Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Tám, 2019, 06:41:56 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận quyết chiến lịch sử Xuân 1975  (Đọc 16610 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #40 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:36:10 AM »


        2. Kiên quyết tập trung lực lượng ở hướng trọng điểm, đồng thời đẩy mạnh tiến công trên toàn chiến trường; tổ chức các khu chiến của lực lượng địa phương thành thế trận liên hoàn chặt chẽ với khu chiến của chủ lực.

        Lực lượng địch ở chiến trường đồng bằng ven biển miền Trung có 4 sư đoàn, 3 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 16 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo (không kể không quân). So sánh lực lượng địch-ta thì về bộ binh, địch 1,9/ta 1; về pháo và xe tăng thiết giáp, địch từ 3-5/ta 1. Nếu tính riêng chiến trường trọng điểm Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi thì về bộ binh, địch 2,2/ta 1. Vấn đề đặt ra làm thế nào để có ưu thế chiến dịch, nhất là phải có ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận đánh then chốt để giành thắng lợi nhanh và gọn.

        Trong thế bố trí "nặng hai đầu, nhẹ ở giữa" của địch lúc bấy giờ, nếu bị đánh mạnh trên toàn miền Nam thì rõ ràng địch không có khả năng tăng viện từ các nơi đến. Với lực lượng tại chỗ, khả năng cao nhất của địch tập trung vào một khu biến là 4-5 trung đoàn bộ binh và 1-2 chi đoàn xe tăng, thiết giáp. Trong trường hợp buộc phải rút quân dù đi chi viện cho nơi khác thì khả năng đó còn thấp hơn. Về ta, sau khi sư đoàn 3 vào đánh cắt đường số 19 phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, quân khu đã giao nhiệm vụ đánh địch ở từng chiến trường chủ lực còn lại gồm 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 trung đoàn và phần lớn binh khí kỹ thuật đều tập trung vào khu trọng điểm chiến dịch (tây Tam Kỳ). Như vậy so sánh lực lượng bộ binh khi bước vào chiến dịch, trên hướng trọng điểm sẽ là ta 1/ địch 1.

        Để tạo ra ưu thế hơn hẳn địch ở hướng trọng điểm chiến dịch, quân khu đã cho thực hiện hai biện pháp lớn.

        Một là, do bị uy hiếp mạnh bởi thế trận của ta tạo ra sau hè - thu 1974, lực lượng chủ lực địch ở ba tỉnh nam quân khu 1 địch buộc phải giãn ra đối phó với ta ở Thượng Đức (Quảng Đà), tây Quế Sơn (Quảng Nam), Nghĩa Hành - Minh Long (Quảng Nghãi) và trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Quân khu chủ động mở trước các chiến dịch tiến công tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương để nghi binh, kiềm giữ, buộc chủ lực địch phải đối phó với các lực lượng địa phương ta ngay tại khu vực đang đứng chân, tạo điều kiện cho chủ lực ta tập trung trên hướng chủ yếu và bất ngờ tiến công địch.

        Hai là, sử dụng các trung đoàn tập trung của Quảng Ngãi tổ chức khu chiến đánh cắt giao thông trên đoạn Đốc Sỏi (giữa Chu Lai và Quảng Ngãi) với nhiệm vụ lức đầu giữ chặt không cho sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra ứng cứu cho Tam Kỳ, sau đó theo mệnh lệnh của quân khu mở cửa cho từng trung đoàn địch đi vào khu chiến theo ý định của chiến dịch.

        Dùng các tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam thọc xuống vùng đông Thăng Bình diệt địch, giành quyền làm chủ, kéo trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy xuống và giữ lại ở đó.

        Trung đoàn tập trung của Quảng Đà mở khu chiến ở Gò Nổi và đường số 100 diệt địch, tiếp tục kiềm chân sư đoàn 3 (thiếu) của địch tại địa phương.

        Tình hình đã diễn ra đúng như ý định chiến dịch của ta. Từ đầu tháng 3 năm 1975, chiến dịch tiến công tổng hợp của các địa phương bắt đầu. Chủ lực địch bị kiềm giữ tại chỗ, ta triển khai lực lượng chiến dịch trên hướng chủ yếu hoàn toàn bí mật bất ngờ.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trong khi ở nam Tây Nguyên ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, thì chủ lực của quân khu 5 với ưu thế lực lượng hơn hẳn địch đã tiến công tiêu diệt và phá vỡ hoàn toàn cụm phòng ngự, cơ bản Tiên Phước - Phương Lâm, lá chắn trực tiếp bảo vệ cho thị xã Tam Kỳ; chiếm giữ và khống chế toàn bộ các điểm cao phía tây Tam Kỳ, hình thành thế trận sẵn sàng đánh tiêu diệt từng trung đoàn chủ lực ngụy vào ứng cứu.

        Quân địch hốt hoảng vội vã điều lực lượng về ứng cứu. Nhưng theo đúng kế hoạch, sau khi "thả" cho trung đoàn 5 đi qua, lực lượng địa phương Quảng Ngãi đã khoá chặt lực lượng còn lại của sư đoàn 2 ngụy tại chỗ. Ở Quảng Nam, trung đoàn 2, sư đoàn 3 ngụy vừa rục rịch cơ động cũng bị lực lượng ta kéo xuống vùng đông và giam chân tại đó. Trong lúc đó sư đoàn 3 (thiếu) cũng bị lực lượng Quảng Đà giữ lại.

        Ngoài trung đoàn 5, sư đoàn 2, quân địch chỉ đưa thêm được đến tây Tam Kỳ liên đoàn 12 biệt động quân.

        So sánh lực lượng tại khu trọng điểm chiến dịch trong thời điểm này, về bộ binh, ta 2,5/địch 1.

        Khống chế được địa hình có lợi và dựa vào ưu thế binh lực hơn hẳn địch, ta chủ trương tập trung lực lượng đánh tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng làm mất sức chiến đấu từng trung đoàn chủ lực, tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực cơ động ngụy đi ứng cứu, tạo ra thời cơ trực tiếp giải phóng Tam Kỳ - Quảng Ngãi, thực hiện chia cắt địch về chiến lược đồng bằng ven biển.

        Ngày 21 tháng 3, sau hơn 6 giờ tiến công áp đảo, ta đã đánh thiệt hại nặng cả trung đoàn 5 và liên đoàn 12 biệt động quân ngụy. Quân địch lại phải vét lực lượng để tăng cường phòng thủ Tam Kỳ nhưng chúng cũng chỉ có thêm được một trung đoàn, vì "cánh cửa" bắc Quảng Ngãi của ta đã khoá chặt sau khi cho trung đoàn 4 ngụy đi qua, trong lúc các đơn vị khác vẫn bị giam chân tại chỗ.

        Lúc này tình hình tác chiến chung đang phát triển như vũ bão và rất thuận lợi cho ta. Toàn bộ lực lượng ở Tây Nguyên đã bị tiêu diệt, chủ lực ta từ phía tây đang tràn xuống các tỉnh phía nam quân khu. Ở phía bắc, ta đã giải phóng Quảng Trị và đang từ ba mặt bao vây tiến công địch ở Thừa Thiên Huế.

        Tuy chủ trương đánh tiêu diệt lực lượng cơ động ngụy mà chủ yếu là sư đoàn 2 ngụy, mới được thực hiện một phần, nhưng thời cơ đã xuất hiện, việc giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi đã trở thành một khả năng thực tế và cấp bách. Toàn bộ lực lượng dự trữ của quân khu được tung vào chiến đấu.

        Ngày 24 tháng 3, ở phía bắc sư đoàn 2 của ta đột phá vào Tam Kỳ, trung đoàn 36 đánh chiếm quận lỵ, Lý Tín, chia cắt giữa Tam Kỳ và Chu Lai. Hai tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam từ đông Thăng Bình vòng về phía nam, hình thành mũi vu hồi lợi hại từ phía đông đánh lên. Ở phía nam, trong lúc lữ đoàn 52 (thiếu) cùng 3 tiểu đoàn đặc công và một bộ phận pháo binh, thiết giáp của quân khu phối hợp với hai tiểu đoàn tập trung tỉnh tiến công vào thị xã Quảng Ngãi thì trung đoàn địa phương 94 bao vây tiêu diệt các đơn vị cơ động còn lại của quân ngụy đang tìm đường tháo chạy về Chu Lai. Quần chúng khắp nơi nổi dậy giành quyền làm chủ và kêu gọi địch bỏ vũ khí về với nhân dân.

        Trên thế áp đảo quân địch, đến 11 giờ ngày 24 tháng 3 ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã Tam Kỳ và 23 giờ 30 cùng ngày giải phóng thị xã Quảng Ngãi, tiêu diệt sư đoàn 2, 2 liên đoàn biệt động, 2 thiết đoàn của ngụy.

        Như vậy là với một lực lượng chủ lực ít hơn địch, nhưng do khéo tổ chức và kết hợp các lực lượng, các khu chiến của chủ lực và địa phương, ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, tạo được ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận then chốt. Kết quả đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của quân khu 1 ngụy, thực hiện chia cắt quân địch về chiến lược trên chiến trường đồng bằng, cô lập Đà Nẵng về phía nam, góp phần tạo ra thời cơ tiêu diệt lực lượng còn lại của quân khu 1 địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #41 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:40:44 AM »

       
        3. Chuyển hướng tiến công ra Đà Nẵng, kiên quyết bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tiến thẳng đến mục tiêu chủ yếu.

        Chiến dịch tiến công của quân khu trên hướng Tam Kỳ - Quảng Ngãi lúc đầu mang tính chất địa phương, nhằm phối hợp chiến trường chung và giành một thắng lợi quân sự cục bộ, tạo lực tạo thế, tạo thời cơ cho các chiến dịch tiếp theo. Dựa vào thế tiến công chung trên toàn chiến trường miền Nam, chiến dịch đã phát triển thuận lợi, giành thắng lợi lớn trong thời gian ngắn, và cùng với thắng lợi chung, tạo ra thế bao vây chia cắt, cô lập căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng từ ba hướng bắc, tây, nam. Đà Nẵng trở thành mục tiêu phát triển tất yếu của chiến dịch giải phóng Thừa Thiên Huế ở phía bắc và chiến dịch giải phóng Tam Kỳ - Quảng Ngãi ở phía nam; chiến dịch tiến công của quân khu trên hướng Tam Kỳ - Quảng Ngãi mặc nhiên trở thành một bộ phận của chiến dịch lịch sử Huế - Đà Nẵng.

        Đà Nẵng là căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của Mỹ ngụy ở miền Nam. Đến ngày 25 tháng 3, do tăng thêm đám tàn quân từ Trị - Thiên dồn vào, tổng quân số địch ở Đà Nẵng lên đến 10 vạn tên, trong đó có 15 tiểu đoàn quân chủ lực và 15 tiểu đoàn bảo an. Tuy nhiên trong quân ngụy tư tưởng thất bại tràn lan, phần lớn bọn sĩ quan chỉ lo cứu bản thân và gia đình, hàng ngũ địch bắt đầu hỗn loạn.

        Tranh thủ và tận dung thời cơ, phát triển tiến công trong hành tiến với tốc độ cao là thành công lớn của quân khu trong nghệ thuật chỉ huy ở cánh phía nam của chiến dịch này.

        Chiếu 24 tháng 3, khi trận tiến công giải phóng Tam Kỳ còn chưa kết thúc, quân khu đã ra mệnh lệnh sơ bộ cho các đơn vị phát triển về hướng Đà Nẵng, và ngay đêm đó hạ quyết tâm giải phóng Đà Nẵng, theo cách đánh tiến công phát triển nhanh để phối hợp với hai cánh quân phía bắc và phía tây của Quân đoàn 2. Bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tập trung lực lượng đánh thẳng vào Đà Nẵng, quyết tâm đó hoàn toàn phù hợp với ý định của trên. Ngày 25 tháng 3, quân khu nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu: "Tiến công nhanh Đà Nẵng bằng lực lượng tại chỗ có thể huy động được, không chờ lực lượng trên tăng cường. Vấn đề mấu chốt là diệt quân đoàn 1 ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ, không cho chúng rút lui co cụm về Sài Gòn".

        Mờ sáng ngày 28 tháng 3, cùng với hai mũi tiến công của quân đoàn 2, từ phía bắc vào và phía tây xuống, toàn bộ lực lượng chủ lực của quân khu ở hướng trọng điểm (sư đoàn 2, trung đoàn 36, lữ đoàn 52) và 2 trung đoàn tập trung tỉnh Quảng Đà hình thành một mũi tiến công mạnh, từ hướng nam theo trục đường 1 đánh ra Đà Nẵng.

        Hòng làm chậm bước tiến của ta để quân của chúng có thêm thời gian tháo chạy, bọn chỉ huy quân ngụy vội vã cho máy bay đánh sập cầu Bà Rén và cầu Lâu, đồng thời hình thành nhiều chốt chặn dọc đường 1. Nhân dân ở hai bờ sông Thu Bồn đã huy động ngay hàng trăm thuyền chở bộ đội vượt sông nhanh chóng, an toàn. Nhân dân ở dọc đường số 1, kể cả nhân dân thành phố Đà Nẵng, đã huy động hàng trăm xe đủ loại để chở bộ đội tiến công. Các đơn vị được nhân dân giúp đỡ đã vượt qua bọn chốt chặn, thọc thẳng vào Đà Nẵng.

        Tốc độ tiến công nhanh, sức mạnh tiến công áp đảo, hành động thọc sâu kiến quyết táo bạo của lực lượng chủ lực quân khu, hiệp đồng chặt chẽ với hai cánh quân của binh đoàn cơ động của Bộ và hành động nổi dậy giành quyền làm chủ của nhân dân, đã làm cho quân địch không kịp đối phó và tan vỡ rất nhanh. Chỉ đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng 3, ta đã đánh chiếm xong các mục tiêu then chốt: sân bay, sở chỉ huy quân đoàn 1, toà thị chánh, quân vụ thị trấn, đài phát thanh; đến 15 giờ chiếm xong quân cảng và các mục tiêu trên đỉnh Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng.

*

*         *

        Một trong những nét tiêu biểu của nghệ thuật quân sự Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch.

        Tổ chức, xây dựng lực lượng tại chỗ mạnh, kịp thời huy động và tập trung sức mạnh của lực lượng đó cùng với các binh đoàn chủ lực giành thắng lợi trong mùa xuân 1975 là một thành công và cũng là một bài học kinh nghiệm lớn của quân và dân khu 5.

        Đó là một quá trình chuẩn bị, tích luỹ về nhiều mặt để tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ. Đó là sự kết hợp giữa thế trận chung và thế trận riêng của từng địa phương tỉnh, huyện cùng với thế nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng nhân dân đứng lên làm chủ địa phương, thực hành ba mũi giáp công tạo thành một thế trận tiến công liên hoàn hiểm hóc, căng kéo kìm giữ địch, làm cho lực lượng chúng đông mà hoá ít, còn sức mạnh của ta thì được nhân lên gấp bội đã mạnh càng mạnh thêm, nhanh chóng đè bẹp mọi sức kháng cự của địch, giành thắng lợi triệt để.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tư, 2016, 11:00:36 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:49:44 AM »

        
TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY GIẢI PHÓNG  QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG

Thiếu tướng PHẠM BÂN        

        Quảng Nam - Đà Nẵng là một tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, nằm giữa đất nước, cách Hà nội và Sài Gòn một quãng đường gần bằng nhau; rộng 12.000km2, rừng núi chiếm 3 phần 4 diện tích, thành phố Đà Nẵng rộng 95km2. Dân số trước ngày giải phóng là 1.400.000 người, riêng thành phố Đà Nẵng có 480.000.

        Quảng Nam - Đà Nẵng có ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Đà Nẵng là một trong những thành phố lớn có hải cảng, sân bay, đường giao thông thuỷ bộ, là một căn cứ quân sự liên hợp lớn của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Mùa thu 1974, sau khi quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đánh bại một bước lấn chiếm, bình định của địch, sư đoàn 2 Quân khu 5 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Nông Sơn - Tuy Phước, sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2 tiêu diệt chi khu Thượng Đức và đánh lùi tất cả các cuộc phản kích của địch, kể cả của sư đoàn dù tổng dự bị của quân ngụy Sài Gòn. Các sư đoàn chủ lực của ta đã tạo bàn đạp vững chắc trên các địa bàn quan trọng,  hỗ trợ cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng, đẩy địch lùi về phòng thủ. Lực lượng của ta cài thế sát nách ở vùng ven thành phố, thị xã.

        Đầu năm 1975, sư đoàn dù ngụy còn bị giam chân tại Thượng Đức, đến khi ta giải phóng Tây Nguyên mới rút vào Nam Bộ, sư đoàn thuỷ quân lục chiến từ Huế vào Đà Nẵng thay thế. Thường xuyên địch có 2 sư đoàn bộ binh (các sư đoàn 2 và 3) và liên đoàn biệt động số 12 cơ động trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Trước ngày giải phóng, trên chiến trường này địch có 3 sư đoàn và 1 liên đoàn, tổng số lên tới 50.00 tên, và 30.000 địa phương quân. Ngoài ra còn có 1 sư đoàn không quân với 200 máy bay, 1 sư đoàn pháo binh với 150 khẩu pháo, 5 chi đoàn thiết giáp với 100 xe, 534 cư điểm 250 khu dồn dân.

        Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng với truyền thống "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ", trong mùa xuân 1975 đa anh dũng vùng lên, cùng với quân và dân cả nước kết hợp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn Quảng Nam - Đà Nẵng.

        1. Tiến công giải phóng Tiên Phước, Tam Kỳ - tiến công và nổi dậy giải phóng nông thôn đồng bằng.

        Quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị giải phóng hoàn toàn miền Nam, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ khu uỷ, căn cứ vào nhiệm vụ cơ bản được giao và mệnh lệnh của quân khu, tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng hạ quyết tâm và xác định phương hướng nhiệm vụ trong năm 1975 là: "Động viên nỗ lực của toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân trong tỉnh kiên quyết tiến công và nổi dậy đều khắp, đánh bại về cơ bản âm mưu bình định, lấn chiếm của địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng, tạo thế chia cắt bao vây địch, tiến lên giành chính quyền về tay nhân dân". Phương án cụ thể là: trong giai đoạn đầu sử dụng toàn bộ lực lượng địa phương phía nam phối hợp với chủ lực quân khu mở chiến dịch tiến công và nổi dậy trên hướng chủ yếu Tiên Phước - Tam Kỳ; lực lượng địa phương phía bắc (Quảng Đà) phối hợp với sư đoàn 304 tiến công và nổi dậy tập trung ở trọng điểm vùng trung và tây Duy Xuyên, trung Điện Bàn, vùng B Đại Lộc; thành phố Đà Nẵng đưa đấu tranh chính trị lên cao trào.

        Ngày 10 tháng 3, trong khi chủ lực ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột thì trên chiến trường Quảng Nam - Đeà Nẵng, sư đoàn 2 và lữ đoàn 52 quân khu 5 tiến công tiêu diệt các mục tiêu then chốt; Suốt Đá, cao điểm 211, tiến đánh chi khu quận lỵ Tiên Phước, bao vây bức rút chi khu Phước Lâm; lực lượng địa phương đánh phá các đồn ấp chiến lược, hỗ trợ quần chúng nổi dậy bung về làng cũ và cùng địa phương vây bắt, gọi hàng toàn bộ quân địch ở Tiên Phước, giải phóng hoàn toàn quận Tiên Phước với 21.000 dân.

        Mất Tiên Phước, Phước Lâm, tuyến phòng thủ của địch ở tây Tam Kỳ bị phá vỡ, sườn phía tây thị xã Tam Kỳ bị uy hiếp. Địch phải đưa liên đoàn biệt động quân số 12 và trung đoàn 5 sư đoàn 2 vào phản kích.

        Cùng với lực lượng địa phương, sư đoàn 2 và lữ đoàn 52 chủ lực quân khu 5 đã đánh lùi nhiều đợt phản kích, chặn đánh địch trên tuyến Kỳ Long, Kỳ Ngọt (tây Tam Kỳ), giữ vững địa bàn Tiên Phước, Phước Lâm, Trung đoàn 5 ngụy bị đánh thiệt hại nặng. Địch phải tăng cường lực lượng, cùng liên đoàn biệt động quân số 12 lập tuyến ngăn chặn ở phía tây thị xã Tam Kỳ.

        Phối hợp với chủ lực của quân khu, các tiểu đoàn tập trung Quảng Nam và du kích hai huyện Thăng Bình, Tam Kỳ nổ súng tiến công tiêu diệt một loạt cứ điểm, giải phóng các xã tây Thăng Bình, mở bàn đạp đưa lực lượng thọc sâu xuống vùng đồng bằng hỗ trợ cho quần chúng tiến công và nổi dậy giải phóng lại vùng đông huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, đưa lực lượng áp sát vào phía đông hiệp đồng với sư đoàn 2 quân khu 5 hình thành thế bao vây thị xã Tam Kỳ, triệt đường địch tháo chạy ra biển. Ở phía tây một tiểu đoàn của tỉnh phối hợp với trung đoàn 38 và một bộ phận xe tăng của quân khu tiến đánh Tuần Dưỡng, cắt đường 1, không cho địch tháo chạy ra Đà Nẵng.

        Trên hướng tiến công của bộ đội chủ lực, ngày 21 tháng 3, sư đoàn 2 và lữ đoàn 52 (thiếu) của quân khu 5 tiến công đánh tan trung đoàn 5 ngụy. Địch phải điều trung đoàn 4 từ Quảng Ngãi ra thay, cùng liên đoàn điều động quân số 12 cố sức ngăn chặn ở tây Tam Kỳ.

        Ngày 24 tháng 3, sư đoàn 2 được pháo binh và xe tăng quân khu chi viện, tiến công tiêu diệt các cứ điểm then chốt, phá tung tuyến phòng thủ của địch, hình thành các mũi tiến công vào giải phóng thị xã Tam Kỳ lúc 11 giờ.

        Lực lượng địa phương sau khi hoàn thành đánh cắt đầu Kỳ Phú, triệt đường tháo chạy của địch ở phía đông, đã hỗ trợ quần chúng nổi dậy, tham gia truy lùng vây bắt tàn quân địch, giải phóng toàn bộ vùng đông Tam Kỳ - Thăng Bình.

        Đến ngày 28 tháng 3, lực lượng địch gồm có sư đoàn 2 ngụy, liên đoàn biệt động quân số 12 và toàn bộ quân chiếm đóng (trên 35.000 tên) đã bị tiêu diệt, tan rã tại chỗ, các huyện phía nam hoàn toàn được giải phóng.

        Cùng với mũi tiến công quân sự và nổi dậy ở phía nam, lực lượng địa phương, dân quân du kích kết hợp với quần chúng nổi dậy tiến công quân địch, giải phóng các huyện phía bắc.

        Tin giải phóng Tây Nguyên vang tới làm địch ở đây dao động, núng thế, quần chúng đã xáp vào tiến công, kết hợp pháo kích, bắn tỉa, bao vây với gọi loa kêu gọi địch đầu hàng, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, buộc chúng phải tháo chạy từ Chiêm Sơn đến núi Song Sử tây Duy Xuyên. Ta đưa tối hậu thư vào đồn Kiểm Lâm, Gò Om buộc địch đầu hàng. 9 giờ ngày 28 tháng 3, quần chúng đã tràn vào chiếm quận lỵ Đức Dục, giải phóng 6 xã tây Duy Xuyên; đến 15 giờ ta giải phóng huyện Duy Xuyên.
      
        Ở huyện Đại Lộc, sau khi sư đoàn 304 giải phóng xong vùng B, lực lượng địa phương, du kích đánh địch dọc đường Giao Thuỷ, Ái Nghĩa, diệt và bức hàng hàng trăm tên. Quần chúng xáp vào vây đồn Ái Nghĩa, địch tháo chạy. Huyện Đại Lộc được giải phóng trưa 28 tháng 3.

        Ở Điện Bàn, từ những ngày 27, 28 tháng 3, du kích đã hỗ trợ quần chúng dùng gậy gộc, giáo mác vây ép đã tiến công, kêu gọi địch đầu hàng ở các đồn Bồ Bồ, Trùm Giao, Bình Long, Nông Sơn, Trảng Nhật, đưa tối hậu thư buộc địch giao đồn.

        Ở Hoà Vang, các xã Hoà Bình, Hoà Lương, Hoà Phong đã vây bức rút quận Hiếu Đức, bắt sống tên quận phó, giải phóng khu vực này.

        Ở quận lỵ Hoà Vang, chiều 28 tháng 3 địch khuân tài liệu ra đường chất lên xe tháo chạy, quần chúng xáp vào vậy lại, buộc chúng phải bỏ quận, bỏ tài liệu mà chạy. Hoà Vang hoàn toàn giải phóng. Đến chiều 28 tháng 3, vùng nông thôn các huyện phía bắc về cơ bản đã được giải phóng, quân và dân ta hình thành thế bao vây áp sát thành phố Đà Nẵng.

        Chủ lực của khu mở cuộc tiến công trên hướng Tiên Phước - Tam Kỳ. Bằng sức đột phá mạnh, ta đã phá vỡ từng tuyến phòng thủ kiến cố của địch, tiêu diệt nhiều mục tiêu then chốt. Phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, ta đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, tiêu diệt, làm tan rã một phần quân cơ động của ngụy, giải phóng chi khu quận lỵ, thị xã, tạo điều kiện cho lực lượng địa phương tiêu diệt phần lớn địa phương quân và lực lượng kìm kẹp của địch, giải phóng vùng nông thôn đồng bằng. Quần chúng nhân dân có điều kiện nổi dậy tham gia vây bắt quân địch, truy lùng ác ôn, phá các khu đồn, bung về làng cũ. Tiến công quân sự ở đây giữ vị trí trọng yếu. Kết hợp với quần chúng nổi dậy tạo thành sức mạnh tổng hợp tiến công quân địch, làm cho chúng nhanh chóng tan rã và thất bại.

        Quân khu 5 chủ trương chọn hướng tiến công chiến dịch ở Tiên Phước - Tam Kỳ là chính xác. Tiến công trên hướng này ta vừa tận dụng được thời cơ chiến lược do chiến thắng Tây Nguyên tạo ra, vừa phát huy được kết quả chiến đấu ở chiến trường, tạo thời cơ trực tiếp trên địa bàn tỉnh, chia cắt, bao vây, cô lập địch ở Đà Nẵng. Chọn Tiên Phước để đánh trận đầu chiến dịch, ta đã đánh vào chỗ hiểm yếu của địch trên một thế hoàn toàn có lợi, thời cơ giải phóng Tam Kỳ, Đà Nẵng.

        Lực lượng vũ trang địa phương mở cuộc tiến công thọc sâu vào vùng đồng bằng hình thành thế vậy chặt ở thị xã Tam Kỳ, tạo điều kiện trực tiếp cho quần chúng nổi dậy là hành động táo bạo dũng cảm, làm cho thế chiến dịch phát triển, đưa đến thắng lợi giòn giã.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #43 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 04:20:32 PM »


        2. Tiến công và nổi dậy giải phóng thành phố Đà Nẵng.

        Trên đà thắng lợi to lớn, dồn dập, tình hình chiến trường phát triển hết sức mau lẹ. Tây nguyên đã hoàn toàn giải phóng. Quân ta phát triển thế trận tiến công giải phóng các tỉnh đồng bằng khu 5 (Quảng Ngãi, Quảng Nam) Trị - Thiên, Huế.... Địch ở Đà Nẵng bị cô lập. Tình hình bên trong thành phố càng trở nên hỗn loạn. Nguyễn Văn Thiệu cố sức kêu gào "tử thủ Đà Nẵng với bất cứ giá nào". Bộ tổng tham mưu ngụy cấp tốc chuyển 20.000 khẩu sức ra tăng cường cho Đà Nẵng, nhưng không tài nào cứu vãn được tình thế. Các sư đoàn 1, 2, các liên đoàn biệt động quân 11, 12 ngụy đã bị tiêu diệt và tan rã. Quân đoàn 1 ngụy mất sức chiến đấu. Quân ngụy ở Đà Nẵng lúc đó còn có sư đoàn 3, sư đoàn thuỷ quân lục chiến và lực lượng địa phương quân, cộng với tàn quân các nơi dồn về, tổng số lên tới 10 vạn tên. Dân ở Đà Nẵng cũng tăng lên gần 1 triệu người làm cho thành   phố càng thêm rối loạn. Địch bắt đầu dùng máy bay di tản gia đình các sĩ quan và nhân viên ngụy quyền.

        Quân ta trên các hướng đang tiến vào Đà Nẵng: quân đoàn 2 từ phía bắc vào, sư đoàn 304 (quân đoàn 2) từ phía tây nam xuống, sư đoàn 2 (quân khu 5) từ phía nam ra. Các trận địa pháo của ta sẵn sàng nhả đạn. Lực lượng địa phương áp sát thành phố. Quần chúng vùng ven đã nổi dậy, chặn đường tước vũ khí địch. Quần chúng bên trong thành phố và các uỷ ban khởi nghĩa sẵn sàng hành động.

        Từ phương án cơ bản ban đầu "đánh bại bình định, lấn chiếm của địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng" giải phóng Đà Nẵng. Thường vụ Khu uỷ và Bộ tư lệnh quân khu chỉ đạo giải phóng Đà Nẵng theo phương hướng phát triển tiến công nhanh và nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng. Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã nhanh chóng chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, khẩn trương triển khai thực hiện, tập trung lực lượng quân sự, tổ chức đội ngũ đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng, hoàn thành các mặt công tác bảo đảm.

        Về tổ chức lực lượng, ngoài trung đoàn 96, tỉnh còn thành lập trung đoàn 97 bộ binh, 29 liên trung đội du kích xã làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy. Bên trong, các quận đã củng cố phát triển cơ sở chính trị, lực lượng tự vệ và biệt động thành. Quận có 200 tự vệ và biệt động vũ trang. Ta đã hình thành hệ thống tổ chức lực lượng nòng cốt, hạt nhân lãnh đạo đến các khu phố, phường, khóm, xí nghiệp, bến cảng, sân bay, trong các tổ chức quần chúng học sinh, sinh viên.... Ngày 26 tháng 3, đồng chí Trần Hưng Thừa, uỷ viên thường vụ tỉnh uỷ, bí thư quận uỷ 1 đã được cử vào thành phố trực tiếp chỉ đạo lực lượng bên trong, chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy, đã chuyển 40 ban cán sự thành các uỷ ban khởi nghĩa, từ hoạt động bí mật chuyển sang hoạt động công khai, nửa công khai, phân công cán bộ phụ trách từng mục tiêu cụ thể, sẵn sàng đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch, phá nhà lao, giải thoát tù chính trị, bảo vệ các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, cơ sở y tế, vận động gia đình cơ sở may cờ cách mạng v.v..

        Tình hình bên trong Đà Nẵng sôi động, địch suy sụp rất nhanh. Quần chúng vùng ven nổi dậy bao vây, bức hàng, bức rút các đồn bốt địch trên các tuyến hành lang và trục giao thông. Tại trung tâm huấn luyện Hoà Cẩm, được nhân dân bên ngoài chi viện, cơ sở nội ứng bên trong gồm 1 thiếu uý và 10 binh sĩ đã nổ súng vào bọn chỉ huy quân trường, tạo điều kiện cho 3.000 tân binh làm binh biến, chạy về với nhân dân.

        Để đẩy mạnh tốc dộ tan rã của địch, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy mạnh mẽ hơn nữa, sáng ngày 28 tháng 3 pháo binh quân đoàn 2 và quân khu  5 bắt đầu bắn vào các căn cứ lớn của địch; sân bay Đà Nẵng, sở chỉ huy quân đoàn 1 Vĩnh Điện, bán đảo Sơn Trà. Cầu hàng không đã bị cắt đứt, các đường tháo chạy của địch cũng bị khống chế. Quần chúng xáp vào tiến công, vận động binh lính tháo chạy và đầu hàng để bảo toàn tính mạng. Hơn 10 nghìn nhân dân huyện Điện Bàn đã xuống đường, tay gậy tay dao chặn đường, vận động, uy hiếp, làm tan rã địch, không cho chúng dồn về Đà Nẵng. Trước sức mạnh áp đảo của nhân dân, trên 2.000 binh lính và sĩ quan của sư đoàn 3 buộc phải hạ vũ khí. Nhân dân Hoà Hải quận 3 đã dùng gậy gộc đuổi bắt hàng trăm tên lính thuỷ quân lực chiến ngoan cố.

        22 giờ ngày 28 tháng 3, đồng chí Thừa gửi điện báo cáo với Thường vụ tỉnh uỷ: "Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1 đã bỏ chạy ra tàu chiến. Thành phố gần như bỏ ngỏ, đề nghị đưa lực lượng vào ngay kết hợp với lực lượng bên trong nổi dậy. Trong thành phố chúng tôi đã phát lệnh khởi nghĩa rồi, không chờ đến ngày 31".

        Theo phương án và kế hoạch đã hiệp đồng, đến ngày 28 tháng 3 các đơn vị hành quân vào vị trí áp sát vùng ven thành phố trên các hướng tiến công. Ở Hội An, nhân dân nổi dậy và đưa 200 thuyền ra chở bộ đội vào giải phóng thị xã. Sáng ngày 29 tháng 3, quân ta trên các hướng có xe tăng, pháo binh chi viện, tiến vào Đà Nẵng.

        Ở phía nam, sư đoàn 2 vượt qua các sông Bà Rén, Câu Lâu, Trung đoàn 38 đánh chiếm chi khu Điện Bàn, thị trấn Vĩnh Điện, tiến ra Đà Nẵng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:08:13 PM »


        Trung đoàn 1 được tăng cường tiểu đoàn xe tăng phối hợp với trung đoàn 96 địa phương và đội biệt động Lê Độ, thành hai mũi tiến công vào Đà Nẵng. Trung đoàn 1 vượt sông Cầm Lệ đánh chiếm Bộ tư lệnh sư đoàn không quân, sân bay Đà Nẵng (lúc 12 giờ). Đồng thời một bộ phận bộ binh và xe tăng theo đường số 1 ra ngã ba - Huế tiến vào trung tâm thành phố, đánh chiếm quân vụ thị trấn, tiền tuyến cảnh sát, toà thị chính Đà Nẵng (lúc 12 giờ 30). Trung đoàn 96 cùng đại đội đặc công và biệt động Lê Độ vượt bến đò Xu đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 1 (12 giờ) và tiến quân theo đường Bạch Đằng đến toà thị chính bắt liên lạc với trung đoàn 1. Trước đó, tổ tự vệ do Phan Sĩ Thân chỉ huy, đã chiếm giữ và treo cơ sở ở đây lúc 10 giờ.

        Bên trong thành phố, các uỷ ban khởi nghĩa đã vận động nhân dân nổi dậy phá nhà lao, giải thoát 700 tù chính trị ra tham gia khởi nghĩa. Nhân dân đổ xô ra đường đón quân giải phóng. Quận 1 huy động hàng trăm xe chở bộ đội và các đồng chí lãnh đạo của ta vào thành phố. Nhân dân xáp vào tiến công áp đảo, kêu gọi quân địch bỏ vũ khí ra hàng. Nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Thị Huệ chỉ huy 2 tổ biệt động đánh chiếm đài phát thanh Đà Nẵng. Uỷ ban khởi nghĩa cùng 100 công nhân nhà máy Liên Trì đứng lên làm chủ nhà máy, treo cờ cách mạng, buộc chủ nhà máy ra trình diện và tiếp tục làm việc, bảo đảm cung cấp điện không ngừng. Các cơ sở y tế, bệnh viện, không cho địch và kẻ xấu lợi dụng cướp phá, tiếp tục cứu chữa bệnh nhân, phục vụ kịp thời cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Công nhân, tự vệ cùng với quần chúng nổi dậy kết hợp với lực lượng vũ trang làm chủ tình hình ở bến cảng, bến xe, ga tàu, nhà máy xí nghiệp.

        Trung đoàn 38, sau khi đánh chiếm Vĩnh Điện, đã nhanh chóng tiến ra phối hợp với trung đoàn 97 địa phương tiến theo ven biển đánh chiếm căn cứ Non nước (lúc 10 giờ) sân bay Nước Mặn (11 giờ 30), kho An Đồn, căn cứ thuỷ quân lục chiến ở Mỹ Khê, căn cứ hải quân và bắt liên lạc với cánh quân của quân đoàn 2 đánh chiế Sơn Trà.

        Anh em tù chính trị ở nhà lao Non Nước, được sự hỗ trợ của lực lượng quần chúng bên ngoài, nổi dậy phá nhà lao, tham gia vây bắt tàn quân địch. Nhân dân xã Hoà Hải nổi dậy cùng bộ đội vây bắt bọn ác ôn. Chị Phan Thị Nghĩ, cơ sở nồng cốt, dẫn đầu quần chúng ra chặn đường, ngăn xe tăng địch, kêu gọi binh lính đầu hàng và đã hy sinh do trúng đạn địch. Nhân dân xã Hoà Hải đổ xô ra biển chặn địch lại kêu gọi đầu hàng, Hơn 3.000 tên thuỷ quân lục chiến đã nộp súng đầu hàng.

        Hơn 4.000 nhân dân phường An Thượng, khu phố An Hải nổi dậy diệt bọn tàn quân, kéo ra đón quân giải phóng. Ở Nại Hiên Đông, quần chúng nổi dậy làm tan rã 2 tiểu đoàn thủ quân lục chiến.

        Sư đoàn 304 (quân đoàn 2) từ hướng tây nam cùng với bộ đội địa phương Đại Lộc tiến nhanh theo đường 14, đánh chiếm Ái Nghĩa, Tuý Loan, Hoà Cầm rồi tiến thẳng vào Đà Nẵng, bắt liên lạc với trung đoàn 1, sư đoàn 2 tại sân bay Đà Nẵng.

        Các đơn vị khác thuộc quân đoàn 2 từ phía bắc nhanh chóng vượt đèo Hải Vân đánh chiếm Nam Ô, Thuỷ Tú, cảng Phú Lộc, một đơn vị bộ binh và xe tăng tiến vào Ngã ba Huế xuống Đà Nẵng, qua cầu Trịnh Minh Thế, bắt liên lạc với trung đoàn 38, đánh chiếm bán đảo Sơn Trà.

        Phối hợp với toàn chiến trường Miền Nam, sau 32 giờ chiến đấu với cách đánh táo bạo trong thời cơ lịch sử, bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tiến thẳng vào mục tiêu chủ yếu là Đà Nẵng các lực lượng vũ trang (cả chủ lực và địa phương) tại mặt trận Đà Nẵng kết hợp với quần chúng nổi dậy đã tiêu diệt và làm tan rã 10 vạn quân địch, xoá sổ quân đoàn 1, quân khu 1 ngụy đánh chiếm toàn bộ căn cứ quân sự liên hợp của Mỹ-ngụy, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng ngày 29 tháng 3 năm 1975, góp phần đẩy địch lao nhanh đến thất bại và sụp đổ hoàn toàn.

        Cuộc tiến công và nổi dậy ở Quảng Nam - Đà Nẵng đã kết thúc thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn, vượt xa dự kiến ban đầu cả về thời gian, không gian và quy mô. Quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cùng với các binh đoàn chủ lực của Bộ và quân khu tiêu diệt và làm tan rã quân địch về mặt chiến lược, phá âm mưu co cụm của chúng, góp phần xứng đáng vào Đại thắng mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #45 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:31:00 PM »

        
TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975
Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Thiếu tướng TRẦN HẢI PHỤNG        
       

        Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng tháng 10 năm 1973, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương Đảng tháng 3 năm 1974. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương cục miền Nam và Nghị quyết tháng 5 năm 1974 của Quân uỷ Miền Nam, quân và dân miền Đông và miền Tây Nam Bộ liên tục tiến công trong mùa khô 1973-1974 và cả trong mùa mưa năm 1974, giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Trên chiến trường miền Đông, quân và dân ta giành được quyền chủ động tiến công ngày càng vững chắc, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định gom dân của địch ở đồng bằng vùng ven, mở thông tuyến hành lang chiến lược Bù Đăng - Tuyên Đức; vùng giải phóng được mở rộng và từng bước củng cố; các lực lượng vũ trang ta dần dần áp sát phía trước, kể cả vùng ven Sài Gòn. Qua phản công và tiến công, chủ lực ta đã có bước trưởng thành tương đối nhanh, có khả năng tiến lên đánh bại chủ lực địch. Chính trong bối cảnh đó, quân và dân miền Đông Nam Bộ bước vào mùa khô 1974-1975, tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần giải phóng Sài Gòn, giải phóng toàn miền Nam.

        Dưới đây là mấy vấn đề rút ra từ thực tiễn chiến trường miền Đông Nam Bộ trong mùa xuân 1975.

        
I

        Từ thắng lợi của mùa khô 1974 - 1975 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, có thể rút ra nhiều kinh nghiệm về quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn cuối chiến tranh; nắm vững vị trí trọng yếu của đại bàn, đánh giá đúng địch, ta, có quyết tâm đúng đắn và phù hợp; trong quá trình phát triển biết tạo thời cơ và nắm thời cơ, liên tục tiến công, liên tục giành thắng lợi.

        Chiến trường B2 cũ là phần đất cuối cùng của Tổ quốc, có Sài Gòn, "thủ đô" ngụy quyền, có đồng bằng sông Cửu Long đông dân, nhiều của và là kho dự trữ chiến lược của địch, lại có miền Đông với tính chất địa hình hoàn chỉnh (rừng núi, đồng bằng, đô thị), nên đã trở thành một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quân sự và chính trị. Càng về cuối cuộc chiến tranh, địch càng ra sức củng cố thế trận của chúng ở chiến trường này; khi phải bỏ các nơi khác, chúng đều dồn về đây. Rõ ràng đây là trọng điểm tranh chấp cuối cùng để giải quyết chiến tranh. Chính vì vậy mà Trung ương đã sớm có ý định tạo thế tạo lực cho chiến trường miền Đông Nam Bộ, nơi sẽ diễn ra trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Quán triệt sâu sắc quan điểm bạo lực cách mạng, tư tưởng chiến lược tiến công và ý đồ chiến lược của trên, Trung ương cục và Quân uỷ miền đã đánh giá đúng địch, ta và có chủ trương biện pháp thích hợp.

        Về địch, sau hai năm 1973-1974, địch đã bị thất bại một bước nghiêm trọng, hậu phương dự trữ nhân lực, vật lực bị thu hẹp (ngay ở vùng 4, địch bắt lính không đủ bù số tiêu hao, quân số hụt 50.000 tên), tinh thần suy sụp khó gượng lại nổi, mâu thuẫn nội bộ phát triển, khả năng điều động lực lượng rất hạn chế (chỉ có thể tập trung 1-2 sư đoàn để phản công ta trên một hướng khi bị uy hiếp). Mỹ khó có khả năng can thiệp, mà nếu quân Mỹ có vào cũng ở trong thế yếu, thế thua, không thể xoay chuyển được tình hình.

        Về ta, Nghị quyết tháng 5 năm 1974 của Quân uỷ Miền nhận định: chủ lực ta đã mạnh hơn chủ lực địch, phong trào quần chúng đã mở rộng kể cả vùng sâu, vùng yếu, lực lượng ta mọi mặt đều phát triển, khí thế quyết tâm cao; ta đã nắm quyền chủ động chiến trường và tạo được một thế chiến lược lợi hại (thế ba vùng lên hoàn, thế bố trí lực lượng xen kẽ, thế đứng vững chắc của chủ lực Miền, chiến trường đã được tổ chức một bước...). Miền Đông có đầy đủ khả năng thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị giành thắng lợi lớn trong mùa khô 1974-1975.

        Thống nhất được đánh giá địch - ta như trên cũng phải trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng kiên quyết và bền bỉ, chống khuynh hướng đánh giá địch cao, không thấy hết khả năng của ta, đồng thời cũng phải nhìn rõ khó khăn, nhược điểm của ta để có biện pháp khắc phục.

        Từ nhận định trên đây, nắm vững ý định cơ bản của Trung ương, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã có quyết tâm đúng đắn, xác định phương hướng mở mảng, mở vùng, chủ yếu là hướng đồng bằng, tạo thế tạo lực ở vùng ven Sài Gòn nhằm đánh bại kế hoạch bình định của địch, mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng miền Đông, mở rộng hành lang, tạo thế triển khai lực lượng lớn để tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường này. Thực hiện quyết tâm đó, miền Đông đã nhanh chóng chấn chỉnh và bố trí lại lực lượng trên các địa bàn trọng điểm.

        Tại vùng ven Sài Gòn, lực lượng được điều xuống để mở rộng nông thôn, vừa đẩy đòn tiến công đô thị lên một bước. Nhanh chóng củng cố 6 trung đoàn đặc công và từ tháng 6 năm 1974 đưa về đứng chân xung quanh Sài Gòn, đánh địch để tạo thế, mở vùng; tổ chức lại đoàn biệt động 316 thành các tiểu đoàn, đại đội gọn nhẹ, phát triển sâu vào nội thành; tổ chức lại cơ quan chỉ huy thành đội, tăng cường lực lượng, xây dựng trung đoàn địa phương của thành. Kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh, cố thủ, không dám tác chiến ở vùng ven và nội thành, sợ vỡ cơ sở... Nhờ đó, đã đẩy hoạt động quân sự ở vùng ven Sài Gòn lên một bước, triển khai được lực lượng, tạo thế có lợi cho trận quyết chiến chiến lược sau này.

        Trong khi đó ở miền Đông, chủ lực miền được bổ sung, củng cố, được giao nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, cải thiện thế, mở rộng vùng giải phóng (đánh chiếm núi Bà Đen, tiêu diệt địch và giải phóng đường số 14 đoạn từ km 11 đến Bù Đăng, đẩy mạnh hoạt động ở Võ Đắc, Tánh Linh...). Sau khi tạo được thế căng kéo địch ra các nơi, cô lập Đồng Xoài - Phước Long, nghi binh lừa địch giam chân chúng trên các hướng, đã đề nghị và được Trung ương chuẩn y dùng lực lượng không nhiều, chớp thời cơ có lợi, liên tục tiến công giải phóng Đồng Xoài, rồi toàn tỉnh Phước Long, bảo đảm hành lang chiến lược thông suốt, hoàn chỉnh vùng giải phóng... Việc giải phóng Phước Long còn tạo ra cơ sở thực tiễn để đánh giá khả năng của ngụy và của Mỹ, khả năng của ta, từ đó Bộ Chính trị có thêm căn cứ vững chắc để hạ quyết tâm lớn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #46 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:32:48 PM »

        Đợt một mùa khô 1974-1975 đối với chiến trường B2, chiến trường miền Đông là một đợt hoạt động mạnh. Thắng lợi ở đồng bằng sông Cửu Long, ở đường số 14 - Phước Long... chứng minh sự chỉ đạo của Trung ương cục, Quân uỷ Miền là đúng đắn và linh hoạt, đã đánh giá đúng tình hình, quán triệt và chấp hành ý định của trên một cách kiên quyết sáng tạo.

        Vào đợt hai mùa khô 1974-1975 - đợt hoạt động mạnh nhất toàn miền Nam trong năm 1975 - hướng chủ yếu là Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên. Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền có nhận định bổ sung: hướng chủ yếu toàn miền Nam có thể thắng to, địch có nguy cơ tan rã lớn, tình huống sẽ diễn biến hết sức nhanh và phức tạp. Từ đó, đã chỉ đạo chiến trường miền Đông và Sài Gòn một mặt phải tiếp tục tiêu diệt những đơn vị lớn của địch, mặt khác phải hết sức khẩn trương tạo thế cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng đánh vào Sài Gòn. Thế trận đó phải hoàn chỉnh, vùng giải phóng phải được mở rộng, áp sát vào trung tuyến, tạo địa bàn cho các binh đoàn chủ lực lớn triển khai tiến công; tạo thế hậu cần vươn sâu xuống các hướng; quần chúng làm chủ vùng ven và các "lõm" chính trị trong nội đô sẵn sàng nổi dậy phối hợp... Nhờ đó khi ta thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, Trị - Thiên và vùng ven biển miền Trung, tình huông diễn biến nhanh, thời cơ đánh đòn quyết định xuất hiện, chiến trường miền Đông đã chuẩn bị cơ sở và sẵn sàng thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương.

        Từ thực tiễn trên có thể rút ra mấy điểm sau đây:

        a. Chỉ đạo chiến lược trên một chiến trường trọng điểm, phải nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, ý đồ chiến lược của Trung ương, nhất là trong thời kỳ cuối của chiến tranh. Tổ chức thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và sáng tạo, đánh giá đúng tình hình, chỉ đạo nhạy bén kịp thời, tạo thời cơ, nắm thời cơ liên tục tiến công, liên tục giành thắng lợi.

        b. Đánh giá đúng tình hình địch, tình hình ta là cơ sở để hạ quyết tâm, xây dựng kế hoạch sát thực tế và bảo đảm thực hiện thắng lợi. Đánh giá tình hình phải xuất phát từ thực tế khách quan và quy luật diễn biến của tình hình. Đánh giá đúng rồi phải đấu tranh để thống nhất nhận thức trong lãnh đạo, giữa trên và dưới, quán triệt sâu sắc xuống đến cơ sở. Đây là vấn đề hết sức quan trọng. Có đạt được sự nhất trí cao mới có quyết tâm cao, có hành động kiên quyết, sáng tạo.

        c. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược cụ thể của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền là thực hiện quyết tâm trước mắt, luôn luôn phục vụ cho ý đồ chiến lược cơ bản, trong quá trình thực hiện luôn có dự kiến, khi phát hiện thời cơ kịp thời tận dụng, hạ quyết tâm nhanh, liên tục giành thắng lợi. Chiến thắng ở Đồng Xoài, Phước Long, lộ 20, Lâm Đồng đã chứng minh khá rõ điều đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #47 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:34:38 PM »

II

        Trên cơ sở nắm vững ý đồ chiến lược chung và vị trí của địa bàn, tích cực chủ động chuẩn bị chiến trường, tạo thế, tạo lực, sẵn sàng phương án tận dụng thời cơ trong chiến cuộc mùa khô 1974-1975 là một nghệ thuật sáng tạo trong chỉ đạo chiến trường.

        Thời cơ bao giờ cũng do điều kiện chủ quan và khách quan tạo ra, mà điều kiện chủ quan là cơ bản, quyết định. Để tạo thời cơ, thúc đẩy thời cơ mau chín muồi và tận dụng thời cơ, bao giờ cũng xuất phát từ cơ sở thế là và lực nhất định. Thế và lực cũng do chỉ đạo chủ quan tạo ra trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Thế bao giờ cũng dựa trên cơ sở của lực, có lực mới có thế; nhưng có thế tốt lại phát huy được lực. Trong chiến cuộc mùa khô 1974-1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, thế của chiến trường miền Đông đã được chuẩn bị sẵn, lực của địa phương đã được triển khai trong thế trận hết sức lợi hại, tạo điều kiện để khi 3 quân đoàn chủ lực của Bộ vào, đơn vị sớm nhất đến trước giờ nổ súng 15 ngày, đơn vị đến sau chỉ sau 2 ngày đã bước vào chiến dịch trong điều kiện khá thuận lợi và giành thắng lợi nhanh chóng, giòn giã. Có thể nói công tác chuẩn bị chiến trường, tạo thế, tạo lực cho chiến dịch tiến công chiến lược trong thời kỳ kết thúc chiến tranh ở miền Đông đã có nhiều kinh nghiệm thành công khá phong phú.

        Do nắm vững vị trí chiến trường trọng điểm của miền Đông - nơi tập trung cơ quan đầu não, sào huyệt cuối cùng của địch - quán triệt ý đồ chiến lược của Bộ Chính trị trong dự thảo Nghị quyết tháng 10 năm 1974, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền đã nêu ra để chỉ đạo:

        - Chung toàn miền Nam thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mở đầu vào mùa xuân 1975, những với khả năng của bản thân và xuất phát từ các yêu cầu chiến lược chung, ngay đầu mùa khô 1974-1975 toàn chiến trường B2 đã phải đánh mạnh, thắng to để tạo thế, tạo lực cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng;

        - Đối với chiến trường miền Đông, phải đẩy mạnh cả ba đòn chiến lược, đánh phá bình định ở nông thôn đồng bằng; hoạt động mạnh ở vùng ven biển và đô thị; chủ lực ở vùng rừng núi tác chiến tiêu diệt sinh lực lớn của địch, mở rộng và từng bước hoàn chỉnh vùng giải phóng, mở thông hành lang chiến lược, chiến dịch áp sát và uy hiếp trung tuyến... Như vậy là tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp của ta ở cả ba vùng, làm suy yếu toàn diện quân địch. Do đó khi thời cơ chiến lược đến, trong các quân đoàn chủ lực của Bộ đã thực hiện cùng một lúc cả ba đòn chiến lược mạnh, góp phần nhanh chóng đánh ngã quân thù.

        Trong suốt quá trình chiến tranh và nhất là từ năm 1974 và đợt một mùa khô 1974-1975, trong khi thực hiện nhiệm vụ trước mắt, Trung ương Cục và Quận uỷ Miền luôn hướng vào việc chuẩn bị chiến trường, tạo thế tạo lực cho trận quyết chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn.

        Ngay từ đầu năm 1974, miền đã chuẩn bị phương án tiến công Sài Gòn dựa theo khả năng của mình và kinh nghiệm đòn tiến công chiến lược trước đây (năm 1968 và 1972) báo cáo ra Quân uỷ Trung ương. Trong đợt một và đầu đợt hai năm 1975, tuy thời gian đánh vào Sài Gòn chưa được xác định cụ thể, nhưng công tác chuẩn bị chiến trường đã được tiến hành khẩn trương, tích cực, và trên thực tế trước ngày chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, chiến trường đã được tổ chức, chuẩn bị sẵn, thế và lực đã được triển khai hết sức lợi hại.

        1. Triển khai thế trận bao vây, chia cắt, cô lập Sài Gòn, tạo bàn đạp triển khai chiến dịch.

        Phía Đông, hoàn toàn cắt lộ 1, áp sát Trảng Bom, sẵn sàng cắt lộ 15 và sông Lòng Tàu, uy hiếp Vũng Tàu, làm tê liệt sân bay Biên Hoà.

        Phía Tây và phía tây-nam; cắt lộ 4 ở nhiều đoạn từ Minh Hải, Cần Thơ, Mỹ Tho... Sư đoàn 8 quân khu 8 đã đứng ở bắc lộ 4 đoạn Trung Lương, Cai Lậy; sư đoàn 5 áp sát Tân An, Bến Lúc; Kênh Chợ Gạo bị uy hiếp. Các trung đoàn bộ binh 24 và 88 đứng vững ở Cần Giuộc, Cần Đước... bao vây Sài Gòn về hướng tây và tây-nam.

        Phía tây - bắc và đông - bắc, quân địch cũng bị bao vây sau khi ta giải phóng Dầu Tiếng, Suối ông Hùng Chơn Thành, cô lập Phước Vĩnh, áp sát Tân Uyên, giải phóng lộ 20.

        Thế trận lợi hại này vừa bao vây, cô lập Sài Gòn, tạo thế triển khai lực lượng lớn, vừa đánh đòn mạnh làm cho tinh thần càng thêm hoang mang rệu rã.

        2. Bố trí lực lượng ba thứ quân.

        Chủ lực miền Đông đứng vững trên hai hướng hiểm yếu nhất và cũng khó khăn nhất trên triến trường; quân đoàn 4 áp sát Trảng Bom đối đầu với quân đoàn 3 địch; binh đoàn 232 áp sát tuyến sông Vàm Cỏ, Hậu Nghĩa, sát lộ 4 từ Tân An đến Cai Lậy, chiếm Cần Giuộc, Cần Đước kề quận 8 Sài Gòn. Các quân đoàn cơ động của Bộ vào có thể triển khai sát Phú Lợi, Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát, phía bắc sát Đồng Dù, Củ Chi; phía tây - bắc, đông-nam sát Bà Rịa, Vũng Tàu, lộ 15, Nước Trong... Vị trí xuất phát tiến công của các quân đoàn, trong chiến dịch tiến công chiến lược chỉ cách trung tâm mục tiêu có 30-40 km là một điều hết sức lý tưởng.

        Lực lượng vũ trang thành phố đã triển khai đứng vững trên địa bàn cùng ven và trong nội bộ, đủ sức đánh và chiếm giữ một số mục tiêu then chốt, các cầu quan trọng, khống chế các trận địa pháo và sân bay trong một thời gian nhất định, làm nòng cốt cho chiến tranh du kích phát triển và phát động quần chúng nổi dậy.
        Rõ ràng thế bố trí lực lượng trên đây tạo cơ sở thuận lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng.

        3. Chuẩn bị mũi đấu tranh của quần chúng trong vùng địch tạm kiểm soát.

        Bị địch áp bức kìm kẹp lâu dài, nhân dân trong vùng địch tạm kiểm soát sẵn sàng hành động cách mạng. Đây là một mũi tiến công hết sức quan trọng khi thời cơ đến, tạo nên một hình thái lợi hại trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở cơ sở.

        4. Tổ chức thế trận hậu cần vững chắc, thông suốt.

        - Xây dựng đường hành lang chiến lược, chiến dịch thông suốt.

        - Tổ chức sáu cánh hậu cần vươn sâu xuống xung quanh Sài Gòn.

        - Chuẩn bị đầy đủ hệ thống kho tàng, dự trữ vật chất, nhiên liệu.

        - Hình thành hệ thống thông tin liên lạc trên các hướng.

         5. Tăng cường lực lượng sẵn sàng tham gia chiến dịch lớn.

        Trước khi mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng B2 đã được bổ sung và chấn chỉnh tổ chức phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới;

        - Hoàn chỉnh xây dựng các sư đoàn, trung đoàn của quân khu (sư đoàn 6 quân khu 7, sư đoàn 8 quân khu 8, sư đoàn 4 quân khu 9, trung đoàn 12 quân khu 6), sư đoàn 3 chủ lực miền, bổ sung binh khí kỹ thuật và xây dựng quân đoàn 4 (tháng 6-1974).

        - Thành lập cơ quan chỉ huy, điều động lực lượng tổ chức đoàn 232 (tương đương quân đoàn tăng cường) ở hướng tây - nam Sài Gòn.

        - Chấn chỉnh và tổ chức lại lực lượng thành đội Sài Gòn; chấn chỉnh tổ chức và đưa xuống vùng ven sư đoàn hướng tây - nam Sài Gòn.

        - Chấn chỉnh và tổ chức lại lực lượng thành đội Sài Gòn; chấn chỉnh tổ chức và đưa xuống vùng ven sư đoàn đặc công 2 và đoàn biệt động 316.

        - Lực lượng chính trị, vũ trang địa phương phát triển vượt bậc. Đến đầu tháng 4 năm 1975 trong vùng địch tạm kiểm soát đã có trên 50.000 đảng viên, đoàn viên, hội viên, 40.000 dân quân du kích; tuyển được 16.400 tên binh, đã chuyển dân quân du kích lên xây dựng thêm 36 tiểu đoàn địa phương.

        - Dự trữ đạn dược, lương thực khá đầy đủ do bán thân chiến trường tự chuẩn bị, Binh đoàn Trường Sơn.

        - Chuẩn bị lực lượng quần chúng sẵn sàng nổi dậy đồng loạt, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng với đòn tiến công quân sự đánh ngã kẻ địch.

        Từ thực tiễn trên đây có thế thể rút ra mấy điểm.

        a) Nắm vững ý đồ chiến lược chung, nắm vững vị trí của chiến trường đối với toàn cục, luôn có dự kiến chủ động chuẩn bị cho thời cơ lớn, có ý định và kế hoạch hoạt động vừa đáp ứng yêu cầu của địa phương, vừa phục tùng và phục vụ cho ý đồ chiến lược chung.

        b) Việc chuẩn bị chiến trường, tạo thế cho trận quyết chiến chiến lược phải xuất phát từ tình hình thực tế và tham khảo những kinh nghiệm cũ (nhất là của Tết Mậu Thân năm 1968, phải từ dự kiến cách đánh và sử dụng lực lượng. Dự kiến cả phương án đánh bằng lực lượng bản thân và phương án đánh có lực lượng mạnh của trên tăng cường để chủ động chuẩn bị. Thực tiễn chiến dịch tạo thế của miền Đông nổ súng từ ngày 9 tháng 4 năm 1975 và phương án cơ bản của chiến dịch Hồ Chí Minh sử dụng 5 cách quân, 6 hướng tiến công đánh chiếm 5 mục tiêu chiến lược trong thành phố... đã thể hiện chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền về chuẩn bị chiến trường, tạo thế cho đòn quyết chiến cuối cùng.

        c) Chuẩn bị lực lượng phải tiến hành sớm và toàn diện, cả lực lượng vũ trang ba thứ quân và lực lượng chính trị, trong lực lượng vũ trang phải tập trung chuẩn bị lực lượng chủ lực và lực lượng đặc công, biệt động vùng ven.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #48 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:39:16 PM »


       
III

        Nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, phải không ngừng bồi dưỡng và phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng trong thời kỳ cuối chiến tranh, trong đó tiến công quân sự đi trước một bước và đóng vai trò quyết định trực tiếp.

        Sự chỉ đạo của chiến trường luôn luôn nắm vững quy luật của chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, phát huy sức mạnh toàn dân đánh giặc thể hiện bằng hai lực lượng (vũ trang và chính trị) và phương châm kết hợp tiến công và nổi dậy, đánh địch bằng nhiều hình thức đấu tranh.

        1. Đòn nổi dậy của quần chúng.

        Trên chiến trường trọng điểm này, phong trào nổi dậy của quần chúng, kết hợp với đòn công kích quân sự qua các thời kỳ đã phát huy tác dụng to lớn. Bước vào mùa khô 1974-1975, sự chỉ đạo của Trung ương Cục Quân uỷ Miền cũng hết sức tập trung.

        Công tác chuẩn bị cho đòn nổi dậy được nhấn mạnh trong Nghị quyết tháng 5 năm 1974 của Quân uỷ Miền, trong Hội nghị quân chính tháng 7 năm 1974 của Miền, tháng 9 năm 1974 có hội nghị chuyên đề đánh phá bình định do Trung ương Cục chủ trì. Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, khi bước vào trực tiếp chuẩn bị cho chiến dịch đánh vào Sài Gòn, Trung ương Cục có Nghị quyết 15 chỉ đạo đòn nổi dậy kết hợp với tiến công quân sự.

        Chấp hành chủ trương trên, tại thành phố Sài Gòn, 15 ngày trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, Thành uỷ đã tập trung chỉ đạo khâu chuẩn bị cho đòn nổi dậy, phát động quần chúng, rải truyền đơn, phát triển thực lực gấp 4-5 lần so với trước; tăng cường củng cố cấp uỷ quận, phường, đưa vào nội thành 340 cán bộ, chiến sĩ, 12 thành uỷ viên và tương đương, 60 đảng uỷ viên quận, 400 đảng viên, 326 đoàn viên, 414 nòng cốt, 519 hội viên, 713 quần chúng tích cực, 233 đội viên vũ trang; củng cố 400 tổ chức quần chúng có thể hoạt động ngay, 40 lõm chính trị...
       
        Riêng biệt động thành nắm một lực lượng quan trọng: 60 tổ biệt động, 301 quần chúng có vũ trang, 30.000 quần chúng sẵn sàng nổi dậy... Ngoài ra còn lực lượng đứng ở ven, cách nội đô từ 18 km trở vào, với khoảng 1.300 cán bộ, đảng viên sẵn sàng vào nội đô.
        Khi ta thực hành tổng công kích vào Sài Gòn, trên là thắng lợi về quân sự, từ ngày 29 tháng 4 tại các quận vùng ven, nhiều nơi quần chúng đã nổi dậy cùng lực lượng vũ trang truy quét ác ôn, tiến công địch, giải tán phòng vệ dân sự, giành quyền làm chủ ở cơ sở. Các đội vũ trang đã cùng cơ sở phát động quần chúng treo cờ, rải truyền đơn, tổ chức các cuộc mít tinh, chiếm các mục tiêu. Nhất là sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các nơi lập tức bung ra hoạt động giăng khẩu hiệu, treo cờ, kêu gọi quần chúng nổi dậy.

        Từ thực tế đó, có thể rút ra mấy điểm;

        a) Nổi dậy của quần chúng trong chiến tranh - nhất là ở giai đoạn cuối vô cùng ác liệt - phải kết hợp với đòn công kích quân sự, bằng những hành động cách mạng từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao làm tăng thêm thế và lực của cách mạng, hạ uy thế và làm tan rã, suy sụp chính quyền địch, tiến lên nổi dậy đồng loạt rộng khắp, kết hợp với  tiến công quân sự tiêu diệt địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Mùa khô năm 1974-1975, nhất là trong chiến dịch Hồ Chí Minh, khi quân ngụy bị tiêu diệt lớn và trên đà tan rã từng mảng, trên chiến trường miền Đông và Sài Gòn, đòn nổi dậy sôi nổi, mạnh mẽ của hàng vạn quần chúng bằng nhiều hình thức rất phong phú và sinh động, từ thấp đến cao, ở hầu khắp các địa bàn, đã có tác dụng như một đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ chiến cuộc mùa khô 1974-1975.

        b) Lực lượng nổi dậy của quần chúng trong giai đoạn cuối chiến tranh bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang quần chúng (dân quân tự vệ), bao gồm cả quần chúng có tổ chức và quần chúng chưa có tổ chức lấy lực lượng có tổ chức làm nòng cốt. Quần chúng tuy chưa có tổ chức nhưng do bị địch áp bức kìm kẹp, do ảnh hưởng của cách mạng, khi thời cơ đến, nếu ta có khẩu hiệu đúng, có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sẽ trở thành lực lượng to lớn nổi dậy cùng đòn tiến công quân sự đánh đổ chính quyền địch.

        2. Đòn tiến công quân sự.

        Trong chiến tranh, tiến công quân sự luôn phải đi trước một bước và làm đòn xeo cho quần chúng nổi dậy.

        Phát huy đầy đủ sức mạnh của ba thứ quân trong mùa khô, các trung đoàn, sư đoàn chủ lực là lực lượng chủ yếu quyết định tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân sự chủ yếu của địch, đập tan ý chí đề kháng của chúng. Lực lượng vũ trang tại chỗ (bộ đội địa phương và dân quân tự vệ là lực lượng hết sức quan trọng trong phối hợp đắc lực và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng đặc công, biệt động và lực lượng thành đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đánh hàng trăm mục tiêu, đánh chiếm và giữ 13 cầu bảo đảm cho chủ lực cơ động, tham gia có hiệu quả chế áp tất cả các trận địa pháo và sân bay, đánh chiếm các mục tiêu chiến lược, dẫn đường cho chủ lực, phát động và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy.

        Các trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn chủ lực miền Đông đã phát huy vai trò là lực lượng chủ yếu quyết định tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch, làm tròn nhiệm vụ đòn xeo cho quần chúng nổi dậy trong suốt mùa khô. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân đoàn 4, đoàn 232, các lực lượng khu 8 đã đảm trách và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên ba hướng quan trọng của chiến dịch; hướng đông cùng với quân đoàn 2 của Bộ đánh vào khu vực phòng thủ chủ yếu là lực lượng chủ yếu của quân đoàn 3 địch; hướng tây và tây-nam nơi địa hình hết sức phức tạp, đánh cắt lộ 4, đánh vào phía sau quân địch với những mục tiêu hết sức quan trọng như tổng nha cảnh sát, biệt khu thủ đô...

        Từ thực tiễn trên, có thể rút ra mấy điểm về xây dựng và sử dụng đòn tiến công quân sự:

        a) Vào thời kỳ cuối chiến tranh, trên chiến trường trọng điểm, việc xây dựng lực lượng vũ trang phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và khả năng của mình. Chiến trường miền Đông nahnh chóng tập trung xây dựng một số sư đoàn (của Miền và quân khu 7 cũ), các trung đoàn của quân khu 6 và thành phố, xây dựng quân đoàn 4... là phù hợp với yêu cầu tác chiến lúc này, song do khó khăn về vật chất kỹ thuật nên tập trung cho quân đoàn chưa cao. Việc xây dựng các đoàn đặc công, biệt động đưa xuống vùng ven là chủ trương rất đúng đắn, vừa phù hợp với yêu cầu của địa phương, vừa đáp ứng ý đồ chiến lược chung khi thời cơ đến.

        b) Trong giai đoạn cuối chiến tranh, trên chiến trường trọng điểm, tình huống sẽ diễn biến nhanh, lực lượng tham gia trận quyết chiến lược rất lớn (có lực lượng cấp trên đưa vào), do đó việc sử dụng lực lượng là chủ lực, phải đáp ứng yêu cầu tiêu diệt sinh lực địch bằng những đòn gây tác động mạnh mẽ tạo điều kiện cho địa phương mở mảng mở vùng. Đồng thời phải thực hiện yêu cầu tác chiến tạo thế của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng có lực lượng lớn của cấp trên tham gia... Trong mùa khô 1974-1975, nhất là trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân đoàn 4 được sử dụng tác chiến tạo thế trận hai hướng là phù hợp với yêu cầu chiến lược và chiến dịch, nhưng do đó chưa tập trung được thành một đòn mạnh gây tác động lớn. Đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

        c) Trong trận quyết chiến chiến lược đánh vào Sài Gòn, chủ lực miền Đông nhờ quen biết địa hình đã đảm nhiệm thắng lợi ba hướng quan trọng của chiến dịch có nhiều khó khăn về địch, địa hình, mà nếu giao cho các quân đoàn cơ động của Bộ thì sẽ khó khăn hơn. Đây cũng là một kinh nghiệm về sử dụng lực lượng.

        Tóm lại, sự chỉ đạo của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng, đã kiên trì chỉ đạo phát động quần chúng, đẩy mũi nổi dậy của quần chúng, coi đó là một trong những đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược. Đồng thời ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân với quy mô ngày càng lớn, xác định đúng vị trí và sử dụng thích hợp từng thứ quân, coi đòn tiến công quân sự là quyết định trực tiếp trong giai đoạn cuối chiến tranh và phải đi trước một bước và làm đòn "xeo" cho đòn nổi dậy; trong đó chủ lực tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn là lực lượng chủ yếu trực tiếp quyết định tiêu diệt, làm tan rã địch, đánh bại ý chí đề kháng của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #49 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 05:41:11 PM »


       
IV

        1. Chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị trong mùa khô 1974-1975 đối với lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Đông có nhiều nét sáng tạo và phong phú.

        Đã coi trọng giáo dục cho lực lượng vũ trang quán triệt tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Thống nhất đánh giá tình hình địch, ta để có cơ sở xác định quyết tâm, nhất trí với quyết tâm của trên và kiên quyết thực hiện một cách sáng tạo.

        Công tác này đã được tiến hành từ trong Đảng ra quần chúng, từ cán bộ đến chiến sĩ, từ bộ đội chủ lực đến địa phương, làm đi làm lại nhiều lần, là một quá trình bồi dưỡng tinh thần triệt để cách mạng, tư tưởng tiến công, phương pháp xem xét khách quan, toàn diện, kiên trì chống mọi biểu hiện hữu khuynh tiêu cực.. đặc biệt thống nhất đánh giá địch, ta là một quá trình đấu tranh khá gay go phức tạp và là một thành công lớn trước khi bước vào mùa khô. Từ đó mới có cơ sở tiếp thu ý đồ chiến lược của Trung ương và nhất trí với quyết tâm của Miền, tạo sự đoàn kết nhất trí cao, khí thế tiến công sôi nổi, mạnh mẽ trong suốt quá trình tiến công và nổi dậy.

        Trong xây dựng quyết tâm đã chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tự hào với truyền thống của địa phương, đơn vị, tình cảm đối với nhân dân, với chiến trường, với thành phố mang tên Bác, chiến dịch mang tên Bác,... tình cảm đó là nguồn cổ vũ động viên rất lớn đối với bộ đội.

        Kết hợp giáo dục chính trị với kiện toàn tổ chức, công tác chính trị đã giáo dục đề cao cảnh giác cách mạng, làm trong sạch và bảo vệ nội bộ, giữ gìn bí mật quân sự, đặc biệt giữ bí mật ý đồ chiến lược của Trung ương. Phát động thi đua quyết thắng, tuyên truyền tin chiến thắng, song song với biểu dương khen thưởng kịp thời, nên đã cổ vũ được khí thế sôi nổi thi đua giết giặc, lập công.

        Công tác chính trị thực hiện tốt việc đoàn kết phối hợp giữa lực lượng vũ trang với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng cả hai lực lượng và ba mũi tiến công. Đã thực hiện đoàn kết hiệp đồng giữa ba thứ quân, giữa lực lượng vũ trang của Miền với lực lượng chủ lực cơ động của cấp trên, gánh lấy khó khăn vào mình, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, binh chủng bàn để cùng nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        2. Chỉ đạo công tác bảo đảm hậu cần trong mùa khô 1974-1975 cũng có nhiều sáng tạo.

        Trên cơ sở quán triệt ý đồ chiến lược chung, công tác chuẩn bị về hậu cần được đề ra từ sớm và đã tích cực chủ động xây dựng thế trận hậu cần tại chỗ ngày càng mạnh trên cả ba vùng chiến lược. Chiến trường miền Đông có Sài Gòn là sào huyệt cuối cùng của địch, nơi sẽ diễn ra trận đọ sức cuối cùng, vì vậy hậu cần phải áp sát và vươn sâu xuống xung quanh Sài Gòn. Sáu cánh hậu cần đã từng bước hình thành: đoàn 210 và đoàn 814 ở hướng đông và đông - bắc Sài Gòn; đoàn 235 và đoàn 220 ở hướng bắc và tây - bắc; đoàn 230 và đoàn 240 ở hướng tây và tây nam. Kết hợp chặt chẽ với cơ sở hậu cần vùng ven và nội bộ của thành đội, từ căn cứ miền Đông, đã tiếp nhận sự chi viện của Trung ương, vừa giữ vững, vừa mở rộng hành lang, nhờ đó xây dựng được thế hậu cần liên hoàn và rộng khắp (cả đường bộ, cơ giới và đường sông). Khó khăn nhất của hậu cần B2 lúc đó là đường xuống đồng bằng sông Cưu Long, hướng tây - nam Sài Gòn và hướng đông, thì đến trước mùa khô ta đã vận chuyển xuống đó trên 3.000 tấn vũ khí đạn dược và đã mở của khẩu, khơi luồng hướng lộ 20 mua trên 1500 tấn lương thực dự trữ.

        Chúng ta đã nắm vững quan điểm hậu cần nhân dân, đề cao tinh thần tự lực tự cường, cần kiệm khai thác và sử dụng mọi lực lượng, mọi nguồn cùng cấp, tạo nên sức mạnh tổng hợp về hậu cần. Vì vậy, mặc dù địch bao vây phong toả, ta vẫn tạo được khối lượng vật chất khá lớn, chiếm tỷ lệ 60-70% tổng số khối lượng vật chất của toàn chiến cuộc (trong năm 1973-1974 riêng hậu cần Miền đã thu mua và sản xuất được 87.000 tấn vật chất, có 68.000 tấn lương thực).

        Miền Đông đã tiếp nhận và sử dụng tốt nguồn chi viện của Trung ương, ra sức chống tham ô lãng phí, bảo đảm an toàn, chống địch đánh phá. (Trong 2 năm 1973-1974 nhận được từ Trung ương 36.000 tấn vũ khí, xăng dầu và vật tư kỹ thuật, quá trình chiến cuộc 1974-1975 nhận thêm 45.000 tấn).

        Mặt khác trong chiến đấu, đã tận thu và sử dụng có hiệu quả trang bị kỹ thuật lấy được của địch để tăng cường sức mạnh, phát triển tiến công thắng lợi.

        Công tác chuẩn bị về hậu cần phải quán triệt ý đồ chiến lược, phù hợp với thế trận bố trí và sử dụng lực lượng, cách đánh trong quá trình chiến cuộc. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến lược, từ năm 1974 và nhất là từ đợt mùa khô, ta đã tạo được thế bao vây chia cắt Sài Gòn, bố trí ba thứ quân, đặc biệt là chủ lực và đặc công, biệt động vùng ven, chuẩn bị địa bàn triển khai cho các binh đoàn lớn... Với sự chuẩn bị theo ý đồ chiến lược như vậy, bộ đội đứng ở đâu đều có hậu cần bảo đảm phía sau, cả cho quân của Trung ương và quân của địa phương cho đặc công, biệt động ở vùng ven và nội thành... Một kinh nghiệm tốt là các cánh hậu cần đều chuẩn bị các phân đội hậu cần cơ động cấp chiến dịch bố trí sát đội hình tiến công, sẵn sàng cơ động lên phía trước theo bước phát triển của các cánh quân, trên mọi hướng tiến công vào nội đô.

        Với địa bàn rộng, khối lượng nhiều, cơ động cao, một thành công quan trọng của hậu cần là chỉ đạo giao thông vận tải, tận dụng mọi khả năng, trong đó nắm vững vận tải cơ giới là chủ yếu. Trong mùa khô 1974-1975, đã vận chuyển 8.000 tấn vật chất, đạt khối lượng vận chuyển 13 triệu tấn/km, bảo đảm cơ động cho hơn 50.000 lượt quân bằng cơ giới. Để thực hiện khối lượng vận chuyển ấy, ngoài lực lượng vận tải cơ giới, chúng ta đã tận dụng mọi phương tiện thô sơ huy động của nhân dân trong vùng địch (xe thồ, xe ngựa, ghe máy, xuồng chéo, ... ), thực hiện cả biện pháp vận chuyển bí mật và công khai trong vùng địch.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM