Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2019, 10:43:36 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khát vọng đồng bằng  (Đọc 22508 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #60 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 07:18:17 AM »


Trên con đường hành trình dài hơn năm trăm kilômét từ Hà Nội đi Quảng Bình, nếu đi xe đạp thong thả cũng đến mười lăm hay mười sáu ngày là cùng. Nhưng trong chiến tranh phá hoại này của Mỹ, chúng tôi phải đi hết hai mươi ngày đêm. Có những đêm, đoàn tôi phải đi thâu đêm suốt sáng mới tìm được cơ sở để dừng nghỉ ngơi. Có đoạn đường phải đi vòng để tránh địch oanh tạc, không đi được xe đạp, chúng tôi lại phải dắt xe đi bộ. Trong hai mươi ngày đêm, chúng tôi vừa đi vừa nghiên cứu rút ra được kết luận quy luật đánh phá của các loại máy bay Mỹ oanh tạc phá hoại hệ thống giao thông của ta, chúng tôi cũng thấy được quân dân ta chiến đấu anh dũng chống trả máy bay địch để bảo vệ và khắc phục giao thông được thông suốt như thế nào. Cảm động nhất là thấy được tinh thần trụ bám của nhân dân ở hai ven đường số 1. Nhà nào cũng có hầm từ trong nhà, có giao thông hào xuyên ra vườn, chỗ công cộng có hầm chữ A và hố cá nhân đào tròn đặt cống bi xuống và có nắp. Nhân dân Quân khu 4 đã nêu khẩu hiệu: "Nhà thì che nắng, che mưa; hầm thì che xương, che thịt”. Qua đó chúng tôi thấy người dân Khu 4 đề phòng tránh địch oanh tạc đánh phá rất tốt. Họ không ngần ngại tháo dỡ cả những ngôi nhà làm bằng gỗ gụ, gỗ lim để làm hầm chữ A. Các cánh cửa thì dân dành để làm ván chống lầy cho xe pháo của quân đội ta vượt đường. Có nhiều cái chòi trên cây cao, mặc cho bom đạn giặc bắn phá ác liệt, các cô dân quân vẫn rất bình tĩnh ngồi đếm từng quả bom địch và ghi rõ quả nào nổ, quả nào chưa nổ. Có những bà mẹ ngồi trong hầm thò cái mẹt bán xôi ngay chân dốc đèo Ngang, mặc dù bom đạn địch nổ ngay dưới chân đèo, ngay xung quanh hầm của mẹ. Chúng tôi thân mật hỏi chuyện mẹ, mẹ thản nhiên nói: "Mẹ không ngôi đây bán hàng thì người đi đường lấy gì mà ăn, nó ném bom mặc kệ nó". Câu nói của mẹ đã làm tôi nhớ lại câu nói bất hủ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Việt Nam ra ngõ cũng gặp anh hùng".

Vào đến Tỉnh đội Quảng Bình, tranh thủ lúc chờ làm việc với đồng chí Sự - Trung tá Tỉnh đội trưởng, chúng tôi đi quan sát chỗ ăn, chỗ ở, nơi làm việc của tỉnh đội, các anh đã triển khai căn cứ của đơn vị ngay cạnh thị xã Đồng Hới về phía tây nam trên một đồi tranh thoai thoải, vừa rộng, vừa dài chỉ có cỏ tranh và lưa thưa vài khóm chuối, vài bụi tre, người từ xa đến cũng thấy bất ngờ. Trong cơ quan được phân tán nhỏ từng bộ phận, chỉ có từ hai đến ba người. Mỗi tổ đều có hầm chữ A và hầm bò để trú ẩn và làm việc. Đây là loại hầm tránh bom đạn oanh tạc của bọn giặc Mỹ rất tốt. Loại hầm chữ A hay còn gọi là hầm kèo là loại hầm tốt nhất có sức chống đổ mạnh nhất.

Đường nối liền giữa các tổ với các tổ, các tổ với từng bộ phận trong cơ quan là những đường giao thông hào, bên trên có nắp và được ngụy trang kín đáo nhằm tránh những tổn thất về người, bảo vệ an ninh cơ quan trong mọi tình huống dù cho kẻ địch có sáu tai mười hai con mắt cũng khó mà phát hiện ra được. Sau này, chúng tôi được biết cơ quan Tỉnh đội Quảng Bình vẫn bám trụ ở đây trong suốt gần mười năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ từ năm 1965 đến năm 1973 mà địch vẫn không phát hiện được. Ngay cả khi chúng dùng không quân thả bom bắn phá khu vực này mà cũng không thể gây thiệt hại gì cho ta.

Trong mấy ngày chúng tôi làm việc với cơ quan quân sự tỉnh Quảng Bình, trên đường đến cơ sở làm việc phải đi qua cái cầu bắc trên giao thông hào sâu ngập đầu người. Không may cho tôi xe đạp bị trượt bánh, người tôi lăn xuống giao thông hào, tôi bị thương trật bánh chè cánh tay trái. Các đồng chí quân y băng bó đã dùng cái kẹp sắt kẹp vào và treo tay trái lên cổ cho tôi để tôi vẫn có thể tiếp tục xuống các cơ sở nghiên cứu tình hình. Mặc cho cánh tay đau nhức, càng đi càng giật lên tận thái dương, lên đầu, nhưng tôi vẫn tiếp tục đi vì không thể bỏ qua cuộc xâm nhập thực tế quan trọng này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #61 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 04:48:59 PM »


Được sự nhất trí của đồng chí Sự - Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Bình, chúng tôi vượt đò Quán Hầu, xuống huyện Lệ Thủy đi sâu vào nghiên cứu trong các xã ven biển như xã Ngư Thủy, xã Hưng Thủy, xã Xuân Thủy... ở các xã này, việc nghiên cứu của chúng tôi càng thú vị hơn vì chúng tôi nghiên cứu được cách đánh máy bay tầm thấp, cách đánh tàu chiến, rồi cách phân tán lực lượng để phòng tránh và bảo đảm giao thông, tất cả đều là những kinh nghiệm mới, rất sinh động và bổ ích.

Tại xã Hương Thủy, các đồng chí lãnh đạo trong ban chỉ huy xã kể lại cho chúng tôi nghe chuyện về tấm gương một đồng chí nữ xã đội phó với hai đồng chí nữ du kích, vũ khí trong tay chỉ là ba khẩu súng trường nhưng các đồng chí vẫn kiên trì phục kích tại mép nước ven biển bắn rơi một máy bay F4 của hải quân Mỹ. Tin thắng trận của các đồng chí đã tới Bác Hồ. Bác rất phấn khởi và gửi tặng các đồng chí một chiếc đồng hồ. Rồi ban lãnh đạo chỉ huy dẫn chúng tôi đi xem những hầm chữ A nằm sâu dưới các đụn cát cao. Ban ngày, các cụ già và trẻ em ẩn nấp, sinh hoạt trong đó. Người lớn phân tán ra đồng để tăng gia sản xuất. Chiều chiều, mỗi khi ông mặt trời dần dần đi ngủ, màn đêm bắt đầu buông xuống thì ở đây cuộc sống lại được hồi sinh bên những đụn cát trắng ven biển. Người người, nhà nhà xuất hiện đông vui nhộn nhịp, không khí đầm ấm, hạnh phúc bao trùm lên mỗi gia đình nhỏ bé và cả khối dân cư đông đúc như không hề có cảnh chiến tranh tang tóc nào xảy ra với họ.

Ở xã Ngư Thủy, các đồng chí cho chúng tôi đi tham quan trận địa pháo binh bắn tàu chiến địch. Ở đây, một đơn vị toàn là nữ, gồm các nữ du kích được lựa chọn để thành lập một đại đội pháo bờ biển của tỉnh Quảng Bình. Các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí sáng tạo tiêu diệt nhiều tàu chiến của Mỹ, lập công xuất sắc. Sau này đơn vị của các đồng chí được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến xã Xuân Thủy và một số xã khác nữa, chúng tôi đi nghiên cứu sâu về nội dung phòng không. Các đơn vị đều thành lập các đài quan sát, chòi quan sát, những người làm nhiệm vụ ở đây là theo dõi máy bay địch, tàu chiến địch. Có trách nhiệm thông báo, báo động, có kế hoạch sơ tán, phân tán người và của. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tinh thần đánh trả địch ngay từ phút đầu khi chúng tới. Tiêu diệt địch ngay từ loạt đạn đầu. Lên phương án kế hoạch điều động người và phương tiện để khắc phục hậu quả như chống cháy nổ, chống cứu sập hầm, cấp cứu người bị thương. Rồi kế hoạch bảo đảm giao thông được thông suốt. Những hệ thống công sự, hầm hào liên hoàn, sẵn sàng chiến đấu.

Ba tháng nghiên cứu thực tế ở Quảng Bình đã trôi qua, chúng tôi đã có một số tài liệu được biên soạn thành chương trình giảng dạy về phòng không nhân dân. Trong những ngày tháng đó, tôi không thể nào quên được một sự may mắn đã đến với tôi khi tôi đến xã Xuân Thủy, tôi gặp một cụ bà, thấy tôi đeo cánh tay trái lên cổ. Sau một hồi hỏi han nguyên nhân, cụ nói với tôi:

- Chú cứ để vậy sẽ thành tàn tật suốt đời đó! Chú có ráng chịu đau được không? Nếu chịu được tôi sẽ chữa cho chú khỏi ngay bây giờ.

Tôi phấn khởi lắm, vội vàng trả lời luôn:

- Thưa tía! Ngày xưa Quan Công bị trúng tên độc, Hoa Đà đã chữa cho ông ta bằng cách cạo xương soàn soạt vào chỗ đau của ông mà ông vẫn bình tĩnh ngồi đánh cờ. Con cũng sẽ chịu đau được, tía cứ chữa cho con!

Rồi cụ nhận lời, bảo tôi nằm sấp xuống tấm phản kê ở giữa nhà bắt tay trái tôi vòng qua ngực chéo về phía bên phải, dùng một chân dận lên lưng, hai tay cụ kéo mạnh tay đau của tôi. Cụ dặn tôi, hễ nghe thấy tiếng kêu cộc là được, lúc đó khớp đã trở về trạng thái cũ. Vừa dặn tôi, cụ vừa kéo rất mạnh tay tôi, bỗng tiếng kêu cộc lên khá to, tôi bất thần bị đau nhói đến nỗi chảy cả nước mắt mà không dám kêu đau, cố sức gắng chịu. Thấy vậy, bà cụ phấn khởi reo to:

Thành công rồi! Chú thấy thế nào?

- Thưa tía, con đau lắm! Nhưng dễ chịu hơn rồi!

Tôi thấy người thoải mái, tay trái đã vào khớp, chỉ cần xoa thêm thuốc chỗ đau đó đã dần dần khỏi. Tôi thật sự xúc động cảm ơn bà cụ đã chữa lành tay cho tôi. Đó là kỷ niệm đáng ghi nhớ của tôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #62 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 04:49:42 PM »


Chúng tôi tạm biệt Quảng Bình, cùng nhau rong ruổi với ba chiếc xe đạp ngày đêm để trở lại Học viện ở chân núi Tam Đảo, nơi đó đang chờ đợi chúng tôi về công tác, tiếp tục lên lớp giảng bài, phổ biến kinh nghiệm thực tế mà chúng tôi thu được trong quá trình thực địa ở Quảng Bình.

Lần lên lớp giảng bài phòng không nhân dân này, tôi đã có kinh nghiệm thực tế của tuyến lửa anh hùng Quân khu 4, chủ yếu là tỉnh Quảng Bình, nơi có phong trào chiến tranh nhân dân, đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nơi chiến đấu có nhiều sáng tạo đạt nhiều thắng lợi kỳ diệu. Khi bình giảng, các lớp đều đánh giá bài giảng tốt. Đội ngũ giáo viên của Học viện những năm gần đây có nhiều tiến bộ rõ rệt về lý luận và thực tiễn, nên câu châm biếm "Cò gỗ mổ cò thật" cũng dần dần tan biến đi vào dĩ vãng của một thời đã qua.

Trước những thắng lợi của đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối đối ngoại đúng đắn sáng ngời của Đảng ta, có nhiều nước trên thế giới, nhất là những dân tộc, còn đang bị bọn đế quốc thống trị, còn đang phải sống lầm than tủi nhục dưới ách nô lệ đã lần lượt đến thăm Việt Nam để học tập, nghiên cứu chiến tranh nhân dân bách chiến bách thắng của Việt Nam.

Khoa Chiến tranh du kích, chủ yếu là bộ phận chiến lược chiến tranh du kích của Học viện Quân sự được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước kia và cuộc kháng chiến chổng đế quốc Mỹ hiện tại cho các đoàn bạn quốc tế đến tham quan nghiên cứu.

Học viện đã làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng và được biết các đoàn của mỗi nước sẽ lần lượt đến Việt Nam tham quan nghiên cứu về chiến tranh du kích bao gồm cả các nước châu Á và châu Phi: Lào, Campuchia Thái Lan, Inđônêxia, Anggôla, Apganixtan, Angiêri và một số nước ở châu Mỹ Latinh nằm ở bên kia Đại Tây Dương như: Cu Ba, Chilê, Nicaragoa...

Các đoàn quân sự của các nước đến thăm Việt Nam có thể chia thành hai loại: Một là, những đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao nghiên cứu ngắn hạn của phong trào cách mạng toàn quốc. Hai là, đoàn cán bộ cấp trung ương và cấp tỉnh nghiên cứu dài hạn.

Để đáp ứng cho các đối tượng nghiên cứu học tập tốt, Thường vụ Quân ủy và Đảng ủy Học viện chỉ đạo chúng tôi chuẩn bị tốt hai phương án: Nghiên cứu ngắn hạn và Học tập dài hạn. Bao gồm các bài giảng, kinh nghiệm chỉ đạo chung về chiến tranh du kích. Bài chuyên đề của chiến tranh du kích, vũ trang tiền tuyến, chống giặc càn quét, giành dân. Xây dựng lực lượng vũ trang như lực lượng dân quân du kích, các lực lượng bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Xây dựng hệ thống căn cứ địa như: lõm du kích, khu du kích, căn cứ du kích, cách xây dựng làng chiến đấu, xã chiến đấu... Và một số chiến thuật du kích như: phục kích, tập kích, đánh giao thông địch. Cách sản xuất, chế tạo và sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch giành thắng lợi lớn... Chúng tôi còn chuẩn bị sẵn sàng những khu vực bãi tập để bạn tập bài chiến thuật hoặc các khu vực tham quan truyền thống về chiến tranh du kích, làng xã chiến đấu, xem diễn tập chỉ huy và tham mưu.

Với những nội dung và phương pháp phong phú, sâu sắc mang tính khoa học và đầy sức thuyết phục, tôi đã giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh du kích cho các đoàn cán bộ của các nước bạn. Họ đều rất phấn khởi, tin tưởng vào kinh nghiệm chiến đấu sáng tạo của Việt Nam. Đoàn đại biểu cấp cao của đất nước Angiêri về tham quan làng chiến đấu ở xã Tán Thuật, xã Nguyên Xá, tỉnh Thái Bình. Thay mặt đoàn, đồng chí trưởng đoàn đã phát biểu với chúng tôi trong niềm kính phục và cảm động: "Việt Nam của các bạn chiến thắng vì phía trên có Bộ Tham mưu lãnh đạo là Trung ương Đảng, phía dưới có Bộ Tham mưu trực tiếp chiến đấu là các chi bộ đảng tại cơ sở rất dũng cảm, thông minh và sáng tạo".

Gần tám năm từ 1964 đến 1971 đã trôi qua, tôi về làm giáo viên ở Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện, bằng tiêu chí phấn đấu "Khuôn vàng thước ngọc" và bằng phương châm rèn luyện thiết thực mà cha ông hun đúc bao đời nay để lại "Có công mài sắt có ngày nên kim", đội ngũ giáo viên quân sự nói chung và bản thân tôi nói riêng đã lớn lên rất nhiều, trưởng thành từ quan điểm lập trường đến trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm quân sự. Đây chính là vốn quý báu tạo cơ sở vững chắc để tôi và các đồng chí đồng nghiệp của tôi thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cả khi giảng dạy hay xông pha nơi trận mạc hoặc khi tôi làm chuyên gia cố vấn quân sự cho các nước bạn anh em.

Tôi mãi mãi biết ơn sự giáo dục, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ giáo viên của Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện Trung cao Quân sự đã chắp cánh cho tôi bay tiếp trên con đường dài lịch sử của đất nước và sự nghiệp của bản thân tôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #63 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:02:56 PM »


III

Vào cuối năm 1971, đế quốc Mỹ sai lầm về chiến lược nên chúng phải gánh lấy những thất bại nặng nề ở chiến trường Campuchia, chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Mỹ - ngụy bị quân dân ta đánh tơi bời, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy và tịch thu nhiều phương tiện chiến tranh. Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ - ngụy bị quân đội ta đánh bại một bước quan trọng. Từ đây, địch từ thế "chủ động tiến công" đã chuyển vào thế bị động, phòng ngự chống trả lúng túng. Địch càng gắng gượng chống trả thì chúng càng bị sa lầy và thất bại nặng nề hơn.

Về phía ta, quân dân đã vượt qua thời kỳ sau Mậu Thân 1968 - một thời kỳ quân dân ta gặp nhiều khó khăn, gay go ác liệt, hy sinh tổn thất. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, quân đội ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường nhất là chiến trường Campuchia, chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Quân dân ta đã chuyển từ thế bị động đối phó sang thế chủ động tiến công và nổi dậy tiêu diệt địch ở khắp nơi, ta đã giành và giữ được dân. Chúng ta đã lớn mạnh lên nhiều cả về thế và lực. Thời cơ chiến lược của ta đã xuất hiện.

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương cuộc tiến công chiến lược năm 1972. đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ sang một giai đoạn mới.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường phải ra sức tăng cường chất lượng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng khối quân chủ lực thành quả đấm thép mạnh, về tác chiến: ta tập trung hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt từng trung đoàn phá vỡ từng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương mạnh, có đủ sức độc lập hoặc phối hợp đánh bại quân địa phương của địch, phá vỡ hệ thống kìm kẹp và đập tan kế hoạch "bình định" của chúng.

Tháng 12 năm 1971, Bộ Tổng tham mưu nhận được bức điện thượng khẩn của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 với nội dụng: "Để thực hiện phương hướng xây dựng, tác chiến mới của Bộ, Quân khu 5 đề nghị Bộ Tổng tham mưu cử một đoàn cán bộ có trình độ chiến dịch, chiến thuật, công tác tham mưu vào giúp đỡ quân khu huấn luyện, xây dựng và tác chiến khối chủ lực quân khu; đoàn vào càng sớm càng tốt". Bức điện do đồng chí Hai Mạnh (tức Chu Huy Mân, Tư lệnh của Quân khu 5) ký. Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ này cho Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng chọn cán bộ và tổ chức đoàn cán bộ vào Nam theo yêu cầu của Tư lệnh Quân khu 5.

Chúng tôi là những cán bộ, chiến sĩ của Học viện Quân sự được cấp trên tín nhiệm giao nhiệm vụ vào giúp chiến trường Quân khu 5. Đoàn gồm có: một đồng chí thượng tá, một đồng chí trung tá (tôi), bốn đồng chí thiếu tá, một đồng chí y sĩ và một đồng chí công vụ. Đoàn trưởng là đồng chí Thượng tá Nguyễn Năng, Cục trưởng Cục Quân sự Học viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #64 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:03:57 PM »


Trong tháng 12 năm 1971, đoàn chúng tôi được Bộ Tổng tham mưu tổ chức học tập, bồi dưỡng thêm một số vấn đề mới theo yêu cầu thực tế của chiến trường. Trong lớp bồi dưỡng, các đồng chí thủ trưởng Cục Tác chiến, Quân huấn, Khoa học đi sâu giới thiệu phân tích tầm quan trọng về hai chiến thuật ở cấp trung đoàn là bao vây đánh lấn, vận động bao vây tiến công liên tục; công tác tham mưu tác chiến, chiến thuật và chiến dịch cấp trung đoàn, cấp sư đoàn.

Lớp bồi dưỡng kết thúc, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện trực tiếp làm Giám đốc Học viện Quân sự Trung cao của Bộ Quốc phòng dành thời gian một buổi nói chuyện với đoàn. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ là một trong những vị tướng tài của quân đội ta. Ông đã từng chỉ huy chiến đấu cấp sư đoàn, nhiều sư đoàn trong các chiến dịch lớn. Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia chỉ huy chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, bẻ gãy hai gọng kìm của bọn thực dân Pháp, phá tan kế hoạch đánh vào khu căn cứ địa cách mạng để tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và tiếp đó ông tham gia chỉ huy chiến dịch Cao - Bắc - Lạng năm 1950. Với đoàn chúng tôi, Thiếu tướng là bậc đàn anh cả về tuổi đời, tuổi quân và trình độ chỉ huy. Trong buổi nói chuyện này, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng đã đi sâu phân tích làm rõ tính chất cấp thiết phải nâng cao trình độ tác chiến chính quy hiệp đồng binh chủng. Chúng ta phải đánh tiêu diệt tương đối lớn quân chủ lực ngụy, phải phá vỡ từng mảng hệ thống phòng ngự cơ bản của chúng Chúng ta chỉ có làm như vậy mới giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân ta sang một giai đoạn mới. Ông xác định nhiệm vụ, vai trò của Học viện Quân sự nói chung, đoàn của chúng tôi nói riêng là phải nâng cao trình độ tác chiến chính quy của toàn quân. Nói về cách đánh của bộ đội chủ lực, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng nhấn mạnh phải huấn luyện cho tốt và chiến đấu giỏi. Phải biết vận dụng sáng tạo chiến thuật bao vây đánh lấn và chiến thuật vận động bao vây tiến công địch liên tục cấp trung đoàn, trung đoàn tăng cường trong thế trận chung của sư đoàn và thế trận chiến tranh nhân dân địa phương. Chúng ta chỉ có vận dụng đúng tất cả hai hình thức chiến thuật trên với quy mô trung đoàn trở lên, mới tiêu diệt được hàng trung đoàn địch và đánh quỵ từng sư đoàn của chúng.

Trong chiến thuật bao vây đánh lấn, ta phải quán triệt phương châm: "Quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt". Đây là tư tưởng chỉ đạo, là bí quyết thành công của chiến thuật vây lấn. Chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục tuy mới xuất hiện ở chiến trường Tây Nguyên, vùng Đắc Tô, Tân Cảnh, nhưng ở miền Nam, chiến thuật này đang được quân đội ta vận dụng đánh địch giành chiến thắng... Chúng tôi coi đây là sự chỉ đạo đoàn vào miền Nam giúp chiến trường Quân khu 5 xây dựng, huấn luyện quân chủ lực trong giai đoạn chuẩn bị đánh địch ở chiến trường lớn.

Cuối buổi nói chuyện, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng xác định: Đoàn quân sự của Học viện chúng tôi mang mật danh là Đoàn Y của Bộ Quốc phòng. Đồng chí yêu Cầu Đoàn 559 phải bảo đảm cho đoàn chúng tôi hành quân bằng cơ giới kịp vào Quân khu 5 trước mùa mưa năm 1972. Đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng còn biên thư cho đồng chí Tư lệnh Quân khu 5. Trong, bức thư có đoạn: "Theo đề nghị của anh, chúng tôi cử Đoàn Y gồm các đồng chí cán bộ có năng lực đáp ứng yêu cầu của chiến trường là tổ chức những trận đánh lớn. Anh lưu ý có nhập, có xuất. Ký tên Vương Thừa Vũ".

Cuộc gặp gỡ kết thúc, Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu cho phép chúng tôi về thăm nhà và ăn tết cùng với gia đình. Sau đó đoàn chúng tôi sẽ vượt đường Trường Sơn đi nhận công tác mới. Chiến trường miền Nam đang chờ đón chúng tôi. Tất cả ai nấy đều vui mừng phấn khởi bởi đã từ lâu rồi chúng tôi mới được về thăm gia đình và quê hương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #65 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:04:38 PM »


Đúng ngày 15 tháng 2 năm 1972, đoàn chúng tôi lên đường vào Nam. Với đoạn đường dài gần ba trăm kilômét, từ chân núi Tam Đảo đi qua Hà Nội - Hải Phòng - Nam Định - Hà Nam - Thanh Hoá, bình thường chỉ đi hết một ngày đường nhưng chúng tôi phải đi mất gần một tuần lễ mới hoàn thành việc thu quân từ khắp ngả. Sự kéo dài thời gian này có thể thông cảm được bởi hoàn cảnh của mỗi đồng chí cán bộ, chiến sĩ khác nhau, cuộc tiễn đưa kẻ ở người đi không thể không bịn rịn, nhớ thương. Chúng tôi và mọi người rất hiểu điều đó, vả lại đây là cuộc tiễn biệt người thân đi vào nơi chiến trường gian khổ, bom đạn ác liệt và đầy những sự hy sinh mất mát đau thương, người ra đi có thể may mắn sẽ trở về hoặc không bao giờ trở về nữa. Những giọt nước mắt tràn đầy trong đôi mắt người ra đi, tha thiết trong đôi mắt những người vợ đảm đang và giàn giụa trên những gương mặt bầu bĩnh trẻ thơ của những đứa con bé bỏng. Không ai có thể không cảm động không khóc khi nhìn những cảnh tiễn biệt chồng ra đi vào Nam chiến đấu ở những gia đình như nhà đồng chí Thành đồng chí Bàn, thậm chí ở cả gia đình đồng chí đoàn trưởng Nguyễn Năng. Đồng chí Thành có mẹ già gần tám mươi tuổi đang ốm nặng. Vợ đồng chí là một phụ nữ đảm đang chị đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ trong cảnh nghèo nàn để phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con cái, động viên chồng yên tâm công tác hơn mười năm ở chiến trường miền Nam từ năm 1961 đến năm 1972. Anh bị thương trong một trận chiến đấu ác liệt nên cấp trên cho ra Bắc điều trị. Vết thương khỏi, anh được điều về Học viện Quân sự Trung cao - Bộ Quốc phòng làm giáo viên. Gia đình và người thân của anh cứ đinh ninh rằng anh không phải vào Nam chiến đấu nữa. Nhưng nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam vẫn còn đang gay go ác liệt, các đồng chí đồng đội của anh vẫn phải tiếp tục ngã xuống, máu của nhân dân miền Nam vẫn đang tuôn chảy trên mảnh đất thân yêu của mình, đòi hỏi anh lại phải lên đường vào Nam chiến đấu. Anh cũng đã tự xác định bản thân anh phải có quyết tâm cao. Nhưng trước hoàn cảnh gia đình như vậy, cuộc tiễn đưa ở gia đình nhà anh đã diễn ra bốn ngày liền, dùng dằng lưu luyến mãi anh mới dứt bước lên đường được. Còn ở gia đình đồng chí Bàn cũng rất cảm động. Nhà anh nằm ở xóm Rịa, thị trấn Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Nhà anh Bàn, chị An cũng nghèo lắm. Ngôi nhà hạnh phúc của anh chị là một túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo. Một mình chị An nuôi dạy năm con ăn học trong sự vất vả, tảo tần. Chị phải vượt qua không biết bao nhiêu gian khó trong suốt mười bốn năm đằng đẵng anh chiến đấu trên các chiến trường miền Nam. Đến năm 1971, anh mới được chuyển ra Bắc. Niềm vui được công tác và chiến đấu gần quê hương, gần gia đình của anh đã không được trọn vẹn khi trong người anh đầy những vết thương tật của các cuộc chiến đấu để lại cùng với căn bệnh viêm gan quái ác chưa được chữa lành. Chị An còn rất trẻ, kém anh đến sáu, bảy tuổi, vừa xinh đẹp vừa đảm đang. Bên ngoài chị vẫn tươi cười động viên chồng tiếp tục đi chiến đấu nhưng chúng tôi hiểu rằng đằng sau nét mặt tươi vui ẩn khuất nhiều những đắn đo suy nghĩ, chất chứa trong lòng chị. Các con của anh chị rất ngoan, cháu đầu đã học hết cấp hai, còn cháu Sơn mới sinh được vài tháng. Cuộc tiễn đưa này cũng phải kéo dài đến hai ngày.

Cuối cùng, chúng tôi cũng lên đường đầy đủ với số quân định ra cho đoàn. Đoàn Y chúng tôi có mặt tại nhà đồng chí Sư trưởng Nguyễn Năng, đây là điểm chốt của đoàn lên đường vào Nam chiến đấu. Rời khỏi Hà Trung - Thanh Hoá, đoàn chúng tôi bắt đầu đi vào tuyến lửa Quân khu 4. Ngày nào xe cũng phải chạy vượt qua bao trọng điểm mà bọn Mỹ đánh phá quyết liệt. Những trọng điểm nóng như cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá), cầu Giát (Quỳnh Lưu - Vinh), Bến Thủy, Đèo Ngang (Hà Tĩnh), phà Giành (Đồng Hói), đèo Long Đại (Quảng Bình)... là những nơi luôn có máy bay địch luân phiên tuần tiễu trên không. Nếu chúng phát hiện thấy xe ta qua cầu, qua đò, chúng sẽ huy động ngay lực lượng không quân đến bắn phá điên cuồng hòng phá hủy mọi phương tiện vận chuyển của ta, ngăn chặn sự chi viện của ta vào chiến trường miền Nam. Trên các chặng đường này, xe của chúng tôi phải đi vào ban đêm. Một lần, xe vượt qua phà Long Đại đã bị máy bay B.52 Mỹ đánh phá, cả hai bên bến phà hai đoàn công tác khác có mười đồng chí bị thương và hy sinh; nhà cửa cây cối hai bên đầu phà bị bom san phẳng, nhưng rất may mắn đoàn chúng tôi được an toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #66 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:05:07 PM »


Đoàn chúng tôi đã vượt qua được tuyến lửa Quân khu 4 đi vào rừng Trường Sơn. Việc đầu tiên của chúng tôi là tìm gặp Bộ Tư lệnh Đoàn 559 để đổi xe và nhận kế hoạch nhằm bảo đảm đi bằng xe cơ giới hết phạm vi hoạt động của Đoàn 559 trên đất Trung - Hạ Lào giáp với khu vực Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum và ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Chúng tôi đến trạm đón tiếp của Đoàn 559 và phải ở đó ba ngày mới được vào gặp anh Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559. Anh Đồng Sĩ Nguyên - nguyên là Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách quân sự địa phương. Anh là một cán bộ năng động, sáng tạo, đã có nhiều đóng góp vào sự hình thành và phát triển công tác quân sự địa phương, chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Để vào được chỗ làm việc của Tư lệnh Đoàn 559 lúc bấy giờ rất khó khăn, vì phải bảo đảm nguyên tắc bí mật, tránh máy bay địch bất ngờ phát hiện, đánh phá hủy diệt cơ quan đầu não quan trọng đó của đoàn. Với sự đồng ý của cơ quan Tư lệnh Đoàn 559, đoàn chúng tôi cử hai đồng chí là tôi và đồng chí Đoàn trưởng Nguyễn Năng đi theo sự dẫn đường của một đồng chí sĩ quan tác chiến 559 để vào gặp đồng chí Tư lệnh Đoàn 559. Chúng tôi ngồi trên chiếc xe Uoát (xe Liên Xô), lội suối dài ngoằn ngoèo gần ba kilômét dưới vòm cây rừng phủ kín. Chỗ nào không có cây rừng che phủ thì xe lại được phủ kín bằng những giỏ hoa phong lan rừng một cách kín đáo khiến cho tất cả các loại máy bay địch không thể nào phát hiện được.

Gặp chúng tôi, anh Đồng Sĩ Nguyên rất phấn khởi bởi chúng tôi đã cùng công tác với anh ở Cục Dân quân tự vệ một thời gian, sau đó anh mới vào chiến trường chỉ huy. Tuy công việc của anh khá bận nhưng anh vẫn dành thời gian nửa ngày để đón tiếp đoàn, bàn bạc công tác nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho Đoàn Y tới địa điểm trước mùa mưa như đã định. Trước hết, anh Đồng Sĩ Nguyên nói tóm tắt về những hoạt động của đường dây 559. Đây là một phạm vi bảo đảm cơ động vận chuyển chi viện cho miền Nam. Chu trình hoạt động khá dài, khá ác liệt bắt đầu từ điểm nút phía nam miền Bắc vào đến hết chiến trường miền Nam Khu 5 và Khu 6, miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Đoàn vào đến Khu 5, gần nửa đường Trường Sơn. Nếu đi bằng xe thì mất một tháng còn đi bộ cũng phải từ hai mươi đến ba mươi ngày mới vào đến sở chỉ huy Quân khu 5 (rừng Quảng Nam). Tuy vào thời điểm này (năm 1972) hoạt động của địch về biệt kích, càn quét trên toàn tuyến đường có giảm nhưng chúng vẫn hoạt động đánh phá bằng máy bay phản lực, tăng cường quyết liệt sự hoạt động của máy bay B52. Đặc biệt hơn, chúng bắn phá bằng máy bay C130 được trang bị bằng tia lade. Đây là thủ đoạn đánh phá mới rất nguy hiểm. Dù ban ngày hay ban đêm, nếu máy bay C130 tuần tiễu, phát hiện được mục tiêu xe ta đang cơ động, chúng sẽ điều khiển rốc két kéo theo tia hồng ngoại dẫn thẳng xuống mục tiêu, đánh phá liên tiếp. Có những đợt chúng hoạt động oanh tạc dữ dội, Đoàn 559 bị phá hủy hàng chục chiếc xe liên tiếp, gây cho ta khá nhiều thiệt hại. Bộ chỉ huy ta đang tìm cách phá tan thủ đoạn này của địch để đảm bảo an toàn giao thông của tuyến. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên cho biết, theo kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu, Đoàn 559 sẽ trang bị cho đoàn chúng tôi một xe vận tải cỡ lớn để đảm bảo đi suốt được một phần hai đường Trường Sơn. Trên đường, các trạm của Đoàn 559 có trách nhiệm bảo đảm ăn, ở cung cấp lương thực, thực phẩm, quân y cho đoàn... Khi nào đi hết đường bộ vào Quân khu 5 thì đoàn tự lo theo các trạm giao liên địa phương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #67 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:05:44 PM »


Trong ba ngày chờ đợi ở trạm thường trực Đoàn 559, tôi giở thư của con gái nuôi ra đọc, trong thư con gái tôi viết: "Con ở Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Khi nào bố vào Nam chiến đấu, con sẽ đón bố ở đường Hồ Chí Minh". Có lẽ điều mơ ước vu vơ và những lời hứa xa xôi của con gái tôi sẽ trở thành sự thật? Một sự linh cảm xuất hiện trong tôi, tôi quyết định cầm điện thoại quay máy gọi sang trạm thông tin 559 với niềm tin tôi sẽ gặp được con gái nuôi của tôi ở đấy. Tôi hỏi:

- Alô! Có ai là Phạm Thị Nhàn quê ở Hải Phòng không?

- Có! - Đầu dây bên kia vang lên giọng nói nhỏ nhẹ của người con gái mà tôi không ngờ chính là đứa con gái nuôi yêu quý của tôi. Hai bố con bất ngờ gặp nhau trên đường dây điện thoại. Con gái tôi vì cảm động quá đã không nói được lời nào, chỉ nghẹn ngào nức nở. Sau đó, con gái tôi đã sang gặp bố. Hai bố con tôi mừng mừng tủi tủi, không ngờ lại gặp được nhau giữa chiến trường đạn bom ác liệt và trong rừng Trường Sơn sâu thẳm này. Chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò, hàn huyên về chuyện nhà, chuyện quê hương, chuyện sản xuất và chiến đấu ở quê nhà, rồi chuyện của con gái tôi đảm bảo giao thông liên lạc Đoàn 559 ra sao... Từ chuyện này níu sang chuyện khác, có biết bao câu chuyện được để dành và cất kín trong lòng nay mới được kể ra. Suốt ba năm, từ năm 1970 đến năm 1972, tôi chỉ nhận được duy nhất một lá thư từ Trường Sơn của con gái gửi về hỏi thăm. Giờ đây tôi không tin vào mắt mình khi con gái đang ngồi bên cạnh tôi. Tôi quay người ra và ngắm nhìn con. Nó gầy đi nhiều quá, nước da bị sốt rét rừng tái xanh tái xám, chân tay con gái mà đầy sẹo... Niềm thương con vô bờ rưng rưng trong tôi nhưng tôi thật tự hào về sự lớn khôn trưởng thành của con gái và những việc nó đã làm trong thời gian qua.

Thời gian ngắn ngủi cho cuộc gặp gỡ của hai bố con tôi đã hết. Đoàn Y chào tạm biệt anh Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 để đến Cục Hậu cần 559 nhận một chiếc xe tải loại tốt. Trước kia, đoàn tôi đi bằng xe con, giờ thay bằng xe tải. Xe to lại ít người nên chạy rất xóc, đến nỗi tất cả anh em đều bị nôn ói. Ngày hôm sau, chúng tôi nảy ra sáng kiến xin Đoàn 559 cho một tấn gạo gồm hai mươi bao xếp trong thùng xe để làm đầm xe, lại vừa tạo thành một công sự tránh mảnh bom đạn địch khá tốt. Nhờ có sáng kiến này mà hành trình của chúng tôi gặp nhiều thuận lợi hơn, tất cả mọi người đều tỉnh táo, tinh thần minh mẫn, sáng suốt.

Từ Bộ Tư lệnh Đoàn 559 đến Binh trạm 44 ngang với bắc tỉnh Kon Tum có một lối rẽ đi vào sở chỉ huy Quân khu 5 dài chừng hơn một nghìn kilômét đường rừng. Đoàn chúng tôi phải đi hơn bốn tuần lễ trên những đoạn đường đầy khó khăn và nguy hiểm, cây cối chằng chịt, trèo đèo lội suối khúc khuỷu, gập ghềnh. Có đoạn đường xuyên qua những khu rừng già, cây cao hai ba tán kín đáo nhưng có đoạn đường nằm phơi mình trên đồi trọc do cây cối ở đó đã bị bom đạn địch cày xới san phẳng kéo dài hàng chục cây số. Có đoạn xe phải đi dưới lòng suối cạn nhưng cũng may vì có các vòm cây phủ kín mặc cho xe đi suốt cả ngày mà máy bay trinh sát OV10 của Mỹ bay vè vè trên đầu cũng không phát hiện được. Xe ta cứ thế nối đuôi nhau hàng chục chiếc nhưng cũng có nhiều đoạn đường mà chỉ có thể đi vào ban đêm mới không gặp nguy hiểm bởi máy bay Mỹ đánh phá. Đoạn đường nguy hiểm nhất là đèo Uốn Mãn (Lào). Đây là một đoạn đèo có một số đồi nối tiếp nhau. Đường Trường Sơn chủ yếu đi men theo đồi cao, khe sâu và vực thẳm mà ở đây địch đã dùng bom đạn đánh phá hủy diệt nhiều lần. Có tới hàng chục chiếc xe lớn, nhỏ của ta bị chúng đánh phá nằm ngổn ngang trong lòng vực thẳm. Anh em lái xe gọi đèo này là đèo "ướn sườn cửa tử" nên có nhiều lái xe lạ đến đây không dám vượt qua. Đoàn 559 đã bố trí sẵn số lái xe chuyên trách để đưa xe vượt qua đèo Uốn Mãn an toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #68 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:06:22 PM »


Gần đến đoạn đèo Uốn Mãn, đoàn chúng tôi phải dừng lại ba ngày để tránh địch đánh phá cao điểm bằng máy bay C130 có sử dụng tia hồng ngoại. Đồng thời, cần phải tu sửa xe để vượt đèo vào ban đêm. Điều may mắn cho đoàn chúng tôi là Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân cho "Tháo nhỏ SAM 2" để vận chuyển theo đường 559 vào khu vực này. Các đồng chí kỹ thuật tên lửa đã lắp lại để sử dụng và bắn hạ được hai máy bay C130 của Mỹ góp phần đánh bại thủ đoạn đánh phá mới của địch. Xe của đoàn chúng tôi và xe của các đoàn khác đều vượt đèo Uốn Mãn an toàn.

Binh trạm 44 do Thiếu tá Vũ Xuân Phương chỉ huy trưởng, anh là bạn đồng nghiệp với tôi ở Khoa Chiến tranh du kích, Học viện Trung cao Quân sự. Vì là những người quen biết và cùng là người miền Bắc nên khi gặp chúng tôi, anh Vũ Xuân Phương rất vui mừng, tổ chức liên hoan chào đón chúng tôi thân mật.

Cuộc hành trình bằng xe cơ giới trên đường Trường Sơn kết thúc, đoàn chúng tôi chuyển sang giai đoạn hành quân bộ vào Quân khu 5. Đây là giai đoạn gian khổ hơn nhiều so với chặng đường mà mọi người đã đi qua. Qua những lời tâm sự của đồng chí Phương, tôi hiểu sâu thêm về tổ chức Binh trạm 44. Đây là một trong những hàng chục binh trạm của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Binh trạm 44 có ban chỉ huy trạm, cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần; có hai tiểu đoàn vận tải với hàng trăm xe, hai tiểu đoàn pháo phòng không 37 ly và 14,5 ly; có hai tiểu đoàn bộ binh, một đại đội thông tin và một trung đội trinh sát được tổ chức thành những cung trạm nhỏ để đưa đón cán bộ, bộ đội vận chuyển hàng từ miền Bắc vào miền Nam. Ngoài ra, trạm còn đưa đón thương bệnh binh, các cụ già và trẻ em từ miền Nam ra miền Bắc chữa bệnh hay đi học. Đồng chí Xuân Phương còn kể cho tôi biết tin về người bạn của tôi, một người bạn mà tôi không thể nào quên - Võ Sĩ Năm Khiêm. Anh đã từng là người nhảy sào giỏi nhất Đông Dương thời Pháp thuộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh là một cán bộ đại đội trưởng. Sau đó, anh ra miền Bắc, về Học viện Trung cao Quân sự làm giáo viên Khoa Chiến tranh du kích cùng tôi. Rồi anh lại vào Nam làm chỉ huy trưởng Binh trạm Thác Bạc ở Campuchia, gần lối rẽ vào miền Đông Nam Bộ. Anh thường trực tiếp chỉ huy các đoàn xe vận tải, nhưng anh đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch vận tải vào năm 1972. Biết được tin này, tôi vô cùng đau xót nhớ thương anh. Đó là người con yêu quý của quê hương miền Tây Nam Bộ ngay thẳng, thật thà và dũng cảm. Nói đến Năm Khiêm, hẳn không ai quên được anh - người hay uống rượu mà không bao giờ say, biết nhiều tiếng nước ngoài. Anh uống một chai thì nói tiếng Việt, uống hai chai thì nói tiếng Anh. Khi nói tiếng Anh thì ai mời rượu anh cũng không uống nữa.

Trước khi đoàn chuyển sang hành quân bộ vào Quân khu 5, đồng chí Nguyễn Năng - Trưởng đoàn giao nhiệm vụ cho tôi đưa anh Bàn đi bệnh xá quân y Binh trạm 44 khám bệnh. Các đồng chí y, bác sĩ ở đây đã cho tôi biết: Bệnh viêm gan của anh Bàn đang ở thời kỳ phát triển, có dấu hiệu xơ gan cổ trướng, anh không thể tiếp tục hành quân được. Do vậy, chúng tôi đã đưa anh Bàn đi nằm điều trị tại bệnh viện Đoàn 559 trên đường Trường Sơn.

Chúng tôi phải tạm biệt anh Bàn và tiếp tục hành quân bộ vào Quân khu 5. Ở chiến trường, tôi chờ mong tin anh Bàn hàng ngày, hàng tháng mà vẫn bặt âm vô tín. Sau này, tôi mới biết được tin anh Bàn đã hy sinh tại bệnh viện Đoàn 559. Tôi nhớ thương anh da diết, một con người đã vượt qua khó khăn gian khổ trong bệnh tật của bản thân, trong tình cảm gia đình quyết tâm đi chiến đấu với tư tưởng cao đẹp "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Tôi mãi mãi không bao giờ gặp lại anh nữa.
Anh hy sinh là một niềm đau xót lớn của gia đình, để lại người vợ trẻ và năm đứa con thơ dại. Đoàn Y chúng tôi vắng bóng anh là vắng đi một người cán bộ lãnh đạo chỉ huy tài năng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #69 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2016, 10:06:56 PM »


Đầu tháng 4 năm 1972, đoàn chúng tôi vào đến sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ở khu vực Dóc Voi, rừng Quảng Nam. Đến đây, lực lượng đoàn cán bộ của học viện đã bị rơi rớt dần. Trên đường đi, ai cũng bị căn bệnh sốt rét quái ác hoành hành đành phải nằm lại tại các trạm giao liên ba, bốn ngày. Người bị sốt đầu tiên là đồng chí quân y, rồi đến đồng chí Thiết, đồng chí Thành, tiếp theo là tôi và đồng chí Hải. Chỉ có đồng chí Trưởng đoàn Nguyễn Năng và đồng chí công vụ không bị nhiễm căn bệnh ác tính này. Đây mới chỉ là chặng đường hành quân từ miền Bắc vào tới rừng Quảng Nam Trung Bộ, còn một chặng đường đầy gian khổ và tự hào cách mạng đang đợi chúng tôi ở phía trước, chúng tôi sẽ phải vượt đi vượt lại Đông Trường Sơn, nhưng chủ yếu phải vượt Tây Trường Sơn.

Vào đến Bộ Tư lệnh Quân khu 5, theo thường lệ, đoàn chúng tôi vinh dự được đến chào và dự buổi liên hoan với Thường vụ Khu ủy. Chúng tôi đã được nghe anh Năm Cồng - Bí thư Khu ủy giới thiệu về tình hình chiến trường miền Nam và Quân khu 5. Anh Hai Mạnh - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nói với chúng tôi nửa đùa nửa thật: "Vào chiến trường Quân khu 5, ai muốn ra nhanh thì làm việc loay hoay thôi. Nếu ai làm việc tích cực sẽ biến thành người của Quân khu 5 luôn". Tiếp theo, anh phổ biến để đoàn chúng tôi nắm vững về tình hình lực lượng của địch hoạt động trên chiến trường và tình hình hoạt động của ta. Trong đó, anh nhấn mạnh âm mưu nham hiểm của địch hiện nay khi chúng đang ra sức đẩy mạnh càn quét bình định hòng tiếp tục đẩy lực lượng chiến đấu của ta ra xa, gom dân vào các ấp chiến lược để địch cố tình thực hiện một âm mưu lớn "Tách cá ra khỏi nước". Trọng tâm đánh phá của địch là vùng bắc Quảng Nam, nam Quảng Ngãi, nam Bình Định. Về phía ta chúng ta tiếp tục chỉ đạo các lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang địa phương tích cực, kiên quyết chiến đấu chống phá lại các cuộc càn quét bình định của địch. Lực lượng chủ lực của tỉnh, khu đang tập trung huấn luyện để chuẩn bị cho những trận đánh lớn vào Thu Đông năm 1972. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đang chuẩn bị mở lớp tập huấn tỉnh đội, sư đoàn (chiến dịch) tại quân khu bộ, tiếp đó sẽ mở lớp tập huấn tiểu đoàn, trung đoàn chiến thuật tại Trường Quân chính quân khu ở An Lão, Bình Định. Anh Hai Mạnh rất phấn khởi hoan nghênh sự có mặt kịp thời của Đoàn Y chúng tôi. Tất cả có nhiệm vụ cùng cơ quan quân khu làm tốt hai lớp tập huấn này.

Sau cuộc gặp Bộ Tư lệnh Quân khu 5, đoàn chúng tôi được tách làm hai bộ phận: Một bộ phận chiến thuật gồm đồng chí Hải, đồng chí Thành và đồng chí Thiết lại tiếp tục hành quân vượt Đông Trường Sơn men theo các dãy núi từ Quảng Nam qua Quảng Ngãi vào Bình Định để giúp Trường Quân chính quân khu chuẩn bị cho lớp tập huấn chiến thuật toàn quân khu. Một bộ phận gồm tôi và anh Nguyễn Năng ở lại quân khu bộ cùng với đồng chí Hải - Phó tư lệnh Quân khu, đồng chí Nam Khánh - Chủ nhiệm chính trị Quân khu có nhiệm vụ giúp quân khu tiến hành huấn luyện lớp chiến dịch cho các đồng chí sư trưởng, sư phó, tỉnh trưởng, tỉnh phó toàn quân khu.

Trong lớp tỉnh đội, sư đoàn của Quân khu 5, anh Nguyễn Năng giảng bài chiến dịch tấn công tổng hợp. Còn tôi giới thiệu bài công tác tham mưu cấp sư đoàn, trung đoàn và chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục cấp trung đoàn. Qua học tập nghiên cứu, các đồng chí sư đoàn, tỉnh đội đều nhất trí cao với tình hình hiện nay, Bộ cho biên soạn tài liệu về chiến dịch tổng hợp và chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục cấp trung đoàn là rất phù hợp với đặc điểm tình hình lực lượng giữa địch và ta trên chiến trường. Các đồng chí đánh giá cao vai trò của hình thức chiến dịch và chiến thuật này. Ai cũng tin tưởng rằng nó sẽ góp phần rất quan trọng trong giai đoạn quân đội ta đang đẩy mạnh tác chiến với quy mô ngày càng lớn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM