Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười Hai, 2020, 09:48:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945 - 1954  (Đọc 48223 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:17:28 pm »

Công tác phát triển đảng được chấn chỉnh một cách tích cực, không còn tình trạng kết nạp đảng viên ồ ạt như giai đoạn trước, mà được lựa chọn thận trọng có chất lượng. Các chi bộ đảng trong nội thành Huế, thị xã Quảng Trị, thị xã Đồng Hới đã phân công, bố trí đảng viên bám sát địa bàn, vận động tổ chức các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào binh vận, địch vận, cùng với lực lượng dân quân, du kích đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, chống địch càn quét, chống bắt lính, dồn dân, v.v. Nhiều tổ chức hợp pháp và bán hợp pháp như hội tương tế, các tổ chức phường, họ, v.v., đã tích cực hoạt động, lôi cuốn hàng nghìn lượt đồng bào tham gia mít tinh, thành công quyên góp tiền, hàng gửi ra mặt trận, rải truyền đơn vận động binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp quay về với kháng chiến.

Để đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, giữa năm 1951, Trung ương đã phát động toàn quân, toàn dân tham gia phong trào tổng phá tề đợt hai nhằm xóa bỏ bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn. Với lòng yêu nước, căm thù những kẻ làm tay sai cho Pháp, nhân dân vùng địch tạm chiếm đã liên tiếp nổi dậy phá tề, ngăn lập tề, cảnh cáo những kẻ ngoan cố.

Tại Bình - Trị - Thiên, được lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích tự vệ địa phương hỗ trợ, nhân dân các xã Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền và nhiều xã ven đường quốc lộ số 1 như Phong Thạnh, Phong Phú, Hương Hải, Hương Phong đã phát triển các hình thức đấu tranh chính trị, chống áp bức, bóc lột, chống địch khủng bố, càn quét, kết hợp với nổi dậy, phá tan nhiều ban hội tề và hệ thống hương dõng ở nông thôn, trừng trị số Việt gian phản động. Phong trào đấu tranh phá tề ở vùng địch tạm chiếm đã diễn ra thường xuyên, hàng chục ban tề, hội đồng tề ở thôn, xã nằm sâu trong vùng tạm chiếm thuộc các tỉnh Bình - Trị - Thiên đã bị phá vỡ hoặc bị vô hiệu hóa. Có nơi chủ trương lập tề hai mặt để che mắt địch, bảo vệ cơ sở cách mạng.

Sau gần một năm thực hiện chuyển hướng chỉ đạo phong trào đấu tranh ở vùng địch tạm chiếm, nhiều thôn, xã trước đây bị địch khủng bố trắng, cơ sở quần chúng, cơ sở đảng đã dần dần được hồi phục. hầu hết các thôn, xã nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm đều xây dựng được lực lượng dân quân, du kích mật làm nòng cốt trong các phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang. Phương châm hoạt động của lực lượng vũ trang ba thứ quân làm phối hợp tác chiến, đánh nhỏ ăn chắc, đã tạo nên bước chuyển biến của phong trào chiến tranh du kích ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, miền núi, thúc đấy phong trào đấu tranh chính trị ở vùng đô thị phát triển.

Trên các tuyến phòng ngự của địch, nhiều vị trí đồn bốt đã bị lực lượng vũ trang kháng chiến kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng tập kích, phải co cụm lại. Hệ thống vành đai trắng bị phá vỡ ở nhiều nơi. Quân Pháp chẳng những không thực hiện được mục tiêu rút quân ra tăng viện cho Bắc Bộ mà còn phải tăng viện thêm một tiểu đoàn lính Âu - Phi vào chiến trường Bình - Trị - Thiên để giữ thế phòng ngự. Chủ trương của địch là hoàn thành kế hoạch bình định vùng tạm chiếm ở Bình - Trị - Thiên đã bị phá sản trước phong trào chiến tranh du kích ngày càng phát triển.

Trải qua chiến đấu và thử thách chống lại các trận càn quét khốc liệt của kẻ thù, được học tập kinh nghiệm của chiến trường chính, các lực lượng vũ trang ở Liên khu IV ngày càng trưởng thành về mọi mặt, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và tác chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ mùa màng của nhân dân. Công tác quân sự trở thành nhiệm vụ trọng tâm của liên khu trong đấu tranh tiêu diệt sinh lực địch và bảo vệ hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh. Qua các lớp tập huấn cho bộ đội, trình độ nhận thức của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao lên một bước. Vũ khí được bổ sung cho mặt trận Bình - Trị - Thiên đủ để trang bị cho hai trung đoàn và cho các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đủ ba tiểu đoàn. Đến cuối năm 1951, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động được 23.298 thanh niên lên đường nhận ngũ.

Cùng vào thời điểm đó, Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy đã quyết định thành lập Đại đoàn chủ lực 325. Đây là một bước tiến mới và là một đóng góp rất quan trọng của lực lượng vũ trang liên khu đối với yêu cầu phát triển chung của cuộc kháng chiến.

Bị thất bại nặng nề về quân sự, địch càng lún sâu vào khủng hoảng về chính trị. Nội bộ chính quyền tay sai ngày càng bị phân hóa, chia rẽ sâu sắc bởi các thế lực thân Pháp và thân Mỹ luôn tranh giành quyền lực.

Giữa năm 1951, Bộ Tham mưu quân đội Pháp đã tiến hành giải tán Bộ Tư lệnh Vệ binh đoàn gồm những sĩ quan, binh sĩ người Việt và giao cho sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy. Hành động đó đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi một bộ phận lớn sĩ quan người Việt trong quân đội Pháp và hàng ngũ công chức chính quyền Bảo Đại. Mặt khác, những những thắng lợi quân sự và chính trị của phong trào kháng chiến đã tác động sâu sắc tới hàng ngũ sĩ quan và binh lính địch. Tâm lý thất bại, hoang mang trong hàng ngũ địch ngày càng lan rộng. Được các cơ sở kháng chiến tuyên truyền, vận động về chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ, đồng thời lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa nên đã có nhiều vụ binh biến, đảo ngũ của binh lính và sĩ quan người Việt trong quân đội Pháp xảy ra ở các đồn Thanh Cần, An Truyền, Đồn Sâm, Hà Thanh. Binh lính Âu - Phi cũng đấu tranh với chỉ huy đòi hồi hương.

Phong trào đấu tranh quân sự, chính trị của quân và dân Liên khu IV đã có chuyển biến rõ rệt. Lực lượng kháng chiến đã làm chủ được nhiều vùng nông thôn rộng lớn, nhất là một số huyện thuộc vùng đồng bằng trù phú thuộc nam Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình. Các khu căn cứ, vùng du kích ngày càng được củng cố, mở rộng là điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh thế chủ động trong phản công, tiến công địch. Về công tác dân vận, Liên khu ủy đã chỉ thị cho các đảng bộ và chính quyền phải sửa đổi công tác vận động quần chúng, sửa chữa những sai lầm trong nhận thức tư tưởng và hành động, quán triệt sâu sắc quan điểm kháng chiến lâu dài và phương châm tự lực cánh sinh, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng vào đường lối của Đảng, phấn khởi vì được giải quyết những thắc mắc của mình đối với cán bộ, góp phần củng cố đoàn kết nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh. Cùng với những đợt sinh hoạt phê bình và tự phê bình về công tác dân vận, các địa phương cũng tiến hành chấn chỉnh việc thực hiện giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất cho nông dân. Điều đó đã có tác dụng nâng cao trình độ về chính trị, phương pháp và tác phong công tác cho cán bộ, đảng viên và củng cố niềm tin trong nhân dân. Qua đấu tranh, đã giải quyết mâu thuẫn và thắc mắc trong đồng bào công giáo, trí thức, tư sản, đồng bào các dân tộc thiểu số ở một số huyện miền núi Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:17:50 pm »

Để phát triển mạnh lực lượng kháng chiến, công tác xây dựng, củng cố hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày càng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu cũng thấy rõ trách nhiệm của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh là phải cung cấp hậu cần cho chiến trường Bắc Bộ và Bình - Trị - Thiên.

Tuy nhiên, trong chỉ đạo xây dựng kinh tế còn nhiều khuyết điểm. Sản xuất nông nghiệp chưa được chú ý đúng mức, còn coi nhẹ và máy móc trong đấu tranh kinh tế với địch, chưa đẩy mạnh bồi dưỡng sức dân… Do đó, nhiệm vụ chủ yếu của quân, dân Thanh - Nghệ - Tĩnh là đẩy mạnh tăng gia sản xuất để phục vụ cho chiến trường chính, tiếp tế cho Bình - Trị - Thiên, tự túc cho địa phương, tạo nguồn dự trữ và sẵn sàng chiến đấu. Trong hai nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tăng gia sản xuất là chính.

Ở các vùng căn cứ của Bình - Trị - Thiên, mặc dù chiến sự xảy ra ác liệt, nhưng các địa phương vẫn tiếp tục đẩy mạnh tăng gia sản xuất, phấn đấu tự túc đến mức cao nhất.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 4-1951 về chuyển hướng hoạt động kinh tế - tài chính, Liên khu ủy đã tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng hậu phương. Tháng 7-1951, các ngành ngân hàng, mậu dịch, thuế, canh nông, kho dự trữ công lương, quân lương được thành lập. Các chính sách tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý tài chính, bình ổn thị trường, đấu tranh kinh tế tài chính đã được triển khai, tạo sự chuyển biến quan trọng đối với hoạt động quản lý tài chính của liên khu.

Để bảo đảm cung cấp đủ lương thực cho bộ đội đánh giặc, đồng thời khắc phục nhanh hậu quả lũ lụt, Liên khu ủy đã tập trung chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, coi sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ then chống của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và các vùng căn cứ du kích của Bình - Trị - Thiên. Tháng 5-1951, Liên khu ủy đã triệu tập hội nghị chuyên bàn về phát triển kinh tế nông nghiệp và công thương nghiệp. Hội nghị nêu rõ: giải quyết tốt vấn đề lúa gạo sẽ là nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đi đôi với các biện pháp giảm biên chế, phong trào vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm đã được quán triệt sâu rộng trong các cơ quan ở địa phương. Với tinh thần tự lực cánh sinh và đóng góp sức người, sức của nhiều nhất cho kháng chiến, tất cả cán bộ, học sinh, các cơ quan, công sở, trường học đóng trên địa bàn Liên khu IV đã cùng với nhân dân tăng gia sản xuất, cố gắng tự túc lương thực. Cũng trong tháng 5-1951, Liên khu ủy đã phát động phong trào “thi đua ái quốc lập công, đề cao chiến sĩ” trong các ngành, các cấp.

Hưởng ứng cuộc vận động sản xuất, tiết kiệm, nhân dân trong vùng căn cứ, vùng du kích ở Bình - Trị - Thiên đã dồn sức gặt nhanh, thu gọn thóc lúa, kịp thời vận chuyển, cất giấu để không rơi vào tay địch. Cùng với việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, các địa phương tranh thủ mở rộng diện tích trồng thêm ngô, khoai, sắn để giải quyết được nhu cầu về lương thực, khắc phục nhanh nạn thiếu đói. Sản lượng lương thực cả năm 1951 ở Bình - Trị - Thiên đạt khoảng 208.800 tấn, tăng hơn năm trước. Đây là nguồn lương thực tại chỗ rất quan trọng để đáp ứng kịp thời cho bộ đội trực tiếp đánh địch ở mặt trận Bình - Trị - Thiên. Mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, song nhân dân vùng tạm chiếm vẫn tìm mọi cách mua lương thực, thuốc men, hàng tiêu dùng để chuyển ra vùng tự do. Đồng bào theo đạo Phật ở Huế đã gửi ra chiến khu hàng chục tấn lương thực, thực phẩm. Trong nhiều vùng tạm chiếm, nhân dân liên tục đấu tranh chống địch cướp lúa gạo, chống tổng động viên, bắt lính, làm thất bại từng bước âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch. Đến lúc này, quân, dân ta ở Bình - Trị - Thiên về cơ bản đã tự túc được lương thực.

Trong vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương và các cấp chính quyền, các hộ gia đình nông dân đã đăng ký thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất nông nghiệp, phát triển chăn nuôi nhằm cải thiện đời sống và đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến. Chính quyền và các ban ngành chức năng đã thực hiện nhiều biện pháp hướng dẫn giúp đỡ bà con nông dân về kỹ thuật canh tác mới, vốn tín dụng, thủy lợi, bảo vệ sản xuất chống thiên tai địch họa, giải quyết vấn đề ruộng đất và tổ chức lại sản xuất. Ban Canh nông từ khu đến tỉnh, huyện đã cử cán bộ đi tìm hiểu thực tế ở nông thôn, đưa ra những sáng kiến đổi mới kỹ thuật thích hợp như phổ biến rộng rãi phong trào dùng phân xanh, phân bắc để bón ruộng, kết hợp với cấy hai vụ, phát triển vụ chiếm và trồng nhiều cây màu mới như đỗ, lạc, vừng… Nhờ đổi mới kỹ thuật canh gác, mùa màng thu hoạch khá hơn, bà con nông dân càng phấn khởi ra sức tăng gia sản xuất và đóng thuế nông nghiệp, đi dân công phục vụ các chiến dịch. Vụ lúa chiêm năm 1951, năng suất đã tăng 20%, vụ lúa mùa, sản lượng lương thực cũng đạt khá hơn vụ trước, năng suất từ 1.000 kg/mẫu tăng lên 1.750 kg/mẫu.

Tháng 5-1951, Chính phủ ban hành Sắc lệnh thuế nông nghiệp nhằm mục đích thống nhất mức huy động trong toàn quốc, đảm bảo công bằng, hợp lý hơn đối với nông dân nghèo, khuyến khích sản xuất phát triển. Tháng 7-1951, Điều lệ Tổng động viên vật lực cũng được ban hành với nội dung chủ yếu là thống nhất các nguồn thu qua nguồn thu thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Đây là một công tác trọng tâm của toàn quốc, đồng thời Đảng, Chính phủ chủ trương thay đổi một cách căn bản hệ thống tài chính theo phương châm: “tăng thu giảm chi”. Chủ trương tạm vay thuế nông nghiệp của Đảng được nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh và vùng tự do Bình - Trị - Thiên tích cực hưởng ứng. Riêng vụ mùa 1951, Chính phủ đã ấn định mức tạm vay cho ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh là 40.000 tấn. Tổng cộng số thu từ thóc và ngô đã đạt 37.000 tấn. Thuế công thương nghiệp toàn liên khu đạt 541.000.000 đồng.

Hiểu rõ trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến, trong điều kiện khó khăn, gian khổ, nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đã quán triệt sâu sắc nguyên tắc “cần, kiệm, liêm, chính” đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết. Ai ai cũng nghĩ rằng khi đã có độc lập tự do thì hạnh phúc sẽ đến với tất thảy mọi người, mọi nhà. Vì vậy, đại đa số đồng bào đã không tiếc công, tiếc của, dành dụm từng lon gạo, cân ngô để làm sao huy động nhanh nhất, nhiều nhất cho yêu cầu của mặt trận. Nhiều địa phương ở Thanh Chương (Nghệ An), nông dân đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tạm thu thuế nông nghiệp. Nguồn thu từ thuế nông nghiệp trở thành nguồn thu chính để tăng ngân sách của Trung ương và giữ lại một phần phụ cấp cho cán bộ, công nhân của liên khu. Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn cung cấp cho bộ đội cũng được cải thiện thêm, công tác dân công hỏa tuyến cũng được chấn chỉnh lại theo hướng sử dụng hợp lý hơn. Điều quan trọng là nhờ thuế nông nghiệp mà liên khu có được một lượng dự trữ lúa gạo trong tay để góp phần bình ổn vật giá. Trong các chiến dịch Hà - Nam - Ninh (Quang Trung), Trung du (Trần Hưng Đạo) hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, chủ yếu là Thanh Hóa, đã huy động hàng nghìn tấn lương thực phục vụ bộ đội. Chủ trương thu thuế nông nghiệp còn đem lại một kết quả quan trọng nữa là tạo nên phong trào hiến điền trong giới điền chủ ở Liên khu IV. Định mức thuế nông nghiệp được căn cứ vào diện tích gieo trồng và sản lượng thu được. Những địa chủ có nhiều ruộng, sản lượng cao phải nộp thuế theo tỷ lệ cao hơn những người có ít ruộng, sản lượng thấp. Điều đó không chỉ là một thành công về mặt kinh tế mà còn có tác dụng thiết thực đến vấn đề tư tưởng người nông dân. Họ thấy rõ hơn chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ là phù hợp với đại đa số quần chúng lao động.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:18:24 pm »

Nhưng công tác thu thuế nông nghiệp cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Việc huy động thuế nông nghiệp quy định mức thu theo thu nhập. Người có thu nhập càng cao thì mức thu càng nhiều và ngược lại. Người có thu nhập 155 kg góc thu 10%, 400 kg thu 20%, 800 kg thu 30%. Do đó, một số người vì nhận thức chưa đúng nên đã sinh ra nghi ngờ chính sách thuế nông nghiệp, thậm chí chống đối. Trong chiến dịch Hà - Nam - Ninh, tỉnh Thanh Hóa đã huy động hơn tám vạn dân công và chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) là gần 2,5 vạn. Nhưng công tác thu thuế nông nghiệp ở Liên khu IV thực sự là một cuộc đấu tranh giai cấp. Ở một số nơi, các cấp ủy đảng và chính quyền mang nặng tư tưởng chủ nghĩa thành tích đã áp đặt máy móc chỉ tiêu thu thuế nông nghiệp quá cao, dẫn đến tình trạng huy động quá sức dân, nhất là ở vùng bị thiên tai, địch họa, dẫn đến tình trạng đẩy những hộ nông dân nghèo vào cảnh khốn khó nên đã có người chết đói. Ngược lại, một số cán bộ, đảng viên không gương mẫu trong việc thực hiện chính sách thu thuế nông nghiệp, trốn tránh thực hiện giảm tô giảm tức… nên đã ảnh hưởng đến phong trào chung, quần chúng giảm sút lòng tin đối với cán bộ. Trong nhiều đoàn dân công có đảng viên lãnh đạo, có kẻ xấu phao tin nơi này nơi kia dân công bị phục kích hay dẫm phải mìn chết nhiều, nhưng không được giải thích rõ nên tin là thật dẫn đến mất tinh thần, bỏ chạy hay thấy người khác chạy mình cũng chạy… Từ đó, Liên khu đã có kế hoạch và biện pháp khắc phục những mặt yếu kém, thi hành kỷ luật những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Đồng thời với việc tăng cường chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, Liên khu ủy đã chú trọng phát triển công thương nghiệp, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển theo phương châm “lao tư lưỡng lợi” thực hiện tư tưởng đại đoàn kết trong xây dựng kinh tế. Vì vậy các địa phương đã nhanh chóng huy động các nguồn lực từ mọi giai tầng xã hội, mọi địa phương, mọi nhà, mọi người đều tham gia sản xuất, tạo ra của cải vật chất vừa ích nước vừa lợi nhà nuôi sống xã hội và phát triển cuộc kháng chiến. Cũng như thuế nông nghiệp, từ giữa năm 1951, liên khu bắt đầu áp dụng thuế công thương nghiệp mới theo thu nhập nhằm khuyến khích sản xuất, động viên doanh nhân bỏ vốn cùng kinh doanh, xóa bỏ các biện pháp hành chính bao vây kinh tế không phù hợp, cho phép tư thương được vay tín dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh, v.v. Ngành công thương nghiệp ở Liên khu IV đã dần dần phát triển. Cán bộ, công nhân, công thương gia, trí thức đã sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh, ra sức sản xuất trong mọi điều kiện gian khổ thiếu thốn để đóng góp tất cả những gì có thể. Nhờ đó trên địa bàn Liên khu IV đã có hàng chục cơ sở sửa chữa và chế tạo cơ khí nhỏ. Riêng cơ sở luyện kim lò cao Như Xuân (Thanh Hóa) kỹ sư Trịnh Tam Tỉnh cùng tập thể công nhân nấu thành công mẻ gang đầu tiên vào tháng 7-1951. Sản xuất than của một cơ sở tư nhân đã đạt trung bình 150 tấn/năm, sản lương chung đạt 2.000 tấn, than củi đạt 2.800 tấn, diêm tiêu 67 tấn, phốt phát 3.000 tấn. Đương nhiên tất cả các mỏ đều khai thác theo phương pháp thủ công, hiệu quả không cao, nhưng đã đóng vai trò rất quan trọng cung cấp nguyên liệu cho các xí nghiệp quân giới và cơ khí trong liên khu. Thanh - Nghệ - Tĩnh đã có 33 xưởng dệt, Bình - Trị - Thiên có bốn xưởng dệt tạm đủ cung cấp cho bộ đội chủ lực một bộ đồng phục mà trước đó thường gọi là bộ “đại quân”. Ngoài ra, nhiều cơ sở công nghiệp nhẹ phục vụ đời sống dân cư cũng phát triển mạnh như cơ sở sản xuất dầu trẩu, làm muối, nước mắm, v.v. Ở Liên khu IV cũng đã có bốn doanh nghiệp hoạt động nhưng chưa có tính chất sản xuất kinh doanh, thành phần gián tiếp sản xuất quá đông. Một số cơ sở chăn nuôi, trồng trọt tập thể như Phủ Quỳ, Con Cuông, Yên Mỹ (Nghệ An) chuyên chăn nuôi gia súc và trông các loại cây công nghiệp, thực phẩm như mía đường, lạc, trầu, v.v. Các đơn vị sản xuất trên đã thu 600 gia súc, 3.000 lít mật, 5 tấn mía đường, 50 tấn cà phê và 130 tấn dầu trẩu. Nhưng nhiều mặt hàng tiêu dùng như vải, giấy mới chỉ đáp ứng 30% nhu cầu.

Giao thông đường bộ còn gặp nhiều khó khăn do bị địch bao vây đánh phá. Từ cuối năm 1951, liên khu đã tiến hành sửa chữa một số tuyến đường bộ ở Nghệ An đi Thanh Hóa, một số tuyến đường sông ở hai tỉnh, nhất là tuyến sông Lam, sông La, kênh nhà Lê v.v. giữ vị trí rất quan trọng trong giao lưu hàng hóa.

Cùng với phong trào đấu tranh quân sự, chính trị, sự chuyển biến về kinh tế, công tác xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội trong vùng tự do, vùng căn cứ kháng chiến cũng được chú trọng. Công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ bản chất xâm lược và những thủ đoạn chiến tranh tâm lý thâm độc của chủ nghĩa thực dân đế quốc là một cuộc đấu tranh dai dẳng và quyết liệt vừa để xây dựng nền văn hóa mới vừa để chống âm mưu nô dịch văn hóa của địch.

Để xây dựng một nền giáo dục lành mạnh với mục tiêu phục vụ kháng chiến, kiến quốc, từ cuối năm 1950, Liên khu ủy đã chỉ đạo tiến hành cuộc vận động cải cách giáo dục, rèn cán chỉnh cơ cho toàn bộ giáo viên các cấp học. Nội dung giảng dạy cũng được cải tiến và nâng cao về chất lượng cho phù hợp hơn với nhiệm vụ và yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến. Về mặt tổ chức, các trường tiểu học và trung học được xây dựng thành các trường cấp I, cấp II, cấp III.

Nhiệm vụ xóa nạn mù chữ được triển khai rộng rãi, thường xuyên ở các tỉnh trong Liên khu IV và đã thu nhiều kết quả. Liên khu cũng dành một phần chi ngân sách để xây dựng hệ thống trường phổ thông trung học, tiểu học và các lớp bình dân học vụ. Riêng ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã có 35 trường phổ thông gồm ba trường cấp II và 32 trường cấp I, cấp II. Nhiều lớp dạy nghề và hệ dự bị đại học ở Thanh Hóa cũng bắt đầu mở ra nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ có trình độ khoa học và tay nghề chuyên môn phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Công tác văn hóa, giáo dục ở Liên khu IV đã góp phần nâng cao trình độ văn hóa trong các tầng lớp nhân dân, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hóa mới trong vùng tự do, đồng thời củng cố khối đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đoàn kết công, nông, trí thức, đẩy mạnh công tác dân vận, đấu tranh chống địch bắt lính, chống đi phu, lên án những hiện tưởng đảo ngũ của một số người chạy vào vùng địch.

Lúc này, các văn nghệ sĩ, trí thức của Liên khu IV thường có mặt ở khắp nơi, nhưng tụ hội đông nhất ở Quản Tín, Hậu Hiền (Thanh Hóa), trong đó có các nhà văn Nguyễn Tuân, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phương, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Phó Đức Tố, tướng Nguyễn Sơn, nhà thơ Hữu Loan, nhà viết kịch Bửu Tiến, nhà báo Nguyễn Đình Lạp; các họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Nùng; nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, v.v. Chính vì vậy tỉnh Thanh Hóa có điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ văn hóa, nghệ thuật trong kháng chiến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:19:52 pm »

Được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào kháng chiến, năng lực, trình độ, tác phong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền trong liên khu đã có những chuyển biến tích cực. Những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, lãng phí, tham ô được phát hiện qua cuộc vận động giảm tô, giảm tức, tạm vay thuế nông nghiệp, huy động dân công… dần dần được khắc phục.

Với những chuyển biến tích cực về mọi mặt, Liên khu IV nói chung và chiến trường Bình - Trị - Thiên nói riêng, đã được Trung ương Đảng khen ngợi: “Chúng ta cần đặc biệt nêu gương của Bình - Trị - Thiên, một chiến trường đã tiến bộ về du kích chiến cũng như về vận động chiến trong điều kiện khó khăn về quân sự và kinh tế và phải tự lực khắc phục những khó khăn đó”(1).

Trong khi tại Việt Nam, thực dân Pháp và chính quyền tay sai được đề quốc Mỹ khuyến khích đẩy mạnh chiến tranh bằng những khoản viện trợ lớn nhằm xoay chuyển tình thế thì ở Lào, Campuchia, chúng cũng lập lại chính quyền phản động, tăng cường mở rộng chiến tranh xâm lược, âm mưu khôi phục chủ nghĩa thực dân, đặt lại ách thống trị trên toàn bán đảo Đông Dương. Song hành động xâm lược của Pháp và Mỹ đã bị nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, Campuchia cực lực phản đối.

Sự phát triển về thế và lực của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từ sau chiến thắng Biên Giới đã ảnh hưởng sâu sắc tới chiến trường Trung Lào và Hạ Lào. Tuy nhiên, với sự can thiệp của đế quốc Mỹ, các thế lực phản động Lào đã nối giáo cho giặc Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng. Lực lượng quân chiếm đóng của Pháp lên tới khoảng 25 đại đội. Ngoài ra, quân Pháp còn tăng cường trang bị vũ khí và xây dựng quân đội tay sai người Lào lên tới hàng vạn tên. Để tiến công, tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào còn non trẻ, quân Pháp cùng với binh sĩ người Lào trong quân đội Pháp mở hàng trăm cuộc càn quét quy mô vừa và nhỏ kết hợp với hành quân lớn tiến công vùng giải phóng dọc Trung Lào và Hạ Lào, áp sát vùng biên giới với Việt Nam.

Tháng 2-1951, quân Pháp mở trận càn lớn vào căn cứ ở tây nam Atôpơ, sau đó hành quân vào các vùng Lào Ngăm, mở chiến dịch Clauviêng vào bắc Xaravan, đường số 5, đường số 6 áp sát đường biên giới giữa Việt Nam và Lào. Âm mưu của chúng là tiêu diệt lực lượng Mặt trận Ítxala, xóa vùng căn cứ kháng chiến ở Lào, từ đó xây dựng bàn đạp để tiến công và uy hiếp trực tiếp chiến trường Liên khu IV của Việt Nam.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về nghĩa vụ quốc tế, quân và dân Liên khu IV đã tăng cường đoàn kết và phối hợp chặt chẽ với lực lượng cách mạng Lào. Liên khu IV đã coi nhiệm vụ giúp bạn như giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo Đông Dương. Căn cứ vào tính chất và nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường Liên khu IV và Trung Lào ngày càng có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến công tiêu diệt địch, làm thất bại âm mưu mở rộng chiến tranh của Pháp và Mỹ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho Liên khu ủy Liên khu IV trực tiếp chỉ đạo công tác giúp đỡ bạn thông qua Ban Cán sự Trung Lào.

Từ đầu năm 1951, Liên khu IV đã tập trung giúp bạn tăng cường đào tạo cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, củng cố và phát triển các đơn vị vũ trang, phối hợp chiến đấu chống địch dọc biên giới ba nước để mở rộng vùng giải phóng. Ban Chỉ huy tỉnh đội Hà Tĩnh và Ban Chỉ huy trung đoàn Trung Lào đã họp bàn kế hoạch phối hợp tác chiến đánh địch. Theo yêu cầu của bạn, Liên khu IV đã cử một tiểu đoàn bộ đội địa phương của tỉnh Hà Tĩnh tham gia chốt giữ vùng Napê, Banaphào để cho Trung đoàn Trung Lào phát triển nhanh đội hình tiến sâu vào nội địa. Trong đợt này, huyện Thạch Hà đã huy động gần 200 dân công làm nhiệm vụ hậu cần, phục vụ tác chiến cho Trung đoàn Trung Lào. Hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa được giao nhiệm vụ bí mật mở đường sát biên giới và tăng cường vận chuyển lương thực, hàng hóa giúp nhân dân nước bạn trong vùng căn cứ và vùng giải phóng. Tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp 300 cán bộ, chiến sĩ trong chỉ tiêu 600 người theo kế hoạch năm 1951 làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Trung Lào.

Với sự ủng hộ, giúp đỡ của quân và dân Liên khu IV, tháng 4-1951, Đại hội đại biểu nhân dân Trung Lào được khai mạc tại xã Trúc Lâm, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Đại hội đã tán thành chủ trương thành lập khối liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào nhằm tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến tới thắng lợi. Đại hội quyết định thành lập Mặt trận Ítxala Trung lào, vạch chương trình, kế hoạch phối hợp hành động với quân và dân Liên khu IV của Việt Nam, góp phần đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc. Các tỉnh Liên khu IV của Việt Nam cũng tổ chức kết nghĩa với các tỉnh biên giới của nước bạn Lào như Hà Tĩnh kết nghĩa với Bôli Khamxay.

Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Ítxala Trung Lào và sự phối hợp của Ban Cán sự Trung Lào, phong trào kháng chiến ở Trung Lào có bước phát triển mới. Đầu năm 1951, Trung Lào đã xây dựng được các khu du kích ở Tà Ôi, Mương Noòng, Bulapha, Angklan, Thaiphaibăn… Gần 600 xã trên tổng số 95 xã của Trung Lào có cơ sở kháng chiến, trong đó 40 xã đã xây dựng được chính quyền cách mạng.


(1) Văn kiện Đảng, (1951-1952) , Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1980, t.3, q.1, tr.127.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2016, 08:22:26 pm »

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hội nghị đại biểu Liên minh Việt Nam - Campuchia - Lào họp từ ngày 11 đến ngày 14-3-1951. Dự hội nghị có đại biểu của Mặt trận dân tộc thống nhất ba nước Đông Dương. Hội nghị đã xác định tính chất, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng ba nước trong sự nghiệp chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; xây dựng khối liên minh nhân dân ba nước dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và có chương trình hoạt động chung. Hội nghị thành lập Ủy ban liên minh nhân Việt Nam - Campuchia - Lào gồm đại biểu của mặt trận dân tộc thống nhất ba nước Đông Dương để thực hiện mục đích và chương trình hành động của khối liên minh. Cũng trong dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe Ban Cán sự Trung Lào báo cáo tình hình. Người căn dặn giúp Lào phải trên tinh thần đoàn kết, tôn trọng bạn. Trong công tác phải tìm hiểu kỹ phong tục, tập quán và hội nhập vào quần chúng nhân dân Lào; phải biết múa và hát Lămvông thì công tác tuyên truyền, vận động mới có kết quả.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “giúp Lào tức là giúp mình, phải tôn trọng bạn, không được có tư tưởng ban ơn, nước lớn”, Liên khu ủy Liên khu IV đã cùng với Ban Cán sự Trung Lào chỉ đạo phối hợp hoạt động trong đấu tranh chống kế hoạch thâm độc của thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và các thế lực phản động tay sai. Nhân dân các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tích cực chấp hành chủ trương của liên khu chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều cán bộ, chiến sĩ sang giúp bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng chiến.

Tháng 5-1951, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu IV lần thứ III cũng xác định rõ: “Nhiệm vụ phối hợp và giúp đỡ Trung Lào là một yêu cầu cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân trong liên khu nhằm mở rộng vùng giải phóng, phát triển thế và lực của cách mạng Lào, đồng thời phá thế uy hiếp của địch từ sườn phía Tây”(1). Nhưng nghị quyết cũng khẳng định sự nghiệp cách mạng ở Trung Lào phải do nhân dân và lực lượng cách mạng Lào quyết định là chính.

Căn cứ vào tình hình so sánh lực lượng giữa phong trào kháng chiến và địch ở Trung Lào, Liên khu ủy thấy cần “phải tăng cường giúp bạn về phát triển chiến tranh du kích, xây dựng các khu du kích hướng về đồng bằng, tiến tới xây dựng các đơn vị bộ đội địa phương. Trong hoàn cảnh Trung Lào hiện nay, cần chú trọng động viên chính trị, tuyên truyền cổ động nhân dân các bộ tộc Lào đoàn kết, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ chức và mở rộng cơ sở kháng chiến, phát triển phong trào đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống hoạt động vũ trang lấn chiếm của địch. Để phát triển nhanh lực lượng kháng chiến, công tác đào tạo giúp Lào là vấn đề có ý nghĩa then chốt”(2).

Thực hiện sự phân công của Liên khu ủy, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị đã cử hai tiểu đoàn và một số đơn vị vũ trang cùng với trên 1.000 cán bộ thường xuyên giúp bạn xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền trong vùng giải phóng, huấn luyện các đơn vị vũ trang, phát triển dân quân, du kích. Ban Cán sự Trung Lào được củng cố và tăng cường cán bộ gồm chín đồng chí (trong đó có hai đồng chí là liên khu ủy viên). Cơ sở đảng được phát triển rộng ở nhiều thôn bản với khoảng 600 đảng viên. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo, phát triển và bồi dưỡng cán bộ giúp bạn tại chỗ, Liên khu IV đã mở một trường quân chính trong vùng giải phóng Lào. Đến giữa năm 1951, địa bàn hoạt động của Liên khu IV và bạn ở vùng sát biên giới hai nước đã mở rộng gấp năm lần so với trước.

Trước sự lớn mạnh của phong trào kháng chiến của quân và dân hai nước Việt - Lào, đặc biệt sau thất bại ở mặt trận Hòa Bình và sự thu hẹp phạm vi chiếm đóng ở Trung Lào, đầu năm 1952, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ ở Trung Lào, âm mưu biến nơi đây thành khu vực mạnh để ngăn chặn sự phối hợp tiến công của quân và dân hai nước Việt - Lào.

Thấy rõ âm mưu đánh phá mới của địch, tháng 12-1951, Ban Thường vụ Liên khu ủy đã họp hội nghị và thông qua nghị quyết về chủ trương, kế hoạch công tác ở Trung Lào. Nghị quyết hội nghị nêu rõ ba nhiệm vụ căn bản ở Trung Lào là phát triển mạnh cơ sở của Mặt trận Ítxala, phát triển chiến tranh du kích và vận động phá vỡ khối binh sĩ người Lào trong quân đội Pháp.

Để phối hợp chặt ché giữa lực lượng bộ đội Việt Nam và bộ đội Ítxala, Liên khu ủy đã chỉ thị cho các đảng bộ Thanh - Nghệ - Tĩnh lãnh đạo quần chúng xây dựng khối đoàn kết Việt - Lào, phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào một cách toàn diện về quy mô và nhịp độ, ở cả tiền tuyến và hậu phương. Theo sự phân công của Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu, đảng bộ chính quyền ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh huy động hàng nghìn dân công tham gia mở đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm trên dọc các tuyến đường biên giới chuẩn bị bước vào những chiến dịch lớn.

Đầu năm 1952, Liên khu IV đã tổ chức giúp bạn mở bốn khóa huấn luyện và đào tạo trên 300 cán bộ sơ cấp về quân sự, chính trị làm nòng cốt để phát triển cơ sở trong vùng tạm chiếm. Cơ sở của Mặt trận Ítxala đã có 419 tổ chức. Đây là những tổ chức chính trị rất quan trọng làm nòng cốt để hướng dẫn, vận động, tuyên truyền, giác ngộ các bộ tộc Lào trực tiếp tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Vùng Mahaxây có hơn 100 du kích, vùng Bulapha phát triển được 200 du kích và tổ chức một trung đội bộ đội địa phương, vùng Thaphaibăn có trên 100 du kích và hai trung đội bộ đội địa phương.

Với sự đoàn kết giúp đỡ, phối hợp của quân tình nguyện Việt Nam, vùng giải phóng Lào đã được xây dựng và củng cố. Toàn Trung Lào đã có 120 tiểu đội du kích, bốn trung đội hai đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng vũ trang Ítxala phối hợp với một số đơn vị vũ trang tình nguyện Liên khu IV của Việt Nam đã liên tục chiến đấu, tiêu diệt cấp tiểu đoàn binh sĩ người Lào trong quân đội Pháp, bẻ gẫy các trận càn quét lớn của quân Pháp vào bắc Xaravan và tây nam căn cứ Atôpơ ở Mahaxây, Sennoi, buộc địch phải rút khỏi các vị trí Xôtviêng, Nahôn và Lâmthoai. Công tác binh vận cũng đã được phát động trong các thôn bản Lào. Cán bộ Việt Nam và Lào đã đi sâu, đi sát phong trào, tuyên truyền, vận động nhân dân, lên án chính sách xâm lược cùng các hình thức bóc lột kinh tế của thực dân Pháp, động viên các bộ tộc Lào không cho con em đi lính cho giặc, kiên quyết đấu tranh chống lại các hình thức bóc lột kinh tế của địch, chống phu phen tạp dịch; đồng thời, vạch rõ thủ đoạn chiến tranh tâm lý của thực dân Pháp âm mưu thực hiện chính sách “chia để trị”, “dùng người Lào đánh người Lào” để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Tình cảm quốc tế trong sáng và gương hy sinh anh dũng, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi của cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam ngày càng củng cố và tô đậm tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước Việt - Lào vốn đã gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập cho mỗi nước.


(1) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu IV lần thứ III, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
(2) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu IV lần thứ III, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:37:24 pm »

II. ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH
TIÊU DIỆT SINH LỰC ĐỊCH, LÀM TRỌN NGHĨA VỤ
CỦA HẬU PHƯƠNG ĐỐI VỚI TIỀN TUYẾN

Bị thất bại ở mặt trận Hòa Bình, quân Pháp càng hoang mang, dao động. Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương chủ trương tập trung lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với phong trào chiến tranh du kích của nhân dân Việt Nam đang phát triển mạnh ở khắp các vùng địch tạm chiếm, trọng điểm là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, thực dân Pháp ra sức củng cố, chiếm giữ vùng rừng núi Tây Bắc còn lại để mở rộng chiến tranh ở Lào, Campuchia, phát triển đội quân người Việt nhằm ổn định tình hình trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.

Đế quốc Mỹ cũng tăng cường viện trợ khẩn cấp cho Pháp và chính quyền tay sai ở Đông Dương để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Trong những tháng đầu năm 1952, Mỹ đã cung cấp cho Pháp ở chiến trường Đông Dương tới 120.000 tấn phương tiện chiến tranh, bao gồm các loại vũ khí tối tân, hiện đại. chi phí vào chiến tranh Đông Dương của đế quốc Mỹ đã lên tới 146 tỷ phrăng.

Trong tình thế bị động lúng túng, phải dàn quân để đối phó ở khắp nơi, quân Pháp ở Bình - Trị - Thiên ngày càng bị cô lập và bị uy hiếp. Âm mưu của Pháp là bình định xong các vùng tạm chiếm để rút quân ứng chiên chi viện cho mặt trận chính ở Bắc Bộ đã không thực hiện được, trái lại, một bộ phận lớn lực lượng địch đã bị tiêu hao, tiêu diệt trên chiến trường Bình - Trị - Thiên.

Mặc dù ở trong thế bị động và buộc phải đối phó ở khắp nơi, song được Mỹ hậu thuẫn, thực dân Pháp vẫn ngoan cố, chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân Pháp đã thay đổi thế bố trí lực lượng và phương thức hoạt động nhằm quay về củng cố vùng chiếm đóng, đồng thời tăng cường càn quét, lấn chiếm vùng giáp ranh, vùng căn cứ du kích, tập trung phá hoại tiềm lực của phong trào kháng chiến để giành lại các vùng đông dân, nhiều của thuộc các huyện đồng bằng của Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị. Mặt khác, chúng ra sức bắt lính, thi hành ráo riết lệnh tổng động viên, bắt cả phụ nữ ra trận, thực hiện triệt để chính sách vơ vét nhằm tiếp tục “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Quân địch ở Bình - Trị - Thiên đã tăng lên 32.000 quân. Điều đáng chú ý là binh lính người Việt tăng nhanh. Trên cục diện chiến trường cả nước, đây là một thắng lợi lớn của quân dân ta ở Bình - Trị - Thiên vì đã thu hút một lực lượng lớn quân đội xâm lược Pháp ở Đông Dương.

Quân Pháp đã tăng cường đánh phá hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhất là phá hoại đê điều, kho tàng và các cơ sở kinh tế quốc phòng để làm cho tiềm lực kinh tế kháng chiến bị suy yếu. Đầu năm 1952, máy bay Pháp nhiều lần oanh kích, phá sập các công trình thủy lợi lớn ở ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, như đập Bái Thượng, đập Đô Lương, đập Nam Đàn, cống Trung Lương… làm cho 125.000 mẫu ruộng bị hạn hán, úng lụt…

Để chống lại có hiệu quả hơn hoạt động bình định, đánh phá của địch, ngày 26-1-1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị vạch rõ: “Hiện nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách điều động bộ đội thực hiện kế hoạch càn quét vùng du kích và căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch và lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải ra sức thi hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai để kịp thời củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích và tích cực chống giặc càn quét”(1). Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu các địa phương nêu cao cảnh giác, chống các biểu hiện như chủ quan khinh địch, dè dặt, bi quan, ỷ lại vào bộ đội chủ lực…

Ban Bí thư cũng đề ra những công tác chính ở vùng tạm chiếm là đẩy mạnh dân vận, địch vận, phát triển phong trào chiến tranh du kích. Các địa phương cần đặc biệt chú trọng việc củng cố chi bộ và đề cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng; cần giữ vững mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng và phải giữ đúng nguyên tắc hoạt động bí mật để tồn tại và phát triển trong vùng địch hậu. Đối với các chiến trường Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, cần giữ vững thế trận tiến công và phát huy thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình.

Từ tình hình thực tế chiến trường và nhiệm vụ của phong trào kháng chiến của Liên khu IV, Liên khu ủy nhận định: quân Pháp vẫn chiếm Hòa Bình còn là mối đe dọa lớn đối với Thanh - Nghệ - Tĩnh. Do đó, bộ đội phải bám sát địch, tiêu diệt chúng để bảo vệ hậu phương. Đầu năm 1952, Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên đã thông qua kế hoạch tác chiến phối hợp với chiến trường chính. Nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh hoạt động quân sự, tác chiến tiêu diệt sinh lực địch, kiềm chế quân ứng chiến, phá chính sách tổng động viên của địch, bảo đảm hoàn thành thu thuế nông nghiệp và bảo vệ mùa màng. Để chủ động tiêu diệt sinh lực địch, bộ đội vừa phải tác chiến, vừa phải xây dựng lực lượng, gây cơ sở trong nhân dân. Bộ Chỉ huy mặt trận đã xây dựng phương án và chỉ đạo hoạt động tác chiến quân sự từ đầu tháng 1-1952 đến cuối tháng 5-1952.

Lúc đó, địch cũng đang thay đổi phương thức đánh phá trên chiến trường Bình - Trị - Thiên để tăng cường đối phó với phong trào chiến tranh du kích và tiếp tục mở rộng vùng chiếm đóng. Chúng đã rút bớt các vị trí đóng quân nhỏ lẻ dễ bị cô lập ở vòng ngoài để tập trung xây sựng các vị trí kiên cố có thể chốt giữ lâu dài. Mặt khác, chúng điều các đơn vị quân ứng chiến cơ động phối hợp với lực lượng binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp mở các cuộc càn quét liên tiếp, dài ngày vào các vùng căn cứ du kích nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực của lực lượng vũ trang kháng chiến. Đối với vùng tạm bị chiếm, chúng thay đổi hệ thống bố phòng xung quanh các đồn bốt, vị trí xung yếu, tăng cường củng cố hệ thống đồn bốt, tháp canh kiên cố.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chinh trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t., tr.16.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:39:13 pm »

Tháng 2-1952, chính quyền Bảo Đại ban bố lệnh tổng động viên đợt ba, đẩy mạnh việc bắt thanh niên trong vùng tạm chiếm đưa đi huấn luyện để bổ sung cho đội quân tay sai. Về chính trị, được sự hậu thuẫn của Mỹ, thực dân Pháp ra sức củng cố chính quyền tay sai, tiến hành cải tổ bộ máy. Bộ mặt phản dân hại nước của những kẻ làm tay sai cho giặc ngày càng lộ rõ. Chúng đã câu kết chặt chẽ với quân xâm lược ra sức đàn áp phong trào cách mạng, phá hoại chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và Chính phủ.

Chỉ trong vài tháng đầu năm 1952, quân Pháp đã tiến hành hàng chục cuộc hành quân càn quét với lực lượng từ hai đến ba tiểu đoàn nhằm tiêu diệt lực lượng bộ đội chủ lực và phong trào chiến tranh du kích ở khắp các địa phương thuộc Quảng Trị, Thừa Thiên. Những cuộc hành quân càn quét của địch đã diễn ra ác liệt hơn cả về quy mô và cường độ đánh phá.

Trong các cuộc hành quân càn quét, quân Pháp đã thi hành những chính sách tàn bạo như phá sạch, đột sạch, cướp sạch để khủng bố tinh thần nhân dân. Hệ thống vành đai trắng của địch bị phá từng mảng trước đây, nay chúng tập trung củng cố lại. Chúng dùng xe tăng, đại bác phá hoại hàng trăm hécta lúa, màu, dùng xe cơ giới gom xúc hàng vạn đồng bào ở vùng ven để mở rộng vành đai trắng bao bọc xung quanh các nơi đồn trú và ven các đô thị. Nhiều cơ sở kháng chiến vừa được củng cố trong vùng tạm chiếm bị địch chà xát, đánh phá trở lại một cách ác liệt hơn.

Cuộc đấu tranh ở mặt trận Bình - Trị - Thiên diễn ra giằng co quyết liệt. Địch cố bám giữ những vùng chiếm đóng để làm bàn đạp tiến công vùng giáp ranh và vùng tự do của phong trào kháng chiến. Còn lực lượng vũ trang kháng chiến có lớn mạnh hơn trước, song trình độ kỹ thuật tác chiến chưa đều, đánh công kiên và đánh vận động đạt hiệu quả chưa cao, nhất là trong tình hình địch thay đổi thế bố phòng và áp dụng nhiều phương thức, thủ đoạn đánh phá ác liệt vùng căn cứ.

Liền khu ủy cũng nêu lên một số thiếu sót của phong trào kháng chiến như xây dựng cơ sở chiến tranh du kích chưa mạnh, ý thức chấp hành mệnh lệnh của một số cán bộ còn thấp, công tác binh vận, địch vận còn buông lỏng, v.v. Vì vậy, yêu cầu cấp bách của liên khu là phải nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, chủ động đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm.

Ngày từ đầu năm 1952, Liên khu ủy đã chỉ thị cho các địa phương phải tập trung đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch tạm chiếm: “Nhiệm vụ trước mắt là phải khắc phục nhanh tình trạng phân tán của bộ đội và cán bộ ở các địa phương. Xây dựng nhanh các đơn vị bộ đội địa phương bám đánh địch, giữ làng ở từng địa phương, gắn tác chiến với việc xây dựng lực lượng tại chỗ. Trong củng cố, xây dựng dân quân, du kích, cần đặc biệt chú ý đến sự đoàn kết nhân dân ở cơ sở, tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm về hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân, du kích qua những thành tích trong chiến đấu để phát huy mặt tích cực, nhân rộng điển hình và nâng cao trình độ tác chiến”…(1).

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Liên khu ủy về việc phát huy chiến thắng trong chiến dịch Hòa Bình, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã xác định quyết tâm đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai và củng cố thế đứng chân vững chắc.

Đến giữa năm 1952, Đại đoàn chủ lực 325 tại mặt trận Bình - Trị - Thiên sau khi được bổ sung trang bị đã trở lại tấn công dài ngày vào vùng địch hậu. Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên nắm sát diễn biến tình hình, tổ chức lại chiến trường, phân công kế hoạch tác chiến cho các đơn vị, nhằm vào chỗ yếu của địch và phát huy điểm mạnh của bộ đội để thực hiện phương thức tác chiến thích hợp, đạt hiệu quả cao. Bộ đội địa phương Thừa Thiên có nhiệm vụ đánh địch ở các vùng ven thành phố Huế và dọc quốc lộ số 1. Trung đoàn 18 và bộ đội địa phương Quảng Bình có nhiệm vụ đánh địch tại các trục đường giao thông chính, thu hút và phân tán lực lượng quân ứng chiến của chúng. Bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị tập trung tiến công một số vị trí kiên cố của địch ở bắc Quảng Bình.

Theo kế hoạch, đầu tháng 3-1952, Bộ Chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên mở một đợt hoạt động trọng điểm bằng cuộc tiến công vào vị trí Nam Đông thuộc huyện Gio Linh (Quảng Trị). Đây là một vị trí phòng ngự quan trọng của địch nằm trong hệ thống phòng thủ ở phía bắc tỉnh Quảng Trị. Nhận lệnh tác chiến, Trung đoàn 95 và tiểu đoàn 230 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị cùng phối hợp chặt chẽ với dân quân, du kích, triển khai kế hoạch bao vây tiêu diệt vị trí Nam Đông. Quân Pháp điều hai tiểu đoàn có máy bay và xe bọc thép từ Đông Hà lên giải vây cho Nam Đông. Toán quân ứng cứu này cũng bị bao vây và chia cắt. Viên thiếu tá chỉ huy cuộc hành quân giải tỏa tử trận. Kết thúc trận đánh, 770 quân địch bị tiêu diệt. Đồn Nam Đông bị phá. Quân và dân địa phương đã bao vây các vị trí đồn lẻ, phá cầu, cống trên dọc tuyến đường 74 và 75, tiến lên giải phóng huyện lỵ Gio Linh. Trong trận này, bộ đội đã tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 27 BTA và tiêu hao nặng tiểu đoàn 7 VBD (tiểu đoàn này bị tiêu diệt hơn một đại đội), phá hủy 60 xe vận tải, thu nhiều vũ khí, đạn dược.

Chiến thắng Nam Đông là nguồn động viên, cổ vũ lớn cho quân và dân Bình - Trị - Thiên nói riêng và toàn liên khu nói chung tiếp tục chủ động tác chiến tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu căn cứ ở bắc Quảng Trị và uy hiếp trực tiếp các vị trí địch ở Hà Thanh và Đông Hà.


(1) Chỉ thị của Liên khu ủy Liên khu IV, ngày 25-1-1952, tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Chỉ thị, 1952, ĐK 60.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:40:04 pm »

Ở Quảng Bình và Quảng Trị, Trung đoàn 18 bộ đội địa phương đã đẩy lùi cuộc càn quét của địch vào huyện Bố Trạch. Ngày 25-3, Tiểu đoàn 274 và Tiểu đoàn 332 vận động tiến công tiêu diệt 250 quân địch ở Vạn Lộc - Hoàn Lão, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân ứng chiến của quân Pháp. Ngày 21-3, các đơn vị thuộc trung đoàn 101 tiêu diệt hai vị trí tháp canh ở Cam Lộ và phục kích lật đổ ba toa tàu trên đường Mỹ Chánh - Đông Hà, đánh vận động diệt viện binh ở Khánh Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 150 tên, bắt 45 tên địch, phá vị trí Sơn Tùng và 23 lô cốt trên đường Nông - Phú Bài - Gia Lễ - An Cựu. Bộ đội địa phương huyện Hải Lăng tập kích đồn Hải Thái, diệt gần 40 quân địch. Đại đội 325 huyện Triệu Phong diệt lô cốt Long Ngạn. Dân quân xã Triệu Sơn (Triệu Phong) tập kích lật đổ sáu toa tàu địch.

Mùa hè năm 1952, Liên khu ủy chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm tiếp tục tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát huy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, giải phóng huyện Quảng Trạch (Quảng Bình), mở rộng vùng giải phóng xuống phía nam.

Ngày 19-5-1952, bộ đội chủ lực của liên khu tiến công hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở bắc Quảng Bình, tiêu diệt các vị trí Cửa Phủ, Sen Bàng, thị trấn Ba Đồn và Mỹ Hòa, chặn đánh và diệt hàng trăm quân địch, bắn chìm hai canô và bắn hỏng nhiều xe cơ giới từ Thanh Khê, Đồng Hới vào chi viện cho chúng ở Ba Đồn. Ba Đồn là một vị trí rất kiên cố và quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp ở tuyến đường số 1 phía bắc Đồng Hới. Mất Ba Đồn, thị xã Đồng Hới cũng luôn luôn ở trong tình trạng bị đe dọa tiến công.

Ngày 13-5-1952, lực lượng vũ trang Thừa Thiên tiến công vào cửa ngõ thành phố Huế, tiêu diệt hai vị trí Hương Cần, La Khê, bức rút 11 vị trí tháp canh, mở rộng vùng căn cứ giáp Huế. Ngày 14-5, địch điều quân ở Huế lên tiếp viện nhưng bị chặn đánh và bị tiêu diệt một trung đội. Trong trận này, bội đội đã bắt 100 tù binh và thu trên 100 súng các loại.

Sau hơn bốn tháng tiến công địch liên tục trong xuân - hè 1952, quân và dân Liên khu IV đã tiêu diệt và làm bị thương trên 3.000 quân địch, trong đó bắt 331 tù binh, thu nhiều vũ khí, đạn được các loại.

Phối hợp với phong trào đấu tranh vũ trang, trong vùng tạm chiếm ở đồng bằng và đô thị, nhân dân liên tục đấu tranh chống chính sách đàn áp, khủng bố và các thủ đoạn vơ vét, bóc lột của địch. Công nhân sở hỏa xa, sở bưu điện trong thành phố Huế liên tiếp đấu tranh bằng các hình thức đình công, biểu tình đòi tăng lương, giảm giở làm. Ở thị xã Đồng Hới, công nhân nhà đèn đã cắt điện gây thiệt hại về kinh tế cho địch. Nhân dân các vùng tạm bị chiếm liên tục đấu tranh chống kế hoạch “chiêu an”, “bình định”; đòi phá khu tập trung trở về làng cũ làm ăn. Phong trào chống địch cướp lúa, phá lúa, bảo vệ mùa màng, phát triển sâu rộng khắp nơi. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, phong trào đấu tranh bảo vệ mùa màng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Vụ chiêm tháng 5-1952 vẫn thu hoạch khá. Nhân dân trong vùng căn cứ kháng chiến, vùng du kích đã khẩn trương thu hoạch nhanh lúa, màu, cất giấu lương thực và làm nghĩa vụ đóng thuế cho kháng chiến, tùy theo điều kiện của từng địa phương.

Phong trào đấu tranh chống địch bắt lính cũng được đẩy mạnh. Kể cả ở ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, thực dân Pháp và chính quyền tay sai cũng đang bí mật tuyển dụng thanh niên vùng đồng bào công giáo đưa vào vùng tạm bị chiếm để huấn luyện thành các đội quân kiêu binh chống cộng. Liên khu ủy chỉ thị cho các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cần phải có kế hoạch bảo vệ thanh niên, động viên con em nhân dân lao động tích cực gia nhập lực lượng vũ trang địa phương để đánh địch, giữ làng. Thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy và để đối phó với âm mưu thâm độc của địch, các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng đã kiên trì vận động các tầng lớp nhân dân, lợi dụng các hình thức hợp pháp và bán hợp pháp phối hợp đấu tranh chống địch bắt lính, vận động thanh niên cam kết không đi lính, trốn lính nếu bị bắt.

Liên tiếp thất bại trên các mặt trận, nội bộ địch ngày càng hoang mang, chia rẽ. Công tác tuyên truyền sâu rộng của các địa phương qua các đoàn thể quần chúng như mặt trận, thanh niên, phụ nữ, vạch rõ âm mưu thâm độc của của thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã tác động mạnh và làm phân hóa sâu sắc hơn trong nội bộ hàng ngũ binh sĩ địch. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm 1952, đã có trên 600 binh sĩ người Việt bỏ hàng ngũ giặc mang súng về với kháng chiến. Hơn 10 vụ binh biến hoặc làm nội ứng của binh sĩ ở các đồn Cự Lại, Thuận An, Cổ Trại, Phước Tịnh đã tạo điều kiện cho du kích tiêu diệt đồn.

Trong các tháng 3 và 4-1952, một bộ phận binh sĩ địch ở các vị trí Phương Tịnh, Mai Xá, Phú Bài, Ba Gióc, Vân Xá… liên tiếp phản chiến, có lẫn cả một tiểu đội mang súng chạy sang hàng ngũ kháng chiến. Ba cuộc đấu tranh của binh sĩ người Việt ở La Chử, Gia Viện, Cự Lợi chống lại sĩ quan chỉ huy, phản đối lệnh càn quét, đã kích thích mạnh mẽ tinh thần phản chiến trong binh sĩ ở nhiều đơn vị khác đòi giải ngũ, bỏ ngũ. ở đồn Cự Lợi, binh sĩ đã nổi dậy giết sĩ quan Pháp, mang toàn bộ vũ khí chạy ra vùng tự do.

Thực hiện chính sách khoan hồng của Chính phủ đối với tù, hàng binh, ngày 19-5-1952, nhân kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng đã tiếp tục thả 459 tù binh Pháp là lính Âu - Phi. Hành động trên có tác động lớn đến tư tưởng của hàng ngũ lính Âu - Phi do Pháp tuyển mộ sang đánh thuê ở chiến trường Đông Dương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:41:24 pm »

Song song với công tác binh vận, địch vận, phá khối binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp, công tác xây dựng, phục hồi cơ sở trong các vùng tạm chiếm, vùng giáp ranh cũng được đẩy mạnh. Trước những thủ đoạn đánh phá ác liệt và toàn diện của địch, Liên khu ủy đề ra phương châm củng cố vùng du kích và căn cứ du kích phải gắn liền với phát triển cơ sở cách mạng trong quần chúng, khôi phục lại các chi bộ đảng và cơ sở chính quyền thôn, xã, chủ động chống địch càn quét.

Tại nhiều địa phương có vị trí đồn, bốt quan trọng của địch, cuộc đấu tranh chống địch đã diễn ra giằng co quyết liệt như ở Hương Trà, Phú Lộc (Thừa Thiên), Thuận Hóa, Hưng Đạo Quảng Bình. Để duy trì, phát triển phong trào ở vùng địch tạm chiếm, nhiều cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ. Do đó, cơ sở du kích vẫn lan rộng đến các vùng sâu của ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, làm cho phạm vi kiểm soát của địch bị co hẹp lại so với cuối năm 1951. Những trận tiến công quân sự dồn dập trong xuân - hè năm 1952 đã làm suy yếu lực lượng quân địch và kìm chân, phân tán chúng ở khắp nơi. Đến mùa hè năm 1952, lực lượng vũ trang của liên khu đã được củng cố thêm một bước về tổ chức, biên chế, trang bị. Ở hầu hết các tỉnh đều xây dựng được từ hai đến ba tiểu đoàn thường trực chiến đấu. Các tiểu đoàn cơ động của tỉnh được bổ sung quân số, một số được điều động sang chiến đấu giúp bạn ở chiến trường Trung Lào. Nhiều đại đội độc lập của các huyện đã tham gia huấn luyện kỹ thuật cho lực lượng dân quân, du kích, tự vệ ở thôn, xã về kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu, chống địch càn quét. Tính chung, cứ mỗi xã có từ một trung đội đến một đại đội du kích bán thoát ly. Ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, ngoài lực lượng du kích ở địa bàn thôn, xã, còn có một lực lượng dân quân tự vệ đông đảo sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương và là lực lượng xung kích, đi dân công phục vụ các chiến dịch. Như vậy, qua thực tiễn chiến đấu, lực lượng vũ trang của liên khu phát triển cả về tổ chức và kỹ thuật tác chiến. Lập trường, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ được củng cố. Với sự đóng góp tích cực của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, một số đại đoàn chủ lực như các đại đoàn 304, 325 càng ngày càng trưởng thành về mọi mặt. Do yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu, ở liên khu đã xây dựng thêm một số đơn vị công binh, pháo binh, thông tin, vận tải hoạt động cơ động ở một số tỉnh.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng được chú trọng hơn. Hàng trăm cán bộ chỉ huy các cấp đã lần lượt được cử đi học các lớp chính trị, các lớp bồi dưỡng kiến thức quân sự. Trình độ chỉ huy và khả năng tác chiến của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên rõ rệt.

Trang bị vũ khí của bộ đội cũng được cải thiện. Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương của tỉnh đã được trang bị thêm vũ khí của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy như tiểu liên, súng trường. Nguồn vũ khí do các công binh xưởng của liên khu tự chế tạo để đáp ứng yêu cầu trang cấp cho bộ đội đã đáp ứng được 50% nhu cầu trang bị cho các đại đội chiến đấu. Lúc này, ở liên khu đã sản xuất, chế tạo các loại vũ khí có hiệu quả chiến đấu cao hơn như súng cối, súng phá bom, súng phóng đạn và các loại mìn, địa lôi có khả năng sát thương cao. Số lượng vũ khí sản xuất được cũng tăng lên từ ba đến bốn lần so với những năm trước. Do nguồn thu của hậu phương tăng, cho nên việc bảo đảm hậu cần cho bộ đội cũng được cải thiện đáng kể về ăn, mặc. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội đảm bảo một người trên 1 kg gạo/ngày; mỗi người được hai bộ quần áo/năm, ba năm được một chăn, một màn, một áo trấn thủ.

Bị rơi vào thế bị động trên toàn chiến trường Đông Dương, cho nên quân Pháp khó có thể thôn tính được một địa bàn quan trọng như vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhưng chúng vẫn không từ bỏ âm mưu phá hoại mà càng đánh phá toàn diện hơn. Quân Pháp đã câu kết chặt chẽ với tay sai phản động, sử dụng nhiều mũi tiến công, kết hợp gây bao loạn nhằm phá từ bên trong và tiến đánh bằng quân sự từ bên ngoài để từng bước làm suy yếu hậu phương kháng chiến ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Được Mỹ cung cấp tiền bạc và các loại vũ khí tối tân, thực dân Pháp đã dùng máy bay đánh sâu vào nội địa ba tỉnh, đặc biệt là các vùng giáp biên giới với Lào và vùng ven biển Nghệ An - Thanh Hóa.

Từ đầu năm 1952, địch nhiều lần cho quân tiến đánh một số vị trí phía nam của tỉnh Hà Tĩnh, đưa quân đánh chiếm vùng Nho Quan của tỉnh Ninh Bình nhằm uy hiếp trực tiếp phía bắc tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, chúng còn tiếp tay cho các nhóm thổ phỉ, phìa tạo quấy rối một số vùng biên giới, âm mưu lập xứ Mường, xứ Thái tự trị. Ở nội địa, chúng tung biệt kích, gián điệp, nuôi dưỡng số phản động đội lốt tôn giáo gây ra các vụ phản loạn ở Xã Đoài, Hưng Nguyên, Tây Hồ (Nghệ An), Ba Làng, Nga Sơn, Kim Sơn (Thanh Hóa) nhằm chống phá phong trào kháng chiến.

Trước hành động chống phá quyết liệt của địch, Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp ủy đảng vùng có đạo phải lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống âm mưu và hoạt động của những kẻ phản cách mạng giả danh tôn giáo. Ban Bí thư Trung ương cũng phê bình nhiều địa phương chưa tích cực tranh thủ quần chúng, vạch mặt số phản động, chưa kiên trì tuyên truyền, vận động quần chúng, đem lại những quyền lợi thiết thân cho họ như thực hiện giảm tô, giảm tức. Đối với địch, chưa kiên quyết trừng trị những kẻ cầm đầu, ngoan cố chống lại phong trào kháng chiến. Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ rõ những công việc cụ thể cần làm ngay: “Phải mở rộng công tác tuyên truyền của ta trong các vùng tôn giáo, giải thích chính sách của Chính phủ và Mặt trận đối với giáo dân, vạch rõ âm mưu phản động lợi dụng tôn giáo để chia rẽ phá hoại kháng chiến của thực dân Pháp, can thiệp Mỹ. Phương châm tuyên tuyền là lấy sự thật của ta để chứng minh sự giả dối của bọn phản động… Xúc tiến công tác dân vận để tranh thủ đồng bào công giáo đứng về hàng ngũ kháng chiến, cô lập bọn phản động và trừng trị những tên ngoan cố nhất”(1).


(1) Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 5-6-1952, tài liệu lưu trữ Viện Lịch sử Đảng, HS: II/3/101.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10123


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2016, 06:44:45 pm »

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, nắm vững phương châm kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh là chính, đảng bộ và chính quyền các cấp Liên khu IV kiên quyết bảo vệ, củng cố và xây dựng hậu phương thành chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến; phát huy sức mạnh về quân sự, kinh tế, chính trị, cảnh giác, kịp thời chống các hành động phá hoại của địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; củng cố vững chắc các tuyến phòng thủ ở ven biển, vùng biên giới, đặc biệt là những vùng trọng điểm như Nga Sơn, Kim Sơn, Cổ Lũng (Thanh Hóa), Quỳ Châu, Mường Xén (Nghệ An), v.v. Phong trào quân sự hóa toàn dân, xây dựng làng chiến đấu và phòng gian bảo mật phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Nhờ những biện pháp chủ động và tích cực trong đấu tranh chống địch, quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đánh tan các cuộc đổ bộ của địch vào Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Nga Sơn (Thanh Hóa), Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Quỳnh Lưu, Nghi Xuân (Nghệ An). Lực lượng công an tỉnh Nghệ An đã phá tổ chức “hội đồng liên hương”, “Thanh niên nghĩa binh”, “Phụ nữ liềm chấu” ở Tràng Nứa. Thực chất đó là những tổ chức phản động biến tướng do địch lập ra để lôi kéo quần chúng. Tháng 8-1952, công an Thanh Hóa cũng phá tổ chức Quốc dân đảng phản động ở huyện Bá Thước và mạng lưới gián điệp ở Hòn Mê, Ba Làng.

Thắng lợi của quân và dân Liên khu IV trong việc chống pháp âm mưu và hành động phá hoại của địch đã làm thất bại ý đồ chiến lược của chúng định làm suy yếu hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và ngăn chặn nguồn tiếp tế cho các chiến trường. Hàng trăm gián điệp, biệt kích bị bắt và đưa ra xét xử công khai trước tòa án nhân dân, trong số dó, nhiều kẻ gian ác đã bị trừng trị đích đáng. Hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục được bảo vệ vững chắc và ngày càng phát huy sức mạnh, cung cấp sức người, sức của phục vụ mặt trận Bình -Trị - Thiên và các mặt trận khác trong cả nước.

Trong xây dựng hậu phương tại ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, công tác vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào công giáo chiếm một vị trí quan trọng. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh chú trọng chỉ đạo việc kiểm điểm thực hiện chính sách dân tộc ở miền núi, thông qua đó để làm tốt công tác đoàn kết dân tộc, thực hiện đoàn kết nông thôn, củng cố chính quyền cách mạng, phá chính sách chia để trị, phá âm mưu của địch lập xứ Mường, xứ Thái tự trị của địch.

Tháng 4-1952, Liên khu ủy đã ra nghị quyết, chỉ rõ: “Do đặc điểm chính trị và tình hình ruộng đất ở các vùng thượng du nên trong giai đoạn hiện nay, lợi ích của mỗi tầng lớp nhân dân phải phục tùng lợi ích của toàn thể dân tộc kháng chiến. Trong hai nhiệm vụ phản đế và phản phong thì nhiệm vụ phản đế là chính. Đảng cần chủ trương đoàn kết nhân dân trên cơ sở điều chỉnh một cách hợp lý những mâu thuẫn nội bộ để tập trung mũi nhọn chống đế quốc…”(1). Rút kinh nghiệm những ưu, khuyết điểm trong công tác thực hiện chính sách ruộng đất ở miền núi, Liên khu ủy nêu lên những nhiệm vụ cụ thể là phải xóa bỏ ngay những quan điểm hẹp hòi trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, vận dụng đúng chính sách của Đảng đối với vùng dân tộc, phải vận động nhân dân để phát triển cơ sở chính trị, củng cố các ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, nâng cao năng lực công tác các cơ quan dân, quân, chính, đảng, phá âm mưu của địch nhằm chia rẽ dân tộc.

Thực hiện chủ trương của Liên khu ủy, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã khẩn trương củng cố các đơn vị công tác ở miền tây, thành lập ban cán sự Thượng du dưới sự chỉ đạo trực tiếp của thường vụ tỉnh ủy. Cùng với sự chuyển biến trên tất cả các mặt công tác kháng chiến ở vùng thượng du, lực lượng vũ trang các huyện Bá Thước, Thường Xuân (Thanh Hóa) và Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Tương Dương, Con Cuông (Nghệ An) đã được củng cố. Để tiếp tục làm tốt công tác vùng thương du, một trong những khâu quan trọng là phải tăng cường cán bộ đảng cho miền núi. Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã phải cử hàng trăm cán bộ miền tây công tác. Những cán bộ được cử đi đều phải quán triệt sâu sắc quan điểm dựa vào dân, lời nói và hành động phải gắn liền nhau.

Để đẩy mạnh công tác xây dựng hậu phương phục vụ tiền tuyến đánh giặc, tháng 3-1952, Trung ương Đảng và Chính phủ phát động phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước: “Thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là bồi dưỡng và tích trữ lực lượng dồi dào để kháng chiến lâu dài, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công, để đưa kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi. cho nên, ở vùng tự do, thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là công tác trung tâm của nhân dân, của Chính phủ và của Đoàn thể. Ở vùng du kích và căn cứ du kích, đó là một công tác rất quan trọng…

Mỗi địa phương, mỗi đơn vị, mỗi gia đình đều nên ký giao kèo thi đua thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm riêng của mình để hoàn thành kế hoạch chung của Chính phủ”(2). Người nêu khẩu hiệu: “Bộ đội thi đua diệt giặc lập công. Nhân dân thi đua sản xuất, tiết kiệm”(3).


(1) Nghị quyết Hội nghị thượng du vận của Liên khu IV (từ ngày 23 đến ngày 28-4-1952), tài liệu Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, HS Liên khu ủy IV, ĐVBQ 19.
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr. 440, tr.441.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM