Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Hai, 2020, 11:01:07 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 42474 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #150 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2016, 07:58:54 PM »

Tin tưởng vào khả năng và tinh thần yêu nước, cách mạng của quân và dân Liên khu IV, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Văn Tiến Dũng vào Khu IV để bàn với liên khu việc tiếp tục huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến đấu. Dưới sự động viên của Đảng, nhân dân Liên khu IV đã vượt qua những khó khăn to lớn, làm tròn nhiệm vụ nặng nề. Hội đồng cung cấp đã đề ra kế hoạch phải huy động lượng lương thực còn dự trữ phân tán trong các hộ gia đình trong lúc lượng dự trữ của nông dân đã cạn. Lương thực, thực phẩm và những hàng hóa thiết yếu từ khắp nơi trong tỉnh tập trung về kho Cẩm Thủy và kho Lược (huyện Thọ Xuân) để chuyển ra mặt trận. Liên khu còn huy động thanh niên xung phong xây dựng hệ thống trạm tiền tuyến vận tải tiền phương, sửa chữa cầu đường cho bộ đội và dân công ra tuyến trước. Trong đợt huy động lần thứ nhất, Thanh Hóa đã vượt chỉ tiêu kế hoạch 150%. Do sự gắng sức của nhân dân Thanh Hóa và nhân dân bắc Nghệ An, hơn 8.000 tấn lương thực, 2.000 tấn thực phẩm khô đã tập kết ở Vạn Mai, Mộc Châu, Yên Châu để sẵn sàng phục vụ bộ đội chiến đấu.

Khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, anh chị em dân công Thanh Hóa xung phong tình nguyện ở lại phục vụ bộ đội chiến đấu. Trong đợt vận chuyển lần thứ hai, do được hậu phương quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần, được đảng bộ và nhân dân gửi 28.000 thư động viên, đoàn dân công Thanh Hóa đã hoàn thành kế hoạch trước thời gian quy định ba ngày.

Cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ càng tiến đến thần thắng lợi càng quyết liệt đòi hỏi về cung cấp ngày càng nhiều. Với quyết tâm “Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng” Trung ương Đảng yêu cầu các địa phương phát huy cao hơn nữa khả năng cung cấp, phục vụ. Ngày 15-4-1954, đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt Tổng quân ủy trung ương và Sở Chỉ huy tiền phương của liên khu ở Cẩm Thủy (Thanh Hóa) giao nhiệm vụ cho Thanh Hóa trong vòng 20 ngày phải huy động thêm 2.000 tấn gạo, 147 tấn thực phẩm và muối để phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Tối ngày 16-4-1954, đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Liên khu ủy đã ra Thanh Hóa họp với cán bộ và giúp đỡ Tỉnh ủy Thanh Hóa thực hiện nhiệm vụ mới của Trung ương giao cho. Ngày 25-4-1954, Thường vụ Liên khu ủy IV đã họp quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về việc phối hợp tác chiến với chiến trường Điện Biên và chỉ rõ Thanh Hóa tập trung phục vụ tiền tuyến hoàn thành nhiệm vụ Trung ương giao về thóc gạo. Để giúp Thanh Hóa thực hiện trọng trách mới, Liên khu ủy IV đã cử cán bộ đi kiểm tra, đôn đốc việc bồi dưỡng dân công hỏa tuyến, giải quyết việc thiếu thuốc men, thiếu y tá, y sĩ chữa bệnh cho dân công, tăng thêm các bệnh xá, trạm thuốc. Liên khu cũng cử một cán bộ trong Ban cán sự kho thóc khu và một số cán bộ ra giúp kho thóc Thanh Hóa tăng cường cho các trạm dọc tuyến cung cấp. Đồng thời, liên khu cũng điều một số xe ôtô phục vụ ở mặt trận Trung Lào ra hoạt động ở Thanh Hóa.

Để đủ số lương thực, thực phẩm Trung ương giao cho, nhân dân Thanh Hóa đã phải ăn ngô non, khoai non, dành gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Những tấn lương thực, thực phẩm cuối cùng lại được dân công vận chuyển qua hai chặng: Thanh Hóa - Suối Rút; Suốt Rút - Điện Biên Phủ dài 600 km đến tiền tuyến cung cấp cho chiến sĩ. Trong đợt vận chuyển thứ ba, số lượng dân công Thanh Hóa chiếm tới 80% tổng số dân công trên toàn tuyến cung cấp. Hòa trong dòng thác người, lương thực, thực phẩm đổ về Điện Biên Phủ có 25.000 nữ dân công Thanh Hóa. Trong toàn chiến dịch, Thanh Hóa đã huy động 30% số người ở tuổi lao động, 3.530 xe đạp thồ, 1.126 thuyền, 31 ôtô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba voi vận chuyển lương thực và súng đạn để bộ đội ăn no, đánh thắng. Thanh Hóa đã cung cấp cho chiến dịch hơn 11.000 tấn lương thực, thực phẩm (toàn hậu phương là 26.000 tấn)(1). Sự đóng góp to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ làm cho nguồn lương thực ở Thanh Hóa bị cạn kiệt. Sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, Trung ương đã có những biện pháp cứu đói và nhanh chóng phục hồi sản xuất ở Thanh Hóa. Trong quá trình phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, nhiều dân công Thanh Hóa đã nổi lên thành những kiện tướng vận chuyển như Ma Văn Kháng đã thồ 352 kg một chuyến xe, Cao Văn Tỵ thồi 320 kg một chuyến xe. Những đóng góp của họ đã hòa với chiến công chung của toàn bộ lực lượng dân công, góp phần làm cho tỉnh Thanh rạng danh trong kháng chiến. Đánh giá về công lao của Thanh Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”(2). Chiến công của nhân dân Thanh Hóa cũng là thành tích của Liên khu ủy IV, hòa cùng với chiến công của quân và dân liên khu.

Ngoài nhiệm vụ phục vụ hai đòn tiến công chiến lược Trung Lào và Điện Biên Phủ, Thanh - Nghệ - Tĩnh còn cung cấp cho chiến trường Bình - Trị - Thiên. Hè - thu 1953, nhân dân Hà Tĩnh đã huy động được 2.235 tấn gạo, 29 tấn muối cung cấp cho Bình - Trị - Thiên đánh mạnh trong đông - xuân 1953-1954. Đầu năm 1954, ba tỉnh đã chuyển vào chiến trường Bình - Trị - Thiên 30 tấn lựu đạn, mìn, bộc phá tăng thêm sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang ở đây. Do đó, bộ đội, dân quân, du kích Bình - Trị - Thiên vẫn bảo đảm được chiến trường, tác chiến có hiệu quả khi quân chủ lực chuyển sang đánh địch ở Trung Lào.


(1) Theo số liệu sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (sơ thảo) t.I (1930-1954), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, 1991, thì trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã cung cấp 4.361 tấn gạo, 355 tấn thực phẩm, 2.000 con lợn, 325 trâu bò.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.8, tr.400.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #151 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2016, 08:00:26 PM »

Cùng với việc dốc sức phục vụ quân đội thực hiện tác chiến trong đông - xuân 1953-1954, nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An còn triển khai nhiệm vụ của Trung ương giao phó là giúp đỡ, chi viện cho vùng giải phóng Bắc Lào. Từ sau chiến dịch Thượng Lào đến cuối năm 1953, hai tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An đã cung cấp cho bạn 7.000 tấn muối. Sau đó, hai tỉnh tiếp tục cung cấp cho bạn 1.000 tấn lương thực, 15.000 xếp giấy, sáu ngàn dao, rìu, thuổng, 57 tấn muối.

Để giúp Lào phát triển sản xuất trong vùng giải phóng, theo đề nghị của bạn, nhân dân Thanh Hóa đã cung cấp cho bạn 1.000 dan, 3.000 rìu, 5.000 thuổng cùng nhiều hàng hóa thiết yếu khác.

Bên cạnh chi viện các vật dụng cần thiết cho sản xuất và sinh hoạt, trong hai năm 1953-1954, Thanh Hóa đã tổ chức hàng chục đợt dân công vận chuyển hàng hóa giúp bạn. Riêng trong tháng 1-1954, Thanh Hóa đã huy động 25 ngàn dân công, 709 xe đạp thồ, 47 ngựa cùng nhiều phương tiện vận chuyển khác giúp bạn. Sự đóng góp kịp thời, có hiệu quả của nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An đã góp phần giúp nhân dân Lào giữ vững phát triển vùng căn cứ Bắc Lào, góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.

Trước yêu cầu cung cấp cho tiền tuyến ngày càng cao, để bảo đảm đời sống nhân dân, dưới sự chỉ đạo của Liên khu ủy, các cấp bộ đảng, chính quyền của ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã kịp thời tổ chức, động viên nhân dân thực hiện phong trào noi gương anh hùng Hoàng Hanh, chiến sĩ thi đua Trịnh Xuân Bái khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi nhỏ, chuyển hướng canh tác, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất… được nhân dân hưởng ứng.

Tại Thanh Hóa, chỉ trong tháng 8-1953, toàn tỉnh đã bỏ ra 652.000 ngày công đào đắp 450.000 m3 đất dẫn nước tưới cho 792.240 mẫu ruột. Nhân dân Thanh Hóa còn đắp bờ giữ nước, khơi mương, đào giếng, phát triển xe đạp nước cung cấp đủ nước tưới cả hai vụ cho 153.440 mẫu. Ở vùng tạm chiếm Nga Sơn, nhân dân đã khai hoang phục hóa được 2.030 mẫu. Ở những vùng hệ thống nông giang bị hư hỏng nặng, nhân dân đã chuyển hướng canh tác, từ cấy lúa sang trồng màu. Trong năm 1953, Thanh Hóa đã chuyển 21.615 mẫu cấy lúa sang trông ngô, khoai, sắn. Các biện pháp kỹ thuật như gieo mạ thưa, cấy bụi nhỏ, làm cỏ, bón phân từ hai đến năm lần, sử dụng phân bắc bón ruộng, dùng bừa làm cỏ lợi gấp năm lần làm bằng tay, chống bệnh, trừ sâu… được áp dụng rộng rãi. Hai huyện Nông Cống và Tĩnh Gia đã chế được thuốc chữa bệnh tụ huyết trùng cho 3.687 trâu bò. Ty Canh nông cũng tiêm phòng được cho 24.426 trâu, bò để bảo vệ sức kéo đang bị giảm sút.

Tại Nghệ An, nhân dân đã đắp thêm 92 con đập để ngăn nước, phát triển phân xanh, phân lèn, tích cực diệt sâu keo để bảo vệ mùa màng. Riêng huyện Diễn Châu đã diệt tới 12 tấn sâu keo.

Ở Hà Tĩnh, trong vụ mùa năm 1953, nhân dân đã đắp được 211 con đập, tưới được 11.683 mẫu lúa, áp dụng rộng rãi bón ruộng bằng phân bắc.

Nhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, năng suất lúa vụ mùa 1953 ở cả ba tỉnh đều tăng so với năm 1952. Ở Thanh Hóa, sản lượng một mẫu ruộng tốt tăng 16 tạ; ở Nghệ An năng suất vụ mùa tăng 20%; ở Hà Tĩnh năng suất tăng từ 20 đến 27%. Tuy nhiên, do thiên tai, địch họa, số lượng trâu bò giảm sút, lại phải san sẻ cho Bình - Trị - Thiên và Liên khu III, do chính sách thuế thực hiện chưa sát hợp gây thắc mắc trong nông dân… nên số ruộng đất bị bỏ hoang khá nhiều. Tổng sản lượng lương thực năm 1953 của cả ba tỉnh bị giảm sút hàng vạn tấn so với năm 1952.

Bước vào vụ chiêm năm 1954, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh gặp phải mưa rét rồi hạn hán kéo dài, một số lượng lớn nhân lực phải huy động phục vụ tiền tuyến, Liên khu ủy, đảng bộ các tỉnh đã đề ra những chủ trương, biện pháp khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất. Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (họp từ 20 đến 27-2-1954) trong khi đề ra những phương hướng và nhiệm vụ kinh tế, tài chính cho Thanh - Nghệ - Tĩnh đã nhấn mạnh ba tỉnh phải “ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, đảm bảo lương thực cho nhân dân và cung cấp cho kháng chiến, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là công tác trọng yếu bậc nhất của ngành kinh tế, tài chính”(1). Từ ngày 28-3 đến 4-4-1954, Ban Chấp hành Nông hội liên khu đã họp, ra Nghị quyết về chương trình công tác nông nghiệp năm 1954. Hội nghị nhất trí rằng nhiệm vụ cơ bản của công tác nông nghiệp năm 1954 là “đoàn kết chặt chẽ anh chị em nông dân tích cực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và bảo vệ sản xuất”(2). Nhiệm vụ cụ thể của sản xuất nông nghiệp được hội nghị chỉ rõ là ra sức khôi phục ruộng hoang, bỏ hóa; ổn định và khuyến khích tinh thần sản xuất cho nông dân; tích cực phát triển mạnh mẽ công tác tiểu thủy nông; ra sức củng cố và phát triển tổ đổi công, tổ sản xuất để bảo đảm nhân công sản xuất ở địa phương; tích cực phát triển tổ vay mượn, giúp đỡ vốn cho nông dân đẩy mạnh sản xuất; thường xuyên coi trọng việc bảo vệ sản xuất đi đôi với vận động sản xuất. Tiếp đó, để thúc đẩy hơn nữa công tác sản xuất, ngày 27-4-1954, Liên khu ủy đã ra Thông tri số 40 TT/LK4 nhắc nhở các địa phương chấn chỉnh tiểu ban sản xuất để tiểu ban đủ sức giúp tỉnh ủy các tỉnh nắm chắc Tình hình và lãnh đạo sản xuất được kịp thời. Thông tri cũng yêu cầu ban thường vụ các tỉnh hằng tháng phải kiểm tra và thường xuyên theo dõi tình hình sản xuất trong địa phương.


(1) Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (từ 20 đến 27-2-1954), Tlđd.
(2) Nghị quyết về chương trinh công tác nông nghiệp năm 1954 của Ban Chấp hành Nông hội Liên khu IV (4-4-1954), tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #152 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2016, 08:02:48 PM »

Triển khai chủ trương của Liên khu ủy, các tỉnh đã tổ chức nhiều hội nghị để bàn về công tác tổ chức và phát triển sản xuất. Tiếp theo Hội nghị kinh tế toàn tỉnh được tổ chức tháng 10-1-53, ngày 2-4-1954, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã họp và chủ trương kết hợp phát động quần chúng triệt để giảm tô và ra sức phát triển sản xuất nông nghiệp để có đủ lương thực bảo đảm đời sống nhân dân và nhu cầu của kháng chiến, đồng thời dựa trên cơ sở ấy để phát triển mọi ngành kinh tế khác.

Được sự tổ chức, động viên của các cấp bộ đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, lại được những chiến thắng vang dội trên các chiến trường truyền về cổ vũ, nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã ra sức khắc phục những khó khăn to lớn, tích cực lao động sản xuất và đạt được những thành tựu rõ rệt. Với khẩu hiệu “lấy sức người thắng sức thiên nhiên”, “một gầu nước một bát cơm”, hàng chục vạn nhân dân đã ngày đêm vật lộn đắp đập, khơi mương, tát nước, đào giếng, gánh nước tưới lúa. Trong chống hạn, Thanh Hóa đã huy động 418.551 người vào việc tát nước, đào giếng khơi mương cứu lúa. Ở Nghệ An, nhân dân đã đào được 1.713 ao, hồ chứa nước tưới lúa. Ở Hà Tĩnh, chính quyền đã tổ chức hơn 17.000 nhân công đắp 9.706 đập lớn, nhỏ, đào 1.200 mét mương bảo đảm cho nước tưới cho 14.822 mẫu ruộng. Hà Tĩnh còn huy động hơn 27.000 lượt dân công tu bổ các đê La Giang, Hội Thống, Đồng Môn; tu sửa, xây dựng lại các cống Bần, Bùi Xá, sửa lại các công trình tiểu thủy nông. Trong chống hạn nổi lên tinh thần vượt khó của nhiều địa phương, nhiều đoàn thể quần chúng, tiêu biểu như nhân dân Xuân Lai (Thanh Hóa), Bắc Sơn (Nghệ An)… Đoàn thanh niên huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) đã tổ chức gánh nước năm ngày đêm liên tục để tưới cho số ruộng lúa bị hạn. Nông dân các huyện dọc sông Lam đã dùng gàu tát nước tới chín, mười bậc, thậm chí 12 bậc để đưa nước từ sông lên ruộng, cứu cho gần 70% số ruộng bị hạn. Đồng thời với chống hạn, các tỉnh còn chú ý việc bón phân để tăng năng suất cây trồng. Trong tháng hữu nghị Việt - Trung - Xô, nhân dân Nghệ An đã làm được 7.996 tấn phân xanh, nhân dân Hà Tĩnh đã bón trước 10 vạn gánh phân cho 2.251 mẫu lúa và hoa màu. Các địa phương cũng chấn chỉnh lại tổ đổi công, hợp công, sắp xếp lại nhân công, bảo đảm sản xuất trong khi một số lượng lớn lao động đã đi dân công phục vụ các chiến trường. Việc chuyển đổi tập quán canh tác cây lúa sang trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn tiếp tục được thực hiện ở các địa phương.

Nhờ sự nỗ lực phi thường, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đưa diện tích lúa tăng 4.562 mẫu so với năm 1953(1); diện tích khoai ở Thanh Hóa - Hà Tĩnh cũng tăng 14.000 mẫu so với vụ chiêm năm trước. Ở Thanh Hóa, toàn tỉnh cấy được 122.000 mẫu lúa, tăng hơn vụ chiêm 1953 là 3.500 mẫu; trồng 44.000 mẫu khoai lang, tăng hơn năm 1953 là 9.000 mẫu. Tổng sản lượng vụ chiêm 1954 tăng hơn 1953 là 10.000 tấn thóc. Ở Hà Tĩnh, diện tích trồng trọt cũng được tăng thêm nhiều, nhất là ở các huyện Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Khê. Do đó, nhân dân ba tỉnh đã chống được đói giáp hạt tháng ba, nạn đói thường xảy ra trước đó; đồng thời có điều kiện để đóng góp cho kháng chiến, thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Vụ chiêm năm 1954, Liên khu IV đã thu được 91.447 tấn thuế nông nghiệp, đạt 97,91% trong đó phần thu chủ yếu là ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Ở Thanh Hóa có bốn huyện thuế nông nghiệp thu vượt mức là Hoằng Hóa, Đông Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh còn cố gắng khắc phục những khó khăn, cản trở, ngăn chặn đà giảm sút trong sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, đáp ứng tiêu dùng của nông dân, cung cấp cho kháng chiến.

Đầu năm 1953, do việc thi hành chính sách thuế công, thương nghiệp có nhiều lệch lạc, ngành quân nhu đình chỉ kế hoạch thu mua vải đã đẩy ngành tiểu, thủ công nghiệp, nhất là ngành dệt đã lâm vào thế bế tắc. Hàng vạn khung cửu khổ hẹp, hàng ngàn khung cửi khổ rộng của các gia đình và các xưởng dệt quốc doanh phải ngừng hoạt động. 6.000 khung cửi khổ rộng chỉ hoạt động một nửa công suất. Các nghề nón lá, đan lát, đồ gốm, đan bao cói… hoạt động cầm chừng vì không xuất khẩu được. Nghệ làm giấy phát triển chậm. Số lượng muối làm ra ít hơn năm 1952 song vẫn tiêu thụ rất khó khăn.

Từ giữa năm 1953, do thực hiện chủ trương của liên khu về chuyển hướng sang sản xuất gia đình, những sai lạc trong việc thu thuế công, thương nghiệp được chấn chỉnh, do tác động của chính sách giảm tô, sản xuất thủ công nghiệp đã có những tiến triển nhất định. Nghề làm bao cói, làm chiếu được phát triển trở lại. Sản xuất phốt phát chuyển sang sản xuất theo quy mô nhỏ nên phục hồi được sản lượng. Do Liên khu ủy chỉ đạo mậu dịch quốc doanh tích cực thu mua vải cho nhân dân nên nghề dệt ở một số địa phương được phục hồi một phần. Trong điều kiện khó khăn về thị trường, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã đề ra phương châm “trên điều kiện nguyên liệu và khả năng thị trường mà phục hồi và phát triển sản xuất, phát triển thủ công nghiệp gia đình là chủ yếu”(2). Nhờ triển khai chính sách, biện pháp tích cực, trong sáu tháng đầu năm 1954, số khung cửi dệt vải ở Hà Tĩnh tăng từ 2.700 khung lên 5.000 khung; máy kéo sợi Quỳ Phụ cũng tăng từ 307 cái lên 500 cái. Trong khi đó, do gặp những khó khăn về tiêu thụ, 300 khung cửi ở Hoằng Hóa (Thanh Hóa) lại phải ngừng hoạt động. Mặc dù rất cố gắng, song do địch đánh phá, các xưởng giấy quốc doanh bị hư hại, nguyên liệu thiếu thốn nên ngành sản xuất giấy không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Cuối năm 1953, trong khi giá lương thực, giá muối giảm(3) thì giá giấy tăng vọt ở cả ba tỉnh (ở Thanh Hóa tăng 93%, ở Nghệ An tăng 94,4% và ở Hà Tĩnh là 81,1%). Trong sáu tháng đầu năm 1954, bốn xưởng giấy quốc doanh và 24 gia đình thủ công nghề giấy đã phải ngừng sản xuất. Trong báo cáo tình hình năm 1954, Liên khu ủy IV nhận xét: “Công - thương nghiệp sáu tháng đầu năm phát triển nhất là dệt.. (…). Tuy nhiên mức phát triển vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân”(4).


(1) Có tài liệu viết vụ chiêm 1954 diện tích cấy lúa tăng 6700 ha so với năm 1953.
(2) Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, t.I (1930-1954), Sđd, tr.277.
(3) Vào tháng 10-1953, giá lương thực ở Thanh Hóa giảm 41%; ở Nghệ An giảm 21,5%; ở Hà Tĩnh giảm 25%. Giá muối giảm 25% ở Thanh Hóa, 31,4% ở Nghệ An và 36% ở Hà Tĩnh.
(4) Báo cáo số 90 BC/LK4 (26-12-1954) của Ban Chấp hành Liên khu, Đảng bộ Liên khu IV về tình hình Liên khu IV năm 1954, tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2016, 08:08:17 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #153 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2016, 08:06:12 PM »

Tiếp tục thực hiện chủ trương lớn của Đảng, từ tháng 12-1953 đến tháng 8-1954, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã tiến hành ba đợt triệt để giảm tô (từ đợt ba đến đợt năm) và bước đầu triển khai cải cách ruộng đất.

Là một trong hai nhiệm vụ hàng đầu của năm 1954 (phục vụ tiền tuyến và giảm tô, cải cách ruộng đất), việc phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất đã thu hút nhiều tâm lực của cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở ba tỉnh và ở cấp liên khu. Ngày 15-1-1954, Liên khu ủy IV đã thông tri quán triệt chính sách ruộng đất của Đảng đến các cấp, các ngành. Thông tri yêu cầu các tỉnh ủy ở Thanh - Nghệ - Tĩnh mở hội nghị bao gồm các tỉnh ủy viên, các đảng đoàn, cán sự, các ban xung quanh tỉnh, bí thư hoặc phó bí thư các huyện ủy để học tập tài liệu của hội nghị toàn quốc về chính sách cải cách ruộng đất. Mục đích của đợt học tập là làm cho cán bộ thấm nhuần quan điểm về nguyên do của cải cách ruộng đất trong kháng chiến, về phương châm, đường lối cải cách ruộng đất của Đảng để từ đó chuẩn bị mọi mặt tư tưởng cho cán bộ cũng như đào tạo cán bộ cải cách ruộng đất(1). Nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất tiếp tục được quán triệt tại Hội nghị cán bộ đảng Liên khu IV (15-2-1954), Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (từ 20 đến 27-2-1954). Trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Nông hội Liên khu IV (ngày 4-4-1954), phần đề cập việc thực hiện chính sách ruộng đất đã nhấn mạnh: “Phát động quần chúng triệt để giảm tô và thực hiện cải cách ruộng đất. Thực hiện giảm tô, giảm tức theo đúng Sắc lệnh 149 SL/TW (ngày 12-4-1953), điều chỉnh công điền nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi cho nông dân, củng cố được cơ sở mạnh, lợi cho đoàn kết kháng chiến, lợi cho sản xuất, không để cho địch lợi dụng những thiếu sót của cán bộ; sử dụng tốt ruộng đất tịch thu của Việt gian”(2). Cũng trong ngày 4-4-1954, trong khi đợt bốn giảm tô đang tiến hành, thi hành Chỉ thị số 70-CT của Trung ương Đảng, Liên khu ủy IV đã thông tri yêu cầu các đoàn ủy chú trọng một số công tác quan trọng, khắc phục, sửa chữa những khiếm khuyết để đợt phát động đạt kết quả tốt. Thông tri chỉ rõ, các đoàn ủy cần:

“- Tăng cường lãnh đạo tư tưởng. Kiên quyết khắc phục tư tưởng tự mãn, tư tưởng sợ khó khăn, gian khổ, chống tư tưởng sốt ruột, bao biện, mệnh lệnh, làm thay, không nắm vững trọng tâm của từng bước và yêu cầu của mọi công tác;

- Phải đi sâu, bám rễ trong quần chúng;

- Lãnh đạo quán triệt các chính sách, đặc biệt là chính sách phát động quần chúng đối với miền duyên hải, công giáo, thiếu số;

- Tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy và đoàn ủy về mặt tổ chức. Tăng cường công tác kiểm tra, chế độ báo cáo và xin chỉ thị"(3).

Để bảo đảm công tác phát động quần chúng thành công, Liên khu ủy đã chú trọng công tác cán bộ. Từ đợt một đến đợt bốn giảm tô và cải cách ruộng đất, Liên khu đã tổ chức động viên hơn 2.200 cán bộ đi phục vụ; điều động 2.289 cán bộ (có 2.228 cán bộ từ huyện trở lên, cán bộ, bộ đội) và 944 cán bộ xã tham gia tổ chức quần chúng đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất. Liên khu ủy còn chỉ đạo các tỉnh thành lập ban cải cách ruộng đất để giúp cấp ủy chỉ đạo việc phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất. Bằng những biện pháp kiên quyết, mạnh mẽ, hai đợt phát động quần chúng ba và bốn tiến hành từ tháng 12-1953 đến tháng 6-1954 ở Thanh - Nghệ - Tĩnh đã được mở rộng ra 195 xã với 1.026.926 người, ở cả miền đồng bằng ven biển, miền núi, trong khu vực đồng bào công giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số. Ba tỉnh đã tổ chức được 575.661 nông dân và lãnh đạo họ đấu tranh với 473 địa chủ, trưng thu được 43.155 tạ thóc quả thực, trong đó đã chia 63.261 tạ cho nông dân nghèo(4).

Các đợt giảm tô trong sáu tháng đầu năm 1954 diễn ra trong bối cảnh quân và dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đang huy động tối đa sức mạnh hậu phương phục vụ tiền tuyến nên có tác động tích cực đến công tác vận động nhân dân. Với những quyền lợi thiết thân được đáp ứng, nhân dân trong vùng đã thực hiện giảm tô càng hăng say lao động, đóng góp phục vụ kháng chiến. Các đợt giảm tô cũng có những tác động lớn đến công tác chính quyền, công tác văn hóa xã hội…


(1) Thông tri số 6 về việc tổ chức học tập chính sách cải cách ruộng đất của Liên khu ủy IV, ngày 15-1-1954, Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
(2) Nghị quyết về chương trình công tác 1954 của Ban Chấp hành Nông hội Liên khu IV (4-4-1954), Tlđd.
(3) Báo cáo sáu tháng đầu năm 1954, số 39/BC-LK$ của Liên khu ủy IV, Tlđd.
(4) Báo cáo sáu tháng đầu năm 1954, số 39/BC-LK$ của Liên khu ủy IV, Tlđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #154 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2016, 08:13:26 PM »

Tuy nhiên, trong thực hiện giảm tô đợt ba và bốn, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng phạm phải những sai lầm như ở đợt một và đợt hai. Hầu hết các địa phương chưa thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết của Đảng, làm cho một bộ phận địa chủ phản ứng quyết liệt. Riêng trong giảm tô đợt bốn, ở Thanh Hóa và đợt phát động quần chúng giảm tô thứ năm tiến hành trong 82 xã ở Thanh Hóa và Hà Tĩnh từ cuối tháng 6 đến tháng 8-1954, những khuyết điểm đó vẫn chưa được sửa chữa, trái lại có phần nặng nề thêm.

Sau khi thực hiện thí điểm ở Thái Nguyên, từ đợt giảm tô Trung ương chỉ đạo các địa phương tiến hành cải cách ruộng đất đợt một ở những nơi có điều kiện. Từ tháng 5-1954, Liên khu ủy đã chỉ đạo thí điểm cải cách ruộng đất tại sáu xã thuộc huyện Nông Cống (Thanh Hóa)(1).

Với tinh thần dựa vào bần, cố nông, phát động quần chúng tố khổ, các đội công tác đã về sáu xã thí điểm triển khai bốn bước công tác:

Bước một là tuyên truyền chính sách, bắt rễ, tìm chỗ dựa và bước đầu củng cố tổ chức.

Bước hai là phân định thành phần giai cấp, phân rõ ranh giới giữa nông dân và địa chủ, tổ chức đấu tố một số địa chủ cường hào gian ác, đầu sỏ.

Bước ba là tịch thu, trưng mua ruộng dát của địa chủ chia cho nông dân.

Bước bốn là tổng kết thắng lợi và chỉnh đốn tổ chức ở xã.

Với các bước công tác trên, đợt cải cách ruộng đất thí điểm ở Nông Cống đã truy ra thêm được 123 địa chủ; tịch thu, trưng thu, trưng mua 3.899 mẫu ruộng, 182 trâu, bò, 26.499 kg lương thực và một số tài sản khác đem chia cho 92,8% nông dân, bình quân mỗi người được bốn sào ba thước với sản lượng 540 kg. Ở xã thí điểm không còn địa chủ, bần, cố nông được đưa lên nắm quyền lãnh đạo ở nông thôn.

Bằng việc mang lại ruộng đất cho dân cày, cuộc thí điểm cải cách ruộng đất ở sáu xã thuộc huyện Nông Cống (Thanh Hóa) đã có tác động mạnh đến khí thế lao động sản xuất của nhân dân trong các địa phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Mọi người đều háo hức chờ đợt đến ngày ruộng đất về tay và được làm chủ sức lao động của chính mình. Cuộc cải cách ruộng đất thí điểm đã làm cho địa chủ ở nhiều nơi dao động, bắt đầu phân tán ruộng đất để tránh bị đấu tố. Từ những kinh nghiệm rút ra từ đợt cải cách thí điểm, đến tháng 10-1954, liên khu đã mở rộng cải cách ruộng đất ra 66 xã thuộc Đông Sơn, Hoằng Hóa (Thanh Hóa).

Trong cải cách ruộng đất thí điểm này, tuy chưa có những biểu hiện thái quá trong các hình thức đấu tranh (2) song công tác chỉ đạo đã bộc lộ một số sai lầm, hạn chế trong cách định tỷ lệ, cách tiến hành. Hơn nữa, việc chỉ chú trọng đưa bần, cố nông lên nắm quyền lãnh đạo ở nông thôn, trong số họ phần lớn hạn chế về trình độ học vấn và khả năng quản lý, cũng như chủ trương dựa vào trung kiên ngoài Đảng, không dựa vào chi bộ sở tại… đã tạo ra tiền đề không tốt cho những đợt cải cách tiếp sau.

Trong khi thực hiện hai nhiệm vụ hàng đầu là phục vụ tiền tuyến và giảm tô, cải cách ruộng đất, quân và dân 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh còn đẩy mạnh xây dựng lực lượng, bảo vệ vững chắc hậu phương trước các âm mưu và hành động đánh phá của kẻ thù.

Thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy về đẩy mạnh xây dựng lực lượng, phát triển bộ đội chủ lực đồng thời với củng cố, kiện toàn bộ đội địa phương và xây dựng dân quân, du kích, Bộ Tư lệnh Liên khu IV đã đề ra nguyên tắc chung xây dựng lực lượng vũ trang của toàn liên khu như sau:

“- Liên khu lấy xây dựng đơn vị tiểu đoàn, tỉnh lấy xây dựng đại đội, huyện lấy xây dựng đại đội làm mục tiêu chủ yếu.

Khu rút các đơn vị bộ đội địa phương các huyện và tỉnh lên bộ đội chủ lực phải để lại một đơn vị làm nòng cốt xây dựng đơn vị mới, kịp thời tuyển du kích và thanh niên bổ sung huấn luyện đầy đủ.

- Việc xây dựng lực lượng vũ trang trong phải được coi trọng cả số lượng và chất lượng”(3).


(1) Có ý kiến cho rằng Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo cải cách ruộng đất của huyện Nông Cống vào tháng 6-1953. Trong Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (từ 20 đến 27-2-1954) viết:
“Từ đợt bốn phát động quần chúng giảm tô trở đi, Trung ương đã tập trung lãnh đạo cải cách ruộng đất là chính. Liên khu ủy và các tỉnh ủy phải tập trung lãnh đạo giảm tô đồng thời tham gia cải cách ruộng đất”.
Báo cáo sáu tháng đầu năm 1954 của Liên khu ủy (ngày 21-6-1954) cũng viết: “Cuộc phát động quần chúng cải cách ruộng đất ở liên khu mới bắt đầu trong sáu xã thí điểm ở Nông Cống, công tác trong xã trọng điểm đã qua bước hai, còn các xã khác đương bước vào thời kỳ bước một”. Căn cứ vào các tài liệu trên, có thể thấy rằng khi Trung ương phát động cải cách ruộng đất đợt một (25-5-1954) thì liên khu mới tiến hành thí điểm ở Nông Cống.
(2) Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đoàn chỉ đạo cải cách ruộng đất ở sáu xã thí điểm lại bị phê bình là “lập trường hữu khuynh, hạn chế quần chúng tố khổ” nên đã “hạn chế một phần kết quả”.
(3) Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Sđd, tr. 336.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2016, 08:02:22 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #155 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 07:48:36 PM »

Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (từ 20 đến 27-2-1954) trong khi bàn về nhiệm vụ quân sự cũng quyết định: “Đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt, chủ yếu là xây dựng chủ lực tập trung; nâng cao chất lượng các tiểu đoàn tỉnh, các đại đội huyện, ra sức phát triển và củng cố các đội du kích xã”(1). Hội nghị cũng nhấn mạnh Thanh Hóa và Nghệ An phải tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và du kích ở vùng thượng du.

Theo phương hướng này, trong đông xuân 1953-1954, liên khu đã tuyển thêm 1.833 tân binh, xây dựng được bảy tiểu đoàn bộ binh (gồm ba tiểu đoàn của trung đoàn 53 và bốn tiểu đoàn độc lập 266, 291, 340, 195), Tiểu đoàn phòng không 541, Đại đội 98 đặc công liên khu và Trung đoàn 154 công binh của bộ. Cuối tháng 4-1954, sau khi Bộ Tổng tư lệnh điều Trung đoàn 53 chủ lực khu và Tiểu đoàn 362 của Nghệ An lên Việt Bắc, Bộ Tư lệnh liên khu đã nhanh chóng xây dựng lại hai đơn vị này. Lực lượng bộ đội địa phương cũng kịp thời bổ sung quân số, củng cố và kiện toàn các tiểu đoàn tỉnh và đại đội huyện(2). Bộ đội địa phương của các huyện Như Xuân, Cẩm Thủy (Thanh Hóa), Nam Đàn, Đô Lương (Nghệ An) được xây dựng thêm.

Các đơn vị mới được thành lập ở Thanh - Nghệ - Tĩnh đã thực hiện các đợt chỉnh quân chính trị, qua đó nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất giai cấp của quân đội, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lao động được nâng cao. Các chiến sĩ tuy mới trong quân ngũ song do có hiểu biết chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng, lại được giáo dục, rèn luyện nên có tinh thần sẵn sàng hy sinh chiến đấu, quyết tâm tiêu diệt quân thù. Cùng với bồi dưỡng chính trị, Bộ Tư lệnh liên khu còn quan tâm huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội. Các đơn vị chủ lực được huấn luyện theo từng đợt ngắn cho phù hợp với hoạt động và điều kiện từng nơi. Sau mỗi đợt huấn luyện, các đơn vị đều tổ chức diễn tập, sẵn sàng chủ động đối phó với các tình huống xảy ra. Bộ Tư lệnh liên khu cũng mở các lớp huấn luyện kỹ thuật đặc công cho các tiểu đoàn tỉnh và Đại đoàn 325. Liên khu và các tỉnh còn mở các lớp bồi dưỡng chiến thuật vận động chiến và công kiên chiến để vận dụng lối đánh phục kích, tập kích, công đồn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu, nâng cao hiệu suất tiêu diệt địch. Trải qua quá trình huấn luyện và diễn tập, trình độ chỉ huy của cán bộ, khả năng và bản lĩnh chiến đấu của chiến sĩ tiến bộ rõ rệt. Bộ đội chủ lực có khả năng tác chiến từ một đến hai đại đội trong đội hình tiểu đoàn; bộ đội địa phương tỉnh có trình độ tổ chức chiến đấu cấp đại đội trong đội hình tiểu đoàn và bộ đội huyện có thể tổ chức chiến đấu cấp trung đội trong đội hình đại đội dưới các hình thức phục kích và tập kích.

Sự gia tăng của các đơn vị vũ trang ở Liên khu IV đặt ra yêu cầu bức xúc về đội ngũ cán bộ chỉ huy. Đáp ứng đòi hỏi này, Liên khu chủ trương đề bạt, bồi dưỡng cán bộ đã rèn luyện, trưởng thành trong chiến đấu và công tác, tạo dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy giỏi vừa có kinh nghiệm chiến đấu, vừa có năng lực quản lý đơn vị. Theo hướng đó, chỉ ba tháng đầu năm 1954, toàn liên khu đã đề bạt 2.054 cán bộ từ tiểu đội đến trung đội, 12 cán bộ trung đoàn. Liên khu còn cử nhiều cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn ra học tại các trường của bộ. Phần lớn cán bộ được đề bạt, bồi dưỡng thuộc thành phần công, nông(3).

Đồng thời với việc tăng cường lực lượng vũ trang tập trung, liên khu thường xuyên củng cố, chấn chỉnh lực lượng dân quân, du kích, nhất là ở các xã ven biển và các xã đã phát động quần chúng giảm tô. Trong các xã đã phát động quần chúng, chính quyền đã đưa ra khỏi hàng ngũ dân quân, du kích những người bị coi là không đủ tiêu chuẩn chính trị, tăng cường thêm quần chúng tích cực vào lực lượng này. Nhằm nâng cao chất lượng chiến đấu của dân quân, du kích, các địa phương đã tiến hành huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho các chiến sĩ, trang bị thêm bom, mìn, lựu đạn. Đội ngũ cán bộ chỉ huy xã đội, thôn đội được bồi dưỡng để nâng cao năng lực chỉ huy. Trong sáu tháng đầu năm 1954, liên khu đã bồi dưỡng được 651 cán bộ xã đội; 2.254 cán bộ thôn đội, xóm đội. Được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, lực lượng dân quân du kích đã bảo đảm được nhiệm vụ canh gác, bố phòng, cùng công an giữ gìn thôn xóm, phối hợp với bộ đội tác chiến bảo vệ hậu phương.

Trong khi xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương, Liên khu IV còn hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân theo chỉ tiêu của Bộ Tổng tư lệnh.

Sau khi hoàn thành kế hoạch tuyển quân năm 1953, liên khu chủ động tuyển 4.000 tân binh cho kế hoạch đầu năm 1954, đáp ứng gần đủ chỉ tiêu mà Bộ Tổng tư lệnh đã giao(4). Song, do đòi hỏi cấp bách về lực lượng cho các đòn tiến công chiến lược, Bộ Tổng tư lệnh đã giao chỉ tiêu cho Liên khu IV tăng gấp ba lần so với kế hoạch đầu năm.


(1) Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV từ 20 đến 27-2-1954, Tlđd.
(2) Trong đông - xuân 1953-1954, sáu tỉnh của Liên khu IV có tám tiểu đoàn bộ đội địa phương.
(3) Cả năm 1954, liên khu đã đề bạt 3.704 cán bộ quân sự các cấp, 78,8% số đó thuộc thành phần công nông; cử 95 cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn đi học các trường của bộ.
(4) Theo kế hoạch đầu năm 1954 của bộ. Liên khu IV phải tuyển 4.200 quân cho bộ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #156 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 07:49:30 PM »

Thực hiện yêu cầu của Bộ Tổng tư lệnh, các cấp ủy đảng, chính quyền đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ nhiệm vụ, kêu gọi thanh niên sẵn sàng tòng quân diệt giặc. Được thắng lợi trên các chiến trường cổ vũ, được hưởng dụng những quyền lợi do giảm tô, giảm tức mang lại, nhân dân các địa phương phấn khởi động viên chồng, con, anh, em lên đường nhập ngũ. Tòng quân giết giặc trở thành phong trào sôi nổi trong thanh niên các địa phương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ở huyện Ngọc Lặc (Thanh Hóa) chỉ tiêu tuyển 100 người nhưng có tới 676 người xung phong nhập ngũ; tại huyện Đức Thọ) chỉ tiêu tuyển 57 người mà có tới 639 người tình nguyện dự tuyển. Ở tỉnh Quảng Bình, theo kế hoạch chỉ tuyến 250, nhưng số người xung phong là 700. Do tinh thần hăng hái của quần chúng, thanh niên được tuyên truyền, giáo dục, do sự lãnh đạo tích cực của các cấp lãnh đạo, trong sáu tháng đầu năm 1954, Liên khu IV đã cung cấp cho quân chủ lực 14.555 tân binh, chưa kể quân số của Trung đoàn 53 và Tiểu đoàn 362 Nghệ An do Bộ Tổng tư lệnh điều động lên Việt Bắc.

Bên cạnh việc đảm nhiệm cung cấp nhu yếu phẩm cho các chiến dịch lớn, việc bổ sung một số lượng lớn tân binh cho quân đội trong điều kiện khó khăn đã chứng minh sinh động cho nỗ lực to lớn, cho tinh thần và khả năng cách mạng của nhân dân Liên khu IV, trước hết là của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh. Kết quả đó cũng thể hiện rõ năng lực tổ chức, thực hiện đường lối kháng chiến đúng đắn, kiên quyết của các cấp đảng bộ và chính quyền trong liên khu.

Với lực lượng vũ trang được tăng cường, thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố, quân và dân liên khu đã đánh thắng những nỗ lực cuối cùng của quân xâm lược Pháp, đánh phá vào Thanh - Nghệ - Tĩnh, bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược.

Tuy bị tiến công trên khắp các chiến trường, gặp nhiều khó khăn về quân số, bước vào năm 1954, quân Pháp vẫn duy trì các cuộc biệt kích, oanh tạc vào hậu phương Liên khu IV. Tiếp theo các hoạt động đánh phá, uy hiếp cuối năm 1953, đầu năm 1954, quân Pháp tổ chức một số cuộc biệt kích nhỏ vào Thanh Hóa, oanh tạc vùng Chu Lễ để ngăn cản tuyến cung cấp của ta lên Trung Lào. Điển hình là cuộc oanh tạc ở Tân Nho làm chết 62 người, làm bị thương 69 người. Trước khi chiến dịch Điện Phủ kết thúc thắng lợi, địch cho 51 tên biệt kích xuống miền tây Thanh Hóa để phá kho tàng, đường sá, càn trở sự chi viện từ Thanh - Nghệ - Tĩnh lên Điện Biên Phủ(1); đồng thời oanh tạc lớn vào Mậu Lâm là nơi công giáo đã được phát động giảm tô, làm 50 người chết, 38 người bị thương, 108 nhà bị cháy. Trong hai ngày 19 và 22-5-1954, địch tổ chức hai cuộc biệt kích lớn vào bờ biển Tĩnh Gia và Quảng Xương (Thanh Hóa). Đầu tháng 7-1954, địch lại tổ chức những cuộc oanh tạc lớn vào Thanh - Nghệ - Tĩnh. Chỉ ba ngày đầu tháng 7, máy bay địch đã đánh phá 22 vụ ở Nghệ An, làm chết 46 người, bị thương 19 người, làm sập 235 nhà. Máy bay địch ném bom từ Xứ Dừa (Hà Trung, Thanh Hóa) giữa ngày chủ nhật đồng bào công giáo đang hành lễ làm 170 người chết, 130 người bị thương, 109 nhà bị cháy, nhà thờ bị sập. Ở miền tây Thanh - Nghệ - Tĩnh, từ giữa tháng 6-1954, quân phỉ lại ráo riết hoạt động, nhất là ở các xã Sơn Thụy, (Quan Hóa, Thanh Hóa) ở Bản Vực, Mường Tân (Thường Xuân, Thanh Hóa)… đốt phá kho tàng, bắt thanh niên, giết cán bộ. Ở nội địa, bọn phản động trong công giáo ráo riết đẩy mạnh các hoạt động phá hoại.

Trước tình hình địch đánh phá, uy hiếp Thanh - Nghệ - Tĩnh, liên khu đã kịp thời lãnh đạo, tổ chức nhân dân ba tỉnh chuẩn bị đánh tan âm mưu địch đánh ra vùng tự do. Từ những ngày đầu đông - xuân 1953-1954, liên khu đã tổ chức học tập chỉ thị của Trung ương Đảng trong cơ quan từ liên khu xuống tỉnh, huyện, cơ sở, làm cho mọi người nhận rõ âm mưu địch, thấy rõ nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. Trong các cấp, các ngành và nhân dân dấy lên phong trào sôi nổi chuẩn bị sẵn sàng đánh địch. Các cấp ủy đảng đã tập trung lãnh đạo nhân dân tập dượt các phương án phòng tránh địch, cất giấu tài sản, sơ tán… Các địa phương chủ động việc canh gác bố phòng, phối hợp chặt chẽ các lực lượng dân quân, du kích, công an bảo đảm an ninh, sẵn sàng đánh địch. Ở Nghệ An, các thị trấn vùng đông dân, vùng xung yếu đều thực hiện sơ tán, đào hầm phòng không. Các trường học, bệnh xá được phân tán, chuyển vào các khu vực xa đường quốc lộ, tỉnh lộ; các xí nghiệp, kho tàng, công trình được ngụy trang kín đáo. Các sinh hoạt như hội họp, học hành… chuyển vào ban đêm. Lực lượng vũ trang ba thứ quân (chủ lực liên khu, bộ đội tỉnh, huyện và dân quân, du kích) đẩy mạnh công tác huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu. Liên khu cũng tiến hành điều chỉnh lại việc bố trí lực lượng cho sát với yêu cầu phòng thủ trên từng địa bàn ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, chú trọng nhất vào vùng ven biển và miền rừng núi. Liên khu trang bị thêm vũ khí cho bộ đội và du kích, hướng dẫn dân quân, du kích bố trí hầm chông ở các địa bàn trọng yếu.

Nhờ chuẩn bị chu đáo, toàn diện, quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã kịp thời giáng trả những hoạt động biệt kích, tập kích của địch ngay khi chúng triển khai kế hoạch Navarre, làm giảm thiểu những thiệt hại do chúng gây ra.


(1) Có tài liệu viết là 49 tên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #157 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 07:50:24 PM »

Trận chiến đấu lớn đầu tiên của quân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh diễn ra vào ngày 4-9-1953 ở Nhượng Bạn (Hà Tĩnh). Sau nửa ngày chiến đấu chống lại ba đại đội địch có máy bay, tàu chiến yểm trợ, lực lượng vũ trang địa phương đã tiêu diệt 40 tên, bắt sống 13 tên, buộc những tên còn lại phải rút ra biển.

Tiêu biểu nhất trong những trận chiến đấu cuối năm 1953 là trận đánh trả cuộc hành quân Hải Âu của địch vào tháng 10-1953, bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh Hóa. Trên hướng phía bắc tỉnh Thanh Hóa, trong các ngày 10, 17-10-1953, máy bay địch đã bắn phá khu vực Hà Trung, Nga Sơn, Thạch Thành. Ngày 19-10, quân địch từ Đồi Cao tiến vào đồi Phúc Dương (còn gọi là đồi Trạch Lâm) và Hoạt Giang huyện Hà Trung. Một cánh quân địch với lực lượng 442 tên cùng một tiểu đoàn xe cơ giới từ tây nam Ninh Bình thọc vào chiếm đóng đền Sòng. Ngày 23-10, hai tiểu đoàn địch chia làm hai mũi đánh chiếm các điểm cao, tiến vào xã Long Khê (Hà Trung) đốt 60 nhà, bắn chết hai thanh niên, bắt đi 42 người, giết hàng trăm trâu, bò, lợn của nhân dân, đốt hàng chục tấn lúa gạo. Quân và dân Hà Trung phối hợp cùng bộ đội chủ lực chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt hàng chục tên. Thất bại trong ý đồ tiêu diệt các đại đoàn chủ lực của ta đang trú quân tại Thanh Hóa, lại bị quân và dân hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình tiêu diệt 1.500 tên, quân Pháp buộc phải rút lui. Ở hướng ven biển, ngày 16-10-1953, quân và dân Tĩnh Gia đã vây đánh 500 tên địch đổ bộ lên xã Hải Yến. Bỏ lại 20 xác chết, quân địch rút lên tàu tháo chạy ra biển. Cùng ngày, quân và dân Tĩnh Gia bao vây toán nhảy dù, bắn chết một tên, làm bị thương 2 tên khác, thu toàn bộ vũ khí và tài liệu của chúng. Sau khi cuộc hành quân Hải Âu thất bại, trong một cuộc họp báo, Navarre phàn nàn: “Chúng tôi đã ăn xong món khai vị rồi. Cẩn phải nhắm nốt món kháng chiến nữa (ý nói bộ đội chủ lực Việt Nam). Món kháng chiến này ngày càng tỏ ra khó xơi”(1).

Tiếp theo chiến công trên, ngày 19-5-1954, bộ đội và du kích trên địa bàn huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) đã kịp thời chặn đánh 125 tên địch khi chúng biệt kích vào Cự Nham, diệt 16 tên buộc chúng phải rút lui. Ba ngày sau, vào ngày 232-5-1954, có máy bay và tàu chiến yểm trợ, 350 tên địch liều lĩnh đổ bộ lên Du Xuyên (Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Dân quân, du kích địa phương đã phối hợp cùng bộ đội tỉnh đánh trả quyết liệt, tiêu diệt 121 tên, đập tan cuộc biệt kích của địch.

Trong khi lực lượng vũ trang vùng biển đánh địch có hiệu quả thì bộ đội địa phương phối hợp với lực lượng công an và đồng bào các dân tộc thiểu số miền tây Thanh - Nghệ - Tĩnh tiến hành tiễu phỉ thu nhiều thắng lợi. Lực lượng tiễu phỉ ở miền Tây Nghệ An đã tích cực phát hiện, khám phá, truy lùng và đánh tan nhiều ổ phỉ, bắt và tiêu diệt bọn đầu sỏ, trong đó có tên Lý Đoàn. Tại tỉnh Thanh Hóa, sau hai đợt tiễu phỉ đạt kết quả tốt, Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định tổ chức tiễu phỉ đợt ba nhằm giải quyết sạch các toán phỉ còn lại và đánh phá hang ổ của chúng ở huyện Mường Xôi. Sau tám tháng chiến đấu gian khổ, được sự giúp dỡ của đồng bào các dân tộc thiểu số, lực lượng tiễu phỉ đã đánh hơn 100 trận, diệt 70 tên, bắt sống 96 tên, gọi hàng 600 tên, trong đó có tên đầu sỏ chánh cả Phạm Bá Nhị, thu 855 súng các loại. Trong trận kết thúc đợt tiễu phỉ này, lực lượng vũ trang ta đã đồng loạt tiến công vào Mường Pao, gọi hàng 308 tên; bắt sống 200 tên tại Sầm Tớ, bắt sống toàn bộ bọn phỉ còn lại ở Sơn Thủy, Hiền Kiệt. cũng trong thời gian tiễu phỉ, ngày 15-4-1954, bộ đội địa phương và du kích Hồi Xuân đã bao vây, bắt gọn 51 tên địch cùng toàn bộ vũ khí khi chúng vừa nhảy dù xuống đây.

Các đợt tiễu phỉ nói trên không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới phía tây Thanh - Nghệ - Tĩnh mà còn giúp nhân dân Lào giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trong vùng giải phóng Sầm Nưa.

Phối hợp với các cuộc chống địch biệt kích ở vùng ven biển, tiễu phỉ ở miền tây, quân và dân vùng tạm bị chiếm Nga Sơn (Thanh Hóa) liên tục tổ chức các trận chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trong chiến đấu đã nổi lên những tập thể dũng cảm, lập được chiến công xuất sắc. Nổi trội trong số đó là 12 du kích xã Chính Đại đã anh dũng chặn đánh năm xuồng máy và bốn đại đội địch áp tải lương thực, vũ khí tiếp tế cho Chi Điền, tiêu diệt 19 tên, làm bị thương 67 tên, đánh chìm một xuồng máy. Ngày 6-5-1954, du kích xã Chính Đại lại chặn đánh ba tiểu đoàn địch tiếp tế cho Chi Điền, diệt 59 tên, làm bị thương 13 tên, đánh đắm một thuyền chở gạo, ba xuồng chở đạn. Sau khi cuộc quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ kết thúc, quân địch ở Nga Sơn chuẩn bị rút lui. Nắm được âm mưu của địch, bộ đội địa phương cùng dân quân, du kích phối hợp bao vây, bắt gọn 600 tên khi chúng rút chạy ra bờ biển Điền Hộ, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Ba xã bị địch chiếm đóng hoàn toàn giải phóng.


(1) Navarre: Đông Dương hấp hối, Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #158 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 07:51:36 PM »

Đồng thời với nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội và dân quân du kích, lực lượng công an đã làm nòng cốt trong phát động quần chúng khám phá và trừng trị nhiều ổ phản động tay sai của địch. Sau vụ Hưng Yên năm 1953, đầu năm 1954 các lực lượng an ninh đã khám phá thêm vụ gián điệp Ba Làng, vụ Tuệ Chiêu - Mai Bá Nhạc. Thông qua các vụ án này, nhân dân các địa phương, nhất là đồng bào công giáo càng nhận rõ âm mưu của địch chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta. Cuộc vận động quần chúng bảo vệ an ninh được mở rộng trong giáo dân; nhiều cơ sở quần chúng được xây dựng ở vùng đồng bào công giáo. Lực lượng công an còn truy bắt nhiều tên lưu manh, trộm cướp… bảo đảm trật tự xã hội.

Để lực lượng công an thực hiện tốt nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 23-3-1954, Thường vụ Liên khu ủy IV đã ra Chỉ thị số 59 CT/LK4 về việc “Củng cố và tăng cường lãnh đạo công tác công an”. Chỉ thị yêu cầu các cấp ủy tăng cường giáo dục cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo về chính sách công an, thường xuyên theo dõi, kiểm tra và uốn nắn kịp thời giúp đỡ cán bộ chấp hành đúng đắn chính sách của Đảng, chủ trương công tác lãnh đạo cán bộ công an chấp hành đúng các chính sách bắt người, giam giữ, xét hỏi, chính sách chống biệt kích, chỉ điểm, chính sách tiễu phỉ, trừ gian, bổ sung đủ quân số cho công an, cử cán bộ làm công tác chuyên trách… Sau có Chỉ thị của Thường vụ Liên khu ủy, công tác lãnh đạo công an ở các tỉnh có chuyển biến tốt. Lực lượng công an hoạt động tốt hơn trong việc bảo đảm an ninh trật tự nội địa, bảo vệ cơ quan, kho tàng, công xưởng.

Phát huy cao độ sức mạnh hậu phương, thi hành chính sách ruộng đất mới đã tạo điều kiện, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách về xây dựng, củng cố chính quyền, nhất là ở cấp xã. Trong những địa phương đã phát động quần chúng, những địa chủ, quan lại bị đưa ra khỏi chính quyền cấp huyện và xã. Những đảng viên, quần chúng tốt thuộc thành phần công nhân, bần, cố nông, cả nam lẫn nữ được tăng cường vào chính quyền huyện, xã, qua đó đề cao quyền làm chủ của nông dân. Theo thống kê, 180 ủy ban kháng chiến hành chính xã ở Thanh Hóa thì số chủ tịch xã là bần, cố nông chiếm 65%; phụ nữ chiếm 15%; số ủy viên ủy ban là bần, cố nông chiếm 66,7%; trung nông là 29%, dân tộc thiểu số 5%, công giáo 2% đảng viên 26%. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh, có ủy ban kháng chiến hành chính xã gồm toàn bộ là bần, cố nông và công nhân tự do. Kết hợp với giảm tô, các địa phương đã tiến hành chia nhỏ lại các xã cho phù hợp với khả năng, trình độ quản lý của cán bộ. Sau năm đợt giảm tô, 116 xã được phát động ở Hà Tĩnh đã chia lại thành 250 xã.

Để đội ngũ cán bộ là bần, cố nông đảm trách được các công việc chính quyền, liên khu chủ trương bổ túc văn hóa, nâng cao trình độ học vấn cho lực lượng ngày. Ngày 30-4-1954, Liên khu ủy ra Thông tri số 42-TT/LK4 về việc bổ túc văn hóa cho cán bộ xã sau phát động quần chúng. Thông tri chỉ rõ tính cấp bách của công tác này, yêu cầu các cấp ủy đảng phải lãnh đạo chặt chẽ để đẩy mạnh phong trào học văn hóa của cán bộ bần, cố nông; đả thông tư tưởng cho cán bộ về việc cấn thiết phải học tập văn hóa, sắp xếp lại lề lối làm việc, tạo điều kiện cho cán bộ có thời gian học tập thường xuyên. Thông tri nói trên đã đáp ứng được yêu càu bức xúc trong việc nâng cao năng lực của chính quyền, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Cùng với chính quyền, các đoàn thể quần chúng như Hội Liên Việt, Nông hội, Đoàn thanh niên cứu quốc liên khu cũng được chấn chỉnh và củng cố. Ngày 4-4-1954, Ban Chấp hành Nông hội liên khu ra Nghị quyết về Chương trinh công tác năm 1954, trong đó nêu rõ công tác chấn chỉnh tổ chức cơ sở, xây dựng các tổ chức ở cấp xã, kết hợp xây dựng cơ sở Hội với xây dựng tổ chức dân quân, du kích, chấn chỉnh sinh hoạt, giữ vững sinh hoạt tổ và chấp hành xã, kết nạp hội viên mới; đào tạo cán bộ, giáo dục hội viên, kiện toàn các cấp lãnh đạo và xây dựng lề lối làm việc. Ngày 12-5-1954, Ủy ban Liên Việt Liên khu IV triệu tập hội nghị mở rộng bao gồm đại diện Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu, các ủy viên trong Ủy ban Liên Việt liên khu, các đại biểu các đảng, đoàn thể trong Mặt trận, các thủ trưởng cơ quan chuyên môn, các đại biểu Ủy ban Liên Việt tỉnh, xã, các chiến sĩ thi đua, nhân sĩ, trí thức, tư sản dân tộc, đại biểu các tôn giáo. Hội nghị đã tán thành và nhiệt liệt ủng hộ các chính sách của Đảng và Chính phủ, phản đối sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào Đông Dương, kêu gọi nhân dân liên khu tích cực thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm là đánh giặc và cải cách ruộng đất, nhận rõ âm mưu của đế quốc Mỹ, mở rộng mặt trận phản đế, phản phong, tăng cường đoàn kết, thi đua đẩy mạnh mọi công tác trước mắt. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Liên Việt Liên khu, ngày 18-5-1954, Ban Chấp hành Đoàn thanh niên cứu quốc liên khu IV đã ra chỉ thị cho thanh niên liên khu gây phong trào phản đối Mỹ xâm lược Việt - Miên - Lào. Chỉ thị yêu cầu thanh niên ở vùng tự do “tích cực tham gia phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, phục vụ tiền tuyến, đi dân công, tòng quân, đẩy mạnh học tập và sản xuất, kết hợp củng cố tổ chức”(1)


(1) Chỉ thị số 117 của Ban Chấp hành Đoàn thanh niên cứu quốc Liên khu IV, tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #159 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 07:53:38 PM »

Trong tình hình liên khu phải thực hiện cùng một lúc những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, hoạt động của chính quyền và các đoàn thể quần chúng đã đóng vai trò to lớn trong tổ chức, tạo dựng với sức mạnh tổng hợp từ các nguồn lực khác nhau từ khối đại đoàn kết toàn dân vào phục vụ kháng chiến.

Kháng chiến càng gần ngày thắng lợi, các địa phương Thanh - Nghệ - Tĩnh càng ra sức khắc phục khó khăn, phát triển văn hóa, giáo dục. Ở Thanh Hóa, ngành giáo dục phổ thông đã mang tính phổ cập. Đầu năm học 1953-1954, cả trường công và trường tư toàn tỉnh đã xây dựng được 45 trường cấp I, 85 trường cấp II, sáu trường cấp III và 2.094 lớp vỡ lòng. Ngành bổ túc văn hóa, bình dân học vụ cũng được quan tâm, phát triển. Năm 1953, toàn tỉnh tổ chức được 7.950 lớp học, thu hút 165.000 học viên, trong đó có 2.623 cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp theo học. Tỉnh cũng xây dựng hai trường phổ thông lao động để bồi dưỡng văn hóa cho chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu. Tại Hà Tĩnh, đảng bộ chỉ đạo các cấp củng cố giáo dục, chống việc tái mù chữ. Các giáo viên và học sinh được chấn chỉnh, sắp xếp thay nhau tham gia cuộc phát động quần chúng giảm tô.

Trong hoàn cảnh địch đánh phá, các trường ở Thanh - Nghệ - Tĩnh được phân tán, dời xa các trục đường giao thông, dạy và học chuyển vào ban đêm. Trong các trường phổ thông cấp II, học sinh hai ba bàn gần nhau chung một đèn dầu lạc có tán che cao. Mặc dù học đêm rất vất vả, nhất là những khi mưa gió, thầy trò các trường vẫn kiên trì dạy và học đều đặn, đảm bảo chất lượng.

Vượt qua những thiếu thốn về vật chất, ngành y tế các tỉnh vẫn được giữ vững và có bước phát triển mới để phục vụ kháng chiến và góp phần xây dựng nếp sống mới. Các phong trào vệ sinh, phòng bệnh luôn được phát động và được nhân dân tích cực tham gia. Tính đến năm 1954, ngành y tế tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống bệnh xá cấp xã; phòng, ban cấp huyện, xây thêm bốn bệnh viện khu vực, đào tạo 2.000 y tá, 429 nữ hộ sinh, tổ chức 2.781 đội phòng bệnh. Chỉ trong tháng 9-1953, y tế Thanh Hóa đã tiêm phòng tả cho 375.000 người, tiêm chủng đậu cho 224.000 cháu bé, tiêm thuốc da liễu cho 6.000 bệnh nhân.

Phong trào văn hóa, văn nghệ đã trở thành một nếp sống đẹp của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến. Đội ngũ văn nghệ sĩ đã tích cực ra mặt trận, về nông thôn, vào các cơ quan, đơn vị, theo các đoàn dân công để phục vụ, làm nòng cốt cho phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển ngày càng rộng khắp. Những hoạt động thông tin tuyên truyền về thắng lợi của cuộc kháng chiến trên các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao được tiến hành rầm rộ khắp nơi. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, thông tin tuyên truyền trong tháng hữu nghị Việt - Trung - Xô (2-1954) đã thổi một luồng không khí phấn khởi mới trong ba tỉnh. Văn hóa, văn nghệ đã trở thành một nhân tố quan trọng cổ vũ động viên quân dân ba tỉnh sản xuất, phục vụ tiền tuyến, bảo vệ hậu phương.

Nhằm động viên các cán bộ, chiến sĩ, dân công đang công tác, chiến đấu, phục vụ ngoài mặt trận, cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các địa phương còn quan tâm giúp đỡ và kêu gọi nhân dân ủng hộ, trợ giúp những gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội, cán bộ, dân công hỏa tuyến… gặp khó khăn. Phong trào đón nhận thương binh về làng chăm sóc, nuôi dưỡng được nhân dân hưởng ứng. Những việc làm tốt đẹp ở hậu phương đã cổ vũ những chiến sĩ ưu tú của ba tỉnh đang chiến đấu quên mình trên tiền tuyến.

Nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ nặng nề của một hậu phương chiến lược, kết hợp với các đợt phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất, Liên khu ủy đã lãnh đạo các địa phương vùng tự do đẩy mạnh công tác xây dựng đảng. Cuối năm 1953, đầu năm 1954, liên khu và các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục mở nhiều lớp chỉnh đảng, chình huấn tập trung hoặc tại chức cho số đông cán bộ, công nhân viên, kể cả đảng viên và người ngoài đảng. Qua kiểm thảo và chỉnh huấn, tư tưởng trường kỳ kháng chiến, gian khổ, tự lực cánh sinh, lập trường giai cấp, quan điểm quần chúng của cán bộ, đảng viên được nâng lên. Những sai lạc của cán bộ như cầu an, sợ khổ, sợ khó, kèn cựa địa vị, mất đoàn kết, tác phong quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng… được khắc phục rõ rệt.

Liên khu ủy cũng thực hiện tốt công tác điều động cán bộ phục vụ cho công tác trong liên khu cũng như cho Trung ương. Trong sáu tháng đầu năm 1953, liên khu đã điều động 858 cán bộ các cấp (trong đó có 12 tỉnh ủy viên, 166 huyện ủy viên và tương đương, 411 chi ủy viên và tương đương, 269 tổ trưởng đảng và cán bộ thôn, xóm, 114 cán bộ, nhân viên, 337 học sinh lớp 8, 9…)(1).


(1) Báo cáo số 39 BC/LK4 (21-6-1954) về tình hình sáu tháng đầu năm 1954 của Liên khu IV, Tlđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM