Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:03:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: The Last Battle - Trận chiến cuối cùng  (Đọc 99207 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #80 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2017, 07:57:28 pm »

     
        Giữa cảnh náo động của trận pháo kích, quân Zhukov bắt đầu di chuyển. Tập đoàn quân Cận vệ 8 kỷ luật thép của Chuikov đi đầu, từ đầu cầu Küstrin bên bờ tây sông Oder. Khi tiến về phía trước, dàn pháo vẫn luôn đi đầu, dọn sạch khu vực đằng trước. Ở phía bắc và phia nam Küstrin, nơi đoàn quân phải vượt qua con sông đang dâng cao vì lũ, các kỹ sư đang đưa thuyền phao xuống nước và lắp các phần cầu gỗ làm sẵn. Xung quanh họ, các toán quân đang vượt sông Oder mà không chờ cầu xây xong, sóng xô tới làm mấy chiếc thuyền chòng chành.

      Trong hàng ngũ, có những người lính từng đóng ở Leningrad, Smolensk, Stalingrad và những nơi nằm phía trước Moscow, những người đã chiến đấu suốt chặng đường dài qua một nửa lục địa để tới được sông Oder. Có những người lính từng chứng kiến làng quê của mình bị họng súng quân Đức xóa sổ, ruộng đồng bị thiêu rụi, gia đình bị lính Đức tàn sát. Với họ, cuộc tấn công này có một ý nghĩa đặc biệt. Họ sống chỉ vì giây phút được báo thù. Quân Đức đã khiến họ chẳng còn gia đình để quay về; họ chẳng biết đi đâu trừ tiến lên phía trước.

      Giờ đây, họ chiến đấu hết sức dữ dội. Hàng nghìn tù binh chiến tranh vừa được cứu cũng khao khát tương tự vậy: Hồng quân cần quân tăng cường gấp tới mức những người tù mới được cứu cũng được trao vũ khí, dù họ hết sức tả tơi, hốc hác, nhiều người còn có dấu hiệu bị bạo hành. Giờ họ cũng tiến lên, muốn được trả thù thật tàn khốc.

      Quân Nga đi đến bờ đông sông Oder, hồ hởi la hét như những người thổ dân. Đang phấn khích vô cùng, họ thấy không thể nào chờ đến khi thuyền hay cầu sẵn sàng. Golbov ngạc nhiên thấy những người lính mang theo đầy đủ quân bị cứ thế lặn xuống, và bắt đầu bơi qua sông. Số khác thì ngồi trên các thùng xăng rỗng, các tấm ván hay khối gỗ, thân cây – bất kỳ thứ gì có thể nổi được.

      Cảnh tượng đó thật là ngoạn mục. Golbov liên tưởng tới “một đoàn quân kiến đông đúc vượt sông bằng mấy chiếc lá và cành cây. Sông Oder chật kín những chiếc thuyền nghẹt người, những chiếc bè chất đống trang thiết bị, những tấm mảng làm từ gỗ mới đốn chở súng đạn. Chỗ nào cũng thấy đầu người nhấp nhô bơi hay chèo qua sông.” Golbov chợt thấy bạn mình, viên quân y của trung đoàn, “một anh chàng bự con tên Nicolaieff, đang chạy xuống bờ sông, kéo theo một chiếc thuyền nhỏ trông rất kỳ quặc. Golbov biết đáng lý Nicolaieff “phải ở lại bệnh viện dã chiến ở hậu phương, nhưng anh lại ngồi đó, trên chiếc thuyền con con và chèo như điên.” Golbov thấy chẳng còn điều gì trên đời có thể ngăn được cuộc tấn công này nữa.

      Bỗng đợt pháo kích chấm dứt, rồi mọi thứ im ắng hẳn đi. Loạt pháo kéo dài suốt 35 phút liền. Trong boongke chỉ huy của Zhukov, các sĩ quan tham mưu chợt nhận ra mấy chiếc điện thoại đang đổ chuông. Không ai biết chuông đã kêu bao lâu; trước đó bọn họ đều bị điếc tạm thời. Các sĩ quan bắt đầu nghe điện thoại. Các tư lệnh dưới quyền Chuikov là những người đầu tiên báo cáo về.

      Chuikov nói với Zhukov, “Mọi thứ đều đúng như kế hoạch.” Một lát sau, ông nhận được một tin còn tốt hơn. Ông tự hào thông báo, “Đã chiếm được các mục tiêu đầu tiên.” Zhukov đột nhiên thấy nhẹ cả người, sau khi đứng căng thẳng suốt từ đầu cuộc tấn công tới giờ. Theo tướng Popiel nhớ lại, Zhukov “túm lấy Chuikov và nói, ‘Xuất sắc! Xuất sắc! Thực sự rất tuyệt vời!’”

       Nhưng dù vui sướng là thế, Zhukov vốn dạn dày kinh nghiệm, ông biết không nên đánh giá thấp kẻ thù. Ông sẽ mừng hơn khi nào chiếm được cao nguyên Seelow trọng yếu ở gần Küstrin. Khi đó ông mới thấy chắc chắn thành công. Việc này không được kéo dài quá lâu.

       Ngoài ra, những chiếc máy bay ném bom của Nga đã được đưa tới và bắt đầu ném bom rải thảm xuống khu vực phía trước. Theo kế hoạch, có hơn 6.500 chiếc máy bay sẽ hỗ trợ cho cuộc tấn công của ông và của Koniev. Nhưng Zhukov tin là chỉ riêng đợt pháo kích vừa rồi cũng đủ khiến quân thù nhụt chí rồi.

       Trong phòng tác chiến của văn phòng chỉ huy tiền phương nằm ở khu rừng Schönewalde, phía bắc Berlin, Thượng tướng Gotthard Heinrici bước quanh phòng, tay chắp sau lưng. Xung quanh ông, điện thoại đang reo liên hồi, các sĩ quan tham mưu nghe báo cáo, cẩn thận ghi chú lại các thông tin lên tấm bản đồ trên chiếc bàn giữa phòng. Cứ một chốc, Heinrici lại dừng bước để liếc nhìn bản đồ hay đọc một tin nhắn mà Đại tá Eismann đưa ông.

      Ông không mấy ngạc nhiên trước kiểu cách tấn công của quân Nga, dù phần đông ban tham mưu của ông đều khiếp đảm trước đợt pháo kích khủng khiếp vừa rồi. Tướng Busse của Tập đoàn quân 9 nói đó là “lần tồi tệ nhất hồi giờ”, còn Đại tá Eismann thì tin là “hỏa lực hủy diệt cỡ này có thể đã phá hủy toàn bộ công sự ngoài tiền tuyến của ta,” nhận định dựa trên các báo cáo ban đầu.

        Đêm ngày 15, phần lớn quân Vistula đã rút về phòng tuyến thứ hai như Heinrici đã ra lệnh. Nhưng việc này không phải dễ dàng. Một số sĩ quan rất phẫn nộ khi phải rút khỏi vị trí đóng quân. Họ có cảm giác như đang phải lui quân chạy trốn vậy. Vài người đã phàn nàn với Heinrici. Ông chỉ lạnh lùng hỏi một vị tướng phản đối việc này, “Bộ anh chưa từng nghĩ mấy công sự và lính của mình ngoài tiền tuyến sẽ tiêu tùng hết thảy sau đợt pháo kích mở màn của quân Nga à? Nếu anh ngồi trong một nhà máy thép, anh có dí đầu mình xuống dưới cái búa đòn bẩy không hả? Anh phải rụt đầu lại kịp thời chứ. Đó chính là điều ta đang làm.” Mưu kế này đã diễn ra suốt đêm. Toàn bộ báo cáo từ những nơi rút quân về đều nói đã điều quân thành công.

       Giờ đây, ở phòng tuyến thứ hai, họ đang đợi quân Nga tiến đến. Heinrici có lợi thế ở một nơi: phía tây Küstrin là cao nguyên cát Seelow hình móng ngựa. Độ cao ở đây nằm trong khoảng từ 30 đến 60 mét, bên dưới là một thung lũng ẩm thấp, vì có nhiều dòng suối chảy qua, được gọi là đầm lầy Oder. Quân Nga sẽ phải vượt qua thung lũng này trên đường tiến quân từ sông Oder, và dọc trên cao nguyên hình trăng khuyết này, Heinrici đã bố trí đặt mấy khẩu pháo.

       Cao nguyên trọng yếu này chính là cơ hội duy nhất cho Heinrici chống đỡ cuộc tấn công của Zhukov, và Heinrici biết rõ là Zhukov cũng đã cân nhắc nhiều đến vấn đề này trong lúc lên kế hoạch. Quân Nga cần nhanh chóng chiếm được cao nguyên, trước khi pháo của Heinrici kịp bắn phá mấy cây cầu trên sông Oder của Hồng quân và khiến đoàn quân đang tiến qua vùng trũng lầy lội đó bị hỗn loạn. Rõ ràng là Zhukov hi vọng có thể đập tan hầu hết lực lượng kháng cự bằng đợt pháo kích khủng khiếp của mình, như thế chiếm cao nguyên sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nhưng vì quân Đức đã rút khỏi tiền tuyến, nên phần lớn quân lính và pháo của Heinrici vẫn không hề hấn gì. Kế hoạch phòng ngự diễn ra ổn thỏa. Chỉ có một điểm không ổn: Heinrici không có đủ quân số hay vũ khí cần thiết. Không có không quân hỗ trợ, cũng không có quân lính, pháo, lực lượng thiết giáp, đạn dược hay xăng dầu dự trữ, Heinrici chỉ có thể trì hoãn đà công kích của Zhukov. Dần dà, quân của ông sẽ bị chọc thủng thôi.

      Trên toàn bộ trận địa, hai tập đoàn quân của Heinrici có không đầy 700 chiếc tăng và súng tự động có thể dùng được. Số này nằm phân tán trong nhiều đơn vị của Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 12. Sư đoàn nhiều nhất có 79 cái, là Sư đoàn Thiết giáp 25; còn sư đoàn ít nhất chỉ có vỏn vẹn hai cái. Trái ngược hoàn toàn với sức mạnh pháo binh của Zhukov – 20.000 khẩu pháo đủ cỡ (*) - Heinrici chỉ có 744 khẩu, cộng thêm 600 khẩu súng phòng không dùng thay cho pháo. Nguồn cung đạn dược và nhiên liệu cũng ít ỏi không kém. Ngoài số đạn pháo có ở các ụ pháo, lượng đạn dự trữ của Tập đoàn quân 9 chỉ đủ dùng trong hai ngày rưỡi.

         Heinrici không thể cầm chân quân Nga được bao lâu – cũng không thể phản công, vì ông đã phân tán hết số xe thiết giáp và pháo ít ỏi, để mỗi đơn vị đều có cơ hội chiến đấu. Ông chỉ có thể làm những gì mình biết là khả thi: kiếm thêm chút thời gian. Nhìn vào bản đồ có những mũi tên đỏ to tướng đánh dấu bước tiến của quân Nga, Heinrici cay đắng nghĩ đến số quân thiết giáp bị đưa tới chỗ cụm tập đoàn quân của Thống chế Schörner ở phía nam để ngăn quân Nga tấn công vào Prague, như Hitler và Schörner vẫn khăng khăng. Số quân này có thể giúp Heinrici có thêm bảy sư đoàn thiết giáp. Ông cay đắng nói với Eismann, “Nếu ta có số quân này, thì bọn Nga sẽ không được vui sướng thế này đâu.”

       Mọi chuyện đã đủ tệ hại rồi, nhưng cơn khủng hoảng vẫn còn phía trước. Cuộc tấn công của Zhukov chỉ mới mở màn. Cần tính đến quân của Rokossovsky ở phía bắc. Khi nào thì bọn chúng sẽ tấn công Tập đoàn quân 3 của Von Manteuffel? Và khi nào thì quân của Koniev ở phía nam sẽ tấn công?

       Heinrici không cần đợi lâu mới biết được ý định của Koniev. Cuộc tấn công thứ hai của quân Nga diễn ra ở rìa tận cùng phía nam của phòng tuyến do tướng Busse trấn thủ, và ở khu vực của Thống chế Ferdinand Schörner. Đúng 6 giờ sáng, Phương diện quân Ukraine số 1 của Koniev đã tấn công qua sông Neisse.

....................................
 (*): Tháng 6/1945, Zhukov nói với Đại tướng Eisenhower và báo chí rằng ông đã mở màn cuộc tấn công với 22.000 khẩu pháo đủ cỡ. Kế hoạch ban đầu của ông chỉ có 11.000 khẩu, còn ông đã làm thế nào để kiếm ra số còn lại thì vẫn chưa biết. Trong khi đó, các số liệu của Nga lại rất lung tung, thống kê từ 20 đến 40 nghìn khẩu, nhưng các chuyên gia quân sự tin là Zhukov có ít nhất 7 đến 8 nghìn khẩu pháo dã chiến, cùng một lượng tương đương các khẩu có cỡ nòng nhỏ hơn.


                           
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #81 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2017, 08:30:22 pm »

      Bay theo đội hình chữ V hẹp, đoàn máy bay chiến đấu của Hồng quân chao liệng về phía con sông, giữa những loạt đạn phòng không màu hồng nhạt và những luồng pháo sáng đỏ, vàng, trắng. Những chiếc máy bay thải ra khói trắng dày đặc, gầm rú trong thung lũng, bay cách mặt nước xám xịt của sông Neisse chỉ 15 mét. Các máy bay chiến đấu này liên tục lách qua loạt pháo phòng không, để lại đằng sau màn khói dày đặc khiến cho cả dòng sông lẫn hai bên bờ đều mù mịt. Nguyên soái Ivan Koniev đứng quan sát từ một cao điểm trông thẳng xuống dòng sông, và thấy khá hài lòng. Ông quay qua nói với Thượng tướng N. P. Pukhov, tư lệnh Tập đoàn quân 13 sắp tham gia vào cuộc tấn công, “Mấy ông bạn hàng xóm của ta dùng đèn pha, họ muốn sáng hơn nữa. Nhưng tôi nói anh hay, Nikolai Pavlovich à, chúng ta lại cần càng tối càng tốt.”

        Dù Koniev đang tấn công trên một trận địa rộng khoảng 50 dặm, ông lại ra lệnh tạo nên lớp màn khói dài gần gấp bốn lần để khiến quân Đức hoang mang. Quan sát qua chiếc ống nhòm đặt trên giá đỡ, Koniev thấy màn khói vẫn còn đó. Vận tốc gió chỉ khoảng nửa mét một giây – không tới một dặm một giờ. Ông hài lòng thông báo rằng lớp màn khói “có bề dày và độ đậm đặc phù hợp, và đạt đúng chiều cao cần thiết.” Và rồi, trong lúc máy bay tiếp tục nhả khói, đội pháo binh của Koniev mở màn bằng một tiếng gầm khủng khiếp.

       Đợt pháo kích của ông cũng dữ dội không kém Zhukov, nhưng Koniev sử dụng sức mạnh pháo binh của mình có chọn lọc hơn. Trước khi tấn công, khi biết là lực lượng quan sát của địch sẽ bị khói cản tầm nhìn, các tư lệnh pháo binh của Koniev đã đánh dấu các phòng tuyến và cứ điểm của địch lên bản đồ địa hình và nhắm nòng pháo đúng vào đó. Ngoài việc bắn vào các mục tiêu đã định, các khẩu pháo của Phương diện quân Ukraine I còn phá tan các đại lộ chạy từ sông Neisse về phía tây để dọn đường cho quân lính và xe tăng theo sau. Các loạt đạn pháo giống như những lưỡi liềm lửa, tạo nên những con đường rộng mấy trăm mét xuyên qua các vị trí của quân Đức. Khu rừng xung quanh bắt đầu bốc cháy, giống như ở trận địa của Zhukov, biển lửa kéo dài nhiều dặm tính từ bờ sông.

       Koniev không để điều gì phát sinh ngoài ý muốn. Động cơ của ông không chỉ vi tham vọng đến Berlin trước Zhukov, mà còn vì một nguyên nhân khác quan trọng hơn: tốc độ hành quân không ngờ của quân Đồng minh phương Tây, vốn chỉ còn cách thành phố có 40 dặm.

       Koniev nghĩ một trong hai, thậm chí cả hai đều có thể xảy ra: quân của Eisenhower có thể tới được thủ đô trước Hồng quân – và Đức có thể ký kết hiệp ước hòa bình riêng với bọn họ. Sau này Koniev nói: “Chúng tôi không muốn tin là những đồng minh của mình sẽ có thỏa thuận riêng gì đó với Đức. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó… cả sự thật lẫn tin đồn nhan nhản khắp nơi, là quân nhân, chúng tôi không có quyền bác bỏ khả năng đó… Vì thế, chiến dịch Berlin trở nên đặc biệt cấp bách. Chúng tôi phải xem xét đến khả năng là… các lãnh đạo phát xít muốn đầu hàng quân Anh và Mỹ hơn là với chúng tôi. Người Đức sẽ mở rộng cửa cho bọn họ, nhưng với chúng tôi thì bọn họ sẽ chiến đấu ngoan cường cho tới tận người lính cuối cùng”. (*)

       Trong kế hoạch của mình, Koniev đã “nghiêm túc cân nhắc viễn cảnh này.” Để đánh bại cả Nguyên soái Zhukov lẫn Đồng minh phương Tây để tới Berlin, Koniev biết mình sẽ phải vượt qua quân địch trong vòng mấy tiếng đồng hồ đầu tiên của cuộc chiến. Không giống Zhukov, Koniev không có được một đầu cầu đầy bộ binh bên bờ tây sông Neisse. Ông buộc phải vượt sông, mà đó lại là một chướng ngại vật đáng kể.

        Sông Neisse chảy rất xiết, nước thì lạnh băng. Có những chỗ rộng gần 140 mét, và dù bờ đông tương đối bằng phẳng, bờ tây lại rất dốc. Tại đây quân Đức có lợi thế nhờ phòng tuyến tự nhiên này; giờ chúng đang cố thủ trong các boongke bê tông kiên cố trông xuống dòng sông và các con đường phía đông. Koniev phải nhanh chóng vượt qua quân địch nếu không muốn bị hỏa lực từ các boongke kia tấn công. Kế hoạch của ông là đưa các sư đoàn thiết giáp vào tấn công ngay khi chiếm được các vị trí chắc chắn bên bờ Tây. Nhưng thế có nghĩa là phải xây cầu trước khi màn khói bảo vệ tan mất, và nếu như đợt pháo kích không hạ gục được quân địch thì sẽ phải xây cầu dưới hỏa lực nặng nề của địch.

       Ông định vượt sông chủ yếu ở Buchholz và Triebel. Nhưng còn có những nơi khác nữa. Koniev tin mình phải tiêu diệt quân địch hoàn toàn và nhanh chóng, nên đã lệnh thực hiện một cuộc đột kích quy mô lớn tại dòng sông, trong đó sẽ vượt sông tại hơn 150 điểm. Ở mỗi vị trí, các kỹ sư của ông đã đảm bảo cầu hoặc phà sẽ sẵn sàng trong vòng một đến ba giờ đồng hồ.

       6:55 sáng, giai đoạn 2 trong kế hoạch của Koniev bắt đầu. Dọc bờ đông, các toán quân tiên phong xuất phát từ khu rừng, dưới sự yểm trợ của pháo binh, tiến hành vượt sông Neisse bằng một lô lốc thuyền đủ loại. Ngay sau họ là lớp quân thứ hai, rồi thứ ba. Tại vùng Buchholz-Triebel, quân xung kích thuộc Tập đoàn quân 13 của tướng Pukhov chen nhau lội qua dòng nước dập dềnh, kéo theo các mảnh cầu phao. Dẫn đầu là Sư đoàn Bộ binh Cận vệ 6, do Thiếu tướng Georgi Ivanov, 44 tuổi, một tay Cossack cứng cựa chỉ huy. Ivanov cho hết mọi thứ nổi được xuống nước. Ngoài cầu phao, ông còn dùng các thùng  xăng máy bay rỗng và các thùng phân bón lớn của Đức đã được ông ra lệnh hàn lại cho kín; chúng được khiêng đến đây để làm trụ chống cầu.

       Dưới nước là hàng trăm kỹ sư; mỗi khi các khúc cầu gỗ làm sẵn được đẩy ra khỏi bờ đông là bọn họ liền ghép chúng lại. Một đám đông đứng dưới dòng sông Neisse lạnh ngắt, nước sâu đến cổ, vác các dầm cầu nặng trịch trên đầu, những người khác thì kéo các trụ chống bằng gỗ xuống dưới đáy sông. Các đội kỹ sư đặc biệt đã dùng xuồng có gắn tời kéo bằng tay để đưa mấy sợi dây cáp qua sông. Bên bờ tây, bọn họ đã đặt mấy cây trụ để buộc dây cáp, rồi kéo những chiếc xuồng chở pháo và xe tăng qua sông. Ở một số chỗ, các kỹ sư thậm chí còn đưa pháo qua sông mà không cần dùng phà: họ chỉ việc kéo mấy khẩu pháo đi dưới đáy sông bằng dây cáp. Công việc tiến triển ổn thỏa, dù hỏa lực của địch phủ khắp cả trận tuyến. Để bảo vệ công tác vượt sông, Ivanov cho các cụm pháo ven bờ bắn thẳng về phía phòng tuyến của quân Đức bên bờ Tây. Ông cho hai trăm khẩu súng máy nã đạn như mưa để hỗ trợ cho các cụm pháo binh, “cho bọn nó không ngóc đầu lên được.”

       .................................

       (*): Koniev đang nói đến các mối nghi ngờ của chính Stalin. Hồi đầu tháng 4, Stalin đã đánh điện cho Roosevelt là ông nghe nói [Anh và Mỹ] đã đạt được thỏa thuận với Đức tại Berne, qua đó Đức sẽ “mở cửa cho quân ANh-Mỹ đi về phía đông, còn Anh và Mỹ hứa đổi lại sẽ nới lỏng các điều kiện đình chiến cho Đức… Đức sẽ chấm dứt chiến tranh ở Mặt trận phía Tây… [nhưng]… vẫn tiếp tục cuộc chiến với Nga, Đồng minh của Anh và Mỹ…” Roosevelt hồi âm rằng ông rất ngạc nhiên trước những lý lẽ “rằng tôi đã bước vào một cuộc thỏa thuận với quân địch mà không được ngài đồng ý trước… Thành thực mà nói, tôi không thể không oán giận những kẻ đã cung cấp tin này cho ngài, dù bọn họ là ai, vì họ đã xuyên tạc hành động của tôi hoặc của các thuộc cấp đáng tin cậy của tôi.” Stalin và các nguyên soái của ông vẫn không tin. Thậm chí là cho đến nay, trong bản ghi chép mới nhất của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên Xô 1941-1945, có nói rằng “để ngăn Hồng quân chiếm được Berlin… những kẻ theo
 chủ nghĩa Hitler… đã chuẩn bị đầu hàng quân Mỹ hoặc Anh. Các đồng minh của chúng ta cũng muốn chiếm… [thành phố]… dù đã có thỏa thuận trước đó… là Berlin nằm trong vùng kiểm soát của quân đội Liên Xô…” Tất nhiên, sự thật là không hề có thỏa thuận nào như thế cả.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #82 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2017, 08:35:07 pm »

       Đến 7:15, Koniev nhận được tin tốt lành: đã chiếm được đầu cầu đầu tiên bên bờ Tây. Một giờ sau, ông được tin xe tăng và súng tự động đã được đưa qua sông và sẵn sàng chiến đấu. Đến 8:15, vào khúc cuối đợt pháo kích dài 2 tiếng 35 phút, thì Koniev biết chắc là quân mình đã được sắp đặt ổn thỏa bên bờ tây sông Neisse.

       Bọn họ đã vượt sông thành công tại 133 trên tổng số 150 điểm. Các đơn vị trong Tập đoàn quân 13 của tướng Pukhov đã đột phá qua trung tâm ở Triebel, cùng với Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 3, và nghe nói là quân địch ở đằng trước bọn họ đã bị chọc thủng. Lực lượng thiết giáp của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 4 cũng đang băng qua khu vực đó, còn ở phía nam, Tập đoàn quân Cận vệ 5 đã vượt sông. Koniev thấy có vẻ như các đội xe tăng của mình sẽ chọc thủng phòng tuyến bất kỳ lúc nào.

       Một khi điều đó xảy ra, Koniev định sẽ nhanh chóng tiến tới hai thành phố Spremberg và Cottbus. Sau khi vượt qua Cottbus, ông sẽ nhắm đến mạng lưới đường bộ dẫn tới Lübben. Koniev đặc biệt quan tâm đến vùng đất này. Đây là điểm cuối đường ranh giới mà Stalin đã vạch ra, chia cắt Phương diện quân Belorussia I của Zhukov với Phương diện quân Ukraine I của ông. Nếu Koniev có thể nhanh chóng tới đó, thì ông sẽ xin Stalin lập tức cho phép ông đổi sang hướng bắc, tiến về Berlin. Tự tin trước diễn biến tình hình, Koniev đã truyền lệnh bằng văn bản cho Thượng tướng Pavel Semenovich Rybalko của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 3 là “chuẩn bị tấn công vào Berlin từ hướng nam bằng một quân đoàn tăng, cộng thêm một sư đoàn trong Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 3 yểm trợ”.

        Koniev có cảm giác mình vừa mới đánh bại Zhukov trong cuộc đua giành Berlin. Ông mê mải với tiến triển của cuộc tấn công tới mức không hay biết là mình đã may mắn nhường nào mới còn sống trên đời. Vào ngay những phút đầu tiên của cuộc công kích, một viên đạn từ một tay bắn tỉa đã khoan thủng lỗ gọn gàng trên chiếc giá đỡ ống nhòm, cách đầu ông có mấy phân. (*)

      Ở rìa đông Berlin, tiếng pháo dồn dập cách nơi đây không đầy 35 dặm nghe như tiếng sấm buồn thảm của một cơn bão đằng xa. Trong các làng mạc và thị trấn nhỏ nằm gần sông Oder hơn, có vài cơn chấn động kỳ lạ. Ở đồn cảnh sát tại Mahlsdorf, sách từ trên kệ rơi xuống đất, điện thoại thì tự dưng reng lên. Nhiều nơi, đèn đột nhiên tối lại và nhấp nháy liên tục. Ở Dahlwitz-Hoppegarten, một cái còi báo động không kích chợt réo ầm ĩ và không ai tắt được. Tranh ảnh trên tường rớt xuống đất, cửa sổ và gương vỡ tan tành. Ở Muncheberg, một cây thánh giá trên gác chuông nhà thờ rơi đánh rầm xuống đất, và khắp nơi, chó bắt đầu sủa inh ỏi.

      Ở các quận phía đông Berlin, một âm thanh mơ hồ cứ vang vọng giữa những bộ khung đổ nát và ám khói đen thui. Mùi thông cháy nồng nặc lan khắp quận Köpenick. Dọc theo rìa các quận Weissensee và Lichtenberg, một cơn gió đột ngột cuốn rèm cửa cuộn xoắn lại, rồi xổ ra, bay phần phật như ma làm, còn ở quân Erkner, một số người trong các hầm trú ẩn giật mình tỉnh giấc, không phải vì tiếng ồn, mà là vì một cơn địa chấn khủng khiếp.

       Nhiều người dân Berlin biết âm thanh đó là gì. Trong căn hộ ở Pankow của gia đình Möhring, nơi hai vợ chồng  Weltlinger đang ẩn trốn, ông chồng Siegmund vốn từng đi lính hồi Thế chiến thứ nhất lập tức nhận ra âm thanh xa xa đó chính là tiếng pháo nổ dữ dội; ông đánh thức bà vợ Margarete dậy để nói cho bà nghe. Có ít nhất một người dân Berlin khẳng định là đã tận mắt thấy đợt pháo kích của Zhukov. Vào lúc 4 giờ hơn, cậu thiếu niên Horst Römling 16 tuổi trèo lên tòa tháp 7 tầng ở rìa phía tây Weissensee và nhìn chăm chú về hướng đông bằng ống nhòm. Horst nhanh chóng báo cho những người hàng xóm là cậu đã thấy “ánh lửa đạn pháo của quân Nga,” nhưng chẳng mấy người tin cậu – họ chỉ coi đó là một thằng nhóc quá khích điên cuồng.

       Âm thanh đó không truyền tới được các quận trung tâm, nhưng rải rác đâu đây, vẫn có một số người dân Berlin khẳng định là mình có nghe thấy cái gì đó lạ lùng. Đa số nghĩ đó là tiếng súng phòng không, hoặc là mấy quả bom sót lại từ cuộc không kích dài 2 tiếng 25 phút hồi đêm đột ngột phát nổ, hoặc cũng có thể là một tòa nhà đổ sụp vì trúng bom.

        Một số ít cư dân biết ngay là cuộc tấn công của Nga đã bắt đầu. Bọn họ là tổng đài viên trong tòa bưu điện trên đường Winterfeldtstrasse ở quận Schöneberg. Sau khi đợt pháo kích mở màn được vài phút, các đường dây liên tỉnh và đường dài của tổng đài đều nghẽn mạng vì có quá nhiều cuộc gọi. Các quan chức trong đảng Nazi ở những vùng gần sông Oder và sông Neisse lo lắng gọi về cơ quan lãnh đạo ở Berlin. Các đội trưởng cứu hỏa hỏi nên đi chữa cháy cho các khu rừng hay nên di dời trang thiết bị ra khỏi đó. Các đội trưởng cảnh sát gọi điện cho cấp trên và ai ai cũng muốn liên lạc với người thân. Nhiều năm sau, các tổng đài viên nhớ lại, hầu như mọi cuộc gọi kết nối thành công đều mở đầu bằng mấy chữ: “Bắt đầu rồi!” Elisabeth Milbrand, nhân viên giám sát bảng điều hành trung tâm, một tín đồ Tin Lành sùng đạo, lấy chuỗi hạt ra và bắt đầu nhẩm đọc kinh lần tràng hạt.

      Đến 8 giờ sáng ngày 16/4, phần lớn Berlin đã nghe tin “các cuộc tấn công dữ dội của Nga tiếp tục diễn ra trên mặt trận sông Oder” qua đài phát thanh. Tin tức thông báo ra khá dè dặt, nhưng thường dân ở Berlin chẳng cần tin tức tỉ mỉ nữa. Từ miệng những người bà con sống bên ngoài thành phố, họ biết giây phút mình hằng sợ hãi cuối cùng cũng đến. Buồn cười ở chỗ, lần này người dân ngoài đường còn biết nhiều hơn Hitler. Trong căn hầm Führerbunker, nhà lãnh tụ vẫn đang ngủ. Ông ta vừa đi nghỉ lúc 3 giờ kém, và tướng Burgdorf, viên sĩ quan quản trị, được lệnh không được đánh thức Quốc trưởng.

       Sáng nay, thế giới ngầm kỳ lạ trong căn hầm trông rất vui vẻ: các bình tulip rực rỡ được trưng trong căn phòng chờ nhỏ, phòng khách trong hành lang và cả phòng họp. Trước đó, một người làm vườn trong điện Reichskanzlei đã cắt hoa từ mấy bồn hoa còn lại trong khu vườn đầy hố bom lỗ chỗ. Burgdorf thấy đó là ý hay, vì Eva Braun thích hoa tulip. Vị đệ nhất phu nhân chưa kết hôn của Đức đã đến đây đêm qua. Bà ta mang theo quà từ mấy người bạn cũ ở Munich gửi cho Quốc trưởng. Trong đó có một quyển sách do Nam tước phu nhân Baldur von Schirach, vợ của nguyên Tổng Bí thư Đoàn Thanh niên Đức. Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết trải qua rất nhiều gian nan nhưng vẫn không đánh mất hi vọng. Anh ta nói, “Lạc quan chính là cho rằng mọi chuyện vẫn ổn trong khi thực sự đang rất tồi tệ.” Bà Nam tước phu nhân nghĩ cuốn sách này là lựa chọn phù hợp nhất. Đó là cuốn Chàng ngây thơ của Voltaire.


                                  ************ 


        .................................

       (*): Koniev không hề biết về việc này, mãi cho tới 20 năm sau, khi ông đọc được hồi ký của tướng Pukhov.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #83 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2017, 08:40:04 pm »

     
       Thoạt tiên, Zhukov không thể tin nổi tin tức này. Ông đứng giữa sở chỉ huy Küstrin, ban tham mưu vây quanh, ông ngờ vực nhìn Chuikov rồi lắp bắp vì giận dữ. Ông hét vào mặt vị tư lệnh của Tập đoàn quân Cận vệ 8, lần này không thèm dùng tên thánh nữa, “Chết tiệt, ý anh là sao hả – quân của anh bị chặn à?”. Trước kia, Chuikov cũng từng thấy Zhukov giận dữ thế này, và ông vẫn cực kỳ bình tĩnh. Ông nói, “Thưa đồng chí nguyên soái, dù chúng ta có tạm thời bị chặn bước hay không, cuộc tấn công này nhất định sẽ thành công. Nhưng lúc này sự kháng cự đang dữ dội hơn và khiến ta bị cầm chân.”

       Chuikov giải thích, quân địch trên cao nguyên Seelow bắn dữ dội vào quân lính và xe tăng yểm trợ đang tiến bước. Địa hình ở đó lại rất khó đi đối với xe thiết giáp. Các khẩu súng tự động và xe tăng bị lún và rối loạn giữa những vũng lầy và kênh đào của đầm lầy Oder mà không làm gì được. Vài chiếc tăng lún dưới bùn đã bị bắn trúng, lần lượt từng chiếc một, và rồi bốc cháy. Chuikov nói, tới giờ này, Tập đoàn quân Cận vệ 8 của ông chỉ mới tiến thêm được gần 1.400 mét. Theo tướng Popiel kể lại, Zhukov đã trút giận bằng “một tràng chửi rủa cực kỳ thô bạo.”

       Chuyện gì đã xảy ra với cuộc tấn công được cho là không thể chống lại này? Có nhiều ý kiến khác nhau, mà tướng Popiel nhanh chóng biết được, khi ông hỏi các sĩ quan cấp cao của Zhukov. Tướng Mikhail Shalin, một tư lệnh quân đoàn thuộc Tập đoàn quân Cận vệ 1 nói với Popiel rằng ông ta chắc chắn là “quân Đức đã rút khỏi tiền tuyến trước cuộc tấn công và thiết lập một phòng tuyến thứ hai dọc theo cao nguyên Seelow. Do đó, phần lớn số đạn pháo của ta chỉ bắn vào đất trống.” Tướng Vasili Kuznetsov, tư lệnh Tập đoàn quân Xung kích 3 cay đắng chỉ trích kế hoạch của Phương diện quân Belorussia I. Ông nói với Popiel, “Chúng ta hay làm theo sách vở, và giờ thì bọn Đức biết tỏng bài vở của ta rồi. Bọn chúng lui lại chừng 8 km. Pháo của ta bắn trúng mọi thứ, nhưng lại không trúng quân thù.”

       Tướng Andreya Getman, một chuyên gia xe tăng cấp cao và là tư lệnh quân đoàn thuộc Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ số 1 của Katukov vừa phê phán vừa giận dữ, nhất là về mấy cái đèn pha. Ông nói, “Chúng không hề làm quân địch lóa mắt. Để tôi nói anh hay chúng làm được cái gì – chúng làm lộ vị trí xe tăng và bộ binh của ta cho bọn xạ thủ Đức.”

      Zhukov chưa từng cho là cuộc tấn công sẽ dễ ăn, nhưng dù đã ước tính sẽ có thương vong nặng nề, ông vẫn luôn cho là quân Đức không thể ngăn bước tiến của mình. Sau này kể lại, ông nói mình đã nghĩ là “hàng phòng ngự của địch sẽ nhanh chóng suy yếu”; rồi ông nói bằng giọng nhẹ hẳn đi, “nhưng thay vào đó, cuộc tấn công của quân tiên phong lại không được hiệu quả mấy”.

      Ông tin chắc chỉ dựa vào quân số không thôi cũng đủ để ông vượt qua quân địch, nhưng ông lo là “có nguy cơ cuộc tấn công có thể bị chậm lại.” Zhukov quyết định thay đổi chiến thuật. Ông nhanh chóng đưa ra một loạt mệnh lệnh. Máy bay chiến đấu cần tập trung thả bom vào các vị trí pháo binh địch; đồng thời, pháo binh sẽ bắt đầu bắn phá cao nguyên. Rồi Zhukov thực hiện thêm một bước.

      Dù ban đầu ông tính để khi nào chiếm được cao nguyên Seelow thì mới dùng đến các đội xe tăng, nhưng giờ ông quyết định dùng luôn. Tướng Katukov, tư lệnh Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ số 1 đang ở trong hầm nên trực tiếp nhận lệnh luôn. Ý muốn của Zhukov rất rõ ràng: phải chiếm được cao nguyên bằng mọi giá. Zhukov định đánh cho quân địch phải đầu hàng, và nếu cần thì san phẳng cả con đường dẫn đến Berlin. Rồi sau đó, vị nguyên soái ra khỏi văn phòng, vẫn còn giận dữ vì bị cầm chân, theo sau là ban tham mưu của ông. Zhukov không muốn bị trì hoãn chỉ vì vài khẩu pháo bắn giỏi của địch – cũng không muốn thua Koniev. Khi ra khỏi boongke, các sĩ quan cung kính đứng sang một bên cho ông đi qua, ông chợt quay sang Katukov và gắt, “Được rồi! Mau đi đi”.      



                                    ************
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #84 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2017, 04:55:00 pm »

     
        Mệnh lệnh trong ngày của Quốc trưởng tới được Sở chi huy của Tập đoàn quân 9 của tướng Theodor Busse vào lúc giữa trưa. Trên đó đề ngày 15/4, nhưng rõ ràng ban tham mưu của Hitler đã chờ đến khi chắc chắn là cuộc tấn công của quân Nga đã bắt đầu mới gửi đi. Các tư lệnh được lệnh phải phổ biến mệnh lệnh này đến cấp trung đoàn, nhưng tuyệt đối không được để lộ cho báo chí. Tờ lệnh viết: “Hỡi binh sĩ Mặt trận phía Đông, bọn Bolshevist Do Thái tàn ác sắp tấn công cú chót. Chúng đang cố đánh tan nước Đức và tiêu diệt nhân dân ta. Những người lính miền Đông các anh hẳn đã biết số phận đang đe dọa… phụ nữ và trẻ em Đức. Người già và trẻ nhỏ sẽ bị giết; phụ nữ bị đưa đến các doanh trại làm kỹ nữ. Số còn lại sẽ bị đưa đi Siberia.

       Chúng ta biết cuộc tấn công này sẽ đến, và từ tháng giêng ta đã cố hết sức để kiến thiết một mặt trận hùng mạnh. Quân thù sẽ phải đương đầu với một lượng đại bác khổng lồ. Các tổn thất về bộ binh được bổ sung bằng vô số đơn vị mới. Các đơn vị cảnh báo, các đơn vị mới thành lập và lực lượng phòng vệ Volkssturm được đưa đến để củng cố cho mặt trận. Lần này, bọn Bolshevist sẽ chịu chung số phận với châu Á ngày xưa: chúng sẽ chắc chắn gục ngã trước thềm thủ đô của Đế chế Đức.

      Ai không thực hiện nhiệm vụ của mình vào lúc này chính là phản bội lại nhân dân. Trung đoàn hay sư đoàn nào rời bỏ vị trí thì quá là nhục nhã so với những phụ nữ và trẻ em đang phải chống chọi với bom đạn trong các thành phố của ta.

      Hãy đặc biệt chú ý đám sĩ quan và binh lính phản bội, chỉ vì muốn giữ cái mạng hèn hạ của mình mà theo chân bọn Nga chống lại chúng ta, dù có khi còn đang mặc quân phục Đức. Hễ bất kỳ ai ra lệnh cho các anh rút lui thì phải bắt giam kẻ đó lại ngay, nếu cần thì giết luôn tại chỗ, dù quân hàm của hắn có là gì, trừ khi các anh hiểu rõ người đó. Nếu mỗi một người lính ở Mặt trận phía Đông đều làm đúng nhiệm vụ của mình trong những ngày sắp tới, thì cuộc tấn công cuối cùng của bọn châu Á sẽ bị đập tan, cũng như cuối cùng thì cuộc xâm lăng của quân thù ở phía Tây sẽ thất bại, bất chấp tất cả.Berlin vẫn sẽ thuộc về nước Đức, Vienna (*) sẽ lại quay về với Đức và châu Âu sẽ không bao giờ là của quân Nga.

      Hãy trang trọng thề sẽ bảo vệ gia đình mình, vợ con mình và tương lai đất nước, chứ không phải bảo vệ một khái niệm Tổ quốc rỗng tuếch nào. Hỡi các chiến binh miền Đông, giờ phút này, toàn thể nhân dân Đức đang nhìn vào các anh, và chỉ biết hi vọng rằng, nhờ vào sự kiên cường và lòng trung thành, vào vũ khí và tài lãnh
kiên cường và lòng trung thành, vào vũ khí và tài lãnh đạo của các anh để tắm máu cho cuộc tấn công cuối cùng của bọn Bolshevist. Hiện tại, khi số phận đã đưa tên tội phạm chiến tranh khủng khiếp nhất mọi thời đại biến khỏi mặt đất, thời điểm xoay chuyển cuộc chiến đã được quyết định.”

      Busse không cần tờ Mệnh lệnh trong ngày nói cho ông biết là cần phải chặn bước quân Nga. Từ nhiều tháng trước, ông đã nói với Hitler là nếu quân Nga đột phá được phòng tuyến sông Oder, thì Berlin và phần còn lại của Đức sẽ sụp đổ. Nhưng ông nổi điên khi đọc tới đoạn viết về mặt trận hùng mạnh; rằng quân địch sẽ phải đương đầu với “một lượng đại bác khổng lồ” và “vô số đơn vị mới”. Mấy lời hùng hồn này chẳng thể chặn được quân Nga. Mệnh lệnh trong ngày của Hitler đa phần đều là hư cấu. Tuy nhiên, nó cũng đúng một chỗ: Hitler định để lính Đức chiến đấu đến chết – ở cả miền Đông lẫn miền Tây.

       Busse vẫn ấp ủ một hi vọng bí mật, được giữ kín tới mức ông chưa từng nói cho ai nghe, trừ với Heinrici và một vài sĩ quan thân cận nhất. Ông muốn cầm cự ở mặt trận Oder đủ lâu để quân Mỹ tới kịp. Ông nói với Heinrici, “Nếu chúng ta có thể cầm cự cho đến khi quân Mỹ tới đây, thì coi như ta đã hoàn thành nhiệm vụ với nhân dân, với đất nước và với lịch sử của mình.” Heinrici cay nghiệt đáp lại. Ông hỏi, “Bộ anh không biết Chiến dịch Nhật thực à?” Busse chưa từng nghe nói gì. Heinrici kể cho ông nghe về việc thu giữ được bản kế hoạch phân chia khu  vực chiếm đóng của quân Đồng minh. Heinrici nói, “Tôi ngờ là quân Mỹ còn chẳng vượt sông Elbe nữa là.” Dù vậy, Busse vẫn nuôi hi vọng đó một thời gian. Giờ, cuối cùng ông cũng bỏ cuộc. Dù cho đoàn quân của Eisenhower sẽ vượt sông Elbe và tiến về Berlin thì cũng đã quá muộn. Rõ ràng, Hitler muốn giành giật từng dặm với quân Mỹ hơn hết thảy; ông ta không phân biệt được dân chủ và cộng sản. Tình hình của nước Đức thật vô vọng; và Busse tin rằng tình hình của Tập đoàn quân 9 cũng thế, nhưng chừng nào Hitler còn tiếp tục chiến tranh và không chịu đầu hàng thì Busse chỉ có thể cố cầm chân quân Nga như ông vẫn đang làm cho đến giờ phút cuối cùng. Tập đoàn quân 9 đã gánh toàn bộ sức mạnh của đợt tấn công vừa rồi; họ không thể chịu thêm được nữa.

       Khắp nơi, quân của Busse vẫn còn đang cầm cự. Ở Frankfurt, họ thực sự đẩy lui được quân Nga. Đại bác và pháo binh ở cao nguyên Seelow dù bị bắn phá, đánh bom dữ dội nhưng vẫn kiên cường chống trả, và cầm chân được quân địch. Nhưng dù quân của Busse có cầm chân được quân Nga khắp nơi như thế, bọn họ cũng phải trả một cái giá đắt. Có những nơi, sĩ quan chỉ huy báo cáo về là họ bị áp đảo về quân số, phải lên tới một chọi mười là ít. Một viên tư lệnh sư đoàn gọi điện tới, nói “Bọn chúng kéo đến ào ào như thác lũ, không biết sợ chết là gì. Chúng tôi cứ nhắm thẳng súng máy mà bắn cho bọn chúng tan xác. Người của tôi chiến đấu đến khi cạn sạch đạn. Thế rồi họ dễ dàng bị quét sạch, hoặc là bị vượt qua. Tôi cũng không biết có thế kéo dài được bao lâu nữa.”

       Gần như mọi bức điện gửi về đều giống nhau. Đâu đâu cũng cần viện trợ: pháo, tăng và hơn hết là đạn dược, xăng dầu. Có một thứ không thể thay thế được, đó là quân lính. Số quân dự bị ít ỏi của Busse đều đã được phân bổ hoặc đang điều động. Phần lớn bọn họ được đưa đến trận chiến trọng điểm ở cao nguyên Seelow.

       Trấn giữ vùng trung tâm của Tập đoàn quân 9 là Quân đoàn Thiết giáp 56. Đó là một cái tên nổi tiếng, nhưng giờ chỉ còn cái tiếng. Quân đoàn 56 đã nhiều lần tan tành, rồi lại được xây dựng lại. Giờ, nó lại đang trong quá trình tái tổ chức một lần nữa. Những gì còn lại của quân đoàn xưa kia là các sĩ quan chủ chốt. Nhưng dù vậy, quân đoàn này có một tài sản quý giá – một vị tư lệnh tài ba, giàu kinh nghiệm, là Trung tướng Karl Weidling, một người ăn nói bộc trực, thường được bạn bè gọi là “Karl đanh thép”.

       Busse đã đưa các lực lượng hỗn tạp tới cao nguyên Seelow cho Weidling chỉ huy. Hiện tại Weidling có ba sư đoàn: Sư đoàn Dù 9 bất kham và thiếu độ tin cậy của Goering, Sư đoàn Đặc nhiệm Thiết giáp 20 đã bị hành hạ tơi tả và Sư đoàn Müncheberg không đủ lực lượng. Hai cánh có hai quân đoàn hỗ trợ – Quân đoàn 101 phía bên trái, còn bên phải là Quân đoàn SS 11 – Quân đoàn 56 của Weidling đang đối mặt với mũi tấn công chính của quân Nga vào Berlin. Dù Weidling chỉ mới đến đây mấy ngày trước đó, và đang phải chiến đấu tại một địa hình xa lạ với những các cánh quân yếu xìu, thiếu kinh nghiệm, nhưng vị lão tướng 60 tuổi này vẫn đẩy lùi được mọi cuộc tấn công.

      Nhưng ông đang rất cần được bổ sung quân, và đến sáng nay, ngày 16/4, họ vẫn chưa tới. Các vấn đề của Weidling chỉ mới bắt đầu. Đến cuối tuần, ông sẽ phải đương đầu với các cuộc khủng hoảng còn ghê gớm hơn những gì ông từng chạm trán ngoài chiến trường. Không lâu sau đó, Karl đanh thép bị cả Busse và Hitler tuyên án tử hình – và rồi, vận mệnh đảo chiều, ông lại trở thành người chỉ huy phòng thủ Berlin trong những giờ phút cuối cùng của nước Đức.

     Ở mặt trận phía tây, tướng Walther Wenck, tư lệnh Tập đoàn quân 12 đang vừa vui sướng vừa rối rắm. Việc các đội quân trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm của ông có thể thành công đẩy lui quân địch và dẹp tan đầu cầu phía nam Magdeburg của chúng là một thành tựu mà Wenck không dám mơ. Tuy nhiên, đầu cầu ở Barby lại là chuyện khác. Lính của Wenck đã dùng đủ mọi cách để phá hủy các cây cầu ở Barby, từ thả mìn xuống nước đến dùng người nhái. Số máy bay chiến đấu cuối cùng còn lại ở đây cũng đã thực hiện một cuộc thả bom; nhưng cũng thất bại. Giờ đầu cầu này đã được kiến thiết ổn thỏa, quân lính và xe thiết giáp của Mỹ bắt đầu ùa qua sông trong 48 giờ qua. Đó là cái khiến Wenck rối rắm, dù quân Mỹ đang củng cố vị trí bên bờ đông sông Elbe, nhưng bọn họ lại không có vẻ gì là sẽ tiến về Berlin. Wenck không tài nào hiểu nổi.

       Cuộc tấn công khủng khiếp của quân Mỹ từ ngày 12 đến 15/4 khiến Wenck tin chắc rằng mình sẽ phải đánh một trận đẫm máu ở miền Tây. Nhưng giờ quân Mỹ lại tỏ ra muốn tạm dừng. Wenck nói với Đại tá Reichhelm, tham mưu trưởng của ông, “Thành thực mà nói, tôi rất ngạc nhiên. Có thể bọn chúng đã cạn đồ tiếp tế và cần tái tổ chức.”

      Dù là lý do gì, Wenck rất mừng trước sự trì hoãn này. Quân của ông đang rải rác khắp nơi, nhiều chỗ còn đang sắp xếp lại. Ông cần tranh thủ thời gian để định hình và củng cố cho đội quân của mình, bằng bất cứ chiếc xe thiết giáp nào gì ông có thể giao cho họ. Vài chiếc xe tăng và súng tự động đã được đưa tới, nhưng Wenck không hi vọng gì sẽ có thêm nữa. Ông cũng không ảo tưởng rằng mình sẽ nhận được đầy đủ số sư đoàn từng được hứa hẹn. Wenck nghi là người ta chẳng còn gì để gửi cho mình nữa. Có một điều chắc chắn, đó là: Tập đoàn quân 12, dàn thành một hàng mỏng dọc sông Elbe, phía trước Berlin, không thể nào cầm cự được lâu trước một cuộc tấn công hạng nặng. Ông nói với Reichhelm, “Nếu quân Mỹ phát động tấn công chủ lực, bọn chúng sẽ dễ dàng phá được các vị trí của ta thôi. Sau đó thì lấy gì mà chặn bọn chúng cơ chứ? Giữa nơi đây với Berlin chẳng có khỉ gì cả.”

                                 ***************

............................

  (*): Vienna bị Hồng quân chiếm ngày 13/4.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #85 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2017, 02:47:48 pm »

   

       Tin tức này là một cú sốc lớn với Carl Wiberg. Ông nghi ngờ nhìn chằm chằm sếp mình là Hennings Jessen-Schmidt, đứng đầu đơn vị OSS tại Berlin. Wiberg hỏi, “Anh chắc không? Anh có chắc chắn không?”.

      Jessen-Schmidt gật đầu. Ông nói, “Đó là tin tức tôi mới nhận được, và tôi chẳng có lý do gì để nghi ngờ cả”.
 
       Hai người im lặng nhìn nhau. Mấy tháng nay, họ vẫn tin là lực lượng của Eisenhower sẽ chiếm Berlin. Nhưng cái tin tức khiến Jessen-Schmidt phải băng qua cả thành phố tới căn hộ của Wiberg đã dập tắt mọi hi vọng của họ. Một người đưa tin vừa từ Thụy Điển tới, mang theo thông điệp cực kỳ quan trọng từ London. Nó cảnh báo họ không nên trông chờ quân Anh-Mỹ sẽ tới.

       Trong suốt nhiều tháng dài sống cuộc đời thứ hai tại Berlin, Wiberg đã cân nhắc hầu hết mọi khả năng, chỉ trừ điều này. Đến giờ ông cũng chưa tin được. Ít nhất thì tạm thời kế hoạch có thay đổi cũng không ảnh hưởng đến công việc của họ: họ vẫn phải tiếp tục gửi tin đi, và Wiberg vẫn sẽ cung cấp trang bị cho các đặc vụ nếu có lệnh, với vai trò là “thủ kho.”

      Nhưng theo như Wiberg được biết, nếu có thì cũng chỉ có rất ít chuyên gia và người phá hoại được huấn luyện mới dùng tới các trang thiết bị được đưa đến đây. Jessen-Schmidt đã chờ một người suốt mấy tuần nay – một kỹ thuật viên radio, để lắp ráp bộ thu và phát sóng vẫn còn đang giấu dưới đống than trong tầng hầm của Wiberg. Trái tim trĩu nặng, Wiberg không biết liệu sẽ có ai tới không, và liệu bộ thiết bị đó có bao giờ được dùng tới hay không. Chỗ giấu đồ đó quá nguy hiểm. Bọn Đức có thể phát hiện ra. Tệ hơn, quân Nga cũng có thể. Wiberg hi vọng London đã nói cho vị đồng minh phương Đông về nhóm điệp viên bé nhỏ tại Berlin. Nếu không thì thật khó giải thích về cửa tiệm thiết bị quân sự to đùng kia.

      Wiberg còn lo âu vì một lý do cá nhân nữa. Sau nhiều năm góa vợ, gần đây ông gặp được một phụ nữ trẻ tên là Inge Müller. Họ định kết hôn khi chiến tranh chấm dứt. Giờ Wiberg không biết nếu quân Nga đến thì Inge có được an toàn không. Ông thấy tương lai cả nhóm thật ảm đạm trước viễn cảnh Berlin sắp biến thành chảo lửa. Ông cố dẹp nỗi sợ hãi qua một bên nhưng chưa bao giờ từng thấy chán nản như thế này. Họ đã bị bỏ rơi.





                           ******************




         Thượng tướng Mikhail Katukov, tư lệnh Tập đoàn quân Tăng Vệ binh số 1 dập mạnh chiếc điện thoại dã chiến, rồi xoay người đá cánh cửa văn phòng chỉ huy rầm một cái. Ông vừa nhận một báo cáo từ viên sĩ quan chỉ huy Lữ đoàn Tăng Cận vệ 65 tại mặt trận cao nguyên Seelow. Quân Nga chẳng tiến thêm được chút nào. Tướng Ivan Yushchuk nói với Katukov, “Chúng ta đang đứng sát nút bộ binh rồi. Ta đang bị kẹt!”.

      Cơn giận của ông chợt dịu đi, Katukov quay lưng lại cánh cửa, đối diện với ban tham mưu. Hai tay chống hông, ông lắc đầu không tin nổi. Ông nói, “Bọn quỷ Hitler đó! Tôi chưa bao giờ thấy chúng chống cự dữ như vậy suốt cuộc chiến này.” Rồi Katukov thông báo là ông định tìm hiểu xem “cái quỷ gì đang níu chân tất cả.” Dù gì thì ông cũng phải chiếm được cao nguyên trong sáng nay, để Zhukov có thể đột phá qua.

       Ở phía nam, lực lượng của Nguyên soái Koniev đã đánh tan lực lượng phòng thủ của Đức trên một mặt trận rộng 18 dặm ở phía tây sông Neisse. Quân của ông đang ùa qua sông. Giờ họ có 20 cây cầu có thể cho xe tăng đi qua (một số có trọng tải lên tới 60 tấn), 21 chỗ có thể để phà và quân lính đi qua, cùng với 17 chiếc cầu hạng nhẹ.

       Dùng máy bay chiến đấu Stormovik ném bom mở đường, đoàn xe tăng của Koniev đã vượt qua phòng tuyến của địch hơn 10 dặm, trong vòng không đầy 8 tiếng. Giờ Koniev chỉ còn cách Lübben có 21 dặm, đó cũng là điểm cuối đường ranh giới giữa quân của ông với của Zhukov mà Stalin đã vạch ra. Tại đó, đoàn xe tăng của Koniev sẽ rẽ sang hướng tây bắc và tiến về con đường chính đi qua Zossen, rồi vào Berlin. Trên bản đồ, con đường này mang tên Reichsstrasse 96 – con đường cao tốc mà Thống chế Gerd von Rundstedt từng gọi là “Der Weg zur Ewigkeit” – con đường dẫn đến cõi vĩnh hằng.




                             ******************




      Có vẻ như các nhà chức trách chưa sẵn sàng đối mặt với cái sự thật là Berlin đang lâm vào hiểm cảnh. Dù Hồng quân giờ chỉ còn cách đây không tới 32 dặm, nhưng lại chẳng có cảnh báo hay thông báo chính thức nào. Người dân Berlin biết quân Nga đã tấn công. Tiếng pháo nổ văng vẳng là dấu hiệu đầu tiên; giờ lại thêm những người chạy nạn, tin tức cứ thế lan truyền qua điện thoại, qua những lời rỉ tai nhau. Nhưng tin tức chỉ toàn những mẩu chuyện rời rạc và tràn đầy mâu thuẫn, và không có chút thông tin thật nào, mà chỉ toàn phỏng đoán và tin đồn. Người thì nói quân Nga chỉ còn cách không đầy 10 dặm, kẻ lại nghe nói quân Nga đã tới vùng ngoại ô phía đông. Không ai biết chính xác tình hình ra sao, nhưng hầu hết người dân Berlin đều tin là thời gian của thành phố chỉ còn tính bằng ngày, và cơn giãy chết của nó đã bắt đầu.

       Và ngạc nhiên thay, người ta vẫn làm việc bình thường. Họ lo sợ, và dù ngày càng khó duy trì vẻ ngoài bình thường, nhưng mọi người đều cố gắng làm thế.

       Ở mỗi trạm dừng, người đưa sữa Richard Poganowska đều bị túm lại hỏi thăm. Có vẻ mấy người khách hàng cho là ông biết được nhiều chuyện hơn người khác.

       Ông Poganowska ngày thường luôn vui vẻ giờ chẳng thể trả lời được gì. Ông cũng sợ hãi như bọn họ. Tấm chân dung Hitler vẫn còn treo trong phòng khách ngôi nhà của vị quan chức Nazi làm trong bưu điện, nằm trên đường Kreuznacherstrasse, nhưng nó chẳng thể làm Poganowska yên tâm được nữa.

      Ông rất vui khi thấy người bạn nhỏ của mình, Dodo Marquardt, 13 tuổi, đang kiên nhẫn đứng đợi tại một góc phố ở Friedenau. Cô bé thường ngồi xe cùng ông qua một hai dãy phố, điều đó giúp ông giữ vững tinh thần một cách lạ kỳ. Dodo leo lên ngồi cạnh chú chó Poldi và nói cười đủ chuyện. Nhưng sáng nay Poganowska thấy thật khó mà lắng nghe cô bé. Ông uể oải nhìn mấy câu khẩu hiệu mới được sơn lên các bức tường đổ nát trong vùng. Một cái viết, “Berlin vẫn sẽ thuộc về nước Đức.” Mấy cái khác thì: “Chiến thắng hay làm nô lệ,” “Vienna sẽ trở lại với nước Đức,” và “Ai tin vào Hitler thì sẽ tin vào chiến thắng.” Tới chỗ của Dodo, Poganowska nhấc cô bé xuống xe. Cô bé cười nói, “Hẹn mai gặp lại nhé bác đưa sữa.” Poganowska đáp, “Mai gặp, Dodo.” Richard Poganowska trèo lên xe và tự hỏi còn được bao nhiêu ngày mai nữa.

       Linh mục Arthur Leckscheidt, đang chủ trì một đám tang trong khu nghĩa trang gần ngôi nhà thờ đổ nát của ông, thì nghĩ những đau khổ đang chờ phía trước không thể nào tệ hơn những thứ hiện giờ. Từ ngày nhà thờ Melanchthon xinh đẹp của ông bị phá hủy, dường như nỗi đau đã trở thành vĩnh cửu. Mấy tuần nay, người chết trong các cuộc không kích đã nhiều tới mức giáo dân của ông chẳng buồn đi đăng ký báo tử nữa. Linh mục Leckscheidt đứng bên rìa một ngôi mộ lớn, trong đó chôn cất 40 nạn nhân của cuộc không kích đêm qua. Khi ông đọc kinh đưa ma, chỉ có vài người có mặt. Khi ông đọcxong, hầu hết đều quay đi, chỉ có một cô gái trẻ còn đứng lại. Cô nới với Leckscheidt là anh trai cô cũng nằm trong số đó. Rồi cô nói, mắt đẫm lệ: “Ảnh nằm trong đội SS. Ảnh không phải giáo đồ của nhà thờ.” Cô ngần ngừ, rồi hỏi: “Ngài cầu nguyện cho ảnh được không ạ?” Leckscheidt gật đầu.

      Ông nói với cô, dù ông không đồng tình với đảng Nazi và lực lượng SS, nhưng khi họ đã chết, ông “không thể từ chối đọc cho ai những lời của Chúa.” Ông cúi đầu và nói, “Thưa Chúa, xin đừng tránh mặt con… những ngày tháng của con đã trôi qua như một chiếc bóng… cuộc đời con chẳng là gì khi đứng trước người… thời gian của con nằm trong tay người…” Trên một bức tường gần đó, đêm qua có ai đã viết lên nguệch ngoạc mấy từ “Nước Đức thắng lợi.”


      .....................................   




Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 01:00:36 am »

   

       Mẹ bề trên Cunegundes mong chờ mọi thứ sẽ chấm dứt. Dù tu viện kiêm bệnh viện phụ sản Haus Dahlem do hội Nữ Tu Dòng Thánh Tâm điều hành chỉ là một nơi hẻo lánh nằm ở Wilmersdorf, nhưng người Mẹ bề trên mập tròn và mạnh mẽ này vẫn luôn bắt kịp dòng chảy thông tin. Câu lạc bộ Báo chí Dahlem nằm trong biệt thự của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Joachim von Ribbentrop, ở ngay trước tu viện, vừa đóng cửa đêm qua.

       Bà đã nghe từ mấy người bạn trong báo giới tới nói lời từ biệt, rằng cái kết đã cận kề, và trận đánh giành lấy thành phố sẽ xảy ra trong vài ngày tới. Người Mẹ bề trên kiên cường này hi vọng trận chiến sẽ không kéo dài. Mấy ngày trước, một chiếc máy bay của quân Đồng minh đã đâm sầm xuống vườn cây ăn quả của bà, và nóc tu viện thì bị nổ tung, nguy hiểm đang đến rất gần. Cuộc chiến ngu xuẩn và khủng khiếp này nên kết thúc đi thôi. Trong khi đó, bà phải lo cho hơn 200 người: 107 em bé sơ sinh (trong đó 91 em là con rơi), 32 bà mẹ, và 60 bà xơ và các phụ nữ làm công quả.

       Dù việc của mấy phụ nữ này đã làm không xuể, Mẹ bề trên còn giao thêm cho họ cả đống việc nữa. Với sự trợ giúp của người gác cổng, mấy bà xơ đã sơn các hình tròn lớn màu trắng với chữ thập đỏ bên trên lên các bức tường của tòa nhà, và lên mái nhà lợp giấy dầu nhựa đường của toàn bộ tầng hai (tầng ba đã biến mất theo cái mái cũ). Là một người thực tế, Mẹ bề trên đã bảo các y tá tập sự của mình biến sảnh ăn tối và phòng nghỉ thành các trạm sơ cứu. Sảnh ăn tối của các y tá đã biến thành nhà nguyện, được thắp nến cả ngày lẫn đêm; tầng hầm giờ được ngăn ra thành phòng cho trẻ nhỏ và các phòng nhỏ hơn cho các ca sinh nở. Mẹ bề trên còn cho bịt kín cửa sổ bằng gạch và xi măng, rồi tấn bao cát bên ngoài. Bà đã sẵn sàng cho những gì sắp đến. Nhưng có một điều bà không biết phải đối phó thế nào: bà đã nghe kể nỗi lo của người cố vấn kiêm giáo sĩ xưng tội của bọn họ, Cha Bernhard Happich, rằng các phụ nữ có thể bị quân chiếm đóng làm nhục. Cha Bernhard Happich đã sắp xếp một buổi nói chuyện với bọn họ về việc này vào ngày 23/4. Giờ đây, trước tin tức mà mấy người bạn phóng viên của bà đem đến, Mẹ bề trên Cunegundes hi vọng họ không phải chờ đợi quá lâu. Bà thấy có lẽ quân Nga sẽ đến đây bất kỳ lúc nào.

      Trong khi chờ tin, người ta cố giấu nỗi lo âu trong cái hài hước rầu rĩ. Một lời chào hỏi mới xuất hiện trong thành phố. Những người không quen biết nhau bắt tay và chúc nhau “Bleib übrig” – “Hãy sống sót nhé.” Nhiều người dân Berlin đang giễu cợt bài tuyên truyền của Goebbels mười ngày trước. Ông ta nhấn mạnh là vận mệnh nước Đức sẽ xoay chuyển: “Quốc trưởng biết chính xác thời khắc đó. Số mệnh đã đưa con người này đến với chúng ta, để chúng ta có thể chứng thực cho phép màu vào thời điểm khó khăn này.” Giờ đây, những lời đó đang được nhắc lại khắp nơi, thường bắt chước phong cách mê ly của vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền một cách nhạo báng. Một câu nói khác cũng đang phổ biến. Người ta nghiêm trang an ủi nhau, “Chúng ta chẳng có gì phải lo lắng. Gröfaz sẽ cứu chúng ta.” Gröfaz là biệt danh người Berlin đặt cho Hitler lâu nay. Nó viết tắt cho “Grösster Feldherr aller Zeiten” – vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại.

       Dù thành phố sắp nằm dưới họng súng Nga, phần lớn nhà máy ở Berlin vẫn tiếp tục sản xuất. Pháo và đạn dược đang đổ ra tiền tuyến nhanh hết sức các nhà máy ở Spandau có thể sản xuất được. Thiết bị điện được sản xuất ở nhà máy Siemens ở Siemensstadt; một lượng lớn ổ bi và dụng cụ máy móc được sản xuất trong các nhà máy ở Marienfelde, Weissensee và Erkner; nòng pháo và khung đỡ được chế tạo ở nhà máy Rheinmetall-Borsig ở Tegel; xe tăng, xe tải và súng tự động được sản xuất trên dây chuyền tự động của nhà máy Alkett ở Ruhleben; và khi nào xe tăng được sửa chữa xong xuôi ở nhà máy Krupp und Druckenmüller ở Tempelhof, công nhân sẽ trực tiếp đưa chúng đến chỗ quân đội. Tình hình gấp rút tới mức ban quản lý phải yêu cầu các công nhân nước ngoài xung phong làm tài xế khẩn cấp. Jacques Delaunay, một lao động cưỡng chế người Pháp, đã thẳng thừng từ chối. Một người lái xe tăng trở về nhà máy chiều hôm đó đã nói với Delaunay, “Anh làm vậy là khôn đó. Anh có biết bọn tôi đưa mấy chiếc tăng này tới đâu không? Ra thẳng ngoài tiền tuyến đấy.”

      Không chỉ các nhà máy công nghiệp, mà cả ngành dịch vụ và các dịch vụ công cộng vẫn tiếp tục hoạt động. Ở trạm khí tượng chính ở Potsdam, nhân viên ghi nhận nhiệt độ trung bình buổi trưa là 18,3 độ C, đến đêm giảm còn 4,4 độ C. Trời trong, có mây rải rác, gió tây nam thổi nhẹ, đến chiều tối đổi sang hướng đông nam. Ngày 17 được dự báo sẽ có thay đổi – trời âm u và có thể có dông.

      Phần vì thời tiết tốt, nên các đường phố đông nghẹt người. Các bà nội trợ đi mua hàng hóa bán không cần tem phiếu ở mọi nơi có thể, chẳng quan tâm tương lai có những gì. Mọi cửa hàng đều có người xếp hàng dài dằng dặc. Ở Köpenick, Robert và Hanna Schultze mất ba tiếng xếp hàng mua bánh mì. Ai biết được khi nào mới có thể mua thêm chứ? Như hàng ngàn người dân Berlin khác, vợ chồng Schultze cố tìm cách quên đi nỗi lo âu. Ngày hôm đó, bằng hệ thống giao thông công cộng đang hết sức thất thường, họ đổi xe buýt và xe điện 6 lần để tới rạp chiếu phim ở Charlottenburg. Đây là chuyến đi thứ ba trong tuần này của họ. Ở các quận khác, họ đã xem các phim Ein Mann wie Maximilian (Một người đàn ông giống Maximilian); Engel mit dem Saitenspiel (Thiên thần với cây đàn lia) và Die Grosse Nummer (Con số lớn). Die Grosse Nummer nói về một rạp xiếc, và Robert cho đó là phim hay nhất tuần.

      Tù binh chiến tranh người Pháp Raymond Legathière thấy sở chỉ huy quân sự ở Bendlerstrasse đang loạn tới mức chẳng ai nhớ tới sự hiện diện của anh, và thế là anh thản nhiên nghỉ làm buổi chiều. Những ngày này, mấy người cảnh vệ không còn bận tâm cho lắm. Legathière đã xoay được một tấm vé xem phim ở rạp chiếu phim gần Potsdamer Platz chuyên phục vụ lính Đức. Giờ anh đang thư giãn trong bóng tối xem phim, một bộ phim do Bộ Tuyên truyền của Goebbels đặc biệt tái phát hành. Đó là một bộ phim màu đề tài lịch sử có tựa là Kolberg, nói về công cuộc phòng thủ vĩ đại của Graf von Gneisenau ở thành phố Pomeranian trong chiến tranh với Napoleon. Suốt buổi chiếu, Legathière thích thú trước hành vi của mấy người lính xung quanh cũng như trước nội dung bộ phim. Cả hai thứ đều rất lôi cuốn. Bọn họ nào là cười nói, vỗ tay, rồi thì la hét với người khác, họ gần như bị cuốn vào mạch truyện của một trong những nhân vật quân sự huyền thoại của Đức. Legathière thấy vài người trong số những người lính này đáng lẽ đã có thể có cơ hội trở thành anh hùng.


      ...........................   




Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2017, 11:40:49 pm »

     
      Tín hiệu bất ngờ xuất hiện. Trong trụ sở của Dàn nhạc giao hưởng, một khu liên hợp gồm nhiều tòa nhà, trong đó có các sảnh hòa nhạc và studio luyện tập của Dàn nhạc giao hưởng Berlin, Tiến sĩ Gerhart von Westermann, giám đốc dàn nhạc nhận được tin nhắn của bộ trưởng Albert Speer: dàn nhạc sẽ biểu diễn buổi hòa nhạc cuối cùng vào tối hôm đó.

      Von Westermann vẫn biết rằng tin tức sẽ đến bất ngờ như thế này, chỉ trước buổi hòa nhạc có mấy giờ. Chỉ thị của Speer là tất cả những nhạc sĩ muốn ra đi đều phải đi ngay sau buổi biểu diễn. Họ sẽ tới vùng Kulmbach-Bayreuth, cách Berlin 240 dặm về phía tây nam – Speer đã chuyển phần lớn nhạc cụ quý giá của dàn nhạc tới đó từ trước. Theo ngài bộ trưởng, quân Mỹ sẽ kiểm soát vùng Bayreuth chỉ trong vài giờ nữa.

      Chỉ có một rắc rối mà thôi. Khi đưa ra trước toàn bộ dàn nhạc, kế hoạch ban đầu của Speer đã sụp đổ. Thoạt đầu, sợ kế hoạch có thể lọt đến tai Goebbels, Von Westermann chỉ nói cho vài thành viên đáng tin cậy trong dàn nhạc. Ông rất ngạc nhiên khi thấy phần đông đều miễn cưỡng không muốn đi, phần vì gia đình, phần vì các mối ràng buộc về tình cảm hoặc các quan hệ khác với thành phố này. Khi kế hoạch được đưa ra bỏ phiếu, nó đã bị hủy bỏ. Gerhard Taschner, nghệ sĩ violin trẻ tuổi, và là một tay bè trưởng Violon I (Concermaster) của dàn nhạc được yêu cầu đi nói cho Speer biết. Ngài bộ trưởng bình thản đón nhận tin này, nhưng lời đề nghị của ông vẫn để ngỏ: vào đêm cuối, xe hơi và tài xế riêng của Speer sẽ đợi để đưa những người muốn ra đi rời khỏi đây. Taschner cùng với vợ và hai con, cộng thêm con gái của người nhạc sĩ đồng nghiệp Georg Diburtz chắc chắn sẽ đi. Nhưng họ là những người duy nhất. Ngay cả Von Westermann, sau khi xem kết quả bỏ phiếu, cũng thấy mình phải ở lại.

      Nhưng nếu có thành viên nào trong dàn nhạc dao động, thì họ sẽ được cho biết đây là cơ hội cuối cùng. Có thể sẽ có người đổi ý và muốn ra đi. Vậy nên, khi chỉ còn ba tiếng nữa là đến buổi biểu diễn tối đó, Von Westermann dượt lại chương trình. Khi đó đã quá trễ, dù là để lên lịch tổng duyệt, và các nhạc sĩ không biết gì về kế hoạch sơ tán sẽ ngạc nhiên trước sự thay đổi. Nhưng dù họ biết hay không biết, bản nhạc mà Speer chọn làm tín hiệu đã khiến buổi hòa nhạc cuối cùng có một vẻ u ám và xúc động. Von Westermann cho đặt bản nhạc trước chỗ từng người, trên đó đề tựa Die Götterdämmerung – tuyệt phẩm bi kịch của Wagner về cái chết của các vị thần. Tới giờ thì mọi người dân Berlin đều thấy rõ “Pháo đài Berlin” chỉ là truyện cổ tích; ngay cả người kém hiểu biết nhất cũng thấy thành phố được chuẩn bị đối phó với một cuộc tấn công quá sơ sài. Các con đường chính và đường cao tốc vẫn mở bình thường. Có rất ít pháo hay xe thiết giáp, và ngoài mấy ông già trong Lực lượng Phòng vệ Địa phương, có người mặc đồng phục, người thì chỉ đeo băng tay may trên ống tay áo khoác, còn lại chẳng thấy bóng dáng lính lác nào.

      Để đảm bảo, chỗ nào cũng có chốt chặn và rào cản thô sơ. Ở các con đường nhánh, khuôn viên, quanh các cơ quan chính phủ và công viên, chất hàng đống vật liệu xây công sự. Có mấy cuộn dây thép gai, những khối chướng ngại vật chống tăng bằng thép, xe tải và xe điện cũ chất đầy đá bên trong. Những thứ này sẽ dùng để ngăn chặn các đợt oanh tạc chính khi thành phố bị tấn công. Nhưng liệu chúng có thể chặn được quân Nga không? Người ta đùa rằng: “Hồng quân sẽ phải mất ít nhất 2 tiếng 15 phút mới đột phá được. Bọn chúng sẽ cười đến rụng răng suốt 2 tiếng đồng hồ, rồi lại mất 15 phút để đập tan mấy cái rào cản đó.” Các phòng tuyến – hầm, hào chống tăng, chướng ngại vật và ụ pháo – dường như chỉ có ngoài ngoại ô, và kể cả thế đi nữa, người dân Berlin dễ dàng thấy là chúng còn lâu mới xong.

       Hôm đó, một người đàn ông lái xe ra khỏi thành phố và thấy công tác chuẩn bị phòng thủ “quá sức vô ích và buồn cười!” Ông là một chuyên gia về công sự. Tướng Max Pemsel từng là tham mưu trưởng Tập đoàn quân 7, phụ trách phòng thủ ở bãi biển Normandy vào ngày D-Day. Vì không thể ngăn chặn cuộc xâm lăng, Pemsel cùng mấy người nữa bị Hitler lạnh nhạt từ đó tới giờ. Ông bị giao chỉ huy một sư đoàn vô danh ở miền bắc, và cam chịu “chốn tẻ nhạt này.”

       Rồi đến ngày 2/4, Pemsel ngạc nhiên nhận được chỉ thị từ tướng Jodl, bảo ông bay về Berlin. Thời tiết xấu làm mấy chuyến bay của ông bị hoãn liên tục, mãi đến 12/4 ông mới tới được thủ đô. Jodl đã khiển trách ông về việc chậm trễ. Ông ta nói, “Pemsel, anh biết không, đáng lý anh sẽ được bổ nhiệm chỉ huy Berlin, nhưng anh lại đến trễ thế này.” Sau này Pemsel nói, khi nghe những lời đó, ông thấy “như có một tảng đá lớn rơi khỏi lồng ngực.”

      Giờ thay vì phụ trách Berlin, Pemsel đang trên đường đến mặt trận Italia: Jodl đã bổ nhiệm ông làm tham mưu trưởng cho Tập đoàn quân Italia của nguyên soái Rodolfo Graziani. Pemsel thấy chuyện này cứ như là mơ vậy. Ông thấy thật khó tin được là đoàn quân của Graziani vẫn còn tồn tại; đã vậy, Jodl còn nêu tỉ mỉ các nhiệm vụ của ông như thể họ đang thắng thế và chiến tranh sẽ còn kéo dài. Ông ta cảnh báo với Pemsel, “Công việc của anh sẽ rất khó khăn, vì nó không chỉ cần có kiến thức quân sự xuất sắc, mà phải có kỹ năng ngoại giao nữa.” Dù quan điểm của Jodl thật phi thực tế, Pemsel vẫn rất vui lòng tới Italia. Trên đường đi, ông sẽ đi ngang qua Bavaria, và gặp lại vợ con lần đầu tiên trong hai năm qua. Lúc ông tới được Italia thì có lẽ chiến tranh đã kết thúc rồi.

      Khi Pemsel rời khỏi Berlin, ông thấy cả số phận lẫn thời tiết đều thật tốt với ông. Rõ rành rành là chẳng thể nào bảo vệ được thành phố này. Chạy ngang qua một mớ thân cây, thanh thép và các khối bê tông hình nón chất lộn xộn, dùng làm chướng ngại vật chống tăng, ông lắc đầu tỏ vẻ không tin tưởng. Chạy thêm một đoạn, chiếc xe vụt qua một ông già trong Lực lượng Phòng vệ Địa phương đang chậm rãi đào hầm. Sau này Pemsel nhớ lại, khi bỏ lại thành phố sau lưng, “Tôi cảm ơn Chúa vì đã cho tôi thoát khỏi ly rượu phạt này.”


       Trong văn phòng ở Hohenzollerndamm, sĩ quan chỉ huy của thành phố, tướng Reymann đang đứng trước một tấm bản đồ Berlin lớn treo trên tường, nhìn các phòng tuyến đánh dấu trên đó và tự hỏi, “nhân danh Chúa, mình phải làm gì đây.” Ba ngày qua Reymann gần như thức trắng và ông thấy mệt rũ người. Từ sáng tới giờ, ông đã nhận vô số cuộc điện thoại, tham dự vài cuộc họp, đến kiểm tra các phòng tuyến ngoài vành đai và đưa ra hàng loạt mệnh lệnh. Cá nhân ông tin là hầu hết công việc khó mà hoàn thành trước khi quân Nga vào thành phố.

       Hồi đầu ngày, Goebbels, Tỉnh trưởng Berlin kiêm phụ trách phòng thủ tự chỉ định vừa tổ chức buổi họp hàng tuần như thường lệ của “hội đồng chiến tranh” của ông ta. Reymann thấy mấy buổi họp này thật quá sức lố bịch vào lúc này. Đến chiều, ông kể lại cuộc họp mới nhất cho tham mưu trưởng của mình là Đại tá Refior nghe. “Ông ta nói với tôi mấy chuyện cũ mèm. Ông ta nói, ‘Nếu trận đánh ở Berlin diễn ra ngay bây giờ, thì anh sẽ được quyền sử dụng mọi loại xe tăng và pháo, thêm vài nghìn súng máy hạng nặng và hạng nhẹ, cộng với mấy trăm khẩu súng cối, cùng lượng đạn tương ứng.’” Reymann ngừng lại. Ông nói với Refior, “Theo Goebbels, chúng ta sẽ có được mọi thứ ta cần – nếu Berlin bị bao vây.”

      Rồi Goebbels đột ngột chuyển chủ đề. Ông ta hỏi, “Một khi trận đánh bắt đầu, anh định đặt sở chỉ huy ở đâu?” Về phần mình, Goebbels định vào Zoo Bunker. Ông ta đề nghị Reymann cũng nên ở trong đó chỉ huy. Reymann biết ngay vị tỉnh trưởng này đang nghĩ gì trong đầu; Goebbels định nắm Reymann và việc phòng thủ ở Berlin trong tay mình. Khéo léo hết mức có thể, Reymann gạt lời đề nghị đó qua một bên. Ông nói, “Tôi muốn tránh điều đó, vì cả hai bên chính trị lẫn quân sự đều có thể tiêu tùng một lúc chỉ vì một đòn bất ngờ.” Goebbels bỏ qua đề tài này, nhưng Reymann nhận thấy ông ta lạnh nhạt hẳn đi. Goebbels biết rõ là tòa tháp Zoo Bunker không thể nào bị phá hủy, dù có hàng loạt bom hạng nặng dội lên.

     .....................................
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #88 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 08:25:49 am »

   
   Reymann biết ngài bộ trưởng sẽ ghim việc lời mời của mình bị từ chối. Nhưng vào lúc này, khi đối mặt với cái trọng trách gần như vô vọng là chuẩn bị công tác phòng thủ của thành phố, thì Goebbels là người cuối cùng Reymann muốn ở gần bên. Ông không quan tâm đến các tuyên bố chính thức hay hứa hẹn của viên tỉnh trưởng. Chỉ mới mấy ngày trước, khi bàn về cung ứng, Goebbels còn nói lực lượng phòng vệ ở Berlin sẽ được cấp “ít nhất một trăm chiếc tăng.” Reymann đã hỏi xin danh sách các đồ cung ứng như đã hứa. Cuối cùng, khi ông nhận được thông tin thì một trăm chiếc tăng biến thành “25 chiếc đã hoàn thành, 75 chiếc đang lắp ráp.” Dù có bao nhiêu đi nữa, Reymann biết mình sẽ không thấy được một mảnh nào trong số đó. Mấy thứ vũ khí quan trọng như vậy sẽ được ưu tiên cho mặt trận Oder.

       Theo quan điểm của Reymann, chỉ có một thành viên trong nội các là thật sự hiểu được cái gì đang chờ đợi Berlin. Người đó là bộ trưởng Albert Speer, dù ông ta cũng có điểm mù quáng. Ngay khi sau buổi họp hội đồng chiến tranh của ngài tỉnh trưởng, Reymann được lệnh trình diện với Speer. Tại tòa nhà từng là Đại sứ quán Pháp nằm ở Pariser Platz, giờ là văn phòng của bộ trưởng Bộ Khí tài và Vũ trang của Hitler, ngài bộ trưởng bình thường vốn hòa nhã đang nổi trận lôi đình. Chỉ thẳng vào con đường chính trên bản đồ thành phố, Speer muốn biết Reymann “định làm gì với Đại lộ Đông-Tây.” Reymann ngạc nhiên nhìn ông ta. Ông trả lời, “Tôi sẽ xây một đường băng giữa Cổng Brandenburg và Tượng đài Chiến thắng. Sao vậy?”

      Speer nổi điên. “Sao vậy à? Sao vậy? Anh sắp phá bỏ mấy trụ đèn của tôi, là thế đấy! Và anh không được làm thế!”

      Reymann cứ tưởng Speer đã biết về kế hoạch này. Trong các trận chiến ở Breslau và Königsberg, quân Nga đã chiếm các sân bay ở ngoại ô của hai thành phố trong tích tắc. Để ngăn ngừa tình huống tương tự ở Berlin, đã có quyết định xây một đường băng ngay giữa quận trung tâm hành chính, dọc theo Đại lộ Đông-Tây, đi ngang qua công viên Tiergarten. Sau này Reymann kể, “Vì lý do đó, chúng tôi đã thỏa thuận với Không quân, đường băng được chọn ở giữa Cổng Brandenburg và Tượng đài Chiến thắng. Thế có nghĩa là các trụ đèn trang trí bằng đồng phải bị dỡ bỏ, và phải chặt hết cây trong vòng 30 mét hai bên đường băng. Khi tôi đề cập đến kế hoạch này với Hitler, ông ta nói là có thể dỡ bỏ trụ đèn nhưng không được chặt cây. Tôi đã cố hết sức thuyết phục ông ta đổi ý, nhưng Hitler không chịu nghe. Dù tôi đã giải thích là nếu không chặt cây thì chỉ có máy bay cỡ nhỏ mới cất cánh và hạ cánh được, ông ta vẫn không chịu đổi ý. Tôi không biết lý do của ông ta là gì, nhưng có chặt thêm mấy cái cây cũng chả ảnh hưởng gì đến mỹ quan thành phố vào những ngày này. Và giờ đến lượt Speer phản đối dỡ bỏ mấy cái trụ đèn.

      Reymann giải thích tình hình cho Speer nghe, và kết luận rằng mình đã được Quốc trưởng cho phép dỡ bỏ trụ đèn. Nhưng ngài bộ trưởng không bận tâm. Ông ta khăng khăng, “Anh không được dỡ mấy cái trụ đèn đó. Tôi phản đối.” Rồi Speer nói thêm, “Có vẻ anh không biết tôi là người chịu trách nhiệm tái thiết Berlin nhỉ.”

       Reymann cố thuyết phục Speer đổi ý trong vô vọng. Ông tranh luận, “Chúng ta phải mở đường băng ở đây, đó là vấn đề sống còn, đặc biệt là trong tình huống này.” Nhưng vị bộ trưởng không muốn nghe gì nữa. Theo như Reymann nhớ lại, thì “cuộc nói chuyện chấm dứt, Speer tỏ ý sẽ đưa toàn bộ chuyện này đến chỗ Quốc trưởng. Đồng thời, mấy cái trụ đèn của ông ta phải được giữ nguyên, và việc thi công đường băng phải đình lại – dù quân Nga đang tiến thẳng tới chỗ chúng tôi.”

       Trước khi kết thúc cuộc gặp mặt, Speer đề cập đến các cây cầu ở Berlin. Ông ta lại tiếp tục tranh luận với Reymann, như ở sở chỉ huy của Heinrici hôm trước, rằng việc phá cầu là vô ích, vì nhiều cây cầu còn đi kèm các mạng lưới điện, nước, gas chính và “nếu các đường huyết mạch này bị hư hại thì sẽ làm tê liệt nhiều vùng trong thành phố và khiến công tác tái thiết của tôi càng khó khăn thêm.” Reymann có thể thấy được sức ảnh hưởng lớn lao của Speer với Hitler: ông vừa nhận được mệnh lệnh trực tiếp từ Dinh Thủ tướng, xóa bỏ một số cây cầu khỏi danh sách cần phá hủy. Bây giờ, Speer lại khăng khăng phải giữ nguyên toàn bộ. Reymann cũng cứng đầu không kém Speer. Trừ khi có lệnh ngược lại của Hitler, không thì Reymann vẫn sẽ thi hành chỉ thị và cho nổ các cây cầu còn lại. Ông cũng chẳng thích thú gì việc này, nhưng ông không muốn đánh đổi mạng sống và sự nghiệp chỉ để cứu mấy cây cầu.

       Rời khỏi văn phòng của Speer, Reymann ghé thăm một khu vực phòng thủ ở ngoại ô Berlin trong chốc lát. Mỗi lần đi kiểm tra thế này chỉ càng khiến Reymann thêm tin rằng công tác phòng thủ của Berlin chỉ là ảo tưởng. Trong những năm tháng thắng lợi vẻ vang, Đảng Nazi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện có ngày thủ đô lại trở thành nơi chống cự cuối cùng. Bọn họ xây công sự ở khắp những chỗ khác – Phòng tuyến Gustav ở Italy, Bức tường Đại Tây Dương dọc bờ biển châu Âu, Phòng tuyến Siegfried ở biên giới phía tây nước Đức – nhưng quanh Berlin thì không có nổi một cái hầm. Kể cả khi hàng hàng lớp lớp quân Nga vượt qua Đông Âu và xâm lấn Tổ quốc của họ, Hitler và các cố vấn quân sự của ông ta cũng không làm gì để gia cố cho thành phố.

       Chỉ đến khi Hồng quân tới được sông Oder hồi đầu năm 1945 thì người Đức mới bắt đầu gia cố cho hàng rào phòng thủ tại Berlin. Vài con hào và chướng ngại vật chống tăng chầm chậm xuất hiện ở vùng ngoại ô phía đông thành phố. Thế rồi, lạ lùng thay, khi Hồng quân dừng bước bên dòng sông đóng băng để chờ đợt tuyết tan mùa xuân, thì công cuộc chuẩn bị phòng vệ ở thủ đô cũng ngừng theo. Tới tận tháng ba thì công tác phòng thủ ở Berlin mới được quan tâm trở lại – và khi đó thì đã quá trễ. Chẳng còn lính lác, đồ cung ứng hay trang thiết bị để xây dựng các công sự cần thiết nữa.


       ................................ 



Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #89 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 08:27:43 am »


        Trong vòng hai tháng làm việc điên cuồng đầy mệt mỏi, một loạt phòng tuyến tạm thời mọc lên. Có lúc, vào cuối tháng hai, một “vành đai chướng ngại vật” đã được dựng lên vội vàng bao quanh Berlin, nhưng không kín hoàn toàn, cách thủ đô chừng 20 đến 30 dặm. Phòng tuyến này chạy qua các khu rừng và đầm lầy, dọc theo các hồ nước, sông ngòi và kênh rạch, chủ yếu ở phía bắc, phía đông và phía nam thành phố. Trước khi Reymann nắm quyền chỉ huy, các mệnh lệnh đưa ra đều tuyên bố đây chính là “vùng cứ điểm.” Để đáp ứng chứng cuồng pháo đài của Hitler, binh lính trong Lực lượng Phòng vệ Địa phương được lệnh phải trấn giữ tại đó và chiến đấu đến tận người lính cuối cùng. Để biến những chỗ này thành một vùng phòng thủ vững chắc, cần tới một lượng lớn binh lính, vũ khí và vật liệu, vì vành đai chướng ngại vật bao lấy một vùng gần 150 dặm quanh Berlin.

        Reymann đã nhanh chóng phát hiện ra, trừ mấy chỗ được quân đội trực tiếp giám sát, còn lại thì mấy cái được gọi là cứ điểm thường chỉ có vài con hào trên các đường phố chính, vài ụ pháo rải rác, hoặc là mấy căn nhà bê tông được gia cố vội vàng thành lô cốt, lấy gạch bịt kín cửa sổ, chừa vài khe hở đặt súng máy. Mấy vị trí mong manh này, nhiều chỗ còn không có người, lại được đánh dấu là các trọng điểm phòng thủ trên bản đồ của Dinh Thủ tướng.

        Phòng tuyến chính nằm ngay giữa lòng thành phố. Ba vòng tròn đồng tâm bao lấy lực lượng phòng ngự bên trong. Vòng ngoài cùng có chu vi 60 dặm, chạy quanh vùng ngoại ô. Vì không có các công sự đúng nghĩa, thứ gì cũng được dùng để lập rào cản: xe goòng và toa tàu cũ, những ngôi nhà đổ nát, các bức tường bê tông lớn, boong-ke không kích cùng với sự đóng góp của thiên nhiên, chính là sông hồ ở Berlin. Người ta đang làm việc ngày đêm để kết nối các thứ tự nhiên và nhân tạo kia thành một phòng tuyến và rào cản chống tăng liên tục. Công việc chủ yếu được làm bằng tay, không có thiết bị máy móc nào. Đa số máy ủi đất hạng nặng đã được đưa đến miền đông để phục vụ cho các công sự ở mặt trận Oder từ lâu. Việc sử dụng các cỗ máy ít ỏi còn lại bị cấm vì thiếu nhiên liệu – từng lít xăng có được đều đã chuyển tới các sư đoàn thiết giáp.

       Có khoảng 100.000 lao động làm việc tại các vành đai công sự. Thực tế, số lao động chưa bao giờ dưới 30.000
người. Thậm chí, cả dụng cụ cầm tay cũng thiếu; các lời kêu gọi trên báo cần ủng hộ cuốc xẻng chẳng thu được kết quả mấy. Theo Đại tá Refior, “có vẻ người làm vườn ở Berlin coi việc đào khoai tây quan trọng hơn đào hố bẫy xe tăng.” Với Reymann, giờ mọi chuyện đều vô ích. Không thể nào làm kịp vành đai ngoài. Đó là một công việc vô vọng và không thể nào hoàn thành được.

      Vành đai thứ hai, hay vành đai giữa có thể coi là một chướng ngại vật khó nhằn, nếu có quân lính dạn dày kinh nghiệm và đầy đủ vũ khí. Nó có chu vi chừng 25 dặm và các rào chắn đều đã dựng lên đầy đủ. Hệ thống đường sắt của Berlin biến thành một cái bẫy chết người. Ở một số chỗ, đường ray bị tháo đi, hoặc kéo qua một bên, có khi rộng tới một hai trăm mét, tạo thành những con hào chống tăng hoàn hảo. Trong các căn nhà đã được gia cố trông ra đường ray, xạ thủ có thể nhắm bắn những chiếc tăng bị kẹt trong rãnh. Ở các chỗ khác, phòng tuyến chạy dọc theo đường sắt trên cao (S-Bahn), giúp quân phòng thủ có được những thành lũy đắp cao vững chắc.

       Dù các phòng tuyến này bị chọc thủng, thì vẫn còn vành đai thứ ba, giữa trung tâm thành phố. Vùng cuối cùng này được gọi là Pháo đài, nằm giữa kênh Landwehr và sông Spree ở quận Mitte. Gần như mọi tòa nhà chủ chốt của chính phủ đều nằm trong này. Lực lượng phòng thủ cuối cùng sẽ trấn thủ tại đây, trong những toà nhà kiến trúc đồ sộ, được nối liên tục với nhau bằng các rào cản và tường chắn bê tông, chẳng hạn trong tòa nhà rộng thênh thang của Bộ Hàng không của Goering (Reich-sluftfahrtministerium), trong các sở chỉ huy quân sự bề thế ở phố Bendler, và trong cái vỏ rỗng không của Tòa nhà Quốc hội và Dinh Thủ tướng.

      Từ Pháo đài, xuyên qua cả ba vành đai phòng thủ, tỏa ra thành 8 khu vực hình rẻ quạt, mỗi quân khu có một tư lệnh riêng. Bắt đầu từ quận Weissensee ở phía đông, các quân khu được đặt tên từ A đến H theo chiều kim đồng hồ. Vành đai trong cùng được đặt là Z. Có 6 tòa tháp phòng không chống bom kiên cố yểm hộ cho các vành đai, nằm rải rác quanh thành phố – ở Humboldthain, Friedrichshain, và ở Sở thú Berlin.

       Nhưng Pháo đài Berlin vẫn còn thiếu nhiều liên kết thiết yếu. Cái quan trọng nhất là nhân lực. Reymann tin là dù có trong điều kiện lý tưởng cũng cần khoảng 200.000 quân đã qua huấn luyện bài bản và có kinh nghiệm chiến đấu để bảo vệ thành phố. Nhưng thay vào đó, ông chỉ có một đám quân tạp nham để trấn thủ trên diện tích 321 dặm vuông của Berlin, từ những cậu choai choai 15 tuổi trong Đoàn Thanh niên Hitler cho tới mấy ông lão đã ngoài bảy mươi. Ông còn có lực lượng cảnh sát, các đơn vị kỹ sư và các đội pháo phòng không, nhưng lực lượng bộ binh duy nhất của ông thì chỉ có 60.000 quân Phòng vệ Địa phương chưa qua huấn luyện. Mấy ông già Volkssturm ấy đang uể oải đào hầm hoặc chậm chạp di chuyển vào vị trí trên các con đường dẫn vào Berlin, đến các trọng điểm phòng thủ của thành phố. Lực lượng Volkssturm giống như âm binh của quân đội vậy. Dù trên lý thuyết thì họ sẽ chiến đấu cùng quân chính quy vào lúc khẩn cấp, nhưng họ lại không được coi là một phần của quân đội. Cũng như Đoàn Thanh niên Hitler, họ thuộc trách nhiệm của quan chức địa phương trong đảng Na-zi; thậm chí sau khi trận chiến bắt đầu Reymann mới nắm quyền chỉ huy bọn họ. Cả trang thiết bị của lực lượng Volkssturm cũng thuộc trách nhiệm của đảng Nazi. Lực lượng Phòng vệ Địa phương không có xe cộ, bếp dã chiến hay phương tiện liên lạc riêng.


        .....................................
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM