Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 08:03:34 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 38123 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #170 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:50:01 PM »

2. Cuộc kháng chiến của mặt trận Bình - Trị - Thiên làm thất bại mưu đồ của địch đánh chiếm toàn bộ vùng đất này để chia cắt chiến trường Đông Dương, bảo vệ an toàn hành lang giao thông từ Việt Bắc vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ, ngăn chặn địch tiến công Thanh - Nghệ - Tĩnh

Bình - Trị - Thiên, mảnh đất hẹp nhất, nằm giữa đất nước, chắp mối liên lạc giữa hai miền Bắc - Nam, một trong những điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cuộc kháng chiến toàn quốc. Vì vậy, giữ vững trận địa kháng chiến ở địa bàn này, tạo lập một hành lang an toàn cho giao thông Bắc Nam là một nhiệm vụ rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh kháng chiến của cả nước và Bình - Trị - Thiên. Trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội Đảng bộ Liên khu IV lần thứ nhất, tháng 5-1948, Người viết; “giở địa đồ mà xem, thì thấy ngay rằng địa vị Bình, Trị, Thiên là cực kỳ quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ Khu IV (vì Khu IV là gần nhất) là phải ra sức giúp ba tỉnh đó về mọi mặt, nhất là về quân sự và chính trị”(1).

Từ ngày bùng nổ cuộc kháng chiến (19-12-1946), Bình - Trị - Thiên đã trở thành một trọng điểm đánh chiếm của địch bằng lực lượng quân đội viễn chinh bao gồm các binh chủng bộ binh, pháo binh, không quân, trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang của ta tuy mới được xây dựng, vũ khí thô sơ, đã chiến đấu ròng rã, quyết liệt trong những ngày cuối tháng 12-1946 và đầu năm 1947. Cuộc chiến đấu đó diễn ra đồng thời với cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô Hà Nội, thể hiện rõ ý chí kiên cường của nhân dân ta thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”(2).

Dẫu rằng, thực dân Pháp chiếm được thành phố Huế và nhiều vùng đất khác của Bình - Trị - Thiên, song chúng không thể thực hiện được mưu đồ chiếm đóng, chốt giữ toàn bộ vùng đất này để xây dựng phòng tuyến Đà Nẵng - Đông Hà - Xavanakhẹt, cắt đôi chiến trường Đông Dương, tạ điều kiện thuận lợi cho chúng thực hiện chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”. Bình - Trị - Thiên đã khẩn trương, tích cực tổ chức, tăng cường lực lượng, các cấp bộ đảng, cán bộ, bộ đội, du kích bám đất, bám dân chiến đấu, kìm chân địch, tiêu hao, tiêu diệt địch. Thế chủ động của Bình - Trị - Thiên bắt đầu xác lập từ khi quan điểm dựa vào dân, tin ở sức mạnh nhân dân, bám dân, bám đất, để xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân được quán triệt trong các cấp lãnh đạo và chỉ huy, đội ngũ cán bộ trở về các vùng bị địch chiếm, khởi động phong trào kháng chiến toàn dân, toàn diện. Thời điểm đánh dấu sự chuyển biến quan trọng đó diễn ra vào nửa sau năm 1947.

Công tác xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân được đẩy mạnh ở hầu khắp các nơi; đồng thời, việc xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị chủ lực (Trung đoàn 95, 101, 18) bộ đội địa phương và dân quân, du kích phát triển nhanh, tạo lập nhiều chiến khu như Hòa Mỹ, Dương Hòa, Ba Lòng, làm nơi bảo vệ cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến, bảo vệ kho tàng, xưởng máy, bệnh xá. Đây cũng là nơi huấn luyện cán bộ, bộ đội và đặc biệt là giữ vững hệ thống giao thông, liên lạc Bắc - Nam, bảo đảm một điều kiện quan trọng cho sự chỉ đạo thông suốt của Trung ương Đảng tới các địa phương phía nam. Nhiều làng chiến đấu mọc lên, mà tiêu biểu là Cự Nẫm, Cảnh Dương, hiên ngang chống chọi với đội quân xâm lược nhà nghề của đối phương. Đồng thời, phong trào chống phá chính quyền địch, được gọi là phong trào phá tề, phát triển rộng khắp với sự kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong cuộc chiến đấu ác liệt chống càn quét, khủng bố của địch, lãnh đạo các cấp ở Bình - Trị - Thiên vẫn kiên trì động viên, bảo vệ nhân dân tiến hành sản xuất lương thực, thực phẩm để tự túc và cung cấp cho bộ đội, cán bộ.

Cuộc kháng chiến của quân và dân Bình - Trị - Thiên phát triển rộng khắp ở nông thôn và thành phố Huế, thủ phủ của chính quyền bù nhìn tại miền Trung. Mỗi vùng có những hình thức kháng chiến, đấu tranh riêng và cùng phối hợp thực hiện mục tiêu chung của chiến trường này là giam chân một bộ phận đáng kể lực lượng của địch, giữ vững thế tiến công về quân sự và chính trị, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, góp phần chi viện chiến trường Trung Lào, bảo vệ con đường xuyên Việt, ngăn chặn địch lấn chiếm vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Dù cho địch liên tục tăng quân từ 6.000 năm 1947 lên 31.000 năm 1952 mà vẫn bị hãm vào thế sa lầy, tiến thoái lưỡng nan, bị tiêu hao và tiêu diệt, buộc chúng phải phân tán lực lượng, giảm mức độ tập trung binh lực tại chiến trường chính.

Bình - Trị - Thiên với sức chiến đấu của mình không những giam chân khoảng 1/10 số quân của đối phương trên chiến trường Việt Nam mà còn là một chiến trường phụ phối hợp tác chiến với chiến trường chính Bắc Bộ đạt hiệu quả cao.

Tại địa bàn nông thôn, quân và dân ta vừa chiến đấu, chống các thủ đoạn chiến tranh của địch, vừa chủ động mở nhiều chiến dịch phối hợp với chiến trường chính như chiến dịch Lê Lai khi Trung ương mở chiến dịch Lê Lợi. Sau đó là các chiến dịch Phan Đình Phùng và các chiến dịch đầu năm 1951 và năm 1952 phối hợp với các chiến dịch Hà - Nam - Ninh và Hòa Bình.

Trong chiến cuộc đông - xuân 1953-1954, lực lượng vũ trang Liên khu IV sát cánh với bộ đội chủ lực của bộ và lực lượng vũ trang cách mạng Lào kìm giữ 26 tiểu đoàn địch tại Trung Lào, hỗ trợ hoạt động quân sự của ta ở Tây Bắc; đồng thời, quân và dân Bình - Trị - Thiên và Trung đoàn 18 tiến công địch trên diện rộng từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Bình, công phá nhiều đồn bốt và chặn đánh các phương tiện giao thông của địch. Trong “tuần lễ đánh mạnh” do Liên khu ủy phát động cuối tháng 3-1954 để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội địa phương và dân quân, du kích tập kích nhiều vị trí địch. Hiệu quả tác chiến tại Bình - Trị - Thiên đạt tới đỉnh cao, tiêu diệt hơn 10 ngàn tên địch, bức rút hơn 70 vị trí, giành lại phần lớn các vùng địch mở rộng chiếm đóng từ giữa năm 1953, thu và phá hủy nhiều vũ khí, xe cơ giới…

Các hình thức đấu tranh chống địch bắt lính và binh vận phát triển đều khắp trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, tạo thành phong trào thanh niên và nhân dân chống phá, ngăn chặn địch bắt lính, nhiều cuộc phản chiến, đòi giải ngũ hoặc không chịu bị điều ra trận của binh lính ngụy cũng liên tiếp diễn ra. Riêng ba tháng đầu năm 1954, có gần 2.000 ngụy binh đào ngũ, lực lượng ngụy binh tan rã từng mảng.

Ý nghĩa của những thắng lợi quân sự và địch vận trên càng gia tăng, khi một số đơn vị bộ đội cấp đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn được xây dựng tại chiến trường này được điều động đi chiến đấu trên chiến trường khác.

Cách tổ chức lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và các hình thức đấu tranh của quân và dân thành phố Huế mang nhiều nét đặc thù của địa bàn đô thị, trực tiếp đương đầu với bộ máy điều hành chiến tranh và mật vụ của địch tại thủ phủ miền Trung. Đến cuối năm 1947, nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng trong giới trí thức, học sinh và quần chúng lao động: thành lập Ban Cán sự trí thức kháng chiến bao gồm nhiều trí thức có uy tín; lập đội biệt động, đội Việt Dũng thành phố. Tiếp theo, các đội tự vệ nội thành được củng cố, phát triển đặt dưới sự chỉ đạo của Thị ủy Huế.

Cuối năm 1949, Tỉnh ủy Thừa Thiên tăng cường cho Huế nhiều cán bộ cấp huyện ủy viên. Số cán bộ này được phân phối về hoạt động tại cơ sở và các ngành quân sự, an ninh, dân vận, bộ đội địa phương Huế và đội công an xung phong được thành lập.

Các lực lượng vũ trang và tổ chức chính trị tiến hành nhiều hoạt động quân sự, binh vận và đấu tranh chính trị trong nội thành và vùng ven, tiến công nhiều đồn, bốt, trừ khử bọn Việt gian, vận động binh lính địch bỏ ngũ. Những hoạt động đó diễn ra trong điều kiện rất khó khăn do địch kiểm soát chặt chẽ, truy lùng ráo riết, khủng bố, tàn sát cán bộ và quần chúng tham gia kháng chiến. Phong trào đấu tranh tại Huế phát triển liên tục và nâng cao trong chiến cuộc đông - xuân 1953-1954. Những tháng đầu năm 1954, nổ ra hàng loạt cuộc tấn công của lực lượng vũ trang ta vào đồn, bốt, trường huấn luyện, quận lỵ, tập kích, phản kích vào các đơn vị binh lính địch đi càn quét. Công tác binh vận đã sử dụng được hàng ngàn binh lính và sĩ quan địch để chống phá từ bên trong đội ngũ quân xâm lược. Đồng thời, còn diễn ra phong trào đấu tranh của hàng vạn người ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ.

Nhiều trận đột kích của bộ đội, công an diệt trừ bọn Việt gian ác ôn, trong đó có nhiều tên đầu sỏ cấp huyện, tỉnh, phó tổng trấn bù nhìn, cảnh cáo nghiêm khắc bọn tay sai của thực dân Pháp.

Những hoạt động trên của quân và dân ta đã biến Huế thành một bộ phận của chiến trường Bình - Trị - Thiên, phối hợp và hỗ trợ tích cực cho các hình thức đấu tranh quân sự và chính trị trên địa bàn nông thôn ba tỉnh này.

Sức mạnh tạo nên những thắng lợi của chiến trường Bình - Trị - Thiên còn do sự chi viện sức của, sức người của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Đó chính là thành quả hợp lực của toàn Liên khu IV.


(1) Thư của Lãnh tụ gửi Đại hội, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 480.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #171 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:51:13 PM »

3. Bảo vệ và xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành hậu phương vững mạnh, đáp ứng yêu cầu cung cấp sức người, sức của cho các chiến trường

Xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh là một quá trình phấn đấu của đảng bộ các cấp trong liên khu, của quân và dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh dưới ánh sáng của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh và sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đó là quá trình xây dựng toàn diện về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục từ thấp đến cao.

Trước hết, trong tình hình chiến tranh đầy biến động do sự phá hoại của đối phương, Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn giữ vững và phát triển thế ổn định chính trị và đó cũng là kết quả của công tác xây dựng hệ thống chính trị. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến cuối năm 1945, các tỉnh đều đặt công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn cơ quan lãnh đạo từ cấp tỉnh đến cơ sở là nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời, xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát triển các đoàn thể nhân dân và Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang.

Hệ thống tổ chức đảng phát triển sâu rộng trên khắp mọi vùng, mọi cơ quan, doanh nghiệp và lực lượng vũ trang. Công tác phát triển đảng và xây dựng chi bộ đặc biệt được coi trọng, nhất là chi bộ tự động công tác, số lượng đảng viên tăng nhanh (tháng 10-1947, Thanh - Nghệ - Tĩnh có 11.425 đảng viên, đến tháng 5-1945, đã lên tới 15.500 đảng viên), bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ngày càng sâu sát các địa bàn và lĩnh vực hoạt động của quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã cũng khẩn trương được xây dựng và kiện toàn, trong đó có sự chuyển hóa dần chính quyền của thổ ty, lang đạo thành chính quyền cách mạng tại miền tây Thanh Hóa, Nghệ An. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tiếp tục phát triển các hoạt động của mình trên cơ sở của những tổ chức xây dựng từ trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

Hiệu quả hoạt động nổi bật của hệ thống chính trị liên khu và các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh là xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân yêu nước, các dân tộc và tôn giáo, thể hiện sự đồng cảm, nhất trí chịu đựng gian khổ, hy sinh vì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phá tan mọi mưu đồ, thủ đoạn chia rẽ dân tộc, tôn giáo của đối phương. Nhờ vậy, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã giải quyết thành công các nhiệm vụ nặng nề của hậu phương đối với tiền tuyến, của kháng chiến và sức vươn lên mạnh mẽ của Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng bắt nguồn từ sự giác ngộ trách nhiệm đó của mình.

Thanh - Nghệ - Tĩnh là địa bàn phát triển đồng bộ kinh tế, văn hóa, giáo dục dưới ánh sáng của đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kháng chiến và kiến quốc.

Trong lúc phải đối phó với các hành động phá hoại, xâm lược của đối phương, bảo vệ hậu phương an toàn, Thanh - Nghệ - Tĩnh vốn là khu vực thiếu lương thực, đã giải quyết thành công vấn đề lương thực bằng phong trào thi đua sản xuất và thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước. Cho dù các đập nước lớn bị địch đánh phá và nhiều trận lũ lụt lớn gây thiệt hại nhiều cho mùa màng, mức sản lượng lương thực vẫn đạt trung bình 450.000 tấn hằng năm, bình quân đầu người khoảng gần 200 kg thóc một năm, khắc phục được nạn đói dài ngày vốn diễn ra thường xuyên trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tự túc được phần lớn sản phẩm tiêu dùng thiết yếu như vải, giấy, và dụng cụ sản xuất.

Nền giáo dục được thiết lập, mang lại nhiều kết quả to lớn từ xóa nạn mù chữ, trong đó có Hà Tĩnh, đơn vị cấp tỉnh đi đầu trong cả nước, đến hoàn thành hệ thống giáo dục phổ thông từ cấp I đến cấp II ở mỗi tỉnh, tiếp nhận trường trung học chuyên khoa từ Huế và Liên khu III chuyển tới, thành lập nhiều trường trung cấp, sơ cấp sư phạm và Trường dự bị đại học, Trường đại học Văn khoa, Đại học Khoa học, Sư phạm cao cấp. Có thể nói, nhịp tiến của giáo dục Thanh - Nghệ - Tĩnh song hành với các bước phát triển của cuộc kháng chiến; đã đào tạo một thế hệ thanh niên có trình độ tri thức cần thiết tham gia kháng chiến, kiến quốc và chuẩn bị cho họ bước vào chặng đường mới khi kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc.

Đời sống văn hóa mới với nếp sống lành mạnh, tiến bộ và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, báo chí do nhiều nhà văn hóa tiêu biểu của cả nước hội tụ tại đây và phong trào văn hóa quần chúng tạo dựng nên, đã tạo lập một bộ mặt mới của vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, góp phần quan trọng vào việc giáo dục, cổ vũ quân dân ta chiến đấu và sản xuất, thực hiện nghĩa vụ của hậu phương.

Mạng lưới y tế của phần lớn xã do cán bộ y tế cao cấp, nữ hộ sinh đảm nhiệm, một số bệnh viện cấp tỉnh, cấp khu, đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm sức khỏe của nhân dân và cứu chữa nhiều thương binh, bệnh binh.

Công tác xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân được tiến hành khẩn trương theo yêu càu bảo vệ hậu phương và tăng cường sức chiến đấu nhiều chiến trường. Lực lượng đó bao gồm ba thứ quân: dân quân, du kích (80% cử tri), bộ đội địa phương cấp tiểu đoàn của tỉnh và bộ đội chủ lực cấp trung đoàn và cấp đại đoàn của khu mà Thanh - Nghệ - Tĩnh đảm đương việc nuôi dưỡng. Nét nổi bật của nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang ở Thanh - Nghệ - Tĩnh là phong trào nhân dân đỡ đầu dân quân, bộ đội địa phương theo hình thức đóng góp tiền và hiến điền. Số ruộng nhân dân ủng hộ khá lớn, hơn ba vạn hécta. Hoa lợi thu hoạch được trên diện tích đó cộng với các khoản kinh phí nhân dân giúp đỡ dùng để mua sắm quân trang, vũ khí. Phong trào mang tính quần chúng rộng rãi. Song cũng có nhiều nơi huy động mức đóng góp quá cao đối với bần nông, trung nông. Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng là địa bàn xây dựng nhiều xưởng chế tạo, sửa chữa vũ khí. Ở đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiều nhà khoa học, kỹ thuật với đội ngũ công nhân trong quá trình chế tạo vật liệu (sản xuất acidsulfuric, gang) và sáng chế, cải tiến kỹ thuật để sửa chữa, sản xuất vũ khí, trong đó có cả vũ khí nặng như súng cối, SKZ, cap bazoka, AT… được sử dụng cho các đơn vị vũ trang trong liên khu và cung cấp cho chiến trường Bắc Bộ và Liên khu V.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #172 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:51:45 PM »

Thanh - Nghệ - Tĩnh được bảo vệ an toàn, mưu đồ và hành động của địch gây biến loạn từ bên trong và tiến công từ bên ngoài đều bị đánh bại. Bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh là một nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên trong cuộc kháng chiến.

Ở cả bốn hướng: Bình - Trị - Thiên đánh ra, từ Lào tiến công sang miền thượng du, từ biển và phía Ninh Bình đánh vào, đều nằm trong mưu đồ, kế hoạch của đối phương. Đồng thời, chúng lôi kéo những phần tử thổ ty và chức sắc ton giáo phản động hòng phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, bằng các thủ đoạn lập “xứ Mường tự trị” “Xứ Thái tự trị” và tổ chức “Liên tôn chống cộng” “quốc gia liên hiệp”. Các mưu đồ và hành động gây biến loạn và tiến công xâm lấn ấy của địch đã từng diễn ra ở Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Công cuộc bố phòng và cảnh giác bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh được tiến hành bằng nhiều kế hoạch, biện pháp với sự tham gia của toàn dân, của lực lượng an ninh và lực lượng vũ trang ở khắp mọi miền, trong đó, đặc biệt chú trọng những vùng xung yếu. Kết hợp với những hoạt động trên là việc tiến hành phá hoại nhà cửa, công sở kiên cố ở thành phố Vinh và các thị xã Thanh Hóa, Hà Tĩnh đề phòng địch tiến công vào lấy đó làm nơi đồn trú. Cơ quan, công xưởng được lệnh di chuyển về phía sau. Nhân dân tản cư đến nơi an toàn. Trên các đường quốc lộ, các cầu lớn đểu bị phá sập, nền đường bị đào thành hầm hố và ngăn cắt nhiều đoạn nhằm ngăn chặn bước tiến quân của địch.

Trên các địa bàn tác chiến, cơ quan lãnh đạo và cơ quan chỉ huy quân sự liên khu và các tỉnh đã thực hiện nhiều kế hoạch và biện pháp ngăn chặn và phản công địch. Ở phía nam, từ năm 1947 - 1948, nhiều đơn vị chủ lực và dân quân, du kích của Thanh - Nghệ - Tĩnh được đưa vào chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên, phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công địch và kiềm chế không cho chúng đánh ra Thanh - Nghệ - Tĩnh. Cũng ở thời điểm đó, các cơ quan, lãnh đạo của Đảng bộ liên khu và Bộ Chỉ huy quân sự liên khu chuyển từ Nghệ An ra Thanh Hóa để trực tiếp điều hành hoạt động bố phòng, chặn đánh các mũi tiến công của địch vào các vùng trọng điểm này.

Tại miền thượng du Thanh - Nghệ, địch đã đưa quân từ Lào sang đánh chiếm một số vùng, nhưng do các hoạt động quân sự của ta kết hợp với việc diệt trừ bọn thổ ty, lang đạo phản động, đã buộc địch phải rút khỏi vùng này từ năm 1950. Tiếp đó, trong nhiều năm, lực lượng vũ trang còn phải chiến đấu truy quét bọn thổ phỉ hoạt động tại miền tây Thanh - Nghệ.

Trên vùng đất ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, địch đã tổ chức nhiều đợt tập kích, gây cho ta một số thiệt hại, nhưng chúng đều sớm bị đánh bật ra biển.

Cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt nhất vẫn là các hoạt động quân sự và đấu tranh chính trị chống địch lấn chiếm, càn quét ở vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) từ cuối năm 1949 đến tháng 6-1954 với nhiều biện pháp ngăn chặn địch mở rộng vùng chiếm đóng vượt ra phạm vi ba xã Điền Hộ, Nhân Phú và Liên Sơn, tiến công đồn bốt, địch vận và tôn giáo vận. Đến tháng 6-1954, địch rút khỏi vùng này.

Nỗ lực lớn cuối cùng của địch đánh chiếm Thanh - Nghệ - Tĩnh là cuộc hành quân La mouette (Hải Âu) từ Ninh Bình tiến công vào Hà Trung (Thanh Hóa) tháng 10-1953 đã nhanh chóng bị bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân, du kích chặn đánh, buộc chúng phải trả giá.

Như vậy, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy không có vũ khí phòng không và pháo tầm xa ngăn chặn máy bay, tàu chiến của địch dội bom, bắn phá, song trên bộ, tất cả các cuộc tiến công của địch đều bị chặn đánh buộc chúng phải rút chạy hoặc chỉ lấn chiếm được một vùng nhỏ.

Những mưu đồ của địch lợi dụng chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây phản loạn ở miền tây Thanh Nghệ và một số vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa đều bị các lực lượng vũ trang an ninh và nhân dân đấu tranh dập tắt.

Sức mạnh bảo vệ vẹn toàn vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh là sức mạnh của quân, dân địa phương và sự chi viện lực lượng của Trung ương, do thế tiến công của ta trên các chiến trường, chủ yếu là chiến trường Bình - Trị - Thiên và Bắc Bộ, buộc địch phải chùn bước, không thể thực hiện được mưu đồ đánh chiếm Thanh - Nghệ - Tĩnh. Đó là thắng lợi của quân và dân ta, giữ vững một hậu phương quan trọng, dồi dào sức của, sức người, để chi viện cho tiền tuyến và làm hậu cứ cho Bình - Trị - Thiên, cho vùng bị địch chiếm ở Bắc Bộ và cách mạng Lào. Thanh - Nghệ - Tĩnh an toàn là nơi đứng chân thuận lợi cho bộ đội, các cơ quan nhà nước và đoàn thể cứu quốc, nơi đồng bào tản cư, tránh bị giặc tàn sát. Đó cũng chính là sự đóng góp quan trọng cho việc xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến của cả nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #173 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:54:02 PM »

Quá trình bảo vệ và xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng là quá trình phát huy vai trò của vùng này đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp qua nhiều chặng đường phát triển. Thanh - Nghệ - Tĩnh từng bước vươn lên từ chỗ là hậu phương của chiến trường Bình - Trị - Thiên và hậu cứ của Liên khu III trong khoảng bốn năm đầu của cuộc kháng chiến (1946-1950) rồi trở thành hậu phương của các chiến trường Bắc Đông Dương.

Trước hết Thanh - Nghệ - Tĩnh là kho nhân lực dồi dào, cung cấp hàng vạn thanh niên cho quân chủ lực từ cấp trung đoàn đến đại đoàn và bộ đội địa phương, dân quân, du kích với mức độ ngày càng gia tăng. Chỉ tính từ năm 1950 đến năm 1952, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã cung cấp 74 ngàn chiến sĩ, cán bộ cho các đại đoàn chủ lực của Bộ Quốc phòng, các trung đoàn chủ lực của Bình Trị Thiên. Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn và hàng ngàn thanh niên xung phong. Đó là chưa kể số người gia nhập bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân, du kích địa phương.

Cuộc kháng chiến ngày càng phát triển, càng đòi hỏi Thanh - Nghệ - Tĩnh cung cấp cho chiến trường khối lượng nhân lực, vật lực và tài lực càng lớn. Theo đó, các hình thức huy động cũng thay đổi theo hướng từ khuyến khích, thuyết phục, động viên và thi đua sang tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực theo nguyên tắc dân chủ, gấp rút tăng cường lực lượng kháng chiến để thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” mà Hội nghị toàn quốc lần thứ hai của Đảng (tháng 1-1950) đã quyết định. Thi hành quyết định đó của Đảng và Sắc lệnh Tổng động viên của chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 12-2-1950), nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đóng góp dưới các hình thức thuế điền thổ, bán thóc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh khao quân, mua công trái kháng chiến 30.000 tấn lương thực, 140 triệu đồng. Nhân dân còn đảm nhận nuôi dưỡng hàng ngàn thương binh, bệnh binh, giúp đỡ các đơn vị từ chiến trường Bình - Trị - Thiên, Trung Lào, Liên khu III chuyển đến và ba vạn đồng bào từ Bắc Bộ tản cư vào. Trong quá trình thực hiện, các cấp lãnh đạo của liên khu đã thiên về mệnh lệnh, thiếu dân chủ và tuyên truyền, giải thích, hoặc để xẩy ra nhiều trường hợp cưỡng bức thô bạo. Những khuyết điểm đó đã được kiểm điểm, phê bình và sửa chữa.

Từ năm 1951, Đảng và Nhà nước thực hiện một chính sách huy động mới, đó là thuế nông nghiệp; để tăng thêm mức thu lương thực và tiền bạc chi cho nhu cầu kháng chiến trong giai đoạn phản công và tiến công. Đồng thời thuế nông nghiệp cũng là hình thức thu công bằng và hợp lý theo khả năng thu hoạch của từng hộ sản xuất nông nghiệp. Do sự cố gắng lãnh đạo, vận động, giải thích cho nhân dân và đấu tranh chống các luận điệu chống phá của bọn phản động, công tác thu thuế nông nghiệp đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, thể hiện sự đóng góp của nhân dân cho kháng chiến. Nếu mức tạm thu cuối năm 1951 của Liên khu IV là 37.000 tấn thóc, thì mức thu năm 1952 đạt tới 128.000 tấn bằng 82% chỉ tiêu Trung ương giao (150.000 tấn), năm 1953 đạt 167.000 tấn bằng 87% chỉ tiêu Trung ương giao (190.000 tấm)(1).

Mức độ đóng góp sức của, sức người của Thanh - Nghệ - Tĩnh là rất to lớn, liên tục và khẩn trương từ chiến dịch Hà - Nam -Ninh (năm 1951) đến chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954) đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của nhiệm vụ chi viện tiền tuyến.

Từ năm 1951, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi vào giai đoạn tiến công và phản công với thế chủ động chiến lược, hàng loạt chiến dịch liên tiếp được mở ra, đòi hỏi sự đóng góp to lớn của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Sau khi chiến dịch Hà - Nam - Ninh kết thúc (giữa năm 1951), các cấp lãnh đạo Liên khu IV và các đảng bộ Thanh - Nghệ - Tĩnh tiến hành rút kinh nghiệm, khắc phục những khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo dân công về tổ chức và tư tưởng và đề ra nhiều biện pháp quản lý đội ngũ chặt chẽ, giáo dục, động viên kịp thời chống các hành động phá hoại của địch.

Để nắm vững nhân lực và chủ động điều động lực lượng đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, các địa phương đã tiến hành phân định những người đang ở độ tuổi lao động theo các loại sau đây: thanh niên khỏe mạnh tòng quân và gia nhập Thanh niên xung phong hỏa tuyến, số còn lại, trừ phụ nữ đang nuôi con nhỏ, đều đi dân công dài hạn, ngắn hạn. Các hoạt động đó có tác dụng tích cực rõ rệt cho việc tổ chức phục vụ các chiến dịch.

Sau chiến dịch Hà - Nam - Ninh, nhiệm vụ phục vụ các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ càng nặng nề hơn, do khối lượng lương thực, thực phẩm, vũ khí và các loại hàng hậu cần lớn hơn, độ đường vận chuyển dài hơn, trong đó có nhiều đoạn đường phải làm mới, máy bay địch đánh phá dữ dội hơn, nạn sốt rét rừng hoành hành. Trong chiến dịch Tây Bắc, dân công Thanh - Nghệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, riêng số dân công Thanh Hóa đã chiếm 70% dân công toàn chiến dịch, được thưởng hàng ngàn huân chương. Thử thách lớn nhất của Thanh - Nghệ - Tĩnh là việc tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Các khó khăn, gian khổ và hy sinh so với các chiến dịch trước đều tăng lên gấp bội. Một trong những nhiệm vụ lớn của chiến dịch mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện là cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vũ khí cho bộ đội và các lực lượng phục vụ chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ, một địa bàn nằm sâu trong vùng Tây Bắc hiểm trở, núi non trung điệp và rất xa hậu phương, nhất là Thanh - Nghệ - Tĩnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, khi quyết định thay đổi chủ trương từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, cũng cho rằng: “Thời gian hoạt động kéo dài, quả thật là vấn đề cung cấp, tiếp tế là một vấn đề hết sức to lớn đối với ta”(2), còn Nava và các tướng lính Pháp thì hoàn toàn không tin ta có khả năng giải quyết vấn đề chi viện, cung cấp theo một quy mô lớn, trong một thời gian dài cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tuy nhiệm vụ tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ mà Thanh - Nghệ - Tĩnh đảm nhiệm rất nặng nề và khẩn trương, song với tinh thần “Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng”, lại được kết quả của cuộc vận động giảm tô, giảm tức cổ vũ, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã dốc hết sức của, sức người phục vụ chiến dịch này. Số dân công Thanh - Nghệ - Tĩnh, chủ yếu là Thanh - Nghệ đã huy động tới 214.924 người với 14.500.000 ngày công. Thầy giáo và học sinh cấp III cũng đi dân công ngắn hạn. Riêng Thanh Hóa đã cung cấp 56% số gạo hậu cần chiến dịch (900/1652) = 5,3% số lương thực thực phẩm chiếm 40%(3). Sự đóng góp của Thanh Hóa rất xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”.

Thắng lợi của các chiến dịch trên cho thấy vai trò to lớn của hậu phương nói chung và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh nói riêng đối với tiền tuyến; sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp xâm lược là sức mạnh tổng hợp của tiền tiến và hậu phương.


(1) Hoàng Anh: Những ghi nhớ trong những năm tôi làm Bí thư Liên khu và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV (4-1951 – 7-1954), lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
(2) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, hà Nội, 1994, tr. 125.
(3) Lưu Quang Hà: Trận tuyến hậu cần Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, hà Nội, 1975, tr.229.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #174 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:55:37 PM »

4. Liên khu IV thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào đạt hiệu quả tốt đẹp

Đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, đảng bộ, quân và dân Liên khu IV không quản ngại hy sinh, chi viện cho bạn với tinh thần giúp bạn là tự giúp mình.

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng bộ, quân và dân Liên khu IV đã liên tục phối hợp hoạt động và chi viện cho cách mạng Lào và cuộc kháng chiến của nhân dân Lào ngay từ năm 1945 đến khi kết thúc chiến tranh chống Pháp và can thiệp Mỹ.

Sự phối hợp và chi viện của Liên khu IV cho cách mạng Lào được thực hiện trên phương diện phối hợp tác chiến và xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang cung cấp lương thực, thực phẩm cho chiến trường.

Tháng 9-1945, đại diện lực lượng kháng chiến Lào sang Quảng Trị bàn việc hợp tác chống Pháp, mở đầu việc xây dựng liên quân Việt - Lào chiến đấu tại đường 9. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta và nhân dân Lào càng phát triển, sự hợp tác và chi viện của Liên khu IV cho cách mạng Lào càng được tăng cường.

Ngày 12-10-1945, nước Lào tuyên bố độc lập. Sau đó hai ngày, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa công nhận Chính phủ độc lập (Ítxala) Lào lâm thời, tiếp đó, ngày 16-10-1945, đại diện hai chính phủ ký Hiệp định tương trợ toàn diện. Trên cơ sở đó, Hiệp định tổ chức Liên quân Lào - Việt được ký kết và liên quân được xây dựng do Hoàng thân Xuphanuvông chỉ huy.

Các cuộc chiến đấu của quân dân Việt - Lào trên lãnh thổ Lào giáp Liên khu IV trong những tháng cuối năm 1946 như trên đã viết, là những trận mở đầu hoạt động quân sự theo tinh thần hợp tác giữa hai dân tộc chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược.

Để chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của mình đối với cách mạng Lào, Liên khu IV lập Phòng Biên chính (1947), Ban Cán sự Trung Lào (1949). Ngoài Liên quân Lào Việt và một số đơn vị tiểu đoàn, đại đội của bộ đội Liên khu IV tham gia mặt trận miền tây, năm 1950, Liên khu ủy IV quyết định thành lập Trung đoàn 120 là lực lượng chủ chốt phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang Lào tại Trung Lào.

Liên khu ủy IV coi công tác phối hợp, chi viện cho chiến trường Lào là một trong những nhiệm vụ quan trọng của liên khu. Nhiều văn kiện của liên khu xác định những nhiệm vụ cụ thể của công tác này trên ba phương diện giúp đỡ cách mạng Lào về đường lối, chủ trương; về xây dựng lực lượng chính trị và quân sự; về chi viện vật chất. Sự chỉ đạo thực tiễn của Liên khu ủy đã đưa lại nhiều kết quả tích cực được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng biểu dương.

Với sự phấn đấu ủa cán bộ, quân và dân Trung Lào và sự giúp đỡ của Liên khu IV, đến năm 1951, phong trào cách mạng của nhân dân Trung Lào đã những tiến bộ rõ rệt và giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Các cấp chính quyền và Mặt trận Ítxala được tổ chức rộng khắp và kiện toàn, đào tạo được hơn 300 cán bộ sơ cấp chính trị và quân sự. Lực lượng du kích và bộ đội địa phương phát triển khá. Trung Lào xây dựng hai đại đội địa phương và hai đại đội chủ lực khu.

Trên mặt trận quân sự, Liên khu IV đã dốc sức chi viện các chiến dịch Thượng Lào và Trung Lào trong năm 1953, năm 1954, mở đường giao thông từ Việt Nam qua Lào để vận chuyển hơn 8.000 tấn lương thực, thực phẩm bằng đôi vai và xe đạp thồ. Số dân công phục vụ hai chiến trường này lên tới gần 200.000 người. Một số đơn vị bộ đội Liên khu IV cũng được điều sang chiến đấu tại chiến trường Lào. Sự đóng góp, chi viện của Liên khu IV và của quân, dân Việt Nam kết hợp với sức kháng chiến của quân và dân Lào đã đưa tới những thắng lợi to lớn của hai chiến dịch Thượng Lào và Trung Lào.

Liên khu IV thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào liên tục, toàn diện và ngày càng tăng tiến trong cả quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp. Tinh thần dân tộc và tinh thần quốc tế cao cả quyện chặt trong những hoạt động đó và mang lại hiệu quả quan trọng cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc cùng chống kẻ thù chung, vì độc lập, tự do của mỗi nước, vì sự nghiệp giải phóng ba dân tộc Việt - Lào - Miên.

Những thắng lợi trên cũng chính là những đóng góp xứng đáng của Liên khu IV cho thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược.

Trải qua chín năm kháng chiến trường kỳ, đảng bộ, quân và dân Liên khu IV cùng với đồng bào toàn quốc chiến đấu, xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện cho hầu hết chiến trường Bắc Bộ và chiến trường Lào, đặc biệt là chiến trường Điện Biên Phủ. Liên khu IV là địa bàn nổi trội sự kết hợp thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, dân tộc và dân chủ, tiền tuyến và hậu phương, dân tộc và quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ, do sự phấn đấu, hy sinh của quân và dân liên khu, đường lối chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến, tự lực, tự cường được thực hiện bền bỉ, sáng tạo và đa dạng, vừa hiện rõ tính phổ quát của toàn quốc, vừa nổi bật những nét đặc thù của địa phương. Từ bước khởi đầu kháng chiến vô cùng gian khổ, khó khăn và không tránh khỏi sai lầm, vấp váp trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, Đảng bộ Liên khu IV đã khẩn trương tổ chức lực lượng, bố trí lại thế trận theo đường lối và phương pháp tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng ta. Nhờ vậy, thế chủ động của quân và dân ta trên chiến trường này được xác lập và phát triển. Đồng thời, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng được xây dựng ngày càng vững mạnh về chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, hiện thân của sức mạnh hậu phương trong chiến tranh cách mạng, theo mô hình vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Đảng bộ, nhân dân Liên khu IV được tôi luyện và trưởng thành trong cuộc chiến tranh nhân dân chống cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đã hoàn thành vẻ vang các nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, chi viện cho tiền tuyến.

Thắng lợi của Liên khu IV bắt nguồn từ các nhân tố:

Một là, sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở đường lối chiến tranh nhân dân, ở sự chỉ đạo cụ thể đối với liên khu về công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ và phương pháp xây dựng hậu phương, tiến hành chiến tranh trên chiến trường Bình - Trị - Thiên.

Hai là, sự chỉ đạo của Liên khu ủy và các cấp bộ đảng địa phương trong việc thực hiện những nhiệm vụ của liên khu với tinh thần trách nhiệm cao vì thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ba là, sức mạnh đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế được tăng cường và phát huy. Tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, trí sáng tạo trong chiến đấu và xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân được khơi dậy, bồi dưỡng và nâng cao, biến thành hành động cách mạng và đưa lại những hiệu quả to lớn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #175 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:57:39 PM »

II. MỘT SỐ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN
CỦA ĐẢNG BỘ VÀ CHÍNH QUYỀN LIÊN KHU IV

Từ những thắng lợi và những đóng góp của Liên khu IV cho cuộc kháng chiến toàn quốc, có thể đúc kết một số kinh nghiệm lãnh đạo cuộc kháng chiến của đảng bộ, chính quyền Liên khu IV.

1. Nhận rõ trách nhiệm quan trọng của địa bàn chiến lược, quán triệt và vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để xác định đúng chủ trương, biện pháp chỉ đạo hoạt động của liên khu theo yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, đòi hỏi từng địa phương, từng đảng bộ phát huy cao độ sức mạnh của mình để góp phần cao nhất cho thắng lợi của sự nghiệp vẻ vang đó. Điều quan trọng nhất là đảng bộ, quân và dân của từng địa phương nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc kháng chiến diễn ra tại chỗ và ra sức đóng góp tích cực cho cả nước.

Từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc khởi phát cũng là lúc địa bàn chiến lược Liên khu IV được hình thành. Chiến trường Bình - Trị - Thiên, nơi cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, do thực dân Pháp tập trung nhiều lực lượng hòng đánh chiếm vùng đất này để chia cắt chiến trường Đông Dương và lấy đó làm bàn đạp đánh chiếm Thanh - Nghệ - Tĩnh. Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh là vùng đất rộng, dân đông, địch nhiều lần lấn chiếm nhưng bị đánh bật ra, đã biến thành vùng tự do, một hậu phương quan trọng của Bình - Trị - Thiên, của chiến trường Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và chiến trường Lào.

Trong tiến trình lãnh đạo cuộc kháng chiến, đảng bộ, chính quyền Liên khu IV đã nhận thức ngày càng rõ rệt đặc điểm của hai vùng chiến lược đó và những khó khăn, thuận lợi và trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên và xây dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên sau những ngày đầu của cuộc kháng chiến, địch ồ ạt tiến quân, ta chưa đủ sức chặn ngăn,, phải rút khỏi Huế và nhiều vùng đồng bằng, song đã nhanh chóng ổn định tư tưởng, tổ chức lực lượng lãnh đạo, chỉ huy và chiến đấu. Cuộc chiến tranh nhân dân ở đây ngày càng phát triển với nhiều hình thức của chiến tranh du kích kết hợp với đấu tranh phá tề, phản kháng chính quyền bù nhìn, tiến hành binh vận; vừa chiến đấu vừa tăng gia sản xuất, xây dựng nhiều vùng căn cứ làm chỗ đứng chân vững chắc của cơ quan lãnh đạo và chỉ huy. Sức mạnh kháng chiến ngày càng gia tăng, đưa lại nhiều hiệu quả cũng là phản ánh sự phấn đấu của đảng bộ và quân, dân Bình - Trị - Thiên và sự chi viện tích cực về nhân lực, tài lực của Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Trong lúc tiến hành chiến tranh kìm giữ và tiêu hao, tiêu diệt địch tại Bình - Trị - Thiên, đảng bộ và quân dân Liên khu IV còn phải dốc sức bảo vệ, xây dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, đáp ứng những yêu cầu to lớn của nhiều chiến trường ở phía bắc và nước bạn Lào. Có thể coi nghị quyết của Liên khu ủy IV về việc xác định vai trò quan trọng của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh vào đầu năm 1950 theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng “gấp rút hoàn thành chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” như là một nhiệm vụ tối quan trọng của mình: “bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh là nhiệm vụ tối quan hệ cho chiến trường toàn quốc, là nhiệm vụ trung tâm lãnh đạo để sửa soạn chuyển sang tổng phản công có hiệu quả. Phải xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành một hậu phương vững chắc, một kho dự trữ nhân tài, vật lực sẵn sàng tiếp tế kịp thời cho chiến trường”. Trên thực tế, quyết tâm đó đã được toàn đảng bộ và quân, dân liên khu thực hiện xuất sắc và toàn diện về quân sự, kinh tế văn hóa, giáo dục. Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đảm nhiệm cung cấp đầy dủ kịp thời nhân lực, vật lực cho các chiến dịch lớn diễn ra tại Bắc Bộ và nước bạn Lào thu được thắng lợi.

2. Giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên quân và và đường lối, chủ trương kháng chiến và nhiệm vụ của Liên khu trong chiến đấu, lao động sản xuất, phát triển văn hóa, giáo dục, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và chiến trường Bình - Trị - Thiên

Những nhiệm vụ kháng chiến của Liên khu IV diễn ra rất đa dạng, nặng nề qua nhiều chặng đường đầy gian nan, liên tục đòi hỏi sự cố gắng vươn lên của đảng bộ, quân và dân mới có thể thực hiện được. Những khó khăn phức tạp trong cuộc kháng chiến trực tiếp tác động tới tư tưởng và gây nên tình trạng hoang mang, lúng túng, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cùng với việc tuyên truyền giáo dục thường xuyên đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh và những nhiệm vụ cụ thể của chiến trường Bình - Trị - Thiên và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, đảng bộ liên khu đã kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tiến hành nhiều biện pháp giáo dục tư tưởng đạt hiệu quả tốt. Có thể coi công tác giáo dục, xác định quyết tâm của cán bộ, đảng viên tại ba tỉnh Bình - Trị - Thiên trở lại cơ sở, bám đất, bám dân, thành công, xây dựng lực lượng, chống giặc tại thành phố Huế và khắp nông thôn ba tỉnh, làm thất bại mưu đồ đánh nhanh, thắng nhanh của địch tại vùng này, là sự thể hiện hiệu quả của công tác tư tưởng và tổ chức.

Tại Thanh - Nghệ - Tĩnh, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân lại diễn ra theo một hướng khác, khi Đảng và Nhà nước thực hiện các chính sách thuế nông nghiệp từ 1951 và động viên sự đóng góp cao độ sức người, của cho tiền tuyến; đồng thời, chủ trương giảm tô, giảm tức cũng được thực hiện. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng bị động chạm lợi ích, lại bị những luận điệu phản tuyên truyền của địch kích động, đã nảy sinh hoang mang, dao động trong việc chấp hành chủ trương chính sách trên. Trước tình hình đó, trong năm 1952, Liên khu ủy đã tiến hành giáo dục trong cán bộ, đảng viên, trong các cấp chính quyền và Mặt trận Liên Việt về thắng lợi của cuộc kháng chiến, những yêu cầu to lớn của nó, và trách nhiệm của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh và của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Công tác tư tưởng cũng được kết hợp với công tác chấn chỉnh tổ chức bộ máy đảng, chính quyền, Mặt trận và cuộc đấu tranh phá tan các tổ chức phản động đã tạo nên sự nhất trí về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân cùng thực hiện khẩu hiệu: tất cả cho tiền tuyến! Tất cả để chiến thắng! Sự đóng góp to lớn của Thanh - Nghệ - Tĩnh cho các chiến trường Bắc Bộ và chiến trường Lào là minh chứng hùng hồn về thành công của công tác tuyên truyền, giáo dục và công tác tổ chức của Liên khu ủy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #176 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 07:59:49 PM »

3. Trong quá trình lãnh đạo, đảng bộ và chính quyền liên khu vừa bao quát tình hình chung của toàn liên khu, vừa chú trọng đúng mức đặc điểm cụ thể của chiến trường Bình - Trị - Thiên và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh trong từng thời kỳ để đề ra những chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp thực hiện hữu hiệu nhất cho từng vùng

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ Liên khu IV đã điều hành đồng thời hai loại hình hoạt động trên địa bàn lãnh đạo của mình: chiến trường Bình - Trị - Thiên và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Nhiệm vụ của mỗi vùng có những đặc điểm riêng, song cả hai liên hệ chặt chẽ và tác động trực tiếp với nhau. Để giải quyết thành công những nhiệm vụ đa dạng đó, năng lực lãnh đạo của đảng bộ phải không ngừng được nâng cao theo yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến.

Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, sự lãnh đạo của Liên khu ủy và các cấp bộ đảng được tập trung vào hoạt động chiến đấu, xây dựng dân quân, du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, tạo dựng chiến khu và làng chiến đấu, vận động nhân dân tham gia đánh giặc và tăng gia sản xuất. Sau một thời gian ổn định tình hình vào nửa đầu năm 1947, chiến trường Bình - Trị - Thiên đã tạo lập được thế đứng vững chắc, chống địch càn quét, phá tề, nâng cao trình độ tác chiến và đấu tranh chính trị theo hướng quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng và tự rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế của mình. Trên cơ sở đó, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân phù hợp với vị thế của chiến trường này và so sánh lực lượng địch - ta.

Những thắng lợi của quân dân Bình - Trị - Thiên trong đông - xuân 1953-1954 đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch (riêng sáu tháng đầu năm 1954, tiêu diệt hơn 10.000 tên địch), làm rã ngũ hàng ngàn ngụy binh, kìm chân địch, phối hợp với chiến trường Trung Lào, Hạ Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đối với Thanh - Nghệ - Tĩnh, sự lãnh đạo của Đảng bộ liên khu lại hướng vào công tác tổ chức, bảo vệ vững chắc, đánh đuổi lực lượng của địch xâm phạm và chiếm lại một số vùng của địa bàn này, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục của Đảng và Nhà nước, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Làm cho người nghèo thì đủ ăn.
Người đủ ăn thì khá giàu.
Người giàu thì giàu thêm.
Người nào cũng biết chữ,
Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước”(1).

Nhờ vậy, Thanh - Nghệ - Tĩnh từ một vùng thiếu lương thực và hàng tiêu dùng đã dần dần tự túc được lương thực và đóng góp phần lớn nhu cầu lương thực, thực phẩm cho các chiến trường Bình - Trị - Thiên, Trung Lào, Thượng Lào và Bắc Bộ, cung cấp nhân lực xây dựng nhiều đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích. Nơi đây cũng tiếp nhận đồng bào từ nhiều vùng bị địch chiếm tản cư tới sinh sống trong tình cảm nồng ấm của nhân dân địa phương.

Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng là địa bàn hội tụ nhiều nhân tài của đất nước để thực hiện các nhiệm vụ của cuộc kháng chiến như chế tạo, sửa chữa vũ khí, đào tạo, huấn luyện cán bộ chính trị, quân sự, văn hóa, văn nghệ, xây dựng nền văn hóa mới, phát triển giáo dục phổ thông, cao đẳng và dự bị đại học và đại học.

Sự lãnh đạo của đảng bộ liên khu đã xây dựng nên một hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh vững mạnh với đầy đủ các yếu tố căn cứ địa của cuộc kháng chiến.

4. Tăng cường công tác xây dựng đảng và củng cố Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang. Huy động sức dân đồng thời bồi dưỡng sức dân

Các nhiệm vụ trên đều hướng vào việc tạo lập sức mạnh to lớn, bền vững cho liên khu giành thắng lợi trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ hậu phương, cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến.

Những chặng đường phát triển của Liên khu IV gắn liền với sự trưởng thành của đảng bộ trong quá trình vừa lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, vừa đào tạo, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên và xây dựng các cấp bộ đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Khu IV và Liên khu IV từng bước vận dụng và cụ thể hóa đường lối, chủ trương kháng chiến, kiến quốc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình. Sự chuyển biến quan trọng của Đảng bộ Khu IV đó được ghi nhận từ nửa sau năm 1947 trong việc xác định nhiệm vụ chính trị của mình tại một địa phương vừa bị chia thành hai vùng chiến trường và hậu phương đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế dối với cách mạng Lào. Theo hướng ấy, công tác phát triển đảng viên luôn được chú trọng và đã đạt được nhiều kết quả. Tổ chức đảng được xây dựng ở hầu khắp đơn vị dân cư, các cơ quan, xí nghiệp và các đơn vị đại đội lực lượng vũ trang. Đến cuối cuộc kháng chiến, số lượng đảng viên đã lên tới hơn mười vạn, hàng vạn cán bộ, đảng viên được bố trí lãnh đạo những vị trí quan trọng của các ngành, các cấp, các đơn vị chiến đấu và dân công, các địa bàn tại hậu phương và vùng địch chiếm, kể cả thành phố Huế.

Con đường phát triển của Đảng bộ và Liên khu IV là vừa học, vừa làm, coi trọng sự sáng tạo và tổng kết điển hình tiên tiết nhất, nghiêm túc sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhất là ở những khâu công tác quan trọng, những bước đột biến của tình hình, nhiệm vụ.

Bộ máy chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân như Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân được xây dựng và phát triển tại các vùng nhân dân làm chủ, vùng căn cứ du kích thuộc Bình - Trị - Thiên và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh. Đó chính là những công cụ đắc lực của Đảng và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách kháng chiến và kiến quốc. Công tác xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng ngoài những nét chung như nhiều địa phương khác, đảng bộ liên khu còn phải lãnh đạo việc chuyển hóa chính quyền tại nhiều địa phương từ tay lang đạo ở miền núi Thanh - Nghệ sang chính quyền cách mạng, dập tắt những hành động phản loạn của nhiều phần tử tay sai thực dân Pháp, phát động nhân dân bảo vệ địa bàn phía tây quan trọng này của liên khu. Phương pháp lãnh đạo chính quyền tại khu và liên khu là xây dựng các ủy ban hành chính như Nghị quyết của toàn kỳ đại biểu khuếch đại (tháng 6-1946) xác định:

a. Phản chiếu chính quyền toàn dân (chứ không phải chính quyền công nông như đôi nơi đã làm gồm hầu hết những chính trị phạm cộng sản).

b. Giữ vững đường lối chính trị của Chính phủ Hồ Chí Minh do đảng ta lãnh đạo...

Nhớ rằng Đảng ta lãnh đạo các Ủy ban hành chính bằng đề nghị, thuyết phục, chứ không phải bằng mệnh lệnh, chỉ thị(2).

Công việc phát triển Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đi liền với việc phát huy vai trò của nó trong việc vận động, tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, tôn giáo, trí thức, tiểu tư sản thành thị theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Làm cho người xa ta đến gần ta, người sợ với ta hóa thân ta”(3).

Phát triển lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, lực lượng công an nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ và chính quyền Khu IV, và Liên khu IV, mà kết quả là đã xây dựng được các đơn vị dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương huyện, tỉnh và nhiều đơn vị bộ đội chủ lực cấp trung đoàn, đại đoàn. Đến những năm cuối cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang của liên khu đã trưởng thành đến mức tự đảm nhiệm xuất sắc nhiệm vụ quân sự của mình để các đại đoàn chủ lực tham gia các chiến dịch lớn trên nhiều chiến trường.

Các hoạt động đấu tranh vũ trang diễn ra cùng với các hoạt động kinh tế, bảo vệ phát triển sản xuất, chủ yếu là sản xuất lương thực, thực phẩm và một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu do sự phấn đấu của nhân dân kết hợp với sự giúp đỡ của nhà nước về giống lúa, công cụ sản xuất cải tiến và vốn liếng. Đối với sản xuất nông nghiệp, điều quan trọng nhất là thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng như chia ruộng đất công, ruộng của thực dân Pháp và Việt gian bị tịch thu, ruộng do địa chủ hiến, giảm tô 25% cho nông dân và tiến hành triệt để giảm tô, bước đầu cải cách ruộng đất (1953-1954). Những chính sách và biện pháp đó được Đảng bộ Liên khu IV lãnh đạo thực hiện đã nhân lên sức mạnh của nhân dân và sự đóng góp cho tiền tuyến, bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết cho thắng lợi trên các chiến trường mà Liên khu IV được phân công phụ trách.

Cuộc kháng chiến chín năm của quân và dân Liên khu IV dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng bộ Liên khu IV đã phản ánh rõ nét thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân. Bản chất khoa học và cách mạng đúng đắn của đường lối đó được hiện lên ở tiền tuyến, hậu phương, trong kháng chiến và kiến quốc, vì lợi ích của dân tộc, vì nghĩa vụ quốc tế. Con đường phát triển sức mạnh mọi mặt của Liên khu IV là sự liên tục vươn lên để đảm đương các sứ mệnh cao cả đó. Thắng lợi và đóng góp của Liên khu IV là toàn diện, to lớn, rất xứng đáng với vị trí chiến lược của mình và đáp ứng niềm tin của Bác Hồ và Trung ương Đảng đã gửi gắm.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.65.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.91.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.89.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #177 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 08:00:44 PM »

PHỤ LỤC

I. DANH SÁCH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CỦA
LIÊN KHU IV TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

1) Cù Chính Lan - Quê quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An - Quyết định số 107/LCT-10-8-1952.

2) Nguyễn Quốc Trị - Quê quán: Đà Sơn, Đô Lương, Nghệ An - QĐ (như trên).

3) Phan Tư - Quê quán: Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An - QĐ (như trên).

4) Đặng Quang Cẩn - Quê quán: Đông Sơn, Đô Lương, Nghệ An - QĐ số 714/LCT ngày 27-10-1955.

5) Phan Đình Giót - Quê quán: Cẩm Quang, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh - QĐ số 118/LCT ngày 31-8-1955.

6) Trương Công Man - Quê quán: Cẩm Phong, Cẩm Thủy, Thanh Hóa - QĐ số 118/LCT ngày 7-5-1956.

7) Lê Công Khai - Quê quán: Hoằng Phú, Hoằng Hóa, Thanh Hóa - QĐ (như trên).

8) Lê Văn Đường - Quê quán: Xuân Lệ, Thường Xuân, Thanh Hóa - QĐ (như trên).

9) Trần Can - Quê quán: Sơn Thành, Yên Thành, Nghệ An - QĐ (như trên).

10) Nguyễn Thái Nhuệ - Quê quán: Yên Sơn, Đô Lương, Nghệ An - QĐ (như trên).

11) Trần Đức - Quê quán: Hải Yến, Tĩnh Gia, Thanh Hóa - QĐ (như trên).

12) Nguyễn Đô Lương - Quê quán: Đà Quang, Đức Thọ, Hà Tĩnh - QĐ số 118/LCT ngày 7-5-1956.

13) Nguyễn Xuân Lực - Quê quán: Sơn Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh - QĐ (như trên).

14) Lê Bình - Quê quán: Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh - QĐ (như trên).

15) Phạm Minh Đức - Quê quán: Diễn Trung, Diễn Châu, Nghệ An - QĐ (như trên).

16) Đặng Đình Hồ - Quê quán: Thanh Bình, Thanh Chương, Nghệ An - QĐ (như trên).

17) Tô Vĩnh Diện - Quê quán: Nông Trường, Nông Cống, Thanh Hóa - QĐ (như trên).

18) Lâm Úy - Quê quán: Quảng Hà, Quảng Trạch, Quảng Bình - QĐ (như trên).

19) Cao Thế Chiến - Quê quán: Quảng Hải, Quảng Trạch, Quảng Bình - QĐ (như trên).

20) Trương Văn Ly - Quê quán: Võ Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình - QĐ (như trên).

21) Nguyễn Riềng - Quê quán: Dương Nỗ, Phú Dương, Phú Vang, Thừa Thiên Huế - QĐ (như trên).

22) Võ Thiết - Quê quán: Hải Trường, Hải Lăng, Quảng Trị - QĐ (như trên).

Tổng hợp:
Thanh Hóa: 5
Nghệ An: 8
Hà Tĩnh: 4
Quảng Bình: 3
Quảng Trị: 1
Thừa Thiên: 1
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #178 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 08:02:03 PM »

II. DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO LIÊN KHU IV
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

2.1. Liên khu ủy

1) Nguyễn Chí Thanh - Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ (8-1945 đến 11-1946); Bí thư Liên khu ủy IV (5-1948 đến 7-1949).

2) Hoàng Quốc Việt - Bí thư Khu ủy IV (11-1946).

3) Hoàng Văn Hoan - Bí thư Khu ủy IV (3-1947 đến 5-1948).

4) Nguyễn Sơn - Phó Bí thư Khu ủy IV (1947 đến 1949).

5) Chu Văn Biên - Bí thư Liên khu ủy (7-1949 đến 1951).

6) Phạm Tuệ - Phó Bí thư Liên khu ủy (1949 đến 1951).

7) Hoàng Anh - Bí thư Liên khu ủy (5-1951 đến 1954).

8) Đặng Thí - Phó Bí thư Liên khu ủy IV (1953-1954).

2.2. Lãnh đạo chính quyền Liên khu IV (1945-1954)

1) Trần Hữu Dực - Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ (8-1945 đến 3-1947).

2) Hồ Tùng Mậu - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu IV (Cuối 1946); Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu IV (Từ 1947 đến 1949).

3) Đặng Việt Châu - Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV (1949-1950).

4) Lê Viết Lượng - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV (1950-1951).

5) Hoàng Anh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV (1951-1954).

6) Hoàng Văn Diệm - Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV (1951-1954).

2.3. Cán bộ quân sự Liên khu

1) Lê Thiết Hùng (Lê Văn Sửu) - Khu trưởng (10-1945 – 3-1946); Chính trị ủy viên (đến cuối 1946)

2) Hoàng Điền - Khu phó, Tham mưu trưởng (11-1945 đến 3-1947)

3) Hồ Tùng Mậu - Chính trị ủy viên (10-1945 và từ 1947-1950).

4) Trần Văn Quang - Chính trị ủy viên (Cuối năm 1946).

5) Nguyễn Văn Phúc (Chu Văn Tấn) - Khu trưởng (4-1946 đến 10-1946).

6) Nguyễn Sơn - Tư lệnh kiêm Chính ủy (4-1947 đến 10-1949).

7) Nguyễn Thanh Đồng - Chính trị ủy viên (Đầu năm 1947).

8) Đào Chính Nam - Khu phó (Năm 1947).

9) Vương Thừa Vũ - Khu phó (Cuối 1947).

10) Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh (10-1949 đến 2-1950).

11) Trần Sâm - Tư lệnh địa phương (Tư lệnh liên khu) (2-1950 đến 4-1952).

12) Lê Nam Thắng - Tư lệnh địa phương (Tư lệnh liên khu) (5-1952 đến 1955).

2.4. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên

1) Nguyễn Chí Thanh - Bí thư Phân khu ủy (1947-1948).

2) Vương Thừa Vũ - Phân khu trưởng (Cuối 1947).

3) Hà Văn Lâu - Phân khu trưởng (Giữa 1948).

4) Lư Giang - Chính trị ủy viên phân khu (Đầu 1947).

5) Trần Văn Quang - Phân khu trưởng kiêm chính trị ủy viên (1948-1949).

6) Hoàng Anh - Bí thư phân khu (1949).

7) Chu Văn Biên - Bí thư phân khu (1952).

2.5. Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào

1) Hà Văn Lâu - Chỉ huy trưởng (1949).

2) Trần Quý Hai - Chỉ huy trưởng (1950).

3) Chu Văn Biên - Chính ủy (1949-1950).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #179 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2016, 08:03:33 PM »

III. TÓM TẮT THÀNH TÍCH CỦA CÁC TỈNH THUỘC LIÊN KHU IV
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Thanh Hóa: Đánh 1.456 trận lớn, nhỏ; diệt và làm bị thương 3.391 tên địch, bắt sống và gọi hàng 2.326 tên, thu 1.416 súng và hàng chục tấn quân trang, quân dụng. Thanh Hóa đã huy động 539.767 lượt dân công dài hạn, 223.670 lượt dân công ngắn hạn; tổng cộng 1.061.593 lượt dân công phục vụ gồm 34 triệu ngày công. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã vận chuyển 4.361 tấn gạo, 355 tấn thực phẩm. Về xây dựng nền quốc phòng toàn dân: Xây dựng một trung đoàn chủ lực tỉnh, hàng chục đại đội bộ đội địa phương huyện và 227 ngàn chiến sĩ dân quân, 32 ngàn du kích. Huy động 56.800 thanh niên tòng quân và 20.000 thanh niên xung phong.

Được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nghệ An: Khi có lệnh toàn quốc kháng chiến, quân và dân Nghệ An nổ súng đầu tiên tiến công địch ở Vinh. Cùng lúc, Nghệ An chi viện cho Thừa Thiên Huế một tiểu đoàn Tiếp phòng quân và một đại đội. Lực lượng này đã cùng Trung đoàn Trần Cao Vân tham gia đánh địch ở mặt trận Huế. Trong năm 1947, tỉnh đã ủng hộ Bình - Trị - Thiên 100 tấn gạo. Tổ chức hơn 8.000 dân công hỏa tuyến. Đầu năm 1948, Nghệ An huy động 12.000 dân quân, 1.700 thuyền vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào cho Bình - Trị - Thiên. Các tiểu đoàn 418, 257, 346 chiến đấu ở Quảng Bình. Trong Tuần lễ vàng nhân dân đã ủng hộ 1.503.317 đồng và 375 tấn gạo. Với 75 thuyền, 500 thủy thủ, 400 dân công mang 375 tấn gạo, 10 khẩu bazôka, 200 viên đạn 600 quả địa lôi, 1.000 lưu đạn, chi viện và phối hợp với Quảng Bình đánh địch.

- Đối với Lào, Nghệ An có Tiểu đoàn 265 thường xuyên giúp bạn, cùng bạn tổ chức đánh nhiều trận: Mường Mô, Mường Nham, giải phóng Mường Lống.

Để cung cấp sức người, sức của cho chiến trường, Nghệ An huy động 75.000 người huấn luyện bổ sung cho các chiến trường; huy động 93 vạn lượt dân công phục vụ các chiến trường với 21 triệu ngày công. Đón nhận 21.045 đồng bào và chiến sĩ Khu IV và Đồng Tháp Mười tập kết, 2.811 cán bộ và 132 thiếu nhi Thừa Thiên, Quảng Trị ra tập kết. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng vững mạnh.

Lực lượng vũ trang Nghệ An tham gia đánh 94 trận lớn nhỏ; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch.

Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Nghệ An có tám Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hà Tĩnh: Lực lượng vũ trang nhân dân Hà Tĩnh đã tham gia chiến đấu đánh địch thâm nhập ven biển, biên giới, diệt và làm bị thương 110 tên, thu nhiều vũ khí, trang bị phương tiện chiến tranh. Tham gia chiến đấu ở Mặt trận Bình - Trị - Thiên 161 trận, diệt 856 tên, bắt sống và làm bị thương 337 tên. Phá hủy 20 xe quân sự, hai canô, thu trên 400 khẩu súng, giải tán 84 hội tề. Những trận đánh xuất sắc như: Trận Ba Đồn, Sen Bàng, Đơn Sa diệt gọn cả đại đội địch. Tại mặt trận Lào, các lực lượng vũ trang địa phương đã phối hợp với bạn tục lạc mở nhiều đợt tiến công tiêu diệt quân Pháp ở dọc biên giới, làm chết và làm bị thương 1.215 tên, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Hà Tĩnh huy động 4.347 thanh niên nhập ngũ, Thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến gồm 32.000 người. Phục vụ kháng chiến 27.388.200 ngày công, đã huy động 1.200 xe đạp thồ, 750 chiếc tàu thuyền phục vụ chiến đấu. Cung cấp cho mặt trận 161.830 tấn lương thực, 117.000.000 đồng công trái quốc gia, 35.000.000 công phiếu kháng chiến. Xây dựng bộ đội địa phương: một trung đoàn, sáu tiểu đoàn, 20 đại đội độc lập, quân số trên 7.000 người. Lực lượng dân quân 18.359 người, du kích 24.137 người.

Khen thưởng trong chống Pháp:

- Bốn Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Ba cờ thi đua phục vụ khá nhất của Hồ Chủ tịch.

- 124.532 huân chương các loại cho cán bộ, lực lượng vũ trang.

Quảng Bình: Quân và dân Quảng Bình đã đánh 614 trận lớn nhỏ, diệt và bắt sống 9.957 tên, thu tám máy vô tuyến điện, 732 súng các loại, phá hỏng 118 xe quân sự. Công tác địch vận thu được nhiều kết quả. Chỉ trong chiến dịch đông - xuân 1953-1954, vận động được chín vụ binh biến, kêu gọi 3.619 tên sĩ quan và binh sĩ bỏ hàng ngũ địch về với quê hương. Từ năm 1952 đến 1954, Quảng Bình đã đóng góp cho tiền tuyến 30.481 dân công với 496.173 ngày công. Riêng chiến dịch Trung Lào (1953-1954), hai huyện Tuyên Hóa và Quảng Trạch đã có 15.636 người đi dân công, với 293.947 ngày công. Quảng Bình đã đóng góp 18.382 tấn thóc thuế nông nghiệp, 3.641.638 đồng thuế công, thương nghiệp phục vụ kháng chiến. Những trận đánh hay: Xuân Bồ, Phù Trịch, Ba Đồn, Hoàn Lão, Sen Bàng. Những làng chiến đấu nổi tiếng Cự Nẫm, Cảnh Dương, Hưng Đạo, Hoàn Lão, Lữu Lộc, Hiển Vinh, Pháp Kê, Lệ Sơn, La Hà…

Được tặng cờ danh dự của Chính phủ.

Có ba Anh hùng lự lượng vũ trang nhân dân: Cao Thế Chiến, Lâm Úy, Dương Văn Ly.

Quảng Trị: Trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ đánh giặc, Trung đoàn Thiện Thuật, Đại đội Lê Hồng Phong, các đơn vị dân quân tự vệ, bộ đội địa phương đã anh dũng đánh địch ở khắp nơi. Với những trận đánh tiêu biểu: Trận chống càn ở các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, đánh chiếm Cam Lộ, Đầu Mầu, Ba Dốc, Hạ Cờ, Mỹ Chánh - Diên Sanh. Xây dựng nhiều chiến khu nổi tiếng như Ba Lòng, Bang Rợn, Gio Linh, Cam Lộ…

Phối hợp chặt chẽ với Trung Lào, bộ đội, dân quân, du kích Quảng Trị tiến công thắng lợi ở Sen Hạ, Chợ Do, Hà Tây, Đằng Đằng, Dốc Miếu. Chiến dịch Trung Lào giải phóng hoàn toàn Thà Khẹt.

Trên mặt trận đường số 9, chỉ trong 20 ngày đầu năm 1954, tỉnh đã phá sập 17 cầu phối hợp cùng bộ đội địa phương và du kích Cam Lộ, Hướng Hóa bao vây tiến công bảy vị trí của địch trên đường 9, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ, giảnh thắng lợi liên tiếp ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng cùng với thắng lợi trên các chiến trường buộc địch phải ngừng bắn vào ngày 1-8-1954.

- Có một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Thừa Thiên: Đánh 2.300 trận lớn, nhỏ, chủ yếu đánh tập kích, phục kích chống càn, tiêu diệt gần 12.000 tên (trong đó có 2.977 tên Pháp và Âu - Phi), loại khỏi vòng chiến đấu bảy tiểu đoàn, bắt sống 800 tên; bắn rơi ba máy bay; phá hủy 94 xe quân sự (năm xe bọc thép); phá sập hàng trăm cầu cống và hàng ngàn mét đường giao thông; đánh lật 31 đoàn tàu hỏa, bắn chìm, bắn cháy 14 tàu, xuồng; đốt cháy hai kho xăng và một kho đạn; phá hủy 9 khẩu pháo, thu 1.500 súng các loại và đạn dược.

Các trận đánh tiêu biểu, nổi bật: Hòa Mỹ, Hói Mít, Dương Hoàn, Dương Mông, Thanh Hương, Thanh Lam Bồ, Ưu Điềm, Hộ Thành, Đất Đỏ… Lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng phát triển làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân. Trung đoàn Trần Cao Vân trở thành đơn vị chủ lực trong đội hình của Đại đoàn 325 quân đội quốc gia Việt Nam. Phối hợp với Lào chiến đấu, giải phóng thị xã Thà Khẹt.

Trong kháng chiến chống Pháp có một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương quân công hạng ba của Chính phủ trao tặng cho tỉnh. Quân và dân Thừa Thiên được nhận cờ luân lưu của Bác Hồ Quyết chiến quyết thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM