Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Hai, 2020, 06:49:09 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 42530 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #110 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:45:35 PM »

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Liên khu IV đã tổ chức hội nghị đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm tới các ngành, các cấp. Trọng tâm phấn đấu trong toàn liên khu là phát triển sản xuất để cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cung cấp cho bộ đội, có nhiều sản phẩm để trao đổi ngoại thương và đấu tranh kinh tế với địch. Phát triển sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm sức người, sức của để phát triển và phục vụ sản xuất, giảm bớt chi tiêu ngân sách quốc gia, sử dụng đúng đồng tiền, hạt thóc của nhân dân, phấn đấu giảm bớt sự đóng góp của nhân dân. Chấn chỉnh các ban kinh tế từ cấp liên khu, tỉnh tới ban dân sinh kinh tế xã.

Liên khu ủy đã chỉ đạo các địa phương cần triệt để thống nhất quản lý chi thu, tăng thu, giảm chi để thực hiện cân bằng thu, chi tài chính. Tiếp tục bồi dưỡng sức dân thông qua các chính sách giảm tô, giảm tức, tạm chia ruộng đất cho nông dân. Đối với các ngành giao thông, vận tải, thủy lợi, tài chính, mậu dịch, thương mại, cũng có kế hoạch đầu tư phát triển. Trong vùng địch tạm chiếm, nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ mùa màng, chống chính sách vơ vét bóc lột kinh tế của địch.

Hòa nhập với phong trào chung của cả nước, Liên khu IV phát động cuộc vận động toàn dân hăng hái thi đua sản xuất, tiết kiệm mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đợt phát động tiến hành từ cuối tháng 3 đến tháng 5-1952 với khí thế Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Nông dân các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh và vùng căn cứ du kích Bình - Trị - Thiên thi đua khắc phục khó khăn, cần cù lao động sản xuất để tăng diện tích trồng trọt, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng để đóng góp nhiều hơn cho kháng chiến. So với cuộc vận động đầu năm 1951, cuộc đại vận động sản xuất, tiết kiệm đầu năm 1952 diễn ra cả về bề rộng và chiều sâu.

Theo tiếng gọi của Đảng, Chính phủ, hàng triệu đồng bào ở đồng bằng, miền núi, vùng đô thị, vùng đồng bào lương và vùng đồng bào công giáo, phật giáo đã tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất, tiết kiệm, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đảm bảo cung cấp đủ lương thực để bộ đội ăn no, đánh thắng địch.

Thời gian đó, cường độ đánh phá của địch vào hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và vùng tự do, vùng căn cứ Bình - Trị - Thiên cũng diễn ra rất ác liệt. Đây cũng là một trong những thời kỳ gian nan nhất của liên khu. Giặc Pháp tiến hành cuộc chiến tranh lúa gạo hòng triệt phá các cơ sở tiếp tế hậu cần của nhân dân cho lực lượng vũ trang kháng chiến. Chúng đánh nống ra các vùng, cắt đứt đường giao thông, chặn các con đường tiếp tế ra, vào các khu căn cứ. Mặt khác, nhận thấy vị trí của hậu phương là nhân tố quyết định trong việc cung cấp sức người, sức của cho các mặt trận, nhất là phục vụ trực tiếp các chiến dịch lớn, giặc Pháp đã dùng máy bay ném bom, bắn phá hầu hết các công trình thủy lợi, lùng sục để đốt phá các kho tàng, công xưởng, để ngăn chặn nguồn tiếp tế tại chỗ và của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh cho các chiến trường, gây đói kém để nhân dân giảm sút tinh thần chiến đấu.

Nhưng cũng chính những năm 1952-1953, quân và dân ở hậu phương Liên khu IV đã thể hiện mãnh liệt sức sống của lực lượng kháng chiến. Để giữ vững và phát triển sản xuất trong hoàn cảnh bị địch thường xuyên bắn phá, đảng bộ và chính quyền các cấp trong liên khu đã huy động hàng vạt lượng dân công tham gia chống thiên tai, địch họa, tích cực khắc phục hậu quả chiến tranh, hàn vá những đoạn đê, cầu, cống xung yếu, sửa chữa các công trình thủy lợi, bảo đảm sản xuất.

Phát huy tinh thần chủ động và sáng kiến phát triển thủy lợi nhỏ, nên nông dân hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đã thực hiện tiêu úng, cấy được 147.000 mẫu lúa. Nông dân Hà Tĩnh đã đào hàng nghìn mét mương tưới nước, cấy thêm được 4.143 mẫu lúa. Thiếu sức kéo, nông dân các huyện Diễn Đàn, Anh Sơn, Hưng Nguyên đã cuốc hàng trăm mảnh đất để gieo cấy. Trên cơ sở kế hoạch sản xuất chung của toàn liên khu được đề ra, nhiều địa phương như Thanh Hóa đã có 49.009 hộ và ở Nghệ An có 43.284 hộ gia đình lập kế hoạch phát triển kinh tế và dăng ký thi đua sản xuất.

Trong phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp, nhiều tấm gương điển hình tiên tiến về thâm canh tăng năng suất, áp dụng kỹ thuật canh tác mới đã xuất hiện ở các địa phương. Được sự hướng dẫn và chỉ đạo của các cấp chính quyền, các địa phương đã tiến hành mở đại hội, bình xét, lựa chọn được 32 chiến sĩ thi đua trên mặt trận sản xuất nông nghiệp để tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc. Phong trào thi đua học tập anh hùng lao động Hoàng Hanh và các chiến sĩ thi đua Trịnh Xuân Bái, Ngô Văn Phú, Trương Thị Xin… đã phát triển rầm rộ ở khắp các địa phương. Việc áp dụng kỹ thuật mới trong canh tác như hướng dẫn nông dân cày ải, cầy sâu, bón lót, dùng phân xanh, cào cỏ Nghệ An và dùng cày 51…, được áp dụng khá rộng rãi. Nhiều nơi đã chuyển từ cấy một vụ thành cấy hai vụ; một số giống cây trồng mới như cà chua, đỗ, lạc được lưu chuyển từ vùng này sang vùng khác để tạo nguồn thực phẩm tại chỗ cho nhân dân. Trong sản xuất nông nghiệp, nông dân ở nhiều nơi đã tự giác tham gia phong trào xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã, lập nhóm sản xuất nhằm hợp sức chống thiên tai, địch họa. Đến năm 1952, tại Liên khu IV đã xây dựng được 7.725 tổ đổi công, hợp công, nhóm lao động sản xuất.

Nhờ nêu cao tinh thần dũng cảm, cần cù chịu khó trong lao động sản xuất nên diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực của các tỉnh trong Liên khu IV vẫn ổn định. Chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, gà, vịt, v.v. cũng phát triển trong từng gia đình và một số đơn vị chăn nuôi tập thể.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #111 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:47:00 PM »

Song song với cuộc vận động đẩy mạnh sản xuất trong nông nghiệp, phong trào giao nộp đủ và đúng thời hạn thuế nông nghiệp đã trở thành một phong trào thi đua yêu nước rộng rãi. Không chỉ nhân dân trong vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh mà nhân dân trong vùng các vùng du kích cũng tích cực hưởng ứng. thi đua với nông dân, cán bộ công chức, bộ đội, học sinh ở Bình - Trị - Thiên tranh thủ sản xuất để tự cung, tự cấp một phần lương thực, thực phẩm. Công nhân Liên khu IV đã cung cấp cho nông dân hàng vạn công cụ để phục vụ sản xuất.

Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong đồng bào các dân tộc từ miền núi đến đồng bằng ven biển đã được nhân rộng không chỉ trong phạm vi từng thôn, từng xã mà trở thành phổ biến của đại đa số các tầng lớp nhân dân. Bà con đã phát huy truyền thống tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách”, giúp nhau giống, vốn để phát triển chăn nuôi, trồng trọt. Những lúc khó khăn do địch bao vây, phong tỏa hàng hóa, nhưng hàng nghìn tấn muối và hàng vạn lít nước mắm của đồng bào vùng biển đã được vận chuyển vượt vòng vây của kẻ thù tiếp tế cho đồng bào vùng đồng bằng, trung du và miền núi.

Nhân dân vùng địch tạm chiếm vừa chiến đấu chống giặc càn quét, bảo vệ mùa màng, vừa tích cực tham gia cuộc vận động sản xuất, tiết kiệm. Các cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào chống giặc bắn đại bác, chống xe lội nước quần phá hoa màu, đòi bồi thường thiệt hại… liên tiếp diễn ra ở Gio Linh, Hải Lăng (Quảng Trị), Hướng Hóa, Vĩnh Linh (Quảng Bình). Nhân dân các vùng giáp ranh, vùng tạm chiếm của Thừa Thiên cũng liên tục đấu tranh chống bắt phu, bắt lính và các loại sưu cao, thuế nặng của chính quyền tay sai. Ở nhiều nơi, bộ đội, dân quân, du kích đã giúp đỡ đồng bào khẩn trương thu hoạch nhanh lúa, màu, cất giấu rồi tìm cách vận chuyển nộp thuế cho Chính phủ và tiếp tế cho bộ đội.

Sự phát triển về sản xuất nông nghiệp của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và một số vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến Bình - Trị - Thiên đã cung cấp lương thực cho bộ đội, bảo đảm nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách của Trung ương, đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của mặt trận. Nguồn thu từ thuế nông nghiệp cũng là nguồn thu chủ yếu để bảo đảm chi tiêu ngân sách ở địa phương. Từ năm 1952, tại liên khu đã phát triển các kho dự trữ lương thực và tự điều chỉnh phần lớn yêu cầu cung cấp của mặt trận và phòng đói, cứu đói giữa các vùng trong liên khu.

Ở vùng tự do và căn cứ du kích của tỉnh Thừa Thiên, nông dân đã phục hóa được 1.500 mẫu ruộng bị bỏ hoang. Nhiều nơi không còn trâu bò, nông dân đã dùng sức người kéo cày để bảo đảm gieo cấy đúng thời vụ và chú ý phấn đấu thâm canh tăng năng suất mùa vụ.

Trên cơ sở sản xuất nông nghiệp phục hồi và phát triển, đời sống của nông dân từng bước được cải thiện hơn. Việc giảm tô, giảm tức, tạm chia ruộng đất được các cấp ủy đảng,chính quyền, nông hội điều chỉnh để bảo vệ lợi ích của nông dân và hạn chế sự bóc lột của địa chủ, phong kiến. Kết quả của việc quân cấp công điền, công thổ và thực hiện giảm tô từ 25% đến 35% cho nông dân vùng tự do, vùng căn cứ đã làm cho bà con nông dân phấn khởi. Nhiều gia đình đã xóa được nợ cũ, được vay thêm vốn và được tạm cấp ruộng đất, có điều kiện cải thiện cuộc sống và đóng góp nhiều hơn cho kháng chiến.

Trung ương đã giao cho Liên khu IV mức thuế nông nghiệp vụ chiêm xuân năm 1952 là 110.000 tấn thóc, tăng gấp ba lần so với số tạm thu cuối năm 1951. Nhận thức đó là trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến, Liên khu ủy đã chỉ đạo các cấp bộ đảng và chính quyền vận động nông dân phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đói với sự nghiệp đánh giặc, cứu nước. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xung phong gương mẫu đi đầu trong công tác vận động tuyên truyền nhân dân và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình để tạo thêm niềm tin cho quần chúng.

Thuế nông nghiệp tạm thu vụ chiêm xuân năm 1952 của các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa đã đạt từ 80 đến 95%. Riêng tỉnh Hà Tĩnh, do cán bộ thiếu chủ động và gương mẫu, mặt khác một số địa chủ, phú nông đã tìm cách giấu sản lượng và diện tích nên thuế thu vụ chiêm năm 1952 không đạt được chỉ tiêu Trung ương giao. Ngày 1-10-1952, Ban Thường vụ Liên khu ủy ra chỉ thị mở đợt kiểm điểm việc thi hành chính sách thuế nông nghiệp. “Giáo dục cho nhân dân về ý thức kiểm thảo là xây dựng cho nhau, cán bộ ai làm sai chính sách của chính phủ thì nhân có nhiệm vụ chỉ cho người đó biết là họ làm sai và giúp cho họ làm đúng, nhân dân người nào chưa đóng góp hoặc có những lời nói hoặc hành động ngăn cản sự đóng góp của nhân dân là chưa làm tròn nhiệm vụ yêu nước thì người khác có nhiệm vụ chỉ cho họ thấy sai lầm đó và xây dựng cho người đó có lòng yêu nước thực sự”(1).

Sau khi nhận được chỉ thị của Liên khu ủy, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã mở cuộc vận động phê bình và tự phê bình trong Đảng, chính quyền và các cấp hội nông dân. Với tinh thần kiên quyết và triệt để nên trong một thời gian ngắn, thuế tạm thu đã đạt 80% mức liên khu giao. Trong đợt đó, xã Hoàng Trinh, huyện Kỳ Anh do làm tốt công tác tuyên truyền vận động nên đã hoàn thành vượt mức 20 tấn. Với thành tích trên, huyện Kỳ Anh cùng với một số điển hình tiên tiến khác của hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa đã được Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu tuyên dương. Tỉnh Hà Tĩnh còn huy động dân công vận chuyển 500 tấn gạo vào Quảng Bình và giao 3.030 tân binh bổ sung cho quân chủ lực. Cùng với cuộc vận động thuế nông nghiệp, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh còn là nơi nuôi dưỡng, cứu chữa cho hàng ngàn thương binh, bệnh binh của các mặt trận gửi về.

Ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ đóng góp bằng thóc và các loại hiện vật khác, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động hàng triệu lượt dân công phục vụ các chiến dịch và các mặt trận. Riêng trong chiến dịch Hòa Bình, dân công các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh cùng với ngành hậu cần quân đội đã vận chuyển gần 20 tấn vũ khí đạn dược, 6.275 tấn lương thực, 70 tấn thịt lợn và 50 tấn thực phẩm khác. Nhân dân Liên khu IV đã đóng góp 333.400 lượt người đi dân công với 11.914.000 ngày công.

Tháng 7-1952, thực hiện quy định mới của Hội đồng Chính phủ, Liên khu ủy đã thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận và các tỉnh cũng thành lập các ban huy động dân công để huy động nhanh và nhiều nhất sức người, sức của cho mặt trận.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chinh trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.13, tr.444-445.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #112 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:47:35 PM »

Cùng với phong trào phát triển sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp trong liên khu cũng chuyển biến mạnh. Nhiều chính sách mới của Đảng, Chính phủ về mậu dịch, ngân hàng, tài chính, tín dụng có tác dụng khuyến khích công, thương nghiệp, tiểu công nghệ phát triển sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu cho bộ đội và đời sống của nhân dân.

Cuộc vận động thi đua sản xuất, tiết kiệm trong các nhà máy, công xưởng do các cấp chính quyền và tổ chức công đoàn liên khu phát động đã lôi cuốn hàng nghìn công nhân quốc phòng, thợ thủ công hăng hái tham gia các phong trào như tăng năng suất, cải tiến kỹ thuật, học tập các gương điển hình tiên tiến. Trong phong trào thi đua đã xuất hiện hàng nghìn sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Trong nhiều xí nghiệp quốc phòng, công nhân tăng năng suất từ 15% đến 50%. Nhiều xí nghiệp khai thác than đá, than bùn, phốt phát, diêm sinh và chế biến cà phê ở các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đạt và vượt năng suất từ 10% đến 100%. Các mỏ than ở Khe Bố (Nghệ An), Châu Long (Hà Tĩnh), phốtphát ở Cát Vân (Nghệ An)… cải tiến kỹ thuật khai thác, đạt năng suất cao hơn nhiều so với trước.

Được sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng và qua tổng kết, rút kinh nghiệm về tổ chức quản lý, phát huy khả năng sáng tạo của công nhân, ngành công nghiệp quốc phòng đóng trên địa bàn liên khu đã phát triển nhanh cả về kỹ thuật và chủng loại, năm 1952, đạt xấp xỉ 300% so với năm 1950. Công nghiệp quốc phòng của liên khu đã phát triển cả trong công binh, quân nhu, quân dược, với nguyên liệu tại chỗ là chủ yếu.

Trải qua thực tiễn sản xuất và chiến đấu bảo vệ sản xuất, ngành công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dân dụng đã đào tạo, phát triển hàng nghìn công nhân, kỹ thuật viên đạt trình độ sản xuất giỏi. Đó là vốn quý cho việc khôi phục đất nước sau chiến tranh.

Từ năm 1952, tại Liên khu IV đã có hàng chục cơ sở dệt vải như Hợp Tiến, Quyết Tiến (Nghệ An), Quảng Xuân (Quảng Bình) với khoảng trên 4.000 khung cửi, mỗi năm sản xuất được hàng nghìn mét vải khổ hẹp để phục vụ nhân dân và bộ đội. Trên 50 xưởng nhỏ sản xuất giấy cũng thường xuyên hoạt động cung cấp cho nhu cầu kháng chiến.

Đời sống còn nhiều thiếu thốn, nhưng với tinh thần chủ động, sáng tạo, giải cấp công nhân, thợ thủ công liên khu đã kiên trì vượt qua khó khăn, tích cực học tập, trao đổi kinh nghiệm để duy trì sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Các phong trào thi đua phá kỷ lục Ngô Văn Phú về cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất đã góp phần tăng năng suất từ 20% đến 120%.

Trên cơ sở những thành tích đạt được trong phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm, tháng 6-1952, liên khu đã bình chọn hơn 50 chiến sĩ thi đua của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và giới thiệu hàng nghìn sáng kiến cải tiến kỹ thuật tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc. Đại hội đã tuyên dương bảy anh hùng, trong đó có anh hùng lao động Hoàng Hanh là người con ưu tú tiêu biểu của quê hương Nam Đàn, Nghệ An.

Từ đầu năm 1952, do vận đụng linh hoạt chủ trương đấu tranh kinh tế với địch, Liên khu ủy đã chỉ đạo các địa phương chuyển hướng hoạt động bao vây kinh tế địch theo hướng có lợi cho phong trào kháng chiến. Chỉ thực hiện bao vây các loại hàng hóa xa xỉ, còn những loại hàng hóa cần cho kháng chiến như thuốc men, hóa chất, v.v. được nhập vào vùng kháng chiến. Ngoài ra, các địa phương cần khuyến khích thương nhân đem hàng hóa, nông sản dư thừa của vùng căn cứ, vùng tự do đi trao đổi, mua bán trong vùng địch tạm chiếm.

Chủ trương chuyển hướng đấu tranh kinh tế đã giúp cho các địa phương phá được thế bị địch bao vây kinh tế, đồng thời, khuyến khích nông dân hăng hái sản xuất để có hàng hóa tự do trao đổi. Sự giao lưu hàng hóa giữa các vùng được mở rộng đã góp phần từng bước ổn định thị trường và cải thiện đời sống của nhân dân.

Hòa nhập trong phong trào thi đua sản xuất và đánh giặc lập công, các hoạt động văn hóa, giáo dục trên địa bàn Liên khu IV cũng phát triển hơn trước. Với những thành tích đạt được trên mặt trận giáo dục, tháng 4-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư thăm hỏi động viên các thầy giáo, cô giáo và sinh viên đang công tác và học tập tại Trường dự bị đại học ở Thanh Hóa. Người viết: “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân.

Các cháu thì học tập gần gắn liền với thực hành để mai sau thực hiện mục đích cao quý: thật thà phụng sự nhân dân.

Trong phong trào toàn dân thi đua, chắc rằng ở trường cũng thi đua. Thầy thi đua dạy, trò thi đua học. Thầy và trò thật thà đoàn kết và dùng cách dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình) để giúp nhau tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi”(1).

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào xóa nạn mù chữ, bình dân học vụ ở Liên khu IV được tiếp tục duy trì và phát triển. Ngành giáo dục phổ thông được chấn chỉnh theo phương châm phục vụ kháng chiến, phục nhân dân. Từ năm 1951 đến năm 1952, trong điều kiện khó khăn, gian khổ, ngành giáo dục phổ thông và dự bị đại học trên địa bàn liên khu đã đào tạo được nhiều lớp học sinh, sinh viên đại học cho nền giáo dục dân tộc, dân chủ nhân dân.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.467.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #113 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:49:58 PM »

Đi đôi với công tác giáo dục, tại liên khu đã tiến hành bồi dưỡng chính trị cho các văn nghệ sĩ, quán triệt quan điểm văn hóa, văn nghệ phải thiết thục phục vụ kháng chiến. Hoạt động văn hóa, văn nghệ phải gắn bó và đi sát đời sống của quàn chúng nhân dân, phổ biến tuyên truyền rộng rãi chính sách của Đảng và Chính phủ phục vụ phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiện, hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế nông nghiệp, chỉnh quân, chỉnh đảng, v.v. Sáng tác văn xuôi, kịch, tấu, nhạc, họa ngày càng phát triển và được phổ biến trong toàn quân, toàn dân, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, nâng cao nhiệt tình cách mạng, phục vụ kháng chiến.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về công tác chỉnh đốn đảng, từ tháng 5-1952, Liên khu ủy đã tổ chức nhiều lớp học tập chính trị cho cán bộ liên khu và tỉnh về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, chính sách ruộng đất của Đảng, kiên định lập trường của giai cấp công nhân, giáo dục ý thức, tổ chức kỷ luật, chống tham ô, quan liêu, lãng phí, v.v. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ mục đích của công tác chỉnh đốn Đảng: Mục đích chỉnh đảng là nâng cao tư tưởng và trình độ chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản.

Nếu chúng ta chỉnh đảng thành công thì nó sẽ khuếch trương những thắng lợi về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v.

Do chỉnh đảng mà Đảng rèn luyện chỉnh đốn và tăng cường đội ngũ của mình, để giữ vững trường kỳ kháng chiến đến thành công. Đó là ý nghĩa của việc chỉnh đảng”(1).

Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, cơ quan, nhà trường đều tiến hành học tập chính trị. Các đơn vị vũ trang của liên khu tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập lý luận gắn liền với liên hệ thực tiễn chiến đấu; kiểm điểm, phê bình, tự phê bình về tác phong công tác, nâng cao giác ngộ giai cấp trong quân đội; nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.

Cuộc chỉnh đốn đảng được tiến hành thực hiện từ cấp Liên khu ủy đến Đảng ủy mặt trận Bình - Trị - Thiên và các tỉnh ủy. Các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đã kết hợp chặt chẽ công tác chỉnh đốn Đảng với củng cố, xây dựng chính quyền các cấp. Cuối tháng 3-1952, Đảng ủy mặt trận Bình - Trị - Thiên đã tiến hành chỉnh đốn đảng rộng rãi trong bộ đội. Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã xác định công tác xây dựng đảng là vấn đề then chốt, trong đó nêu rõ những nội dung cụ thể: yêu nước, yêu dân, bám sát dân, chăm lo quyền lợi của nhân dân, phát huy khả năng và sáng kiến của nhân dân kết hợp với tổng kết kinh nghiệm của Đảng để hoàn thành mọi nhiệm vụ công tác, phục vụ kháng chiến lâu dài. Đảng bộ tỉnh cũng chấn chỉnh lại cơ quan lãnh đạo các cấp, bổ sung những cán bộ có năng lực và phẩm chất của các cấp ủy đảng, chính quyền. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra nghị quyết về triển khai công tác vận động trí thức, phê phán thái độ thành kiến, hẹp hòi, mệnh lệnh, chưa phát huy hết khả năng và sự cống hiến của trí thức và sự nghiệp kháng chiến.

Ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, công tác chỉnh đảng được tiến hành nghiêm túc, thông qua kiểm điểm rút kinh nghiệm về thực hiện chính sách ruộng đất và chính sách thuế nông nghiệp nhằm bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, đi sát dân, chống mệnh lệnh, quan liêu, máy móc.

Theo phương hướng đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng ở Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đi vào nề nếp. Từ tháng 7-1952 đến tháng 10-1953, Liên khu ủy đã mở nhiều lớp huấn luyện cho 14.316 cán bộ, đảng viên, nhân viên, công chức cấp liên khu và cấp tỉnh nhằm bồi dưỡng trình độ lý luận, nâng cao nhận thức, quan điểm, lập trường về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi. Phương thức huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ là gắn lý luận với thực tiễn, chú trọng đào tạo cán bộ cốt cán cho các cấp, các ngành, nhất là cấp xã; chú trọng đề bạt cán bộ xuất thân từ công nhân, nông dân. Đó là những hạt nhân nòng cốt trong lực lượng vũ trang và trong các ngành dân, quân, chính, đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương sáng tích cực vận động nhân dân tham gia kháng chiến.

Trong xây dựng đảng, các đảng bộ tỉnh đã thực hiện đúng những quy định của Trung ương về Đảng ra hoạt động công khai lãnh đạo kháng chiến, nhưng chống phô trương, hình thức. Các đảng bộ luôn chú trọng phát triển đảng viên, nhưng cũng tích cực chống hiện tượng chạy theo số lượng đơn thuần. Việc phát triển đảng viên phải đi đôi với củng cố tổ chức đảng các cấp.

Liên khu ủy đã chỉ đạo các đảng bộ địa phương phải luôn coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, rèn luyện tác phong dân chủ, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Trong từng cơ sở đảng phải công khai tự phê bình trước nhân dân để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, nhất là những biểu hiện tả khuynh, hữu khuynh, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, phải tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đẩy mạnh hoạt động kháng chiến, kiến quốc. Cơ cấu các đảng ủy, chi hủy và chính quyền cấp cơ sở dần dần thay đổi. Cán bộ xuất thân từ tầng lớp bần, cố nông chiếm tỷ lệ cao trong cấp ủy. Có nơi, cán bộ xuất thân là bần, cố nông chiếm tới 80 - 90%. Ủy ban kháng chiến hành chính cấp liên khu và tỉnh là cơ quan đại diện cao nhất của Chính phủ trong việc quán lý các cơ quan hành chính ở địa phương, quản lý cán bộ công nhân viên và quản lý ngân sách đối với tất cả các ngành theo nguyên tắc dân chủ, tập trung. Trong điều kiện vừa chiến đấu, vừa tham gia quản lý bộ máy chính quyền các cấp, nhiều cán bộ, đảng viên đã nêu cao tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh quên mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhưng bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện của sự thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì vậy, các tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công bị lên án mạnh mẽ. Hàng nghìn cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu đã được đưa ra kiểm điểm trước quần chúng, hàng trăm người bị thi hành kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, cách chức và đưa ra khỏi đảng. Tổ chức đảng các cấp đã được củng cố, được quần chúng tin yêu.

Liên khu ủy đã chỉ đạo các cấp Đảng bộ quán triệt phương châm tinh giản bộ máy đảng và chính quyền các cấp. Nhờ đó, bộ máy lãnh đạo gọn nhẹ hơn, tác phong, lề lối làm việc được cải tiến. Hệ thống tổ chức đảng được tổ chức chặt chẽ từ Liên khu ủy tới các đảng bộ cơ sở. Để giữ vững sự chỉ đạo thống nhất trong đảng, các cấp ủy đã duy trì chế độ báo cáo thường kỳ, chú trọng công tác đảng trong các lực lượng vũ trang, thiết lập chế độ đảng ủy trong bộ đội chủ lực của liên khu.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 480.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #114 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:55:46 PM »

Đi đôi với hoạt động chỉnh đốn đảng, chỉnh quân, công tác xây dựng, kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã được tiến hành khẩn trương, tích cực nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh công cụ của nhân dân ở cơ sở để lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc, cải thiện dân sinh.

Đầu năm 1952, kiểm điểm về công tác xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, Liên khu ủy nhận định: Mặc dù đã được củng cố, xây dựng, nhưng nhìn chung, chính quyền từ liên khu, tỉnh đến xã vẫn chưa làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình, chưa thực sự là công cụ sắc bén của nhân dân để giải phóng cho mình và xây dựng đời sống ngày càng cao hơn. Liên khu ủy cũng nêu rõ nguyên nhân của tình trạng trên là do đội ngũ cán bộ còn có những tư tưởng ngại hy sinh gian khổ, giảm sút lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến; trình độ, năng lực cán bộ còn thấp, chưa theo kịp với yêu cầu của nhiệm vụ mới; trong các cơ quan chính quyền, còn một bộ phận thành phần bóc lột có biểu hiện chống lại chính sách của Đảng, v.v. Vì vậy, việc củng cố hệ thống chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã có vị trí rất quan trọng. Đến giữa năm 1952, việc bầu cử hội đồng nhân dân ở sáu tỉnh và củng cố chính quyền tại 672 xã trong toàn liên khu hoàn thành. Qua đó, các bộ phận chức năng phụ trách khối kinh tế - tài chính và một số cơ quan khác như tòa án, tư pháp, công an cũng được củng cố và nâng cao hiệu quả trong công tác.

Trong xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền, cũng diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp nhằm chống lại một bộ phận của giai cấp bóc lột còn nằm lại trong bộ máy chính quyền của nhân dân. Do đó, việc tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh và huyện, xây dựng chính quyền ở xã là cần thiết để nhằm bảo đảm sự lựa chọn sáng suốt của quần chúng và đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, để chính quyền đó dựa trên nền tảng công - nông liên minh, song cũng hết sức chú ý tới các thành phần khác có công đóng góp cho kháng chiến như các nhân sĩ, trí thức v.v. Những thành phần tham gia bóc lột hoặc yếu kém về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức đều dần dần bị đưa ra khỏi hệ thống chính quyền các cấp. Tình trạng chồng chéo của các cơ quan chức năng và bộ máy cồng kềnh cũng được khắc phục từng bước.

Trên trận tuyến an ninh, với tinh thần cảnh giác của quần chúng nhân dân và sự đấu tranh kiên quyết, mạnh mẽ của công an Liên khu IV, chúng ta đã có đầy đủ chứng cứ để vạch trần những hành động phá hoại của một số phần tử phản động tay sai của địch cài cắm trong tổ chức Phật giáo và Thiên Chúa giáo ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa; đặc biệt là tổ chức Liên tôn chống cộng do Mai Bá Nhạc, Trương Thái Gián (Tuệ Chiếu), Nguyễn Văn Sinh (Tuệ Quang) cầm đầu. Thủ đoạn của chúng là bố trí đưa người len lỏi vào trong cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể kháng chiến để xuyên tạc và chống lại từ bên trong việc thi hành các chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Chúng còn bố trí những kẻ chỉ điểm để máy bay địch đánh phá các kho tàng, xí nghiệp, chợ, đê điều; phá hoại công tác huy động dân công phục vụ tiền tuyến, kích động đảo ngũ trong lực lượng vũ trang.

Không khoan nhượng trước những âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, lực lượng công an liên khu đã tiến hành điều tra vụ án mang bí số TF8, lần lượt truy bắt 127 kẻ phản cách mạng, đưa ra truy tố công khai trước tòa án nhân dân, vạch mặt và trừng trị đích đáng tội làm tay sai cho giặc, phản bội Tổ quốc, hại dân, hại nước.

Cùng với việc tiến công vào các tổ chức phản động Liên tôn chống cộng trong Hội Phật giáo cứu quốc ở Thanh Hóa, Nghệ An, Liên khu ủy cũng chỉ đạo Tỉnh ủy Nghệ An và công an đấu tranh ngăn chặn vụ phản loại của những kẻ phản động lợi dụng công giáo ở Hưng Yên (Hưng Nguyên). Tại đây, những phần tử phản động đã xúi giục nhân dân chống tổ công tác vào vận động nhân dân thực hiện chính sách thuế nông nghiệp đánh bị thương cán bộ, cướp tài liệu và ngoan cố chống lại người thi hành công vụ.

Để lập lại an ninh, trật tự và giữ nghiêm pháp luật, lực lượng công an Nghệ An đã kiên quyết trừng trị những kẻ cầm đầu phản động, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân thấy rõ bộ mặt phản động của những kẻ gây chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết lương giáo. Cũng trong dịp này, Liên khu ủy đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động trong các vùng tôn giáo, giải thích rõ chính sách mặt trận, đoàn kết của Đảng Chính phủ,đặc biệt là chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào theo đạo; tích cực giải đáp những yêu cầu, thắc mắc của giáo dân về các chính sách giảm tô, giảm tức, thuế nông nghiệp, v.v. để nhân dân yên tâm, phấn khởi sản xuất, tích cực ủng hộ kháng chiến.

Tuy nhiên, trong quá trình củng cố tổ chức, ở một số địa phương do không quán triệt đầy đủ chủ trương của Đảng nên mắc một số khuyết điểm. Đó là sự thiếu kiên trì trong vận động, thuyết phục quần chúng, biểu hiện xa dân, chủ quan, thành kiến, hẹp hòi, đối xử không thỏa đáng với những cán bộ không xuất thân từ thành phần cơ bản Trong khi một số cán bộ có nguồn gốc xuất thân từ thành phần cơ bản nhưng do trình độ, năng lực yếu đã không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc còn có những biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh, một chiều, chạy theo quần chúng cũng như “tả” khuynh, mệnh lệnh, áp đặt từ trên xuống. Trong công tác đảng, công tác chính quyền ở vùng căn cứ du kích, có nơi không chấp hành nghiêm kỷ luật đảng, tùy tiện bộc lộ lực lượng. Chủ trương kéo dài quá lâu việc đình chỉ phát triển đảng viên mới đã gây bất lợi cho công tác xây dựng đảng vì không khuyến khích và không kịp thời bổ sung vào hàng ngũ tổ chức đảng những người ưu tú. Công tác dân vận đôi lúc, đôi nơi bị buông lơi, thiếu kiên trì vận động, thuyết phục quần chúng. Những khuyết điểm trên mặc dù chưa phải trầm trọng, nhưng cũng ảnh hưởng đến tư tưởng và đoàn kết trong nội bộ nhân dân.

Nhìn chung, công tác chỉnh đảng, chỉnh quân trong hầu khắp các địa phương đã khơi dậy niềm tin, phấn khởi và nhiệt tình cách mạng cho cán bộ, đảng viên gương mẫu xung phong trên các mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và huy động sức mạnh của hậu phương phục vụ tiền tuyến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #115 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:56:08 PM »

Cùng với phong trào xây dựng hậu phương, thực hiện giảm tô, giảm tức, thu thuế nông nghiệp, chỉnh huấn chính trị…, nhiệm vụ tác chiến ở Liên khu IV, nhất là tại mặt trận Bình - Trị - Thiên vẫn luôn luôn là công việc thường trực nóng bỏng.

Trong những đợt hoạt động quân sự liên tục trong xuân - hè năm 1952, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã phá nhiều vị trí then chốt của địch ở bắc Quảng Bình và một số vùng thuộc phía nam tỉnh Thừa Thiên. Thắng lợi về quân sự đã góp phần tiêu diệt một phần sinh lực địch tại mặt trận Bình - Trị - Thiên đẩy chúng ngày càng sao vào thế bị động, lúng túng. Địch buộc phải rút khỏi Ba Đồn, Nam Đông, Sơn Tùng, La Khê, Hương Cầu, Tuyên Nam, đường 74 và vị trí Sen Bàng. Vùng giải phóng phía bắc tỉnh Quảng Bình được mở rộng cả về phía bắc và phía tây nối liền với vùng tự do của tỉnh Hà Tĩnh. Công tác xây dựng đảng, củng cố cơ sở và phong trào kháng chiến ở vùng địch hậu tiếp tục được phát triển.

Mặc dầu bị thua và tổn thất nặng, quân Pháp vẫn ra sức sức càn quét, lấn chiếm, chia cắt các khu căn cứ kháng chiến ở Liên khu IV. Ở Bình - Trị - Thiên, địch đóng thêm bốn vị trí trong vùng Quảng Điền, tám vị trí ở Triệu Phong, năm vị trí ở Hàng Ninh và nhiều nơi khác ven thị xã, thị trấn. Đến giữa năm 1952, Bộ Chỉ huy quân đội Pháp phải điều thêm 6.000 quân ứng chiến từ Bắc Bộ vào tăng viện cho quân chiếm đóng ở Bình - Trị - Thiên. Lực lượng địch gồm các đơn vị lính Âu - Phi, lính khố đỏ, Vệ binh đoàn.

Để tăng nhanh lực lượng binh lính người Việt, địch đẩy mạnh việc bắt lính bằng các thủ đoạn tinh vi hơn và quyết liệt hơn. Trong các vùng tạm bị chiếm, chúng dùng vật chất để dụ dỗ, kết hợp với cưỡng bức thanh niên đi lính. Đối với vùng ven và vùng căn cứ du kích, chúng đề ra chỉ tiêu: cứ sau mỗi trận càn quét phải vây bắt cho được từ 13 đến 130 thanh niên đi lính. Với các biện pháp bắt lính nêu trên, chỉ riêng trong tháng 6 và tháng 7-1952, địch đã cưỡng ép gần 4.000 thanh niên để bổ sung cho lực lượng vệ binh đoàn. Nhiều học sinh đang theo học tại các trường trung học trong vùng tạm bị chiếm cũng bị ép đi học Trường sĩ quan Đà Lạt.

Đi đôi với việc bắt binh lính người Việt, chúng ra sức tuyên truyền, lừa mị họ về “ý thức quốc gia” và tư tưởng chống cộng, lưu manh hóa những phần tử phản động. Việc phát triển mạnh quân đội tay sai là một âm mưu thâm độc của thực dân Pháp nhằm bổ sung quân số đang bị thiếu hụt trên các chiến trường.

Sau khi được đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ, nhất là vũ khí tối tân, thực dân Pháp đã tăng nhanh lực lượng quân ứng chiến và quân cơ động ở nhiều chiến trường. Riêng ở Bình - Trị - Thiên, quân Pháp đã củng cố bảy tiểu đoàn cơ động, 17 tiểu đoàn ứng chiến và xây dựng thêm nhiều đơn vị Vệ binh đoàn, tổ chức hương dõng làm nhiệm vụ hỗ trợ cho quân ứng chiến. Sự tăng cường binh lực của địch thể hiện sự bị động, lúng túng của quân Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, nhưng cũng đã gây cho phong trào kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên nói riêng và Liên khu IV nói chung những khó khăn mới.

Về chính trị, để củng cố chính quyền cơ sở và huy động triệt để khả năng chống cộng của những phần tử tay sai, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương sau khi làm lễ tấn phong Lê Quang Thiết thay Trần Văn Lý làm Thủ hiến Trung Phần, đã tiến hành cải tổ bộ máy chính quyền cấp tỉnh, đưa số tay sai phản động mới về củng cố bộ máy chống cộng ở cơ sở.

Trên cục diện chiến trường, mặc dù lực lượng vũ trang kháng chiến đã tiêu diệt được nhiều vị trí quan trọng của quân Pháp ở bắc Quảng Bình và nam Thừa Thiên, nhưng địch vẫn còn chốt giữ 190 đồn bốt và 191 tháp canh, chúng chiếm đóng nhiều nhất vẫn là ven các đô thị, dọc các tuyến giao thông quan trọng và đường quốc lộ 1. Địch cưỡng bức dân di dời và triệt hạ hàng nghìn ngôi nhà của đồng bào ở Quảng Xuyên, Tân Lộc, Phú Lộc… để mở rộng hệ thống vành đai trắng bao quanh các vị trí đóng quân của chúng. Ngoài ra, địch còn phát triển các tiểu đoàn biệt kích để đối phó với phong trào chiến tranh du kích. Chúng thường xuyên tung gián điệp, chỉ điểm vào vùng tự do, vùng căn cứ để dò la tin tức của bộ đội; nhiều phần tử phản động đã tìm mọi cách lọt vào tổ chức kháng chiến để phá hoại phong trào.

Với những cố gắng mới, địch đã thay đổi phương thức hoạt động. Chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô vừa và nhỏ đan xen liên tục đánh sâu vào vùng căn cứ du kích nhằm ở rộng phạm vi chiếm đóng để giành lại thế chủ động trên chiến trường Bình - Trị - Thiên. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống địch bình định, lấn chiếm ở Bình - Trị - Thiên tiếp tục diễn ra rất quyết liệt, thậm chí có nơi, có lúc chúng còn chiếm ưu thế về quân sự.

Về phong trào kháng chiến, lực lượng vũ trang ba thứ quân đã phát triển mạnh hơn giai đoạn trước, trang bị vũ khí và kỹ thuật tác chiến có nhiều tiến bộ, có khả năng chủ động tiến công tiêu diệt sinh lực địch. Tuy nhiên, trước những thay đổi mới về phương thức hoạt động đánh phá ác liệt và thâm độc của địch, phong trào kháng chiến chưa có kinh nghiệm đối phó kịp thời. Mặt khác, trong tác chiến phối hợp giữa ba thứ quân, ta chỉ chú trọng chống những cuộc càn quét lớn của địch. Tư tưởng chủ quan trong bố trí lực lượng ở một số vùng căn cứ du kích còn phổ biến. Việc củng cố cơ sở, củng cố các phong trào kháng chiến thiếu liên tục. Do đó, địch đã thực hiện được một phần âm mưu cướp của, giành dân, bắt lính.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #116 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:57:53 PM »

Bước vào hè - thu năm 1952, lợi dụng ưu thế về binh lực, quân Pháp đã liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân phản kích với quy mô lớn và dài ngày đánh vào vùng căn cứ Phong -Quảng, Hải Lăng, Vĩnh Xương và Thanh Hương. Mục đích của địch là càn quét, cướp phá vùng đông dân, nhiều của, tiêu diệt các đơn vị bộ đội chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến.

Ngày 8-7-1952, địch tập trung năm tiểu đoàn, 30 xe lội nước, 13 máy bay và nhiều vũ khí mới do Mỹ trang bị, mở một cuộc càn quét lớn mang tên cuộc hành quân Catherine đánh vào vùng đồng bằng căn cứ Phú Vang. Trong lúc này, lực lượng vũ trang kháng chiến tại đây chỉ có hai đại đội thuộc Tiểu đoàn 231 và Đại đội 325 huyện Phú Vang cùng dân quân, du kích đã kiên cường bám trụ, chiến đấu dũng cảm để ngăn cản bước tiến của địch. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch, lại thiếu sự chuẩn bị bố trí trận địa, quân địch bao vây nhiều hướng nên chúng đã tràn vào vùng căn cứ tiếp tụ thực hiện các thủ đoạn cướp sạch, đốt sạch, phá sạch gây nhiều tội ác đối với đồng bào. Riêng trong trận càn này, địch đã cướp đi của nông dân gần 2.000 tấn lúa, phá nhiều cơ sở kháng chiến và bắt 500 thanh niên đưa vào các trại tập trung huấn luyện.

Chiếm được vùng căn cứ Phú Vang, địch củng cố thêm bàn đạp, tiếp tục mở rộng diện bình định, lấn chiếm nhiều vùng căn cứ kháng chiến ở phía nam tỉnh Thừa Thiên. Tiếp đó, chúng ra sức củng cố bộ máy tề điệp để kìm kẹp nhân dân các vùng Xuân Ô, Trung Hà, Hòa Đa, v.v.

Sau trận càn Catherine, trong những tháng tiếp theo, quân Pháp liên tục mở các trận càn quét lớn mang những cái tên “chiến dịch châu chấu” (opération sauterelle), “chiến dịch cá sấu” (opération caiman) đánh sâu vào các vùng đông dân, trù phú ở Thanh Hương, Vĩnh Xương và nhiều vùng khá ở phía nam tỉnh Thừa Thiên. Trận càn châu chấu, địch huy động tới 12 tiểu đoàn, trong đó có bốn tiểu đoàn xe tăng đổ bộ từ đường biển. Trận càn cá sấu, quân Pháp điều một binh đoàn từ chiến trường Bắc Bộ, một tiểu đoàn từ chiến trường Nam Bộ, kết hợp cả hải, lục, không quân. Trận càn này có quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương De Linarès đích thân đến thị sát. Địch đã cố gắng đến mức tối đa trong việc thực hiện kế hoạch chuyển giao công việc chiếm đóng chiến trường Bình - Trị - Thiên cho đội quân người Việt. Những cuộc phản kích của địch đã gây cho phong trào kháng chiến rất nhiều khó khăn, tổn thất. Nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chủ quan, mất cảnh giác. Trong cơ quan tham mưu của Trung đoàn 101 có kẻ phản bội làm gián điệp đã báo cho địch biết địa điểm đóng quân. Trung đoàn 101 bị bao vây ở Mỹ Lợi đã tiếp tục chiến đấu rồi di chuyển đến Quảng Điện. Quân Pháp dùng cả tàu hải quân dọc phá Tam Giang, thiết giáp và quân nhảy dù đánh vào trung đoàn bộ. Trung đoàn trưởng Lê Thuyết và nhiều cán bộ chỉ huy, chiến sĩ đã hy sinh hoặc bị bắt. Trung đoàn 101 bị tổn thất nặng nề.

Trong khi phong trào du kích ở nam Thừa Thiên tạm thời gặp khó khăn và tổn thất, thì phong trào chiến tranh du kích ở các mặt trận khác trong cả nước cũng xuất hiện nhiều vấn đề tiêu cực cần uốn nắn. Ở một số nơi, do thiếu sự chỉ đạo kiên quyết nên còn bị mất đất, mất dân. Để kịp thời tổng kết nhằm phát triển mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, tháng 7-1952, Hội nghị chiến tranh du kích toàn quốc được triệu tập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với hội nghị: Kháng chiến phải trường kỳ, thì du kích ở sau lưng địch phải làm thế nào? Nhiệm vụ là gì? Du kích cũng phải trường kỳ. Nhiệm vụ hiện nay là phá âm mưu của địch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”[1]. Người cũng nêu lên những công việc cần phải làm là: “Trước hết nội bộ, tức là dân, quân, chính, Đảng phải đoàn kết chặt chẽ. Có việc gì, phải bàn tính kỹ lưỡng, tư tưởng, hành động phải thống nhất, phải giúp đỡ nhau, thành thực phê bình và tự phê bình để cùng nhau tiến bộ.

Phải nghiên cứu kỹ, áp dụng đúng và triệt để thi hành những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và của Chính phủ”(2). Tại hội nghị, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng chỉ ra một số vấn đề cần rút kinh nghiệm, như không trong vùng địch tạm chiếm có một số cán bộ tách rời, thoát ly, không tin tưởng quần chúng. Về những việc phải làm, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ việc giữ gìn và tích trữ lực lượng phải đi đôi với bồi dưỡng và phát triển lực lượng; đồng thời phải tích cực tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, lấy của địch bồi dưỡng cho mình.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr. 522-523.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr. 525.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #117 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:58:54 PM »

Để đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở Liên khu IV, tháng 9-1952, liên khu ủy họp hội nghị bàn về phương hướng nhiệm vụ đấu tranh quân sự ở mặt trận Bình - Trị - Thiên. Hội nghị đánh giá cao những thắng lợi của quân, dân ta ở Liên khu IV, nhất là mặt trận Bình - Trị - Thiên, về mặt quân sự, đã thu hút nhiều lực lượng quân địch tại Đông Dương. Hội nghị Liên khu ủy cũng chỉ rõ qua thực tế chiến đấu, mặt trận Bình - Trị - Thiên bộc lộ một số nhược điểm như biểu hiện của tư tưởng ham đánh lớn, nặng về tác chiến, chưa coi trọng đúng mức nhiệm vụ xây dựng lực lượng lâu dài, nặng về chủ lực, nhẹ về bộ đội địa phương, nhất là dân quân du kích; thiếu sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế. Trong đấu tranh quân sự, tập trung nhiều vào mục đích tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, coi nhẹ nhiệm vụ chống địch càn quét, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân, ít chú ý xây dựng cơ sở kháng chiến lâu dài. Hội nghị Liên khu ủy nêu rõ: “Các cấp ủy cần nhận rõ Bình - Trị - Thiên là một chiến trường hậu địch, theo phương châm của Trung ương thì nhiệm vụ chính vẫn là xây dựng và phát triển du kích chiến tranh; phá âm mưu của địch là “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”; phải đưa mức hoạt động của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đến chỗ liên hệ mật thiết với phong trào đấu tranh của nhân dân, dìu dắt và phát triển cơ sở du kích chiến tranh, chống tư tưởng muốn đánh lớn và hoạt động quân sự thuần túy, phải đẩy mạnh hoạt động võ trang và bán võ trang của nhân dân”(1).

Đảng ủy mặt trận Bình - Trị - Thiên cũng họp hội nghị để kiểm điểm theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy. Ngay sau đó, Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên đã chỉ đạo củng cố tổ chức và bổ sung kịp thời quân số cho các trung đoàn chủ lực của liên khu đang hoạt động ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên, đặc biệt là Trung đoàn 101 vừa bị tổn thất nặng sau những cuộc tiến công dài ngày của địch. Trong tháng 8-1952, bộ đội địa phương của liên khu khẩn trương tham gia hai đợt tập huấn về kỹ thuật, chiến thuật, chỉ huy và chiến đấu. Các đơn vị dân quân, du kích cũng được huấn luyện, bổ sung lực lượng, bám sát cơ sở, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chống càn, kể cả các cuộc càn quét nhỏ lẻ của địch. Hưởng ứng phong trào thi đua trong toàn quân, các cấp ủy đảng trong lực lượng vũ trang Liên khu IV đã phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, giành giải thưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát động trong toàn quân.

Để định hướng đúng cho phong trào chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên phát triển mạnh nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và kìm giữ lực lượng quân ứng chiến, không cho chúng mở rộng phạm vi chiếm đóng, ngày 1-10-1952, Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy đã chỉ thị cho Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên phải nắm vững phương châm đánh du kích là chính, khắc phục tư tưởng ham đánh lớn. Bộ đội chủ lực lấy tiểu đoàn làm đơn vị chiến đấu, có điều kiện thuận lợi thì mới tập trung hai tiểu đoàn hay trung đoàn để tác chiến, sau đó phân tán nhanh chóng để tiếp tục hoạt động, chú trọng chiến đấu chống càn quét và phải chủ động có kế hoạch chuẩn bị trước; các lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động du kích và có kế hoạch bảo vệ mùa màng.

Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy, Liên khu ủy và Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên đã lãnh đạo quân, dân địa phương hăng hái thi đua, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích lan rộng khắp ba tỉnh.

Tháng 10-1952, Tiểu đoàn 320 của tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với dân quân, du kích đánh hơn mười trận, tiêu diệt 136 tên địch. Cùng thời gian trên, đại đội 220 của Tiểu đoàn 320 đã chặn đánh một đại đội lính Âu - Phi ở Vạn Quy (Hải Lăng), diệt hai trung đội.

Ở Thừa Thiên, đảng bộ và chính quyền địa phương đã phát động thi đua đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích từ tháng 10 đến cuối năm 1952. Hầu kết các cơ quan dân, chính, đảng đã tổ chức rút kinh nghiệm về công tác vùng địch hậu. Nhiều nơi, các chi bộ đảng qua kiểm điểm đã nhận rõ những vấn đề cốt yếu để chống lại một cuộc chiến tranh tổng lực của địch là phải gắn liền đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế của quần chúng. Cho nên, đi đôi với đấu tranh vũ trang, các cấp ủy đảng và tổ chức quần chúng đã lãnh đạo nhân dân vùng tạm chiếm tích cực tham gia đấu tranh chính trị, chống địch khủng bố, bắt lính, bảo vệ cơ sở, bảo vệ thanh niên.

Công tác vận động chính trị trong vùng đồng bào công giáo, vùng dân tộc thiểu số đã được chú ý hơn trước. Chính quyền cách mạng, một mặt, kiên quyết trấn áp những kẻ phản động; một mặt, đẩy mạnh tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ về tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào và nghĩa vụ công dân trong thực hiện chính sách thuế nông nghiệp để đẩy mạnh kháng chiến. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cũng phải làm cho nhân dân vùng tạm chiếm thấy rõ sự thất bại, lúng túng của địch, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.


(1) Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy Liên khu IV (6-9-1952) , tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, hồ sơ Liên khu ủy IV, ĐVBQ 47.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #118 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:59:15 PM »

Để đẩy mạnh phong trào đấu tranh trong vùng tạm chiếm, phá kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, bảo vệ vùng căn cứ và các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên đã theo dõi sát tình hình, đánh giá đúng quy luật hoạt động của địch để chỉ đạo ba thứ quân thường xuyên vận động bám địch, đánh phục kích, phá hoại các đường giao thông thủy, bộ, tập kích các vị trí đồn bốt, phá vành đai trắng, tiêu hao, tiêu diệt những bộ phận nhỏ của địch. Đồng thời, vừa đánh địch, vừa ra sức bảo vệ nhân dân, giúp đỡ nông dân gặt hái, cất giấu thóc lúa và phân tán nhanh chóng kho tàng, máy móc, bảo vệ cơ sở vật chất.

Với tinh thần nỗ lực cao, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh những hoạt động quân sự, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Trong sáu tháng cuối năm 1952 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn một vạn quân địch, bức rút trên 20 đồn bốt và sáu tháp canh, lực lượng vũ trang ba thứ quân được củng cố, phong trào chiến tranh du kích được giữ vững và tiếp tục phát triển.

Phối hợp với mặt trận đấu tranh quân sự, nhân dân trong vùng tạm chiếm triệt để lợi dụng mọi sơ hở về quân sự của địch khi chúng phải dàn mỏng lực lượng ở khắp nơi đã nhanh chóng phục hồi các cơ sở bị địch càn quét. Các khu du kích và căn cứ du kích ở các huyện đồng bằng và miền núi của ba tỉnh Bình - Trị - Thiên cũng được mở rộng. Trước những thủ đoạn phá hoại của địch về chính trị như chiêu hồi, chiêu an, dùng vật chất lôi kéo cán bộ, tuyên truyền, kích động phá hoại đường lối kháng chiến, chính quyền cách mạng đã vận động nhân dân vạch tội ác hàng ngày của địch, đập lại luận điệu lừa bịp, lột trần chiêu bài “quốc gia độc lấp thống nhất”, chỉ rõ thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai phản động do chúng dựng lên là kẻ thù của nhân dân Việt Nam.

Các phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở đô thị, đồng bằng, miền núi chống địch đàn áp, khủng bố vẫn liên tục diễn ra ở khắp các địa phương. Trong các vùng đô thị, đặc biệt là ở thành phố Huế, một trung tâm của chính quyền tay sai ở miền Trung được địch tăng cường các biện pháp kiểm soát gắt gao, nhưng đồng bào vẫn liên tục đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Nhiều cơ sở đảng vẫn trụ vững trước sự che chở và đùm bọc của đồng bào.

Phong trào đấu tranh chống địch bắt lính trong thời gian này tuy có đạt một số kết quả, song nhìn chung địch vẫn thực hiện được mục tiêu bắt lính tăng quân. Thiếu sót lớn nhất của phong trào lúc này là chưa thật sự dựa chắc vào nhân dân để đẩy mạnh công tác binh vận, địch vận, phá âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt” của địch. Nhiều cấp ủy đảng và đoàn thể quần chúng trong vùng địch hậu còn tập trung vào những công tác khác mà sao nhãng việc vận động tuyên truyền trong nhân dân, chưa có biện pháp tích cực để bảo vệ thanh niên.

Trong điều kiện địch chống phá ác liệt bằng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý hiểm độc để đánh vào nội bộ tổ chức kháng chiến, chia rẽ khối đoàn kết trong nhân dân, thì hoạt động văn hóa, văn nghệ của liên khu vẫn phát triển mạnh. Trong quá trình phát triển cuộc kháng chiến, tại Liên khu IV đã xây dựng được đội ngũ văn nghệ sĩ khá đông đảo, nhiệt tình phục vụ kháng chiến. Nhiều tác phẩm văn học đã ra đời gắn liền với hơi thở của cuộc kháng chiến, như bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung đã nhận giải thưởng quốc tế… Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị đã góp phần làm phong phú thêm nền văn học kháng chiến chống thực dân Pháp. Bên cạnh việc sáng tác văn học, nhiều hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ như phát hành báo chí, in ấn tài liệu học tập lý luận… là những vũ khí sắc bén, góp phần tích cực đấu tranh với địch để bảo vệ đường lối kháng chiến và giáo dục lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc sâu sắc, củng cố niềm tin tưởng sâu sắc của nhân dân vào thắng lợi cuối cùng.

Những thắng lợi trên mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và kinh tế của quân và dân Bình - Trị - Thiên đã góp phần cùng với các chiến trường khác tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, cổ vũ nhân dân phấn khởi xây dựng, củng cố hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Cuộc vận động đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm do Đảng và Chính phủ phát động đã thu hút hàng triệu đồng bào trong liên khu tham gia và đã thu nhiều kết quả về sản lượng lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng. Nhờ đó, nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến ngày càng được đảm bảo hơn về số lượng và chất lượng, đời sống của nhân dân cũng được cải thiện thêm.

Tình hình thu, chi tài chính và đấu tranh kinh tế với địch cũng có nhiều chuyển biến. Đến cuối năm 1952, lần đầu tiên trong cả nước nói chung, cũng như ở địa bàn Liên khu IV nói riêng, hoạt động thu, chi đã ổn định. Nguồn thu của ngân sách từ các loại thuế nông nghiệp, thuế công, thương nghiệp tăng lên đáng kể. Mức ăn của bộ đội được cải thiện; lương của cán bộ, công nhân viên chức tuy còn ở mức thấp nhưng cũng ổn định hơn.

Những cố gắng về hoạt động kinh tế nêu trên là một thắng lợi to lớn trong hoạt động đấu tranh kinh tế với địch và xây dựng kinh tế phục vụ kháng chiến, nhất là đối với một miền đất thường xuyên phải gánh chịu nhiều thiên tai, địch họa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #119 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 07:59:37 PM »

Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện cuộc vận động thuế nông nghiệp, ta cũng mắc một số sai lầm, thiếu sót ở ở nhiều địa phương cán bộ thiếu gương mẫu trong việc kê khai sản lượng, chưa làm tốt công tác vận động, thuyết phục quần chúng, còn nặng về áp đặt. Có nơi chưa làm tốt công tác điều tra diện tích và sản lượng nên chưa đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế nông nghiệp, v.v. Khuyết điểm lớn nhất là chưa kết hợp chặt chẽ việc huy động đóng góp của dân với bồi dưỡng sức dân. Việc vận dụng chính sách giảm tô, giảm tức và tạm cấp ruộng đất ở nhiều vùng tự do chưa triệt để đã ảnh hưởng tới tư tưởng và đoàn kết nội bộ nông dân, nhất là trong một số vùng đồng bào công giáo và vùng dân tộc thiểu số.

Hoạt động mậu dịch buôn bán trong nội địa và mậu dịch đối ngoại cũng được mở mang. Các phong trào làm thủy lợi, thâm canh tăng năng suất cây trồng, phát triển đàn gia súc đã vượt trội hơn hồi sáu tháng đầu năm. Mặc dù các tỉnh trong liên khu phải chịu hậu quả của trận lũ lụt lớn hồi đầu tháng 10-1952, nhưng nạn đói đã không xảy ra nghiêm trọng do có lương thực dự trữ thu từ thuế nông nghiệp của vụ trước.

Tuy vậy, do lũ lụt xảy ra trên diện rộng và tàn phá một diện tích lớn lúa, hoa màu của đồng bào nên cuộc vận động thu thuế nông nghiệp vụ mùa tháng 10-1952 chỉ đạt được 84.457 tấn (bằng 70%); thuế công thương nghiệp đạt 10.513 triệu đồng; sản lượng muối đạt 5.194 tấn (đạt 85%). Các ngành y tế, giáo dục cũng phát triển hơn trước. Một phần ba số xã trong liên khu đã có cán bộ y tế và ban y tế. Cuộc vận động thực hiện nếp sống mới với nội dung “ba sạch” và khẩu hiệu “phòng bệnh hơn chữa bệnh” được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân ở nhiều địa phương. Nhưng phong trào phát triển chưa đồng đều. Một số nơi ở miền núi Thanh - Nghệ - Tĩnh, tuy đời sống vật chất có được cải thiện một bước do kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ, nhưng nhiều tập tục lạc hậu vẫn tồn tại khá nặng nề, ảnh hưởng nhiều tới đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Phong trào đón thương binh về địa phương nuôi dưỡng cũng đi vào nề nếp. Nhiều xã, phường của Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đón hàng trăm thương binh nặng về địa phương chăm sóc, tạo cuộc sống ổn định, tổ chức lao động sản xuất lâu dài cho các gia đình thương binh và một số đối tượng chính sách. Đây là một hoạt động chính trị, xã hội tích cực của hậu phương trong lúc cuộc kháng chiến còn đang diễn ra quyết liệt. Điều đó thể hiện chính sách hậu phương đúng đắn của Đảng và Chính phủ, lòng biết ơn và trách nhiệm của xã hội đối với những người con đã anh dũng chiến đấu, đã mất một phần thân thể vì mục tiêu giải phóng đất nước.

Trên bình diện cả nước, phát huy thắng lợi trên mặt trận quân sự và để tạo sự chuyển biến căn bản về cục diện chiến trường, tháng 9-1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm phân tán địch ở đồng bằng Bắc Bộ, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một phần đất đai và mở rộng vùng căn cứ địa Tây Bắc nối với căn cứ địa Việt Bắc và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm một số đại đoàn chủ lực của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy. Tổng số quân tham gia chiến dịch lên tới 35.000 cán bộ, chiến sĩ.

Tháng 9-1952, Liên khu ủy đã triệu tập hội nghị nhằm triển khai nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, đồng thời có biện pháp chuyển hướng mạnh hoạt động đấu tranh quân sự trên chiến trường Bình - Trị - Thiên cho phù hợp với tình hình mới. Tháng 12-1952, hai trung đoàn chủ lực 18, 101 và Đại đoàn 325 từ mặt trận Bình - Trị - Thiên nhận mệnh lệnh di chuyển quân ra địa bàn Thanh - Nghệ - Tĩnh để xây dựng đại đoàn bổ sung cho lực lượng quân chủ lực của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy. Riêng Trung đoàn 95 của Đại đoàn 325 cùng với một số đơn vị mới được thành lập như Đại đội 95 công binh, các đại đội 265, 264 vận tải cùng một số tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương tiếp tục bám trụ chiến đấu tại mặt trận Bình - Trị - Thiên. Đó là một chủ trương sáng suốt và kịp thời vì lúc này Bình - Trị - Thiên cũng đang gặp khó khăn về khả năng cung cấp lương thực cho bộ đội.

Để đảm bảo hậu cần cho chiến dịch Tây Bắc, ngoài khả năng huy động tại chỗ của chiến trường, theo sự phân công của Bộ Chỉ huy mặt trận, các Liên khu III, Liên khu Việt Bắc, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh phải tập trung chi viện hậu cần cho chiến dịch.

Cùng một lúc phải trực tiếp chi viện cho nhiều mặt trận: Bình - Trị - Thiên, Liên khu V, chiến dịch Thượng Lào, song chỉ trong một thời gian ngắn, đáp lời kêu gọi của mặt trận Tây Bắc, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động sức người, sức của và tổ chức nhiều đoàn dân công tiếp tế theo đúng yêu cầu được giao.

Trong chiến dịch Tây Bắc, tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã huy động tới 180.196 lượt dân công với trên 3.000.000 ngày công. Dân công đã phá đá, mở đường và vận chuyển trên 20.000 tấn lương thực, thực phẩm lên Tây Bắc. Hai tỉnh đã huy động 9.350 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt cùng nhiều thực phẩm các loại. Trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, hàng vạn dân công đã cùng bộ đội bí mật mở đường, gùi thồ, gồng gánh vận chuyển hàng vạn tấn lương thực cùng vũ khí ra mặt trận.

Sau hai tháng rưỡi chiến đấu (từ 14-10 đến 30-12-1952), nhờ phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi. Quân, dân ta đã tiêu diệt 6.029 quân địch, giải phóng đại bộ phận Tây Bắc rộng tới 28.500 km2 với trên 25 vạn dân, mở rộng và củng cố vùng căn cứ địa, tạo điều kiện cho các chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục đẩy mạnh phản công, tiến công tiêu diệt sinh lực địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM