Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Hai, 2020, 10:26:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 48228 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:05:49 pm »

Hội nghị Liên khu ủy (2-6-1949) đánh giá tình hình phong trào văn hóa, giáo dục trong liên khu, khẳng định những thành tích của các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, đồng thời chỉ ra tình trạng thiếu giáo viên, nhất là cho các lớp bổ túc, tiểu học bình dân, chỉ ra những mặt yếu kém về văn hóa, giáo dục ở Bình - Trị - Thiên. Tiếp đó, Liên khu ủy triệu tập Hội nghị cán bộ giáo dục lần thứ nhất (từ ngày 16 đến 18-6-1949), ra nghị quyết về giáo dục; đồng thời chỉ thị cho các cấp, các ngành:

1. Vận động những thanh niên trí thức có đủ điều kiện (trong và ngoài Đảng) tình nguyện làm giáo viên tiểu học xung phong vào dạy ở Bình - Trị - Thiên.

2. Cố gắng trả lại cho các trường trung học những giáo sư được điều động sang công tác khác.

3. Tỉnh ủy sẽ dựa vào tinh thần Nghị quyết Hội nghị cán bộ giáo dục về vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục, thông tin cho các huyện ủy, thị ủy thi hành.

4. Vận động nhân dân hết sức giúp đỡ giáo giới và gia đình họ.

5. Hết sức giúp đỡ việc thành lập Chi hội văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị văn hóa Liên khu IV lần thứ nhất.

Hội nghị đại biểu Liên khu IV lần thứ hai (10-7-1949) tổng kết tình hình kháng chiến trên mọi lĩnh vực, khẳng định những thành tích xóa nạn mù chữ của các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Tỉnh Quảng Trị đã thi đua xóa nạn mù chữ ở từng thôn trong vùng tự do và bắt đầu hướng vào vùng du kích. Phong trào bình dân học vụ tỉnh Quảng Bình cũng phát triển ở vùng tự do, nhiều cụ phụ lão, nhiều mẹ chiến sĩ đi học đều đặn. Đồng bào hai xã miền núi Thanh Hóa và Tân Hóa (huyện Tuyên Hóa) đã thanh toán được nạn mù chữ, xứng đáng là những điển hình của tỉnh Quảng Bình về công tác giáo dục trong thời chiến.

Năm 1949, Nhà Bình dân học vụ được giải thưởng thi đua diệt dốt. Đầu năm 1950, nhiều tỉnh mở đại hội bình dân học vụ, quyết định phát động các chiến dịch diệt dốt với những hoạt động sôi nổi và phong phú. Ngành bình dân học vụ còn mở các lớp huấn luyện cho cán bộ xã, cho giáo viên miều xuôi và miền núi, giúp cho phong trào tiếp tục phát triển.

Đầu năm 1950, Liên khu ủy nêu rõ nhiệm vụ văn hóa, giáo dục:

- Hoàn thành diệt dốt và phát triển bổ túc, tiểu học bình dân ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, tiến dần đến thanh toán nạn mù chữ.

- Các trường trung, đại học phải là nơi đào tạo cán bộ cho cơ quan và đoàn thể; huấn luyện quân sự ở nhà trường làm cho mỗi học sinh là một chiến sĩ dự bị sẵn sàng tung ra mặt trận.

- Văn nghệ phải hướng sự sáng tác chuyển sang tổng phản công, tuyên truyền địch vận, lập các đoàn kịch, ca nhạc xung phong vào mặt trận để động viên tinh thần của bộ đội.

Liên khu ủy đề ra Dự án năm 1950 xác định ở Bình - Trị - Thiên phát triển tiểu học và xây dựng cơ sở trung học phổ thông; ở Thanh - Nghệ - Tĩnh mở rộng bình dân bổ túc và tiểu học bình dân, phát triển trung, đại học; vận động học sinh các trường trong vùng địch chống giáo dục nô lệ. Hoạt động văn nghệ hướng vào việc hoàn thành chuẩn bị tổng phản công và chuyển sang tổng phản công; nêu cao vai trò công, nông, binh; hướng các sáng tác của văn nghệ sĩ vào hoạt động ở các mặt trận, cã xí nghiệp quốc phòng, đồng ruộng, tẩy sạch những dấu vết của văn hóa lãng mạn và nô dịch thực dân.

Hội nghị cán bộ Bình - Trị - Thiên (4-1950) xác định các nhiệm vụ: xây dựng nền giáo dục nhân dân, triệt để chống ảnh hưởng văn hóa của địch; hướng văn nghệ vào phụng sự công, nông, binh, gây lòng căm thù giặc và yêu nước trong nhân dân; tuyên truyền sâu rộng chính sách của Chính phủ và nhiệm vụ của toàn dân trong giai đoạn mới, tiến hành cải cách xã hội nhự gây phong trào đời sống mới, chống hủ tục mê tín, tệ nạn cờ bạc, rượu chè, phổ biến vệ sinh trong nông thôn như đào giếng, sửa sang đường, phát triển y tế nhân dân, đào tạo cán bộ y tế, cứu thương…

Về giáo dục phổ thông, năm 1948, toàn liên khu có 736 trường tiểu học với 2.300 lớp và 81.800 hoc sinh, 40 trường trung học với 18 lớp và 7.200 học sinh.

Ở các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, năm học 1947-1948 có 55.444 học sinh, 27 trường trung học và 5.000 học sinh. So với năm học trước, số học sinh tiểu học tăng gấp ba lần. Năm học 1948-1949 có 713 trường tiểu học (tăng 17%) với hơn 80.893 học sinh (tăng 31%), 40 trường trung học (tăng 21%) với 7.344 học sinh (tăng 52% so với năm học 1947-1948). Hầu hết các xã ở vùng đồng bằng, trung du có trường tiểu học. Trường trung học Đào Duy Từ (Thanh Hóa), Trường trung học Nguyễn Công Trứ (Nghệ An), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) mở thêm các lớp để nhận thêm học sinh. Trường trung học bình dân được thành lập ở một số tỉnh có nhiệm vụ dạy bổ túc văn hóa các cán bộ đảng và một số giáo viên có uy tín trong tỉnh. Các tỉnh đều có trường trung học của tỉnh, ở khu có một trường đại học.

Giáo dục tiểu học ở Quảng Bình có bước tiến đáng kể. Vùng tự do đến năm 1949 có 68 trường với hơn 4.000 học sinh. Vùng căn cứ du kích tuy khó khăn về nhiều mặt nhưng vẫn có 16 trường duy trì việc dạy và học. Ở bậc trung học có trường Phan Bội Châu (Tuyên Hóa) và một trường ở chiến khu Quảng Ninh, với tổng số 185 học sinh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:06:20 pm »

Hội nghị đại biểu liên khu (7-1949) xác định phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mặt giáo dục, nhằm phương hướng chuẩn bị tổng phản công, đồng thời xây dựng nền tảng giáo dục dân chủ; mở rộng bình dân bổ túc, chấn chỉnh ngành tiểu học và thống nhất lãnh đạo, hướng dẫn mạnh trung học ở vùng an toàn, tổ chức trường thực nghiệm cung cấp cán bộ cho cuộc kháng chiến; phát triển bình dân học vụ trong vùng địch chiếm đóng; chuẩn bị kiến thiết toàn bộ ngành giáo dục và gây phong trào tẩy chay không học các trường của địch; tăng cường giáo dục ở vùng thượng du, bồi dưỡng giáo viên và đào tạo cán bộ giáo dục.

Thực hiện chủ trương cải tổ giáo dục của Hội đồng Giáo dục Trung ương, Liên khu ủy ra các chỉ thị Về việc lãnh đạo giáo dục(9-1950); Về việc cải tổ giáo dục(10-1950), nêu các nhiệm vụ: làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ tầm quan trọng của cải cách giáo dục; tiếp tục cuộc vận động “Rèn cán chỉnh cơ”, rút kinh nghiệm và phổ biến trong toàn liên khu; chú ý giúp đỡ các lớp đào tạo giáo viên; có kế hoạch tổ chức lại các trường học; chuẩn bị tuyên truyền cho sự chuyển hướng quan trọng việc dạy, học theo lối mới; trong báo cáo thường kỳ các tỉnh phải có phần báo cáo về giáo dục.

Thực hiện cải cách giáo dục, các trường tư thục được giải thể để thành lập các trường dân dạy trên nguyên tắc “của dân, do dân, vì dân”, thể hiện rõ hơn tính nhân dân của nền giáo dục. Thực hiện nghị định về thành lập các trường sư phạm (sơ cấp, trung cấp, lớp sư phạm đặc biệt, lớp sư phạm miền núi) Trường Sư phạm sơ cấp Liên khu IV ra đời, đặt tại Thọ Xuân (Thanh Hóa). Trường Sự phạm cấp tốc miền núi của Thanh Hóa đặt tại Ngọc Lặc.

Mặc dù trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, gian khổ, nhiều rường học ở các thị xã, thị trấn phải dời về nông thôn để tránh máy bay địch bắn phá, phải sử dụng cả đình, chùa làm lớp học; giấy bút, sách vở rất khan hiếm, nhưng nhân dân vẫn hăng hái học tập. Các kỳ thi tốt nghiệp hằng năm vẫn đảm bảo đều đặn, nghiêm túc và có chất lượng. Ngoài ra còn có các cuộc thi sư phạm thực hành, kỹ nghệ thực nghiệm, lớp huấn luyện giáo viên, trại hè tu nghiệp giáo viên.

Về đại học, ngay từ năm 1948, nhà nước đã mở một lớp toán học đại cương ở Nghệ An cho sinh viên theo học; một số trường chuyên môn như Trường Kỹ nghệ thực hành và Trường Canh nông. Ngoài ra còn có các trường của Khu III, của Trung ương dời vào, như Trường Y sĩ ở Nông Cống…

Ngành giáo dục liên khu đã tổ chức nhiều đợt ủng hộ vật chất, cử giáo viên xung phong vào Bình - Trị - Thiên và lên vùng cao; tham gia quyên góp, may áo rét cho bộ đội; tham gia dạy bổ túc văn hóa và tăng gia sản xuất. Bộ Tư lệnh liên khu cử cán bộ về các trường trung học tổ chức tập quân sự cho học sinh.

Phong trào xây dựng đời sống mới, vệ sinh phòng bệnh được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt. Nhân dân nhiều nơi góp tiền của xây dựng trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh; tiến hành các cuộc vận động sửa giếng cũ, đào giếng mới, sửa sang nhà ở, đưa chuồng trâu, bò, hố xí ra xa nhà ở, phát quang bụi rậm để chống muỗi… Các trạm y tế xã phát triển, đảm bảo các yêu cầu vệ sinh phòng dịch và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Các tệ nạn xã hội như hút thuốc phiện, nghiện rượu, cờ bạc và những hủ tục được xóa bỏ. Các trại cứu tế của tỉnh, huyện được thành lập đã thu dung, nuôi dưỡng người tàn tật hoặc già cả không nơi nương tựa.

Về văn hóa văn nghệ,Đại hội văn hóa, văn nghệ liên khu (6-1949) khẳng định văn hóa phải đứng trên lập trường dân tộc, dân chủ, làm cho các cấp lãnh đạo và các văn nghệ sĩ quán triệt hơn quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa kháng chiến theo ba phương châm được xác định tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948): dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa, tích cực phục vụ kháng chiến, phục vụ công, nông, binh. Hội nghị đại biểu văn hóa và văn nghệ Liên khu IV lần thứ hai (7-1949) xác định “phương châm chính là lấy lực lượng nhân dân để xây dựng văn hóa và văn nghệ”, “địa hạt sáng tác và hoạt động, phát triển văn nghệ là ngoài tiền tuyến và trong nhân dân”. Những quan điểm này có tác dụng chỉ đạo quan trọng, làm cho phong trào văn hóa, văn nghệ trong liên khu có bước phát triển; ban văn nghệ được tổ chức ở nhiều nơi, nhiều văn nghệ sĩ hăng hái tham gia kháng chiến, trở thành những văn nghệ sĩ - chiến sĩ. Chi hội Văn nghệ Liên khu IV tập hợp nhiều gương mặt nổi danh như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Lưu Quý Kỳ, Trương Tử, Nguyễn Xuân Sanh… Phong trào văn nghệ quần chúng hình thành, sáng tác nhiều tác phẩm thơ, ca, kịch phản ánh cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, động viên tinh thần kháng chiến của bộ đội và nhân dân. Theo Báo cáo Hội nghị Ban Chấp hành Liên khu IV tháng 7-1950 ngoài phong trào học tập rộng lớn trong dân chúng, trong cơ quan đoàn thể, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đều đã thành lập các chi hội văn hóavà đã mở hội nghị văn hóa trong toàn tỉnh.

Tuy nhiên trong thời kỳ này, hoạt động văn hóa, văn nghệ kháng chiến còn nhiều hạn chế. Phương tiện xuất bản, ấn loát còn thiếu thốn, chưa có một tác phẩm văn học dài hơi nào được xuất bản trong liên khu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:06:42 pm »

Về báo chí tuyên truyền, báo chí cách mạng được phát hành đều đặn góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến. Báo Cứu quốccủa Mặt trận Liên Việt Liên khu IV ra hằng ngày. Báo Sự thậtcủa cơ quan tuyên truyền kháng chiến của hội nghị nghiên cứu chủ nghĩa Mác phát hành từ năm 1947-1950. Các tờ nội san Học tậpTìm hiểucủa Đảng bộ liên khu làm chức năng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và định hướng công tác xây dựng đảng, đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm, lệch lạc. Tạp chí Sáng tạo(số 1 ra tháng 5-1948) phản ánh hoạt động sáng tác văn hóa, văn nghệ kháng chiến. Thép mới(ra số 1 ngày 10-10-1949) là cơ quan tuyên truyền, giới thiệu, phê bình và nghiên cứu của Chi hội văn nghệ liên khu. Bộ Chỉ huy lực lượng vũ trang liên khu xuất bản tập san Tiền tuyếndo tướng Nguyễn Sơn làm chủ nhiệm… Theo báo của của Liên Việt, Việt Minh liên khu, tháng 3-1950, nhật báo Cứu quốcmỗi ngày xuất bản hơn 4.000 tờ, tuần báo Giết giặcmỗi kỳ ra 15.000 tờ, báo Tiếng vangcủa tỉnh Quảng Trị mỗi tuần ra hai số. Các tờ Muôn dânTin nhanhmỗi tuần hai số, mỗi số trên 1.800 tờ. Các báo Toàn quốc kháng chiếncủa Hà Tĩnh, Truyền thanh kháng chiếncủa Nghệ An, Liên hiệp kháng chiếncủa Thanh Hóa, Thép mới của Chi hội Văn nghệ liên khu đều xuất bản mỗi kỳ trên 1.500 tờ. Đặc san đã ra được 63.250 bản. Ngoài ra còn ra được 31.400 tờ báo tay, nội san; 3.218.000 truyền đơn, khẩu hiệu; lập 12.620 chòi phát thanh; tổ chức 5.870 tối ca kịch.

Từ giữa năm 1950, công tác tuyên truyền tiếp tục được đẩy mạnh. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ tuyên truyền toàn quốc, ngày 17-7-1950, Ban tuyên truyền cổ động liên khu được thành lập. Ngày 23-1-1950, Liên khu ủy ra nghị quyết về việc thống nhất ban tuyên truyền đảng với thông tin, quyết định cải tổ Ban tuyên truyền cổ động, thành lập Ban tuyên truyền mới của Liên khu ủy gồm chín người do một khu ủy viên làm trưởng ban, trong đó Ban thường vụ gồm năm người, có nhiệm vụ giúp Liên khu ủy lãnh đạo công tác tuyên truyền trong và ngoài đảng, trong các bộ phận tuyên truyền bộ đội, thông tin, chi hội mácxít, văn nghệ, báo chí, mặt trận và đoàn thể. Ban tuyên truyền các tỉnh tổ chức lại theo hình thức ban tuyên truyền khu.

Về công tác bảo vệ các vùng tự do,giặc Pháp phải đối phó với hoạt động của quân, dân ta ngày càng lớn mạnh trên khắp các chiến trường và lo củng cố vùng đã chiếm đóng, ngày càng ít có khả năng đánh chiếm Thanh - Nghệ - Tĩnh. Trên mặt trận phía tây, địch tăng cường hoạt động nghi binh, củng cố các vị trí chiếm đóng trên biên giới Lào - Việt và ở một số nơi trong vùng thượng du Thanh - Nghệ, mở nhiều cuộc càn quét nhỏ ở vùng biên giới, tập kích bất ngờ vào nộ địa ta để cướp của, bắt người đưa sang Lào đi lính, bắt cóc cán bộ ta, liên lạc với bọn thổ ty, lang đạo phản động để chống phá cách mạng và kháng chiến. Ở miền xuôi, địch bao vây, kiểm soát mặt biển, tăng cường hoạt động gián điệp, tập kích nhiều lần vào một số vùng ven biển (nhiều nhất là ở Thanh Hóa) để trinh sát, nghi binh, ngăn trở giao thông tiếp tế bằng đường biển từ vùng tự do cho vùng bị tạm chiếm Bình - Trị - Thiên.

Để phá hoại nền kinh tế kháng chiến, gieo rắc hoang mang, sợ hãi trong nhân dân, từ đầu năm 1949, chúng cho máy bay đánh phá nhiều công trình quan trọng về thủy lợi (Bái Thượng, Bàn Thạch ở Thanh Hóa, Nam Đàn, Rú Quyết ở Nghệ An, Trung Lương ở Hà Tĩnh), các xưởng quốc phòng, các nhà máy công kỹ nghệ, các kho tàng, bệnh viện, gây cho ta nhiều thiệt hại; ném bom vào các thị trấn (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn), vào các chợ phiên, làm chết hàng trăm người. Chỉ riêng trận ném bom Chợ Kiểu ở Yên Định (Thanh Hóa) ngày 19-5-1950, đã giết hại 400 người, làm bị thương 300 người; ở Chợ Quăng (Hoằng Hóa) chết 44 người, bị thương 17 người. Nửa đầu năm 1950, ở Cầu Bố - Mật Sơn và các vùng phụ cận Hàm Rồng, Nam Ngạn, Tân Hà, Cốc Hạ, Bào Nội, Đông Tác, Thọ Hạc, Quảng Thắng, Nấp, Voi đã có 28 vụ địch ném bom với 104 lần chiếc máy bay oanh tạc, làm chết 83 người, bị thương 51 người, cháy 298 nóc nhà, đắm 55 thuyền và canô, chết 19 trâu, bò.

Bọn phản động trong Thiên chúa giáo cũng tăng cường hoạt động, khôi phục tổ chức Quốc gia liên hiệp mưu biến Liên đoàn công giáothành tổ chức chống đối chính quyền cách mạng, khống chế không cho giáo dân tham gia kháng chiến, lôi kéo một số thanh niên công giáo trốn vào vùng địch kiểm soát ở Liên khu III để đi ngụy binh, chuẩn bị sẵn sàng tiếp tay cho quân Pháp.

Để đối phó với những thủ đoạn của kẻ thù, nhân dân liên khu hăng hái tham gia công tác bố phòng, cùng dân quân, bộ đội, công an tích cực bảo mật phòng gian, đẩy mạnh phong trào xây dựng “Làng chiến đấu Cự Nẫm” ở vùng xung yếu địch có thể đánh tới; phát triển hầm hào, phân tán chợ búa, phòng tránh địch ném bom tàn sát nhân dân, kịp thời hàn gắn thiệt hại do các cuộc ném bom của địch gây ra để bảo vệ, khôi phục và phát triển sản xuất; nâng cao ý thức cảnh giác, giữ gìn trật tự, trị an. Ở mặt trận miền tây, quân, dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã phối hợp chặt chẽ với liên quân Việt - Lào ở bên kia biên giới, tích cực hoạt động, diệt một số đồn địch ở biên biên giới và trong nội địa thượng du Thanh - Nghệ, giữ vững thế trận của ta, giữ vững biên giới phía tây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:07:08 pm »

Trên mặt trận đấu tranh chính trị, Liên khu ủy hết sức coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc trấn áp bọn phản động, gián điệp, bảo vệ nội bộ, bảo vệ sự nghiệp cách mạng và kháng chiến. Tháng 7-1949, bọn lang đạo phản động ở miền tây Thanh Hóa bị quét sạch; cha con Kỷ, Tín bị tống giam, cơ sở chiến khu thổ phỉ của chúng bị phá hủy, chấm dứt mối liên lạc giữa bị giữa bọn phản động và ở miền tây Thanh Hóa với bọn phản động ở miền tây Hòa Bình và tây Nghệ An; hoàn toàn phá tan âm mưu lập các xứ Mường, Thái, Nùng tự trị. Ta đã thiết lập chính quyền cách mạng, xây dựng các đoàn thể nhân dân, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân ở miền tây.

Với khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết, kháng chiến trên hết”, “Tất cả cho mặt trận Bình - Trị - Thiên, quân, dân Liên khu IV kiên cường chịu đựng gian khổ, hy sinh, dốc sức chi viện cho tiền tuyến, bảo đảm cung cấp ngày càng nhiều nhân tài, vật lực cho kháng chiến.

Phong trào tham gia các lực lượng vũ trang nôi cuốn mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Các tỉnh đều tổ chức và huấn luyện dân quân, du kích từng làng. Làng nào, xã nào cũng có dân quân, du kích. Những nơi gần địch còn có cả du kích bí mật.

Hưởng ứng phong trào thi đua ái quốc, ngày 10-7-1948, Ban vận động thi đua ái quốc liên khu và các tỉnh được thành lập. Các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh ký giao ước thi đua. Sau một tháng phát động phong trào “Một tháng tham gia dân quân” với khẩu hiệu “Mỗi người dân là một người lính”, số lượng dân quân tăng hơn hai lần, từ 166.460 lên 387.500 người, trong đó có 43.380 lão dân quân và 76.200 nữ dân quân.

Thanh niên Thanh - Nghệ - Tĩnh nhiệt liệt hưởng ứng cuộc vận động thi đua tòng quân do liên khu phát động, từ tháng 8 đến cuối tháng 10-1949 đã có 186.917 người ghi tên tòng quân, trong đó 5.000 học sinh trung học, 150 sinh viên, 2.500 công chức, cán bộ, 1.000 thanh niên công giáo.

Trước yêu cầu mới của kháng chiến, ngày 12-2-1950, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 20-SLtổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn dân phục vụ kháng chiến.

Hội nghị cán bộ Thanh - Nghệ - Tĩnh (3-1950) và Hội nghị cán bộ Bình - Trị - Thiên (4-1950) đều bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ tổng động viên.

Tính đến cuối tháng 10-1950, toàn liên khu có gần 200.000 người ghi tên tòng quân. Nghệ An, Hà Tĩnh có 120.000 người. Riêng xã Hồng Yên (Can Lộc) có 1.112 người, 295 học sinh chuyên khoa trường Trung học Phan Đình Phùng (trong đó có 13 nữ sinh) đều ghi tên tòng quân, liên khu đã động viên bốn khóa tân binh, huấn luyện 36.120 người, bổ sung cho Đại đoàn 304 là 5.000 người, cho Bắc Lào 500 người, ra Việt Bắc 4.000 người, tuyển cho Bộ Quốc phòng và Trường Lục quân 6.000 học sinh, 6 đại đội bộ đội địa phương được điều ra Việt Bắc làm nhiệm vụ tiếp tế.

Phong trào đi dân công phục vụ các chiến trường:Đi đôi với đà phát triển ngày càng lớn mạnh các hoạt động quân sự trên chiến trường chính, chiến trường Bình - Trị - Thiên và chiến trường Đông Lào, nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến của hậu phương ngày càng tăng. Năm 1950, liên khu đã huy động ở Thanh - Nghệ - Tĩnh năm đợt dân công hỏa tuyến với gần 50 vạn người để xây dựng kho tàng, tu sửa đường sá và vận chuyển tiếp tế cho các mặt trận. Có những vùng, nhân lực trẻ khỏe trong các gia đình đã đóng góp 60% đến 70% ngày công trong một năm. Không ít gia đình cùng lúc có hai đến ba người đi dân công hỏa tuyến.

Tuy nhiên, do nhân thức đơn giản một chiều và do tư tưởng chủ quan nóng vội, một số cán bộ đã phạm sai làm trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về việc động viên sức người, ảnh hưởng tới sản xuất và dự trữ lực lượng để xây dựng hậu phương; cách làm còn thiếu dân chủ, dùng biện pháp hành chính mệnh lệnh theo nguyên tắc “cưỡng bách và vận động”, gò ép nhân dân.

Những thiếu sót trên đã phần nào gây nên tình hình căng thẳng ở vùng nông thôn, làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết của Đảng.

Về vật lực, tài lực,cuối tháng 7-1948, Liên khu ủy phát động “Tuần lễ ủng hộ Bình - Trị - Thiên”. Nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đóng góp vào chuyển vào Bình Trị Thiên 458 tấn thóc, 550 tấn gạo, 30 tấn ngô, 500 tấn muối, 48.5333 m vải và hàng vạn viên thuốc chữa bệnh. Ngay tại địa phương nhân dân hăng hái giúp đỡ dân quân, du kích và bộ đội về ăn mặc, tiền bạc, mua sắm thêm vũ khí và về các phương tiện sản xuất tự túc.

Phong trào đỡ đầu dân quân và bộ đội địa phương diễn ra khắp ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, mở đầu từ xã Ốc Khê (Can Lộc) rồi lan nhanh ra toàn huyện, toàn tỉnh Hà Tĩnh, ra Nghệ An, Thanh Hóa và vào cả Bình - Trị - Thiên. Trong phong trào này, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã ủng hộ dân quân và bộ đội địa phương nhiều thóc gạo, áo quần, tiền bạc, hiến cho dân quân 31.000 ha ruộng đất, một số trâu, bò, nông cụ để cày cấy tự túc. Các lực lượng vũ trang đã nhận 15.000 ha để thành lập các trại sản xuất. Các đơn vị dân quân, du kích xã, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực đều có trại tăng gia sản xuất. Đây là một phong trào tự giác, rộng lớn của mọi tầng lớp nhân dân; lãnh đạo có nhiều hình thức động viên phong phú, phát huy được tinh thần thi đua yêu nước sôi nổi và tinh thần thương yêu các lực lượng vũ trang - con em ruột thịt của mình - của nhân dân, của dân tộc.

Năm 1950, liên khu cung cấp cho chiến dịch Lê Lợi và chiến dịch Hữu Ngạn 5.000 tấn lúa, góp quỹ công lương 8.500 tấn, quỹ khao quân 11.000 tấn, thuế điền thổ 14.500 tấn, nuôi 36.000 tân binh, 3.000 cán bộ, chiến sĩ thương binh Bình - Trị - Thiên trong tháng, tiếp nhận ba vạn nhân dân Hà - Nam - Ninh sơ tán vào, một số cán bộ và nhân dân Lào, giao cho bộ đội địa phương và dân quân du kích 41.000 ha ruộng để cày cấy tự túc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:08:30 pm »

Trong tuần lễ quyên góp kim khí cho quân giới, nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh thu được 44 tấn kim loại. Riêng ở tỉnh Hà Tĩnh đã quyên góp được 57 đôi hoa tai, một đôi xuyến vàng, 242 đồng bạc trắng, hàng trăm quan tiền đồng, nhiều dụng cụ gia đình như: sanh, chảo, mâm, chậu, nồi và đồ thờ như lư hương, độc bình bằng đồng.

Trong “Tuần lễ ủng hộ Bình - Trị - Thiên” (7-1948), nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã quyên góp được 1.875.000 đồng. Công nhân tích cực tham gia phong trào “Giờ làm cứu quốc” lấy tiền thu được từ 1.072.000 giờ làm thêm góp vào “Quỹ kháng chiến” ủng hộ Bình - Trị - Thiên.

Năm 1950, nhân dân toàn liên khu đã mua hơn 80 triệu đồng công phiếu kháng chiến, đóng 30 triệu đồng vào “quỹ kháng chiến”, hơn 30 triệu đồng thuế điền thổ. Riêng các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động 39.000 tấn lương thực và 140 triệu đồng. Riêng đồng bào khu phố đặc biệt Cầu Bố đã ủng hộ bộ đội địa phương hơn chín tấn thóc, 307.724 đồng, đóng quỹ đảm phụ quốc phòng 511 kg lúa và 200 đồng; bán gần 20 tấn thóc cho Hồ Chủ tịch khao quân, mua công trái quốc gia được gần 21 tấn thóc và 455.080 đồng.

Vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, trong năm 1950, nhân dân Thừa Thiên đã đóng góp được 474 tấn lúa, 13 triệu đồng và 15.000 dân công phục vụ kháng chiến, tạm cấp 5.778 mẫu ruộng đất cho nông dân nghèo. Nhân dân Quảng Trị góp quỹ kháng chiến 5,5 triệu đồng, quỹ công lương 312 tấn lúa, thuế điền thổ 130 tấn…

Kết quả động viên trên đây đã làm cho liên khu đáp ứng được các yêu cầu phục vụ tiền tuyến và cung cấp cho quân đội. Tuy vậy, do nhận thức đơn giản cho rằng ngày kháng chiến thắng lợi sắp đến, các cấp và cán bộ chú trọng nhiều hơn tới mặt động viên mà không chú ý đúng mức tới mặt bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài. Mặt khác, mức động viên tăng lên nhanh một cách đột ngột làm cho nhân dân vốn quen đóng góp không nhiều từ Cách mạng Tháng Tám 1945 không tránh khỏi bỡ ngỡ. Đáng lẽ, trong tình hình đó, công tác động viên chính trị càng phải được tăng cường, nhưng cách làm lại thiếu dân chủ, dùng biện pháp mệnh lệnh hành chính nhiều hơn là tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân, thậm chí có những trường hợp dùng hình thức thô bạo cưỡng bức nhân dân, động viên các tầng lớp nông dân nghèo đóng góp quá mức, vận động cả bần, trung nông hiến ruộng (ở Thanh - Nghệ - Tĩnh), động viên cả chiêng ché, đồ thờ thiêng liêng của đồng bào dân tộc (ở Quảng Trị). Những khuyết điểm, sai lầm này đã gây ảnh hưởng không tốt tới việc phát huy tinh thần phấn khởi đoàn kết kháng chiến của các tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Liên khu ủy Liên khu IV đã nhiệt liệt biểu dương nhiệt tình yêu nước, các hình thức vận động quần chúng phong phú, sáng tạo của các địa phương, đồng thời nghiêm khắc chỉ rõ những khuyết điểm, sai lầm và đề ra các biện pháp tích cực sửa chữa khuyết điểm, sử dụng hợp lý các thứ nhân dân ủng hộ, tránh lãng phí, tham ô.

Tháng 7-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi đồng bào Liên khu IV. Bức thư viết:

“Từ ngày kháng chiến đến nay, đồng bào mọi nơi đã cố gắng và đang cố gắng làm tròn nhiệm vụ người công dân với Tổ quốc.

Phần đông cán bộ thì tận tụy, biết gần gũi dân, đoàn kết dân, học hỏi dân, và lãnh đạo dân thi đua làm mọi công việc kháng chiến.

Nhưng tiếc rằng ở một vài nơi, cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của Đoàn thể. Họ xa rời nhân dân không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì chỉ dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động, giải thích cho mọi đồng bào hiểu rõ và vui vẻ xung phong làm. Thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân”.

Người nhấn mạnh; “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v. Những đoàn thể ấy là tổ chức của nhân dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân…”.

“Tôi mong rằng: từ nay các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể”(1).

Trung ương Đảng ra chỉ thị cho các cấp ở Liên khu IV phải tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, sai lầm.

Các cấp từ liên khu tới cơ sở ở Thanh - Nghệ - Tĩnh đã tiến hành tự phê bình, phê bình và tích cực sửa chữa những khuyết điểm. Nhờ đó đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa nhân dân với cán bộ được giữ vững. Nhân dân yên tâm, phấn khởi tham gia kháng chiến.

Hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh còn là nơi đứng chân của nhiều cơ quan và là địa bàn tản cư của nhân dân các vùng lân cận. Đầu năm 1950, chiến sự lan rộng ở Bắc Bộ, nhất là vùng đồng bằng. 20 vạn người và 150 cơ quan cấp liên khu và các tỉnh thuộc Liên khu III tản cư vào Liên khu IV, chủ yếu là Thanh Hóa, trên địa bàn bốn huyện phía bắc là Cẩm Thủy, Thạch Thành, Vĩnh Lộc và Yên Định, ngoài ra còn ở một phần các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa. Các thị trấn Phố Giàng (Vĩnh Lộc), Kim Tân (Thạch Thành), Kiểu (Yên Định), Cầu Cừ (Hà Trung)… thêm đông đúc, giả cả sinh hoạt tăng cao. Nhân dân các tỉnh hậu phương đã tạo điều kiện giúp dân tản cư từng bước khắc phục khó khăn, ổn định nơi ăn, chốn ở.


(1) Hồ Chí Minh; Toàn tập xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.65, 66.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:08:58 pm »

Cùng với việc chiến tranh xâm lược Việt Nam thực dân Pháp tăng cường bình định, mở rộng vùng chiếm đóng Lào, dùng Đông Lào làm bàn đạp để tiến công vào Liên khu IV từ phía tây.

Tại Trung Lào (gồm hai tiểu khu Xavanakhét và Thàkhẹc), lực lượng địch có 2.000 quân, trong đó có 200 tên Pháp, đặt chỉ huy sở tại Xavanakhét.

Liên khu IV được Trung ương giao giúp đỡ cách mạng Đông Lào, gồm các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, Hủa Phăn, Xavanakhét.

Chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy (3-1948) xác định phương châm, phương thức hoạt động cho các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Lào và Miên, giao nhiệm vụ cho Liên khu IV tích cực giúp đỡ kháng chiến của nhân dân Lào, cùng với bạn xây dựng và phát triển cơ sở, củng cố hành lang Mường Mô - Xiêng Khoảng - Pắc Xan - Xaravan và phát triển từ đường số 9 - Sêpôn - Xiêng Khoảng xuống Xaravan.

Bộ đội Liên khu IV cùng lực lượng vũ trang Lào trở lại hoạt động ở Đông Lào từ năm 1948, trên các trục đường 8, 9, 12. Đại đội Tây Tiến hoạt động ở vùng Tà Ôi. Theo yêu cầu của bạn, tháng 7-1948, Bộ Chỉ huy Phân khu Bình - Trị - Thiên giải thể Tiểu đoàn 301, tổ chức thành Đại đội công tác số 55 sang hoạt động ở đường số 9, phối hợp với một bộ phận lực lượng vũ trang Lào từ Sầm Nưa về đứng chân ở Bulapha. Các đội dân vận ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị cũng lần lượt sang hoạt động ở Lào.

Tại Xavanakhét, bộ đội ta tổ chức thành các đội vũ trang tuyên truyền, cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Lào thực hiện bám bản, bám dân, từng bước gây dựng và phát triển phong trào quần chúng, tổ chức dân quân, du kích.

Giữa năm 1948, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Liên khu IV tổ chức lực lượng trinh sát tìm đường và bảo vệ con đường liên lạc quốc tế Việt - Thái. Đây là con đường ngắn nhất từ Việt Nam qua Lào sang Thái Lan. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến của ta nằm trong tình thế bị bao vây cô lập (1945-1950) thì đây là con đường giữ vị trí cửa ngõ chủ yếu cho hầu hết các đoàn cán bộ cấp cao của Việt Nam đi ra nước ngoài và các đoàn khách quốc tế vào Việt Nam. Đã có tới hơn 30 đoàn cán bộ cao cấp của ta và quốc tế qua đây và được bảo vệ an toàn.

Để tăng cường công tác chỉ đạo giúp đỡ và phối hợp với bạn, giữa năm 1948, Liên khu ủy thành lập Lâm thời đặc biệt bộ Ai Lao, gồm bốn chi bộ ở miền tây Thanh Hóa, Mường Mô, Napê và chi bộ của Phòng biên chính. Tháng 9-1948, Thường vụ Liên khu ủy ra quyết định thành lập Liên chi 4 trực thuộc Liên khu ủy do liên khu ủy viên Đào Việt Hưng làm bí thư.

Tháng 10-1948, Đại đội 55 đánh trận đầu tiên ở Xa Muội, diệt một trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí, rồi tiếp tục phối hợp với bộ đội Lào tập kích tiêu diệt đồn Mường Noòng, giải phóng hai huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ngày 22-11-1948, Đội vũ trang tuyên truyền Lào do Thao Bun chỉ huy đột nhập thôn Tha Thom (Xiêng Khoảng) cướp chín khẩu súng trường.

Tính đến cuối năm 1948, liên quân Việt - Lào đã đánh 19 trận, gây được uy tín chính trị trong nhân dân Đông Lào. Tháng 11-1948, Khamphê Phan, đại diện Ítxala đến Con Cuông (Nghệ An) để tổ chức cơ quan Đông lào. Phòng đại diện Đông Lào được thành lập bên cạnh phòng Biên chính Liên khu IV. Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu giúp đỡ Ủy ban kháng chiến Đông Lào về mọi mặt, nhất là về tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành lập Ủy ban kháng chiến hành chính Đông Lào (1-12-1948) do Thaonưhắc làm Chủ tịch, Thacô làm Phó Chủ tịch, Thaobula làm ủy viên quân sự, Singapo làm ủy viên chính trị.

Ngày 20-1-1949, tại xã Mường Hùng (Xiềng Khọ, Sầm Nưa), Quân đội Ítxala được Cayxỏn Phômvihản tuyên bố thành lập. Đây là sự kiện trọng đại đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào.

Giữa tháng 2-1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương mở Hội nghị cán bộ Lào - Miên, xác định rõ nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Lào, Miên trước mắt là xây dựng căn cứ địa, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền ở căn cứ địa.

Thực hiện chủ trương trên, ngày 26-2-1949, Liên khu ủy quyết nghị về công tác giúp bạn ở Trung Lào mở rộng mặt trận Trung Lào, hướng chính là đường số 9; xây dựng căn cứ địa đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền; thi hành “đại đội độc lập”; giúp bạn và cùng bạn phát triển dân quân lấy bản làm cơ sở, xây dựng bộ độ địa phương, lấy huyện làm cơ sở, đào tạo cán bộ người Lào. Đại hội đại biểu lần thứ hai Đảng bộ Liên khu (7-1949) chủ trương mở rộng mặt trận Đông Lào, đẩy mạnh phối hợp, giúp đỡ cách mạng Đông Lào. Ngày 1-8-1949, Liên khu ủy quyết định thành lập Ban cán sự Trung Lào gồm bảy người do Nguyễn Minh Châu làm trưởng ban, nhằm giúp Liên khu ủy chỉ đạo bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Trung Lào và chỉ đạo công tác giúp bạn hiệu quả hơn.

Ban cán sự Đông Lào được củng cố và đổi thành Ban vận động cách mạng Đông Lào do liên khu ủy viên Đặng Việt Châu làm trưởng ban.

Tháng 9-1949, thực hiện nghị quyết của Ban cán sự Trung ương hải ngoại và Hội nghị toàn Lào, khu Trung Lào được thành lập. Trung ương giao cho Liên khu IV giúp đỡ cách mạng Trung Lào.

Sự ra đời của Mặt trận Bình - Trị - Thiên – Trung Lào tháng 10-1949 không chỉ là kết quả của một quá trình vận động phát triển về tổ chức chỉ huy và tổ chức chiến trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào kháng chiến và sự trưởng thành của lực lượng chủ lực hoạt động ở địa phương, mà còn là yêu cầu của sự liên minh chiến đấu Việt - Lào ở miền trung Đông Dương. Ban vận động cách mạng Đông Lào được đổi thành Ban cán sự Trung Lào do liên khu ủy viên làm trưởng ban.

Tháng 12-1949, Tiểu đoàn 364 được Bộ Chỉ huy Phân khu Bình - Trị - Thiên đều sang hoạt động phối hợp với bộ đội Lào, lập hai căn cứ ở hai huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ủy ban kháng chiến hành chính cấp huyện và 15 xã cùng các tổ chức quần chúng thuộc hai huyện này được thành lập.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2016, 09:09:25 pm »

Bước sang năm 1950, Trung ương chủ trương tiến hành phản công địch trên khắp chiến trường Đông Dương, đẩy mạnh cuộc kháng chiến và xúc tiến xây dựng Cương lĩnh chính trị của cách mạng Lào thành lập Chính phủ kháng chiến Lào. Thực hiện chủ trương này, tháng 2-1950, Liên khu ủy ra nghị quyết chuyên đề về việc giúp đỡ cách mạng Trung Lào, xây dựng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền, chuẩn bị chiến trường cho chủ lực ta sang hoạt động, đào tạo cán bộ và phát triển đảng trong quần chúng người Lào.

Bộ đội tình nguyện liên khu phối hợp với lực lượng vũ trang Lào hoạt động mạnh ở Trung Lào, giúp Xiêng Khoảng xây dựng vùng căn cứ địa rộng gần 300 km2, đánh chiếm Xiềng Khọ, tổ chức được một tiểu đoàn người Lào, tiến công địch ở Xanggang, cầu Khămhe và trên sông Nậm Thì. Tháng 1-1950, ở Trung Lào có sáu chi bộ đảng với 250 đảng viên chưa có đảng viên người Lào, đến tháng 7-1950 đã có 19 chi bộ với 634 đảng viên, trong đó có 15 đảng viên người Lào. Liên khu đưa Tiểu đoàn 364 sang hoạt động ở Trung Lào. Ngày 19-5-1950, liên khu quyết định thành lập Trung đoàn 120 quân tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào, thành lập Trường Quân chính đào tạo cán bộ quân sự cho Trung Lào. Trung đoàn 120 là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu IV ở Trung Lào, Thường vụ Liên khu ủy cũng điều động thêm một số cán bộ sang Trung Lào giúp bạn.

Sau một thời gian phối hợp hoạt động, bốn vùng căn cứ rộng lớn gồm 600 bản với 30.000 dân dọc biên giới Lào - Việt được xây dựng và củng cố, có chính quyền cách mạng, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Ngày 20-11-1950, Hội nghị cán bộ mặt trận Trung Lào lần thứ nhất do Liên khu ủy triệu tập nhiệt liệt biểu dương thành tích của bộ đội, cán bộ ta ở Trung Lào: đã mạnh dạn xây dựng và phát triển cơ sở kháng chiến, góp phần cùng bạn củng cố được các tổ chức Ítxala; xây dựng được các đội vũ trang công tác chính trị và trung đoàn Trung Lào; đánh được nhiều trận, buộc địch bỏ 10 vị trí, gây ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân Lào. Hội nghị đề ra nhiệm vụ tiếp theo ở Lào là: cùng với bạn tích cực phát triển chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng ở các vùng xung yếu ở Trung Lào với khẩu hiệu “Tiến về đồng bằng”.

Trong ba năm từ 1948-1950, quân, dân Liên khu IV đã tiến một bước dài trên con đường kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào và chiến sĩ Liên khu IV đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, ra sức phát triển lực lượng về mọi mặt, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng hậu phương, ngày càng trưởng thành trên cả hai phương diện kháng chiến và kiến quốc. Mặc dù địch ra sức càn quét bình định các vùng chúng chiếm đóng, đánh thọc sâu vào các vùng căn cứ kháng chiến của ta, lập tề, giành dân, bắt lính, vơ vét của cải của nhân dân, song quân và dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua mọi hy sinh tổn thất, anh dũng và kiên cường đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, từng bước làm thất bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp.

Có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, Bình - Trị - Thiên trở thành một chiến trường chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích sôi động, ngày càng phát triển, giữ vững các chiến khu miền núi, xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng, từng bước thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch, từng bước tạo nên những thay đổi có lợi cho ta trong so sánh lực lượng trên từng vùng rộng lớn. Mặc dù phải ứng phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của địch và hậu quả nặng nề của thiên tai, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Liên khu ủy, các đảng bộ và quân, dân Binh - Trị - Thiên đã đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân, buộc địch phải củng cố vùng tạm chiếm đô thị và đồng bằng. Một nét đáng chú ý của chiến tranh nhân dân ở Bình - Trị - Thiên là đã biết vận dụng nhiều hình thức tiến công địch, phối họp tác chiến với binh vận, địch vận, nội ứng, dùng hàng binh Âu - Phi trong chiến đấu (trận Cầu Nhì, trận Đông Hà), tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng; phá vỡ hệ thống tề ngụy ở cơ sở, giữ vững vùng tự do và căn cứ sau lưng địch; phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, buộc địch phải phân tán lực lượng, làm giảm mức độ tập trung binh lực của chúng trên chiến trường trọng điểm. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, chính quyền cách mạng, tổ chức đảng ngày càng tôi luyện và trưởng thành. Trình độ lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy chiến tranh của các cấp lãnh tạo và cán bộ có bước tiến đáng kể.

Thanh - Nghệ - Tĩnh - vùng tự do, hậu phương chiến lược của liên khu và cả nước, phát huy cao độ truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, tiến hành đấu tranh gay go, gian khổ, chống chính sách phá hoại kinh tế của địch, hắc phục tiên tai, ra sức xây dựng vững mạnh về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội; làm thất bại âm mưu của thực dân Pháp trong việc chiếm miền tây Thanh Hóa, Nghệ An; bẻ gãy các mũi tiến công của địch từ phía nam ra, Lào tới, Bắc vào; làm thất bại những thủ đoạn lôi kéo, chia rẽ sắc tộc, lương giáo, hòng quấy phá, gây bạo loạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc hậu phương; ra sức chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững và phát triển chiến tranh nhân dân ở Bình - Trị - Thiên, xây dựng bộ đội chủ lực của cả nước và làm nghĩa vụ quốc tế, đây là một thắng lợi lớn của quân, dân Liên khu IV, của cuộc kháng chiến trong cả nước.

Mặt trận Trung Lào cũng có những chuyển biến mới. Lực lượng ta và bạn đều phát triển, tạo ra những điều kiện thuận lợi mới để phát triển cuộc chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng. Căn cứ cách mạng và kháng chiến ở Đông Lào được mở rộng, tạo thế liên hoàn với cuộc kháng chiến của quân dân Liên khu IV.

Tuy vận, trong lãnh đạo và chỉ đạo, Liên khu ủy, Đảng bộ liên khu, các cấp chính quyền và các cấp chỉ huy quân sự đã phạm một số khuyết điểm, sai lầm trong công tác tổng động viên, chỉ đạo xây dựng lực lượng bộ đội và tác chiến, làm ảnh hưởng đến đà phát triển của cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, như đã mở những chiến dịch lớn chưa phù hợp trên chiến trường Bình - Trị - Thiên. Thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng, Liên khu ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành sửa chữa khuyết điểm, ổn định tình hình, đưa cuộc kháng chiến trong toàn liên khu tiến lên theo bước chuyển mạnh sang tổng phản công của cuộc kháng chiến toàn quốc.

Những thắng lợi trên đây đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng bộ và nhân dân liên khu trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tạo ra thế và lực mới để tiếp tục tiến lên giành thắng lợi to lớn và toàn diện trong giai đoạn phát triển thế chủ động tiến công chiến lược tiếp theo.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:04:56 pm »

Chương 4

GIỮ VỮNG THẾ CHỦ ĐỘNG CHỐNG ĐỊCH BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM,
TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG KHÁNG CHIẾN
(1951 - 1953)
   
I. ĐẤU TRANH KHÔI PHỤC CƠ SỞ VÙNG TẠM BỊ CHIẾM
CHỐNG BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM

Sau chiến thắng Biên giới thu - đông 1950, trên bình diện cả nước, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã có bước chuyển biến quan trọng. Phong trào kháng chiến chuyển sang thế chủ động phản công - tiến công địch trên khắp các chiến trường. Về mặt đối ngoại, với thắng lợi quân sự quan trọng nói trên, cách mạng Việt Nam đã phá được thế bị bao vây, hậu phương của cuộc kháng chiến được mở rộng, nối liền từ căn cứ Việt Bắc tới các chiến trường khác ở Bắc Bộ, Trung Bộ, nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống xâm lược ngày càng có ảnh hưởng trên trường quốc tế. Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân đã chính thức đặt quan hệ ngoại giao, giúp đỡ về vật chất, tinh thần ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Thất bại nặng nề về quân sự của thực dân Pháp ở chiến trường Đông Dương còn là tiếng chuông cảnh tỉnh chính giới Pháp và làm dấy lên phong trào nhân dân Pháp và các dân tộc bị áp bức đấu tranh phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và ở nhiều nước thuộc địa của Pháp.

Tại Việt Nam, chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên với sự viện trợ của Mỹ ngày càng bị lên án. Nếu sau chiến thắng Việt Bắc thu - đông năm 1947, Mỹ cho rằng Pháp khó có thể thắng được thì sau chiến dịch Biên Giới, Mỹ khẳng định: Pháp không thể giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Ngày 7-9-1951, Mỹ đã ký kết thẳng với chính quyền Bảo Đại về viện trợ kinh tế, quân sự để nắm lấy lực lượng này một cách chặt chẽ hơn. Hoạt động can thiệp của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương đã vấp phải làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Cộng thêm với thất bại ở mặt trận Biên Giới càng làm cho giới cầm quyền Pháp nhận thấy rằng: khó có thể giành thắng lợi bằng quân sự. Do đó, sự lệ thuộc của thực dân Pháp vào viện trợ của Mỹ ngày càng tăng lên và đó là cơ hội để Mỹ đẩy mạnh các hoạt động chi phối cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương theo ý đồ của mình.

Với tiền bạc và phương tiện kỹ thuật của Mỹ, thực dân Pháp chủ trương xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố tại vùng chúng kiểm soát gọi là tuyến phòng thủ Đờ Lát. Đó là hệ thống những lô cốt, tháp canh được bố phòng ở vùng đồng bằng do Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Đờ Lát đờ Tátxinhi trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Kế hoạch lập tuyến phòng thủ kiên cố của Đờ Lát đã tăng thêm khó khăn rất lớn đối với lực lượng vũ trang cách mạng.

Từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bước vào một thời kỳ mới đầy gian nan thử thách. Quân và dân Việt Nam không chỉ chống lại hành động xâm lược ngoan cố, xảo quyệt của quân đội viễn chinh Pháp mà còn chống lại sự can thiệp một cách trắng trợn của đế quốc Mỹ và sự cấu kết chặt chẽ với các thế lực tay sai phản động được Pháp và Mỹ hậu thuẫn.

Trong bối cảnh trên, đặc biệt là do yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến, cần phải bổ sung hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc để phát triển toàn diện cuộc kháng chiến tới thắng lợi, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được triệu tập. Đại hội được tiến hành từ ngày 11-2 đến ngày 19-2-1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiên Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Báo cáo chính trị tổng kết những chặng đường đấu tranh cách mạng vẻ vang và những kinh nghiệm quý giá của Đảng sau 21 năm lãnh đạo cách mạng và hơn bốn năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Báo cáo chính trị vạch ra phương hướng và nhiệm vụ để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Báo cáo chính trị cũng chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể để phát triển chiến tranh nhân dân, phong trào chiến tranh du kích “Phải phát triển và củng cố dân quân, du kích về mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó” (1) Đường lối của Đảng đã được đề ra cụ thể hơn trong Luận cương về cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, trình bày và các báo cáo chuyên đề về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân… Báo cáo Xây dựng quân đội nhân dân, hoàn thành chiến tranh giải phóng do Đại tướng Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Võ Nguyên Giáp đề cập đến nhiều mặt về vũ trang tranh đấu, về phương châm chiến lược và những vấn đề cụ thể về phương châm tác chiến. Về phương hướng và nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa, Đại tướng Tổng Tư lệnh nêu rõ: “Công tác xây dựng căn cứ địa không phải chỉ chú trọng phương diện quân sự: chấn chỉnh các đường giao thông vận tải, kiến thiết kỹ nghệ quốc phòng, củng cố lực lượng vũ trang địa phương, mà phải chú trọng phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa: củng cố chính quyền nhân dân, phát triển tăng gia sản xuất, cải thiện dân sinh, phát triển giáo dục. Đồng thời chúng ta cần luôn luôn đề phòng các cuộc tấn công của địch, các cuộc oanh tạc lớn của chúng”(2). Đó là những nội dung quan trọng để các địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể của chiến trường mà xây dựng phương hướng, nhiệm vụ kháng chiến.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ trương và đường lối do Đại hội xác định đã trở thành kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai, tiến lên giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.171
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.279.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:05:38 pm »

Với khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng nêu lên và thắng lợi của chiến dịch Biên Giới đã làm nức lòng quân và dân cả nước. Uy tín của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được nâng cao trong các tầng lớp nhân dân, tạo khí thế phấn khởi, thi đua vươn lên giành thắng lợi mới trên khắp các chiến trường Bắc - Trung - Nam.

Sự phát triển của cuộc kháng chiến và ảnh hưởng quốc tế ngày càng to lớn của sự nghiệp chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào kháng chiến của quân và dân Liên khu IV. Đồng thời, những khó khăn, do âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can tiếp Mỹ cũng đặt ra trước đảng bộ và nhân dân Liên khu IV những nhiệm vụ to lớn, nặng nề và phức tạp hơn. Nhiệm vụ trọng tâm của quân, dân Liên khu IV là chống kế hoạch bình định, những cuộc hành quân lấn chiếm, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt địch, giữ vững và mở rộng các căn cứ du kích ở Bình - Trị - Thiên, vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Trải qua hơn bốn năm kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào đấu tranh của quân và dân Liên khu IV đã trưởng thành về mọi mặt. Lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích đã được xây dựng và củng cố, trang bị có tiến bộ hơn trước, có khả năng phối hợp tác chiến tiêu diệt được một bộ phận quân chiếm đóng, bảo vệ hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Từ cuối năm 1950, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã đẩy mạnh chiến tranh du kích, giam chân một bộ phận quân cơ động của địch, đồng thời phát triển chiến tranh du kích, giải phóng một vùng rộng lớn ở phía nam tỉnh Quảng Bình. Các trung đoàn chủ lực của liên khu phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân, du kích đẩy mạnh hoạt động chống địch càn quét và tổ chức phục kích, tiêu diệt các đoàn xe cơ giới của Pháp từ Đồng Hới vào Chấp Lễ, Hạ Cờ, tạo điều kiện củng cố và mở rộng vùng căn cứ du kích từ phía nam Trị - Thiên ra tới bắc Quảng Bình.

Những thắng lợi về quân sự trên đây đã tạo ra một bước chuyển biến cho các hoạt động đấu tranh phục hồi và phát triển cơ sở trong vùng địch tạm chiếm.

Trong lúc dồn sức đánh địch ở chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân và dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương, bảo đảm cung cấp sức người, sức của cho các mặt trận và là nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với chiến sĩ đang chiến đấu ở ngoài tiền tuyến.

Thời gian này, địch đánh phá ngày càng ác liệt hơn. Trong khi đó, địa hình của liên khu vốn phức tạp, kinh tế kém phát triển, sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu, lại thường xuyên bị thiên tai gây thiệt hại nặng nề. Bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, mọi yêu cầu về cung cấp sức người, sức của ngày càng cao. Công việc bồi dưỡng và cải thiện đời sống nhân dân chưa được triển khai tích cực. Công tác xây dựng cơ sở đảng, củng cố vùng căn cứ du kích, vùng địch tạm chiếm chậm phát triển, phong trào chiến tranh du kích ở một số hơn chưa thật vững. Đó là những khó khăn bức xúc đòi hỏi đảng bộ và nhân dân Liên khu IV phải nỗ lực phấn đâu, khắc phục những thiếu sót, nhược điểm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.

Căn cứ vào tiềm năng và vị trí chiến lược quan trọng của chiến trường Liên khu IV đối với cuộc kháng chiến của cả nước, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh đã tăng cường chỉ đạo toàn diện phong trào đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế đối với Liên khu IV nhằm xây dựng mặt trận Bình - Trị - Thiên thành một địa bàn thu hút và phân tán lực lượng địch, phá âm mưu chia cắt và chiếm đóng của chúng, đồng thời tiếp tục xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành hậu phương vững mạnh của cả nước. Cùng với các chiến trường của cả nước, thực hiện chủ trương tích cực cầm cự để chuyển sang tổng phản công - tổng tiến công địch.

Liên khu IV là một chiến trường dài và hẹp, có vị trí địa lý - chính trị rất quan trọng về mặt chiến lược đối với chiến trường cả nước. Do đó, ngay từ khi bắt đầu thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam, thực dân Pháp đã âm mưu chia cắt và cô lập toàn bộ các tỉnh miền Trung, xây dựng thành bàn đạp để từ đó mở rộng địa bàn chiếm đóng ra các tỉnh phía bắc và phía nam. Nhằm thực hiện mục tiêu trên, từ đầu năm 1951, thực dân Pháp xúc tiến mạnh việc củng cố vùng “chiến thuật miền Trung” tách vùng núi Tây Nguyên ra khỏi tổ chức khu quân sự miền Trung; tăng cường càn quét, đánh phá các vùng căn cứ kháng chiến, căn cứ du kích, ven biển, đặc biệt là vùng giáp ranh của tỉnh Ninh Bình với bắc Thanh Hóa; mở rộng diện lấm chiếm phía nam của tỉnh Hà Tĩnh, phía bắc của tỉnh Quảng Bình; xây dựng hệ thống đồn bốt kiên cố để phòng ngự tiến công của các lực lượng vũ trang và tạo bàn đạp đánh rộng ra vùng tự do của liên khu. Mục đích của địch là tách rời Liên khu IV với các chiến trường khác của cả nước, tách rời chiến trường Bình - Trị - Thiên với vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10139


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:06:14 pm »

Nằm trong kế hoạch bình định của tướng Đờ Lát, từ đầu năm 1951, thực dân Pháp đã bố trí lại lực lượng quân Âu - Phi và vệ binh đoàn, đưa quân chiếm đóng những vị trí then chốt ở địa bàn các tỉnh Bình - Trị - Thiên; xây dựng lực lượng cơ động nhanh với chiến thuật tập trung, phân tán để ứng phó với lực lượng vũ trang địa phương. Từ tháng 4 đến tháng 9-1951, ngoài những tiểu đoàn địa phương phân tán, chốt giữ ở ba tỉnh, địch đã tập trung quân ứng chiến ở mức cao hơn, có từ bốn đến năm tiểu đoàn tham gia các cuộc hành quân càn quét. Chúng ra sức bắt lính để tiến tới thành lập ở mỗi tỉnh một trung đoàn địa phương và các tiểu đoàn biệt lập. Cho đến giữa năm 1951, địch đã thành lập thêm các tiểu đoàn 7, 8 rồi đến Tiểu đoàn 12. Một số tiểu đoàn khác cũng được cấp tốc tổ chức và huấn luyện. Các trường sĩ quan người Việt được củng cố mở rộng ở Huế, Đà Lạt.

Lực lượng địch ở Bình - Trị - Thiên lúc này có khoảng sáu tiểu đoàn, ba đại đội Âu - Phi và sáu tiểu đoàn binh sĩ người Việt. Cùng với việc tăng cường lực lượng chiến đấu, Bộ Chỉ huy Pháp khẩn trương xây dựng một hệ thống bongke kiên cố và dày đặc chạy dọc theo hướng từ bắc xuống nam, chia trận tuyến thành từng ô nhằm bao vây, cô lập vùng căn cứ của kháng chiến, đồng thời để thọc xuống vùng duyên hải, hoặc tiến sang phía biên giới giáp với Trung Lào, Hạ Lào và Bắc Campuchia. Dọc theo các tuyến giao thông quan trọng như đường số 1, đường số 9, địch đã bố trí một hệ thống đồn bốt, tháp canh kiên cố. Mỗi lô cốt được xây dựng chắc chắn hơn và tăng cường lực lượng phòng thủ. Từng lô cốt xây cách nhau chừng 6 km, có công sự và giao thông hào bao bọc. cho đến tháng 10-1951, địch đóng thêm 172 vị trí, xây dựng hơn 200 lô cốt để chia cắt vùng kháng chiến và vùng chúng kiểm soát. Ở Quảng Bình, địch đóng 31 lô cốt và 34 tháp canh; ở Quảng Trị, 72 lô cốt và 30 tháp canh; ở Thừa Thiên, 69 lô cốt và 120 tháp canh. Địch ra sức củng cố các vị trí đóng quân, chốt chặt các lối ra vào vùng ven để bảo vệ các trung tâm ở thành phố Huế, thị xã Đồng Hới và thị xã Quảng Trị cùng nhiều đầu mối giao thông quan trọng khác.

Sau chiến dịch Phan Đình Phùng, lợi dụng những khó khăn sau trận lũ lụt lớn cuối năm 1950 ở Bình Trị Thiên, nhất là những khó khăn, thiếu thốn về tiếp tế hậu cần cho lực lượng vũ trang kháng chiến, thực dân Pháp cho rằng bộ đội chủ lực của Việt Nam chưa kịp hồi phục, chúng đã liên tiếp mở các cuộc hành quân bao vây, càn quét vào các khu căn cứ ở miền núi Ba Lòng, Vĩnh Linh (Quảng Trị), Cầu Nhi, Hòa Mỹ, Dương Hòa (Thừa Thiên) và nhiều căn cứ cứ đồng bằng ở Phú Vang, Phú Lộc, Phong Quảng Điền (Thừa Thiên), Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ (Quảng Trị), Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình) nhằm mục đích phá cơ quan đầu não kháng chiến, nhất là bao vây, tiêu diệt lực lượng, phá hủy cơ sở hậu cần chiến tranh cách mạng. Chúng tình cách lấn chiếm và kiểm soát các tuyến đường tiếp tế từ vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh vào chiến trường Bình - Trị - Thiên cả trên bộ và ven biển, ngăn cách vùng đồng bằng với vùng căn cứ kháng chiến.

Để tập trung bình định vùng tạm chiếm, quân Pháp liên tiếp tiến hành các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, phá hoại cơ sở kháng chiến, bao vây vùng căn cứ du kích. Chúng cố chiếm giữ những vùng đông dân, nhiều của để tập trung vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh. Do đó, nhiều vùng ngoại ô Huế, ven các đường quốc lộ, ven Phú Lộc, Hương Trà (Thừa Thiên), Hải Lăng, Cam Lộ, Vĩnh Linh (Quảng Trị) địch tiến công, lấn chiếm trở lại, nhất là ở Quảng Bình bao gồm các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, v.v. Trong vùng tạm chiếm, địch ra sức khủng bố cơ sở quần chúng, phát triển các làng tề, tập trung đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị, gây nhiều khó khăn về mọi mặt cho phong trào kháng chiến.

Về chính trị, thực dân Pháp ra sức củng cố bộ máy tay sai ở miền Trung, thay đổi những kẻ cầm đầu bất lực và ngụy trang cho nhãn hiệu quốc gia độc lập giả hiệu để lừa bịp các tầng lớp nhân dân; nuôi dưỡng, sử dụng lực lượng tề, dõng, tuyển mộ lính bản xứ huấn luyện, đào tạo để khủng bố, đánh bật cơ sở đảng nhằm tiêu diệt phong trào kháng chiến ở vùng tạm chiếm.

Mặc dù được Mỹ tăng thêm viện trợ, nhưng gánh nặng về chi phí chiến tranh Đông Dương của Pháp đã vượt quá mực chịu đựng của nền kinh tế Pháp chưa kịp phục hồi sau chiến tranh. Vì vậy, để tiếp tục theo đuổi chiến tranh, thực dân Pháp phải cố gắng tiến hành một cuộc chiến tranh tổng lực trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị, tiếp tục thực hiện chủ trương: lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt.

Từ đầu năm 1951, đi đôi với việc tăng cường hệ thống đồn bốt, tháp canh, thực dân Pháp thúc ép chính quyền tay sai Bảo Đại ban hành dụ tổng động viên, bắt hàng vạn thanh niên trọng vùng tạm chiếm bổ sung vào đội quân phục vụ bộ máy chiến tranh xâm lược. Ở miền Trung, chúng bắt nhân dân kê khai nhân khẩu, lập thẻ quân vụ và lùng bắt thanh niên trong vùng chúng kiểm soát. Trong một thời gian ngắn, từ tháng 6 đến tháng 10-1951, địch đã bắt được gần 3.000 thanh niên bổ sung xây dựng tới 10 tiểu đoàn gồm khoảng 12.000 binh lính. Ngoài ra, chúng còn phát triển hàng nghìn hương vệ, hương dõng, thống nhất thành địa phương quân hoạt động ở địa bàn thôn, xã.

Thủ đoạn bình định của chúng là kết hợp càn quét với phá hoại kinh tế kháng chiến, ngăn chặn nguồn tiếp tế sức người, sức của từ vùng địch tạm chiếm ra vùng tự do. Chúng ra sức củng cố bộ máy chính quyền địa phương ở nông thôn và tổ chức vũ trang, khuyến khích các phần tử phản động hoạt động chỉ điểm; truy lùng, khủng bố cơ sở cách mạng. Nơi nào cơ sở quần chúng cách mạng yếu như ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, chúng kích động nhân dân chống lại đường lối kháng chiến của Đảng, Chính phủ.

Cường độ đánh phá về quân sự của địch trong những tháng đầu năm 1951 đã tăng gấp bội so với trước. Chỉ trong thời gian ngắn, quân Pháp đã tổ chức 20 trận càn, trong đó 17 trận càn trong vùng chiếm đóng và ba trận càn vào vùng căn cứ kháng chiến. Có những trận lớn, kết hợp nhiều lực lượng tham gia từ 1.000 đến 1.500 quân nhằm bao vây, chụp bắt bất ngờ cơ quan kháng chiến, phá cơ sở chính trị và tiêu diệt bộ đội chủ lực.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM