Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 03:42:59 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Peter Macdonald - Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương  (Đọc 27054 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:24:56 PM »

       
Chương 8
       
Sớm và quá sớm

        Hãy gieo rắc tin tức lẫn lộn vào quân địch để chúng không hiểu được ý định của chúng ta. Một thắng lợi hiển nhiên mà không phải thắng lợi, một thất bại rõ ràng mà không phải thất bại.
       
Võ Nguyên Giáp       

        Năm 1948 Việt Minh và quân Pháp đều có một thời gian ngừng chiến để tăng cường quân số và phương tiện. Việt Minh tấn công những đồn bốt quân Pháp để chiếm lấy vũ khí, rồi xây dựng những hệ thống hầm hào và kho tàng bí mật trong các làng mạc để cất giấu. Việc ngụy trang khéo léo tài tình không còn để lại một dấu vết nào khiến cho một số bộ binh Pháp và Mỹ đi lục soát tìm kiếm đến kiệt sức mà vẫn bực mình vì không phát hiện được.

        Tháng 12 năm 1949 sau nhiều năm chiến đấu, Hồng quân Trung Quốc đã chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch thành lập chính quyền trong cả nước. Quân Tưởng phải chạy sang Đài Loan (một số binh sĩ vượt qua biên giới Việt Nam bị quân Pháp tước vũ khí và trả về Đài Loan). Sự thay đổi chế độ ở Trung Hoa làm thay đổi tình thế của Việt Minh. Việt Minh đã có một láng giềng chấp nhận được: từ 1950 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ còn lại vấn đề, láng giềng lại là Trung Quốc. Mặc dầu không tin tưởng, người Việt Nam hoan nghênh sự giúp đỡ của Trung Quốc mà vẫn kìm nén biểu lộ tình cảm và luôn luôn cảnh giác đề phòng sự lật lọng của họ. Cứ như vậy tình hữu nghị giữa hai dân tộc lúc cao lúc thấp không có gì thay đổi trong nhiều năm.

        Trước tình thế này, Cụ Hồ Chí Minh và ông Giáp tháng 12 năm 1950 đến Bắc Kinh và tháng sau đến Nam Kinh. Ông Nguyễn Chí Thanh một người đang có uy tín lúc bấy giờ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội chịu trách nhiệm về những vấn đề quân sự. Người Mỹ đã có dịp được biết đến và nhớ tên con người này. Cụ Hồ và ông Giáp đã ký kết với các nhà lãnh đạo Trung Quốc một thỏa thuận quan trọng: Trung Quốc nhận cung cấp vũ khí, máy cơ khí chế tạo và thuốc men. Bắc Kinh chấp nhận huấn luyện Việt Minh ở Trung Quốc và gửi sang Việt Nam những cán bộ chính quyền và quân sự với tư cách là cố vấn kỹ thuật. Ngay sau khi Trung Quốc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng lên tiếng công nhận nước Việt Nam, tạo nên một sự kiện có tầm cỡ lớn ủng hộ độc lập của Cụ Hồ Chí Minh. Do đó, dù có đồng ý hay không, người Pháp không phải chỉ đương đầu với một nhóm nổi loạn ngoài pháp luật mà là một Chính phủ được các nước có chân trong Liên hiệp quốc công nhận.

        Đến tháng 4 năm 1949 ông Giáp đã có 32 tiểu đoàn chủ lực và 137 tiểu đoàn bộ binh địa phương. Tháng 5 năm 1950 Cụ Hồ Chí Minh công bố luật nghĩa vụ quân sự, tất cả mọi người Việt Nam là đàn ông từ 16 đến 55 tuổi ở Bắc Bộ và Trung Bộ được tuyển vào quân đội, (Luật này được thực hiện dễ dàng trong vùng tự do nhưng khó khăn trong vùng quân Pháp chiếm đóng. Đến giữa năm 1952 luật này cũng được thực hiện ở Nam Bộ). Tháng 6 năm 1951 ông Giáp tổ chức 117 tiểu đoàn chủ lực và 37 tiểu đoàn địa phương thành các trung đoàn.

        Sau đó, từ các trung đoàn thành lập các sư đoàn với khoảng một vạn quân: sư 304, sư 308 (sư đoàn thép), sư 312 và sư 316. Đồng thời ở vùng châu thổ sông Hồng có sư đoàn 320. Một sư đoàn khác, sư đoàn 351 là sư đoàn vũ khí nặng của tướng Vũ Hiên gồm 12 trung đoàn pháo và 8 trung đoàn công binh bảo đảm cơ động cho các sư đoàn pháo binh với pháo hạng nặng vào triển khai chiến đấu từ nửa năm 1952. (Một sư đoàn tương tự của Hồng quân Liên Xô nếu được tiếp tế liên tục sẽ đủ hỏa lực để liên tiếp chiến thắng quân Đức. Còn ở Việt Nam rất hiếm pháo thủ giỏi, và sử dụng vật liệu công binh phải rất cẩn thận, tất nhiên phải tập trung hỏa lực và nguồn lực công binh).

        Một sư đoàn cần đến 5 vạn dân công mang vác, mỗi người đàn ông hoặc đàn bà có thể mang vác theo sức mình (sau nhiều lần thí nghiệm và thất bại, ông Giáp và người cộng sự của ông đã xác định được những tiêu chuẩn hợp lý: một người đàn ông mang trên lưng được 25 kg gạo hoặc 20 kg vật liệu khác đi trên 25 km một ngày và 20 km một đêm, trong vùng rừng núi thì được một nửa tiêu chuẩn này, một xe trâu kéo có thể mang 350 kg đi 12 km một ngày; một xe ngựa chở được 210 kg đi 20 km một ngày).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:29:07 PM »

        Tháng 10 năm 1951, với 200 công binh và 3.000 thợ, Hồng quân Trung Quốc đã hoàn thành tuyến đường sắt nối liền Liễu Châu với Nam Ninh. Nhờ con đường này, chiến sĩ Việt Nam có thể đến các trung tâm huấn luyện quân sự Trung Quốc, Yalin, Liễu Châu, Tungsing, HaiKon trên đảo Hải Nam và Quảng Đông. Từ đó cho đến cuối năm 1952, 4 vạn chiến sĩ và 1 vạn sĩ quan, công binh và kỹ thuật đã được qua các trường này. Tuy chưa có máy bay để sử dụng theo ý định nhưng ông Giáp vẫn thành lập những đội nhảy dù. Kho tàng của Trung Quốc ở Côn Minh và một vài nơi khác phục vụ cho Việt Minh.

        Trong những thời gian đầu hầu như ông Giáp dựa hoàn toàn vào những kinh nghiệm của Trung Quốc, lắng nghe ý kiến của các cố vấn về những lĩnh vực mà Việt Nam có khuyết điểm lớn. Tướng La Quý Ba dẫn đầu đoàn Quân sự Trung Quốc, sau đó khoảng tháng 8 năm 1950, hai tướng nữa Chaing Yuni và Chieng Keng đến Pắc Bó để thảo luận những kế hoạch tiếp theo. Những người chỉ huy Việt Minh cũng đã có khoảng 5 người có kinh nghiệm học ở Bắc Kinh, hoặc ở học viện Quân sự Whampoa hoặc ở những đơn vị Hồng quân Trung Quốc. Một trong những số họ, ông Nguyễn Văn Sơn được cử vào ban lãnh đạo chỉ huy trung tâm tác chiến và huấn luyện của Việt Minh ở Quảng Ngãi; ông Lê Thiết Hùng chỉ huy phó cũng được đào tạo ở Trung Quốc. Năm 1949 trong số 6 sư đoàn trưởng của ông Giáp có người đã có thời gian tham gia Hồng quân Trung Quốc, 2 thuộc dân tộc Thổ và 1 người đã là hạ sĩ quan trong quân đội Pháp, chỉ có người thứ 6 là hoàn toàn do Việt Minh đào tạo.

        Trong năm 1951 Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 4.000 tấn vũ khí trong đó pháo 75 mm của Liên Xô và Trung Quốc sản xuất, hàng trăm súng Skoda và nhiều khẩu pháo gốc Đức. Trung Quốc còn gửi cho 100.000 lựu đạn chày, 10.000 đạn 75 mm và 10 triệu đạn súng trường. Ông Giáp đã trở thành người chỉ huy quân sự đúng nghĩa của nó, chứ không phải là người chỉ huy du kích. Được trang bị như vậy ông có thể tăng thêm sức mạnh và tổ chức chỉ huy một cuộc chiến tranh thông thường.

        Lực lượng quân đội Việt Nam càng tăng lên, Trung Quốc càng tăng cường thêm viện trợ có hiệu quả: năm 1952, họ gửi sang 40.000 súng trường, 4.000 súng máy, một số pháo 120mm không giật, 35 pháo mặt đất, 450 súng cối và 50 pháo phòng không. Sự giúp đỡ quả là hào hiệp không kém gì thời kỳ Trung Quốc chiến đấu ở Triều Tiên. Co số gần như đã tương hợp: quân Pháp sử dụng vũ khí Mỹ, còn Việt Minh được OSS, Trung Quốc cung cấp và tự sản xuất lấy.

        Rõ ràng ông Giáp đã có trong tay một đội ngũ đã được huấn luyện quân sự, tất nhiên phần lớn được đào tạo ở Trung Quốc do người Trung Quốc huấn luyện nhưng họ đã được nghiên cứu kỹ đường lối quân sự Xô viết. Dưới con mắt ông, nó là “một đường lối quân sự hoàn chỉnh được phát triển để sử dụng cho các nước thuộc địa và nửa thuộc địa”. Việt Minh theo gương giải phóng quân Trung Quốc. Ông Giáp là Tổng tư lệnh của 250.000 quân chủ lực và một lực lượng dân quân tự vệ khoảng 2 triệu người đã đến tuổi trưởng thành.

        Quân Pháp đã tăng cường lực lượng. Cuối năm 1947 có 50.000 quân Pháp ở Việt Nam, năm 1948 tăng lên gấp đôi trong đó 42% là người Pháp còn lại là người châu Phi và quân lê dương ngoại quốc. Năm 1949 quân Pháp có khoảng 150.000 phần lớn nhốt trong các lô cốt có hàng rào dây thép gai xung quanh như các pháo đài Trung cổ chế ngự lên đất đai phong kiến, và như bản thân chúng chế ngự những người Việt Nam trong thời kỳ “Bình định”. Thực tế họ luôn bị quân Việt Minh vây hãm và xuất hiện như quỷ thần để luôn luôn quấy rối họ.

        Quân đội Pháp hoàn toàn phụ thuộc vào các đường cái, thường rơi vào những trận phục kích và bị tấn công bất ngờ: thời gian để cho binh lính Pháp rời khỏi xe cộ để vào vị trí chống tấn công thì quân Việt Minh đã biến vào rừng rậm dưới làn mưa đạn của kẻ thù dội và cây cối. “Khi kẻ địch tấn công, chúng tôi rút lui…”. Quân Pháp tiếp tục tuyển mộ ngụy quân Việt Nam khoảng 250 nghìn người do khoảng 400 sĩ quan châu Âu chỉ huy. Tình trạng đó kéo dài cho đến những năm 50. Cả hai phía đều tuyển mộ thanh niên Việt Nam, phía họ phục vụ hoàn toàn không phải do họ tự chọn, cho nên có khi hai anh em phục vụ ở hai phía khác nhau. Với nhiều vẻ khác nhau, cuộc chiến ở Việt Nam gần như một cuộc chiến tranh của dân thường, mỗi phía đều sử dụng quân nhân trừ bị với mục đích cá nhân. Do đó công tác tuyên truyền cũng như chiến tranh tâm lý rất quan trọng, tuy vậy ưu thế vẫn ở về phía Việt Minh. Năm 1954 Việt Minh đã tuyển được nhiều quân hơn người Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:32:48 PM »

        Câu chuyện quân khởi nghĩa hăng say chiến đấu chống lại quân Pháp chứng tỏ điều đó. Các trận đánh lớn nhỏ có đến hàng trăm. Phía nào cũng chứng tỏ lòng dũng cảm lạ kỳ và tinh thần cao thượng như nhau. Chiến sĩ người Thái La Văn Cầu kể tiếp câu chuyện như sau:

        “Kết thúc huấn luyện, chúng tôi bắt đầu đi chiến đấu. Từ năm 1948 đến năm 1950 chúng tôi đã dự hơn ba mươi trận. Thời gian không đi chiến đấu thật hiếm. Tự tôi đã tiêu diệt được 25 lính địch, các bạn tôi đã tiêu diệt được hàng trăm. Tôi đã cướp được 7 súng trường, tất cả chúng tôi đã lấy được hàng trăm súng địch. Có thêm một khẩu súng, thêm một viên đạn thật quan trọng.

        Phần lớn chúng tôi chiến đấu với bọn lính lê dương trong đó có bọn Đức, bọn Anh và bọn Mỹ đã từng dự chiến tranh chống phát xít Đức. Chúng tôi thích đánh nhau với chúng nó. Đó là những tên lính đánh thuê rất tinh nhuệ. Đánh nhau với chúng, chúng tôi cảm thấy trưởng thành nhanh chóng. Chúng nó không có gia đình, những tên lính Pháp có bố, mẹ, vợ, không đánh giỏi như bọn lê dương. Rất nhiều bọn lê dương đến rồi lại đi, luôn thay đổi chỗ trú quân, rất thuận lợi cho chúng tôi được đánh nhau với nhiều tên lính lê dương khác. Các sĩ quan của chúng tôi rất muốn góp phần chiến đấu cùng chúng tôi, chúng tôi đã được lệnh tuân theo mệnh lệnh chiến đấu của họ. Kể cả khi chúng tôi thiếu ăn, chúng tôi cũng chia phần cho họ…”.

        Trận Đông Khê bắt đầu từ 16 tháng 9 là một trong những trận quyết định của chiến dịch Biên Giới. Trận đánh quan trọng đến nỗi Cụ Hồ Chí Minh xuất hiện bên cạnh ông Giáp. Cụ có mặt để củng cố quyết tâm của bộ đội Việt Minh. La Văn Cầu tiếp tục kể:

        “Để bảo đảm thắng lợi tiểu đoàn chúng tôi thành lập một nhóm 25 người chia ra thành 5 tổ. Chúng tôi mang những gói thuốc nổ to tướng. Ông biết đấy, chúng tôi không có nhiều pháo, bản thân chiến sĩ sẽ mang thuốc nổ đến mục tiêu. Người Pháp gọi chúng tôi là “pháo-người”. Nhiệm vụ này rất nguy hiểm, nhưng chúng tôi sẵn sàng hy sinh. Trước hết, chúng tôi đã thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, đến con người cuối cùng. Sau đó chúng tôi phải đoàn kết để hoàn thành nhiệm vụ. Cuối cùng chúng tôi phải tôn trọng nghiêm ngặt kỷ luật chiến trường: “không được lấy của kẻ địch và không giết kẻ đầu hàng…”.

        Lực lượng của chúng tôi còn cách địch khoảng 1 kilômét. Ba trăm lính đóng trong một đồn năm trên một ngọn đồi nhỏ kiềm chế cả cao nguyên Đông Khê. Cuộc chiến đấu từ 6 giờ sáng với tiếng nổ của bộc phá chúng tôi làm tín hiệu xung phong. Ngay lập tức chúng tôi trông thấy pháo binh của chúng tôi dùng pháo 75 Nhật Bản đánh đổ cột cờ trên đỉnh vị trí địch ngay từ quả đạn đầu.

        Chúng tôi rất vui sướng thấy kẻ địch bị đánh ngay từ những phút đầu tiên!

        Đến 18 giờ 30 màn đêm buông xuống, La Văn Cầu và các đồng chí chạy đến vị trí địch. Anh ta bị thương vào cánh tay phải vì một loạt đạn súng máy ngã xuống trên hàng rào dây thép gai, tay bị thương còn móc vào lưới thép, rồi thiếp đi vì đau đớn.

        “Khi tôi tỉnh dậy, tôi nghĩ rằng mình sẽ chết mà chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tôi đã yêu cầu bạn tôi chặt cánh tay bị thương cho khỏi vướng. Bạn tôi từ chối bảo rằng tôi là con một, gia đình tôi cần cánh tay của tôi, tôi trả lời điều đó không quan trọng vì dù sao tôi cũng sẽ chết. Sau vài phút anh ấy đồng ý, đặt cánh tay tôi lên một cái đe và chặt đi bằng lưỡi lê, xong anh ta buộc chặt đầu cánh tay còn lại bằng một sợi dây.

        Sau đó tôi trèo lên đồi đến vị trí địch, dùng cánh tay còn lại và vai đẩy khối bộc phá vào lỗ châu mai lô cốt địch. Tôi quay lại và bị sức bộc phá nổ đẩy đi làm tôi ngã xuống quay mấy vòng trên mặt đất, máu ra nhiều. Dù sao tôi cũng được kết nạp vào Đảng vì những hành động dũng cảm trong chiến đấu, tôi quay về trạm cấp cứu ở trong rừng phía sau chúng tôi.

        Tôi rất mệt, muốn bỏ đi ngủ, tôi biết rằng cái chết đang đợi tôi. Tôi tiến từ cây này sang cây khác, tựa vào cây một thời gian để lấy sức đi tiếp. Cuối cùng tôi phát hiện được ánh sáng của trạm cấp cứu. Bác sĩ nhìn cánh tay tôi và tuyên bố cắt lại cho sạch sẽ. Ông tiêm cho tôi một mũi kim và bảo tôi đếm đến bảy hoặc tám sẽ không còn biết gì nữa, nhưng tôi đếm đến hai mươi trước khi đi vào giấc ngủ…

        Vì hành động ở Đông Khê, tôi được phong tặng Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam và khi vết thương lành hẳn, tôi được đưa đến nơi này nơi khác để động viên mọi người đi đánh bọn thực dân…”.

        Trở thành đảng viên thật không dễ dàng. Mọi người phải trải qua một thử thách, thực sự quyết tâm, được hai đảng viên giới thiệu, có hai đảng viên giám sát và qua một kỳ thi vấn đáp. Những người thỏa mãn những tiêu chuẩn ấy là những người ưu tú có động cơ phấn đấu rõ ràng. Họ đại diện cho trái tim của chủ nghĩa cộng sản trong nước, những đồng chí trung thành của chủ nghĩa Mác mà ban lãnh đạo của Đảng lấy làm căn cứ để quyết định kết nạp vào Đảng. Ngược lại, họ được ưu đãi và thăng cấp, sau trận đánh La Văn Cầu được kết nạp vào Đảng là không có gì đáng ngạc nhiên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #33 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:36:54 PM »

        Trận Đông Khê chỉ là một phần của trận đánh để kiểm soát đường số 4 chạy giữa các dãy núi đá vôi dọc theo biên giới Trung Quốc bảo đảm giao thông cho hệ thống đồn bốt hai bên đường. Quân Pháp dùng chiến thuật cũ rích chốt chặn để bảo đảm hành quân và an toàn cho các ngọn đồi. Khi đoàn xe đến các đồn bốt Cao Bằng, Lạng Sơn và Đông Khê, nhưng họ tiếp tục bị phục kích. Họ quyết tìm mọi cách để kiểm soát con đường và cắt đứt đường tiếp tế từ Trung Quốc cho quân đội Việt Minh. Ngược lại Việt Minh đã mở rộng những con đường mòn song song trong rừng rậm bên này hoặc bên kia biên giới Việt Trung và dùng dân công chở hàng.

        Mùa mưa đến ở Đông Khê vào tháng 5, tiếp theo 5 tiểu đoàn Việt Minh, trong đó có những tiểu đoàn vừa được huấn luyện ở Trung Quốc về, hành quân đến Đông Khê. Bầu trời thấp đầy mây, mưa suốt ngày không trông chờ gì được máy bay yểm trợ. Bốn mươi tám giờ sau khi La Văn Cầu và các bạn “quyết tử” tấn công bằng bộc phá, Pháp mất đồn tiền tiêu. Vài ngày sau quân Pháp chiếm lại được, giữ được vài tháng rồi mất hẳn. Không một người lính bảo vệ căn cứ còn sót lại: hai tiểu đoàn quân lê dương bỏ mạng.

        Các đồn bốt lần lượt rơi vào tay quân Việt Minh. Biên giới hoàn toàn được giải phóng. Đến tháng 10 quân Pháp rút khỏi Lạng Sơn bỏ lại đồn bốt và trang bị kỹ thuật quân sự.

        Trong cuộc họp của Hội đồng Chính phủ ông Giáp tuyên bố hơn 6.000 quân Pháp bị tiêu diệt, quân ta thu được 13 pháo, 125 súng cối, 940 súng máy, 450 xe, 1.200 tiểu liên và hơn 8.000 súng trường. Và 5 tỉnh lỵ được giải phóng! Nhà nước tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh hạng 3, huân chương đầu tiên của ông.

        Về những thắng lợi vừa qua, ông Giáp đã viết:

        “Thắng lợi của những trận chiến đấu ở miền biên giới 1950 chứng tỏ những tiến bộ lớn của ba thứ quân, đặc biệt là quân chủ lực. Bộ đội ta được tổ chức mạnh hơn, trang bị vũ khí tốt hơn lần đầu tiên đánh những trận tấn công lớn, tiêu diệt một phần lực lượng tinh nhuệ của địch, đập tan hệ thống phòng ngự biên giới của chúng, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn. Chiến tranh nhân dân đã chuyển từ giai đoạn chiến tranh du kích sang chiến tranh thông thường. Cùng với sự thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, chiến tranh ở vùng biên giới của chúng ta đã chấm dứt sự bao vây của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam. Những con đường liên lạc của chúng ta với các nước bạn xã hội chủ nghĩa đã được khai thông”.

        Ông Giáp đã trình bày ba giai đoạn của chiến tranh cách mạng của Mao Trạch Đông như sau:

        “Ở giai đoạn thứ nhất, chiến tranh du kích địa phương là chủ yếu và chiến tranh vận động là thứ yếu nhưng chiến tranh vận động ngày càng quan trọng. Ở giai đoạn thứ hai chiến tranh vận động là chính lúc đầu để chống càn quét ở địa phương, dần dần trên những địa bàn rộng lớn hơn. Chiến tranh du kích bấy giờ mạnh hơn nhưng so với chiến tranh vận động, chỉ là thứ yếu. Giai đoạn thứ hai thường kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, trong quá trình này thực tế không có truy kích quân địch mà củng cố vị trí vững chắc. Tiếp theo, khi quân địch đã chuyển vào phòng ngự, quân cách mạng sẽ chuyển qua tấn công bằng chiến tranh cơ động với những trận tấn công chiến thuật phân tán của các đội du kích đánh các đồn tiền tiêu, các đoàn xe và quân tuần tiễu. Giai đoạn thứ ba là nổi dậy đồng loạt.

        Rất khó nói ngày nào chúng tôi chuyển từ chiến tranh du kích sang chiến tranh cơ động vì không có ai phân chia máy móc. Trong thời kỳ chúng tôi đang tiến hành chiến tranh du kích, đồng thời vẫn sử dụng đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung. Tiếp theo chúng tôi có những trận chiến đấu với nhiều trung đoàn, đến năm 1950 tôi mở chiến dịch lớn với những lữ đoàn. Chiến dịch giải phóng biên giới năm 1950 có thể coi như giai đoạn chiến tranh cơ động đã bắt đầu…”.

        Ông Giáp đã hoàn thành thắng lợi giai đoạn 1 và 2. Ông nghĩ lúc bấy giờ có thể chuyển qua tổng phản công chuyển về tổng tấn công để tiêu diệt hoàn toàn kẻ địch. Ông đã nhầm, lý do chính của sự nhầm lẫn là việc tướng Jean Marie de Lattre de Tassigny đến Hà Nội vào thắng chạp. Ông ta là một con người có cá tính vững chắc và rất dũng cảm. Ông vừa nhận nhiệm vụ cao ủy và tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. De Lattre đã chỉ huy một đại đội trong chiến tranh thế giới thứ hai và nhanh chóng được cử đứng đầu một sư đoàn và cuối cùng là người chỉ huy các lực lượng Pháp tự do. Ông bỏ ngay quyết định buộc phụ nữ và trẻ con Pháp rời khỏi Hà Nội khi lính Pháp chưa rời khỏi Việt Nam và ông để vợ ông ở lại thành phố.

        Sau đó ông củng cố tinh thần binh sĩ và chuẩn bị chống lại cuộc tấn công sắp tới của ông Giáp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #34 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:41:58 PM »

        Chẳng phải đợi lâu. Từ ngày 11 đến ngày 17 tháng Giêng năm 1951, trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, 22.000 chiến sĩ của các sư đoàn 308 và 312 của ông Giáp tấn công vào thành phố Vĩnh Yên đã được củng cố công sự vững chắc, một điểm quan trọng cuối cùng ở Tây Bắc Hà Nội của Pháp. Họ bị đẩy lùi tàn nhẫn và hy sinh từ 6 đến 9 nghìn người. Tháng trước, quân Pháp lần đầu tiên dùng máy bay ném bom napal, lần này lại tiếp tục sử dụng phương tiện này: chiến sĩ Việt Minh bị chất độc tưởng rằng bị ném bom nguyên tử.

        Từ 23 đến 28 tháng 3 sư đoàn 316 tấn công Mạo Khê hy vọng tiến vào Hải Phòng. Sư đoàn cũng thất bại phải rút lui, hy sinh hàng trăm chiến sĩ.

        Từ 28 tháng 5 đến 18 tháng 6, các sư đoàn 304, 308 và 320 đánh một loạt trận tấn công vào các căn cứ dọc sông Jour (?). Họ bị nhầm hướng, chia cắt lẫn nhau và phải rút lui để lại trên chiến trường hàng nghìn chiến sĩ hy sinh.

        Ông Giáp đã đánh giá quá cao và tổn thương sâu sắc. Ông chấp nhận rút quân nhưng để lại những cán bộ trong lòng nhân dân để tiếp tục gieo hạt cho cuộc khởi nghĩa. Ông không còn tươi tỉnh, không còn một lực lượng dự bị nào để tạo được một thời cơ thuận lợi, hoặc quay ngược lại tình thế nguy kịch và đã cảm nhận được bao nỗi khó khăn mệt nhọc của mọi người khi đưa quân ra khỏi trận đánh cuối cùng. Nhưng ông vẫn sử dụng những đội hình lớn và hoàn tất nhiều hoạt động gọng kìm rộng rãi với mục đích:

        -Mở đường phía Tây Hà Nội.

        -Đánh địch ở phía sau lưng và phía bên kia Hà Nội.

        -Chuyển quân về phía Nam trong khi cuộc tấn công thứ nhất vào Vĩnh Yên đã gây sức ép với Hà Nội và cuộc tấn công thứ hai ở Mạo Khê uy hiếp Hải Phòng tách khỏi cảng.

        Chiến dịch năm 1951 nếu thắng lợi là một công trình kết hợp chiến thuật; trong trường hợp này kế hoạch thông minh của ông Giáp không thực hiện được vì ông Giáp không có đủ phương tiện cần thiết, không đầy đủ thủ tục chỉ huy và kiểm soát, không có kinh nghiệm tác chiến trong điều kiện phức tạp kể cả với qui mô nhỏ hơn. Hơn nữa đối thủ của ông chiến đấu với lòng bực tức chưa bao giờ có: cuộc sống của họ, của gia đình người Pháp ở Đông Dương, hạnh phúc của họ và vương quốc của họ, tất cả đều vào cuộc.

        De Lattre bắt đầu xây dựng một hệ thống cứ điểm có công sự vững chắc bảo vệ châu thổ sông Hồng và những ngọn đồi lân cận mà Việt Minh đã chiếm: 15 triệu tấn xi măng được sử dụng để xây dựng. 20 tiểu đoàn bộ binh thường xuyên chốt chặt ở đây. Khốn thay cho nước Pháp ông ta bị bệnh nặng phải trở về Paris và chết tháng 1-1952 vì ung thư. Tướng Salan là người thay thế.

        Quân Việt Minh chiến đấu mãnh liệt và đầy căm thù dù chỉ là một trận đánh nhỏ mà người ta thấy lại trong những năm 60. Đó là trường hợp trận tấn công vào một cứ điểm do quân Bắc Phi chiếm giữ trên đường số 4.

        Hai đại đội Marốc và một phân đội xe tăng tổ chức thành 2 cứ điểm phòng ngự mạnh yểm trợ lẫn nhau, lại được pháo binh yểm trợ và một dãy lô cốt tiền tiêu làm nhiệm vụ cảnh giới báo tin có lực lượng tấn công. Một dòng sông chảy giữa hai cứ điểm.

        Sau hai mươi phút hỏa lực chuẩn bị tập trung của cối 120 rót vào cứ điểm phía Nam, đến 22 giờ 10, nghe tiếng xung phong của bộ binh Việt Minh vượt lên hàng rào dây thép gai. Lưỡi lửa của một chục khẩu súng tự độg chặn làn sóng người xông lên ở vùng cửa mở. Để ngăn chặn quân tấn công, đạn pháo ngày càng gần vị trí cho đến tận hàng rào của quân Marốc. Đến nửa đêm thì cứ điểm phía Nam không còn giữ được nữa. Dây thép gai rối tung với một thảm xác người bên trên không còn là vật chướng ngại nữa. Phần lớn hố cá nhân đã bị cối của Việt Minh phá hủy những tên lính Marốc sống sót không còn đạn. Gần một giờ có lệnh vượt qua cầy chạy về cứ điểm phía Bắc.

        Nhưng ở đó cũng chẳng yên ổn. Ba giờ sáng, 5 tiểu đoàn Việt Minh tấn công mạnh mẽ vào hai trăm người còn sống. Trên chiến trường những chiếc xe tăng nhẹ của phân đội xe bọc thép, nòng pháo hạ thấp đến tối đa không ngừng nổ súng vào chùm người hò hét vượt qua ụ pháo. Xích sắt xe tăng nghiến lên đầu, tay, ngực hàng chục con người di chuyển chậm chạp nhưng cùng ngập trong biển người xông lên không ngớt. Những bàn tay bám vào nắp thép pháo xe định mở nắp, những quả lựu đạn ném vào nòng pháo, hàng loạt súng máy xuyên qua lỗ phương hướng, rồi cuối cùng các xe tăng cũng bị bazôka xách tay tiêu diệt, thép vỏ xe nóng chảy trắng.

        Một mùi thịt cháy bốc lên trong không khí. Cả năm kíp xe tăng bị tiêu diệt đến người cuối cùng, số bộ binh còn lại cũng nhanh chóng bị chung số phận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:46:51 PM »

       
Chương 9

Lưỡi kiếm được vung lên

        Quyết định nhanh chóng là vấn đề sống còn. Quyết định nhanh chóng ấy có nghĩa là chúng ta đã sẵn sàng đánh địch bất cứ lúc nào, lúc chúng chưa kịp đứng chân hoặc lúc chúng đang rút chạy, có nghĩa là chúng tôi sẵn sàng đánh địch ở vùng núi hoặc ở đồng bằng, sẵn sàng đánh vận động chiến, đánh địch tại chỗ hoặc đánh du kích khi chúng tôi cảm thấy tiêu diệt được quân địch, mục đích cơ bản của mọi chiến thuật.
Võ Nguyên Giáp       

        Ở Triều Tiên, quân Mỹ đã chặn được những trận tấn công của hàng biển người Trung Quốc tiến trên những mảnh đất đã được quét sạch bằng hỏa lực pháo binh và súng cối và thỉnh thoảng cả bom của máy bay. Trong 3 năm tiếp theo, các tướng lĩnh chỉ huy tối cao Pháp lần lượt muốn dẫn dụ ông Giáp vào một cuộc chiến cổ điển mà họ chiếm ưu thế về hỏa lực dưới mặt đất và ở trên không hòng giành thắng lợi quyết định. Nhưng ông Giáp đã thấy rõ sai lầm ở đồng bằng sông Hồng và không bao giờ lặp lại những sai lầm ấy: trong những trận sắp tới, có thể phải hy sinh một số đơn vị chiến đấu quyết liệt trong vòng vây, hơn là dẫn đến những lò “sát sinh” giết người; ông lùi về khi dồn sức đuổi địch vô ích và làm yếu sức quân đội kể cả những mất mát nhỏ nhất. Khi đã vào trận lớn, hy sinh một vài đơn vị nhỏ là cần thiết! Ông Giáp cũng nổi tiếng về sắp xếp linh hoạt sự có mặt của những người khác: lên án những đối thủ chính của ông như tướng Westmoreland và tướng Bigeard cũng như những người khác viết khác về lịch sử chiến tranh này.

        Sau những tổn thất mùa thu năm 1951, quân Việt Minh băng bó vết thương và tiếp tục mở rộng đội ngũ, huấn luyện, cũng như tiếp tục chiến đấu: phương pháp huấn luyện tốt nhất là nắm vững những nguyên tắc cơ bản. Là một người thực dụng, ông Giáp nhận rõ đã phạm sai lầm chuyển sớm quá sang tổng phản công nhưng ông không buồn rầu về những lồi lầm và những cơ hội đã bỏ qua. Như ông đã làm trong quá khứ, và sẽ làm trong tương lai, ông quay lưng về quá khứ và hướng tới tương lai.

        Không tránh khỏi những ý kiến phê bình trong Đảng, nhưng hình như mọi người đều thấy hết những khó khăn của quân đội và không ai yêu cầu thay thế ông. Mỗi người phải học trên trận địa, học chiến đấu. Nếu có những nhà lãnh đạo quân sự khác có thể thay thế ông thì đó là một trong những thành viên hàng đầu của ban lãnh đạo Đảng và đã có thể giúp ông tránh khỏi sai lầm.

        Ông Giáp luôn luôn nhận được những chỉ thị của Đảng (dĩ nhiên ông là một trong những người lãnh đạo có uy tín và quyền lực), của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Cụ Hồ Chí Minh, nắm vững chủ nghĩa cộng sản đã có nghị quyết về những cơ sở như đường lối chiến lược của chiến tranh: “Nguyên tắc tổng quát của lãnh đạo chiến tranh là một cuộc kháng chiến lâu dài. Chúng ta không coi thường địch, chúng ta không có những kế hoạch tác chiến vội vàng và hy sinh không cần thiết. Chúng ta đánh chắc, tiến chắc, đã tiến công là chiến thắng: không được như vậy, chúng ta không tiến công. Đã đánh là phải thắng, không có quyền đánh mà không thắng lợi”.

        Trong những hang núi đá vôi của an toàn khu Trung ương Việt Nam ở Thái Nguyên, ông Giáp và Hội đồng quân sự của ông-đồng thời là ý định của Trung ương cùng chia sẻ trách nhiệm về những quyết định tập thể, về việc lựa chọn những phương án thích hợp cho quân Việt Minh và quân Pháp: “Nhờ có nhiều đường giao thông thuận lợi và nhiều khả năng cung cấp nuôi quân, vùng đồng bằng (sông Hồng) có nhiều điều kiện thuận lợi cho một cuộc tấn công lớn của bộ đội và vì vậy việc tổ chức phòng ngự của quân Pháp cũng chặt chẽ cẩn thận hơn. Quân Pháp dễ bị tổn thất ở địa hình rừng núi, lực lượng bị phân tán, yểm trợ pháo binh và không quân bị cây rừng hạn chế, và điều kiện nắm vững địa hình không phải dễ dàng. Chúng ta có một số thuận lợi hơn quân Pháp, khả năng cung cấp của chúng ta có hạn, lực lượng dự bị không đủ chiến đấu quy mô lớn, do đó chúng ta chỉ sử dụng lực lượng tương đối nhỏ để tổ chức những trận tấn công ngắn. “Trung ương Đảng quyết định: vận động chiến là hình thái chiến tranh chính trên chiến trường chính-miền Bắc Việt Nam-còn các chiến trường khác, du kích vẫn là nhiệm vụ hàng đầu”.

        Năm điều kỷ luật dân vận được phổ biến rộng rãi trong quân đội:

        -Hãy lễ phép

        -Phải thực thà

        -Mượn cái gì của dân phải trả

        -Không được phá hoại của dân và làm hư hỏng phải bồi thường

        -Không kết bạn với phụ nữ

        Chấp hành nghiêm chỉnh những kỷ luật nêu trên, chiến sĩ sống hài hòa đoàn kết với nhân dân trong vùng đóng quân, trái lại binh lính Pháp tuân theo mệnh lệnh của chính quyền thuộc địa (thực dân) luôn luôn coi dân là kẻ thù, ngay cả khi không muốn-một thực tế không thể bóp méo trong tất cả các cuộc nổi dậy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:50:27 PM »

       Việt Minh còn có một mục đích xác định rõ ràng và một quyết tâm thực tế với khả năng đạt được, còn bọn thực dân Pháp cùng với quân đội ô hợp của họ nào phải Bắc Phi, nào lê dương, nào ngụy quân Việt Nam không phải bao giờ cũng tự nguyện làm sao có được nhiệt tình hăng hái khi chiến đấu và chiến thắng như chiến sĩ Việt Nam. Giai thoại sau đây cho người ta một hình ảnh cụ thể: một hôm, một người chỉ huy tiểu đoàn quân Pháp hỏi cấp trên của ông cho ông biết lý do phải ở lại Việt Nam bao nhiêu năm chiến tranh mà không được gì hết ngoài hàng chục nghìn nạn nhân chiến tranh: chết, bị thương, mất tích và bị bắt: “Thưa tướng quân, chỉ một câu thôi, để tôi có thể nói điều gì đó với gia đình tôi”. Cũng như Ponce Pilate, anh ta không được trả lời.

        Một điều hơn hẳn nữa là kỷ luật không phải dựa vào những hình thức trừng phạt mà thực hiện theo áp lực của quần chúng. Không được tống giam kẻ đào ngũ ở chiến khu. Không bao giờ phải trả tiền phạt vì mọi người chẳng ai nhận tiền bạc: chiến sĩ chỉ được nhận quân phục, vũ khí cùng với một cái màn và những thuốc men khi ốm đau. Còn dân công chỉ được nhận lương thực và thực phẩm, nhưng không phải lúc nào cũng có: họ đã có thời gian ở nhà sản xuất và nhân dân ở quê hương cung cấp cho họ. Hình thức kỷ luật dựa trên cơ sở tự ăn năn hối lỗi, danh dự bị tổn thương và sự phê bình của đồng đội.

        Vì vậy, những kỳ phê bình và tự phê bình được tổ chức để mỗi người tự phê bình những sai lầm khuyết điểm của mình. Khi đã nhận rõ khuyết điểm thì đến thời gian khắc phục khuyết điểm, như thú tội trong các nhà thờ thiên chúa giáo, nhưng những kẻ phạm tội và phạm những sai lầm nghiêm trọng phải kiểm điểm trước đơn vị, hoặc hình thức kỷ luật cuối cùng: khai trừ khỏi Đảng, khỏi quân đội. Việc trở về làng là bất hạnh, mọi người xa lánh như một kẻ phạm tội. Cả xã hội coi khinh, hậu quả đối với toàn gia đình cũng xấu như hình phạt tạm thời. Trái lại, quân Pháp dùng hình thức phạt tù đối với các tội lỗi và người gây nên tội lỗi chấp nhận phạt tù: vào tù còn đỡ nguy hiểm hơn.

        Từ mùa hè năm 1951 đến mùa xuân năm 1952, khi có dịp thuận lợi là Việt Minh tổ chức tấn công theo định kỳ: ví dụ 1951, đánh ở đồng bằng sông Hồng; năm 1952 ở vùng Tây Bắc, bộ đội Việt Minh đã buộc quân của tướng Salan phải bỏ một vị trí then chốt gần Hà Nội. Nhưng chiến dịch ấy bị hạn chế như ông Giáp kể:

        “Ở trung tâm, trên đường quyết liệt 18, và trên những cánh đồng Hà Nam Ninh, chúng tôi đã thành công khi tập trung một số lực lượng để tạo nên ưu thế hoàn toàn trong một thời gian ngắn. Cho đến khi quân địch lợi dụng khả năng tăng cường lực lượng nhanh chóng đã bố trí nhiều lực lượng cơ động mới, chúng tôi gặp khó khăn lớn để tiếp tục các cuộc tấn công”. Mặc dù vậy, kế hoạch tác chiến ấy vẫn buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng: họ bị kiệt sức vì chống đỡ quay cuồng lộn xộn như người bị ong bò vẽ tấn công.

        Năm 1953, hy vọng dụ quân Pháp ra khỏi đồng bằng và mở rộng các đường giao thông, ông Giáp quay sang phía Tây, hướng Lào. Trong nhiều năm các đơn vị Việt Nam đã thực hiện một số trận đánh nhỏ để yểm trợ Pathet Lào, những người cộng sản Lào mà họ phải bảo đảm tổ chức lực lượng (hai dân tộc khác ngôn ngữ nhưng họ vẫn hiểu nhau). Vì vậy, hàng nghìn quân tình nguyện Việt Nam không chiến đấu trực tiếp với quân Pháp mà ở lại trong chiến khu để giúp đỡ quân Pathet hàng mấy năm (ví dụ đại úy lục quân Bùi Công Ái của Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1950 cưới vợ lúc 18 tuổi rồi nhanh chóng xa rời vợ để sang làm nhiệm vụ ở Lào. Đại úy ở lại đấy 4 năm, cô vợ trẻ không biết chồng còn sống hay chết, và đại úy cũng không được tin cha mình chết). Tháng 4, ông Giáp đưa bộ đội Việt Minh sang lào. Sau khi bao vây các cứ điểm Pháp trên Cánh đồng Chum, quân Việt Minh đến ngoại ô Luang Prabang. Nhân dân vùng này đã được báo trước về sự có mặt của họ. Cho đến lúc này thì người chỉ huy cao cấp của quân đội Pháp hiểu rằng họ có thể đến bất cứ nơi nào trên đất Đông Dương. Và ông Giáp đã rút quân về trước khi mùa mưa tới tránh bị tổn thất.

        Ông Giáp viết: “Đầu mùa hè năm 1953 quân đội giải phóng Pathet Lào và những người tình nguyện Việt Nam đã hợp tác đánh Sầm Nưa và phần lớn quân địch hiện có trong vùng. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa và những vùng rộng lớn của Bắc Lào được giải phóng”. Đúng lúc này, tháng 5 năm 1953 tướng Henri Navarre thay thế Salan làm tổng chỉ huy quân Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:53:43 PM »

        Navarre là một con người hướng ngã được một người Pháp có trách nhiệm mô tả “một con mèo, hình thức và tinh thần”. Sau một thời gian làm công tác huấn luyện, ông được điều về chỉ huy một trung đoàn xe bọc thép trong chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó ông về làm công tác ở cơ quan tham mưu trong nhiều năm. Có kinh nghiệm công tác tham mưu ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng  các lực lượng liên quân NATO của miền Trung châu Âu trước khi sang Đông Dương. Ông là một người thông minh, một trong những người giỏi trong các bạn cùng khóa lúc ra trường, nhưng nhiều người lính dày dạn chiến trận chê trách ông ở học viện quân sự nhiều thời gian quá mà không đủ thời thời gian thử thách ở chiến trường. Những lời chê trách thành kiến của những người lính bộ binh và lính dù (quân Pháp và Lê dương) thật khó tránh khỏi, dù hiệu quả chiến đấu như thế nào thì ông ta vẫn ở trong câu lạc bộ của lính chiến đấu. Ông Giáp đánh giá: “Dầu ông ta có tên tuổi và danh tiếng Như De Lattre, nhưng Navarre là một nhân tài quân sự trong hàng ngũ tướng trẻ của quân đội Pháp có trí thức và có nhãn quan chiến lược” (Điện Biên Phủ trang 70. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia).

        Càng lún sâu vào cuộc chiến, quân Pháp càng phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ: năm 1951, viện trợ Mỹ cho kinh phí chiến tranh là 12%, đến năm 1953 tăng lên 71%, viện trợ vật chất năm 1953 có 40 nghìn tấn thiết bị quân sự mỗi tháng. Navarre đến đúng lúc một kế hoạch do các tướng lĩnh Pháp và Mỹ soạn thảo khoảng đầu năm đang được áp dụng. Navarre phân tích: “các đơn vị Việt Nam mới được thành lập chịu trách nhiệm phần lớn nhiệm vụ bình định ở đồng bằng và canh gác các trang thiết bị để cho quân Pháp được rảnh tay vào những nhiệm vụ quan trọng hơn; đồng thời các đơn vị quân Pháp được tăng cường và tập trung thành những lực lượng cơ động để tìm, quấy rối và tiêu diệt địch” (đây là khái niệm Việt Nam hóa đã từng biết đến với quân Mỹ mười lăm năm về sau và tất nhiên là thất bại).

        Ông Giáp kể:

        “Mặc dầu khẩu hiệu của ông ta” luôn giữ vững ý chí để tấn công, nhưng Navarre phải quyết định bảo đảm phòng ngự chiến lược ở miền Bắc trong mùa đông năm 1953 và mùa xuân năm sau, tăng cường hiệu quả của quân ngụy và thành lập một lực lượng cơ động mạnh. Sau đó đến đầu năm 1954, lợi dụng khoảng nghỉ của quân đội ta (vì gió mùa mưa nhiều) ông đã chuyển về phía Nam phần lớn lực lượng cơ động. Nếu tấn công thuận lợi ở máy bay, ông sẽ đưa lực lượng cơ động mạnh đến tấn công chiến lược ra miền Bắc, ông ta buộc chúng tôi phải đàm phán trên thế bất lợi, nếu chúng tôi không chấp nhận, ông ta sẽ tiêu diệt quân chủ lực của chúng tôi (Sđd, trang 75).

        Ông ta muốn có 7 sư đoàn cơ động (6 bộ binh và 1 nhảy dù) tốt khoảng 27 lữ đoàn cơ động. Chấp hành ý định này, ông tư lệnh tập trung lại một số đơn vị thiện chiến quân châu Âu và châu Phi và yêu cầu chính phủ Pháp gửi thêm cho 2 sư đoàn dự bị. Ông ta chỉ nhận được 12 tiểu đoàn từ Pháp, châu Phi và Nam Hàn đến (thực tế ông ta yêu cầu 14 tiểu đoàn nhưng chỉ được 9)…” (Sđd, trang 77).

        Ở Sài Gòn, ông Navarre phân tích tình thế và đi đến kết luận phải tăng thêm thành phần quân Việt Nam để cuối năm có thể thành lập được 54 tiểu đoàn cơ động và đến 1954 thì tăng gấp đôi lực lượng này. Bây giờ ông đã sử dụng gần 300.000 binh sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp. Thực tế, ông chỉ thành lập được 107 tiểu đoàn mới, khoảng 97.000 người. Không tính đến số lượng thay cho chất lượng.

        Ông Giáp viết tiết: “Mùa hè năm 1953, tình thế hai phía có thể tóm tắt như sau: Đối với chúng ta, tất cả các sư đoàn và trung đoàn chủ lực đã được tổ chức lại và trang bị vũ khí mới. Lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm một số lớn sư đoàn và trung đoàn chủ lực, thêm nhiều trung đoàn và tiểu đoàn địa phương. Các lực lượng du kích cũng phát triển nhanh chóng. Tiếp sau cuộc chỉnh huấn chính trị về đấu tranh giai cấp, chiến sĩ chúng ta nhìn nhận rõ ràng hơn về mục đích cuộc chiến đấu, nâng cao lòng căm thù địch và tinh thần chiến đấu.

        Còn quân địch, trong toàn Đông Dương có khoảng 450.000 binh sĩ trong đó có 120.000 quân châu Phi và lê dương, còn lại là quân ngụy. Nếu hiệu quả chế độ của họ rất cao trong thời kỳ đầu chiến tranh, thì nay sự cân bằng lực lượng giữa hai phía luôn nghiêng về phía cơ lợi cho chúng ta. Về chính trị, nhân dân Pháp tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống lại chiến tranh phi nghĩa, lính đánh thuê Pháp và châu Phi ngày càng không chịu đựng nổi. Sau nhiều thất bại, tinh thần quân Pháp càng sa sút. Thông thường lính ngụy phải vào lính không phải tự nguyện vì họ không tìm được việc làm” (Sđd, trang 65).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2016, 11:57:27 PM »

        Tháng 7 năm 1953, Navarre tung quân dù xuống rất sâu trong hậu phương ta, họ tấn công Lạng Sơn và tưởng rằng có thể gây cho chúng ta những tổn thất lớn, nhưng điều đó thật vô nghĩa. Tháng 8, họ rút hết quân ở Nà Sản đưa về đồng bằng, tuyên bố cuộc rút quân là một thắng lợi lớn. Và Nà Sản không còn giá trị quân sự nữa, mà trước đây họ đã gọi là “thành Verdun thứ hai” ngăn chặn đường về phía Nam của cộng sản” (Sđd, trang 79).

        Những người chỉ huy quân đội Pháp chỉ còn một cách đưa đến thành công là cầu viện tập đoàn commando hỗn hợp GCMA và từ tháng Chạp năm 1953 cầu viện tập đoàn quân hỗn hợp GMI. Đó là những lực lượng du kích theo mô hình chindit de Wingate và Marauder do Merill ở Miến Điện. Nhưng quan trọng hơn, với những đơn vị gốc của một tiểu đoàn Pháp đã từng chiến đấu dũng cảm ở Triều Tiên, với sư đoàn 2 quân Mỹ, cộng với những đội quân xây dựng ở Việt Nam và ở những thuộc địa khác, đã thành lập được tập đoàn quân 100, có 3.500 quân. Đến nửa năm 1953 có 15.000 lính loại đó phải bảo đảm 300 tấn hàng do máy bay cung cấp mỗi tháng. Họ hành quân vào rừng, cùng với người dân tộc thiểu số, cũng có kho cả người nông dân Việt Nam không chịu ảnh hưởng tuyên truyền cộng sản. Có trường hợp họ hất cẳng một Việt Minh, cưới những con gái của già làng để gắn chặt quan hệ (và để thỏa mãn một thời gian dài không có đàn bà). Họ đã thắng lợi trong cuộc hành quân chống GCMA tiêu diệt hầu hết 12 tiểu đoàn Việt Minh chỉ còn một tiểu đoàn có nhiệm vụ tập hợp tin tức của tập đoàn quân của ông Giáp.

        Thắng lợi của những đơn vị đặc biệt này là vì quân Việt Minh lần đầu tiên ở trong thế phòng ngự. Cho đến lúc này, quân Pháp đều vào trận theo ý định của Việt Minh: họ liên tục phục kích trên đường cái, hoặc họ tấn công một cứ điểm vào ban đêm. Tiến sâu vào rừng, họ đảo ngược lại nhiệm vụ, họ thắng trên đất thánh với những thắng lợi không cân xứng về tỷ lệ quân số. Chỉ có dùng chiến thuật ấy họ mới thắng được Việt Minh. Họ phải chấp nhận thiếu thốn mọi bề, chiến đấu quyết liệt, đánh và rút và tiếp tục đánh lần thứ hai, cũng cần đánh lâu dài.

        Người phương Tây rất tinh vi không thể thực hiện tẩy não trong họ, họ thích giá trị vật chất, phải có tính cách hấp dẫn hơn để tạo lập trạng thái tinh thần và thể lực cần thiết cho họ. Phải có sức mạnh diệu kỳ với đồng lương gấp nhiều lần đồng lương lính thường. Nếu sau một vài năm, họ tích lũy được một số tiền quan trọng bên cạnh, và có thêm tự hào, thắng lợi, đơn vị đánh thắng, thì họ coi như được phần thưởng, giảm bớt đau thương và hy sinh của họ. Khốn nõi, bất chấp những thắng lợi hiển nhiên của quân đội dưới quyền, hình như quan niệm ấy không hoàn toàn đáp ứng, kể cả những năm 1960 sau này. (Để chứng minh cho lòng tận tụy của những đơn vị chiến đấu của GCMA được đài phát thanh quân đội nhân dân truyền đi tháng 9 năm ấy. Những con người cô đơn ấy sẽ như thế nào? Chết hết chăng? Hoặc chết hoặc chôn hết vũ khí và ký hiệu rồi vào rừng ở với phụ nữ Việt Nam? Họ sống phân tán trong các tỉnh phía Bắc Việt Nam: cuộc sống không còn thích hợp với đẳng cấp của họ!).

        Năm 1953, theo thói quen, ông Giáp chuẩn bị cho giai đoạn mới.

        Trung ương Đảng công bố những yêu cầu chiến lược của chiến dịch Đông 1953 và Xuân 1954:

        -Giải phóng Lao Cai và vùng Tây Bắc

        -Tổ chức một cuộc tấn công ở Lào

        -Dấu kín một bộ phận quan trọng quân chủ lực và chuẩn bị cho họ sẵn sàng làm nhiệm vụ

        -Ở vùng đồng bằng, tăng cường du kích chiến

        -Ở phía Nam, Quân khu 5 tổ chức tấn công trên cao phía Tây để bảo đảm vùng giải phóng

        Vì mục đích chiến lược, chúng tôi phân tán cơ quan (đại bản doanh ở Yên Bái) chuyển văn phòng và nhà trường về phía sau, trong tháng 10, tuyển hàng nghìn dân công.

        Nửa tháng 11, theo kế hoạch này, một bộ phận lực lượng di chuyển về hướng Lai Châu. Hoạt động này thay đổi cơ bản tình thế quân sự nhưng kẻ địch không phát hiện được. Địch đánh Tây Bắc hay đồng bằng? Nếu họ đánh Lai Châu, họ sẽ làm gì để bảo vệ ở lê dương và chặn đường tôi sang Lào? Ngày 20 tháng 11 năm 1953, 6 tiểu đoàn quân dù nhảy xuống cánh đồng Mường Thanh và chiếm Điện Biên Phủ.

        Thiếu tá Marcel Bigeard là người nhảy dù đầu tiên. Năm 1941 ông đội Bigeard bị quân Đức bắt khi chiếm nước Pháp. Sau đó ông được thả và cử làm thiếu úy chỉ huy một đội quân thuộc địa Pháp ở Bắc Phi. Sau khi được quân Anh huấn luyện, ông trở thành lính nhảy dù, nhảy xuống vùng du kích. Chiến đấu ở đó, ông đạt danh hiệu Brishtish Distinguished Service Order (phục vụ đặc biệt theo mệnh lệnh nước Anh) một ưu điểm hiếm hoi đối với một sĩ quan trẻ tuổi. Ông đã có mặt 2 lần ở Đông Dương-lần thứ nhất năm 1945 lúc bấy giờ ông là đại úy, và lần thứ hai năm 1948 là chỉ huy đại đội trong một tiểu đoàn quân Việt Nam người dân tộc Thái trước khi ông quay lại lần thứ 3 năm 1952 đứng đầu tiểu đoàn dù thứ 6 với một nghìn lính dù.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2016, 12:02:55 AM »

        Trước khi nhảy xuống Điện Biên Phủ, người ta bảo ông rằng không có sự chống cự ở đó, nhưng ông Bigeard kể lại: “Có hai đại đội Việt Minh ở khu vực chúng tôi nhảy xuống. Nhiều người của chúng tôi bị giết trước khi chạm đất, một số khác bị thương nặng khi rơi xuống đất. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt cả ngày với 40 người của chúng tôi bị chết và hai đại đội Việt Minh hầu hết bị tiêu diệt”. Một tuần sau đích thân Navarre tổ chức một cuộc kiểm tra: ông quyết định với 10.000 lính hiện có và 5.000 lính dự bị, sẽ tổ chức một vị trí “hoàn hảo”.

        Ông Giáp khẳng định: “Ý định của Navarre là sau khi củng cố Điện Biên Phủ sẽ có thể nối với Lai Châu rồi mở rộng địa bàn hoạt động bảo đảm việc phòng thủ thượng Lào. Nhưng đến hạ tuần tháng 11, địch đã phát hiện hiện được những triệu chứng mới: nhiều đơn vị chủ lực kể cả những đơn vị thiện chiến nhất đang di chuyển lên hướng Tây Bắc. Bây giờ cần phải chọn lấy một quyết định: hoặc rút quân khỏi Điện Biên Phủ hoặc tăng cường Điện Biên Phủ? Ngày 3 tháng 12 Navarre đã chọn phương cách thứ hai và ra chỉ thị cần giữ vững Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào. Đây là một quyết định có tính chất chiến lược cực kỳ quan trọng” (Sđd, trang 80, 81, 82) chẳng phải nói gì thêm: đó là một quyết định chưa được suy nghĩ kỹ.

        Điện Biên Phủ chỉ cách biên giới Lào 11 km, luôn luôn là một vị trí chiến lược quan trọng. Vì ở ngay ngã ba con đường thương mại nối với Trung Quốc, Thái Lan và Lào. Vị trí xa xôi và khó tiếp cận, là một vị trí chiến lược cuối cùng của quân đội Pháp từ khi trở lại Đông Dương. Một lực lượng kháng chiến kiên cường do anh Nguyễn Văn Giáp chi huy đã hy sinh anh dũng. Navarre quyết định ở lại Điện Biên Phủ vì 3 lý do khác nhau. Cắt được các trục tiếp tế của Việt Minh, Navarre có thể chấm dứt cuộc nổi dậy của nhân dân Lào. Nay mai, các đơn vị Việt Minh sẽ bị tiêu diệt khi tham gia các trận chiến đấu phức tạp: một cứ điểm được củng cố vững chắc có xe bọc thép nhẹ và pháo binh yểm trợ cho các đơn vị bộ binh truy kích các đơn vị Việt Minh trước khi đuổi họ ra khỏi vùng này. Một lần nữa Giáp đặt ngón tay vào điểm chính.

        “Vấn đề của chúng ta là phán đoán hành động của địch như thế nào. Chúng có thể giữ Điện Biên Phủ vừa giữ Lai Châu đồng thời hoặc co lại về một nơi, tăng viện thêm nhiều, biến thành một tập đoàn cứ điểm, nhưng chúng cũng có thể rút. Rút thì mất đất, tăng nhiều thì phân tán lực lượng cơ động. Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa chiếm đóng đất đai và tập trung lực lượng, giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng.

        Ông Giáp nhấn mạnh thế hai ngã của Navarre càng khó khăn: “Ngày 7 tháng 12 địch đã rút một bộ phận lực lượng từ Lai Châu để tăng cường cho Điện Biên Phủ; số còn lại cũng chuẩn bị rút lui. Ngày 10, chúng tôi đánh vào Lai Châu đồng thời cho một số đơn vị chặn đường rút về Điện Biên Phủ. Ngày 12, chúng tôi giải phóng thị xã Lai Châu. Sau hơn 10 ngày chiến đấu, truy kích, bao vây và tiêu diệt, bộ đội giải phóng những phần của tỉnh Lai Châu còn bị địch chiếm. Địch đã nhanh chóng tăng cường Điện Biên Phủ”.

        Không phải chỉ có thế: “Để nghi binh địch, ngày 21 và 22 tháng 12, nhiều đơn vị quân Pathet Lào và Việt Minh cùng tấn công 2 trận vào vùng biên giới Lào, tiêu diệt hai tiểu đoàn cơ động và phần lớn một tiểu đoàn thứ ba và tiểu đoàn pháo. Địch đã phải gấp rút điều động những lực lượng cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ đến tăng viện cho Sênô, tổ chức Sênô thành một cứ điểm. Sênô trở thành một điểm tập trung lực lượng của địch. Nava bị bắt buộc phải phân tán lực lượng”.

        Quyết định ở lại Điện Biên Phủ, Navarre không biết rằng ông đã thay đổi kế hoạch. Nhưng ông vẫn theo đuổi việc tập trung lực lượng cho chiến dịch Atlante dùng 15 tiểu đoàn tấn công vào miền Nam Quân khu 5 (ở Trung Bộ) không liên quan đến tình thế mời này. Cùng lúc này ngày 26 tháng Giêng 1954, bộ đội của ông Giáp tấn công Tây Nguyên, chiếm được Kontum ngày 5 tháng 2 và tiến đến tận đường quốc lộ 19. Đáp lại Navarre phải điều động nhiều đơn vị ở miền Bắc ở đồng bằng Bắc Bộ tới Tây Nguyên. Ông tiếp tục tập trung lực lượng chuẩn bị cho cuộc hành quân Atlante, nhưng một lần nữa ông bị ông Giáp cản trở. Bộ đội của ông Giáp tiếp tục tấn công Lào. Ông phải chấm nhận tăng viện cho Luan Prabang bằng những lực lượng cơ động rút từ Việt Bắc. lực lượng cơ động của địch tiếp tục bị phấn tán.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM