Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 09:07:59 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thời điểm của những sự thật - Henri Navarre  (Đọc 33088 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #70 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 08:42:52 PM »

        Trái lại tôi cho rằng việc ưu tiên rút bỏ một số khu vực (khu Nam và Tây Đồng bằng) theo như Chính phủ chỉ thị sẽ có những hậu quả tai hại: mất nguồn nhân lực quan trọng nhất để tuyển quân1 huỷ hoại thế bố trí chiến trường, nhưng nguy hiếm nhất là làm sa sút tinh thần của mọi người tới mức mà tôi không thể tiếp tục cuộc chiến được nữa. Những nhà đàm phán của chúng tôi ở Geneve sẽ bị bó tay, không còn một chút quyền tự do hành động.

        Tôi nói thêm rằng về phương diện quân sự, những cuộc rút lui ấy không những chưa cần thiết đối với tình hình trước mắt mà nó còn tỏ ra nguy hiểm. Bởi nếu biết chúng rút lui - mà việc này khó qua khỏi mắt họ - Việt Minh có thể sẽ tiến công Đồng bằng. Trong lúc lực lượng đang bị hao mòn, chắc họ sẽ không dám tiến công nếu không thấy chúng ta nao núng rút quân. Ý kiến này của tôi được Tướng Cogny hoàn toàn ủng hộ; nhận thấy những tai hoạ mà ông lo sợ đã không xảy ra hoặc trước mắt có thể xảy ra, ông ta đã lấy lại được bình tĩnh2.

        Tôi trình bày như sau ý kiến của tôi về đánh giá tình hình và những biện pháp cần làm.

        Trước mắt, liệu đối phương có khả năng mở một cuộc tiến công vào Đồng bằng từ 20 tháng 6 trở đi? Khả năng này là khó xảy ra, bởi một phần họ đã mệt mỏi và bị tổn thất nặng, phần khác mùa mưa sẽ không cho phép họ đánh lớn.

        Nhưng nếu cuộc tấn công xảy ra thì nó sẽ gây cho chúng tôi những khó khăn, song không phải là những nguy hiểm với điều kiện là chúng tôi không tỏ ra có ý định rút lui. Vậy không những lúc này chúng tôi "có thể" mà còn "cần thiết" phải giữ nguyên toàn bộ Đồng bằng.

        Trái lại trong tương lai, tôi cho rằng tình hình sẽ trở nên rất đáng lo ngại. Quả vậy, nếu đàm phán ỏ Geneve thất bại, đến đầu mùa đông chúng tôi sẽ phải đương đầu với một khối cơ động tác chiến Việt Minh được tổ chức lại và có sức mạnh mới nhờ được viện trợ lớn. Chúng tôi cần phải sẵn sàng chờ đợi một tình hình là hình thức tác chiến kiểu như Việt Minh đã làm ở Điện Biên Phủ sẽ rộng mở, nếu chưa phải trên toàn Đông Dương, thì ít nhất là cũng trên phần phía Bắc vĩ tuyến 18, nơi mà ỏ đây một hệ thống đường xá phát triển sẽ giúp cho đớì phương vận chuyển tiếp tế thuận tiện.

        Vậy là ngay từ mùa hè, chúng tôi đã phải có biện pháp để sang thu là có thế đối phó với tình hình tác chiến mới nói trên, hình thức tác chiến chắc chắn sẽ xảy ra nếu như chiến tranh tiếp diễn. Cần phải hành động ngay từ bây giờ, coi như Geneve chắc chắn sẽ phải thất bại, bởi phía Việt Minh, chắc họ sẽ không ngừng chuẩn bị cho cuộc chiến. Muốn vậy, tôi thấy nước Pháp cần phải gửi thêm tăng viện mà tôi nói trong báo cáo. Số tăng viện này lớn đấy, nhưng còn xa nó mới vượt quá khả năng của nước Pháp. Gửi tăng viện sớm là tạo cơ may tốt nhất cho chúng tôi giành được một nền hoà bình thích đáng ở Geneve. Trường hợp hội nghị thất bại, số quân trong khi chờ đợi sự can thiệp của Mỹ, mà trong trường hợp này chắc sẽ có nhiều khả năng xảy ra.

        Xuất phát từ những nhận định trên, tôi đề ra một kế hoạch để tiến hành trong mùa hè như sau: kiên quyết giữ vững những vị trí hiện tại (không có nghĩa là không có những điều chỉnh chi tiết); chuẩn bị để đến đầu mùa thu, có thể rút bỏ một số nơi xét thấy cần phải rút trong trường hợp Geneve thất bại, mà chiến tranh vẫn tiếp diễn và viện binh Pháp nhận được trong mùa hè lại không đủ để giữ tất cả.

        Để thực hiện kế hoạch trên và làm cho nó ăn khớp với một số điều trong chỉ thị của Chính phủ mà tôi nhất trí, tôi dự kiến một số biện pháp như sau:

        - Ở tất cả mọi nơi, quân đội viễn chinh sẽ được tập trung lại, miễn làm nhiệm vụ chiếm đóng - nhiệm vụ từ nay sẽ giao cho quân đội các Quốc gia liên kết. Tất cả các đơn vị của quân đội viễn chinh sẽ trở nên cơ động.

        - Bộ chỉ huy Việt Nam sẽ phụ trách những khu vực không quan trọng, đặc biệt là những khu vực dự kiến sẽ bỏ. Biện pháp này phù hợp với mong muốn từ lâu của chính quyền Việt Minh, và có cái lợi là để cho họ chịu trách nhiệm về những cuộc rút bỏ cuối cùng, chừng nào mà họ thấy không tự mình giữ được. Nó cũng cho phép những người Việt Nam chuẩn bị - như họ nói là có ý định - cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh ở những vùng phải rút bỏ.

--------------
1. Đặc biệt những khu công giáo Nam Đồng bằng là những khu tuyên quân tốt nhất của Pháp (nhất là đối với những đơn vị dù).

2. Từ 10-5, Tướng Cogny đã tuyên bố với các nhà báo là: ông nghĩ rằng sẽ không có sự uy hiếp nào nghiêm trọng đối với Đồng bằng cho đến trước tháng 9. Ngày 11 tháng 5, tôi điện cho Tướng Ely: "Hoàn toàn đồng ý với Cogny. Phản đối mọi cuộc rút quân được tiến hành từ lúc này và với tinh thần ưu tiên."
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #71 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 08:47:13 PM »

        Trên những cơ sở đó, sẽ tiến hành như sau:

        Ở Đồng bằng Bắc Bộ, quân viễn chinh sẽ tập trung ở khu vực Hà Nội - Hải Phòng mà bảo vệ khu vực này sẽ trở thành nhiệm vụ chính của họ. Khu Nam và Tây sẽ chỉ có quân Quốc gia bảo vệ, nhưng điều đó không loại trừ việc đôi lúc quân viễn chinh vẫn có thê can thiệp nếu việc làm này không ảnh hưởng gì tới nhiệm vụ của họ. Tất cả mọi đồn bốt không cần thiết sẽ được rút hoặc giao cho những quân phụ lực đóng giữ - những đơn vị này có thể "lẩn biến" đi nếu họ bị tiến công.

        Tại miền Trung Đông Dương, sẽ thiết lập dựa vào triền núi dọc vĩ tuyên 18 một cái đập chắn để bảo vệ cho miền Trung và Nam Đông Dương. Việc thành lập đập chắn này sẽ được xúc tiến ở Lào.

        Khu vực Atlante sẽ giao cho bộ chỉ huy Việt Nam. Và nếu có thể được, quyền hành của chúng tôi ở đây vẫn cần được duy trì, trong khi chờ đợi, có thêm viện binh để mở rộng chiếm đóng nếu như chiến tranh tiếp diễn.

        Vậy là kế hoạch này, trong khi không làm tình hình quân sự trầm trọng thêm, còn cho phép chúng tôi chờ đợi, hoặc một cuộc đình chiến nếu thoả thuận được ở Geneve thất bại. Nó giành cho những nhà ngoại giao Pháp tất cả các con chủ bài để đạt tới hoà bình trong vinh dự. Nó lại không làm tổn hại gì đến cục diện quân sự trong trường hợp phải tiếp tục chiến tranh.

        Trước khi trở về Paris ngày 23 tháng 5, cá nhân Tướng Ely đã đồng ý vối kế hoạch của tôi và ông cho rằng nó không có gì trái ngược vói những chỉ thị của Chính phủ mà ông đã chuyển đạt cho tôi1. Theo yêu cầu của tôi, ông đã viết giấy xác nhận sự đồng tình của ông (tuy phải công nhận là với những lời lẽ khá nhập nhằng, nước đôi).

        Mặt khác, tôi còn phát biểu với Tướng Ely rằng dù sau này thế nào - hoà bình hay tiếp tục chiến tranh - vẫn cần thiết là từ nay ở Đông Dương, quyền hành chính trị và quân sự nên được giao thống nhất vào tay một tổng tư lệnh và người này sẽ được Chính phủ uỷ quyền một cách rộng rãi trong giao tiếp đốì với Mỹ. Tôi còn nói thêm rằng chính ông ta đã là người xứng đáng hơn cả để đảm đương chức vị ấy. Tôi cũng nói với ông là việc thay thế đó nên được tiến hành ngay sau khi các chiến dịch lớn đã kết thúc, nghĩa là vào khoảng tháng 7.

        Chưa bàn tính gì đến tương lai, Tướng Ely trả lời tôi rằng, về phần ông ta, ông phản đối tất cả mọi thay đổi nhân sự lúc này chừng nào mà tình hình còn chưa được ổn định. Điều đó cho phép tôi nghĩ ông sẽ ủng hộ kế hoạch của tôi trước chính phủ và dành cho tôi thời gian để thực hiện kế hoạch đó khi nó đã được chấp nhận.

        Nhưng Tướng Ely vừa về tới Pháp thi báo chí đã ầm ĩ loan tin về một kế hoạch hoàn toàn khác mà Tướng Ely sẽ đệ trình Chính phủ. Kế hoạch này dự tính nhiều cuộc rút bỏ quan trọng và ngay tức khắc ở Bắc bộ và những nơi khác. Tất cả các "chiến lược gia - sa lông" của Nghị viện và các "nhà quân sự tài ba" của các báo - vì báo nào chẳng có nhà quân sự sành sỏi của riêng mình, mặc dầu họ thường là người ít biết nhất về vấn đề Đông Dương và dù thế nào đi nữa, là về thực tế tình hình - đều khẳng định một cách không thể chối cãi được về sự cần thiết của những cuộc rút bỏ ấy.

        Không nghi ngờ gì, Tướng Ely đã bị làn sóng hoảng loạn ấy tác động tới. Và chắc ông cũng bị ảnh hưởng bởi Tướng Salan, người đã theo ông sang Đông Dương và là người tán thành ưu tiên cho rút lui. Nhưng trước tiên tôi cho rằng ông đã phải ngả theo ý định của chính phủ, lúc ấy đã phải bận tâm trước một cuộc thảo luận rất khó khăn của Quốc hội sắp tới và cũng muốn loan báo cho mọi người biết là Chính phủ cũng "đã làm được một cái gì đó".

        Mặc dù thế nào và tuy được nghe những dư luận khiến tôi biết là giữa giải pháp rút bỏ và giải pháp kiên quyết bám trụ. Chính phủ ngày càng nghiêng về giải pháp thứ nhất, tôi vần không một chút thay đổi về đường lốì mà tôi đã xác định. Tôi chỉ yêu cầu chính phủ, hoặc chính thức cải chính tin đồn là sắp gọi tôi về, hoặc thay đổi ngay tức khắc.

        Ngày 25 tháng 5, tôi hạ lệnh thi hành kế hoạch mà tôi đã đề ra. Trong một cuộc họp ở Sài Gòn có sự hiện diện của ông cao uỷ, các quan chức Việt Nam được thông báo về kế hoạch và họ đều nhất trí.

        Cuối tháng 5, trong một vòng đi kinh lý các chiến trường, tôi đã gặp gỡ các chỉ huy và làm cho họ hiểu rõ các mệnh lệnh. Tôi nhận thấy tinh thần các sĩ quan Pháp rất vững vàng và qua tiếp xúc với họ, tôi vững tin là Pháp có thể duy trì được tình hình đến cuối mùa hạ.

        "Vết đen" được báo hiệu ở mọi nơi là tinh thần của quân đội Việt Nam. Sự sa sút của họ bắt đầu từ khi họp hội nghị Berlin lại bị tác động bởi thất bại ở Điện Biên Phủ, ngày càng tiến triển một cách đáng lo ngại. Nhưng ở mọi nơi tôi đều được khuyên rằng mọi cuộc rút lui, nhất là lại được quyết định từ phía Pháp, đều có những tác động rất tai hại. Đặc biệt là Tướng Cogny, ông khắng định điều đó. Ông báo cho cao uỷ và tôi biết, vài ngày trước khi trả lòi câu hỏi của Tướng Ely, ông khẳng định là cho đến trước tháng 9, hoàn toàn không có sự đe doạ nào nghiêm trọng đối với Đồng bằng và với những phương tiện hứa sẽ cấp hoặc đã được cấp (ba binh đoàn cơ động), ông có thể đương đầu với mọi tình hình có khả năng xảy ra. Tướng De Bofors, chỉ huy khu Tây Nguyên và khu vực Atlante, cũng phản đối mọi cuộc rút lui tức khắc.

---------------
1. Theo hồi ký của ông Laniel thi chính những chỉ thị này do Tướng Ely thảo ra.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #72 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 08:51:32 PM »

        Ngày 30 tháng 5, tôi gửi chính phủ một bức điện - không ngờ đó lại là bức điện cuối cùng - tóm tắt vài nét về tình hình chung. Sau khi báo cáo tình hình các chiến trường, tôi kết luận: "Nỗ lực của đối phương đã giảm đi nhiều, trừ vài hoạt động mới ở Trung Việt Nam. Còn nghi ngờ là liệu Việt Minh có tấn công lớn vào Đồng bằng hay không. Nếu có thì phải từ ngày 20 tháng 6 trở đi, khi đại quân Việt Minh từ Điện Biên Phủ trở về có thể bắt tay vào nhiệm vụ. Nếu xảy ra thì với tương quan lực lượng và sự tập trung của quân Pháp, ta có thể tin tưởng ở cuộc đọ sức. Bộ chỉ huy Việt Minh hình như chưa quyết định đánh hay không và điều đó còn tuỳ thuộc nhiều vào việc họ đánh giá quyết tâm của chúng ta" (Xem nguyên văn bức điện ở phụ lục số 1).

        Ngày 3 tháng 6, tôi được biết Tướng Ely thay ông Dejean và tôi kiêm nhiệm cả nhiệm vụ cao uỷ và tổng tư lệnh.

        Nội dung bức điện, do Thủ tướng ký, nói rõ: "Tôi mong ông hãy... thi hành những biện pháp thích hợp với những chỉ thị mà Tướng Ely đã truyền đạt cho ông". Câu này chứng tỏ chính phủ đã chấp nhận giải pháp rút lui.

        Ngày 8 tháng 6, tôi chính thức thôi nhiệm vụ tổng chỉ huy, không quên nhắc với Tướng Ely rằng quyết định rút lui của chính phủ thực là tai hại.

        Ngày 15 tháng 6, khi tôi lên máy bay trở về Pháp, mọi nhận định của tôi về tình hình - như đã nói trong điện ngày 30 tháng 5 đều chưa có điều gì bị bác bỏ. Trước mắt vẫn chưa xảy ra một đe doạ trầm trọng nào cả.

        Ngay sau ngày tôi đi, người ta đã chuẩn bị để tiến hành những cuộc rút lui quan trọng mà trước đây tôi đã từ chối.

        Trên Tây Nguyên, vào cuối tháng 6, Pháp rút tập đoàn cứ điểm An Khê - một vị trí then chốt đóng vai trò chiếc nhọt độc thu hút lực lượng Liên khu 5, cũng tựa như Điện Biên Phủ thu hút đại quân Việt Minh. Thiếu vũ khí nặng, lực lượng Việt Minh Liên khu 5 không đủ khả năng đánh chiếm An Khê và bộ chỉ huy của họ cũng không hề nghĩ tối điều này. Bất chấp ý kiến không tán thành của Tướng De Bofors, chỉ huy Tây Nguyên, việc rút An Khê vẫn được quyết định.

        Giữ An Khê là binh đoàn cơ động số 100 (GM 100), mà nòng cốt là tiểu đoàn Triều Tiên, một tiểu đoàn rất vững, được chỉ huy tốt và giỏi chiến đấu phòng ngự. Nhưng việc rút lui của nó là một cuộc hành quân rất mạo hiểm; đưòng thì khó khăn, lại không giữ được bất ngờ (vì Việt Minh đã biết được ý định rút nó trước nhiều ngày). Kết quả là GM 100 đã bị tấn công và mất toàn bộ ban chỉ huy, 1 tiểu đoàn pháo, 250 xe và một số quân là 1.200 người.

        Được rảnh tay, lực lượng Việt Minh Liên khu 5 tràn xuống phía Nam, làm cho tình hình trở nên rất khó khăn. Chỉ vài ngày nữa là kết thúc hội nghị Geneve, chúng tôi đã biếu không một thắng lợi cho Việt Minh.

        Việc di tản ở khu Nam Đồng bằng Bắc Bộ mà Tướng Cogny cũng như tôi đều phản đối, được tiến hành từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 7 dưới cái tên "hành quân Auvergne". Tiếp đó là vài cuộc di tản tương tự, kém quan trọng hơn, dẫn đến cuộc tông di tản về khu vực Hà Nội - Hải Phòng.

        Tất cả các cuộc hành quân ấy đều được tiến hành trôi chảy nhưng dẫn tới sự tan rã hàng loạt các đơn vị Việt Nam và cuộc di tản của công giáo Đồng bằng trong những điều kiện rất cơ cực. Đối phương không có hành động gì đáng kể để ngăn chặn chúng tôi rút quân và trong những cuộc giao tranh mà họ tiến hành, rõ ràng họ tỏ ra yếu hơn chúng tôi. Hầu như ở khắp cả, họ chỉ hạn chế trong việc đuổi theo mà không kiên quyết tấn công, điều đó chứng tỏ họ chưa sẵn sàng đế mở một cuộc tiến công lớn vào Đồng bằng, một cuộc tiến công có khả năng gây nguy hiếm cho Pháp.

        Trên phần còn lại của Đông Dương, không có một cuộc tiến công nào lớn, còn những trận xảy ra (đặc biệt ở Trung và Hạ Lào) thì lại diễn biến có lợi cho chúng tôi. Ở Thượng du Bắc Bộ và Thượng Lào, quân "du kích" của Pháp còn tăng cường hoạt động và thu được những thắng lợi có tính chất địa phương.

        Mô tả lại một cách rất vắn tắt diễn biến tình hình quân sự kể từ lúc tôi rời Đông Dương cho tới lúc ký kết hiệp định là như vậy đấy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #73 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 08:57:03 PM »

        
CHƯƠNG IX

ĐÌNH CHIẾN

        Khi tôi sang cầm quyền ở Đông Dương, nước Pháp chẳng có một kế hoạch gì về hoà bình cũng như về chiến tranh.

        Điều đó hoàn toàn khác với đối phương. Với Việt Minh, mục đích chiến đấu là giành độc lập hoàn toàn cho đất nước, gạt bỏ quyền bá chủ của Pháp đối với Đông Dương. Nhưng ý thức được những khó khăn khi phải sống một mình đương đầu vối Trung Quốc mà theo kinh nghiệm lâu đời, họ rất ngán chủ nghĩa bá quyền của ông bạn láng giềng, nên ít nhất trong một thòi gian, họ sẵn sàng muốn ở lại với khối Liên hiệp Pháp nhưng chỉ ràng buộc với nhau bởi những mối liên hệ rất lỏng lẻo về kinh tế và văn hoá.

        Với nhận thức sâu sắc: chiến tranh là một tổng thể thống nhất, trong đó chính trị và chiến lược quyện chặt vào nhau, nên trong khi vẫn tìm cách đánh thắng bằng quân sự, Việt Minh vẫn còn tìm mọi cơ hội do chính trị đưa đến để đạt được mục đích của họ.

        Hình như cho đến mùa hè 1953, Việt Minh chưa nghĩ là họ có thể thắng trận trước 1955 hay 1956. Về phương diện quân sự, họ còn phải mất một hoặc hai năm nữa mối có thể tiến công lớn để giành thắng lợi quyết định, nếu như viện trợ vẫn giữ ở nhịp độ tương tự như những năm trước, về phương diện chính trị cũng vậy, tình hình chưa cho phép họ có những hy vọng sớm: tuy ngày càng chán ghét chiến tranh, dư luận Pháp vẫn chưa chín muồi tới mức bỏ cuộc để lập lại hoà bình.

        Thê mà đột nhiên, vào mùa thu 1953, xuất hiện những triệu chứng về sự chuyển hướng trong các xem xét của Chính phủ Việt Minh. Triệu chứng đầu tiên là việc đề ra kế hoạch tác chiến mới nhằm mục tiêu là nước Lào. Chúng tôi phát hiện ra ý định này vào những ngày đầu tháng 11. Sau đó ít lâu là ông Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đàm phán để nhanh chóng lập lại hoà bình, trực tiếp thương lượng với nước Pháp.

        Vậy nguyên nhân tại sao mà những nhà lãnh đạo Việt Minh tin chắc là có thể thoả thuận để lập lại hoà bình nhanh chóng và họ rất có lợi khi đề xưóng ra việc ấy?

        Nguyên nhân một phần là thuộc về quân sự.

        Việc thực hiện "kế hoạch Navarre" đã khiến đốì phương lo ngại sâu sắc; tin tức điện đài của họ cũng như nhiều nguồn tin khác của Pháp đã xác nhận điều đó. Việc Pháp giành lại quyền chủ động, được thể hiện bằng các hoạt động tiến công trong mùa hè 1953; sự phát triển của các quân đội liên kết; việc tổ chức khối quân cơ động và nhất là mối lo sợ từ nay chúng tôi đã có một kế hoạch hoàn chỉnh nhất quán để điều hành chiến tranh, - tất cả những cái đó đã làm cho lãnh đạo Việt Minh cảm thấy nguy cơ là họ có thể bị chúng tôi vượt qua.

        Cũng chắc chắn rằng, do rất nhiều "rò rỉ" tin tức của Pháp ở Đông Dương và ở Pháp, họ đã biết là chúng tôi có rất nhiều khó khăn trong chiến cục 1953 - 1954, nhưng khi vượt qua được bước hiểm nghèo đó, thì sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong chiến cục tiếp theo.

        Và họ tự nhủ, tốt hơn là ngay trong năm nay phải cố gắng giành lấy những thắng lợi quân sự có khả năng khai thác, khuếch trương nó về mặt chính trị. Nhưng dù những lý do quân sự có quan trọng đến đâu chăng nữa thì quyết định nhất vẫn là những lý do chính trị.

        Lý do chủ yếu là Việt Minh đã phát hiện ra rằng, vào mùa hè 1953, dư luận công chúng Pháp, và nhất là ở nghị viện Pháp, đã bất bình với cuộc chiến ở Đông Dương tới mức như thế nào1.

        Một căn cứ quan trọng khác đối với các nhà lãnh đạo Việt Minh là họ biết rất rõ, tiếp theo "Tuyên bố1 ngày 3 tháng 7, các cuộc đàm phán giữa nước Pháp và các Quốc gia liên kết về vấn đề thực hiện quyền độc lập của các quốc gia này đã diễn ra trong những điều kiện "tế nhị" như thế nào. Thực vậy, trong quan hệ giữa Pháp và Quốc gia liên kết, một cuộc khủng hoảng đã xuất hiện và nó gây trở ngại cho một nỗ lực lớn về chiến tranh. Trái lại, nếu hiệp định được ký kết, các Quốc gia liên kết - nhất là Việt Nam với ý thức về quyền độc lập đã đạt được của mình, có lẽ sẽ khai thác được ở đó một nguồn sức mạnh cần thiết để gia nhập chiến tranh một cách mạnh mẽ hơn, thực sự hơn.

--------------
1. Sau khủng hoảng nội các kéo dài - hậu quả của việc nội các Renè Mayer sụp đổ (tháng 5-6-1953) - ông Mendès France người thuộc phe chủ hòa với bất kỳ giá nào, đã được đa số Quốc hội đồng ý cử ra lập Chính phủ mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #74 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:01:14 PM »

        Tất cả dường như xác nhận rằng vào cuối 1953 đầu 1954, tình hình bên phía chúng tôi, nhìn cả về chính trị và quân sự, sức chổng đỡ tỏ ra yếu kém hơn nhưng rồi sau đó tình hình lại dần dần được cải thiện.

        Chính từ cách nhìn nhận chung như vậy, cả chính trị và quân sự, mà không nghi ngờ gì bắt đầu từ 1954, Việt Minh đã cố tìm kiếm hoà bình bằng thương lượng. Lợi ích của họ là chấm dứt những sự thù địch; hơn thế nữa, tin chắc vào ưu thế so với chúng tôi về tuyên truyền, ngoại giao và hoạt động chính trị, họ có tất cả mọi lý do để hy vọng giành được hoà bình. Một cơ hội đã xuất hiện mà họ cần triệt để khai thác. Đánh dấu bước mở đầu sự khai thác ấy là sự thay đổi kế hoạch quân sự và những lời tuyên bố của ông Hồ Chí Minh.

        Câu trả lời chính thức của chính phủ Pháp với ông Hồ Chí Minh là một lời từ chối, nhưng được ngụy trang bằng sự chấp nhận trên nguyên tắc kèm theo những điều kiện mà chắc chắn Việt Minh sẽ gạt bỏ. Đó chẳng qua chỉ là sự dung hoà hai khuynh hướng đang chia rẽ chính phủ: Một bên là phản đốỉ thương lượng (trong đó có ông Laniel và nhất là ông Bidault), một bên là muốn tiếp xúc với đối phương (trong đó có ông Paul Raynaud và ông Marc Jacquet).

        Trên mọi phương diện, sự kết hợp giữa chính trị - quân sự đã được Việt Minh tiến hành với một sự khéo léo bậc thầy.

        Về quân sự, Việt Minh đặt chúng tôi trước một vấn đề mà họ biết là hóc búa nhất: đó là vấn đề bảo vệ Lào. Họ để tôi chỉ có thể lựa chọn giữa hai giải pháp, mà cả hai giải pháp đều đáng sợ như nhau: hoặc bảo vệ người bạn đồng minh và dấn sâu vào một công việc nguy hiểm, hoặc bỏ rơi bạn và chấp nhận việc khổì Liên hiệp Pháp bị giáng đòn chết tươi trước khi nó kịp ra đời.

        Về chính trị, mục đích của cuộc vận động của Việt Minh là phá hoại tinh thần của nước Pháp và các Quốc gia liên kết.

        Đối với dư luận Pháp, vẫn là bài ca muôn thủa: cuộc đấu tranh vô ích, hao người tổn của, hy sinh chỉ để béo bở cho người Mỹ, v.v... Người ta "khoe", nếu hoà bình, nước Pháp vẫn giữ được những quyển lợi nhất định về kinh tế, văn hoá và có thể cả về chính trị: quyền lợi của Pháp vẫn được cứu vãn, vậy tại sao phải tiếp tục chiến tranh? Chiến dịch tuyên truyền của Việt Minh lại được sự phụ họa tích cực của một số chính trị gia Pháp, những người muốn nhảy ra nắm quyền bằng cách ủng hộ hoà bình bất kể đó là thứ hoà bình như thế nào.

        Đốì với các Quốc gia liên kết, Việt Minh tuyên truyền có hoà bình là có độc lập và người Pháp phải ra đi. Việt Minh úp mở cho họ biết là bất kỳ giá nào người Pháp cũng phải sửa soạn để bỏ cuộc và thương lượng với Việt Minh. Quân đội các Quốc gia Việt Nam là mục tiêu chính của chiến dịch tuyên truyền này.

        Trong cuộc vận động tuyên truyền của mình, Việt Minh còn có cái lợi là Pháp có con bài gì thì họ đều biết và nắm chắc, còn phía họ thì mọi con bài đều được giấu kín.

        Trước ngón "võ kín" của Việt Minh, miếng võ của chúng tôi lại lúng túng hơn bao giờ hết.

        Các nhà lãnh đạo của chúng tôi sợ đàm phán nhưng lại cảm thấy rồi một ngày nào đấy nó sẽ đặt ra, bởi dư luận không thể chấp nhận việc gạt bỏ đề nghị của đối phương mà không có sự bàn bạc gì cả. Vả lại, họ còn phải lo cho những cuộc bầu cử sắp tới và đấy là mối quan tâm chủ yếu của họ.

        Vậy có thể mở những cuộc đàm phán như thế nào mà không đến nỗi quá nguy hiếm? Đàm phán trực tiếp với đối phương hay giải quyết sự việc Đông Dương trong khuôn khổ một cuộc đàm phán quốc tế.

        Phương pháp thứ nhất có những cái lợi chắc chắn.

        Đương nhiên nước Pháp không thể đàm phán với Việt Minh mà không có sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam, nhưng chắc họ sẽ đồng ý tham gia và đó là giải pháp tốt nhất đối với cả Pháp và Việt Nam. Đối với Việt Nam, đây là cả hai bên (quốc gia và Việt Minh) thống nhất lại với nhau. Còn nước Pháp thi chỉ có lợi, vì khi đóng vai trò trọng tài - hay ít nhất là trung gian - giữa hai bên ho sẽ có thể duy trì được sự hiện diện của mình ở Đông Dương.

        Đàm phán trực tiếp sẽ có một cái lợi lớn khác là có thể tiến hành nó một cách bí mật, có nghĩa là sẽ ít nguy cơ gây tác động đối với tinh thần dân chúng và quân đội.

        Nhưng đàm phán trực tiếp cũng gây phiền phức lớn là có nguy cơ "đụng chạm" người Mỹ. Đối với người Mỹ, chiến tranh Đông Dương chỉ là một dạng của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa cộng sản. Chấm dứt chiến tranh và đàm phán với Việt Minh không có sự tham gia của Mỹ, chúng tôi sẽ bị buộc tội là đào ngũ khỏi mặt trận chống cộng phương Tây. Tuy nhiên, Mỹ không thể đòi hỏi chúng tôi phải giành chiến thắng ở Đông Dương trong khi chính họ, với phương tiện ưu thế hơn chúng tôi gấp bội, họ lại không thắng trận ở Triều Tiên. Vì vậy chắc họ cũng có thể đồng ý với một giải pháp có khả năng cứu vãn được phần chủ yếu của những quyền lợi của phương Tây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #75 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:04:22 PM »

        Họp hội nghị quốc tế sẽ có những bất lợi ghê gớm. Nó có vẻ đầy kịch tính và gây nguy hại đối với tinh thần quân đội, đồng thời lại tạo cơ hội cho đối phương đẩy mạnh tuyên truyền tối mức tối đa. Nó còn khuyến khích Việt Minh ra sức giành những chiến thắng vang dội hơn nữa. Còn với chúng tôi, quyền chủ động hành động sẽ rất bị hạn chế bởi lúc nào cũng phải tính đến những ý đồ của Mỹ rồi của Anh. Cuối cùng, phía sau Việt Minh là bóng dáng của người Trung Quốc, người Nga.

        Nhưng các nhà chính trị và ngoại giao của chúng tôi chỉ trông thấy những cái lợi, mà phần lớn đó chỉ là những ảo tưởng. Họ tưởng rằng sự nâng đỡ của Mỹ và Anh sẽ giúp chúng tôi vượt qua được những trở ngại mà Liên Xô, Trung Quốc sẽ dựng lên để ngáng trở thành công của đàm phán. Họ tự ru ngủ bằng hy vọng hão huyền là có thể lôi kéo được Trung Quốc bỏ rơi Việt Minh bằng cách đưa ra một số quyền lợi kinh tế hay quyền lợi khác để mồi chài: đó chính là "tư tưởng lớn" của các ngài ở đường Orsay (ám chỉ Bộ ngoại giao - ND) mà thời kỳ ấy, nó phải thực tế đến cực độ.

        Nói gọn lại, hôm sau ngày ông Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đàm phán hoà bình, lập trường của chính phủ Pháp - lập trường duy nhất mà một Chính phủ thiếu người cầm đầu có uy tín lại chia rẽ nội bộ có thế có được - là lẩn tránh, nếu lẩn tránh được, những cuộc đàm phán, và nếu đó là điều không thể tránh khỏi thì tốt hơn là tiến hành nó trong khuôn khổ của một cuộc hội nghị quốc tế.

        Vậy là trước một đối phương có kế hoạch nhất quán, bằng cách vừa đánh thắng về quân sự, vừa gây sức ép về chính trị để buộc Pháp phải đàm phán thì chúng tôi chỉ bám hờ vào những chỗ dựa chênh vênh cả về quân sự - mà chúng tôi đang dấn sâu vào một chiến cuộc rất khó khăn - cũng như về chính trị - mà ở đấy cách xử sự của chúng tôi tỏ ra bấp bênh do dự.

        Vào những tháng 11, 12 năm 1953 và tháng 1 năm 1954, Việt Minh đẩy mạnh hoạt động kết hợp giữa chính trị và quân sự.

        Người ta nhận thấy hoạt động quân sự của họ đã bị chững lại vào ngày 15 tháng 1. Và chúng tôi có thể hy vọng sau khi đánh vào Điện Biên Phủ, mà với những phương tiện như đã biết rõ thì chắc không thể thành công, Việt Minh sẽ phải giảm dần và ngừng các chiến dịch tiến công khi mùa mưa tới.

        Ngược lại, Việt Minh đã thành công lớn trên mặt trận đấu tranh chính trị. Ở Pháp, xu hướng đàm phán tiến những bước dài. Ở Đông Dương, chính phủ các Quốc gia liên kết lo lắng tự hỏi liệu họ có bị chúng tôi bỏ rơi không và tìm thấy ở đó thêm một cái cớ nữa để lẩn tránh nỗ lực chiến tranh.

        Cuối tháng giêng, hội nghị Berlin khai mạc và chính vào dịp ấy chính phủ Pháp đã đưa ra sáng kiến mà sau này nó sẽ đem lại thắng lợi cho Việt Minh. Cảm thấy không thể lẩn tránh được lâu hơn nữa các cuộc đàm phán, chính phủ Pháp đã kiên quyết đàm phán trong khuôn khổ quốc tế, cách thức đàm phán mà họ cho là có lợi hơn.

        Chính nhờ ông Pleven, lúc ấy có mặt ở Đông Dương, mà tôi biết ông đã "chấp nhận" nguyên tắc triệu tập một cuộc hội nghị về Viễn Đông, trong đó sẽ "nêu" lên vấn đề Đông Dương. Những ai sẽ tham dự hội nghị? Ông Pleven hình như không tính đến sự có mặt của Việt Minh. Cả Trung Quốc cũng còn phải xem đã. Và thời gian sẽ kéo dài bao lâu? Ông hình như cũng không biết nốt. Những gì ông nói với tôi khiến tôi có cảm tưởng đó chỉ là một hội nghị cỡ nhỏ, kéo dài độ dăm ngày và việc chúng tôi đến dự họp cũng chẳng qua để làm hài lòng dư luận công chúng và chứng minh cho họ thấy rằng lúc này để đạt tới một nền hoà bình trong vinh dự là điều không thể làm được. Cùng lúc này, Tướng Juin gửi cho tôi một thư riêng; thư càng làm cho tôi hiểu rằng hội nghị chỉ đại để như trên, bởi ông nói xa xôi là hội nghị sẽ diễn ra không có mặt của Việt Minh.

        Sau đó tôi hoàn toàn mù tịt về những gì đang được chuẩn bị không một lúc nào người ta hỏi ý kiến tôi xem hội nghị sẽ có khả năng tác động thế nào đến tình hình quân sự. Mãi tới tháng 3 tôi mới được biết - và chắc cả ông cao uỷ cũng không biết gì sớm hơn tôi rằng thực sự thế nào là hội nghị Geneve: sự tham dự của Việt Minh, tầm cỡ và tính chất quan trọng của nó, thời gian có thể kéo dài bao lâu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #76 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:08:47 PM »

        Tôi phản đối một cách quyết liệt. Trong một bức điện, tôi dùng chữ "tai hoạ" để xác định tính chất của cái quyết định họp vào một lúc đang tiến hành những chiến dịch lớn như thế. Trong bức thư ngày 23 tháng 3, tôi viết: "Có một điều chắc là hội nghị Geneve, và chỉ mình nó, đã làm cho Chính phủ Việt Minh, vào ngày 20 tháng 1, quyết định đẩy mạnh chiến tranh trong khi nó đang có chiều hướng giảm dần. Chính vì muốn chưng ra trước hội nghị một tấm bản đồ chiến sự có lợi tối đa mà Việt Minh đã lao vào tiến công Điện Biên Phủ, bất chấp mọi tổn thất". Trong một bức điện ngày 1 tháng 4, tôi viết như sau: "Ngay sau hôm việc họp Hội nghị Geneve được loan tin, theo chứng cứ chắc chắn, chúng ta biết Việt Minh đã quyết định bằng mọi cách phải gây áp lực với hội nghị và tiếp tục tăng sức ép tới cùng, nghĩa là đến cuối tháng 5 và có thể sau đó nữa. Quyết định này đã chi phối toàn bộ tình hình quân sự... Việc tăng cường chiến tranh được dựa vào sự gia tăng ồ ạt của viện trợ Trung Quốc. Nó gây khó khăn cho ta do việc buộc chúng ta phải tổng giao chiến sớm... Không nghi ngờ gì, Bộ chỉ huy Việt Minh muốn tìm cách giành thắng lợi quyết định trước khi hội nghị kết thúc hay ít nhất cũng là những chiến thắng vang dội để buộc chúng ta phải đàm phán theo ý định của họ".

        Tiếc thay, những lời phản đối ấy tới nơi quá chậm để có được tác dụng. Nó chỉ đạt được kết quả duy nhất là làm Chính phủ khó chịu, mếch lòng1.

        Việt Minh đã đạt được mục đích. Hoà bình chỉ còn tuỳ thuộc vào họ. Thực vậy, Việt Minh thừa biết khi cuộc họp được tiến hành, có sự tham gia của hàng chục các nhà ngoại giao và hàng trăm nhà báo, nước Pháp sẽ khó lòng từ chối những điều kiện được đưa ra - nhất là khi ấy lại kèm theo một thất bại nặng nề của Pháp mà người ta sẽ khai thác đê phá vỡ tinh thần nước Pháp. Chúng tôi cúi đầu chui vào bẫy.

        Trong thời kỳ giữa khi hội nghị Berlin kết thúc (18-1) và hội nghị Geneve khai mạc (26-4), người ta thấy Việt Minh tăng cường nỗ lực trên mọi phương diện.

        Từ ngày 20 tháng 1, bộ chỉ huy Việt Minh đã tiến hành mọi hoạt động để đưa chiến tranh đến đỉnh cao: từ giữa tháng 3, tấn công trên tất cả các mặt trận vói nỗ lực chính nhằm vào Điện Biên Phủ; chấp nhận những tổn thất ghê gớm và thi hành những biện pháp khắc nghiệt để đương đầu với tình hình; chuẩn bị sẵn sàng để kéo dài chiến tranh, nếu cần thiết, ngay cả đến mùa mưa. Tất cả là để nhằm "gây sức ép với hội nghị", như được viết rõ ràng trong mọi mệnh lệnh, chỉ thị.

        Nỗ lực về chính trị cũng không kém.

        Bên Pháp, mục tiêu của Việt Minh là mở rộng trong dư luận chung nỗi ám ảnh về nguyện vọng hoà bình. Tình hình Điện Biên Phủ càng xấu thì chiến dịch của phe thất bại chủ nghĩa càng được đẩy mạnh, ở Paris và Thuỵ Sĩ, giữa Việt Minh và phe hoà bình bằng bất cứ giá nào, các đại diện tăng cường tiếp xúc.

        Ở Việt Nam, mở một đợt tuyên truyền ngày càng mạnh mẽ nhằm vào dân chúng và quân đội của Pháp: Việt Minh thắng là cái chắc, Pháp sẽ bỏ cuộc, những tốt đẹp của "chế độ dân chủ nhân dân"... Quân đội là mục tiêu chính của cuộc tuyên truyền: hô hào sỹ quan và binh lính đào ngũ chạy sang với Việt Minh, hứa hẹn nếu họ đào ngũ tập thể thì toàn đơn vị sẽ được gia nhập vào quân đội nhân dân. Kèm theo hứa hẹn là những doạ nạt nếu không chịu nghe.

        Phía Pháp đi đến Hội nghị không một sự chuẩn bị.

        Quyết định đầu tiên là phải xác định lập trường của chúng tôi vê cách thức chấm dứt chiến tranh.

        Hai ý kiến khác nhau được đưa ra. Một là bằng "ngừng bắn" thuần tuý có tính chất quân sự và việc này cần được bàn bạc tại chỗ. Hai là đàm phán ở Geneve để đi đến một hiệp định gồm những bảo đảm về chính trị, quân sự và chỉ chấm dứt chiến tranh chừng nào đạt được những bảo đảm này, ít nhất là trên lý thuyết.

        Trả lời câu hỏi của Ely, tôi nghiêng về giải pháp thứ nhất sau khi cân nhắc kỹ lưỡng. Lập luận của tôi như sau. Về phương diện quân sự, việc mở hội nghị Geneve đã gây ra một tình hình tai hại. Nó làm tan rã quân đội Việt Nam. Nó khiến Việt Minh quyết định chiến thắng bằng mọi giá và Trung Quổc gia tăng viện trợ tới mức vượt quá những gì Pháp dự kiến. Nó tạo ra ở Điện Biên Phủ những điều kiện khiến việc Pháp mất tập đoàn cứ điếm là điều có thể xảy ra. Căn cứ vào tình hình như vậy, chúng tôi chẳng thể làm gì hơn, phải tìm cách rút ra từ đàm phán những gì chúng tôi đã phải trả giá. Một cuộc ngừng bắn sẽ có thể cứu được Điện Biên Phủ và ổn định tình hình quân sự.

----------------
1. Một sỹ quan bộ tham mưu của tôi đi công tác ở Paris viết trong báo cáo: "Ông Bidault tỏ ý tiếc rằng, trong một vài báo cáo của tổng chỉ huy Đông Dương, ông ta có vẻ như coi việc họp hội nghị Geneve là nguyên cớ chính và phải chịu trách nhiệm về việc Việt Minh tiến công Điện Biên Phủ và đẩy mạnh chiến tranh".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #77 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:10:57 PM »

        Thêm vào đó, theo tôi, còn một lý do quan trọng nữa. Giữa tháng 4. nghĩa là lúc cuộc chiến ở Điện Biên Phủ đang trong thời kỳ quyết liệt, người phụ trách cơ quan, tình báo của Pháp ở Đông Dương cho tôi biết: Chính phủ Việt Minh đề nghị thương lượng với tôi một cách nghiêm túc để chấm dứt chiến sự. Làm trung gian là một nhân vật quan trọng có xu hướng quổc gia, có liên lạc với Việt Minh mà cơ quan mật của Pháp biết rất rõ đánh giá là đáng tin cậy. Nhân vật đề nghị cuộc tiếp xúc cho biết ông ta có đủ chứng cứ xác đáng để chứng tỏ mình là người đại diện cho Chính phủ Việt Minh và đề nghị muốn thảo luận với một người đại diện cho chính tôi. Ông ta cũng ngỏ ý tốt hơn là không nên để ông cao uỷ biết gì về việc này.

        Cùng ngày biết tin, tôi đã gửi cho Tướng Ely một bức điện tuyệt mật. Tôi nói những lý do vì sao Việt Minh muốn tìm cách tiếp xúc với Pháp, trong đó có nguyên nhân chính là họ sợ chiến tranh sẽ bị "Triều Tiên hoá" - nghĩa là Mỹ sẽ can thiệp kéo theo cả Trung Quổc vào vòng chiến. Tôi cũng nói Việt Minh có thể đưa ra những gợi ý: thành lập một chính phủ quốc gia không do cộng sản chi phối (hay ít ra cũng tạm thời không chi phối) và gạt bỏ ảnh hưởng của cả Mỹ lẫn Trung Quốc.

        Tướng Ely chuyển cho tôi trả lời của Chính phủ. Như mọi lần, nó không rõ ràng và có tính chất hoãn binh: tôi được phép bí mật giữ tiếp xúc nhưng không trả lời những câu hỏi có thể nêu ra. Cũng bằng như bảo tôi hãy xếp xó việc ấy lại. Vài ngày sau, người đại diện cho Việt Minh nói trên đi Geneve cùng với phái đoàn của Chính phủ ông ta. Người đứng làm trung gian của chúng tôi cũng được cử đến đấy để nếu có thể được thì nối tiếp đàm phán.

        Nhưng từ đây công việc đã vượt khỏi tay tôi và chắc nó đã bị bỏ.

        Tuy nhiên nó cũng làm tôi thêm khẳng định rằng, một cuộc thương lượng trực tiếp và bí mật, tiến hành tại chỗ và trên cơ sở thực trạng tình hình quân sự, sẽ có lợi hơn là một hội nghị họp công khai ở Geneve, trong một không khí hoảng sợ, thất bại chủ nghĩa và đầy những "mưu đồ" chính trị.

        Quan điểm của tôi không được ai chia sẻ, cả Tướng Ely, cả các ngài Bộ Ngoại giao. Tôi tin chắc rằng trong tình hình lúc bấy giờ, chúng tôi đã bỏ lỡ một dịp để chấm dứt chiến tranh với những điều kiện đã xấu hơn đối với nước Pháp như đối với Việt Nam, nếu so với những gì sau đó người ta thực hiện.

        Cuộc thảo luận sơ bộ giữa ngừng bắn hay họp để đi đến một hiệp định ở Geneve đã kết thúc với phần thắng thuộc về giải pháp thứ hai. Bây giờ cần xác định tiếp: hoà bình mà người ta muốn đạt tới là một thứ hoà bình như thế nào?

        Có thể dự kiến hai hình thức: hoặc là duy trì một nước Việt Nam thống nhất, có một chính phủ "liên hiệp quốc gia", trong đó có đại diện của hai bên tham dự; hoặc là chia cắt đất nước theo "kiểu Triều Tiên".

        Giải pháp thứ nhất có thể dẫn đến nguy cơ đáng kể - nếu không muôn nói là chắc chắn - là chính phủ "liên hiệp" đó sẽ bị cộng sản không chế. Nhưng nếu tính đến sự ngán sợ của Việt Minh khi phải đặt mình hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc thì người ta rất có lý khi nghĩ rằng có thể thiết lập ở Việt Nam một chế độ theo "kiểu Titô". Những va chạm gần đây giữa Matxcơva và Bắc Kinh càng làm cho phương án đó có thể thực hiện được.

        Dù sao chăng nữa, giải pháp này cũng là giải pháp duy nhất cho phép nước Pháp đóng vai trò trung gian giữa các xu hướng khác nhau của Việt Nam và tự khắng định mình là một bức thành chống lại những mưu đồ của Trung Quốc và Mỹ, do đó tạo cho Pháp một cơ hội để có mặt ở Đông Dương.

        Giải pháp này tất nhiên đòi hỏi chúng tôi phải gạt được Mỹ. Điều đó không phải là loại trừ nếu công tác ngoại giao của chúng tôi thuyết phục được Mỹ, làm cho họ hiếu rằng một nước Việt Nam thống nhất và trung lập - dù là trung lập tương đối - sẽ bảo vệ Đông Nam Á tốt hơn một Nam Việt Nam thân Mỹ nhưng phó mặc cho sự uy hiếp của một Bắc Việt Nam chắc chắn là cộng sản, mạnh và năng động hơn, lại được Trung Quốc và Liên Xô nâng đỡ.

        Ngược lại, giải pháp chia cắt theo kiểu Triều Tiên có cái lợi là duy trì được ở Nam Đông Dương một vùng lãnh thổ về lý thuyết là được bảo vệ an toàn khỏi ảnh hưởng cộng sản, và ở đây có thể có những căn cứ của phương Tây - nghĩa là của Mỹ. Phương án này được Mỹ tán thành, cả Anh cũng vậy, vì theo con mắt của họ, nó bảo vệ cho Malaysia.

        Một sự bối rối lớn bao trùm các Quốc gia liên kết. Campuchia nằm toàn bộ ỏ phía Nam, trước mắt không phải đối phó với vấn đề gì nghiêm trọng. Trái lại, đối với Lào, việc chia cắt Việt Nam sẽ là một tai hoạ cho phần phía Bắc của họ; phần đất này chịu ảnh hưởng của Pathét Lào, sè bị phó mặc cho cộng sản Bắc Việt. Ở Việt Nam, nếu có một số người Nam Kỳ vốn ghét dân Bắc Kỷ - do gờm cái tính năng động và chịu khó chịu khổ của những người này - mà chừng nào tán thành việc chia cắt thì không còn nghi ngờ gì nữa, đại bộ phận dân chúng đều tán thành việc thống nhất đất nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #78 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:13:18 PM »

        Việt Minh chắc chắn là muốn thống nhất đất nước, điều luôn luôn là một trong những đòi hỏi chủ yếu của họ. Nhưng mong muốn trước hết của họ là ký được hiệp định, cho nên trong trường hợp gặp khó khăn quá lớn, họ có thể sẵn sàng chấp nhận một sự chia cắt tạm thời trước mắt đem lại cho họ những điều lợi.

        Trước hết là lợi về quân sự. Đối với hai bên đối địch, trọng tâm lực lượng là ở ngoài Bắc. Dồn chúng tôi ra khỏi miền Bắc, Việt Minh giành được ở chúng tôi một nhượng bộ có lợi hơn so với việc họ nhượng bộ khi chúng tôi phải rút khỏi miền Nam. Bởi ở miền Nam, họ chỉ có ít quân chính quy nhưng lại có một số lớn quân địa phương và du kích mà bề ngoài họ có thể giải tán nhưng thực tế bên trong thì họ vẫn giữ lại.

        Về chính trị, việc chia cắt đất nước không phải không có lợi cho Việt Minh. Nó cho phép họ ngay lập tức lên địa vị một quốc gia có tổ chức và được chính thức công nhận. Nó cho họ có thời gian để "tiêu hoá thắng lợi" và chuẩn bị để sau đó giành lại miền Nam, điều mà họ quyết tâm làm bằng đủ mọi cách.

        Còn nước Pháp, họ hoàn toàn chẳng biết mình muốn gì. Họ hình như không biết rằng giải pháp chia cắt sẽ loại họ hoàn toàn ra khỏi Đông Dương, hai miền Việt Nam sẽ đối địch nhau và Mỹ sẽ can thiệp. Họ hình như không hiếu rằng đối với họ, nước cờ duy nhất có giá trị để chơi là thống nhất nước Việt Nam.

        Bên phe các nước phương Tây, trước khi họp hội nghị Geneve, vấn đề hoà bình là đối tượng bàn luận tranh cãi ở khắp nơi công cộng và nó trở nên rối rắm đến cao độ. Không một dự án, một kế hoạch, một mâu thuẫn chính kiến nào mà không được báo chí trình bày, phân tích tỷ mỉ và càng gần ngày họp thì báo chí càng sôi nổi lên cao giọng. Những tin tức đáng lo ngại ở Điện Biên Phủ, những tiết lộ về khả năng có thể can thiệp của không quân Mỹ, sự lùi bước của Mỹ khi họ bị đẩy tới chân tường, kế hoạch của Mỹ - làm ở phút chót và rõ ràng là đế che đậy sự lùi bước đó - về một liên minh ở Đông Nam Á, tất cả những cái đó đã phơi bày sự hốt hoảng của phương Tây, nó mới đối nghịch làm sao với sự bình tĩnh, kiên quyết và giữ bí mật của Việt Minh.

        Chính là vì đối với họ, Geneve đã là một thắng lợi to lớn. Họ đã dẫn dắt chúng tôi tới bước phải ngồi vào đàm phán, trong khi đó với Pháp, chỉ riêng việc phải ngồi vào bàn với những bất lợi về tình hình của chúng tôi lúc đó đã là một thất bại trông thấy trước.

        Một bức điện ngày 31 tháng 3 của Chính phủ Việt Minh (do Pháp giải mã) viết: "Hội nghị Geneve, biểu hiện cho sự chán ghét chiến tranh và sa sút tinh thần của đối tượng, là một thắng lợi của Việt Minh. Vậy trong khi Mỹ tìm cách phá hoại hội nghị, Việt Minh cần phải ủng hộ nó và tìm cách truyền bá trong hàng ngũ đối phương nguyện vọng muốn lập lại hoà bình. Để đạt mục đích ấy, trong khi khai thác thắng lợi quân sự và tình trạng chính trị rối ren ở Pháp, chúng tôi phải tìm cách làm đối phương ngày càng mất tinh thần và vì thế, cần phải mở một chiến dịch tuyên truyền và phát động một đòn tiến công về chính trị quy mô lớn".

        Chỉ mãi đến giữa tháng 4, tức hai tuần trước khi họp hội nghị chính phủ mới hỏi ý kiến ông cao uỷ và tôi về những điều kiện trong đó chúng tôi xét thấy có thể được để ký một hiệp định ở Geneve. Về phần tôi, trước đây tôi bị phớt lờ bao nhiêu thì bây giờ người ta dồn dập hỏi tôi bấy nhiêu, thôi thì đủ thứ câu hỏi, vừa lộn xộn vừa mâu thuẫn nhau.

        Câu hỏi chính và cũng là vấn đề khó khăn nhất là việc tập kết quân đội của hai bên. Đương nhiên việc tập kết này là dự kiến trước của giải pháp chính trị mà người ta có ý hướng tới. Nếu là tập kết từng phần trong từng khu vực thì có nghĩa là người ta muốn phương án thống nhất đất nước. Còn ngược lại, nếu mỗi bên đều tiến hành tập kết lớn theo một đường ranh giới nào đấy, Việt Minh ở phía Bắc, Việt Nam "quốc gia" ở phía Nam, thì điều đó sẽ làm cho tình trạng chia cắt là không thể tránh khỏi.

        Là người tán thành phương án giữ nguyên thống nhất đất nước, cả ông cao uỷ và tôi đều đề nghị công thức tập kết từng phần. Trong từng vùng Bắc, Trung, Nam, mỗi bên đều phải tập kết lực lượng vào một số khu vực được phân định ranh giới tuỳ theo tình hình quân sự của ngày đình chiến và tình trạng đó phải được giữ ổn định. Một giải pháp như thế (được gọi là "da báo") đương nhiên có khó khăn khi thực hiện nhưng có thể khắc phục được.

        Dựa vào những cơ sở đó, chúng tôi gửi về nước những báo cáo chi tiết mà sau đây là những nét chính.

        Ở Bắc Việt Nam, chúng tôi giữ Hà Nội, Hải Phòng, đường sắt - bộ giữa hai thành phố đó cũng như phần đất phía Bắc của nó, bao gồm cả khu duyên hải. Chúng tôi cũng giữ phần lớn khu phía Tây của Hà Nội. Còn Việt Minh thì tập kết ở khu Nam và một phần khu Tây đồng bằng. Các khu công giáo thì trung lập. Đối với các dân tộc thiểu số ở vùng Thượng du còn trung thành với Pháp thì có một số biện pháp nhất định để bảo vệ, giữ gìn ho.

        Ở Trung Việt Nam, chúng tôi giữ tất cả những vùng chúng tôi đã chiếm đóng. Việt Minh tập kết trong 2-3 khu vực. Khu Atlante và Tây Nguyên sẽ chia đôi theo tuyến Quy Nhơn - An Khê - Plâycu: Pháp phía Nam, Việt Minh phía Bắc.

        Ở Nam Việt Nam, Việt Minh sẽ tập kết trong 3-4 khu vực dính dáng đến các chiến khu cũ của họ và họ vẫn giữ bán đảo Cà Mau.

        Ở Lào và Campuchia. họ phải rút những nơi mà họ đã chiếm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #79 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2016, 09:21:55 PM »

        Chắc chắn Việt Minh sẽ chẳng chịu những đề nghị này nhưng tôi tin rằng, nếu phái đoàn Pháp kiên quyết bảo vệ nó ở Geneve, thì nó vẫn có thể làm cơ sở cho những cuộc tranh cãi. Ngoài ra, dự kiến phương án chia cắt Việt Nam sẽ chiếm ưu thế, Bộ ngoại giao có hỏi tôi nếu cắt thì cắt ở đâu. Tôi trả lời là Việt Minh dự kiến sẽ đấu tranh để cắt ở vĩ tuyến 16 (theo nguồn tin chắc chắn mà chúng tôi biết1, nhưng "ta chỉ có thể chấp nhận đường ranh giới ỏ vĩ tuyến 18", biên giới duy nhất chúng tôi có thể tổ chức phòng thủ được.

        Khi bắt đầu họp hội nghị, tôi lại hoàn toàn không biết gì về những cuộc đàm phán tuy rằng hiệp định đình chiến phải do tổng tư lệnh hoặc người đại diện ký kết. Tuy tôi được phép cử một người đại diện đến Geneve nhưng người này không có quyền thông tin trực tiếp với tôi tình hình. Cái danh "đại diện cho tổng tư lệnh" của ông ta chẳng qua chỉ là một cái danh hão còn trên thực tế thì phái đoàn của Bộ ngoại giao mới chính là người từ đầu chí cuối tiến hành đàm phán mà chưa bao giờ thèm hỏi ý kiến tôi.

        Vậy là tôi chỉ được biết bập bõm hội nghị đã diễn ra trong những điều kiện như thế nào nhưng chừng đó cũng đủ để tôi hiếu rằng, cái kiểu đàm phán như thế thì chỉ có thể dẫn đến kết quả xấu.

        Để kết quả có thể khác hơn, chúng tôi cần phải làm cho địch hiểu là chúng tôi kiên quyết chỉ đàm phán với những điều kiện thoả đáng đối với chúng tôi và với Việt Nam quốc gia. nếu không chúng tôi sẽ tiếp tục chiến tranh với sức mạnh được tăng cường hơn. Thái độ này chỉ có thể đạt được kết quả nếu có một số điều kiện nhất định.

        Thứ nhất là tình hình quân sự của Pháp không bị sa sút nghiêm trọng. Thế nhưng những cuộc rút bỏ vội vã và vô ích ở Cao nguyên và nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ đã làm cho điều kiện trở nên xấu đi.

        Chúng tôi cũng cần phải chuẩn bị tích cực để gửi quân tăng viện từ Pháp và Bắc Phi sang - theo như tôi yêu cầu - và loan tin nó sẽ được cấp tốc gửi sang, bất kể là tình hình hội nghị xoay chuyển như thế nào. Về nguyên tắc, người ta cũng có chuẩn bị quân tăng viện, nhưng chất lượng quá tồi mà báo chí lập tức nêu lên ngay, trong khi đó thì thời hạn xuất phát của nó lại ấn định quá xa. Việc gửi tăng viện sang Đông Dương (mà nhờ có nó đảm nhiệm cho một số nhiệm vụ chủ yếu, quân Pháp có thể dôi ra được 15-20 tiểu đoàn quân cơ động mạnh) được bàn cãi công khai và dự định sẽ tiến hành trong trường hợp đàm phán ở Geneve thất bại. Nhưng việc làm này chẳng doạ được Việt Minh, vì họ thừa biết Quốc hội và dân chúng Pháp rất ngán cái chuyện đổ thêm người thêm của vào chiến tranh; hơn thế nữa, lại đưa nó ra một cách công khai và gắn liền với thất bại của hội nghị thì điều đó chỉ càng làm cho Việt Minh hiếu rằng chúng tôi muốn hoà bình bằng bất cứ giá nào2.

        Để cuộc đàm phán tiến triến thuận lợi cho Pháp, cần phải làm cho Việt Minh và cả Trung Quốc thấy nguy cơ Mỹ sẽ can thiệp nếu hội nghị thất bại. Nhưng trước khi đàm phán thực sự tiến hành, người ta đã đem nguy cơ này ra doạ từ lâu rồi: người ta còn nhớ Mỹ đã đề nghị cho không quân cứu Điện Biên Phủ rồi sau đó lại "rút lui" như thế nào. Việt Minh thừa hiểu là trước mắt, chưa có gì đáng lo ngại về phía Mỹ cả.

        Nhưng hơn tất cả mọi sự, đàm phán có kết quả hay không là tuỳ thuộc vào thái độ của các nhà ngoại giao của chúng tôi. Họ cần phải làm cho Việt Minh và phe cánh cảm nhận được ở chúng tôi một ý chí sắt đá là không phải thứ hoà bình nào chúng tôi cũng chấp nhận. Song ở Geneve, phái đoàn Pháp đã phơi bày một sự bi quan đen tối nhất. Trong khi cần trình bày thất bại ở Điện Biên Phủ với đúng thực chất của nó, nghĩa là một thất bại có tính chất chiến thuật, đương nhiên là trầm trọng đấy, nhưng không phải là làm suy yếu những khả năng chiến lược của chúng tôi, thì các nhà ngoại giao Pháp, chẳng buồn giữ mồm giữ miệng, thổi phồng tầm quan trọng thất bại của Pháp, gán cho nó những hậu quả mà nó không có và nhắc đi nhắc lại cho ai muốn nghe rằng "người ta không đàm phán khi thất bại". Không một lúc nào họ tìm cách giành lợi thế bằng cách khai thác những điểm yếu chắc chắn là có của đối phương: nỗi lo ngại của Việt Minh đối với chủ nghĩa bá quyền Trung Hoa, những tổn thất, sự mệt mỏi của binh lính, nguyện vọng hoà bình của Việt Minh - mà tất cả những điểu này thì rõ ràng ai cũng biết3.

--------------
1. Trong đàm phán ở Geneve, Việt Minh đòi phân ranh ở vĩ tuyến 13 và ông Mendès France hí hửng là đã đòi được họ phải chấp nhận vĩ tuyến 17. Thế nhưng (theo nguồn tin chắc chắn của Pháp và Hồi kỷ của Khrusov cũng công nhận như thế) chưa bao giờ Việt Minh hy vọng đòi có thể cắt được ở nam vĩ tuyến 16 và chắc chắn họ sẽ chấp nhận vĩ tuyến 17, thậm chí vĩ tuyến 18. Họ đòi 13 là nhăm tạo một "thắng lợi" cho ông Mendès France - người mà họ muôn thấy giữ vững chức thủ tướng.

2. Hy vọng dọa Việt Minh bằng việc gửi quân tăng viện, chính phủ đã ra lệnh cho số quân này tiêm chủng (quy định bắt buộc khi ra hải ngoại). Nhưng quá hiểu biết chúng tôi, Việt Minh đã chẳng bị lừa vì cái mẹo trẻ con này.

3. Trong cuộc họp quốc hội ngày 20-12-1954, để chứng minh cho những điều khoản đả ký kết, ông Mendès France đưa ra một bức tranh như sau về tình hình Đông Dương lúc chớm họp ở Geneve: "Toàn bộ đạo quân chủ yếu của ta đang đứng trước nguy cơ bị tiến công lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn, và cùng với sự uy hiếp từ hướng Tây, chúng ta cũng khó bảo vệ khu cố thủ Hải Phòng. Cùng lúc ấy, tình hình đâu đâu cũng xấu, dù là Trung Kỳ, An Khê hay Đà Nẵng, Nam Kỳ. Ớ Campuchia, tình hình trở nên nghiêm trọng. Nam Lào cũng tuột khỏi tay ta" chúng ta đang bị một thảm hoạ đe doạ. Đạo quân viễn chinh có nguy cơ bị dồn vào một cái đó và bị tiêu diệt”. (Trích trong bài đảng trên tờ nước Pháp - Buổi chiều ngày 21-12-1954).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM