Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Sáu, 2020, 03:25:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 45656 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:48:02 pm »

Tại Thừa Thiên, đầu tháng 3-1947, Thường vụ Tỉnh ủy họp nắm lại tình hình, kịp thời xác định phương hướng hoạt động và tổ chức bắt liên lạc với các huyện và thành phố Huế; tiến hành củng cố các tổ chức đảng, chính quyền; phát động chiến tranh du kích; lập đội công an vũ trang lấy tên là “Đội danh dự”, tiến hành diệt tề, trừ gian; nhanh chóng tập hợp bộ đội, dân quân, tự vệ, chọn những người gan dạ lập đội “Quyết tử quân”; tổ chức đánh ngay một trận, quyết không để tắt lâu tiếng súng kháng chiến.

Thực hiện chủ trương của hội nghị cán bộ chủ chốt đầu tháng 3-1947, một đơn vị biệt động của Trung đoàn Trần Cao Vân do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sanh Thí chỉ huy đã lọt vào thành phố Huế, bị mật, bất ngờ tiến công đồn Hộ Thành nhanh chóng tiêu diệt địch (diệt ba tên Pháp và 20 tên Việt gian), quân ta rải truyền đơn rồi rút về căn cứ. Trận đánh đã gây ảnh hưởng lớn về chính trị trong thành phố Huế và lan đi nhanh chóng tới các phủ, huyện, gây lo sợ cho địch và tạo niềm tin và phấn khởi trong nhân dân.

Cũng trong những ngày đầu kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ, Thừa Thiên - Huế đã nhận được sự chi viện kịp thời của chiến trường Khu V. Tháng 3-1947, Khu V đã đưa một đại đội thuộc Trung đoàn 96 ra phối hợp đánh địch ở nam Phú Lộc; cung cấp năm cán bộ trong đó có hai cán bộ đại đội cùng một số vũ khí, đạn dược. Khu V còn cung cấp cơ sở vật chất giúp xây dựng căn cứ Khe Ong làm chiến khu cho Nam Phú Lộc. Sự giúp đỡ kịp thời đó là sự động viên tinh thần to lớn đối với cán bộ, quân và dân Thừa Thiên - Huế.

Ngày 25-3-1947, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên triệu tập hội nghị Tỉnh ủy mở rộng (hội nghị cán bộ tỉnh) tại làng Nam Dương (Quảng Điền) do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị đã đề ra những quyết sách quan trọng:

- Tiếp tục tiếng súng kháng chiến, phá chính sách bình định của giặc, tiến hành trừ gian, phá tề.

- Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cất giấu lương thực, tăng cường canh gác để cho dân làm ăn, tiếp tế cho chiến khu.

- Củng cố xây dựng lại cơ sở, đưa cán bộ, đảng viên trở về địa phương cũ để hoạt động, nắm lấy quần chúng nhân dân để kháng chiến, chấn chỉnh quân đội, dân quân tự vê; chỉnh đốn chính quyền, kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng.

Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh: phải nhanh chóng bám cơ sở, đánh địch bằng cách đánh du kích; cán bộ, đảng viên bộ đội kiên quyết trở lại đồng bằng, bám đất, bám dân, nhanh chóng khôi phục lực lượng kháng chiến. Kết luận hội nghị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh: Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta không thể để mất dân, chết không rời cơ sở, chúng ta nhất định thắng lợi. Hội nghị cũng đã quyết định xây dựng chiến khu Hòa Mỹ làm căn cứ kháng chiến cho các cơ quan lãnh đạo của tỉnh và là nơi tập trung các đơn vị bộ đội, bố trí lại các huyện ủy, củng cố Trung đoàn Trần Cao Vân và chủ trương tổ chức một số trận đánh để gây tiếng vang.

Sau hội nghị đã dấy lên phong trào sôi nổi trở về cơ sở, trở về với dân. Giữa vòng vây của quân thù, việc trở về với đồng bằng của cán bộ, đảng viên mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng từng bước đã khôi phục được phong trào, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, bắt mối xây dựng lại cơ sở, củng cố tổ chức dân quân, tự vệ, từng bước tạo dựng lại niềm tin của nhân dân vào cán bộ, vào kháng chiến.

Đây là cuộc họp đầu tiên của Tỉnh ủy sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo của đảng bộ, kịp thời ngăn chặn bước đi xuống của phong trào kháng chiến, đưa cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên từng bước đi lên.

Để thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 29-3-1947, Trung đoàn Trần Cao Vân cử một bộ phận tiến công đồn Đất Đỏ. Đơn vị do đồng chí Hà Văn Lâu, Trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ đạo. Kết quả, ta đã tiêu diệt một trung đội lính Pháp, bắt tù binh, thu toàn bộ vũ khí(1). Chiến thắng giòn giã của trận Đất Đỏ mở đầu cho việc thay đổi cách đánh địch trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ sở kháng chiến trong lòng địch. Chiến thắng Đất Đỏ đã được Bộ trưởng Quốc phòng biểu dương. Các trận Hộ Thành và Đất Đỏ có tiếng vang về quân sự, có ảnh hưởng lớn về chính trị, mang lại niềm tin tất thắng cho nhân dân, cán bộ, chiến sĩ vào Đảng, vào kháng chiến. Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng Thừa Thiên và chiến thắng Hộ Thành, Đất Đỏ mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ quật khởi của cuộc kháng chiến trên chiến trường Thừa Thiên.

Ở Quảng Trị, sau khi các cơ quan lãnh đạo của tỉnh rút về Ba Lòng, ngày 14-4-1947, Tỉnh ủy mở hội nghị tại Teng Teng (vùng núi Triệu Phong). Hội nghị nhận định tình hình địch, ta từ khi địch chiếm toàn tỉnh, bàn các biện pháp đối phó, củng cố phong trào, xây dựng cơ sở, phát triển cuộc đấu tranh toàn diện với địch. Hội nghị quyết định thành lập các chiến khu để ổn định địa điểm làm việc của cơ quan lãnh đạo tỉnh, huyện.

Sau hội nghị, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, cán bộ, đảng viên, dân quân tự vệ tiếp tục bám đất, bám dân, củng cố và phát triển lực lượng kháng chiến.


(1) Bao gồm năm súng cối 60mm, ba đại liên, hai trung liên 12 súng trường, sáu súng ngắn, 150 viên đạn, nhiều quân trang, quân dụng. Ta phá đồn và giải thoát số đồng bào bị bắt đi bắt đi phu ở đây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:50:38 pm »

Tại Quảng Bình, tháng 5-1947, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức tại Thuận Đức (Đồng Hới) bàn việc ổn định tình hình, củng cố các tổ chức cơ sở, chắp nối liên lạc giữa huyện với xã. Hội nghị chủ trương cho dân hồi cư, đưa cán bộ, đảng viên về xây dựng cơ sở và hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống địch. Tiếp theo hội nghị Tỉnh ủy, các huyện đều mở hội nghị để giải quyết những vấn đề cụ thể của địa phương mình.

Sau hội nghị tỉnh và huyện, cán bộ, đảng viên lần lượt trở về cơ sở, địa bàn, bám đồng bằng, xây dựng lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến.

Để chỉ đạo thực hiện tốt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của Đảng và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đồng chí Trung Bộ ngày 1-3-1947, Khu ủy IV đã cử các khu ủy viên và cán bộ vào kiểm tra và trực tiếp làm việc với các tỉnh ủy Bình - Trị - Thiên; mở một số lớp đào tạo, bồi dưỡng cấp tốc cán bộ quân sự, chính trị cho các địa phương. Hội nghị cán bộ toàn khu giữa tháng 7-1947 (họp ở làng Gay, Anh Sơn, Nghệ An) đã nêu cao những mặt đúng đắn, tích cực của cuộc kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên; đồng thời kiên quyết uốn nắn những lệch lạc, khuyết điểm, thiếu đoàn kết nội bộ, tả khuynh trong diệt tề, trừ gian của Đảng bộ và quân dân Quảng Trị, thành kiến đi đến có những hành động sai lầm đối với đồng bào theo đạo Thiên Chúa của Đảng bộ và quân dân Quảng Bình; cô độc hẹp hòi trong công tác mặt trận và công tác cán bộ của ba tỉnh. Hội nghị chỉ rõ: trừ gian không phải có có hình phạt mà phải chú ý cảm hóa, lôi kéo họ về với dân tộc. Hội nghị cũng đã đề cập đến vấn đề đẩy mạnh việc giúp đỡ Bình - Trị - Thiên về tài chính các yêu cầu về vật chất phục vụ kháng chiến.

Từ sau hội nghị các tỉnh ủy, lực lượng vũ trang ở các địa phương từng bước được củng cố, bố sung; đẩy mạnh chiến đấu rộng khắp, liên tục, cả bộ đội chủ lực, dân quân thường trực của các tỉnh, huyện và dân quân, tự vệ ở khắp các làng, xã, khu phố.

Ở Thừa Thiên, tại chiến khu Hòa Mỹ, Trung đoàn Trần Cao Vân đã được củng cố và bổ sung một bước. Số cán bộ, chiến sĩ mất liên lạc dần dần trở về chiến khu; trung đoàn được bố sung chiến sĩ mới. Một số cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn được đưa đi đào tạo (khu tổ chức các lớp bồi dưỡng). Sau trận Đất Đỏ, Tiểu đoàn 18 vào hoạt động ở phía nam tỉnh, do Chính ủy trung đoàn Trần Quý Hai trực tiếp chỉ huy. Phối hợp với lực lượng vũ trang ba huyện Phúc Lộc, Phú Vang, Hương Thủy, tiểu đoàn liên tục đánh địch, trong đó có một số trận tiêu diệt được nhiều địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Trận Võ Xá, Tiểu đoàn 18 phối hợp với dân quân huyện Hương Thủy, phục kích địch diệt 33 tên, bắt 15 tên, thu nhiều vũ khí. Trận phục kích Đá Bạc, kết hợp giật mìn và xung phong, bộ đội vừa phá hủy xe, vừa diệt địch, thu vũ khí. Điều nổi bật trong hoạt động của Tiểu đoàn 18 là đã nhanh chóng xuống đồng bằng, cùng cán bộ và dân, quân xây dựng lại phong trào, đẩy mạnh kháng chiến ở ba huyện phía nam. Nhờ bám sát dân nên tiểu đoàn đã cùng cán bộ địa phương, qua công tác binh vận, bằng một trận đánh giả, đồn trưởng đồn Nong cùng toàn bộ binh lính đã mở cổng đồn đi theo cách mạng. Trận này ta thu được nhiều vũ khí và đạn dược. Tiểu đoàn 16 và 17 sẵn sàng phối hợp với du kích bảo vệ sản xuất, bảo vệ mùa màng.

Lực lượng vũ trang các huyện bao gồm dân quân thường trực cơ động của huyện và dân quân tự vệ ở các thôn xã, ngoài phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực còn tự mình tổ chức nhiều trận đánh. Ngoài việc dùng chông, mìn, lựu đạn đánh địch ở khắp nơi, lực lượng vũ trang các huyện cũng đánh được một số trận, tiêu diệt địch, thu vũ khí. Dân quân tự vệ hai huyện Phú Vang và Hương Thủy tập kích vào đồn Sư Lỗ diệt một số tên, số còn lại bỏ chạy. Lần đầu tiên dân quân hợp đồng chiến đấu đánh đồn, đem lại lòng tin cho nhân dân, tạo điều kiện phục hồi cơ sở ở Phú Vang và Hương Thủy.

Ngày 8-4-1947, một tiểu đội của đại đội biệt động phục kích ở Bến Đót, bên sông Ô Lâu, đánh đắm một thuyền chở lương thực, diệt hai tên Pháp, thu hai súng cối 81, hai tiểu liên, một súng trường cùng nhiều lương thực và đạn dược.

Với chủ trương đúng đắn của Tỉnh ủy và sự chỉ huy năng động của Ban chỉ huy Trung đoàn Trần Cao Vân, của Ban chỉ huy tỉnh đội, lực lượng vũ trang Thừa Thiên trong một thời gian ngắn đã khôi phục được lực lượng, bám đất, bám dân, đánh gần một trăm trận lớn nhỏ, gây được lòng tin trong nhân dân, góp phần quan trọng vào việc xây dựng lại cơ sở ở tất cả các huyện và thành phố.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:52:29 pm »

Tại Quảng Trị, từ lúc quân Pháp chưa đánh ra phía bắc tỉnh, cả tiểu đoàn 14 đã tiến về đồng bằng hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Trước khi địch chiếm thị xã, Tiểu đoàn 14 đã bố trí ở lại đồng bằng Triệu Phong một đại đội, Hải Lăng gần một đại đội.

Nắm vững phương châm dựa vào dân, phối hợp hoạt động với dân quân, tự vệ, lấy du kích chiến là chính, Tiểu đoàn 14 cùng với dân quân, tự vệ đã liên tục đánh địch cùng nhân dân dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Phong, lập nên chiến khu Chợ Cạn nổi tiếng ở giữa đồng bằng. Dựa vào chiến khu Chợ Cạn, suốt năm 1947, ta đã kiểm soát được phần lớn đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng - nơi cung cấp nhân lực, vật lực rất quan trọng cho kháng chiến ở Quảng Trị.

Dọc theo đường số 9, tỉnh đã có sáng kiến tổ chức đội biệt động. Đội biệt động vừa làm nhiệm vụ tác chiến, vừa làm nòng cốt, tổ chức hướng dẫn dân quân, tự vệ các xã đánh địch. Tại các huyện phía bắc, Tiểu đoàn 13 được tăng cường Đại đội 2 của Tiểu đoàn 15 cùng dân quân, tự vệ phối hợp tổ chức một số trận đánh phục kích địch trên đường từ Nam Đông về huyện lỵ Gio Linh diệt nhiều địch; phục kích địch ở Cẩm Phố đánh thiệt hại hai đại đội, diệt gọn một trung đội trong đó có một tên thiếu úy, thu một trung liên, tám súng trường.

Lực lượng vũ trang các huyện ngoài việc cùng phối hợp chiến đấu với bộ đội, tự mình liên tục đánh địch gây cho chúng nhiều thiệt hại trong đó có một số trận thực hiện được đánh tiêu diệt nhỏ. Ngày 12-3-1947, dân quân Hải Lăng dùng hai chiếc vò giả làm bom để chặn xe địch, diệt một số địch, trong đó có hai tên Pháp, thu vũ khí. Dân quân, tự vệ Cam Lộ cũng dùng vỏ chai giả làm mìn đốt xe địch thu vũ khí.

Năm 1947, lực lượng vũ trang Quảng Trị ngoài Tiểu đoàn 14 thường xuyên chiến đấu ở đồng bằng, Tiểu đoàn 13 cùng dân quân hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh bám đất, bám dân đánh địch, xây dựng cơ sở, góp phần đẩy mạnh phong trào kháng chiến rộng khắp trong toàn tỉnh.

Tại Quảng Bình, các đại đội của Tiểu đoàn Lê Trực cũng bám đất, bám dân phối hợp với lực lượng vũ trang các huyện, thị vừa xây dựng cơ sở, vừa đánh địch. Ngày 24-4-1947, Đại đội 5 phối hợp với dân quân đánh thắng cuộc càn quét của địch vào làng Hòa Duyệt, buộc chúng phải chạy về Hoàn Lão. Ngày 4-5-1947, Đại đội 5 phối hợp với dân quân Cự Nẫm (Bố Trạch) chặn đánh quân Pháp đi càn ở Rú Nguồn, diệt 10 tên.

Ngày 17-5-1947, Đại đội 2 cùng dân quân Quảng Ninh bí mật phục kích quân địch tiến công bệnh viện Rào Trù trở về, diệt 10 tên.

Ngày 16-8-1947, một đơn vị của Tiểu đoàn Lê Trực phối hợp với dân quân đánh địch đi càn vào thôn Chung Anh (Quảng Trạch) diệt 12 tên Pháp và 30 tên lính ngụy.

Đầu tháng 9-1947, bộ đội Tiểu đoàn Lê Trực cùng dân quân tiến công đồn Minh Lê diệt 17 tên Pháp.

Cùng với việc xây dựng bộ đội chủ lực, Tỉnh ủy Quảng Bình đặc biệt quan tâm xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang các huyện, thị. Ngoài lực lượng dân quân, tự vệ được tổ chức rộng khắp ở các thôn, xã, tỉnh đã tổ chức ở mỗi huyện, thị một đại đội dân quân thường trực. Huyện Lệ Thủy có Đại đội 1, huyện Quảng Ninh có Đại đội 2, thị xã Đồng Hới có Đại đội 3, huyện Bố Trạch có Đại đội 4, huyện Quảng Trạch có Đại đội 5, huyện Tuyên Hóa có Đại đội 6.

Các đại đội dân quân thường trực cùng với dân quân tự vệ ở các thôn, xã vừa hiệp đồng tác chiến với bội đội chủ lực, vừa tổ chức đánh địch, nhiều trận đạt hiệu quả cao, gây được tiếng vang trong nhân dân. Ngày 27-5-1947, một tổ du kích ở Hoàn Lão dùng đại đao, mã tấu, cuốc bàn diệt hai tên Pháp, thu hai súng. Đầu tháng 9-1947, đại đội 4 dân quân thường trực Bố Trạch dùng mìn tự tạo đánh tiêu diệt một trung đội địch tại bến đò Ngân Sơn, diệt 20 tên.

Đặc biệt tại Quảng Bình đã xây dựng được làng chiến đấu Cự Nẫm nổi tiếng trên toàn quốc. Làng Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch có một chi bộ đảng viên, một tiêu đội dân quân thường trực được huấn luyện tốt, ngoài ra còn hai trung đội dân quân không thoát ly sản xuất. Nhân dân cùng lực lượng vũ trang rào làng ba lớp bằng tre, gỗ, đào giao thông hào rộng khắp, xây dựng nhiều ụ súng quanh làng. Dân quân lập chòi quan sát, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Ngày 7-5-1947, một trung đội lính Pháp (30 tên) kéo vào Cự Nẫm càn quét, lập hội tề. Dân quân phối hợp với bộ đội chặn đánh địch quyết liệt, giết 10 tên và nhiều tên khác bị thương, âm mưu lập hội tề của địch bị thất bại. Làng chiến đấu Cự Nẫm được Đảng và Nhà nước tặng thường Huân chương chiến công vì “đã huy động lực lượng toàn dân, lập làng Cự Nẫm thành một làng chiến đấu đấu kiểu mẫu và nhờ đó đã đương đầu một cách anh dũng với giặc trong năm đầu của cuộc kháng chiến”. Bộ chỉ huy Khu IV cũng đã phát động phong trào học tập làng chiến đấu kiểu mẫu Cự Nẫm rộng khắp trong toàn khu.

Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Bình còn tổ chức các tổ quân báo ở tỉnh, huyện, các tổ trinh sát ở xã; các tổ quân báo và trinh sát đã kịp thời nắm chắc tình hình địch, phục vụ cho chiến đấu, góp phần bảo đảm an toàn cho các chiến khu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:54:17 pm »

Đi đôi với đánh tiêu hao, tiêu diệt địch, vấn đề trừ gian, phá tề là một nhiệm vụ cấp bách và rất quan trọng. Dân quân, bộ đội phối hợp với các Đội danh dự của công an phá âm mưu lập chính quyền bù nhìn của địch. Nhiều tên Việt gian đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân bị nghiêm trị. Tính đến cuối tháng 11-1947, lực lượng công an, dân quân, bộ đội và các đảng bộ, chính quyền cơ sở Khu IV đã thuyết phục được 800 hội tề không làm việc cho địch và ủng hộ ta dưới nhiều mức độ khác nhau; diệt hơn 60 hội tề, trừng trị 1.500 tên Việt gian phản động. Các địa phương cũng chú ý làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền chính sách khoan hồng của Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sức mạnh chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta.

Từ giữa đến cuối năm 1947, với lực lượng dân quân, du kích và bộ đội làm nòng cốt, cuộc chiến tranh nhân dân ở Bình - Trị - Thiên từng bước được phục hồi, giữ vững. Những vùng căn cứ ở đồng bằng Phong - Quảng - Triệu - Hải - Gio Linh - Bố Trạch được duy trì, phong trào du kích chiến tranh ở các huyện tiến lên dần. một số làng chiến đấu xuất hiện, trong đó làng Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình) là điển hình nhất. Làng kháng chiến kiểu mẫu này là tấm gương sáng cho phong trào xây dựng làng chiến đấu trong toàn khu. Các hình thức đánh du kích khá phong phú, linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả. Hành động dũng cảm “ôm hè”(1) tay không cướp súng giặc để đánh giặc, từ sáng kiến của một số người ở một vài thôn, đã dần dần trở thành phong trào, trong đó có những trận tiêu diệt hoàn toàn cả tốp tuần tiễu của địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Các trận phục kích, tập kích chống địch càn quét, tuần tiễu diễn ra ở nhiều nơi, tiêu biểu là trận chống càn ở Cự Nẫm ngày 7-5-1947. Trận phục kích tài tình ngày 5-7-1947 tại làng Võ Xá (Hương Thủy) đã kết hợp được ba mũi giáp công (tiến công quân sự, vận động ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức nhân mối trong hàng ngũ địch làm nội ứng), trận ngoan cường dũng cảm và mưu trí đánh 100 tên địch càn quét vào vùng chợ Cầu làng Cẩm Phổ (Gio Linh) ngày 2-9-1947, diệt 14 tên Pháp. Nhiều vị trí địch bị bao vây, quấy rối… địch ra khỏi đồn là bị chặn đánh. Một số vị trí nhỏ, lẻ của địch bị quân ta tiến công, gây cho địch nhiều tổn thất như trận Minh Lệ (16-8-1947), trận xóm Xoài (ngày 24-9-1947).

Tính từ đầu cuộc kháng chiến đến hết tháng 11-1947, quân, dân Bình - Trị - Thiên đã đánh hơn 200 trận, diệt hơn 5000 tên địch, thu được nhiều vũ khí địch để trang bị cho ta.

Lực lượng chính trị, quân sự được xây dựng và củng cố. Các chi bộ đảng vùng sau lưng địch được tập hợp lại, củng cố và phát triển. Số đảng viên dũng cảm, ngoan cường bám đất, bám dân để lãnh đạo phong trào ngày càng tăng. Những tư tưởng lệch lạc của cán bộ, đảng viên nêu trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đồng chí Trung Bộ được sửa chữa một bước quan trọng.

Chính quyền kháng chiến từ khu xuống đến cơ sở từng bước được phục hồi và củng cố đáp ứng yêu cầu tập trung chỉ đạo của cuộc kháng chiến. Từ ngày 21 đến ngày 28-7-1947, Hội nghị hành chính toàn khu quyết định thống nhất hai Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến gọi là Ủy ban hành chính kháng chiến. Chủ trương chưa thực hiện xong thì tháng 10-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 91 sáp nhập Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến thành Ủy ban kháng chiến hành chính từ khu đến tỉnh, huyện, xã. Đồng chí Hồ Tùng Mậu được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu IV.

Để chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang đóng trong tỉnh, mỗi tỉnh cử một ban chỉ huy tác chiến chung. Gồm: Chỉ huy trưởng là đồng chí trung đoàn trưởng, chính trị viên là đồng chí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và phó chỉ huy là đồng chí tỉnh đội trưởng.

Sự thống nhất Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp và sự thống nhất chỉ huy tác chiến đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, góp phần đẩy mạnh kháng chiến ở các địa phương trong toàn khu. Bộ đội, dân quân, tự vệ vừa đánh giặc lập công, vừa xây dựng, huấn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật và tích lũy kinh nghiệm đánh địch. Căn cứ ở đồng bằng và miền núi được giữ và và xây dựng thêm. Mặt trận và các đoàn thể chính trị trở lại hoạt động; tập hợp vào tổ chức những người hăng hái kháng chiến; các tổ chức chính trị phản động bị vạch mặt; nhân dân ngày càng tin vào cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công tác vận động đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số có tiến bộ. Nhờ phát động được nhân dân kiên trì phấn đấu chống thiên tai, địch họa, khẩn trương đẩy mạnh sản xuất, đồng thời tổ chức tốt việc vận chuyển, tiếp nhận một phần lương thực, vải vóc, thuốc men đưa từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã đẩy lùi được nạn đói, vượt qua những khó khăn to lớn về hậu cần. Y tế, bình dân học vụ, giáo dục tiểu học, hoạt động văn hóa của nhân dân, các báo chí được phục hồi, góp phần tích cực động viên nhân dân kháng chiến.

Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện của quân dân Bình - Trị Thiên đã buộc địch phải giới hạn phạm vi kiểm soát của chúng chủ yếu là các đô thị, các vùng ven quốc lộ 1, quốc lộ 9, các đường giao thông quan trọng và một số vùng đông dân ở đồng bằng mà vẫn không được yên ổn, vẫn liên tiếp bị quấy rối, tiến công, tiêu hao nhiều sinh lực. Hình thái chiến tranh cài răng lược trên chiến trường Bình - Trị - Thiên ngày càng rõ nét; ở đó, cuộc chiến đấu giành đất, giành dân giữa ta và địch diễn ra ngày càng quyết liệt. Cuộc chiến tranh đã cầm chân địch, góp phần cùng quân dân cả nước làm thắt bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” trong chiến tranh xâm lược ở Đông Dương của chúng.


(1) Là khẩu lệnh cho tổ dân quân tay không bắt sống ba tên địch, thu vũ khí trong trận Thanh Hương (Hương Thủy, Thừa Thiên); sau này trở thành phong trào tay không bắt giặc trong toàn khu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:55:26 pm »

Sau hội nghị Khu ủy tháng 4-1947 và đặc biệt là hội nghị Khu ủy tháng 7 -1947, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ khu đối với cuộc kháng chiến ở Khu IV dần dần rõ nét. Trước đó, một phần do Khu ủy vừa mới thành lập, trong nội bộ Khu ủy lại có những ý kiến khác nhau (chủ yếu là giữa các đồng chí lãnh đạo về quân sự với các đồng chí lãnh đạo công tác đảng) nên phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo của Khu ủy. Vì vậy, lúc này lãnh đạo kháng chiến chủ yếu là do các đảng bộ, chính quyền địa phương và các đồng chí phụ trách các tỉnh chủ động thực hiện. Riêng ở Bình - Trị - Thiên, Khu ủy giao cho Phân khu ủy Bình Trị Thiên do đồng chí Nguyễn Chí Thanh đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, nhờ đó mà phong trào ngày càng được củng cố và phát triển. Hội nghị Khu ủy (cán bộ khu) tháng 7-1947 đánh dấn một mốc quan trọng, khẳng định sự lãnh đạo của Khu ủy, gắn bó Bình - Trị - Thiên với Thanh - Nghệ - Tĩnh; đồng thời xây dựng nề nếp lãnh đạo. Khu ủy chủ trương phải cải tiến lề lối làm việc đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, tập trung đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, tập trung của Khu ủy.

Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy, các tỉnh lần lượt tổ chức các hội nghị, hoặc đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhằm đánh giá gần một năm kháng chiến và đề ra những chủ trương, biện pháp thiết thực để đưa cuộc kháng chiến đi lên.

Tháng 9-1947, tại chiến khu Hòa Mỹ, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Thừa Thiên - Huế họp bàn vấn đề xây dựng cơ sở đảng; kiểm điểm tình hình công tác đảng bộ từ sau hội nghị tháng 3-1947; thảo luận chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và Khu ủy; xác định chương trình hành động và bầu lại Ban chấp hành đảng bộ tỉnh.

Tháng 11-1947, Đảng bộ tỉnh Quảng Trị tổ chức đại hội đại biểu lần thứ hai. Đại hội xác định những biện pháp nhằm đẩy mạnh công cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh; tích cực xây dựng cơ sở đảng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đảng viên, kiên trì kháng chiến lâu dài; củng cố khối đoàn kết toàn dân, coi trọng công tác mặt trận; đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, du kích; tổ chức lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, vận động quần chúng trực tiếp tham gia đánh giặc giữ làng… Đại hội cũng đã bầu Ban Chấp hành mới, đồng chí Đặng Thí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

Ở Quảng bình, ngày 12-8-1947, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tại Thuận Đức quán triệt nghị quyết của Hội nghị cán bộ toàn khu, đánh giá sự lãnh đạo của đảng bộ và chủ trương tích cực phát triển chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở rộng chiến khu Tuyên Hóa, đẩy mạnh công tác dân vận…

Suốt năm 1947, do địch tăng cường đánh phá kết hợp với cướp bóc, tàn sát nên đời sống của nhân dân, cán bộ, lực lượng vũ trang gặp rất nhiều khó khăn. Lương thực, quần áo, chăn màn, thuốc men đều thiếu nghiêm trọng. Trong lúc cái đói, cái rét đe dọa, địch lại tăng cường mở rộng vùng chiếm đóng. Chúng củng cố Ba Đồn, đánh chiếm Hương Phương, Tiên Lạng, Chương Hà, Xuân Phương, Xuân Sơn, Hà Lôi, Troóc… làm bàn đạp đánh ra Hà Tĩnh, cắt đường tiếp tế của ta từ Nghệ - Tĩnh vào Tuyên Hóa qua Ba Lùm, Ba Lợi, U Bò (nam Quảng Bình). Ở Thừa Thiên, cuối năm 1947, bộ đội và nhân dân phải đối diện với cái đói, cái rét ghê gớm. Địch phong tỏa mọi nẻo đường tiếp tế vào các chiến khu Hòa Mỹ, Truồi. Chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) cúng bị địch phong tỏa gây cho ta rất nhiều khó khăn.

Để chi viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên, Khu ủy đã điều động nhiều đơn vị dân công chuyển hàng trăm tấn hàng của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh góp sức cùng Bình - Trị - Thiên kháng chiến. Với tình nghĩa anh em ruột thịt, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh cùng với các đơn vị bộ đội đưa hàng ra tiền tuyến. Mặc dù quân Pháp phong tòa khắp nơi, các đội vận tải thuyền buồm vẫn cặp bến Hương Đạo (Lệ Thủy), Cường Giáp, Thái Lão, Rạch Nước (Vĩnh Linh), Gia Đằng (Triệu Phong), Kê Môn, Đại Lược (bắc cửa Thuận An)… Chỉ tính ba tháng cuối năm 1947, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã chuyển vào Bình - Trị - Thiên được hơn 100 tấn gạo, 320 tấn muối, 21.000m vải, 10.00 viên thuốc sốt rét, 300 súng trường, 35.000 quả lựu đạn, 200 viên đạn bazôca. Thanh Hóa còn ủng hộ 1.500.000 đồng, Hà Tĩnh và Nghệ An ủng hộ 2.700.000 đồng.

Để bảo đảm nguồn hậu cần tại chỗ của chiến tranh nhân dân, các cấp bộ đảng và chính quyền các địa phương động viên nhân dân và bổ đội đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chiến đấu để bảo vệ sản xuất, đẩy mạnh sản xuất để bồi dưỡng sức chiến đấu, kháng chiến lâu dài. Nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quân, dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua nạn đói. Đêm đêm từng đoàn hàng trăm người gánh gạo tiếp tế cho nhân dân.

Trong kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ, ác liệt, quân dân Khu IV vẫn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Khắp nơi duy trì nếp sống văn hóa vui tươi, lành mạnh. Các lớp bình dân học vụ vẫn mở, sách báo vẫn ra đều đặn. Tỉnh nào cũng ra báo kịp thời động viên toàn dân tham gia kháng chiến. Khu IV có báo Cứu quốc, Chiến sĩ, Thanh Hóa có báo: Truyền tin, Chống giặc, Nghệ An có báo: Truyền thanh, Kháng chiến, Hà Tĩnh có báo: Thông tin, Gọi bạn, Quảng Bình có báo: Truyền tin, Thống nhất, Quảng Trị có báo: Tiếng vang, Địch vận, Người lính; Thừa Thiên có báo: Giết giặc, Tiến quân

Năm đầu kháng chiến, khu IV là nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ ở các tỉnh phái Bắc, lại được lãnh đạo khu và các tỉnh quan tâm (đặc biệt là Khu trưởng Nguyễn Sơn) khuyến khích, vì vậy phong trào văn hóa, văn nghệ ở đây sớm phát triển, đặc biệt là từ cuối năm 1947 trở đi, phong trào càng đi vào chiều sâu, có nhiều tác phẩm tốt phục vụ đắc lực toàn dân kháng chiến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2015, 08:59:13 pm »

Qua hơn một năm kháng chiến, cán bộ, đảng viên, quân, dân Bình - Trị - Thiên dưới sự lãnh đạo kiên định và sáng tạo của các cấp ủy đảng đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hy sinh, thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, giằng co quyết liệt với kẻ thù để bảo vệ dân, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Đảng, giữ vững con đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam và giao thông liên lạc Việt - Thái.

Kháng chiến phát triển, các cấp bộ đảng ở Bình - Trị - Thiên ngày càng trưởng thành. Các cấp ủy đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo các cấp nâng cao thêm kiến thức và tích lũy được nhiều kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh. Chỉ đạo đảng dược chỉnh đốn, được xây dựng thêm. Đội ngũ đảng viên được sàng lọc, thử thách và phát triển, nhiều đồng chí đã phát huy được tác dụng lãnh đạo, nòng cốt cho phong trào chiến tranh nhân dân ở cơ sở với nhiều mức độ khác nhau. Ở Thừa Thiên, lúc địch đánh chiếm toàn tỉnh, nhiều chi bộ bị tan rã, số đảng viên chỉ còn không đầy 600 người, đến tháng 10-1947, đã có 94 chi bộ, với 1.133 đảng viên. Ở Quảng Trị từ 700 đảng viên tăng lên 1.670 người. Ở Quảng Bình có 850 đảng viên (1947) đến tháng 5-1948 đã có 1.500 người.

Tuy nhiên, ở Bình - Trị - Thiên, cơ sở đảng ở nhiều nơi mới tập trung, củng cố lại, trình độ nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên còn những vẫn đề chưa được giải quyết tốt, do vậy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phong trào còn chưa thật rõ nét.

Trước sự phát triển của các cấp bộ đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang, đặc biệt là chiến tranh du kích đã bắt đầu giành được những thắng lợi quan trọng, giặc Pháp điên cuồng tổ chức nhiều cuộc càn quét với quy mô ngày càng lớn, và tính chất rất ác liệt, dã man. Từ Thừa Thiên ra Quảng Trị, Quảng Bình, giặc Pháp tiến hành nhiều vụ thảm sát rất tàn bạo như chặt người ra nhiều khúc, bêu đầu ở chợ, chọc tiết, moi gan, xé xác trẻ em ném vào lửa… Vụ thảm sát 300 dân thường ở Mỹ Trạch, Phú Chánh (Lệ Thủy) tháng 11-1947; vụ thảm sát ở chợ Cạn (Triệu Phong, Quảng Trị) chúng giết hại hơn 600 người. Tính từ đầu kháng chiến đến tháng 3-1948, ở Bình - Trị - Thiên có hơn 2.500 cán bộ, đảng viên đã hy sinh anh dũng, 25.000 đồng bào, chiến sĩ bị giết. Riêng ở Thừa Thiên, giặc Pháp đã đốt hơn 5.000 nóc nhà, giết hại hơn 2.000 dân thường… Bình - Trị - Thiên đã trải qua những ngày đau thương chưa từng có.

Hơn một năm kháng chiến đầy khó khăn gian khổ. Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Bình - Trị - Thiên đã anh dũng chiến đấu. Mặc dù lực lượng ta yếu hơn địch về nhiều mặt nhưng cũng đã giành được những thắng lợi quan trọng, góp phần cùng cả nước đánh thắng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch, từng bước khối phục được cơ sở, củng cố và phát triển lực lượng kháng chiến, chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới.

Sau khi đánh chiếm Bình - Trị - Thiên, quân Pháp âm mưu chiếm đóng cả vùng phía đông và phía tây khu IV. Ở phía tây, chúng cho quân từ Lào sang đánh chiếm một số xã thuộc huyện Thường Xuân (Thanh Hóa), Tương Dương, Quý Châu (Nghệ An), tập kích vào một số nơi ở Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hóa (vùng tự do của Quảng Bình giáp Hà Tĩnh). Chúng cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động ở miền tây Thanh Hóa như Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín ở Lang Chánh, bọn phản động trong đảng “Bào ca” ở miền tây Nghệ An, âm mưu lập “Xứ Mường tự trị”, “Xứ Thái tự trị”(1). Ở phía động, bọn Pháp từ ngoài biển tập kích vào một số xã ven biển thuộc Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Kỳ Anh (Hà Tĩnh) và cho phi cơ thám thính bắn phá một số nơi để phá hoại, thăm dò. Ở nội địa, giặc Pháp cấu kết với bọn phản động, nhất là bọn phản động đầu sỏ đội lốt tôn giáo trong các giáo phận Thiên cháu giáo như Xã Đoài (Nghi Lộc, Nghệ An) để chống đối chính quyền cách mạng, ngăn cản không cho giáo dân tham gia kháng chiến, xây dựng lực lượng ngầm, mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự, đợi thời cơ nổi dậy đánh phá ta.

Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Khu ủy, các cấp ủy đảng ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bộ chỉ huy quân sự và bộ máy kháng chiến các cấp đã chuyển hẳn trọng tâm công tác sang lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và động viên toàn dân đứng dậy sẵn sàng đánh giặc, kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng tự do. Tổ chức cơ sở đảng, các cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, chính quyền kháng chiến các cấp không ngừng được củng cố, kiện toàn. Các đoàn thể chính trị và mặt trận được mở rộng, thu hút thêm nhiều hội viên; khối đoàn kết toàn dân trên địa bàn thêm vững chắc. Lực lượng dân quân, tự vệ và bộ đội phát triển, hăng hái luyện tập, sẵn sàng chiến đấu. Quân, dân không ngừng đề cao cảnh giác và ý chí chiến đấu, đẩy mạnh công tác bố phòng ở khắp nơi, nhất là gấp rút lập các chướng ngại vật, xây dựng công sự tác chiến ở các đô thị, ở những vùng ven biển và các vùng xung yếu khác dự kiến địch có thể đánh tới. Để chống quân nhảy dù, nhân dân còn cắm chông tre vót nhọn ở các bãi biển, các sân vận động và sân bay Yên Đại (Nghệ An). Các Trung đoàn 57 (Nghệ An), Trung đoàn 103 (Hà Tĩnh), Trung đoàn 77 (Thanh Hóa) được bố trí ở các vùng quan trọng ven biển như Kỳ Anh, cầu Cấm, Cửa Hội, Sầm Sơn, Tĩnh Gia… để chống quân đổ bộ.


(1) Lê Xuân Kỳ, nguyên là thổ ty Lang Chánh, tri châu cũ của Pháp. Lợi dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban hành chính thượng du đã cùng con trai là Lê Xuân Tín, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện Lang Chánh âm mưu làm phản. Một mặt chúng ra sức lừa phỉnh nhân dân; mặt khác chúng bí mật tuyển mộ ngụy binh, mua sắm vũ khí, tích trữ gạo, muối, rào làng chiến đấu, lập “chiến khu” Lê Lai thuộc xã Tân Phúc (huyện Lang Chánh). Con đường đi Yên Khương lên biên giới Việt - Lào bị chúng phong tỏa, bộ đội ta không vào được.
Đầu năm 1948, bộ đội ta bắt được tên liên lạc của Kỳ - Tín mang thư của tên quan ba Pháp Vanuyxem đóng tại Sầm Nưa (Lào), gửi cho Tín. Thư viết: “nếu ông giúp quân đội đánh bại Việt Minh cộng sản thì tôi sẽ đề nghị Thống sứ Đông Dương thành lập một vùng tự trị của người Mường hoặc một xứ Mường từ thượng du Thanh Hóa đến thượng du Nghệ An…” (Hồi ký của đồng chí Lê Hữu Khai, người trực tiếp chỉ huy bắt cha con Kỷ - Tín tháng 6-1948).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2015, 08:36:44 pm »

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phá hoại để kháng chiến, thành phố Vinh, thị xã Thanh Hóa, thị xã Hà Tĩnh và các công sở, nhà cửa kiên cố ở các thị trấn được phá hoại triệt để. Trên 11.000 ngôi nhà trong đó có 301 nhà tầng ở thành phố Vinh, 10.000m2 nhà ở thị xã Hà Tĩnh, 1.000 ngôi nhà và 30 công sở ở thị xã Thanh Hóa đã bị phá sập. Máy móc, cơ sở, kho tàng, cơ quan ở các đô thị được tích cực di chuyển về phía sau; nhân dân tản cư khỏi các thành phố, thị xã. Các cầu lớn và cầu dài 50 mét trở lên trên quốc lộ 1, 7, 8 bị phá sập. Đường sắt bị bóc hết đường ray, 77 đầu máy xe lửa, 750 toa xe bị phá. Quốc lộ 1 chi chít hầm chữ chi và bị cắt ra nhiều đoạn. Các trục đường giao thông quan trọng bị phá hoại nhằm không cho giặc Pháp tiến quân dễ dàng nếu chúng đánh vào.

Với tình cảm sâu nặng “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, nhân dân vùng nông thôn đã đón tiếp chu đáo, san sẻ chỗ ở, tạo thuận lợi làm ăn cho 112.000 đồng bào Bình - Trị - Thiên, Khu III tản cư đến Thanh - Nghệ - Tĩnh và hàng vạn đồng bào đô thị trong ba tỉnh chuyển cư về phía sau. Nhiều trại tăng gia sản xuất ở vùng trung du và đồng bằng được chính quyền các tỉnh thành lập để đón tiếp đồng bào tản cư tới làm ăn sinh sống (trại Thanh Sơn, Lê Mao ở Nghệ An, trại Đá Bạc, Tây Hồ ở Hà Tĩnh).

Để tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân và huy động được lực lượng to lớn của nhân dân đánh giặc, giữ nước, tổ chức mặt trận và các đoàn thể quần chúng không ngừng được củng cố và mở rộng; những tổ chức mới thích hợp được thành lập như: Hội phụ lão kháng chiến; Hội mẹ chiến sĩ; Hội văn hóa, văn nghệ kháng chiến, các đoàn văn nghệ kháng chiến (tập hợp rộng rãi các văn nghệ sĩ, trí thức tại chỗ và từ Hà Nội, Huế và các nơi về hoạt động trên địa bàn Thanh - Nghệ - Tĩnh). Hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội và nghề nghiệp rất sôi nổi và đều hướng vào mục đích giáo dục, động viên và tổ chức các tầng lớp nhân dân hăng hái thực hiện các công tác kháng chiến, kiến quốc thiết thực, cấp bách trước mắt.

Đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh định về thăm và xem xét tình hình mọi mặt của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, đồng thời làm việc trực tiếp với cán bộ các cấp của Khu IV, của các tỉnh, gặp gỡ các nhân sĩ, trí thức và nhân dân các dân tộc nơi đây để tìm hiểu và suy nghĩ về những vấn đề lớn của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nhưng vì công việc khẩn cấp của cuộc kháng chiến, Người chỉ về thăm và làm việc tại Thanh Hóa.

Nói chuyện với cán bộ, đại biểu nhân dân và thân sĩ, phú hào, trí thức ở Thanh Hóa ngày 20-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ vị trí, vai trò của tỉnh với ý thức coi đây đã và sẽ là một vùng căn cứ địa kháng chiến, hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến, Người giao nhiệm vụ cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hóa phải ra sức xây dựng địa phương thành một vùng hậu phương với một chế độ xã hội mới, ưu việt, kiểu mẫu về mọi mặt. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu tức là “Làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu(1). Xây dựng Thanh Hóa kiểu mẫu đồng nghĩa với xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trên tất cả các lĩnh vực, tạo ra tiềm lực hùng hậu của căn cứ địa, hậu phương kháng chiến. Người còn căn dặn phải làm tốt chính sách hậu phương, tiếp đón và giúp đỡ cán bộ và đồng bào tản cư từ các nơi khác đến… Người còn khẳng định:

- Về cán bộ: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”(2).

- Về xây dựng Thanh Hóa kiểu mẫu:
“Làm cho người nghèo thì đủ ăn,
Người đủ ăn thì khá giàu,
Người giàu thì giàu thêm.
Người nào cũng biết chữ,
Người nào cũng biết đoàn kết yêu nước”(3).

Cũng trong thời gian này, Hồ Chủ tịch gửi thư thăm hỏi đồng bào thiểu số Thanh Hóa. Người viết: “Lúc này toàn thể quốc dân đang ra sức chống giặc, cứu nước. Tôi chắc đồng bào Thượng du đều ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước để giữ vững quyền thống nhất độc lập của Tổ quốc. Việc dìu dắt đồng bào Thượng du, tôi trông cậy lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị lang đạo”(4).

Vì điều kiện khẩn cấp của những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh không về thăm và làm việc với cán bộ và nhân dân các địa phương khác ở Khu IV, đầu tháng 3-1947, Người viết thư gửi các đồng chí Trung Bộ. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của tư tưởng cô độc, hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, bản vị, cục bộ, bè phái, ích kỷ, kiêu ngạo có hại cho việc tăng cường đoàn kết toàn dân, đoàn kết nội bộ.

Công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi và trung du Thanh, Nghệ và công tác vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa được chú trọng hơn, nhất là từ sau Hội nghị cán bộ toàn khu tháng 7-1947.


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr. 62-63, 65.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.64.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2015, 08:37:58 pm »

Nghiêm chỉnh thực hiện thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thượng du Thanh Hóa tháng 2-1947 và Sắc lệnh ngày 4-4-1947 của Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đã thành lập Ủy ban hành chính thượng du Thanh Hóa, đồng thời thành lập Ban cán sự đảng miền Tây; phái nhiều cán bộ miền xuôi có năng lực lên giúp đỡ ủy ban, cơ quan chỉ huy dân quân miền và các cơ quan lãnh đạo các huyện, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các mặt công tác trước mắt, tuyên truyền vận động giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở. Tiếp theo, đưa một bộ phận lực lượng vũ trang của tỉnh lên tăng cường cho miền tây đánh địch bảo vệ địa bàn. Các đồn Hồi Xuân, La Hán của địch ta ta tiêu diệt (mặc dầu sau đó địch chiếm đóng lại và mở rộng chiếm đóng ra một vài nơi khác, quân ta phải giành đi giật lại một số lần). Một ít tên lang đạo, phìa tạo phản động đã lộ rõ bộ mặt làm tay sai cho giặc, phản bội Tổ quốc bị bắt và trừng trị.

Ở Nghệ An, Tỉnh ủy cũng đưa nhiều cán bộ miền xuôi lên các huyện miền tây giúp đỡ các cơ quan lãnh đạo các huyện làm công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng kháng chiến, tiến hành đánh địch, bảo vệ biên cương. Một bộ phận lực lượng vũ trang của tỉnh được đưa lên hoạt động ở miền núi. Quân giặc từ Lào đột nhập sang chiếm đóng một số nơi bị đánh bật trở lại bên kia biên giới. Một ít tên Thổ ty, lang đạo phản động làm tay sai cho giặc, khống chế nhân dân, phá hoại kháng chiến ở Quỳ Châu, Tương Dương bị trừng trị.

Ở Hà Tĩnh, lực lượng bộ đội tỉnh kết hợp với dân quân các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc cũng đánh bọn địch tập kích vào vùng Vụ Quang, buộc chúng trở lại đất Lào và chặn địch ở Na Pê giữ vững vùng biên cương của Tổ quốc. Các tầng lớp nhân dân các dân tộc ngày càng giác ngộ. Các lang đạo tiến bộ ngày càng tích cực tham gia kháng chiến. Âm mưu lập “Xứ Mường tự trị”, “Xứ Thái tự trị” của địch giữa năm 1948 bị đập tan. Khối đoàn kết các dân tộc ở miền tây Thanh - Nghệ ngày càng được củng cố, mớ rộng.

Trên phạm vi toàn vùng tự do, công tác vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa ngày càng có kết quả tốt. Đồng bào quần chúng giáo dân và các các chức sắc tiến bộ đứng về phía kháng chiến. Các tổ chức quần chúng thích hợp nhằm tập hợp giáo dân phát triển. Những âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của bọn phản động đầu sỏ và tay chân nhằm chia rẽ giáo dân với Đảng và Chính phủ, chia rẽ giáo lương, khống chế không cho giáo dân tham gia kháng chiến… bị vạch trần. Các vụ nổi loạn giết cán bộ, phá rối trật tự trị an, chống lại chính quyền của bọn phản động ở Mậu Thôn (Nông Cống, Thanh Hóa), tháng 6-1947 và giết bộ đội, bắt cóc cán bộ, thành lập đội tự vệ công giáo chống cộng ở Liên Sơn, Điền Hộ (Nga Sơn, Thanh Hóa) tháng 9-1947 bị nghiêm trị. Hành động của giặc Pháp khủng bố giáo dân ở xứ đạo Cồn Tiên (Nga Sơn, Thanh Hóa) ngày 3-4-1948, giết hơn 10 thanh niên, hãm hiếp nhiều bà xơ, bắt nhiều người, cướp của, làm cho giáo dân căm giận, nguyền rủa bọn phản động đột lốt tôn giáo. Đồng bào giáo dân ngày càng giác ngộ về chính trị, về lợi ích bản thân dưới chế độ mới, ngày càng thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn của giặc và bè lũ tay sai. Thành kiến lương - giáo được giải tỏa, khối đoàn kết lương - giáo để kháng chiến, kiến quốc được củng cố và tăng cường.

Để thống nhất sự chỉ đạo, tổ chức, điều hành về mặt nhà nước công cuộc kháng chiến, kiến quốc và nâng cao hiệu lực của bộ máy chính quyền, sau khi Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến các cấp được hợp nhất thành Ủy ban kháng chiến hành chính, việc xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền được đặc biệt quan tâm. Ngoài việc tăng cường cho chính quyền nhiều cán bộ có năng lực, những quy chế và lề lối làm việc được xây dựng, Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp bao gồm những cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng thực sự đáng tin cậy, có năng lực về các mặt, có uy tín với nhân dân.

Xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp trong kháng chiến được Khu ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính khu và các cấp bộ đảng, chính quyền đặt thành nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Khắp nơi dấy lên phong trào sôi nổi tăng gia sản xuất nông nghiệp, trước hết là tăng gia sản xuất lương thực. Giai cấp nông dân có sự chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ của chính quyền cách mạng và nông hội đã hăng hái lao động sản xuất, thực hiện các chính sách giảm tô, thực hành tiết kiệm để tự giải quyết vấn đề ăn, cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội và đóng góp cho kháng chiến. Các đơn vị bộ đội, dân quân, tự vệ cũng thành lập các trại sản xuất để tự giải quyết lấy một phần lương thực, thực phẩm. Các cơ sở công kỹ nghệ chuyển khỏi thành phố, tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn và các xưởng mới sản xuất hàng tiêu dùng được khuyến khích phục hồi và phát triển. Các xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí thuộc ngành quân giới phát triển mạnh. Tại Hương Khê (hà Tĩnh), Ủy ban kháng chiến hành chính Trung Bộ thành lập hai cơ sở sản xuất vũ khí; lập xưởng quân giới Khu IV ở Đô Lương (Nghệ An). Khu còn có xưởng Phủ Quỳ với hơn 100 công nhân, xưởng Lê Đình Du, xưởng Lê Viết Thuật, xưởng Hoàng Hữu Nam. Ở các địa phương, tỉnh nào cũng có xưởng quân giới, Thanh Hóa có lò cao Như Xuân. Để tập trung thống nhất chỉ đạo, tháng 12-1947, Bộ chỉ huy Khu IV quyết định sáp nhập và phân loại các xưởng quân giới, trong đó có năm xưởng lớn là xưởng Phủ Quỳ, Lê Đình Du, Hoàng Hữu Nam, Quách Văn Cừ và Huỳnh Thúc Kháng. Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn đã có những nỗ lực phi thường vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ để vận chuyển hàng vạn tấn máy móc từ Huế, Vinh và các đô thị khác tới các nơi an toàn ở Thanh - Nghệ - Tĩnh; dựng lại cơ xưởng, duy trì và phát triển sản xuất công nghiệp. Nhiều cán bộ khoa học, kỹ thuật tự nguyện lên rừng núi và về nông thôn, sống cùng công nhân, nông dân, nghiên cứu sáng chế ra những máy móc, nguyên liệu, sản phẩm mới cần thiết cho việc đánh giặc, cho cuộc sống nhân dân và hướng dẫn cải tiến kỹ thuật sản xuất nông, công nghiệp. Nhờ vậy, đến đầu năm 1948, Thanh Hóa đã tự giải quyết được vấn đề lương thực và có thừa lương thực chi viện cho các nơi khác. Toàn vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh đã sản xuất dược nhiều muối, cá, nước mắm, có thừa cung cấp cho ngoài tỉnh. Đã sản xuất được một số mặt hàng thiết yếu như vải, giấy và một số nguyên liệu cần thiết cho sản xuất công nghiệp. Đã sản xuất được một khối lượng đáng kể các loại vũ khí thô sơ, súng kịp, mìn, lựu đạn, bức kích pháo, bazoka, DKZ cung cấp cho các lực lượng vũ trang ở cả hai vùng.

Về văn hóa, giáo dục, y tế: Các trại giáo dục liên khu, trại hè tỉnh, hội nghị văn hóa… được tổ chức và hoạt động sôi nổi. Phong trào bình dân học vụ, giáo dục tiểu học, trung học phát triển nhanh. Cuộc vận động đời sống mới mở rộng. Các hoạt động của giới trí thức, văn nghệ sĩ và sự phát triển rộng rãi của phong trào văn nghệ quần chúng làm cho cuộc sống tinh thần của nhân dân thêm phong phú.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2015, 08:38:53 pm »

Sau khi mở rộng chiến tranh ra ngoài các thành phố, thường xuyên như: Hà Đông, Phủ Lý, Nam Định… cùng với việc chuẩn bị tiến công lên Việt Bắc, thực dân Pháp âm mưu tổ chức một lực lượng lớn đánh vào bắc Khu IV (Thanh - Nghệ - Tĩnh). Để chuẩn bị lực lượng về mọi mặt đối phó với âm mưu của địch, các cơ quan lãnh đạo khu chuyển từ Nghệ An ra Thanh Hóa. Sau khi ra vùng Nông Cống (Thanh Hóa), khu chủ trương đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công. Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, khu lấy việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm trung tâm. Để thành công lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp đầu tiên, thời gian sáu tháng, gồm 50 cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội chủ lực, cán bộ chỉ huy quân sự địa phương cấp tỉnh và trưởng, phó phòng cơ quan khu. Các đồng chí khu trưởng, chính trị ủy viên khu trực tiếp phụ trách các nội dung về quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, về chiến thắng du kích, du kích vận động chiến, chỉ huy tác chiến đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Sau đó là các lớp bổ túc cán bộ đại đội, lớp bồi dưỡng ngắn ngày các ủy viên thường vụ tỉnh ủy, thường trực ủy ban… liên tục được thành công, riêng khóa 7 đã có 120 người theo học.

Khu chủ trương xây dựng Trung đoàn 9 thành trung đoàn chủ lực mạnh của khu.

Ngày 30-11-1947, khu mở Đại hội tập lần thứ nhất ở núi Nưa (Nông Cống). Những đợt thi đua rèn luyện giữa cán bộ, chiến sĩ các đơn vị diễn ra trên tất cả các mặt: kỹ thuật, chiến thuật, công tác nuôi quân, quản lý bộ đội, công tác chính trị, văn hóa, văn nghệ liên tục diễn ra sôi nổi. Nhiều đơn vị lập được thành tích xuất sắc; cán bộ chỉ huy từ trung đoàn đến đại đội, trung đội, trưởng thành rõ rệt; trình độ kỹ, chiến thuật của chiến sĩ các đơn vị trong toàn khu được nâng lên một bước.

Sau Đại hội tập, Bộ chỉ huy khu phân công cán bộ trung cấp đi nhận nhiệm vụ ở các trung đoàn, các tỉnh, ưu tiên các đơn vị phía trước. Đây cũng là những cán bộ nòng cốt của các đơn vị trong năm 1948.

Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, việc xây dựng lực lượng vũ trang đã được các cấp quan tâm; từ sau ngày toàn quốc kháng chiến càng được các cấp chú trọng hơn nữa. Các xã đều có tổ chức dân quân, tự vệ và trung đội du kích; nhiều thôn, xã có đội lão dân quân, nữ dân quân riêng. Dân quân, du kích được huấn luyện về kỹ thuật sử dụng vũ khí sẵn có, về kỹ thuật và chiến thuật chiến đấu cá nhân, về công tác bảo mật phòng gian, về vai trò xung kích trong sản xuất và vai trò nòng cốt trong chiến tranh nhân dân. Lực lượng dân quân, du kích tập trung ở cấp tỉnh, huyện phát triển, ở Thanh Hóa lên đến chín đại đội, Nghệ An bốn đại đội, Hà Tĩnh hai đại đội và một số trung đội.

Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy và sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự khu, cùng với việc đẩy mạnh phong trào luyện quân, lập công, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, công việc chuẩn bị đánh địch đổ bộ vào Thanh - Nghệ - Tĩnh trong đông - xuân 1947-1947 và xuân - hè 1948 được xúc tiến ráo riết và khẩn trương. Phong trào thi đua xây dựng làng chiến đấu theo kiểu Cự Nẫm phát triển rộng rãi, nhất là ở những vùng dự kiến địch có thể đánh vào. Công tác bố phòng, phòng gian, bảo mật được tăng cường. Các lực lượng vũ trang tập trung được bố trí đứng chân ở những địa bàn dự kiến địch có thể đánh tới. Một bộ phận lực lượng bộ đội chủ lực ở vùng tự do được điều vào Quảng Bình cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh du kích chiến tranh để kiềm chế địch trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, không cho chúng đánh ra Thanh - Nghệ - Tĩnh. Khu ủy, Bộ chỉ huy quân sự khu và bộ máy kháng chiến cấp khu dời từ Nghệ An ra Thanh Hóa - nơi dự kiến có nhiều khả năng địch đánh vào nhất - để trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo Đảng bộ, chính quyền, cơ quan chỉ huy quân sự và mọi lực lượng trên địa bàn Thanh Hóa chuẩn bị một cách chu đáo nhất cho việc đánh giặc và thắng giặc. Một mặt, do đảng bộ và quân, dân ở Thanh - Nghệ - Tĩnh chuẩn bị ráo riết, mặt khác, do địch phải tập trung bình định vùng bị chiếm trước hoạt động mạnh của quân dân ta trên các chiến trường trong đông - xuân 1947-1948 và xuân - hè 1948, địch không có đủ sức và không dám đánh rộng ra vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Công tác xây dựng đảng bộ được chú trọng thường xuyên. Ngoài đợt sinh hoạt chính trị tiếp thu và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Người gửi các đồng chí Trung Bộ ngày 1-3-1947, Khu ủy và các cấp bộ đảng đã tổ chức nhiều đợt nghiên cứu, học tập và một số lớp huấn luyện cho cán bộ, đảng viên nhằm quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, xây dựng chế độ dân chủ, xây dựng đảng tiền phong của giai cấp công nhân và các chủ trương, chính sách lớn của Trung ương, Đảng, Chính phủ. Sinh hoạt đảng ở các cấp được giữ vững; nội dung sinh hoạt chủ yếu tập trung bàn việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách và giải quyết những vấn đề cụ thể do thực tế kháng chiến đặt ra cho từng cấp, từng cơ sở. Việc củng cố và phát triển cơ sở Đảng, kết nạp đảng viên mới được coi trọng cả trong và ngoài quân đội, nhất là từ sau khi thực hiện chủ trương “xây dựng Đảng thành một đảng quần chúng”. Trong quân đội, số đảng viên từ 104 trước kháng chiến đã lên tới 1.300 vào tháng 10-1947 và trên 2.300 vào tháng 5-1948. Ở các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, tháng 10-1947 có 11.425 đảng viên (Thanh Hóa 2.000, Nghệ An 4.576, Hà Tĩnh 4.506) đến tháng 5-1948, đã lên tới trên 15.500 đảng viên (Thanh Hóa trên 4.000, Nghệ An gần 6.000, Hà Tĩnh trên 5.500). Việc xây dựng chi bộ tự động công tác có nhiều kết quả tốt. Đến tháng 5-1948, đã có 1/3 số chi bộ bảo đảm bốn nội dung đề ra cho hai loại chi bộ này. Các đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, huyện được duy trì đúng quy định để kiểm điểm, đánh giá tình hình các mặt, bàn nhiệm vụ chủ trương công tác trong năm và kịp thời kiện toàn cấp ủy, bổ sung những cán bộ mới thay thế cho số được điều động đi nhận công tác ở cấp trên, trong quân đội, ở nơi khác và để tăng thêm số lượng ủy viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các huyện ủy, tỉnh ủy(1).

Hệ thống tổ chức của đảng trong lực lượng vũ trang được kiện toàn từ Đảng ủy, Bộ tư lệnh khu xuống đến các đơn vị cơ sở. Trong bộ đội chủ lực, tính đến cuối 1947 đã có 129 chi bộ với hơn 1.300 đảng viên.

Trong năm đầu của cuộc kháng chiến, đảng bộ các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh phát triển khá nhanh, hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo và chỉ đạo phong trào kháng chiến toàn dân. Tuy vậy, vẫn còn nhiều mặt yếu: tổ chức cơ sở Đảng ở vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa và ở miền núi rất ít (trong vùng đồng bào tôn giáo, nơi có nhiều đảng viên nhất là Nghệ An cũng chỉ mới có 80 đồng chí); nhiều chi bộ đảng vẫn chưa chủ động được công tác; trình độ lý luận, kiến thức chỉ đạo chiến tranh, kinh tế, văn hóa và nhiều mặt khác của cán bộ, đảng viên, kể cả số lớn cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo tỉnh, huyện, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo toàn diện công tác kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ trên địa bàn. Những khuyết điểm đó đã hạn chế sự phát triển và lớn mạnh của phong trào.


(1) Ở Thanh Hóa, đầu 1947, đồng chí Tố Hữu được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy, năm 1948, Liên khu ủy cử đồng chí Hồ Việt Thắng, Khu ủy viên, về trực tiếp làm Bí thư; Ở Nghệ An, đồng chí Ngô Xuân Hàm được cử làm Bí thư; Ở Hà Tĩnh đồng chí Kiều Hữu Thao được cử làm Bí thư v.v.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2015, 08:39:26 pm »

*
*   *

Khu IV là một địa bàn có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng, thực dân Pháp tìm mọi cách chiếm bằng được, trước hết là tuyến đường số 1 và số 9, lập phòng tuyến Đà Nẵng - Đông Hà - Savanakhẹt, cắt ngang bán đảo Đông Dương, sau đó đánh rộng ra các tỉnh bắc Khu IV nối liền Nam - Bắc Việt Nam với Trung Lào. Để đạt được mục tiêu ấy, quân Pháp sử dụng mọi khả năng về người và phương tiện chiến tranh; đồng thời chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc và xảo quyệt, chúng không từ một hành động dã nam, tàn bạo nào của thời trung cổ nhằm khuất phục và dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân ta. Nhưng với truyền thống cách mạng kiên cường, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập vừa mới giành được, nhân dân các dân tộc Khu IV dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng đã đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Mặc dù phải chịu hy sinh, tổn thất rất lớn nhưng quân, dân Khu IV đã đứng vững, đánh thắng chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh và chia cắt chiến lược của địch. Khu IV vẫn nối liền chiến trường phía Bắc với chiến trường phía Nam, chiến trường Bắc Trung Bộ với chiến trường Trung Lào, khai thông đường liên lạc Việt - Thái. Từng bước củng cố và xây dựng lực lượng về mọi mặt để tiếp tục kháng chiến.

Những ngày đầu kháng chiến ở Khu IV đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa một bên là đội quân viễn chinh thiện chiến với đầy đủ các loại vũ khí hiện đại, với một bên là những chiến sĩ vừa bỏ tay cày, tay bút với giáo mác, gậy tre làm vũ khí nhất tề xông lên đánh giặc.

Chiến đấu trên một địa bàn có nhiều khó khăn, địa thế dài và hẹp, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ, lại xa sự chỉ đạo của Trung ương, các lực lượng vũ trang Khu IV đã nêu cao tinh thần anh dũng, sáng tạo, chiến đấu liên tục, giành được những thắng lợi quan trọng cùng nhân dân bắt bọn địch ở Vinh, 50 ngày đêm bao vây quân địch ở Huế, chặn bước tiến của địch trên đường số 9, bảo vệ vững chắc biên giới phía tây của Khu IV, thực hiện phối hợp chiến đấu với các lực lượng cách mạng Trung Lào, xứng đáng là nòng cốt xung kích của toàn dân đánh giặc.

Sự lãnh đạo của Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu là nhân tố đặc biệt quan trọng. Những ngày đầu kháng chiến, sự lãnh đạo và chỉ đạo của khu có lúng túng, khuyết điểm (chủ yếu là nhờ sự chủ động sáng tạo của các cấp ủy và chính quyền ở các tỉnh đã lãnh đạo và chỉ đạo phong trào kháng chiến của địa phương mình). Nhưng cùng với cuộc kháng chiến, Khu ủy, Bộ chỉ huy khu và phân khu cùng với các địa phương đã từng bước trưởng thành, ngày càng vững mạnh hơn. Các cấp bộ đảng đã quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương mình. Đặc biệt, các cấp bộ đảng ba tỉnh phía trước (Bình - Trị - Thiên) đã vượt qua khó khăn, gian khổ, nêu cao ý chí, quyết tâm, trách nhiệm nặng nề trước vận mệnh của Tổ quốc, tính mạng và đời sống của nhân dân, bám đất, bám dân, lãnh đạo và chỉ đạo phong trào kháng chiến từng bước đi lên.

Sau hơn một năm xây dựng lực lượng và một năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, Bình - Trị - Thiên vẫn đứng vững trên địa bàn cùng với Liên khu và cả nước kháng chiến lâu dài chống giặc, đã tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch; là nơi thu hút và giam chân một lực lượng ngày càng lớn của địch, góp phần làm thất bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của địch. Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn giữ vững là vùng tự do rộng lớn, đang ra sức xây dựng thành hậu cứ đáng tin cậy phía Bắc Đông Dương, làm chỗ đứng chân cho nhiều cơ quan, đơn vị của Trung ương và Liên khu III, là nơi lánh nạn của hơn mười vạn đồng bào tản cư.

Thắng lợi và cả những thất bại, sai lầm trong thời kỳ này là những bài học xương máu cho đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Khu IV bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM