Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười, 2019, 07:33:54 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 13 Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (197  (Đọc 29397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:34:29 AM »

Lịch sử quân sự Việt Nam - tập 13
Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2000)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm xuất bản: 2014
Người số hóa: macbupda

BAN CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

                        - Thiếu tướng, PGS. TS. VŨ QUANG ĐẠO
                        - Đại tá, PGS. TS. TRẦN NGỌC LONG
                        - Đại tá, PGS. TS. HỒ KHANG

CHỦ BIÊN

                        Thiếu tướng, PGS. TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG

TÁC GIẢ

                        - Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP
                        - Đại tá NGUYỄN TRỌNG DINH
                        - Đại tá TRẦN MINH CAO
                        - Đại tá VŨ TRONG HOAN
                        - Thượng tá TS. TRƯƠNG MAI HƯƠNG

HOÀN THIỆN BẢN THẢO

                        Thượng tá, TS. TRƯƠNG MAI HƯƠNG

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc, thực dân trên đất nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Hoạt động quân sự Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới, với những thuận lợi và khó khăn mới, trong bối cảnh khu vực và quốc tế hết sức phức tạp, đầy thử thách và biến động.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy kinh nghiệm đấu tranh giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, đặc biệt là kinh nghiệm của 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối cách mạng, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn đất nước và yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới, mà trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận an ninh nhân dân, kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, củng cố quốc phòng với xây dựng, phát triển kinh tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân đã được xây dựng ngày càng hùng mạnh. Tuy có biến động về quân số, tổ chức nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn không ngừng phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế và tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước.

Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 13 phản ánh hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam từ 1975 đến năm 2000. Đây là thời kỳ đất nước trong nhiều năm vừa có hòa bình vừa có chiến tranh. Dân tộc ta vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa phải chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, chống lại âm mưu, thủ đoạn đánh chiếm biển đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với hai nước bạn Lào và Campuchia, đồng thời phản ánh quá trình xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân trên những phương diện chủ yếu trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách, biến động này của đất nước.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 12 năm 2014
                                                                                         
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Ba, 2016, 09:09:10 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:36:45 AM »

MỞ ĐẦU

Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 1975-2000 là bước kế thừa và phát triển truyền thống quân sự dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, đặc biệt là truyền thống quân sự trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975) do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo trong thời kỳ mới: Tổ quốc độc lập, thống nhất, cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đây là giai đoạn hoạt động quân sự kế tiếp trong tiến trình hoạt động quân sự của dân tộc Việt Nam, kể từ buổi đầu dựng và giữ nước - thời Hùng Vương - An Dương Vương (thế kỷ II trước Công nguyên), cho đến thời hiện đại - xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (thế kỷ XX) thuộc nội dung của bộ Lịch sử quân sự Việt Nam (gồm 14 tập). Trong 25 năm (1975-2000), quân và dân ta thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế và khu vực có những chuyển biến hết sức sâu sắc và phức tạp.

Sau thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1975), đế quốc Mỹ điều chỉnh một bước về chiến lược quân sự toàn cầu, đẩy mạnh cuộc chạy đua vũ trang và chiến tranh lạnh, nhằm giành ưu thế quân sự đối đầu với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, chống lại các quốc gia độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển hòa bình của các nước, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, đế quốc Mỹ câu kết chặt chẽ với các thế lực phản động quốc tế, thực hiện chính sách thù địch, bao vây kinh tế, cấm vận, hòng làm suy yếu, giảm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đặc bệt là hai cuộc chiến tranh xâm lược diễn ra ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Việt Nam. Tiếp đó, các thế lực thù địch thực hiện kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt và thường xuyên đe dọa sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn.

Từ sau khi Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, cục diện thế gới có những biến đổi sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, làm cho tương quan lực lượng thay đổi, bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới. Trong bối cảnh đó, đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch tập trung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là trọng điểm. Chúng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, hòng phá hoại, gây mất ổn định công cuộc xây dựng đất nước hòa bình, với các thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng với đất nước, quân đội, nhân dân; kích động gây chia rẽ Đảng với lực lượng vũ trang nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh và cách mạng; kế thừa, vận dụng những kinh nghiệm quân sự của dân tộc trong hàng nghìn ănm đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhất là kinh nghiệm của 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), Đảng và Nhà nước ta đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, phân tích, đánh giá sát tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, trên cơ sở đó đề ra đường lối cách mạng, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Qua thực tiễn 25 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta từng bước xây dựng một hệ thống những luận điểm quân sự mang tính rất ưu việt, đến nay có nhiều điểm vẫn còn nguyên giá trị. Đó là “Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước”, xây dựng và không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là quân đội nhân dân theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp xây dựng kinh tế với quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận chiến tranh nhân dân và an ninh nhân dân, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc... Trên cơ sở những luận điểm chính trị, quân sự cơ bản đó, Đảng và Nhà nước ta đã hình thành một nền tảng tư tưởng, khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân và cả dân tộc để xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là một trong những nội dung cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và lâu dài của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chinh trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân là nòng cốt. Nều quốc phòng toàn dân được xây dựng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh, đủ sức ngăn chặn, làm thất bại âm mưu xâm lược và kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, góp phần xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tuy có những biến động về tổ chức biên chế, quân số và tác động của tình hình thế giới sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước ở Đông Âu tan rã, nhưng luôn vững vàng về chính trị, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Các lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng, trong đó quân đội nhân dân có trình độ chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại và lực lượng vũ trang quần chúng ngày càng đông đảo, rộng khắp, làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với hai nước Lào và Campuchia anh em; đồng thời tham gia xây dựng kinh tế đất nước.

Trong những năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng, quân và dân ta thực hiện xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ở từng địa phương trong thế phòng thủ chung của cả nước. đây là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, gồm xây dựng cả về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Những thành tựu bước đầu về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố đạt được đã góp phần tạo ra thế trận quốc phòng, an ninh ngày càng vững chắc ở từng địa phương trong thé trận chung của cả nước.

Trên cơ sở điều chỉnh thế bố trí phòng thủ cả nước, Bộ Quốc phòng tiến hành rút gọn và giảm bớt một mức đáng kể lực lượng thường trực, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, luôn kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu, vững vàng trong mọi tình huống, nỗ lực phấn đấu làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, góp phần cùng toàn dân làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch quốc tế, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong khuôn khổ tập sách này, chúng tôi cố gắng trình bày toàn bộ những hoạt động quân sự của quân và dân ta thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2010), trong đó chủ yếu về xây dựng tiềm lực quân sự, thế trận quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia và Lào; một số vấn đề củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là quân đội nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố cùng những hoạt động quân sự theo đường lối đổi mới của Đảng. Đồng thời, trình bày một số nét đặc sắc về quan điểm chỉ đạo vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Ba, 2016, 07:51:59 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:38:16 AM »

Chương I

ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT
CẢ NƯỚC XÂY DỰNG VẢ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ
TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
(1975-1979)

1. Khôi phục kinh tế miền Bắc, nhanh chóng ổn định tình hình miền Nam sau giải phóng, hoàn thành thống nhất đất nước

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 30 năm (1945-1975) đã giành thắng lợi trọn vẹn. Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới: Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bước sang thời kỳ mới, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng tiếp tục phát huy những thuận lợi, khắc phục khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, ra sức đẩy mạnh công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong cả nước. Tiến hành xây dựng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, đất nước ta có ba đặc điểm lớn:

Một là, cả nước hòa bình, độc lập và thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta có nền chuyên chính vô sản đã được thử thách, có khối liên minh công nông vững chắc làm nền tảng cho Mặt trận Dân tộc thống nhất và chính quyền cách mạng của nhân dân. Nhân dân ta có truyền thống cách mạng, thiết tha với độc lập và chủ nghĩa xã hội, lại rất cần cù, thông minh và sáng tạo trong lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước.

Hai là, cả nước trong quá trình tổ chức nền sản xuất xã hội, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở miền Bắc, các giai cấp bóc lột bị xóa bỏ, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập, tạo cơ sở xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Miền Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa kiểu mới, tuy đã có sự phát triển nhất định của mầm mống tư bản, song về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ. Nhìn chung, nền kinh tế nước ta phổ biến là sản xuất nhỏ, bị chiến tranh tàn phá nặng nề.

Ba là, nước ta tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trong hoàn cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thuận lợi. Cách mạng Lào và cách mạng Campuchia đã giành được thắng lợi, hệ thống xã hội chủ nghĩa và các lực lượng độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới ngày càng lớn mạnh, ba dòng thác cách mạng ngày càng phát triển, uy tín và vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc trong cơn khủng hoảng tiếp tục chạy đua vũ trang, đặt thế giới căng thẳng trong tình trạng chiến tranh lạnh. Tình hình khu vực Đông Nam Á và Đông Dương vẫn tiềm ẩn yếu tố bất ổn, khó lường.

Những đặc điểm trên đây ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Đảng và Nhà nước ta đã nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ; đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước để định ra đường lối cách mạng trong thời kỳ mới. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam được xác định: “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hết sức thuận lợi, từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ một nửa nước bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nước độc lập và thống nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lược, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang một nhiệm vụ chiến lược làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong phạm vi cả nước; nhưng cũng gặp không ít khó khăn và phức tạp. Trước mắt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tập trung khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh trên hai miền Nam - Bắc, nhất là phải nhanh chóng khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam sau giải phóng, thống nhất đất nước để tạo đà cho cả nước phát triển mọi mặt trong những năm tiếp theo.

Ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên hai miền Nam - Bắc đã diễn ra một cuộc phấn đấu mới của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tạo ra những biến đổi cách mạng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao… Quá trình khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh trên hai miền Nam - Bắc trong 2 năm 1975-1976 đã thu được những thành tựu đáng kể.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. t.36, tr.397.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Ba, 2016, 07:52:20 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:41:23 AM »

Miền Bắc đã trải qua 21 năm (1954-1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng chỉ gần 10 năm xây dựng tương đối hòa bình, còn đều trong tình trạng chiến tranh diễn ra ác liệt, phải hai lần đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân quy mô lớn của đế quốc Mỹ (2-1965 – 11-1968; 4-1972 – 1-1973). Miền Bắc xã hội chủ nghĩa được xây dựng và không ngừng củng cố vững mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội trờ thành hậu phương vững chắc của cách mạng cả nước. đó là thành quả to lớn của tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng, kiên cường của quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân miền Bắc anh hùng. Thế nhưng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ kéo dài, trong đó tập trung cả hai lần là 5 năm, hết sức ác liệt “đã phá hủy gần hết những cái mà nhân dân đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm và làm đảo lộn cả nền quản lý kinh tế”(1).

Hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn đều bị chiến tranh tàn phá, trong đó 12 thị xã, 51 thị trấn bị phá hủy hoàn toàn; 4.000 trong tổng số 5.788 xã bị đánh phá, trong đó 20 xã bị phá hủy hoàn toàn. Phần lớn các khu công nghiệp bị chiến tranh tàn phá, nhiều khu bị đánh đi đánh lại nhiều lần với mức độ hủy diệt. Tất cả các nhà máy điện đều bị đánh hư hỏng, 5 triệu mét vuông nhà ở (chưa kể số nhà ở vùng nông thôn) bị bom đạn kẻ thù phá hủy. Tất cả các tuyến đường sắt, đường bộ, 100% cầu, toàn bộ hệ thống bến cảng, đường biển, đường sông và kho tàng đều bị bắn phá. Đế quốc Mỹ đã gây tổn thất cho 1.600 công trình thủy lợi, hầu hết các nông trường và hàng trăm nghìn hécta ruộng vườn bị đánh phá, hơn 40.000 trâu bò bị bom đạn giết hại. Chúng đã đánh phá 3.000 trường học, 350 bệnh viên, trong đó có 10 bệnh viện bị san bằng(2).

Trước tình hình đó, nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế của miền Bắc hết sức nặng nề, phải kéo dài nhiều năm. Ngay sau khi Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết (27-1-1973), toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã khẩn trương khôi phục nền kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh phá hoại do không quân và hải quân của đế quốc Mỹ gây ra. Trên miền Bắc, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu rất to lớn.

Trên mặt trận nông nghiệp, trong năm 1975, miền Bắc củng cố và xây dựng 115 nông trường, gồm 102.700 hécta đất nông nghiệp, trong đó có 22.000 hécta đất canh tác, 23.900 hécta đất trồng cây lâu năm, thu hút 92.000 công nhân viên chức tham gia lao động sản xuất. Trong thực hiện kế hoạch nhà nước sáu tháng cuối năm 1975 và sáu tháng đầu năm 1976, các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp miền Bắc đã đạt được thành tựu quan trọng. mặc dù thời tiết rất khắc nghiệt, lũ lụt lớn luôn tàn phá, miền Bắc vẫn đạt kết quả khá tốt trong vụ đông xuân 1975-1976. Tổng diện tích trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp năm 1976 tăng hơn năm 1975. Hệ thống công trình thủy nông được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh với số lượng trong sáu tháng đầu năm 1976 tăng gấp ba lần năm 1975. Nhiều công trình, nhà máy được xây dựng, mở rộng. Trong một số xí nghiệp đã bắt đầu có sự chuyển biến về quản lý lao động, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn. Đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật được đào tạo tăng nhanh. Năm 1975, cứ một vạn người lao động có 1.040 lao động kỹ thuật, trong đó gồm 600 công nhân kỹ thuật, 260 cán bộ trung cấp, 120 cán bộ đại học và trên đại học. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật được chú trọng từng bước phát triển mạnh, tạo sự chuyển biến sâu sắc, toàn diện trên nhiều mặt với nội dung lành mạnh, có tác dụng động viên tinh thần quần chúng đấu tranh và tích cực sản xuất, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, góp phần xây dựng cuộc sống mới, con người mới.

Sau một thời gian cải tạo và xây dựng, đến giữa năm 1976, miền Bắc đã bước đầu kiến lập được một hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa và những cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, với một nhà nước chuyên chính vô sản được củng cố với hệ tư tưởng và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được đặt trên những nền móng vững chắc, đem lại sự thay đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở bảo đảm cho miền Bắc không ngừng phát huy vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng cả nước, góp phần nhanh chóng hoàn thành thống nhất đất nước.

Trong khi tập trung khôi phục, phát triển kinh tế, miền Bắc tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời ra sức làm tròn nhiệm vụ là hậu phương lớn đối với các vùng mới giải phóng ở miền Nam. Miền Bắc đã huy động một khối lượng lớn vật chất và điều động nhiều cán bộ của Đảng, Nhà nước, quân đội, công an, các đoàn thể quần chúng, trong đó có hàng vạn cán bộ, công nhân kỹ thuật, tăng cường cho các cơ quan, đơn vị, địa phương; các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế… góp phần tăng cường lực lượng làm nhiệm vụ tiếp quản các vùng mới giải phóng, nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện tốt những nhiệm vụ cấp bách trước mắt, làm chuyển biến sâu sắc tình hình cách mạng miền Nam sau đại thắng mùa Xuân năm 1975.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.498.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:42:02 AM »

Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, cơ đồ chủ nghĩa thực dân kiểu mới cùng bộ máy ngụy quyền tay sai ở trung ương bị quân và dân ta đánh sụp đổ, cơ sở ngụy quân, ngụy quyền tay sai ở nhiều địa phương, do chúng tốn nhiều tiền của và dày công xây dựng trong hơn 20 năm đã tan rã, nhưng vẫn tồn tại khoảng một triệu tàn quân. Chỉ có số ít tướng lĩnh, nhân viên ngụy quyền cao cấp chạy trốn ra nước ngoài, còn số đông ở lại các địa phương. Phần lớn sĩ quan, binh lính, nhân viên chính quyền Sài Gòn nhận thấy không có con đường nào khác là phải đứng về phía cách mạng, nên họ chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Thế nhưng không phải tất cả sĩ quan, binh lính và những nhân viên ngụy quân, ngụy quyền cũ đều ủng hộ chính quyền cách mạng. Một số lẩn trốn, nằm im chờ các thế lực thù địch nước ngoài giúp sức để âm mưu phá hoại chính quyền cách mạng. Một số lợi dụng những khó khăn của ta chưa được khắc phục, giải quyết sau chiến tranh để ngấm ngầm tuyên truyền, kích động thù hằn dân tộc, lôi kéo quần chúng nhẹ dạ, tìm cách móc nối dựa vào bọn phản động ở nước ngoài hỗ trợ để tìm cách gây rối ở các vùng mới giải phóng, hòng phá hoại những thành quả mà nhân dân và chính quyền cách mạng vừa giành được, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tìm mọi cách chống đối cách mạng và chờ cơ hội phục hồi chế độ cũ đã bị quân và dân ta đập tan và xóa bỏ hoàn toàn

Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) ra Nghị quyết về Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó nêu rõ: “Tiếp tục truy quét tàn quân địch, các lực lượng phản cách mạng hiện hành, sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn, phá hoại chống đối của chúng, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng”(1).

Chế độ thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ dựng lên ở miền Nam đã bị đánh đổ, nhưng hậu hậu quả của các tệ nạn xã hội như ma túy, lưu manh, trộm cắp…, để lại vẫn rất nặng nề. Nền kinh tế miền Nam được Mỹ viện trợ(2) trong chừng mực đã có bước phát triển nhất định theo hướng tư bản chủ nghĩa, song vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, phát triển mất cân đối và lệ thuộc nhiều vào sự viện trợ từ bên ngoài. Việc dựa vào khoản viện trợ không hoàn lại hết sức to lớn đã làm cho nền kinh tế miền Nam những năm 1954-1975 lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ.

Nhờ có nguồn nhập khẩu máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu, công nghệ của nước ngoài, nền công nghiệp miền Nam có bước phát triển so với trước. Hàng chục xí nghiệp lớn được xây dựng, trong đó tập trung ở Biên Hòa. Tuy nhiên, vốn đầu tư vào công nghiệp không nhiều, lại phân tán, nên giá trị sản phẩm đạt được hàng năm không cao. Nông nghiệp vẫn là nền sản xuất nhỏ, lao động thủ công, năng suất thấp. Nhìn chung, dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ, ở miền Nam đã hình thành một cơ cấu kinh tế bị tư bản nước ngoài khống chế, lũng đoạn. Một số lĩnh vực trong nền kinh tế có phát triển, nhưng không cân đối, không phải dựa vào sức mình, mà dựa vào viện trợ nước ngoài. Có thể nói, kinh tế miền Nam vẫn là kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ, còn công nghiệp giữ vị trí thứ yếu và chỉ phát triển một số ngành không cơ bản, vốn ít và không đồng bộ.

Trong quá trình quân và dân ta lần lượt giải phóng các tỉnh, thành phố ở miền Nam, tiếp quản vùng mới giải phóng là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Từ giữa tháng 3-1957, khi quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi ở một số địa phương, thì tiếp quản vùng mới giải phóng là công việc thường xuyên do từng địa phương tiến hành trên cơ sở vận dụng chính sách Mười điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố năm 1973 (trước khi Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết). Đến ngày 1-4-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố chính sách Mười điểm đối với vùng giải phóng miền Nam.

Theo chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời, tại các vùng mới giải phóng, các ban tiếp quản của các địa phương triển khai tiếp nhận các cơ sở vật chất kỹ thuật (căn cứ quân sự, cơ sở sản xuất, kho tàng…), cơ sở kinh tế, văn hóa của chế độ cũ. Nhờ có ý thức trách nhiệm cao, công tác tiếp quản vùng mới giải phóng từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo đều được tiến hành khẩn trương, chu đáo và kết quả tiếp nhận của 40 tỉnh, thành phố ở miền Nam gần như nguyên vẹn. Chỉ có một số ít cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật bị hư hại, một phần do địch phá hoại trước khi chúng rút chạy, một phần do bom đạn hai bên tàn phá, phần khác do bọn xấu lợi dụng cướp phá lúc chiến tranh sắp kết thúc.

Trong khi tiến hành tiếp quản, tại những vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng được hình thành, ở các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, chính quyền cách mạng chính thức tuyên bố thành lập ngay sau khi giải phóng hoàn toàn. Đến những ngày đầu tháng 5-1975, hệ thống chính quyền cách mạng được hình thành từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, ấp và nằm quyền kiểm soát toàn bộ chủ quyền lãnh thổ đất liền cũng như vùng biển, hải đảo, thềm lục địa của miền Nam.

Thành phần của chính quyền cách mạng, do cơ quan chính quyền cấp trên chỉ định, hoặc tổ chức Đảng, đoàn thể cùng cấp cử ra. Tại các thành phố lớn, lúc đầu, chính quyền cách mạng duy trì chế độ quân quản, do đại diện quân nhân nắm giữ, thực hiện “quân sự hóa” trong các hoạt động xã hội. Ngày 7-5-1975, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, do Thượng tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch và Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Phó Chủ tịch ra mắt nhân dân. Tại các tỉnh, thành, ủy ban quân quản các cấp được thành lập làm nhiệm vụ quân quản vùng mới giải phóng. Tại các xã thôn, chính quyền cách mạng được thành lập dưới hình thức các ban tự quản. Những đơn vị làm nhiệm vụ quân quản đã phối hợp với các lực lượng khác, dựa vào nhân dân, nhanh chóng xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở, giữ gìn trật tự trị an; xây dựng lực lượng chính trị và quân sự địa phương, tổ chức quản huấn nhân viên, binh lính, cảnh sát của chế độ cũ, trấn áp các phần tử và tổ chức phản động; thu hồi, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự của địch; rà phá bom mìn, phục hồi sản xuất, góp phần ổn định đời sống nhân dân.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.400.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:43:03 AM »

Sau một thời gian hoạt động, tình hình chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội tương đối ổn định, đời sống của nhân dân trở lại bình thường, các ủy ban quân quản và ủy ban tự quản được thay thế bằng các ủy ban nhân dân cách mạng. Ngày 21-1-1976, Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định kết thúc nhiệm vụ bàn giao việc quản lý thành phố cho Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố, do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch. Tiếp đó, đến tháng 2-1976, ủy ban quân quản các tỉnh, thành miền Nam cũng kết thúc nhiệm vụ. Ủy ban nhân dân các địa phương đảm nhiệm chức năng quản lý điều hành xã hội.

Cùng với chính quyền cách mạng được xây dựng, các đoàn thể quần chúng cũng được thành lập và phát triển ở các vùng giải phóng. Tại những địa phương trước đây đã có các đoàn thể hoạt động bí mật, nay chuyển sang hoạt động công khai, được củng cố, mở rộng về tổ chức và thành phần đội ngũ cán bộ. Ở những nơi chưa có cơ sở cách mạng, sau ngày giải phóng, nhân dân ta nô nức gia nhập các đoàn thể cách mạng, tham gia các hoạt động xây dựng quê hương. Sau khi được thành lập, các đoàn thể quần chúng tự nguyên gia nhập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và nhanh chóng mở rộng, phát triển tới các cấp, các ngành trên toàn miền Nam.

Thực hiện chủ trương, chính sách của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền cách mạng các cấp và đoàn thể quần chúng đã đề ra nhiều biện pháp để nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, giữ vững và phát huy những thành tựu cách mạng vừa giành được; đồng thời tuyên truyền, giác ngộ những người từng làm việc dưới chế độ Mỹ - ngụy, ủng hộ chính quyền cách mạng, tham gia xây dựng cuộc sống mới. Vì quyền lợi dân tộc, ngay từ tháng 5-1975, chính quyền cách mạng các cấp đã kêu gọi tất cả những người làm việc trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền không phân biệt đối xử khi ra trình diện, hoặc đăng ký trình diện sẽ được tạo mọi điều kiện để họ tự giác thực hiện xây dựng lại cuộc sống. Đại bộ phận những người tham gia trong bộ máy ngụy quyền đã ra trình diện, trong số đó, phần lớn được bố trí trở lại làm việc theo ngành nghề, nghiệp vụ trước đây. Chỉ có một bộ phận nhỏ cố tình lẩn trốn, tìm cách chống lại nhân dân. Chính quyền cách mạng kiên trì thuyết phục họ, mặt khác kiên quyết truy tìm, trừng trị những kẻ ngoan cố lẩn trốn, chống phá cách mạng.

Ngày 28-1-1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố chính sách khoan hồng, độ lượng đối với những binh sĩ ngụy quân, nhân viên ngụy quyền và đảng viên các đảng phái phản động đã đăng ký trình diện và học tập cải tạo tốt. Tiếp đó, ngày 25-5-1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố toàn bộ chính sách đối với những người làm việc trong chính quyền, các đảng phái, quân đội và tổ chức chính trị chế độ cũ. Nội dung chính sách khẳng định những điều đã công bố trước đây; đồng thời bổ sung thêm những điều quy định mới về việc khôi phục quyền công dân đối với những người không phải diện ác ôn nguy hiểm đã học tập, cải tạo, hoặc hưởng chế độ quản thúc được cơ quan hoặc gia đình bảo lãnh. Những thành quả bước đầu này đã giúp cho nhiều sĩ quan và binh lính ngụy quân và gia đình thân nhân của họ tin tưởng vào cách mạng, góp phần giảm bớt khó khăn, phức tạp và tăng thêm uy tín của Đảng, Nhà nước ở các vùng mới giải phóng miền Nam.

Đối với những trường hợp xử lý theo pháp luật, họ phải cải tạo tập trung trong 3 năm. Dưới sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, chính quyền cách mạng các cấp đã tiến hành các biện pháp kiên quyết, hiệu quả, truy quét, trấn áp bọn phản cách mạng, đập tan âm mưu gây bạo loạn của chúng; đồng thời thực hiện chính sách cải tạo đối với tư sản mại bản đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường. Nhờ vậy, tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng mới giải phóng được giữ vững, mọi sinh hoạt của nhân dân nhanh chóng được ổn định.

Trong những năm chiến tranh, hàng triệu nhân dân đã bị địch dồn vào các “ấp chiến lược”, hoặc phải chạy trốn vào các thành phố không có việc làm, hàng chục vạn đồng bào bị địch cưỡng ép từ vùng này sang vùng khác. Sau ngày miền Nam được giải phóng, số dân trước đây bị địch dồn ép buộc phải rời bỏ làng xã, quê hương về Sài Gòn và các thành phố phía Nam rất đông. Họ lâm vào cảnh sống tha phương cơ cực. Trước cảnh sống bơ vơ, khổ cực của đồng bào từ các vùng di tản đến chống thành thị phồn hoa, không nhà, sống cảnh “màn trời, chiếu đất”, chính quyền cách mạng đã huy động các phương tiện vận tải đưa nhân dân trở về quê hương, tạo mọi điều kiện cho dân nhanh chóng ổn định nơi ở để họ tham gia sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Đến tháng 7-1976, Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố Sài Gòn đã giúp đỡ khoảng 50 vạn dân trở về quê cũ. Tại các vùng mới giải phóng, hàng chục vạn người bị thất nghiệp cùng hàng vạn nạn nhân của lối sống văn hóa dưới chế độ cũ được phục hồi nhân phẩm, giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống.

Nhằm từng bước giải quyết những người chưa có việc làm, chính quyền cách mạng tổ chức nhân dân, chủ yếu là ở thành thị, chuyển đến những vùng đất mới xây dựng kinh tế. Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn đã xây dựng kế hoạch đưa hơn một triệu người không trực tiếp lao động sản xuất đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Đến tháng 6-1976, Sài Gòn đã tổ chức gần 30 vạn dân đến các vùng kinh tế, ổn định nơi ở, lập 94 xã, trong đó có 82 xã ổn định về canh tác và thổ cư(1). Đảng và Nhà nước ta còn chủ trương đưa cả một bộ phận dân cư miền Bắc vào khai phá một số vùng đất ở miền Nam chưa được khai phá để canh tác. Đây là chủ trương đúng đắn nhằm phân bố lại lực lượng lao động sản xuất, tạo sự kết hợp giữa lao động và đất đai hợp lý. Sau hơn một năm, chúng ta đã đưa gần 1.300.000 người từ các nơi trong cả nước đến xây dựng các vùng kinh tế mới, khai hoang, phục hóa được gần một triệu hécta đất hoang đưa vào canh tác.

Cùng thời gian này, hàng vạn thanh niên ở nhiều nơi cũng tình nguyện vào các đội thanh niên xung phong làm nòng cốt giúp đỡ nhân dân nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt, góp phần khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả năng nề sau khi chiến tranh kết thúc.


(1) Xem Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 15.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:44:21 AM »

Một trong những nhiệm vụ quan trong sau ngày miền Nam giải phóng là chính quyền cách mạng đã thực hiện một loạt biện pháp nhằm khuyến khích sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, ổn định đời sống của nhân dân Toàn bộ tài sản của bọn phản động và tư sản mại bản, bọn cầm đầu các tổ chức ngụy quân, ngụy quyền và những phần tử chạy trốn ra nước ngoài bị tịch thu, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Ngày 10-9-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt nam ra tuyên bố về một số chính sách khôi phục và phát triển công thương nghiệp, bài trừ hành động lũng đoạn đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường của tư sản mại bản.

Ngày 25-9-1976, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Đây là một chính sách lớn của Nhà nước nhằm hướng dẫn và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đi dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa. Theo chủ trương đó, chính quyền cách mạng tuyên bố quốc hữu hóa ngân hàng, giải thể tất cả các nhân hàng tư nhân, tập trung toàn bộ tín dụng do Nhà nước nắm; xóa bỏ hẳn tiền tệ của chính quyền cũ, thay bằng đồng tiền mới của cách mạng (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể từ ngày 22-9-1975) lưu hành trên toàn miền Nam.

Cùng ngày 25-9, Hội đồng Chính phủ ra quyết định về chính sách xóa bỏ triệt để tình trạng chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam. Thực hiện chính sách đó, chính quyền cách mạng đã tuyên bố xóa bỏ chế độ bóc lột phong kiến, tiến hành điều chỉnh lại ruộng đất hợp lý trong nông dân, phân chia ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước cho nông dân thiếu ruộng và các tập đoàn sản xuất nông nghiệp mới thành lập. Bước đầu, chính quyền cách mạng nắm giữ, quản lý chặt chẽ vật tư (xăng dầu, sắt thép, phân bón…), giữ độc quyền các hệ thống đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không.

Trong khôi phục sản xuất nông nghiệp, hầu hết các vùng nông thôn miền Nam đều dấy lên phong trào quần chúng tháo gỡ bom mìn, tích cực khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ. Lúc này, nông dân ở các địa phương được tổ chức thành các tổ đổi công, vần công; một số nơi tổ chức được các tập đoàn sản xuất. Phong trào khôi phục sản xuất ở một số vùng mới giải phóng đạt được một số thành tựu đáng kể. Tại thành phố Sài Gòn, trong năm 1976, nhân dân tổ chức được 200 tổ đổi công, vần công, 500 tập đoàn sản xuất, thu hút 9.000 hộ gia đình tham gia với 18.000 lao động chính, 20.000 lao động phụ, khai phá được 10.000 hécta, đưa diện tích gieo trồng tăng 17.000 hécta so với năm 1975. Ở tỉnh Kon Tum, chỉ vài tháng sau khi giải phóng, nhân dân khai hoang, phục được hơn 7.000 hécta, đào đắp gần 300 đập; nạo vét, tu sửa hơn 100 km mương máng. Tại tỉnh Đắc Lắc, nhân dân khôi phục tăng diện tích trồng trọt lên một phần ba lần so với trước năm 1975. Sau hơn hai tháng giải phóng, tỉnh Quảng Đà cũng khai phá được hơn 2.000 hécta, góp phần tăng diện tích sản xuất nông nghiệp. Nhờ đẩy mạnh khai hoang, phục hóa và tăng cường thâm canh sản xuất, sản lượng lương thực miền Nam đã đạt được cao hơn những năm chiến tranh. Thành quả bước đầu sau năm đầu giải phóng, chứng tỏ “từ chỗ miền Nam có năm nhập tới 800.000 tấn lương thực đã có thể vươn lên bảo đảm lương thực, đủ ăn cho số dân đã tăng lên 24 triệu người”(1).

Các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của Nhà nước và tư nhân được tạo mọi điều kiện thuận lợi về nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, nhanh chóng hoạt động trở lại. Đến năm 1976, tại Sài Gòn có gần 400 xí nghiệp lớn nhỏ trở lại sản xuất bình thường. Các ngành sản xuất khác cũng từng bước hoạt động trở lại.

Các ngành văn hóa, giáo dục, y tế và xã hội được tập trung khôi phục hoạt động trở lại. Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được sử dụng tuyên truyền cổ động kịp thời cho nhiệm vụ xây dựng chính quyền cách mạng, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống. Những tàn dư của văn hóa phản động, đồi trụy bị lên án; các tệ nạn mê tín dị đoan, gái điếm, nghiện ma túy bị nghiêm cấm, bài trừ. Những hoạt động văn hóa lành mạng từng bước được đẩy mạnh, mở rộng.

Ngành giáo dục phổ thông, giáo dục và đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp được chấn chỉnh, tổ chức lại phù hợp và bước vào năm học mới theo chương trình thống nhất. Hệ thống trường tư trước đây bị xóa bỏ, chuyển thành trường công của Nhà nước. Các trường phổ thông cấp 1, 2, 3 trên toàn miền Nam lần lượt mở cửa cho học sinh học tập. Phong trào bình dân học vụ được phát động, các lớp bổ túc văn hóa được mở ở nhiều nơi, góp phần xóa nạn mù chữ. Tính đến tháng 4-1976, riêng thành phố Sài Gòn có hơn 80.000 người tham gia học văn hóa đã thoát nạn mù chữ.

Công tác y tế cộng đồng được chấn chỉnh và đẩy mạnh hoạt động. Nhiều đội y tế lưu động được tổ chức xuống các thôn, xã khám chữa bệnh, tiêm phòng dịch cho nhân dân và phát động dân tổng vệ sinh nơi ở đề phòng dịch bệnh phát sinh. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, thể dục thể thao được phát động thu hút đông đảo quần chúng tham gia, góp phần ngăn chặn kịp thời các ổ dịch bệnh, nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

Như vậy, từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, trên đất nước ta đã diễn ra một cuộc phấn đấu mới rất khẩn trương của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh và tạo ra những biến đổi cách mạng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc thực hiện kế hoạch nhà nước trong những năm 1975-1976 về khôi phục kinh tế phát triển văn hóa, xã hội sau chiến tranh đã thu được những thành tựu đáng phấn khởi trên hai miền Nam - Bắc, song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Nhiệm vụ khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại còn phải thực hiện nhiều năm. Thế nhưng, kết quả bước đầu này đã góp phần quan trọng sớm ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội miền Nam, tạo niềm tiên cho nhân dân vùng mới giải phóng, cũng như toàn miền nam và cả nước đối với chính quyền cách mạng; đồng thời là cơ sở quan trọng để sớm hoàn thành thống nhất đất nước về mọi mặt.


(1) Tạp chí Quân đội nhân dân (nay là Tạp chí Quốc phòng toàn dân), số 7-1976, tr. 59.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:48:46 AM »

*
*   *

Từ buổi đầu dựng nước thời Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ đấu tranh rất oanh liệt để giữ gìn độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Hoàn thành thống nhất đất nước, trước hết là thống nhất về mặt Nhà nước, đã được đặt ra ngay sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nỗ lực phấn đấu để giành cho được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chấm dứt tình trạng chia cắt hai miền Nam - Bắc. Với thắng lợi to lớn “đánh cho Mỹ cút” (29-3-1973), tiến lên “đánh cho ngụy nhào” (30-4-1975), âm mưu và thủ đoạn chia cắt lâu dài đất nước của Mỹ - ngụy đã bị đánh bại hoàn toàn. Thực tế, từ ngày 30-4-1975, Tổ quốc Việt Nam đã được thống nhất về mặt lãnh thổ từ Móng Cái đến Cà Mau.

Song, do đế quốc Mỹ và tay sai cố tình chia cắt lâu dài đất nước ta thành hai miền Nam - Bắc trong hơn 30 năm, nên mỗi miền tồn tại một chế độ xã hội khác nhau. Quốc hội và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là kết quả cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu của nhân dân miền Bắc, còn ở miền Nam, thay thế chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bị đánh đổ là những ủy ban cách mạng, sau đó là những ủy ban nhân dân cách mạng lại không do nhân dân miền Nam quyết định thông qua phổ thông đầu phiếu. Chính vì thế, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, một trong những nguyện vọng tha thiết nhất; đồng thời cũng là tình cảm thiêng liêng nhất của nhân dân cả nước là hai miền Nam - Bắc sớm được sum họp trong đại gia đình, có Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ đại diện cho quyền lợi của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nghĩa là lúc này, nhân dân cả nước mong muốn việc thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ đã được khẳng định cùng với việc đất nước giành được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ phải được khẳng định rõ ràng về mặt pháp lý, được thể chế hóa về mặt chính trị, tức là thống nhất về mặt Nhà nước. Sự thống nhất đất nước Việt Nam không phải thực hiện bằng cách áp đặt, mà theo sự lựa chọn của nhân dân hai miền Nam - Bắc thông qua sử dụng quyền dân chủ, quyền làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh tương lai của dân tộc.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân cả nước, đồng thời cũng phù hợp với thực tế lịch sử của dân tộc “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh trước mắt phải hoàn thành nhiệm vụ thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy định khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam… Thống nhất đất nước tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, văn hóa và củng cố quốc phòng. Thống nhất đất nước càng tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, thống nhất càng sớm thì càng phát huy sức mạnh toàn diện của Tổ quốc(1).

 Về nhiệm vụ cụ thể, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: “Ngay từ bây giờ, Chính phủ Trung ương và từng ngành ở trung ương phải quản lý công việc của cả nước, tổ chức tốt việc giao lưu kinh tế giữa hai nước… Chuẩn bị kế hoạch hoàn thành thống nhất nước nhà, chuẩn bị tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của cả nước và Quốc hội đó sẽ cử ra Thành phố trung ương của nước Việt Nam thống nhất”(2). Từ đây, mọi công việc tập trung chuẩn bị hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước được khẩn trương triển khai.

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập, trên thực tế hai miền Nam - Bắc đã thống nhất và giống nhau về nhiều mặt. Thế nhưng, giữa hai miền vẫn còn những điểm khác nhau cần phải xóa bỏ từng bước trong quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói “thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước là khâu then chốt, nó tạo điều kiện để hoàn thành thống nhất nước nhà về các mặt khác một cách thuận lợi. Thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước tức là chính thức hóa sự nghiệp thống nhất Tổ quốc”(3). Thực hiện nhiệm vụ thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bàn bạc và thống nhất với các cơ quan có trách nhiệm ở miền Nam chương trình hành động theo ba điểm:

1- Tổ chức Hội nghị hiệp thương chính trị giữa đại biểu hai miền Nam - Bắc nhằm thống nhất nội dung thống nhất nước nhà, bước đi và biện pháp thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước.

2- Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất trên cả nước cùng một ngày trong thời gian nửa đầu năm 1976.

3- Triệu tập kỳ họp đầu tiên Quốc hội chung để bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và quyết định một số vấn đề quan trọng khác.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.395.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.395.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:49:36 AM »

Thực hiện chương trình nêu trên, ngày 27-10-1975, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa họp thảo luận và thông qua đề án về thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước và cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự Hội nghị hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam.

Trong khi đó, ở miền Nam, trong hai ngày 5 và 6-11-1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn của Chính phủ và đại diện các nhân sĩ, trí thức yêu nước, dân chủ họp Hội nghị liên tục (mở rộng) tại thành phố Sài Gòn. Hội nghị tập trung thảo luận dân chủ, thống nhất đất nước, trước hết là về mặt Nhà nước. Hội nghị đề xuất những nguyên tắc, biện pháp tiến hành hiệp thương giữa hai miền Nam - Bắc và cử đoàn đại biểu miền Nam tham dự Hội nghị hiệp thương với đoàn đại biểu miền Bắc.

Thực hiện chủ trương thống nhất đất nước, từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước giữa hai đoàn đại biểu đại diện cho hai miền Nam - Bắc họp tại thành phố Sài Gòn. Đoàn đại biểu miền Bắc gồm 25 người, do đồng chí Trường chinh, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu miền Nam gồm 25 đại biểu, do đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Đảng bộ miền Nam, đại diện Đảng trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Trưởng đoàn. Hội nghị thảo luận một cách dân chủ, sôi nổi, thẳng thắn, đi đến thống nhất hoàn toàn với tất cả các vấn đề về chủ trương, bước đi và biện pháp thực hiện thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, thể hiện ý chí sắt đá và nguyện vọng tha thiết của toàn thể các dân tộc Việt Nam.

Hội nghị khẳng định: “Nước Việt Nam ta, dân tộc Việt Nam ta vốn thống nhất. Từ đời Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, dân tộc Việt Nam ta đã trải qua những thời kỳ đấu tranh oanh liệt để giữ gìn độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc”. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình cách mạng cả nước sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hội nghị nhận định: “Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước cùng làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần hoàn thành thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất trọn vẹn và vững chắc nhất… Trong toàn bộ quá trình hoàn thành thống nhất Tổ quốc, khâu chính là thực hiện sự thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Đó là điều kiện cơ bản để đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Về biện pháp và thời gian tiến hành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, Hội nghị nhấn mạnh: “Cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và chủ nghĩa xã hội, Quốc hội đó sẽ xác định thể chế nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất.

Cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành trong nửa đầu năm 1976, theo đúng nguyên tắc dân chủ, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

Hội nghị hiệp thương chính trị đề ra chủ trương, nghị quyết và được nhất trí thông qua, là thắng lợi lớn trên con đường tiến lên hoàn thành thống nhất đất nước. Hội nghị biểu thị sự nhất trí cao về chủ trương, phương hướng và đề ra những biện pháp cụ thể sớm thống nhất đất nước, nhằm phát huy sức mạnh của cả dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước nhanh chóng được hai miền Nam - Bắc triển khai thực hiện. Từ ngày 20 đến 22-2-1975, tại Sài Gòn, Hội nghị đại biển nhân dân miền Nam được triệu tập để nghe báo cáo và phê chuẩn kết quả Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc. Tiếp đó, từ ngày 22 đến ngày 27-12, kỳ họp thứ hai (Quốc hội khóa V) đã phê chuẩn kết quả của Hội nghị hiệp thương thống nhất Tổ quốc.

Tại kỳ họp này, Quốc hội ra nghị quyết về bãi bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bãi bỏ những quy định trong Hiến pháp về cấp khu tự trị và quyết định hợp nhất các tỉnh: Cao Bằng và Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng, Tuyên Quang và Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên, Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình, Nam Hà và Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và huyện Phù Yên) thành tỉnh Hoàng Liên Sơn, sáp nhập hai huyện Bắc Yên và Phù Yên (tỉnh Nghĩa Lộ cũ) vào tỉnh Sơn La.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 07:50:58 AM »

Đối với miền Nam, tháng 2-1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất các tỉnh ở miền Nam. Theo nghị định này, ở miền Nam có thành phố Sài Gòn và 20 tỉnh gồm: Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế), Quảng Nam - Đà Nẵng (Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng), Nghĩa Bình (Quảng Ngãi, Bình Định), Phú Khánh (Phú Yên, Khánh Hòa), Gia Lai - Kon Tum (Gia Lai, Kon Tum), Đắk Lắk (Đắk Lắk, Quảng Đức), Thuận Hải (Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy), Lâm Đồng (Tuyên Đức, Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt), Đồng Nai (Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa), Sông Bé (Thủ Dầu Một, Bình Phước), Long An (Long An, Kiến Tường), Tiền Giang (Mỹ Tho, Gò Công, thành phố Mỹ Tho), Cửu Long (Vĩnh Long, Trà Vinh), Hậu Giang (Cần Thơ, Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ), An Giang (gồm một số huyện của tỉnh Long Châu Hà, hai huyện của tỉnh Long Châu Tiền, một huyện của tỉnh Sa Đéc và toàn bộ tỉnh An Giang cũ), Minh Hải (Cà Mau, Bạc Liêu), Tây Ninh, Bến Tre, Kiên Giang, Đồng Tháp.

Thực hiện nghị quyết của Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước, từ cuối năm 1975 và những tháng đầu năm 1976, Đảng và Nhà nước ta đã khẩn trương đẩy mạnh các hoạt động cần thiết để sớm hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tiến hành cuộc Tổng tuyển cử được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước. Tất cả các đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được huy động phục vụ cuộc Tổng tuyển cử và coi đây là công tác trọng tâm của mình. Các cấp, các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở miền Nam, lần đầu tiên sau 30 năm nhân dân được hưởng chế độ bầu cử mới đã tổ chức các lớp tập huấn về công tác bầu cử dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban bầu cử Quốc hội toàn quốc.

Ngày 25-4-1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trong cả nước. Đây là lần thứ hai cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trong cả nước (sau lần đầu tổ chức ngày 6-1-1946). Đây thật sự là biểu thị hùng hồn về ý chí của toàn dân tộc đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Hơn 23 triệu cử tri, chiếm 98,8% tổng số cử tri cả nước đã đi bầu và bầu 492 đại biểu. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 thể hiện ý chí của toàn dân đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa. Trước mắt là đẩy mạnh hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước.

Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, với 492 đại biểu, được gọi là Quốc hội khóa VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa từ khóa I đến khóa V, kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, họp kỳ thứ nhất ở Hà Nội. Đây là kỳ họp Quốc hội bàn về thống nhất đất nước Việt Nam về mặt Nhà nước.

Tại kỳ họp này, Quốc hội thông qua chính sách đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam thống nhất, về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Quốc hội nêu rõ: “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

Quốc hội long trọng tuyên bố thống nhất nước nhà và quyết định đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Hà Nội là Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất, thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc hội bầu các cơ quan cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, trong đó Chủ tịch nước là Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội là Trường Chinh, Thủ tướng Chính phủ là Phạm Văn Đồng. ở các địa phương trong cả nước, Quốc hội quyết định tổ chức ba cấp chính quyền: cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương. Ở ba cấp chính quyền này có hội đồng nhân dân được bầu theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín và ban chấp hành của Hội đồng nhân dân tức ủy ban nhân dân.

Quốc hội còn bầu Ủy ban dự thảo Hiến pháp và quyết định trong khi chưa có Hiến pháp mới thì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa(2). Kỳ họp thứ nhất (Quốc hội khóa VI) thành công, công việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước Việt Nam đã hoàn thành. Đây là cơ sở quan trọng tạo tiền đề để tiếp tục thống nhất đất nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn quốc.


(1) Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay, Sđd, tr.22.
(2) Ngày 18-12-1980, Quốc hội chính thức thông qua Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM