Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 10:43:03 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận quyết chiến lịch sử Xuân 1975  (Đọc 16585 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #30 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:06:10 AM »

       
        2. Kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975

        Tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị đã dự kiến xu thế phát triển tình hình là “trong khi thế và lực của ta lớn lên thì địch càng xuống dốc cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Ta tiến công mạnh thì nhất định sẽ tạo ra những đột biến trong quá trình xuống dốc đó của địch”1.

        Phân tích khả năng của ta, Bộ Chính trị nhận định: do lực lượng vũ trang đã giành được quyền chủ động về chiến lược, bộ đội chủ lực của ta đã có bước trưởng thành mới, đã mạnh hơn địch và đứng vững trên thế trân mới, nên ta có khả năng tiến công lớn để làm đòn bẩy thúc đẩy toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng của quân và dân ta ở miền Nam.

        Về khả năng nổi dậy của quần chúng ở miền Nam, tuy thực lực của chúng ta ở cơ sở còn yếu, sự lãnh đạo tại chỗ chưa mạnh, nhưng một khi ta thực hành tổng tiến công, có đòn quân sự mạnh mẽ đi trước, làm cho địch rung chuyển thì quần chúng được cổ vũ sẽ nổi dậy dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

        Vì thế, trong giờ phút lịch sử hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bộ Chính trị đã kết luận: “Chưa bao giờ so sánh lực lượng giữa ta và địch lại có lợi cho ta như hiện nay. Sau khi đã đánh cho Mỹ cút, nhân dân ta đã có đầy đủ cơ sở và điều kiện tiến lên đánh cho ngụy nhào cả trong trường hợp Mỹ liều lĩnh dùng lực lượng quân sự trở lại xâm lược nước ta”2.

        Về phương thức đấu tranh, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Quy luật cơ bản của chiến tranh cách mạng hiện nay là kết hợp quân sự và chính trị, tiến công và nổi dậy, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang phát triển đến đỉnh cao là tổng công kích, tổng khởi nghĩa”3. Trong khi cuộc cách mạng đang tiếp diễn ngày càng quyết liệt, quy mô ngày càng lớn, “ta cần nắm thật vững quy luật chiến tranh là phải tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân sự địch, bao gồm cả lực lượng và phương tiện chiến tranh, nhất là quân chủ lực, chỗ dựa cuối cùng của chế độ phát xít tay sai của đế quốc Mỹ. Cũng vì vậy, nhìn toàn cục thì tổng công kích có ý nghĩa quyết định phải đi trước một bước”4.

        Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, lực lượng vũ trang ta mở đầu chiến dịch tiến công Tây Nguyên bằng đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột, tiến lên giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, làm đảo lộn và rung chuyển thế trận bố trí chiến lược của địch. Tiếp đó là chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, tiêu diệt và làm tan rã khối quân địch ở Trị - Thiên và khu 5, phát động quần chúng nổi dậy với mức độ khác nhau, giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung. Chưa đầy một tháng sau, với lực lượng quân sự áp đảo ta tiến đánh và giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, một chiến dịch tiến công thần tốc, táo bạo, giành toàn thắng với thời gian ngắn nhất. Bằng kết hợp tiến công và nổi dậy, hoặc nổi dậy với tiến công, bằng lực lượng tại chỗ các tỉnh còn lại của Nam Bộ được giải phóng.

        Trên một triệu quân ngụy và toàn bộ hệ thống ngụy quyền tay sai được Mỹ công phu xây dựng trên 20 năm đã bị đập tan. Chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ sụp đổ hoàn toàn.

        Sự vươn lên mạnh mẽ kỳ diệu của cách mạng, chiến thắng thần tốc, dồn dập như bão táp từ Buôn Ma Thuột đến Sài Gòn đã làm cho bao người bàng hoàng, bỡ ngỡ. Vì thế đã có không ít người nghĩ rằng vì quân địch quá hoảng hốt mà tự tan vỡ, hoặc do Mỹ bỏ cuộc mà ta đã thắng quá dễ dàng (!). Cũng có người lại giải thích bằng cách nhấn mạnh những yếu tố ngẫu nhiên?

        Về phía ta, có người vì quá nhấn mạnh vai trò nổi dậy của quần chúng đã đi đến đánh giá đòn tiến công quân sự chỉ còn tác dụng hù doạ và thị uy, hay lực lượng quân sự chỉ đóng vai trò tiếp quản! Ngược lại, có người lại chỉ thấy tác dụng của những trận đánh dồn dập của lực lượng vũ trang làm cho đội quân ngụy tan vỡ, sụp đổ, không thấy được vai trò và sức mạnh của đòn nổi dậy của quần chúng kết hợp với đòn tiến công quân sự, chưa thấy hết sự đóng góp to lớn của nhân dân vào chiến thắng chung, xem quần chúng chỉ đóng vai trò cổ vũ, đón mừng chiến thắng.

        Cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta hình thành và phát triển trên cơ sở cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn của toàn dân, một cuộc chiến tranh phát huy cao độ tinh thần cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc. Vì chiến tranh là hình thức cao nhất của đấu tranh giai cấp mà quy luật là “mạnh được yếu thua” nên để đạt được mục đích chính trị của chiến tranh, cả hai bên đối địch đều phải đem hết lực lượng và khả năng để tiêu diệt lực lượng quân sự và đè bẹp ý chí của đối phương, quyết giành thắng lợi về mình.

        Lịch sử hơn 20 năm xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ đã chứng minh điều đó. Mỹ và tay sai đã điên cuồng leo thang đến nấc cao nhất, đưa vào nước ta đội quân Mỹ và chư hầu đông hơn một nửa triệu tên, đổ tiền của và vũ khí ở mức cao nhất đối với một cuộc chiến tranh cục bộ, dùng những biện pháp huỷ diệt tàn bạo nhất trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

        Về phía ta, dưới sự lãnh đạo tài giỏi, dày dạn kinh nghiệm của Đảng chúng ta đã động viên cao nhất sức người sức của cả nước, tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời của nhân dân và lực lượng vũ trang, tranh thủ sự viện trợ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn, đánh bại địch từng bước, tiến lên thực hiện trận quyết chiến chiến lược lịch sử xuân 1975, đỉnh cao thắng lợi huy hoàng nhất.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tư, 2016, 10:58:52 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #31 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:06:57 AM »


        Khi đặt kế hoạch giải phóng miền Nam, kết thúc chiến tranh, tuy thấy lực lượng chính trị và quân sự tại chỗ còn chưa đủ mạnh, nhưng nhìn trước xu thế và khả năng phát triển của cách mạng và chiến tranh cách mạng đang bước vào thời kỳ “một ngày bằng 20 năm” nên Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã chỉ đạo các cơ quan, các địa phương ra sức hoàn thành mọi công tác chuẩn bị , tạo điều kiện chín muồi tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Gần nửa triệu thanh niên đã nhập ngũ trong 3 năm 1973-1975, cao hơn bất cứ thời kỳ nào trong chiến tranh. Lượng vật chất vận chuyển cho chiến trường trong những năm này tăng gấp 4-5 lần so với 1972.

        Khi chuẩn bị kế hoạch, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chú ý chỉ đạo phát huy cao nhất cả tiến công và nổi dậy để đạt được sức mạnh lớn nhất, giành thắng lợi nhanh nhất, tốt nhất. Tuy vậy, xem xét khả năng tổng khởi nghĩa, Bộ chính trị còn coi đó là một “ẩn số” cần đặc biệt theo dõi, nhưng cũng không thể chờ đợi đủ điều kiện tổng khởi nghĩa, để mất thời cơ tổng tiến công quân sự.

        Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu vào tháng 3 năm 1975. Vì đây là vùng rừng núi thưa dân, là chiến trường tác chiến của chủ lực, nên đòn tiến công của bộ đội chủ lực đã có tác dụng quyết định giải phóng vùng chiến lược vô cùng quan trọng này, làm rung chuyển thế trận “mạnh hai đầu” của địch. Ở đây đòn nổi dậy của quần chúng chỉ có mức độ, nhưng cùng với Tây Nguyên cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn trên toàn miền Nam đã có sự phối hợp đồng đều. Đấu tranh chính trị và phong trào nổi dậy của quần chúng căng kéo địch khắp nơi, làm cho đội quân địch đông đến 135 vạn tên, trong đó quân chủ lực có tới 49,5 vạn tên với 13 sư đoàn bộ binh, 18 liên đoàn biệt động quân, chừng 40 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp mà không rút ra được đủ một sư đoàn tăng viện cho Tây Nguyên sau khi mất Buôn Ma Thuột. Chúng buộc phải rút chạy hoảng loạn, bỏ vùng chiến lược sống còn này, mất gần như toàn bộ trang bị kho tàng, mở đầu cho sự sụp đổ của chúng trên toàn miền Nam.

        Chiến dịch Huế - Đà Nẵng tiếp theo mở ra trên vùng đồng bằng có nhiều đô thị lớn. Được thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Nguyên cổ vũ, nhân dân từ Trị - Thiên đến Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, đã sẵn sàng nổi dậy. Các khối chủ lực đã hình thành những mũi đột kích thọc vào các đô thị. Các cấp uỷ thành phố, thị xã đã về ngay cơ sở để lãnh đạo phong trào. Các đơn vị địa phương, biệt động đứng chân tại các bàn đạp đã phát động quần chúng nhất tề nổi dậy. Chỉ sau một thời gian ngắn từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 3, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu quân đoàn 1 và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ngụy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địa phương và bộ máy kìm kẹp trên bốn tỉnh, trong đó có những thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, giải phóng hoàn toàn miền Trung Trung Bộ. Đặc biệt trong trận Đà Nẵng, đã thể hiện được kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng ở mức độ nhất định, trong tình hình nhân dân đã sẵn sàng vùng dậy và đại bộ phận quân địch đã mất hết tinh thần chiến đấu. Do đó, số quân địch còn tới 10 vạn tên, quân và dân ta đã tiến công kịp thời và táo bạo, nhanh chóng tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp lớn vào bậc nhất của địch ở miền Nam. Không có sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy tạo thành sức mạnh lớn thì khó có thể thực hiện một đòn tiến công nhanh, mạnh như vậy.

        Bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã có điều kiện tập trung lực lượng áp đảo quân địch, thực hiện phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Phải thực hiện một cuộc hội quân thật nhanh, một chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn kết hợp với nổi dậy tại sào huyệt cuối cùng của địch để kết thúc chiến tranh.

        Đạo quân đi theo ven biển đánh vào hướng đông Sài Gòn phải đập nát “tuyến phòng ngự từ xa” của địch trong hành tiến, đã được nhân dân địa phương cung cấp một phần lương thực, xăng dầu, phương tiện vận chuyển, nên đã tập kết chiếm lĩnh trận địa trong thời gian nhanh nhất. Nhân dân đã làm công tác hậu cần, tiếp tế, vận tải, bảo đảm giao thông cho các đạo quân từ các hướng tiến về Sài Gòn – Gia Định1.

        Cuộc hội quân thật bất ngờ với địch. Chúng tưởng ta phải mất hai tháng, nhưng từ ngày 26 tháng 4, chúng đã bị uy hiếp từ năm hướng, trong ngoài bị chia cắt. Trước ngày nổ súng, các lực lượng đặc công, biệt động thành đã được bố trí ở từng cơ sở, trong sự nuôi dưỡng, che chở của nhân dân, cùng với khối lượng súng đạn, thuốc nổ đủ trang bị cho lực lượng tại chỗ tác chiến phối hợp với lực lượng từ ngoài đánh vào. Sau hai ngày, ta đập vỡ phòng tuyến trung gian của địch ở phía đông và tây - bắc, cắt đứt đường liên tỉnh 4. Cuộc tổng công kích trên toàn mặt trận diễn ra như vũ bão suốt hai ngày 29 và 30 tháng 4. Các chiến sĩ quân đoàn 2 đã cắm cờ chiến thắng lên dinh tổng thống ngụy quyền. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định gần như nguyên vẹn.

        Cùng với Sài Gòn giải phóng, tiếp ngay đó hàng triệu nhân dân các thành phố, thị xã và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long cùng với các hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc… đã vùng lên cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ nhanh chóng đập tan mọi cố gắng chống đỡ của địch, thực hiện xã, giải phóng xã, quận giải phóng quận, tỉnh giải phóng tỉnh. Toàn bộ lực lượng còn lại của ngụy quân và ngụy quyền đã buộc phải đầu hàng.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc bằng trận quyết chiến chiến lược lịch sử kết hợp giữa quân sự và chính trị, tiến công và nổi dậy. Giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến đã vận động đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 đã diễn ra không có tổng khởi nghĩa - một khả năng mà Đảng ta có dự kiến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #32 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:07:42 AM »


        Một vấn đề lý luận và thực tiễn được đặt ra là có thể tiến hành tổng khởi nghĩa trong chiến tranh được không? Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chứng minh điều đó.

        Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng có mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau và cùng vận động phát triển trong những điều kiện cụ thể, có khi đồng đều hoặc không đồng đều. Vì tổng khởi nghĩa trong chiến tranh là một vấn đề mới chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên bước vào cuộc tổng tiến công, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã khẳng định khả năng tổng tiến công, còn khả năng tổng khởi nghĩa thì coi là một “ẩn số” cần theo dõi. Qua chiến dịch Tây Nguyên, rồi chiến dịch Huế - Đà Nẵng, tình hình đã rõ dần. Khi chưa có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện tổng khởi nghĩa, lật đổ bộ máy thống trị chóp bu của ngụy quyền Sài Gòn để giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, phải kịp thời và táo bạo thúc đẩy đòn tiến công quân sự mạnh mẽ, thực hành tổng công kích làm đòn xeo thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Rõ ràng đòn tổng tiến công quân sự đã phát huy vai trò quyết định cuối cùng. Điều đó nói lên khi quy luật chiến tranh đã chi phối và quyết định sự phát triển thắng bại trên chiến trường thì quy luật khởi nghĩa chỉ còn có tính chất hỗ trợ, diễn ra từng phần, ở từng địa phương với mức độ khác nhau.

        Một yếu tố khác vô cùng quan trọng để tiến hành tổng khởi nghĩa là sự ngả theo cách mạng của quân đội địch. Ăng –ghen đã nói: “Nếu ngay cả ở trong quân đội cũng đã ló lên một bình minh mới thì có nghĩa là sự cáo chung của thế giới cũ không còn xa nữa”1. Để thực hiện tổng khởi nghĩa, Đảng ta cũng sớm chỉ đạo hình thành cho được mặt trận công nông binh (binh sĩ ngụy) liên hiệp chống kẻ thù dân tộc, một nhân tố để tiến hành tổng khởi nghĩa. Nhưng trên thực tế, trước khi sụp đổ địch vẫn còn một lực lượng lớn quân đội gồm 5 sư đoàn ở vòng ngoài, 2 sư đoàn ở vòng trong cùng với 10 trung đoàn thiết giáp và 4 sư đoàn không quân, với đông đảo cảnh sát chìm, nổi, tề ngụy, phòng vệ dân sự mà chúng còn nắm được khá chặt chẽ. Chúng vẫn còn hy vọng ở sự can thiệp của Mỹ, vẫn hết sức phản động, thù địch với cách mạng.

        Vì thế, lúc này phải nhanh chóng giáng đòn quân sự mạnh mẽ quyết định kết hợp với nổi dậy của quần chúng với mức độ khác nhau trên nhiều vùng rộng lớn để kết thúc chiến tranh. Đó là cách giải quyết đúng nhất, phù hợp với quy luật chiến tranh cách mạng nước ta.

        Nhưng cũng không phải vì thế mà đánh giá thấp vai trò nổi dậy của quần chúng, phủ nhận ý nghĩa to lớn của đấu tranh chính trị. Đương nhiên quyết định cuối cùng sự tan vỡ, sụp đổ hoàn toàn của địch là đòn tiến công quân sự, nhưng chỉ riêng đòn quân sự cũng không thể làm cho địch khốn đốn, bế tắc đến thế. Không có đòn tiến công chính trị, không có nổi dậy của quần chúng ngay cả sau khi tổng thống ngụy quyền tuyên bố đầu hàng không điều kiện làm sao với lực lượng vũ trang tại chỗ ít hơn địch cả một vùng châu thổ sông Cửu Long đã được giải phóng chỉ trong vài ngày. Không có đòn tiến công chính trị, nổi dậy của quần chúng thì làm sao giữ được các đô thị, các cơ sở kinh tế, văn hoá nguyên vẹn trước sự rã đám hỗn loạn của hơn ột triệu quân ngụy và bọn phản động đủ loại.

        Tóm lại, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 là kết quả của quá trình lãnh đạo của Đảng, quá trình đấu tranh lâu dài, anh dũng của quân và dân ta đã tích luỹ lực lượng, tạo thế và thời cơ thuận lợi. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật của chiến tranh cách mạng nước ta, nắm vững đặc điểm chiến tranh xâm lược thực dân mới của địch vào thời kỳ cuối chiến tranh, thúc đẩy tình hình phát triển nhảy vọt bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy thần tốc đánh cho địch thất bại dồn dập đi đến sụp đổ hoàn toàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #33 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:12:01 AM »

        
HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC
TRONG GIAI ĐOẠN KẾT THÚC THẮNG LỢI
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Đại tá TRẤN BƯỞI        
       
        Nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, Đảng ta cho rằng thắng lợi của chiến tranh phụ thuộc trước hết vào những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; trong đó hậu phương với ý nghĩa là nền tẳng chính trị- tinh thần, là cơ sở vật chất kỹ thuật - của tiền tuyến, đã trở thành nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi.Không có hậu phương vững chắc thì không thể giành được thắng lợi trên chiến trường.

        Vì vậy, ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (tháng 7-1954) Trung ương Đảng đã sớm xác định nhiệm vụ xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, đồng thời xây dựng các vùng căn cứ miền Nam nhằm thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng trên hai miền đất nước. Do mỗi miền thực hiện một chiến lược cách mạng trong những điều kiện khác nhau nên khi phân tích vị trí và mối quan hệ giữa hai miền, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng, khóa II đã xác định: "Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân"(1). Cũng tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Miền Bắc là cái gốc" của sự nghiệp cách mạng cả nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 năm 1960) tiếp tục khẳng định: "...tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà"(2).

        Như vậy, vai trò của miền Bắc đối với cách mạng cả nước đã được xác định rõ từ đầu. Tuy nhiên, với quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, Đảng chủ trương vừa ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc về mọi mặt, vừa chú trọng xây dựng các vùng căn cứ, hậu phương tại chỗ của chiến tranh cách mạng miền Nam.

        Thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chứng minh chủ trương xây dựng hậu phương trên cả hai miền là hoàn toàn đúng đắn, nhờ đó đã huy động được sức người, sức của to lớn của cả nước để đưa sự nghiệp chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

        Với miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta có những điều kiện thuận lợi để xây dựng hoàn chỉnh một nhà nước độc lập, có chủ quyền trên một vùng lãnh thổ khá rộng, có tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi dào. Có mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, được sự viện trợ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

        Để phát huy sức mạnh của miền Bắc, Đảng chủ trương phải đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đó chẳng những là yêu cầu khách quan của xã hội miền Bắc sau khi đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn là yêu cầu cấp bách của cách mạng cả nước. Vì chế độ xã hội là một chế độ xã hội tiên tiến, giải phóng triệt để nhân dân lao động, xây dựng nên quan hệ sản xuất tiên tiến, nên có thể nhanh chóng phát huy sức mạnh mọi mặt, làm cơ sở vững chắc cho nhân dân cả nước trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai, đồng thời thiết thực chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển của cách mạng sau này.

        Việc xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc trong sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta có thể phân ra hai giai đoạn.

        Giai đoạn thứ nhất (1954-1964) là giai đoạn miền Bắc có điều kiện hoà bình để tập trung sức khôi phục kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trực tiếp chi viện cho cách mạng miền Nam bắt đầu được thực hiện từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (tháng 1-1959) và được đẩy mạnh khi cách mạng miền Nam khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng. Tháng 1 năm 1961, Bộ chính trị nêu rõ: "Cách mạng miền Nam phát triển theo con đường tổng khởi nghĩa với những đặc điểm mới và khả năng hoà bình phát triển của cách mạng thì gần như không còn nữa". Do đó, cần "đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị. Tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự"(1). Từ đó nhiệm vụ của hậu phương miền Bắc chi viện lực lượng và vật chất cho cách mạng miền Nam được xác định rõ và đi vào tổ chức ngày càng chặt chẽ. Chấp hành chỉ thị của Bộ chính trị, quân đội và các ngành dân, chính, Đảng đã nghiên cứu cụ thể yêu cầu của cuộc đấu tranh ở miền Nam để kịp thời đáp ứng, Quân đội đã thành lập trung tâm huấn luyện và  tổ chức các lực lượng đi "B", tích cực nâng quy mô hoạt động của tuyến vận chuyển Bắc - Nam trên bộ và trên biển xây dựng từ giữa năm 1959. Cho đến cuối năm 1964, một số đơn vị đại đội, tiểu đoàn với trên 40.000 cán bộ và chiến sĩ cùng với 3.000 tấn vũ khí đã được tăng cường đến các chiến trường miền Nam.

        Lực lượng và vật chất chi viện trong giai đoạn này chưa lớn. Miền Bắc chưa phải tiến hành động viên khẩn trương. Nhưng tình hình quốc tế lúc đó diễn biến phức tạp. Trong khi đó yêu cầu của cách mạng miền Nam đang cấp bách mà khả năng vận chuyển còn rất khó khăn. Do đó khối lượng chi viên ban đầu đưa đến các chiến trường tuy còn nhỏ nhưng là vốn rất quý, đã cổ vũ mạnh mẽ và góp phần tích cực cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ giành thắng lợi bằng cao trào "đồng khởi" rộng lớn năm 1960, và tiếp đó làm phá sản chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ-ngụy với hàng loạt tiến công vang dội ở Ấp Bắc (1-1963), Bình Giã (12-1964), Ba Gia sông Bé - Phước Long (5-1965).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #34 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:14:30 AM »

        Tranh thủ thời gian có hoà bình (1954-1964), công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, hoàn thành thắng lợi cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho chế độ xã hội mới; đồng thời xây dựng được một số cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Xã hội miền Bắc đã có những thay đổi tận gốc: giai cấp công nhân phát triển lớn mạnh, nông dân trở thành một giai cấp mới - giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển; mọi tầng lớp nhân dân nhất trí cao về chính trị; các dân tộc đều bình đẳng và đoàn kết chặt chẽ trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.

        Nền quốc phòng toàn dân được củng cố: lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng lớn mạnh, có lục quân chính quy, tương đối hiện đại và bắt đầu có các quân chủng kỹ thuật; chế độ nghĩa vụ quân sự được ban hành và thực hiện thắng lợi; toàn dân nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia bảo vệ trật tự trị an; lực lượng hậu bị được tổ chức và huấn luyện, dân quân tự vệ phát triển đông đảo với trên 1,4 triệu người.

        Những thành tựu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là nền tảng cho sự vững mạnh toàn diện của hậu phương, đã có sức động viên và cổ vũ lớn lao, là chỗ dựa đáng tin cậy cho đồng bào và chiến sỹ miền Nam trong cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

        Trên cơ sở những thắng lợi đó, Ban Chấp hành trung ương Đảng khẳng định: "Trải qua hơn 10 năm thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh"

        Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1965 đến khi giải phóng hoàn toàn miền Nam tháng 4 năm 1975. Đây là giai đoạn miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa dốc sức chi viện và cùng với miền Nam tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước gian khổ và ác liệt. Trong khoảng thời gian này, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã lan rộng ra cả nước ta với mức độ khác nhau ở mỗi miền, tuy có xen kẽ từng thời kỳ địch ngừng ném bom đánh phá miền Bắc. Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước "rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc"2, nên mọi hoạt động của miền Bắc đã chuyển hướng với tinh thần "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược", "miền Bắc nước ta không những là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam mà còn là hậu phương chung của cách mạng các nước Lào và Cam-pu-chia".

        Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề của hậu phương lớn, miền Bắc đã hai lần chuyển hướng kinh tế, tiến hành động viên quy mô lớn và liên tục sức người, sức của để cung cấp cho tiền tuyến, đồng thời phải chiến đấu kiên cường chống hai cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ.

        Thấm nhuần lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do" quân và dân miền Bắc đã cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Có bảo vệ được vững chắc miền Bắc thì mới có điều kiện xây dựng và động viên các nguồn tiềm lực của hậu phương, tranh thủ và tiếp nhận nguồn viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác để đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ta, đồng thời làm tốt nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Ngược lại, có đánh thắng địch ở miền Nam mới tạo điều kiện để bảo vệ vững chắc miền Bắc, để xây dựng và phát triển lực lượng cho cách mạng cả nước.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc, quân và dân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao, với nghệ thuật quân sự sáng tạo và có hiệu lực, đã đánh thắng rất oanh liệt hai cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bắn rơi 4.181 máy bay, bắn cháy và bắn chìm 296 tầu chiến và tầu biệt kích của Mỹ - ngụy. Thắng lợi oanh liệt này đã làm thất bại một bộ phận quan trọng trong chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào một tình thế bị động chống đỡ trên cả hai miền Nam, Bắc.

            Dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù, miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khói lửa chiến tranh, phát triển tiềm lực về nhiều mặt, tiếp tục chi viện lực lượng và vật chất ngày càng lớn cho tiền tuyến, đồng thời về cơ bản giữ vững đời sống nhân dân hậu phương, bảo đảm càng đánh càng mạnh.

        Nhận thức đầy đủ nghĩa vụ thiêng liêng đối với tiền tuyến lớn, hậu phương miền Bắc tiến hành động viên rộng lớn sức người sức của để chi viện cho mặt trận. Nắm vững bản chất động viên thời chiến dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là phát huy cao độ tinh thần làm chủ đất nước, tự giác tham gia sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước của quần chúng mà huy động mọi nguồn nhân lực, vật lực của đất nước, Đảng đã tiến hành giáo dục, động viên và tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc, dấy lên một phong trào hành động sâu rộng của hậu phương hướng về tiền tuyến thực hiện "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:15:56 AM »

        Trong công tác động viên tuyển quân, việc giáo dục chính trị đi đôi với tổ chức thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự đã thu được thắng lợi rực rỡ. Từ năm 1965 đến 1975, hậu phương đã động viên gần hai triệu thanh niên tham gia lực lượng vũ trang trên cả hai miền; mức động viên hàng năm tăng từ 3 đến 5 lần so với năm 1964. Những năm có hoạt động tác chiến chiến lược lớn trên chiến trường miền Nam (1968 - 1972 - 1975), công tác tuyển quân ở hậu phương đã thực sự là một cuộc vận động chính trị lớn, giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động của các Đảng bộ, chính quyền và đoàn thể.

        Trong những năm chiến tranh ác liệt, ngoài nhân lực để mở rộng lực lượng vũ trang, nhu cầu về nhân lực của nhiều ngành trực tiếp phục vụ chiến tranh cũng tăng lên khá lớn. Chỉ riêng ngành giao thông vận tải vào một trong những năm địch đánh phá ác liệt nhất (1968), đã có trong biên chế chính thức gần 120.000 người, chưa kể hàng vạn thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước được huy động cho công tác này. Chúng ta còn động viên tới 267 triệu ngày công theo chế độ "dân công thời chiến" hoặc nhân dân tình nguyện tham gia để bảo đảm giao thông hay phục vụ các yêu cầu khác của quân đội (làm trận địa, sửa chữa sân bay, vận chuyển hàng bằng phương tiện thô sơ, v.v.). Tính đến năm 1972 tổng số lao động do Nhà nước động viên đã lên tới 2,5 triệu người, chiếm 11% dân số. Trong các năm 1968, 1972, 1975, số nhân lực động viên thường vượt quá số lao động xã hội tăng lên trong năm1. Đó là một tỷ lệ động viên nhân lực khá cao đối với một nước nông nghiệp như nước ta trong lúc năng xuất lao động còn rất thấp. Tài liệu tổng kết cuộc chiến tranh thế giới thứ hai cho thấy: ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Liên Xô, phải cần từ 3 đến 5 người hoạt động ở hậu phương mới bảo đảm tăng thêm 1 người chiến đấu ở tiền tuyến.

        Do chiến tranh ngày càng ác liệt, nhu cầu về nhân lực bổ sung để bù đắp tổn thất và nâng dần quy mô tác chiến, đã tăng lên không ngừng. Từ năm 1965 đến năm 1972, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn đã được bổ sung cho các chiến trường; trên 67 vạn cán bộ và chiến sĩ chiếm 43% tổng quân số động viên ở hậu phương trong khoảng thời gian đó, đã vào chiến đấu ở miền Nam hoặc trong quân tình nguyện ở Lào và Cam-pu-chia. Hậu phương lớn đã cử những con em ưu tú của mình vào sát cánh chiến đấu cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Nhiều gia đình đã có hai thế hệ cha - con cùng chiến đấu trên tiền tuyến lớn. Trên miền Bắc phong trào "ba sẵn sàng" đã lôi cuốn hàng triệu thanh niên tình nguyện đến bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì Tổ quốc cần. Nhân lực, một nhân tố chiến lược quan trọng quyết định thắng lợi của chiến tranh, đã được hậu phương đáp ứng đầy đủ và kịp thời.

        Cùng với việc động viên nhân lực,công tác động viên nguồn vật chất ở hậu phương chi viện cho tiền tuyến cũng đạt những kết quả to lớn. Do chiến tranh phát triển với quy mô ngày càng lớn, khối lượng vật chất các loại hàng năm cung cấp cho lực lượng vũ trang đều tăng nhanh: lương thực, thực phẩm, vải, hoá chất gỗ, sắt, thép, xăng dầu, xe vận tải v.v... đều tăng gấp 4 - 5 lần, thậm chí có loại gấp 10 lần so với trước chiến tranh. Riêng ô tô vận tải cấp cho quân đội hàng năm chiếm tới 60-70% tổng số ô tô phân phối của Nhà nước.

        Do nên kinh tế của chúng ta chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp nặng chưa phát triển, không có khả năng giải quyết vấn đề trang bị cho quân đội, nên hầu hết vũ khí, phương tiện kỹ thuật đều phải nhờ vào sự viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tuy nhiên từ cơ sở vật chất - kỹ thuật của miền Bắc, chúng ta đã động viên được một tỷ lệ công suất của các ngành công nghiệp, nhất là cơ khí, để phục vụ quốc phòng. Nông nghiệp trong những năm chiến tranh bị địch đánh phá ác liệt và phải khắc phục những khó khăn lớn do thiên tai gây ra, những nhờ có quan hệ sản xuất tập thể không ngừng được củng cố nên giá trị sản lượng về cơ bản vẫn được giữ vững. Hàng năm Nhà nước đã huy động một khối lượng lớn lương thực và thực phẩm để cân đối các nhu cầu ngày càng tăng của quốc phòng và dân sinh. Mức huy động lương thực từ năm 1965 đến năm 1975 thường chiếm 15-20% tổng sản lượng lương thực hàng năm của miền Bắc. Đây là một cố gắng lớn của hậu phương trong chiến tranh, thể hiện tình nghĩa sắt son "hạt gạo cắn đôi, bát cơm sẻ nửa" của hậu phương đối với tiền tuyến.

        Từ hậu phương lớn, vũ khí, đạn dược, thuốc men, lương thực, v.v. được chuyên trở vượt hàng ngàn cây số dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù mới vào đến chiến trường. Để làm việc này, hậu phương dành ra một lực lượng lớn, triển khai một hệ thống giao thông vận tải kéo dài từ các cửa khẩu, các cảng biển ở miền Bắc, xẻ dọc dãy Trường Sơn nối tới các chiến trường. Ngày cũng như đêm, trên mọi nẻo đường từ hậu phương đến tiền tuyến, hàng chục vạn nhân dân và bộ đội sát cánh đánh địch, mở đường và vận chuyển với tinh thần anh dũng, bền bỉ, thông minh và sáng tạo, bảo đảm cho chiến trường đủ súng, đủ đạn, ăn no đánh thắng. Để một tấn vật chất đến được tay các đơn vị chiến đấu tại tiền tuyến, phải mất bao công sức, kể cả xương máu của đồng bào và chiến sĩ hậu phương đóng góp.

        Với những cố gắng phi thường đó, với nghệ thuật tổ chức bảo đảm giao thông vận tải tài giỏi, khối lượng vật chất - kỹ thuật cung cấp cho tiền tuyến đã không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn chống chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968) gần 100.000 tấn vật chất đã được giao cho các chiến trường1, gấp hàng chục lần so với giai đoạn chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (1961-1964); đến giai đoạn chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969-1972) khối lượng này lại gấp 1,25 so với giai đoạn trước đó.

        Nhờ có nguồn chi viện to lớn và liên tục từ miền Bắc, lực lượng vũ trang nhân dân ta ở miền Nam từ 1965 trở đi đã có bước phát triển nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Trên cơ sở đó, cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta đã liên tiếp giành được thắng lợi quyết định trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, rồi đến đòn tiến công chiến lược năm 1972, đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:18:03 AM »

 
        Sau khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết (27-1-1973), miền Bắc có hoà bình nhưng chiến tranh ở miền Nam vẫn chưa chấm dứt. Ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ viện trợ và khuyến khích đã điên cuồng chống phá cách mạng, mưu toan xé bỏ Hiệp định, dùng toàn bộ quân đội vào các cuộc hành quân lấn chiếm. Sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta vẫn chưa hoàn thành.

        Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng (tháng 10 năm 1973) đã tiếp tục xác định: con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình huống nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, "giữ vững đường lối chiến lược tiến công"1 nhằm đánh đổ hoàn toàn chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

        Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, Hội nghị lần thứ 22 của Trung ương Đảng họp cuối năm 1973 đã xác định nhiệm vụ của miền Bắc là: "Đoàn kết toàn dân, đấu tranh giữ vững hoà bình, ra sức tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh ba cuộc cách mạng, xây dựng miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai; ra sức làm tròn nghĩa vụ của mình trong cuộc đấu tranh nhằm hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia". Về cụ thể, phải tập trung sức khôi phục và phát triển kinh tế trong kế hoạch hai năm 1974 - 1975, đồng thời phải chuẩn bị tích cực lực lượng, vật chất cho nhiệm vụ giải phóng miền Nam.

        Trước nhiệm vụ nặng nề của hậu phương lớn trong giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc lúc đó đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp.

        Nền kinh tế quốc dân sau hai lần chiến tranh phá hoại của Mỹ đã bị tổn thất nặng nề. So với năm 1965 tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân năm 1972 hầu như không tăng, số người thoát ly sản xuất lại tăng cao, biên chế Nhà nước phình ra quá lớn; năng xuất lao động giảm mất 1/3, bình quân lương thực đầu người sụt thấp; nhiều ngành công nghiệp quan trọng (than, điện, gang, thếp, xi măng...) chưa được hồi phục; đời sống nhân dân có khó hơn. Trong khi đó nhân lực động viên cuối năm 1972 lên tới trên hai triệu người, chiếm khoảng 30% lao động xã hội2, trong đó 70% nam giới trẻ, khoẻ. Riêng số động viên cho quân đội là gần 1,5 triệu. Tỷ lệ tuyển quân ở xã cao nhất là trên 10% dân số, tỉnh cao nhất là 6,67%, vùng đồng bằng đông dân xấp xỉ 6,7%; trên 70% số hộ gia đình ở miền Bắc có người thân (cha, con, chồng, vợ) đang chiến đấu trên chiến trường. Để bảo đảm sản xuất, chúng ta đã động viên số lao động nữ với tỷ lệ khá cao, đặc biệt trên đồng ruộng phụ nữ chiếm tới 63% tổng số lao động sản xuất trực tiếp. Ngoài ra tình hình quốc tế có diễn biến phức tạp. Nguồn viện trợ quốc tế thời kỳ này đã khác trước.

        Tình hình trên đây đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với Đảng ta phải nhanh chóng khôi phục nền kinh tế ở miền Bắc, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng miền Nam, sớm kết thúc chiến tranh, củng cố vững chắc độc lập, thống nhất của Tổ quốc.

        Tuân theo lời dạy của V.I.Lê-nin: "Tính chất của một cuộc chiến tranh và thắng lợi của nó đều phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bên trong của nước tham chiến"1, Đảng ta luôn coi trọng việc củng cố xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, coi đó là nguồn gốc tạo nên sức mạnh ở hậu phương. Trong những năm chiến tranh, Đảng không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của mình, tăng cường nhà nước chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong sản xuất và chiến đấu; tiếp tục củng cố những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là tăng cường kinh tế tập thể trong nông nghiệp, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới gắn với việc đào tạo những con người mới xã hội chủ nghĩa vừa có giác ngộ chính trị, vừa có kiến thức khoa học kỹ thuật.

        Đảng bộ và chính quyền các cấp đã kết hợp chặt chẽ, thường xuyên sản xuất và chiến đấu, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và nghĩa vụ quốc tế; vừa tiến hành động viên liên tục, vừa chăm lo đời sống và bồi dưỡng sức dân; vừa tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu trước mặt, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ khôi phục và xây dựng sau chiến tranh. Trong công tác động viên, chúng ta đã kết hợp chặt chẽ phương pháp động viên tập trung với động viên phân tán, phân cấp quyền hạn động viên của trung ương và địa phương, điều chỉnh tỷ lệ động viên thích hợp đối với vùng đông dân và nơi ít dân, vùng đồng bào dân tộc; ban hành và bổ sung các chính sách để bảo đảm công bằng hợp lý, chú trọng chăm lo hậu phương của các cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Chính nhờ không ngừng củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt nên chúng ta đã xây dựng được hậu phương miền Bắc vững chắc với nền kinh tế chủ yếu dựa trên hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Đó là cơ sở để có thể chuyển hướng nhanh chóng nền kinh tế phục vụ chiến tranh và tạo những thuận lợi cơ bản để động viên đến mức cao sức người, sức của cho tiền tuyến. Đây là bài học quý rút ra từ thực tiễn xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương trong 10 năm chiến tranh ác liệt (1965 - 1975).

        Trong khí thế phấn khởi của quần chúng trước thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta ở miền Bắc ra sức lao động, khôi phục kinh tế đồng thời tiếp tục làm nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #37 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:18:56 AM »


        Vượt qua những khó khăn chồng chất, đến cuối năm 1974, công cuộc khôi phục kinh tế thu được những thành tựu đáng phấn khởi. So với năm 1965, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng trên 1,3 lần, tổng sản lượng lương thực tăng 75 vạn tấn, năng xuất lúa bình quân 5,2 tấn trên một héc-ta gieo trồng. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 1,5 lần, riêng ngành cơ khí tăng hai lần, các ngành điện, gang, thép, vật liệu xây dựng ... đang phục hồi nhanh. Hệ thống giao thông vận tải được khôi phục gấp và làm mới một số công trình, đưa tổng khối lượng vận chuyển tăng 1,5 lần; đời sống nhân dân bớt khó khăn.

        Cùng với những kết quả khôi phục và phát triển kinh tế, trong 2 năm 1973 - 1974, miền Bắc tiếp tục động viên thêm 25 vạn thanh niên vào lực lượng vũ trang, bổ sung cho các chiến trường 15 vạn quân; tích cực chuyển hàng vạn thương binh, bệnh binh từ các chiến trường về hậu phương để điều trị và giải quyết chính sách. Nhằm gấp rút chuẩn bị cho thời cơ chiến lược, chúng ta đã tổ chức các quân đoàn chủ lực cơ động với số quân vũ khí và phương tiện kỹ thuật được bổ sung đầy đủ.

        Miền Bắc tiếp tục động viên từ nền kinh tế trên một triệu tấn lương thực, chiếm 18% tổng sản lượng lương thực năm 1974. Hậu phương đã huy động hơn 60% năng lực vận tải để vận chuyển cho các chiến trường nhằm gấp rút lập dự trữ cho các hướng chiến lược. Đến cuối tháng 9 năm 1974, trên 33 vạn tấn vật chất các loại đã được giao cho các chiến trường1. Có thể nói chưa bao giờ chúng ta có một lượng vật chất dự trữ lớn như vậy trước khi mở cuộc tiến công chiến lược. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng vì trong hai năm 1973 - 1974, khối lượng viện trợ quân sự đã giảm nhiều so với trước, đặc biệt là các loại đạn pháo lớn.

        Trước sự chuyển biến nhanh chóng trên chiến trường và kết quả chi viện của hậu phương về vật chất, kỹ thuật, đầu tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị đã phân tích so sánh lực lượng giữa ta và địch và kết luận: "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, để tiến tới thống nhất Tổ quốc"2. Trên cơ sở đó Bộ Chính trị hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược mùa xuân 1975, thực hiện nhiệm vụ giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử này, Bộ Chính trị quyết định: "Động viên lực lượng mọi mặt của cả nước, đoàn kết nhất trí triệu người như một, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ, hy sinh phấn đấu, anh dũng tiến lên với một tinh thần quyết chiến, quyết thắng rất cao"3, đồng thời nhấn mạnh phải nắm vững khi có thời cơ đột biến thì chiến tranh cách mạng có thể phát triển với tốc độ "một ngày bằng 20 năm"; lúc đó ta phải đánh nhanh hơn, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

        Đầu tháng 3 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, quân và dân ta đã giành được thắng lợi rất to lớn, giải phóng toàn bộ vùng cao nguyên chiến lược quan trọng, tạo nên một chuyển biến quyết định trong cục diện chiến tranh. Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị nhận định: "Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước, chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này", và hạ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Để tranh thủ thời gian, phải kiên quyết tập trung lực lượng và phương tiện, hành động táo bạo, bất ngờ, không cho địch kịp trở tay. Bộ Chính trị nhắc nhở Hội đồng chi viện tiền tuyến phải khắc phục mọi khó khăn, khẩn trương động viên mọi lực lượng và vật chất của miền Bắc chi viện nhanh nhất, đủ nhất cho tiền tuyến lớn.

        Cả hậu phương sôi động và phấn khởi hướng ra tiền tuyến. Các đoàn xe nối đuôi nhau theo tuyến đường chiến lược Bắc - Nam ở cả tây và đông Trường Sơn toả đến các chiến trường, tăng cường kịp thời cho các binh đoàn chủ lực tiến quân thần tốc, giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, các tỉnh ven biển miền Trung và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chỉ trong 4 tháng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975, hậu phương lớn đã bổ sung cho chiến trường trên 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại. Từ miền Bắc Đảng và Chính phủ còn cử hàng vạn cán bộ dân, chính, đảng đến các vùng mới giải phóng để tăng cường cho Đảng bộ và chính quyền cách mạng, bảo đảm nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân. Vào giai đoạn cuối của chiến tranh chống Mỹ, về nhân lực và vật chất sử dụng trên chiến trường, ta thấy: trên 80% quân số của lực lượng vũ trang, 81% vũ khí và đạn dược, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải là do nguồn bổ sung từ hậu phương lớn; 61% quân trang, 77% lương thực, gần 90% thực phẩm là do khai thác tại chỗ, trong đó có nguồn do nhân dân đóng góp, nguồn tăng gia sản xuất tự túc và nguồn thu mua trong vùng địch tạm chiếm.

        Những số liệu trên đây chứng tỏ vai trò cực kỳ quan trọng của hậu phương trong chiến tranh. Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: "Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành trung ương Đảng khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội"
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #38 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:23:57 AM »

           
QUÂN KHU 5 ĐỘNG VIÊN, TỔ CHỨC VÀ
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ
CÙNG BINH ĐOÀN CHỦ LỰC ĐÁNH THẮNG ĐỊCH

Đại tá  TRẦN NGỌC QUẾ và Đại tá TRẦN QUÝ CÁT      
 
        Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, mặc dù đã thất bại phải rút quân, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, sử dụng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" theo công thức "quân ngụy + viện trợ kinh tế quân sự và cố vấn Mỹ". Chúng lấy "lấn chiếm, bình định" làm biện pháp chiến lược hàng đầu và huy động hầu hết lực lượng chủ lực, địa phương và các binh chủng vào hoạt động này.

        "Lấn chiếm" và chống "lấn chiếm", "bình định" và chống "bình định" diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt trên toàn chiến trường miền Nam trong đó có quân khu 5. Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của quân khu lúc này là "chống bình định, lấn chiếm; giành dân, giữ dân, giành quyền làm chủ".

        Dưới ánh sáng Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng (tháng 10 năm 1973), được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, trên cơ sở nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng Việt Nam và từ kinh nghiệm đánh bại các chiến lược chiến tranh trước đây của đế quốc Mỹ, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ đã sớm thống nhất và kiên định phương hướng chiến lược: "Vừa sử dụng lực lượng cần thiết để đánh bại "lấn chiếm, bình định", giữ vững vùng giải phóng, vừa tập trung sức chuẩn bị điều kiện và thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn, thực hành nhiều chiến dịch tiến công, góp phần cùng toàn miền Nam đánh cho ngụy nhào, kết thúc chiến tranh".

        Với phương hướng chiến lược đúng đắn đó, sau một quá trình tích trữ lực lượng, chuẩn bị chiến trường, với sự chi viện tích cực của trên, quân và dân khu 5 xây dựng được một lực lượng tại chỗ mạnh. Nhờ vậy mùa xuân năm 1975, quân và dân khu 5 đã có thể vừa hoàn thành nhiệm vụ chia cắt chiến dịch có ý nghĩa chiến lược trên đường 19, phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công ở Nam Tây Nguyên, vừa độc lập mở chiến dịch tiến công tiêu diệt địch ở Tiên Phước, Phước Lâm, và khi thời cơ xuất hiện đã kịp thời đẩy mạnh tiến công giải phóng Tam Kỳ - Quảng Ngãi, tạo thế bao vây cô lập Đà Nẵng; sau đó phối hợp với binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ thực hành tiến công và nổi dậy mạnh mẽ giải phóng thành phố Đà Nẵng, cùng các thành phố, thị xã, các tỉnh phía nam khu 5.

        Một trong những nguyên nhân khiến cho quân và dân khu 5 có thể giành được thắng lợi là do đã động viên và tổ chức được lực lượng tại chỗ mạnh, đã kịp thời huy động và tập trung sức mạnh đó trong thời điểm quyết định, vào địa bàn quan trọng nhất để phối hợp với binh đoàn cơ động chiến lược của Bộ, thực hiện phương châm "nhanh chóng nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất và chắc thắng", giành chiến thắng giòn giã. Đây là một vấn đề lớn và phong phú, trong bài này chỉ đề cập một số điểm.

        1. Tạo thế, tạo lực, tạo điều kiện cho đánh lớn, diệt lớn quân cơ động của địch.

        Trong bước kết thúc chiến tranh, vấn đề quyết định thắng lợi là tiêu diệt lực lượng vũ trang địch, trước hết là khối chủ lực ngụy, và đánh chiếm các vị trí chiến lược, các thành phố lớn. Muốn thế phải xây dựng quả đấm chủ lực mạnh trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc.

        Sau Hiệp định Pa-ri, quân Mỹ buộc phải rút về nước; so sánh lực lượng giữa địch và ta đã có sự thay đổi cơ bản có lợi cho ta. Khi quân địch ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri, gây chiến tranh trở lại, thì quân chủ lực địch, các thành phố lớn mà địch còn tạm chiếm là đối tượng chủ yếu và mục tiêu cuối cùng phải giải quyết để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Quán triệt ý định chiến lược đó, mặc dù có mâu thuẫn gay gắt giữa yêu cầu tác chiến và xây dựng do nhiệm vụ chống lấn chiếm, bình định đặt ra, ngay từ năm 1973 và suốt cả năm 1974, Bộ tư lệnh Quân khu 5 vẫn kiên trì kế hoạch tích luỹ, xây dựng lực lượng nhằm tạo thế, tạo lực, chuẩn bị cho việc thực hiện quyết tâm chiến lược, trong đó nổi bật lên vấn đề sau:

       a. Củng cố tổ chức, tăng cường trang bị, nâng cao hiệu xuất chiến đấu của cả ba thứ quân.

        Ngay từ đầu năm 1973, mặc dù phải sử dụng từng bộ phận lực lượng tham gia chống bình định, lấn chiếm, quân khu đã kiên quyết rút chủ lực ra khỏi các trọng điểm phòng ngự. Với sự chi viện tích cực của Trung ương, riêng trên chiến trường đồng bằng ven biển khu 5, ta đã củng cố xong các sư đoàn 2 và 3, thành lập lữ đoàn 52, hình thành các sư đoàn và lữ đoàn mạnh có trung đoàn pháo cơ giới và tiểu đoàn pháo cao xạ; xây dựng xong 2 sư đoàn pháo cơ giới, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn thông tin, 2 trung đoàn công binh.

        Lực lượng tập trung các tỉnh cũng được củng cố và tăng cường trang bị vũ khí. Các tỉnh đều có tiểu đoàn trợ chiến gồm ĐKZ 72, cối 120 và 82mm. Từ cuối năm 1974 lực lượng tập trung các tỉnh trọng điểm được tổ chức thành trung đoàn địa phương.

        Tuy phải bổ sung một phần cho chủ lực và bộ đội tập trung tỉnh, huyện, số lượng du kích toàn khu cuối năm 1974 là 41 nghìn, trong đó đã tổ chức được 50 trung đội và 70 tổ du kích đặc công, 120 đội và tổ du kích công binh.

        Trên cơ sở làm chủ, đội quân đấu tranh chính trị, binh vận cũng được củng cố, phát triển.

        Song song với việc củng cố và xây dựng về mặt tổ chức, công tác huấn luyện bộ đội, trước hết là đội ngũ cán bộ rất được coi trọng. Tháng 10 năm 1974, quân khu uỷ xác định: "trên cơ sở thế mạnh tuyệt đối về tinh thần và chính trị, các lực lượng vũ trang ta phải giỏi hơn hẳn quân địch để tiêu diệt và đánh bại đội quân ngụy tay sai do Mỹ trang bị và chỉ huy qua hệ thống cố vấn. Phong trào rèn luyện nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu năm 1973, nâng cao hiệu suất và chất lượng chiến đấu năm 1974 đã thực sự đưa trình độ tác chiến của các lực lượng vũ trang khu 5 lên một bước mới. Nhờ các định phương hướng đúng đắn và rèn luyện tốt, biết vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật chủ yếu của từng loại quân, cùng với trang bị kỹ thuật được cải tiến, riêng các sư đoàn, lữ đoàn chủ lực của quân khu tăng gấp hai, ba lần trước đây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #39 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2016, 10:31:00 AM »


        b. Giữ vững các bàn đạp tiến công, xây dựng thế trận tiến công, hình thành thế áp sát các mục tiêu then chốt, các địa bàn trọng yếu.

        Chiến trường khu 5, nhất là chiến trường đồng bằng ven biển dài và hẹp, rừng núi, đồng bằng, đô thị nằm sát bên nhau, có nơi xen kẽ với nhau. Điều này thuận lợi cho ta trong việc hình thành thế áp sát, uy hiếp cũng như tiến công vào các mục tiêu trọng yếu, các tuyến giao thông chiến lược của địch. Nhưng quân địch cũng có điều kiện thường xuyên đánh phá, lấn chiếm các bàn đạp tiến công, phá hoại kho tàng, cắt đứt các đường vận chuyển tiếp tế và cơ động của ta.

        Một cuộc tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch để xây dựng thế trận mình, phá thế trận tiến công của đối phương, đã diễn ra suốt cả năm 1973 và nửa đầu năm 1974.

        Mọi âm mưu nham hiểm và thủ đoạn đánh phá ác liệt của địch nhằm chiếm các bàn đạp xung yếu, cắt đứt, phá hoại hoặc ngăn cản việc thiết bị chiến trường, xây dựng hệ thống đường cơ động của ta đã thất bại. Tất cả các bàn đạp tiến công của ta đều được giữ vững. Hệ thống đường cơ giới dài 977km được thiết lập với trục dọc nối liền từ bắc Công Tum đến bắc Buôn Ma Thuột, tây Quảng Đà - tây Quảng Nam đến tây Quảng Ngãi - bắc Bình Định, bắc Công Tum qua Cô Xia đến tây Quảng Nam, nối liền hai chiến trường Tây Nguyên và đồng bằng ven biển, bắc Công Tum qua Đắc Đoa tiếp giáp với đường 19. Ngoài các trụ dọc còn có 11 trục đường ngang.

        Song song với tuyến đường cơ động, đã xây dựng đường ống dẫn dầu, đường thông tin dây trần và thông tin tiếp sức. Đến đầu năm 1975, ống dẫn dầu đã vào đến Bến Giàng (tây Quảng Đà); việc liên lạc bằng thông tin hữu tuyến và thông tin tiếp sức được nối liền từ khu 5 ra Hà Nội.

        Đường cơ giới mở thông, việc chi viện của hậu phương lớn cho chiến trường càng thuận lợi. Chỉ riêng năm 1973, Trung ương đã chi viện cho khu 5 một khối lượng vũ khí, đạn dược, thuốc men bằng tổng số chi viện năm 1974 còn lớn hơn năm 1973. Bước vào cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975. Quân khu 5 đã có hàng trăm pháo mặt đất, hàng trăm pháo cao xạ, gần 100 xe tăng, thiết giáp, gần 1000 xe vận tải và trên 6.500 tấn vũ khí ở các đơn vị và hệ thống kho trạm của quân khu.

        Một hệ thống kho tàng, các trạm sửa chữa vũ khí, ô tô, các bệnh viện, bệnh xá được triển khai xây dựng trên các hướng cũng như trên toàn tuyến chiến dịch.

        Trên cơ sở hệ thống đường sá, kho tàng đã được thiết bị, quân khu từng bước hình thành thế bố trí lực lượng. Từng cụm lực lượng bao gồm sư đoàn hoặc lữ đoàn bộ binh, pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh, lần lượt được triển khai trên những vị trí cơ động ở tây Quảng Đà, tây Quảng Ngãi, bắc Bình Định, từ đó có thể nhanh chóng tổ chức tiến công vào những mục tiêu đã được xác định.

        c. Phá vỡ từng khu vực, phòng ngự của địch, cải thiện và hoàn chỉnh thế trận tiến công.

        Tuy ta đã thành công trong cuộc tranh chấp quyết liệt để giữ vững và xây dựng thế trận tiến công, nhưng quân địch cũng đã thực hiện được kế hoạch "lấn chiếm bình định" của chúng ở mức độ nhất định. Hệ thống chốt điểm của địch dày đặc, thế trận ở một số vùng nông thôn đồng bằng của ta gặp khó khăn. Mặt khác, địch còn giữ được một số căn cứ, bàn đạp dọc các trục hành lang cơ động hoặc cắm sâu trong vùng căn cứ của ta.

        Để cải thiển thế chiến trường, đồng thời để kiểm tra, chất lượng các đơn vị sau một thời gian nỗ lực xây dựng, được Bộ tăng cường một bộ phận chủ lực, quân khu đã mở chiến dịch tiến công tổng hợp nhằm đánh bại một bước quan trọng kế hoạch lấn chiếm, bình định của địch, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn đồng bằng, đồng thời tiêu diệt các cụm cứ điểm địch còn cắm sâu trong vùng giải phóng, vùng căn cứ của ta.

        Với thắng lợi rực rỡ trong xuân - hè - thu 1974, tiêu diệt và bức rút trên 300 cứ điểm, quét sạch tất cả cụm cứ điểm, chỉ khu quân sự, quận lỵ còn lại của địch trong vùng giáp ranh và vùng rừng núi từ phía bắc thị xã Công Tum trở ra, ta đã hoàn chỉnh vùng giải phóng rộng gấp 2 vạn ki-lô-mét vuông, tạo ra một căn cứ địa an toàn, vững chắc. Từ khu căn cứ, lực lượng ta sẽ tiến vào phía nam uy hiếp Công Tum, Plây Ku và xa hơn nữa xuống nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột, hoặc tràn sang phía đông, đánh chiếm vùng đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, thực hiện chia cắt địch về chiến lược. Mặt khác cùng với việc chiếm lĩnh toàn bộ địa hình rừng núi, đẩy quân địch ra khỏi vùng giáp ranh, quân ta đã thực sự ở thế đứng rất vững chãi và có lợi. Một số đô thị quan trọng của địch như Quảng Ngãi, Chu Lai, Tam Kỳ và Đà Nẵng đã nằm trong tầm pháo của ta.

        Qua đợt hoạt động này, trình độ chiến đấu của các lực lượng vũ trang ta đã có bước phát triển mới; chủ lực quân khu diệt gọn được các cụm phòng thủ chỉ khu quận lỵ, đánh tiêu diệt từng trung đoàn quân ngụy đi giải toả; lực lượng địa phương các tỉnh có thể tiêu diệt và phá vỡ từng mảng hệ thống chốt điểm, giải phóng từng khu vực liên xã, liên huyện, đánh bại hành quân giải toả của liên đoàn bảo an hoặc chiến đoàn quân chủ lực ngụy.

        Như vậy là với phương hướng chiến lược đúng, biện pháp tổ chức thực hiện kiên quyết và linh hoạt, lại được sự chi viện tích cực của trên, sau gần hai năm nỗ lực phấn đấu, quân và dân khu 5 xây dựng được một lực lượng tại chỗ mạnh, hình thành một thế trận tiến công vững chắc và đến cuối năm 1974, đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM