng, vũ trang, binh vận các tỉnh phát triển lớn mạnh nhanh chóng chưa từng thấy và hình thành thế bố trí sẵn sàng tiến công và nổi dậy trên các địa bàn trọng điểm: sư đoàn 8 ở Mỹ Tho, sư đoàn 4 ở Chương Thiện, 2 trung đoàn độc lập cùng 1 tiểu đoàn pháo của quân khu 9 ở Vĩnh Trà. Mỗi tỉnh có 2-3 tiểu đoàn, riêng tỉnh Bến Tre có trung đoàn Đồng khởi, huyện có 1-2 đại đội, xã có 1-2 trung đội du kích.

        Trước thắng lợi lớn của hai chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và của quân và dân miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị nhận định: “Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước sang giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi”. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định “nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm”. Đối với chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Cần gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng tây Sài Gòn. Nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược từ phía tây áp sát Sài Gòn, triệt hẳn đường số 4, đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng phía đông đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây cô lập hoàn toàn Sài Gòn từ Bà Rịa, Ô Cấp”.

        Thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, chấp hành nghị quyết 15 của Trung ương Cục ngày 29 táng 3 năm 1975 và mệnh lệnh của Bộ tư lệnh miền, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã triển khai thế trận tiến công và nổi dậy: cắt đứt và chiếm giữ lộ 4 đoạn bắc Mỹ Thuận – Long An, Cần Thơ – Vĩnh Long, chặn không cho địch ở vùng 4 chiến thuật tiếp ứng cho Sài Gòn hoặc từ Sài Gòn rút chạy về co cụm ở miền Tây, khống chế sân bay Trà Nóc. Quân khu 8 tổ chức một cánh quân tương đương sư đoàn mở đường xuyên qua phía đông Long An tiến qua hướng Nhà Bè - quận 8 trực tiếp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Các tỉnh bằng sức mạnh tổng hợp thực hành tiến công và nổi dậy; chủ lực quân khu chi viện ba trọng điểm Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho.

        Phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh và phát huy thắng lợi của trận quyết chiến cuối cùng, đồng bằng sông Cửu Long đã đứng lên tự giải phóng. Quán triệt sự chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long không chờ giải phóng xong Sài Gòn mà hiệp đồng chặt chẽ với chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng loạt tiến công và nổi dậy, tự giải phóng bằng lực lượng bản thân.

        Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh miền, quân khu 8 đưa một bộ phận lực lượng vũ trang (3 trung đoàn) hành quân cấp tốc phối hợp tiến công trên hướng nam Sài Gòn. Theo kế hoạch đã quy định, từ đêm 28 rạng 29 tháng 4 năm 1975, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công vào các thành phố, thị xã, đảo. Phong trào nổi dậy của nhân dân diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú và phát triển ngày càng mạnh, làm chủ nhiều địa phương. Quân chủ lực khu 8, khu 9, phối hợp với bộ đội địa phương và du kích bao vây thị xã Mỹ Tho, Cần Thơ, cắt đường số 4, hiệp đồng nhịp nhàng với đòn đánh lớn của các binh đoàn chủ lực trên hướng Sài Gòn – Gia Định. Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 30 ngày 30 tháng 4, sức mạnh tổng hợp của tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long càng lên mạnh. Trà Vinh là tỉnh được giải phóng sớm nhất (12 giờ ngày 30 tháng 4). Các tỉnh Bạc Liêu, Gò Công, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Côn Đảo được giải phóng trong ngày 30 tháng 4. Các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, đảo Phú Quốc được giải phóng vào ngày 1 tháng 5 năm 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #55 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:55:59 PM »


*

*      *

        Trong hơn 20 năm chống Mỹ xâm lược, phong trào cách mạng ở đồng bằng sông Cửu Long nhiều lúc lên cao, thắng lợi giòn giã, nhưng cũng có lúc xuống thấp, bị thiệt hại, gặp vô vàn khó khăn. Nhưng được sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ chính trị, Quân uỷ Trung ương, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền, Đảng bộ và các lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long đã biết tích luỹ kinh nghiệm, phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo linh hoạt trong chỉ đạo tiến công và nổi dậy bằng hai chân, ba mũi, trên cả ba vùng trong suốt cuộc kháng chiến. liên tục đánh bại các biện pháp “bình định, lấn chiếm” của địch, giành dân, giành quyền làm chủ. Mùa xuân năm 1975, tận dụng thời cơ và phát huy thành quả của các trận quyết chiến chiến lược Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã phát huy sức mạnh tổng hợp, tiến công và nổi dậy mạnh mẽ trên một hướng chiến lược, tiêu diệt và bức toàn bộ ngụy quân và ngụy quyền vùng 4 chiến thuật đầu hàng tại chỗ, góp phần đập tan ý định co cụm chiến lược của địch về miền Tây Nam Bộ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Cục, Quân uỷ Miền giao cho, giải phóng hoàn toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

        Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, các Đảng bộ đồng bằng sông Cửu Long đã lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện liên tục tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, đánh bại các âm mưu và biện pháp chiến lược của địch trên cả ba vùng, giành thắng lợi từng bước đi lên giành thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình đó nổi lên vấn đề gay gắt, quyết liệt thường xuyên là đánh bại biện pháp chiến lược của địch “bình định, lấn chiếm”, gom dân, lập “ấp chiến lược” trên khắp đồng bằng sông Cửu Long.

        Dưới đây xin đề cập một số ý kiến nghiên cứu về tính đặc thù của đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc đấu tranh chống địch “bình định” gom dân.

        1. Hoạt động của địch “bình định” đồng bằng sông Cửu Long
       
        Để thực hiện mục tiêu cơ bản của chiến tranh xâm lược là chiếm đất, kiểm soát dân, lập nên bộ máy tay sai phản động để cai trị theo kiểu thực dân mới, một trong những ý đồ cơ bản của đế quốc Mỹ khi tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam là lấy vùng đồng bằng sông Cửu Long làm nơi khai thác nhân lực, vật lực cung cấp cho chiến tranh, tập trung vào chiến trường Nam Bộ để diệt các lực lượng vũ trang chính trị của ta, xoá bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong nhân dân, nhanh chóng đặt ách thống trị thực dân mới trên toàn chiến trường này. Để thực hiện âm mưu nói trên, đế quốc Mỹ đã tập trung nỗ lực thực hiện chương trình “bình định” trọng điểm là đồng bằng sông Cửu Long, coi đó là một trong những biện pháp chiến lược xuyên suốt các giai đoạn của chiến tranh xâm lược.

        Địch đã dùng chiến tranh tổng lạc và toàn diện, lấy chính sách lập “ấp chiến lược” làm trung tâm cho mọi kế hoạch “bình định”. “Ấp chiến lược” là điểm tựa của chế độ tay sai Mỹ. Mỹ - ngụy đã lấy vùng đồng bằng sông Cửu Long làm địa bàn chủ yếu của chương trình “bình định” nông thôn nhằm gom dân, vơ vét nhân lực, vật lực tại chỗ phục vụ chiến tranh xâm lược, kiểm soát cho được đại bộ phận đất đai và cư dân nông thôn, coi đó là mục tiêu sống còn. Chúng sử dụng cả quân Mỹ, quân chủ lực ngụy, các lực lượng bản an, dân vệ và bộ máy “bình định” to lớn có cố vấn Mỹ chỉ huy, áp dụng những biện pháp khốc liệt, tàn bạo, thâm độc. Từ chiến dịch này đến chiến dịch khác, chúng dùng mọi thủ đoạn chiến thuật “tân kỳ” như “trực thăng vận”, “thiết xạ vận’, “phượng hoàng vồ mồi”, rồi chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt và bình định”, “quét và giữ”, lấn chiếm và đóng đồn, gom dân lập ấp “tân sinh”, ấp “đời mới”, “ấp chiến lược”, v.v. Những biện pháp chiến tranh tàn bạo được kết hợp với các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, chiêu hồi, chiêu hàng, kinh tế phồn vinh giả tạo, văn hoá nô dịch, đồi trụy để mua chuộc, lừa bịp nhân dân, chia rẽ Bắc Nam, chia rẽ dân tộc, tôn giáo với cách mạng, nhằm đánh tróc hạ tầng cơ sở của Đảng ra khỏi quần chúng trên cả ba vùng ở đồng bằng sông Cửu Long.

        Biện pháp này thất bại, địch bày ra biện pháp khác, biện pháp sau ác liệt và thâm độc hơn biện pháp trước. Chúng ra sức quân sự hoá bộ máy hành chính tỉnh, huyện, xã (phân chi khu), sử dụng cả máy bay B52, chất độc hoá học, cào nhà gom dân, tiến hành “bình định” khốc liệt các vùng trọng điểm như U Minh, Chương Thiện, nam bắc lộ 4, Mỹ Tho, vùng ruột Đồng Tháp Mười, vùng Long An giáp ven thành phố Sài Gòn. Địch kết hợp “bình định trên diện rộng” khắp các tỉnh với các cuộc hành quân cảnh sát để tiến hành “bình định cấp tốc”, “bình định bổ túc”, “bình định đặc biệt”, rồi đến “cộng đồng tự vệ”, “cộng đồng phát triển”. Tất cả mọi kế hoạch bình định đều lấy quân sự là biện pháp chủ yếu và hàng đầu, hòng tiêu diệt và đẩy bật các lực lượng vũ trang ta, nhằm mục tiêu cao nhất là bình định cho được, kiểm soát cho được dân.

        Đây là một loại hoạt động thường xuyên diễn ra trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #56 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:57:47 PM »


        2. Biện pháp chống phá “bình định” của ta trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long.

        Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đông dân, nhiều của, có truyền thống cách mạng chống phong kiến, chống đế quốc xâm lược, nhất là từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, lại kế thừa được kinh nghiệm phong phú của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền đã sớm phát hiện ý đồ chiến lược “bình định” đồng bằng sông Cửu Long của địch, nhận định và đánh giá đúng tình hình, kịp thời đề ra những biện pháp toàn diện để chống phá “bình định” trên chiến trường này. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng qua từng giai đoạn chiến lược, các Đảng bộ và lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long đã rút ra một bài học sâu sắc: địa phương nào kiên quyết và có phương pháp chống phá “bình định” thích hợp, kết hợp chống phá thường xuyên với từng đợt cao điểm, có điểm và có diện rộng khắp cả ba vùng, dùng sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công để tiến công và phản công liên tục vào các mũi “bình định, lấn chiếm” của địch thì ở đó giành được thắng lợi chắc chắn. Về hình thức đấu tranh thì khéo vận dụng kết hợp nhiều hình thức từ phá lỏng kìm kẹp bằng lực lượng chính trị, vũ trang, binh vận tại chỗ, đến huy động lực lượng tổng hợp phá banh, phá dứt điểm, bung dân về làng cũ, từ xây dựng ấp xã chiến đấu đến xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Phong trào chống phá “ấp chiến lược” phát triển buộc địch phải co lại. Địa phương nào không nắm vững quy luật trên (như trong những năm 1962, 1969 – 1971) thì phong trào cách mạng ở đó sa sút, gặp nhiều khó khăn tổn thất, tạo điều kiện cho địch thực hiện kế hoạch “bình định” của chúng.

        Những năm 1963 – 1968, đặc biệt là năm 1972, phối hợp với toàn miền, đồng bằng sông Cửu Long đã huy động sức mạnh tổng hợp mở các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá “bình định”, đập tan địch từng mảng, đưa thế “bình định” của địch vào con đường suy sụp. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy tại chỗ làm phá sản chiến lược “bình định nông thôn” của đế quốc Mỹ xâm lược.

        Đây là bài học dùng sức mạnh tổng hợp, lấy quân sự làm đòn xeo trong mọi cuộc nổi dậy và tiến công, đánh phá “bình định” trong suốt quá trình chiến tranh cách mạng ở đồng bằng sông Cửu Long.

        3. Thực hành bám trụ kiên cường để giành và giữ dân, giữ vững và phát huy quyền làm chủ.

        Đặc điểm địa hình của đồng bằng sông Cửu Long là nhiều sình lầy, sông ngòi, dễ bị chia cắt, xa sự chi viện vật chất của Trung ương. Trong kháng chiến chống Pháp, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, do tương quan giữa ta và địch cả về thế và lực, do đặc điểm của chiến trường, Đảng bộ và các lực lượng vũ trang ở từng xã, huyện, tỉnh và cả từng quân khu đã dùng mọi phương pháp đấu tranh kết hợp chính trị, quân sự và binh vận một cách kiên cường, linh hoạt để bám trụ địa bàn với khẩu hiệu hành động “Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch” (ba bám), bằng mọi biện pháp chủ động và sáng tạo về lãnh đạo, về chiến đấu, xây dựng, sản xuất, bảo đảm hậu cần, mở đường vận tải trên biển liên lạc với Trung ương, với Miền, v.v. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã làm như vậy để tồn tại và phát triển, liên tục chiến đấu và chiến thắng từ nhỏ đến lớn, đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên cùng toàn miền và cả nước giành thắng lợi hoàn toàn.

        Từ năm 1954, lực lượng cách mạng được bố trí ở lại đồng bằng sông Cửu Long từ con số hàng vạn đến trước đồng khởi năm 1960 chỉ còn hàng ngàn. Nhưng quần chúng đã làm nên cuộc Đồng Khởi vĩ đại là nhờ cán bộ, đảng viên đã kiên cường bám trụ trong dân trên từng địa bàn mình phụ trách, biến hàng chục vạn người dân trở thành lực lượng cách mạng vùng lên đồng khởi. Rồi đến những năm 1969 – 1971, chiến trường đồng bằng sông Cửu Long gặp vô vàn khó khăn nhưng lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang các cấp đã kiên trì bám trụ từng địa bàn, phát huy tinh thần tự lực tự cường, tận dụng được sự chi viện của trên để chiến đấu thắng lợi và xây dựng thành công; sang năm 1972 đã tiến lên mạnh mẽ rồi đến mùa xuân năm 1975 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Đảng, Trung ương Cục, Bộ tư lệnh Miền giao cho.

        4. Nắm vững quy luật đấu tranh vũ trang trong chiến tranh cách mạng miền Nam, phát huy sức mạnh tiến công của bộ đội tập trung khu, tỉnh.

        Đấu tranh quân sự là hình thức đặc trưng cơ bản của chiến tranh. Đấu tranh quân sự có quy luật riêng, nhưng ở nước ta quy luật đó không vận động một cách đơn độc mà vận động trong sự kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, với khởi nghĩa vũ trang, với tất cả các mặt đấu tranh khác. Từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, đấu tranh quân sự ngày càng có vai trò quan trọng. Quy luật chiến tranh và quy luật khởi nghĩa đều phát huy tác dụng và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó có quy luật chiến tranh ngày càng giữ địa vị chi phối và quyết định cuối cùng… Chính vì ta biết kết hợp sức mạnh của cả nước, sức mạnh của nhân dân và lực lượng vũ trang, kết hợp các lực lượng, các hình thức đấu tranh nên đã tạo ra sức mạnh to lớn để thực hành chiến lược tiến công. Tuy nhiên trong điều kiện lấy nhỏ thắng lớn, ta không thể thực hành tiến công để giành thắng lợi trong thời gian ngắn, mà phải phát triển thế tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ trong một cuộc chiến tranh lâu dài, vừa đánh vừa xây dựng, càng đánh càng mạnh, đi đến thắng lợi hoàn toàn.

        Hình thái chiến tranh và đấu tranh vũ trang đã diễn ra như vậy trên chiến trường miền Nam. Tại chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, đấu tranh vũ trang cũng đã diễn ra theo quy luật đó, phù hợp với đặc điểm về địch, về ta tại chiến trường.

        Ở đồng bằng sông Cửu Long, trong quá trình từ đồng khỏi phát triển thành chiến tranh cách mạng, các Đảng bộ địa phương đã lãnh đạo quần chúng và lực lượng vũ trang tại chỗ sử dụng bạo lực cách mạng đúng đắn, biết phối hợp các lực lượng và các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trên cả ba vùng. Chúng ta lấy lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị làm hai lực lượng cơ bản, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị làm hai hình thức đấu tranh cơ bản, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công trong mọi cuộc nổi dậy và tiến công, đánh phá “bình định, lấn chiếm” của địch trong suốt cuộc chiến tranh. Chặng đường 21 năm chống Mỹ, cứu nước ở đồng bằng sông Cửu Long đã chứng minh, mũi đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân là đòn tiến công quân sự phải đi trước một bước mới, tạo điều kiện cho quần chúng cách mạng nổi dậy giành quyền làm chủ, dẫn đến sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, trong đó nổi lên vai trò quả đấm của chủ lực khu và bộ đội địa phương tỉnh trong mọi cuộc tiến công và nổi dậy trên khắp ba vùng đồng bằng sông Cửu Long.

        Mùa xuân 1975, lực lượng vũ trang ba thứ quân vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển lớn mạnh chưa từng có, đặc biệt ở thời kỳ cao điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào tháng 4 năm 1975. Mũi tiến công của chủ lực khu và bộ đội địa phương tỉnh, huyện đã thúc đẩy nhiều loại hình nổi dậy và tiến công, bằng ba mũi rất phong phú: lực lượng vũ trang tiến công từ ngoài vào, mũi chính trị và binh vận nổi dậy từ bên trong (như ở Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ); mũi đấu tranh chính trị, binh vận, nổi dậy từ bên trong đánh chiếm một số mục tiêu rồi lực lượng vũ trang tiến vào tiêu diệt hoặc làm tan rã quân địch, bức chúng đầu hàng (Bạc Liêu, Châu Đốc); ba mũi vũ trang, chính trị, binh vận thực hành kết hợp tiến công và nổi dậy từ các xã ngoài, tận dụng các loại xe của dân tiến quân vào thị xã, bức địch hàng (Gò Công); hoặc có nơi ta dùng lực lượng vũ trang bao vây, đưa mũi chính trị và binh vận vào tiến công và uy hiếp, buộc quân địch phải đầu hàng.

        Kinh nghiệm của cuộc chiến đấu lâu dài cũng như bài học sâu sắc của cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1975 ở đồng bằng sông Cửu Long đã chứng minh trong chiến lược toàn dân đánh giặc, lấy ba thứ quân làm nòng cốt, tiến công địch bằng hai phương thức tiến hành chiến tranh: chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, nếu ta không chú trọng đầy đủ xây dựng và phát triển “quả đấm” quân sự của từng cấp một cách thích hợp thì tình hình nổi dậy và tiến công trên chiến trường sẽ gặp khó khăn và không thể phát triển được. “Quả đấm” vũ trang từng cấp mạnh và phát huy đúng vai trò, chức năng của nó, nhất là ở thời điểm quyết định và địa bàn then chốt, thì phong trào tiến công và nổi dậy sẽ phát triển mạnh, giành thắng lợi giòn giã.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #57 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 06:01:05 PM »

       
TỔ CHỨC, SỬ DỤNG BINH ĐOÀN CHỦ LỰC CƠ ĐỘNG
TRONG GIAI ĐOẠN KẾT THÚC CHIẾN TRANH

Thiếu tướng  NGUYỄN KIỆM       

        Quân đoàn 1 là binh đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ. Từ hậu phương miền Bắc hành quân gấp vào Nam Bộ tham gia tiến công địch trên hướng bắc của chiến dịch Hồ Chí Minh, quân đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua thực tiễn cuộc hành quân thần tốc và tác chiến của quân đoàn, xin nêu một số ý kiến về việc tổ chức, sử dụng binh đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ.

        Tháng 10 năm 1973, để chuẩn bị cho yêu cầu mới của tình hình, nhiệm vụ cách mạng, Bộ đã quyết định thành lập Quân đoàn 1, và xác định rõ: "Xây dựng quân đoàn theo phương hướng chính quy, hiện đại, có sức chiến đấu cao, sức cơ động lớn, sức đột kích mạnh, sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ được giao".

        Trên cơ sở phương hướng đó, được sự chỉ đạo chặt chẽ của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, được sự giúp đỡ của cac cơ quan Bộ và các binh chủng, quân chủng, với sự cố gắng của cán bộ, chiến sĩ trong quân đoàn, trong một thời gian ngắn, quân đoàn đã hình thành về mặt tổ chức. Về huấn luyện chiến đấu, đã cố gắng làm cho cán bộ chiến sĩ nắm vững vị trí và nhiệm vụ của quân đoàn, sử dụng thành thạo các trang bị kỹ thuật, tác chiến theo phương hướng tập trung, hợp đồng binh, quân chủng. Khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 bắt đầu bằng trận Buôn Ma Thuột thì hai sư đoàn trong quân đoàn còn đang đắp đê ở Ninh Bình. Giữa tháng 3 năm 1975, sư đoàn 320B, sư đoàn phòng không 367 và một số đơn vị tăng cường được lệnh hành quân vào nam Quân khu 4. Ngày 1 tháng 4, toàn quân đoàn (Trừ sư đoàn 308) nhận lệnh hành quân vào Đồng Xoài. Lúc này quân đoàn chưa hiểu đầy đủ ý định của trên, nhưng đã bám sát diễn biến chiến sự, chủ động dự kiến kế hoạch và chuẩn bị cơ động. Ngày 2 tháng 4, với đội hình kéo dài từ Ninh Bình đến Đông Hà, toàn quân đoàn bắt đầu cuộc hành quân "thần tốc". Sư đoàn 320B đi đầu, ngày 2 tháng 4 xuất phát từ sông Bến Hải, ngày 13 tháng 4 đến Đồng Xoài.

        Nhờ có phương tiện cơ giới, lại được rèn luyện theo phương hướng một binh đoàn cơ động luôn luôn có chuẩn bị tương đối đồng bộ và sẵn sàng chiến đấu thường xuyên cộng với sự chi viện của trên và các đơn vị bạn, quân đoàn đã hành quân bằng phương tiện cơ giới hỗn hợp (tàu hoả, tàu biển, ô tô), vượt chặng đường dài 1.700 km vào chiến trường đúng thời gian, địa điểm quy định, kịp thời tổ chức chuẩn bị tác chiến.

        Ngày 14 tháng 4, quân đoàn được Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ: tập trung đánh vào bắc Sài Gòn, phá vỡ tuyến phòng thủ phía bắc và đông - bắc của địch; đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy và khu binh chủng Gò Vấp, tiếp tục tiêu diệt địch trong nội thành, bảo vệ các mục tiêu và duy trì trật tự trị an.

        Căn cứ vào mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, quyết tâm cơ bản của quân đoàn là:

        - Chia cắt, cô lập sư đoàn ngụy phòng thủ ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm về Sài Gòn, đồng thời thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy và khu binh chủng bằng hành động "táo bạo, thần tốc".

        - Hướng chủ yếu là hướng thọc sâu, mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng tham mưu ngụy. Trong quá trình thọc sâu, không ham đánh dọc đường mà phải bằng mọi cách tiến nhanh đến và đánh chiếm mục tiêu chủ yếu.

        - Trên hướng chia cắt, chủ yếu là chốt chặn đường số 13, bao vây, cô lập sư đoàn 5 ngụy, không cho chúng co cụm hoặc tháo chạy về Sài Gòn, tiêu diệt, bức hàng và làm tan rã chúng tại chỗ.

        Một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức trong giai đoạn chuẩn bị tác chiến là xây dựng thế trận tiến công, bảo đảm đưa lực lượng lớn vào sát địch một cách bí mật an toàn. Quân đoàn đã huy động phần lớn lực lượng công binh, với sự giúp đỡ của các lực lượng tại chỗ (khu vực tập kết bắc Sài Gòn) nhanh chóng hoàn thành hệ thống đường sá để triển khai và cơ động lực lượng, trong đó phải mở rộng mặt đường từ 3m lên 6m với chiều dài 26 km; dò gỡ mìn, sửa chữa và làm mới 80km đường khác.

        Ngoài việc đưa lực lượng lớn 1.300 xe vào khu vực chiếm lĩnh, quân đoàn còn phải lo bổ sung nhanh vật chất cho các phân đội, đạn cho các loại pháo, súng, xăng dầu cho xe. Với nhịp độ khẩn trương nhất, đến ngày 25 tháng 4, các đơn vị trong từng quân đoàn đã hoàn thành công tác tổ chức chuẩn bị tác chiến, sẵn sàng phối hợp với các hướng khác và lực lượng tại chỗ tiến công tiêu diệt địch.

        Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, thời gian nổ súng đồng loạt là 0 giờ ngày 29 tháng 4.

        Để tạo điều kiện đánh nhanh, phát triển nhanh, ngày 27 và 28 tháng 4, sư đoàn 312 và sư đoàn 320B đã đánh địch ở Bình Mỹ, dốc Bà Nghĩa, tiêu diệt lực lượng nhỏ của địch để tạo điều kiện đưa lực lượng của quân đoàn áp sát vào đường 16, 14, 13 khu vực Búng và Lái Thiêu.

        Trên hướng thọc sâu, từ 5 giờ 45 phút, sư đoàn 320B đã đánh xong Tân Uyên, trên đường tiến gặp bãi mìn, đội hình sư đoàn chia làm hai. Một cánh gồm trung đoàn 48 và sở chỉ huy sư đoàn đánh theo sân bay Ông Lình đến đường số 13 xuống chợ Gò Dừa, tiêu diệt địch ở ấp Nai Hiền, truy kích lữ kỵ binh 3, chặn đầu khoá đuôi tiêu diệt chúng. Đơn vị đã dùng luôn 18 xe tăng của địch dẫn đường vượt cầu Bình Triệu, đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Ở cánh thứ 2, trung đoàn 27 vượt ngã ba Búng, đánh qua căn cứ Lái Thiêu, diệt một lực lượng thiết giáp ở cầu Vĩnh Bình, tiến lên chiếm cầu Bình Phước, vượt sông sông Sài Gòn, đánh thẳng vào khu binh chủng Gò Vấp.

        Trên hướng chia cắt, sau khi chốt chặn bao vây địch, sáng 30 tháng 4, sư đoàn 312 đã đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, sau đó tiến vào giải phóng thị xã Bình Dương. Bộ phận chốt chặn đường số 13 đã tiêu diệt một bộ phận địch, toàn bộ địch còn lại đầu hàng và tan rã tại chỗ.

        Như vậy, nhờ có quyết tâm đúng và công tác chuẩn bị chiến đấu hợp lý, biết xử trí tình huống linh hoạt, phối hợp với các lực lượng tại chỗ, quân đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu đúng thời gian, yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch, góp phần cho chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #58 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 06:03:16 PM »


*

*      *

        Qua thực tiễn tác chiến của quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, xin nêu một số suy nghĩ về vấn đề tổ chức, xây dựng, sử dụng một binh đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ.

        1. Về tổ chức, xây dựng binh đoàn chủ lực cơ động

        Muốn giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh, cần phải có những binh đoàn chủ lực cơ động mạnh được tổ chức từ trước để có thời gian tiến hành huấn luyện tập trung thống nhất. Nếu chỉ ghép các sư đoàn lại rồi tạm thời tổ chức cơ quan chỉ huy thì với mấy vạn quân và binh khí kỹ thuật lớn, khó có thể cơ động nhanh, chuẩn bị nhanh và bước vào tác chiến kịp thời với tổ chức chặt chẽ, quyết tâm cao như trong mùa xuân 1975.

        Xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động theo phương hướng chính quy hiện đại là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển của chiến tranh ở giai đoạn kết thúc. Nếu không có số lượng phương tiện kỹ thuật mạnh với 2.000 xe thì làm sao Quân đoàn 1 có thể cơ động nhanh như vậy? Không có 300 xe các loại thì làm sao có thể thọc sâu nhanh, đột kích mạnh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy được? Tất nhiên, trang bị hiện đại đến mức độ nào còn tuỳ thuộc vào khả năng cho phép nhưng nhất thiết phải theo phương hướng đó. Các binh đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ cũng phải được đặt vào các nhiệm vụ tác chiến trong nhiều tình huống khác nhau, nhưng qua thực tiễn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, ta thấy các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ cần phải cơ động nhanh, tổ chức nhanh, tác chiến nhanh và đánh hợp đồng binh chủng quy mô lớn, kiên quyết tập trung để tạo ưu thế áp đảo nhằm đạt được mục đích của chiến dịch.

        Nhờ xây dựng và huấn luyện theo phương hướng đó, quân đoàn đã đạt được yêu cầu hành quân thần tốc, chuẩn bị tác chiến trong thời gian rất gấp và thực hành đột phá thọc sâu với tốc độ cao. Ngày nay cũng cần huấn luyện cho các đơn vị trong quân đoàn đánh độc lập được, đánh hiệp đồng được, với các quy mô nhỏ, vừa, lớn. Thực tiễn của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng khẳng định phương hướng xây dựng và huấn luyện cho quân đoàn hành quân nhanh, tổ chức chiến đấu nhanh, đánh tập trung hợp đồng binh chủng với các quy mô, là một yêu cầu tất yếu.

        2. Về vận dụng cách đánh chiến dịch

        Căn cứ vào nhiệm vụ của quân đoàn và cách đánh chung của chiến dịch, quân đoàn đã cân nhắc nhiều phương án tác chiến khác nhau. Không thể đánh theo cách chờ cho hướng chia cắt của sư đoàn 312 diệt xong sư đoàn 5 ngụy rồi mới đưa sư đoàn 320B vào thọc sâu, vì như vậy địch sẽ có điều kiện co cụm và ta không tập trung được lực lượng, không thể đánh nhanh được. Cũng không nên đồng thời đánh lực lượng ở vòng ngoài và đánh thọc sâu vào bên trong. Quân đoàn đã lựa chọn cách đánh sau đây: dùng sư đoàn 312 bao vây, chia cắt cô lập sư đoàn 5 ngụy không cho chúng co cụm hoặc tháo chạy về Sài Gòn, bảo đảm cho sư đoàn 320B tiến hành thọc sâu. Trên thực tế khi ta đã đọt phá thẳng vào nội đô, đánh chiếm cơ quan đầu não của Bộ Tổng tham mưu ngụy thì sư đoàn 5 địch tuy còn trên 8.000 quân, 4 tiểu đoàn pháo và trên 100 xe tăng thiết giáp của chiến đoàn 3 đã nhanh chóng suy sụp về tinh thần, rối loạn về tổ chức, bị tiêu diệt và tan rã tại chỗ.

        Diễn biến chiến đấu đã khẳng định cách đánh đó là đúng. Sau khi cánh quân thọc sâu đã diệt xong căn cứ Tân Uyên, Lái Thiêu, đầu cầu Bình Triệu sáng 30 tháng 4, vượt sông Sài Gòn đánh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy thì 13 giờ cùng ngày, sư đoàn 5 ngụy đã vội vã rút khỏi Lai Khê, Bến Cát. Bộ phận đi đầu lọt vào trận địa chốt chặn của trung đoàn 209, trên đường số 13, một số bị tiêu diệt, số còn lại trên vài trăm xe cũng tháo chạy tán loạn. Địch ở trong các căn cứ cũng rệu rã, bỏ vị trí chiến đấu.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, sở dĩ quân đoàn thực hiện được cách đánh như vậy còn do thời cơ và thế chiến lược, chiến dịch rất thuận lợi: địch đã rệu rã và suy yếu. Nhưng vấn đề cần nêu ở đây là: trên cơ sở nhiệm vụ được giao, căn cứ vào tình hình địch, địa hình, thời điểm chiến lược và cách đánh của đơn vị để đạt hiệu suất cao mà tổn thất ít, tìm ra nhiều cách đánh phong phú để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

        3. Phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực với các lực lượng tại chỗ.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, vai trò của các binh đoàn chủ lực đã được khẳng định. Nếu không có các binh đoàn chủ lực mạnh thì không thể thực hiện được đòn tiêu diệt lớn, giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch và chiến tranh; song chiến tranh nhân dân địa phương cũng có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong chiến tranh nhân dân của ta.

        Qua thực tế hoạt động tác chiến của quân đoàn trên một hướng trong chiến dịch Hồ Chí Minh, càng thấy rõ nếu không có chiến tranh nhân dân ở địa phương phát triển thì các quân đoàn cơ động chiến lược cũng khó có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ. trong khu vực tác chiến của quân đoàn, các lực lượng địa phương ở hướng bắc Sài Gòn không chỉ phối hợp chiến đấu mà còn có nhiều hoạt động khác, như xây dựng cơ sở chính trị, tạo ra địa bàn hoạt động tốt cho quân đoàn. Từ khi quân đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu đến lúc thực hiện tác chiến chỉ có hơn 6 ngày. Nhờ địa bàn đã có chuẩn bị (Đồng Xoài), nhờ chính quyền và lực lượng vũ trang tại chỗ giúp đỡ như trinh sát, dẫn đường, quân đoàn mới nhanh chóng nắm được địch, hiểu biết địa hình để có cơ sở hạ quyết tâm chính xác. Nhờ có lực lượng vũ trang địa phương luôn luôn bám sát và chiến đấu với địch nên quân đoàn mới có địa bàn triển khai thế trận xuất phát tiến công. Khu căn cứ của tỉnh Bình Dương có nhiều hầm hào, vườn cây giúp cho hai sư đoàn ém quân ở nam sông Bé, giữ được bí mật lực lượng, rút ngắn cự ly tiến công hàng chục km. Trong quá trình tác chiến, địa phương đã phối hợp giúp đỡ, tạo thuận lợi cho quân đoàn kịp thời bao vây sư đoàn 5 và thọc sâu vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Hai tiểu đoàn địa phương phối hợp với sư đoàn 312 và sư đoàn 320 vừa chiến đấu, vừa dẫn đường, vừa tham gia giải quyết tù, hàng binh và chiếm lĩnh các căn cứ. Quân khu 7 vận chuyển đạn, gạo cho quân đoàn. Đặc công miền giữ cầu Bình Triệu, cầu Xa lộ Biên Hoà để đảm bảo đường thọc sâu. Tỉnh đội Bình Dương chi viện cho quân đoàn 80 tấn gạo. Đại đội cối 82 địa phương kiềm chế pháo địch cho trung đoàn 209 vào chiếm lĩnh đường số 13. Bà má Sáu Ngân 60 tuổi ở Lái Thiêu giở tấm bản đồ cất giữ từ lâu để chỉ đường cho trung đoàn 27 vượt sông Sài Gòn bằng con đường ngắn nhất vào đánh chiếm khu binh chủng Gò Vấp...

        Đó là những biểu hiện sinh động và sâu sắc của sự kết hợp giữa tác chiến bằng các binh đoàn chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương, giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ trên hướng hoạt động của quân đoàn Đây là một bằng chứng thực tế khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng hết sức đúng đắn, sáng tạo. Thực tế cho thấy không phải chỉ trong chiến tranh nói chung mà ngay trong từng chiến dịch, từng trận chiến đấu cũng phải biết kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương và tác chiến bằng các binh đoàn chủ lực mới phát huy được sức mạnh tổng hợp to lớn nhất để giành thắng lợi chắc chắn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #59 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 06:06:44 PM »

       
QUÂN ĐOÀN 2
TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ

Thiếu tướng  BÙI CÔNG ÁI       

        Quân đoàn 2 có vinh dự được cùng với quân và dân cả nước tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

        Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương, phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, nhạy bén nắm bắt thời cơ, hành động táo bạo, thần tốc, vận dụng cách đánh sáng tạo, Quân đoàn 2 đã cùng với quân và dân Trị - Thiên - Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng chỉ trong thời gian ngắn từ ngày 8 đến ngày 30 tháng 3 năm 1975, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 1, quân khu 1 ngụy, giải phóng hoàn toàn hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, hai thành phố lớn Huế và Đà Nẵng.

        Cùng với chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng Huế - Đà Nẵng đã làm lệch hẳn cán cân so sánh lực lượng về mặt chiến lược, làm cho ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn suy yếu nghiêm trọng, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn được lệnh chuẩn bị cho sư đoàn 325 và lữ đoàn xe tăng 203 sẵn sàng  tăng cường cho đơn vị bạn vào chiến đấu giải phóng Sài Gòn, còn các đơn vị khác của quân đoàn  ở lại Đà Nẵng làm lực lượng dự bị. Quân đoàn đã khẩn trương chuẩn bị cho hai đơn vị vào tham gia chiến dịch. Đồng thời từ nhận thức về thời cơ lịch sử và thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân đoàn  đã đề nghị với Bộ cho cả quân đoàn  được tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh đồng ý cho cả quân đoàn  phải “nêu cao hơn nữa tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu dũng cảm, đạp bằng mọi khó khăn trở ngại, cơ động nhanh, đột kích mạnh, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc”.

        Với nhận định, sau khi giải phóng Đà Nẵng, ta phải mất hai, ba tháng nữa mới điều quân được vào Nam Bộ, địch hy vọng sẽ có đủ thời gian để bố trí lại lực lượng và triển khai tuyến phòng thủ, ngăn chặn cuộc tiến công của ta. Thiệu và bè lũ hò hét: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ từ Ninh Thuận trở vào. Nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng ở đó".

        Như vậy trên đường hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch, quân đoàn sẽ phải tiến hành đột phá tuyến phòng thủ của địch với chiều sâu hàng trăm ki-lô-mét từ Phan Rang, Phan Thiết đến Hàm Tân do sư đoàn 2 bộ binh, lữ đoàn 3 dù, liên đoàn 2 biệt động quân, sư đoàn 6 không quân và hàng chục tiểu đoàn địa phương đóng giữ. Ngoài ra còn số tàn quân từ Huế - Đà Nẵng chạy vào đang tụ tập tại các thị trấn, thị xã dọc đường.

        Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân đoàn đã xác định quyết tâm:

        1. Gấp rút tổ chức hành quân. Phần lớn lực lượng quân đoàn hành quân theo trục đường số 1, đánh địch trên đường hành quân, nhanh chóng đưa toàn bộ đội hình quân đoàn vào vị trí tập kết đúng thời gian quy định.

        2. Đánh địch trong hành tiến, phối hợp với các địa phương tiêu diệt các lực lượng địch phòng ngự từ Phan Rang trở vào, sẵn sàng đánh địch ngoài dự kiến. Dùng sức mạnh hợp đồng binh chủng đột phá, nhanh chóng tiêu diệt và làm tan rã địch, bảo đảm tốc độ hành quân nhanh.

        3. Tổ chức đội hình đột phá trong hành tiến, tạo thành một "mũi dùi thép", có sức đột kích mạnh, sức cơ động cao, đội hình đồng bộ, vừa chiến đấu vừa bảo đảm chiến đấu, có lực lượng tiếp sau phát triển tiến công, vừa hành quân vừa chiến đấu.

        4. Tư tưởng chỉ đạo: thần tốc - táo bạo - nhanh - mạnh - chắc. Lúc này thời gian trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh.

        Toàn quân đoàn sẵn sàng đánh địch mà đi, mở đường mà tiến. Lực lượng hành quân lúc này đông tới trên 32 nghìn người, 2.376 xe các loại, trong đó có gần 100 xe tăng, thiết giáp, gần 100 khẩu pháo từ 85 đến 155mm, hơn 100 khẩu cao xạ từ 23 đến 57mm. Đội hình hành quân được tổ chức thành nhiều khối theo nguyên tắc chiến đấu binh chủng hợp thành, có đủ thành phần bộ binh, xe tăng - thiết giáp, cao xạ, pháo binh, công binh, mỗi khối thành một đơn vị chiến đấu cơ bản, đồng bộ, bảo đảm chỉ huy thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ, đủ sức đánh thắng địch trong mọi tình huống, đồng thời tự khắc phục được mọi chướng ngại dọc đường. Riêng khối đi đầu có nhiệm vụ tiêu diệt các cụm quân địch phòng ngự mở đường, nên được xe tăng, thiết giáp, pháo binh, cao xạ và phần lớn lữ đoàn công binh 219 để đủ sức mạnh đột phá nhanh, giải quyết chiến đấu nhanh.

        Ngày 7 tháng 4, quân đoàn xuất phát. Ngày 13 tháng 4, khối 1 và sở chỉ huy quân đoàn đến bắc Cam Ranh, quân đoàn được lệnh tổ chức lực lượng phối hợp với sư đoàn bộ binh 3 (Khu 5) đánh chiếm Phan Rang, tiếp tục tiến công theo trục đường số 1. 5 giờ ngày 15 tháng 4, ta nổ súng tiến công. Địch chống trả quyết liệt. Ta tiến công trong hành tiến, tập trung ưu thế binh hoả lực trên hướng chủ yếu, hình thành thế bao vây vu hồi, đột phá mạnh, nhanh chóng thọc sâu chia cắt tiêu diệt địch. Phối hợp chặt chẽ chủ lực với lực lượng địa phương, sau 7 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng địch ở Phan Rang, bắt tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh tiền phương quân đoàn 3, tên chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn 6 không quân, thu nhiều vũ khí, trang bị, trong đó có gần 40 máy bay nguyên vẹn.

        Chiến thắng Phan Rang là một trận thắng bằng sức mạnh hợp đồng binh chủng trong hành tiến tiến công địch mới chuyển vào phòng ngự. Ta đã đập tan "lá chân thép" niềm hy vọng lớn của địch ngăn chặn ta từ xa nhằm bảo vệ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chúng.

        Ngày 16 tháng 4, Quân uỷ Trung ương gửi điện khen và nhắc nhở quân đoàn: "Phải nhanh chóng truy kích địch, phát triển tiến công thần tốc, táo bạo bất ngờ, quyết dành thắng lợi mới, khẩn trương củng cố lực lượng, tiếp tục hành quân chiến đấu, đến nhận nhiệm vụ đúng thời gian".

        Nhân đà ta vừa chiến thắng và địch đang rệu rã lớn, Bộ tư lệnh quân đoàn nhanh chóng đánh chiếm thị xã Phan Thiết với hướng tiến công chủ yếu là đột phá trong hành tiến. 19 giờ ngày 18 tháng 4, ta nổ súng tiến công, đến 21 giờ đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch, làm chủ thị xã Phan Thiết.

        Ngày 21 tháng 4, đội hình thành quân của quân đoàn đã đến đông Xuân Lộc 15 ki-lô-mét. Theo yêu cầu của tỉnh uỷ Bình Tuy và được lệnh của Bộ, quân đoàn tổ chức một lực lượng quay ngoặt lại đánh chiếm Hàm Tân. 19 giờ ngày 22 tháng 4 ta nổ súng tiến công. 23 giờ ta làm chủ thị xã Hàm Tân, tiêu diệt và làm tan rã khoảng 5.000 tên địch.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM