Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:12:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: The Last Battle - Trận chiến cuối cùng  (Đọc 99209 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #110 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2017, 10:01:59 am »

        Mệnh lệnh của Stalin được đánh số 11074. Nó được giao cho cả Zhukov và Koniev; và chia đôi thành phố cho cả hai người. Mệnh lệnh viết, vào hôm nay, ngày 23/4, ranh giới giữa Phương diện quân Belorussia số I và Phương diện quân Ukraine số I sẽ là “Lübben, rồi tới Teupitz, Mittenwalde, Mariendorf, và nhà ga Anhalter ở Berlin.”

        Dù không thể công khai phàn nàn, nhưng Koniev rất khó chịu. Phần thưởng đã được trao cho Zhukov. Giới tuyến này chạy thẳng qua Berlin, đẩy quân của Koniev cách tòa nhà Quốc hội chừng 140 mét về phía tây, mà người Nga vẫn luôn coi đây là mục tiêu lớn nhất trong thành phố, và định cắm cờ Liên Xô lên đó.




                          *****************



       Thành phố đang chết dần. Nước và gas bị cắt ở hầu hết mọi nơi. Các tờ báo bắt đầu đóng cửa; tờ cuối cùng còn hoạt động là tờ Völkischer Beobachter của đảng Nazi, tờ này đóng cửa ngày 26 (được thay bằng một tờ báo 4 trang theo ý tưởng của Goebbels, tên là Der Panzerbar [Gấu Thiết giáp], được gọi là “Tờ báo chiến đấu của Lực lượng Phòng vệ Berlin vĩ đại,” hoạt động được 6 ngày). Toàn bộ phương tiện giao thông trong thành phố đều ngừng hoạt động, vì đường phố không còn đi qua được nữa, xăng thì hiếm hoi, và xe cộ đều hư hỏng hết cả. Hoạt động phân phối cũng ngừng lại; hầu như chẳng còn vận chuyển gì nữa. Các nhà máy đông lạnh ngừng hoạt động. Ngày 22/4, sở điện báo 100 năm tuổi của thành phố đóng cửa lần đầu tiên trong lịch sử. Bức điện cuối cùng nó nhận được là từ Tokyo, trên đó viết: “CHÚC CÁC BẠN MAY MẮN.” Cùng ngày, chiếc máy bay cuối cùng rời khỏi sân bay Tempelhof, bay tới Stockholm, mang theo 9 hành khách, và 1.400 đội cứu hỏa của Berlin được lệnh dời sang phía Tây (*).

       Hiện tại, vì toàn bộ cảnh sát đều phải phục vụ trong quân đội hoặc trong Lực lượng Phòng vệ Địa phương, thành phố dần dần mất kiểm soát. Người ta bắt đầu đi cướp bóc. Những chiếc tàu hỏa chở hàng dừng ngoài sân ga bị đột nhập ngay giữa ban ngày ban mặt. Margarete Promeist từng có một chuyến đi cực kỳ nguy hiểm tới sân ga ngay giữa cơn mưa đạn, và thoát được cùng với một miếng thịt heo muối; sau này cô kể, “nhìn lại mới thấy mình thật là điên.”

       Elena Majewski và Vera Ungnad chạy tới sân ga tàu hàng ở Moabit. Họ thấy đám đông đang vồ lấy từng thùng mơ, mận và đào đóng hộp. Còn có những bao đậu gì không rõ, nhưng hai cô gái đều bỏ qua. Họ không biết đó là hạt cà phê xanh. Bọn họ lấy được một thùng đồ hộp đề là “Mơ” nhưng khí về nhà mới biết nó là sốt táo. Cả hai đều ghét món đó. Robert Schultze còn thảm hơn: anh phải mất 5 giờ chen lấn trong đám đông, cố lấy ít khoai tây trong một cửa hàng thực phẩm lớn – nhưng lúc tới lượt anh thì đã hết nhẵn.

       Những người chủ tiệm không chịu đưa đồ ra thì thường sẽ bị ép phải làm vậy. Đoàn viên Đoàn Thanh niên Hitler Klaus Küster đi cùng dì vào một cửa hàng và hỏi mua ít đồ. Khi ông chủ tiệm một mực bảo chỉ còn lại ít ngũ cốc, Küster bèn rút súng ra và đòi đem thực phẩm tới. Ông chủ mau chóng lấy ra một mớ đồ ăn từ ngay dưới quầy. Küster gom lại, mang theo nhiều hết mức có thể, rồi rời khỏi đó cùng bà dì đang bị sốc vì hành vi trắng trợn này. Khi họ ra bên ngoài, bà khóc, “Con là đứa hư hỏng. Dám dùng cái cách của bọn du côn bên Mỹ!” Klaus đáp lại: “Thôi, dì im đi! Đây là chuyện sống còn đấy.”

      Elfriede Maigatter nghe được tin đồn là cửa hàng bách hóa Karstadt đồ sộ ở quảng trường Hermannplatz đang bị cướp. Cô vội vàng chạy tới cửa hàng và thấy chật cứng những người là người. Sau này cô kể, “Ai nấy đều xô đẩy, đấm đá nhau chen tới cửa. Chẳng còn hàng lối gì nữa. Cũng không có nhân viên bán hàng hay người phụ trách.” Mọi người vơ vét toàn bộ các thứ trong tầm mắt. Nếu thứ đó nếu không dùng được, họ liền vứt xuống sàn. Trong cửa hàng thực phẩm, có một lớp bùn dinh dính dày cả tấc phủ kín sàn nhà, được tạo nên từ sữa đặc, mứt cam, mì, bột mì và mật ong – "những thứ bị đám người cướp bóc làm đổ hoặc vứt đi.”

      Có vài người giám sát còn ở lại, một người đàn ông hét to, “Ra ngoài! Ra ngoài! Cửa hàng này sắp bị cho nổ rồi!” Không ai để ý tới ông ta; rõ ràng là xạo. Các bà các cô giành giật áo khoác, đầm váy và giày dép trong cửa hàng thời trang. Những người khác thì túm lấy khăn trải giường, đồ lanh, chăn mền trên kệ. Ở khu bánh kẹo, Elfriede thấy một người đàn ông giật hộp sô-cô-la của một cậu bé. Nó òa khóc và hét lên, “Con đi lấy hộp khác đây.” Và nó làm thế thật.

      Nhưng kết cục ở cửa ra lại thế này: hai giám sát viên đang ngăn mọi người mang chiến lợi phẩm chuồn đi. Họ cho người ta lấy đồ ăn, nhưng những thức khác thì không được. Bên cửa dần hình thành một đống hàng hóa to đùng. Người ta len lỏi qua đó, xô đẩy và chen lấn nhau, cố lách qua hai giám sát viên. Khi Elfriede cố đem một cái áo khoác ra ngoài, một trong hai người đó giật lấy nó. Cô năn nỉ, “Làm ơn cho tôi cái này đi. Tôi lạnh lắm.” Ông ta nhún vai, kéo cái áo ra khỏi núi đồ và đưa lại cho cô. Ông nói, “Mặc đi.” Từ đầu tới cuối, trong lúc đám người chen lấn và giành giật mọi thứ có trong tầm mắt, có ai đó cứ hét: “Ra ngoài! Ra ngoài! Cửa hàng này sắp bị cho nổ rồi!”.

…………………. 
(*): Vẫn có hai nơi không bị gián đoạn: việc ghi chép khí tượng ở trạm Potsdam, không lỡ một ngày nào trong cả năm 1945, và 11 trên tổng số 17 nhà máy bia của thành phố – được coi là sản xuất “thiết yếu” theo sắc lệnh của chính phủ – vẫn tiếp tục sản xuất bia.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #111 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2017, 10:05:49 am »

      Linh mục Leckscheidt là một nhân chứng trong vụ cướp bóc ở Karstadt. Ông có mặt tại đó một cách rất lạ kỳ. Một người giáo dân của ông vừa sinh, đứa bé chết non và đã được hỏa táng. Quá sức thương tâm, người mẹ muốn bình đựng tro cốt phải được chôn cất đàng hoàng, và Leckscheidt đã đồng ý sẽ có mặt – dù như thế có nghĩa là phải đi bộ mấy dặm đường dưới làn mưa đạn đến nghĩa trang ở Neukölln, người mẹ định chôn cất ở đó. Trên đường đi, người mẹ bỏ bình tro trong chiếc túi mua sắm, họ đi ngang qua Karstadt và thấy đám đông đang cướp bóc. Người giáo dân của ông nhìn chằm chằm. Đột nhiên cô nói, “Chờ đã!” Leckscheidt ngạc nhiên đứng đó, “cô ấy đi khỏi chỗ tôi đứng và biến mất tăm trong cửa hàng, bỏ lại bình tro, chiếc túi và đồ đạc.” Một lát sau cô quay lại, đắc thắng vung vẩy một đôi bốt. Cô quay qua Leckscheidt nói: “Ta đi chứ?”

       Trên đường về, Leckscheidt cẩn thận để cô cách xa Karstadt. Thế thật là hay. Chiều hôm đó, cửa hàng đồ sộ này rung chuyển và nổ tan tành. Lực lượng SS đã cho nổ trung tâm mua sắm này, nhằm ngăn quân Nga lấy được số quân nhu trị giá 29 triệu mark giấu trong hầm. Một số phụ nữ và trẻ em đã chết trong vụ nổ.

      Khi đối mặt với những kẻ cướp, nhiều người chủ tiệm liền đưa đồ ra. Thay vì để cửa hàng bị lũ bất kham đó phá hoại, họ thà dọn sạch các kệ hàng và đưa đồ ra mà không cần lấy tiền hay tem phiếu. Còn có một lý do khác: những người chủ tiệm nghe nói là nếu quân Nga tìm thấy thực phẩm dự trữ, bọn chúng sẽ đốt tiệm. Cách đây một tuần, ở Neukölln, Günther Rosetz, người điều khiển máy chiếu trong rạp phim, định mua ít mứt cam tại cửa hàng tạp hóa Tengelmann và bị từ chối. Giờ, Rosetz lại thấy tiệm Tengelmann đang bán từng bình từng bình mứt cam, bột yến mạch, đường và bột mì – đồng giá 10 mark 1 pound.

       Vì hoảng sợ, cửa tiệm đang đem hàng hóa đi cho, để tống khứ hết ra khỏi tiệm. Ở tiệm rượu Caspary trên góc phố Hindenburgstrasse, Alexander Kelm thấy không thể tin vào mắt mình: ai tới cũng được cho mấy chai rượu. Klaus Küster, đoàn viên Đoàn Thanh niên Hitler làm một vụ cướp phá nữa trong vùng, kiếm được 200 điếu thuốc lá ở chỗ nọ, và thêm hai chai brandy ở chỗ kia. Ông chủ tiệm rượu trong khu phố nói với cậu: “Đây, uống hết đi. Thời khắc khó khăn sắp tới rồi.”

      Ngay cả những người đi cướp dần dần cũng kiếm không ra thịt nữa. Thoạt đầu, một số ít hàng thịt vẫn còn nguồn cung để phát cho các khách hàng đặc biệt, nhưng rồi cũng nhanh chóng cạn kiệt. Giờ khắp Berlin người ta bắt đầu xẻ thịt ngựa, từ những con nằm chết ngoài đường do trúng đạn. Charlotte Richter và em gái thấy người ta xách dao đi xẻ thịt một con ngựa xám đốm trắng bị giết ở quảng trường Breitenbachplatz. Charlotte thấy, “Con ngựa chưa ngã xuống hẳn, mà kiểu như đang quỳ trên hai chân sau, đầu vẫn ngẩng cao, mắt mở trừng trừng. Mấy người phụ nữ đang dùng dao xẻ thịt trên chân nó.”

       Ruby Borgmann thích đánh răng với rượu sâm banh; như thế tạo ra rất nhiều bọt. Trong căn hầm xa hoa nằm bên dưới nhà hàng Gruban-Souchay thời thượng của Heinrich Schelle, cuộc sống của Ruby và chồng cô, Eberhard thực hết sức kỳ lạ. Schelle đã giữ đúng lời hứa; khi đợt pháo kích bắt đầu, anh mời vợ chồng Borgmann vào ở trong căn hầm lộng lẫy của mình. Những món đồ sứ, pha lê và bạc đẹp đẽ của nhà hàng được cất tại đó, và Schelle còn có nhiều tiện nghi sinh hoạt khác nữa. Sàn nhà được trải thảm phương Đông. Chỗ ngủ nằm hai bên lối vào được căng màn vải màu xám xanh khá dày.

       Quanh phòng đặt mấy chiếc ghế bành căng phồng, một chiếc sofa và vài cái bàn nhỏ xa hoa – mỗi cái đều phủ khăn trải bàn bằng vải lanh màu be và nâu đỏ lấy từ trên nhà hàng xuống. Mấy ngày nay không có nước nhưng rượu sâm banh thì đầy ắp. Ruby nhớ lại, “Bọn tôi uống sâm banh cả sáng, trưa, chiều, tối. Nó trôi cũng như nước ấy, mà nước thì không có.”

      Thực phẩm thực sự là cả một vấn đề. Pia van Hoeven, bạn thân của vợ chồng Borgmann lâu lâu lại tới đây ở với bọn họ, và thỉnh thoảng lại kiếm được ít bánh mì, thậm chí có cả thịt làm quà. Tuy nhiên, bọn họ sống chủ yếu nhờ cá ngừ và khoai tây. Ruby tự hỏi không biết có bao nhiêu cách chế biến mấy nguyên liệu này. Mopti, bếp trưởng người Pháp của nhà hàng, vốn tính khí thất thường, đã nhắc đi nhắc lại là ông không thể nấu mấy món này mãi được. Nhưng có vẻ chẳng có chút hi vọng gì là quân Mỹ sẽ tới, cả bọn quyết định cứ sống xả láng. Dù gì thì, họ có thể chất bất cứ lúc nào.

       Suốt 4 năm bị bom oanh tạc, và trong đợt pháo kích mấy ngày qua, người cựu chiến binh Thế chiến thứ nhất 78 tuổi vẫn không nghe lời dọa dẫm. Thực sự thì, bà Erna Saenger đã hết sức thuyết phục ông chồng Konrad đừng đi ra ngoài gặp mấy người chiến hữu hồi Thế chiến thứ nhất như thường lệ nữa. Bà đã bảo Papa đào một cái hố lớn sau vườn để giấu ít của nả. Ông Konrad cũng nghĩ đó là một ý hay, ông có thể giấu mấy thanh kiếm quân đội cũ của mình cùng ít mứt và thạch trái cây, để quân Nga không tìm được vũ khí trong nhà.

       Nhưng khi công việc xong xuôi, Papa lại ra ngoài, mặc cho cả nhà năn nỉ. Bọn họ phát hiện ra thi thể bị trúng đạn lỗ chỗ của ông nằm trong mấy bụi cây bên ngoài căn nhà đang cháy bừng bừng của Linh mục Martin Niemöller, cách nhà họ có một quãng ngắn. Trong lúc pháo dội như mưa, cả nhà đưa xác ông về nhà bằng một chiếc xe cút kít. Bà Erna đi cạnh chiếc xe, nhớ lại cuộc nói chuyện cuối cùng của hai người, lúc đó bà có chút bất đồng ý kiến với ông Konrad về việc câu trích dẫn nào trong Kinh Thánh phù hợp với lúc này hơn. Papa khăng khăng là “người ta chỉ cần bài Thánh thi thứ 90, nhất là đoạn thứ tư: ‘Vì một ngàn năm trước mắt Chúa khác nào ngày hôm qua đã qua rồi, giống như một canh của đêm.’” Bà Erna không đồng ý. Bà nói với ông, “Tôi thấy bài đó bi quan quá. Tôi thích bài thứ 46 hơn: Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.’”

      Không tìm nổi một cái quan tài nào, và đi tới nghĩa trang thì quá sức nguy hiểm. Nhưng họ cũng không thể để cái xác trong nhà, trong này ấm quá. Họ để nó ngoài hiên. Bà Erna tìm được hai thanh gỗ nhỏ và đóng thành một cây thánh giá. Bà nhẹ nhàng đặt nó vào tay chồng. Bà nhìn ông và ước gì mình đã nói là ông đúng, vì đoạn kế trong bài Thánh thi thứ 90 viết rằng: ‘Thật, chúng tôi bị hao mòn vì cơn giận của Chúa, Bị bối rối bởi sự thịnh nộ của Chúa.’”

        Cha Bernhard Happich nhìn bài thuyết giáo của mình. Ánh nến lập lòe mờ ảo trong nhà nguyện Haus Dahlem, nhưng bên ngoài, vùng trời phía đông Wilmersdorf đỏ rực như màu máu, tiếng pháo nổ làm các xơ giật mình tỉnh giấc từ lúc 3 giờ sáng, và cứ thế kéo dài suốt gần 12 tiếng đồng hồ sau. Có tiếng kính vỡ đâu đó, rồi cả tòa nhà rung chuyển dữ dội. Cha Happich nghe thấy tiếng la hét ngoài đường vọng vào và tiếng uỳnh uỳnh nặng nề của những khẩu pháo phòng không Czech ngay bên kia đường.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #112 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2017, 10:09:06 am »

   
      Mấy xơ ngồi trước mặt ông không động mảy may. Ông nhìn họ và thấy bọn họ đã tháo sợi dây chuyền thánh giá bằng bạc nặng trịch vẫn thường đeo xuống, theo lệnh Mẹ bề trên Cunegundes. Thay vào đó, họ đeo chiếc thánh giá kim loại kín đáo hơn – được gọi là Chữ Thập Chết – được gắn trên áo. Mấy chiếc thánh giá bằng bạc, cùng với nhẫn và đồng hồ đã được đem giấu kín.

      Cha Happich cũng có chuẩn bị của riêng mình. Trong căn biệt thự Dahlem ông đang ở, ông đã đóng gói sẵn một thùng to. Trong đó, cha Happich bỏ ít dụng cụ y tế, thuốc men, bông băng và vải trắng do hàng xóm đóng góp. Trước khi thành tu sĩ, cha Happich từng có bằng đại học y, và giờ ông lại làm một lúc hai nghề; hàng ngày ông chăm sóc người bị thương vì đạn pháo, cứu chữa nạn nhân trong các vụ tai nạn xảy ra và trị các chứng rối loạn tâm lý và sốc. Ông bắt đầu mặc áo khoác y tế màu trắng nhiều ngang ngửa áo chùng lễ.

      Ông lại nhìn mấy bà xơ, y tá và các phụ nữ làm công quả lần nữa, thầm cầu nguyện rằng Chúa sẽ giúp mình tìm được từ ngữ đúng đắn, rồi ông bắt đầu.

      Ông nói, “Quân Liên Xô sắp chiếm đóng nơi này. Đã có nhiều lời đồn khủng khiếp về quân Nga lan truyền khắp nơi. Có một số điều là thật. Nhưng có một cái không được phổ biến.

      “Nếu có ai ở đây gặp phải chuyện gì tồi tệ, hãy nhớ tới chuyện kể về Thánh Agnes bé nhỏ. Khi được lệnh thờ phụng những vị thần giả mạo, Người mới 12 tuổi. Người đưa tay cho Chúa Jesus và làm dấu thánh giá, rồi Người bị lột quần áo và bị tra tấn trước đám đông ngoại đạo. Thế cũng không làm Người khuất phục, dù cả đám người ngoại đạo đều xúc động rơi lệ. Người bị phô bày trước đám đông, nhưng lại được một số người ca tụng, thậm chí còn cầu hôn. Nhưng Người trả lời rằng, ‘Chúa chính là hôn phu của tôi.’ Vậy là án tử hình được thông qua. Người đứng cầu nguyện trong chốc lát rồi bị chém đầu, và các thiên thần liền đưa Người đến Thiên đàng.”


       Cha Happich ngừng lại. Ông nói, “Các con hãy nhớ lấy. Như Thánh Agnes đó, nếu thể xác ta bị đụng chạm ngoài ý muốn, thì phần thưởng vĩnh cửu trên Thiên đàng của ta sẽ được nhân đôi, vì ta sẽ được mang vương miện của người tử vì đạo. Do đó, đừng cảm thấy tội lỗi.” Ông ngừng lại và nhấn mạnh: “Các con không có tội.”

        Khi ông bước xuống lối đi, giáo đoàn cất giọng hát bài thánh ca đưa tiễn. “Cầu xin Chúa luôn bên con… Không có ân huệ của Chúa, làm sao con chống lại được cám dỗ?” Đây là lời một bài thánh ca cổ, “Abide with Me.”

        Trên bảng điều khiển trung tâm tại tổng đài điện thoại đường dài trên đường Winterfeldtstrasse, quận Schöneberg, từng ngọn đèn tắt phụt khi các vùng ở xa bị mất liên lạc do quân Nga tấn công. Nhưng trong tổng đài, mọi người vẫn bận rộn như thường. Thay vì xuống hầm trú ẩn, giám sát viên Elisabeth Milbrand và tổng đài viên Charlotte Burmester lại đem mấy cái ghế nằm thư giãn có nệm và gối tựa vào văn phòng; cả hai định để trên tầng năm càng lâu càng tốt, ở chỗ tổng đài chính.

      Loa đột nhiên kêu om sòm. Trong bệnh viện dã chiến, tổng đài viên Helena Schroeder quá sức vui mừng khi nghe tin. Trên tầng năm, Milbrand và Burmester đang viết lại tin này, để có thể gọi báo tin cho các vùng vẫn còn kết nối với tổng đài. Người thông báo đọc, “Chú ý! Chú ý! Đừng sốt ruột. Quân của tướng Wenck đã hợp lại với quân Mỹ. Bọn họ sắp đánh vào Berlin. Hãy can đảm lên! Berlin vẫn chưa mất đâu!”



                               *************



        Bọn họ đã phá được phòng tuyến phía ngoài của thành phố và bắt đầu khoét vào phòng tuyến thứ hai. Bọn họ nấp sau những chiếc tăng T-34, súng tự động và càn quét các con đường, đại lộ và công viên. Dẫn đầu là các đội đột kích thiện chiến của Koniev và Zhukov, và những người lính đội mũ da thuộc bốn tập đoàn quân tăng hùng mạnh. Đằng sau họ là hàng hàng lớp lớp bộ binh. Đấy là một đội quân kỳ lạ. Bọn họ đến từ đủ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô, trừ các trung đoàn Vệ binh, còn lại thì từ ngoại hình đến quân phục đều khác nhau. Bọn họ nói nhiều thứ tiếng, cũng như tiếng địa phương khác nhau, đến mức các sĩ quan thường không thể nào giao tiếp được với các đội quân của chính mình (*). Trong số này có người Nga và Belorussia, người Ukraine và Karelia, Georgia và Kazakh, Armenia và Azerbaijan, Bashkir, Mordvin,  Tartar, Irkutsk, Uzbek, Mông Cổ và Cossack. Một số người mặc quân phục màu nâu sậm, số khác thì mặc quân phục kaki hoặc màu xám xanh. Số còn lại mặc quần màu tối với áo choàng cổ cao; áo có đủ màu, từ đen tới be. Mũ đội đầu của họ cũng đa dạng không kém – từ mũ trùm đầu bằng da có miếng che tai lắc lư, mũ lông, cho tới mũ lưỡi trai kaki bạc màu vì mồ hôi và rách tả tơi. Toàn bộ đều mang vũ khí tự động. Bọn họ cưỡi ngựa, đi bộ, chạy xe máy, ngồi xe ngựa kéo hoặc trong những chiếc xe đủ loại chiếm được, và cùng tiến về Berlin.

…………………………
    (*): Năm 1944, tại Normandy, tác giả đã có mặt khi bắt được hai người lính mặc quân phục Đức, và bọn họ đã khiến các điều tra viên tình báo của Tập đoàn quân 1 Hoa Kỳ gặp phải một vấn đề kỳ quặc: không ai hiểu được bọn họ nói gì. Cả hai được đưa về Anh, tại đây mới phát hiện ra bọn họ là dân chăn cừu ở Tây Tạng, bị ép vào Hồng quân, rồi bị bắt tại mặt trận phía đồng và lại bị ép vào quân đội Đức.


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #113 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2017, 01:32:23 pm »

   
      Trong tổng đài điện thoại ở quận Schöneberg, giọng nói trong loa ra lệnh: “Mọi người chú ý. Tháo hết huy hiệu đảng, sách đảng và đồng phục của các bạn ra. Quăng mấy thứ đó vào đống cát lớn ngoài sân hoặc đem tới phòng máy để đốt.”

      Người đưa sữa Richard Poganowska dừng xe và há hốc mồm thấy năm chiếc xe tăng Nga có bộ binh vây quanh đang ầm ầm lăn bánh trên đường. Poganowska quay xe lại, chạy về xưởng làm bơ Domäne Dahlem.

      Tới nơi, ông cùng cả nhà vội vã xuống hầm.

       Họ chờ một hồi. Rồi bỗng cửa hầm bị đá tung ra, và mấy người lính Hồng quân bước vào. Bọn họ yên lặng nhìn chung quanh. Rồi họ đi mất. Một lát sau tốp lính quay lại, và Poganowska cùng các công nhân khác trong xưởng làm bơ được lệnh tới nhà điều hành.

       Trong lúc đứng chờ, ông để ý thấy ngựa đã biến mất sạch nhưng bò thì vẫn còn. Một sĩ quan Liên Xô nói tiếng Đức trôi chảy ra lệnh cho bọn họ quay lại làm việc. Ông ta nói bọn họ sẽ phải chăm gia súc và vắt sữa bò. Poganowska không thể tin nổi. Ông cứ nghĩ mọi chuyện sẽ tệ hơn nhiều.

      Ở các quận ngoại ô khác cũng thế, người ta thấy các đội quân Nga đầu tiên đã tới. Những đơn vị đi đầu của quân Liên Xô nghiêm khắc nhưng hành xử rất chuẩn mực, không giống như người dân Đức sợ hãi tưởng tượng.

       Bảy giờ tối, Pia van Hoeven đang ngồi gọt khoai tây tại lối vào hầm trong căn hộ của mình ở Schöneberg. Gần đó, mấy người phụ nữ trong nhà đang tán gẫu, quay lưng lại cửa hầm đang để mở. Chợt Pia ngước nhìn lên và há hốc mồm nhìn hai người lính Nga chĩa họng súng tiểu liên về phía họ. Cô kể, “Tôi im lặng giơ hai tay lên, một tay cầm dao, tay kia cầm khoai tây.” Mấy người phụ nữ nhìn cô rồi quay lại, và cũng giơ tay lên luôn. Trước sự ngạc nhiên của Pia, một người lính hỏi bằng tiếng Đức, “Có lính không? Quân Volkssturm? Có súng không?” Mấy người phụ nữ lắc đầu. Hai người lính hài lòng nói, “Người Đức tốt.” Bọn họ bước vào, lấy đồng hồ của mấy người phụ nữ rồi đi mất.

       Đêm xuống, Pia thấy quân Nga càng lúc càng đông. Cô kể, “Bọn họ là chiến sĩ, và nhiều người nói được tiếng Đức. Nhưng có vẻ như bọn họ chỉ muốn đi tiếp và giành chiến thắng trận này.” Pia và mấy người phụ nữ thấy lời Goebbels nói về bọn Hồng quân tham lam toàn là láo toét. Pia nói với các bạn, “Nếu người lính Nga nào cũng cư xử thế này, thì ta chẳng có gì phải lo cả.”

      Marianne Bombach cũng thấy vậy. Một sáng nọ, cô bước ra khỏi căn hầm ở Wilmersdorf của mình và thấy một căn bếp dã chiến của Nga dựng ngay ngoài cửa sau nhà cô. Đơn vị này cắm trại ở công viên Schwarze Grund, bọn họ đang chia kẹo và đồ ăn cho mấy đứa trẻ trong vùng. Cung cách của họ làm Marianne đặc biệt ấn tượng. Bọn họ lật úp mấy cái thùng rác vuông lại và dùng làm bàn. Mỗi cái được phủ một tấm khăn lót, cõ lẽ lấy từ mấy ngôi làng gần đó. Rồi bọn họ quây quần chính giữa khu bếp, ngồi ăn trên mấy cái ghế dựa lưng thẳng đặt quanh thùng rác. Dù thân thiện với trẻ con, nhưng quân Nga lại làm lơ dân thường. Bọn họ ở lại chừng vài tiếng đồng hồ rồi đi tiếp.

        Dora Janssen và người vợ góa của cậu lính cần vụ của chồng cô hết sức kinh hoàng. Sau vụ nổ làm anh cần vụ mất mạng, còn Thiếu tá Janssen thì bị thương nặng, Dora đã mời cô vợ góa tới ở với mình. Hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, thần kinh mong manh vì đau thương và sợ hãi, cứ thế ở trong hầm của nhà Janssen, cho tới khi Dora thấy “một cái bóng cao lớn hiện ra trên tường.” Trong tay cái bóng cầm một khẩu súng. Dora thấy cái bóng đó “giống như một con tinh tinh cầm khẩu pháo trong tay, còn đầu người lính đó lại to và méo mó đến lạ kỳ.” Cô thấy nghẹt thở. Người lính Nga đến gần hơn, theo sau còn một người nữa, và ra lệnh cho hai người họ ra khỏi hầm. Dora nghĩ, “Sắp tới rồi đây.” Hai người phụ nữ bị dẫn ra ngoài, rồi mấy người lính Nga đưa chổi cho họ, chỉ vào đống gạch vụn và kính vỡ ngập ngụa lối đi. Cả hai ngây ra. Vẻ ngạc nhiên và nhẹ nhõm của họ rõ rệt tới mức đám người Nga phá ra cười.

       Cuộc chạm trán với những đội quân Nga mới tới từ tiền tuyến của những người khác lại đau khổ hơn nhiều. Elisabeth Eberhard suýt nữa thì bị bắn. Cô là một nhân viên hoạt động xã hội do Giám mục đạo Tin Lành Konrad von Preysing thuê, và cô đã che giấu mấy người Do Thái suốt mấy năm nay. Lúc cô tới thăm bạn thì gặp hai người lính Nga – một sĩ quan trẻ tuổi tóc vàng, có một nữ phiên dịch đi cùng. Cả hai đều vũ trang tận răng, bọn họ bước vào nhà, người phụ nữ mang theo một khẩu tiểu liên. Điện thoại reng ngay lúc đó. Khi người bạn của Elisabeth nhấc máy, viên sĩ quan tao nhã giật lấy ống nghe. Người phiên dịch nói với bọn họ, “Hai người là đồ phản bội, dám liên lạc với kẻ thù.” Cả hai bị lôi ra khỏi nhà, ra ngoài vườn và bắt đứng dựa lưng vào tường. Viên sĩ quan bảo chuẩn bị bắn bọn họ. Elisabeth quỳ xuống và thét lên, “Chúng tôi vẫn luôn đợi các anh! Chúng tôi vẫn luôn chống Hitler! Chồng tôi đã bị giam 12 năm nay vì chống đối chính trị!”

       Người nữ Hồng quân phiên dịch lại. Viên sĩ quan chầm chậm hạ súng xuống. Ông ta có vẻ khá bối rối. Rồi ông ta đi tới chỗ Elisabeth, cầm tay cô và hôn lên đó. Elisabeth thấy bình tĩnh trở lại. Cố dùng giọng tự nhiên nhất có thể, cô lịch sự mời, “Hai người muốn uống một ly không?”

       Sự trật tự và kỷ luật của những đội quân đầu tiên đã làm hầu hết mọi người ngạc nhiên. Dược sĩ Hans Miede thấy lính Liên Xô “có vẻ cố tránh không bắn vào nhà dân, trừ khi bọn họ chắc chắn có quân Đức kháng cự trốn trong đó.” Helena Boese vẫn luôn sống trong nỗi kinh hoàng trước viễn cảnh quân Nga sắp đến, đã mặt đối mặt với một người lính Hồng quân ngay cửa hầm nhà cô. Anh ta “còn trẻ, đẹp trai và mặc bộ quân phục sạch sẽ không tỳ vết.”

      Anh ta chỉ đứng đó nhìn cô bước ra khỏi hầm, rồi để biểu lộ thiện chí, anh ta đưa cô một cây gậy buộc khăn trắng làm dấu hiệu đầu hàng. Cũng trong quận Wilmersdorf, Ilse Antz vốn luôn tin là người dân Berlin sẽ bị “quân Nga nhai rau ráu như bò nhai cỏ,” cô đang ngủ trong hầm thì một người lính Nga bước vào. Cô tỉnh giấc và trâng trối nhìn anh ta kinh hãi, nhưng người lính trẻ tuổi có mái tóc đen đó chỉ cười với cô và nói bằng tiếng Đức không lưu loát lắm: “Sao phải sợ? Mọi chuyển ổn rồi. Ngủ tiếp đi.”

          Có một nhóm người Berlin không hề sợ hãi việc quân Liên Xô tới. Người Do Thái đã quen với sợ hãi từ lâu. Leo Sternfeld, một cựu doanh nhân ở Tempelhof, bị Gestapo bắt đi làm người gom rác vẫn luôn sốt ruột ngóng chờ quân Nga tiến lên từng dặm. Là một người Do Thái lai, suốt cuộc chiến này ông vẫn luôn sống trong hồi hộp và đau khổ, cứ thấp thỏm không biết mình và gia đình sẽ bị đưa tới trại tập trung khi nào.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #114 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2017, 01:36:45 pm »


       Trong phần lớn cuộc chiến, chính cái tên ông đã làm cho Sternfeld và cả nhà không được chào đón tại các hầm trú ẩn. Nhưng khi đợt pháo kích bắt đầu, Leo thấy mấy người hàng xóm của mình đã thay đổi hẳn. Ông kể, “Cư dân trong tòa nhà gần như lôi bọn tôi vào hầm.”

       Sternfeld hết sức vui mừng khi gặp được toán quân Nga đầu tiên trong quận Tempelhof. Bọn họ rất trật tự và hiền hòa, và đối với Leo, bọn họ chính là quân giải phóng. Viên tư lệnh tiểu đoàn hỏi liệu bọn họ có thể mượn một căn phòng trong nhà Leo để tổ chức tiệc ăn mừng được không. Leo nói với ông ta, “Các anh có thể lấy bất cứ thứ gì tôi có.” Mấy ngày trước, nửa căn nhà đã tiêu tùng khi bưu điện gần nhà phát nổ, nhưng cũng còn lại ba phòng. Leo cam đoan với mấy người Nga, “Các anh cứ lấy phòng có trần nhà ấy.” Đổi lại, ông và gia đình, cùng với mấy người bạn nữa được mời tới bữa tiệc. Quân Nga đến, mang theo hàng giỏ đồ ăn thức uống. Leo nói, “Có lúc tôi có cảm giác như thể toàn bộ quân đội Nga đều đến dự tiệc.” Lính Nga uống cả đống vodka. Rồi viên tư lệnh tiểu đoàn, vốn là một giọng ca opera vàng, bắt đầu cất tiếng hát, có một người đệm đàn accordion. Leo ngồi nghe mê mẩn. Nhiều năm nay, lần đầu ông thấy thoải mái.

      Joachim Lipschitz ra khỏi nơi ẩn náu trong căn hầm của gia đình Krüger ở Karlshorst, đi gặp một toán Hồng quân. Anh cố giải thích bằng tiếng Nga ngắc ngứ, anh đã tự học trong mấy tháng trốn dưới hầm, rằng mình là ai và bày tỏ lòng biết ơn với quân giải phóng. Trước sự ngạc nhiên của anh, toán quân Nga cười rú lên. Bọn họ vỗ mạnh lưng anh và nói họ cũng rất vui, nhưng lại nói thêm rằng anh nói tiếng Nga tệ quá, và cười run cả người lần nữa. Joachim chẳng bận tâm. Với anh và Eleanore Krüger, sự chờ đợi mỏi mòn đã kết thúc. Hai người họ sẽ là cặp đôi đầu tiên kết hôn khi trận chiến chấm dứt. Theo lời Eleanore, tờ giấy đăng ký kết hôn của họ sẽ đại diện cho “chiến thắng của riêng chúng tôi trước đảng Nazi. Chúng tôi đã thắng, và không gì có thể làm tổn thương chúng tôi được nữa.” (*)

        Khắp nơi, tại các vùng bị chiếm, người Do Thái ùa ra khỏi nơi ẩn náu. Tuy vậy, một số vẫn còn sợ hãi nên cứ tiếp tục ở lì trong chỗ trốn, dẫu mối họa Nazi đã qua từ lâu. Hans Rosenthal, 21 tuổi, trú tại quận Lichtenberg, cứ ở mãi trong căn phòng ngủ không đầy 3 mét vuông của mình cho tới tận tháng 5 – tổng cộng anh đã trốn trong suốt 28 tháng. Ở một số vùng, người Do Thái được tự do, nhưng rồi lại phải đối mặt với viễn cảnh chuẩn bị xuống hầm trốn tiếp, vì quân Nga tạm thời bị đẩy lui bởi những cuộc phản công rải rác trên diện rộng nhưng rất dữ dội.

        Hai vợ chồng Weltlinger ở quân Pankow có một trải nghiệm kỳ quặc bậc nhất. Bọn họ được giải phóng khá sớm. Siegmund luôn nhớ tới viên sĩ quan người Nga đã bước vào chỗ ẩn náu của bọn họ trong nhà của gia đình Möhring “giống như hiện thân của đại thiên sứ Michael.” Khi nhìn thấy hai người, anh ta bèn gọi bọn họ bằng tiếng Đức bập bẹ, “Nga không dã man. Chúng tôi tốt với các bạn.” Anh ta từng du học ở Berlin.

       Nhưng tình hình đột ngột căng thẳng. Viên sĩ quan và mấy người lính lục soát cả chung cư và tìm thấy 6 khẩu súng lục ổ quay. Trước mặt mọi người trong tòa nhà, anh ta thông báo là phát hiện thấy mấy khẩu súng này được giấu chung với mấy bộ quân phục cũ. Bọn họ bị đưa ra ngoài và đứng dựa lưng vào tường. Siegmund bước tới trước và nói, “Tôi là người Do Thái.” Viên sĩ quan trẻ tuổi mỉm cười, rồi lắc đầu, làm động tác cắt cổ và nói, “Không có người Do Thái còn sống.” Siegmund lặp đi lặp lại rằng ông là người Do Thái. Ông nhìn những người khác đang đứng thành hàng, lưng dựa tường. Mấy tuần trước, hẳn nhiều người trong số này sẽ giao nộp ông ngay nếu bọn họ biết ông trốn chỗ nào. Nhưng giờ Siegmund lại nói thật dõng dạc: “Bọn họ là người tốt, đã cho chúng tôi trốn trong tòa nhà này. Tôi yêu cầu anh không được làm hại họ. Số vũ khí đó là của quân Volkssturm vứt lại.”

      Lời tuyên bố của ông đã cứu mạng mọi người trong chung cư. Người Đức và người Nga bắt đầu ôm nhau. Siegmund nói, “Chúng tôi ngất ngây vì vui mừng và hạnh phúc.” Viên sĩ quan Liên Xô lập tức đem đồ ăn thức uống tới cho hai vợ chồng Weltlinger và đứng nhìn họ vẻ lo âu, giục họ mau ăn đi. Cả hai vợ chồng đều bị trúng thực, vì không quen với đồ ăn quá giàu dinh dưỡng. Siegmund nói, “Người ta bỗng trở nên tử tế với bọn tôi. Bọn tôi được cho một căn hộ trống, đồ ăn và quần áo, và lần đầu tiên được đứng trong bầu không khí trong lành và thả bộ ngoài đường.”

       Nhưng khi quân Nga bị đẩy lui khỏi vùng do một toán SS tấn công – đám người mà Siegmund vừa cứu hôm qua lại đột ngột tỏ vẻ thù địch như trước. Siegmund nói, “Thật không thể tin nổi.”

       Hôm sau, quân Nga chiếm lại vùng này và bọn họ được giải phóng lần nữa, nhưng là bởi một đội quân khác – và lần này quân Nga không tin Weltlinger là người Do Thái. Mọi người trong chung cư bị tống lên một chiếc xe tải và đưa đi thẩm tra. Khi Weltlinger tạm biệt vợ mình, ông không biết liệu có phải mọi đau thương và trốn tránh bấy lâu sắp có một kết cục vô nghĩa. Bọn họ bị đưa tới vùng ngoại ô đông bắc, và bị thẩm vấn trong một căn hầm, từng người một. Weltlinger bị giải vào trong phòng, bắt ngồi cạnh một ngọn đèn sáng rực. Có mấy sĩ quan ngồi bên một cái bàn dài ẩn trong bóng tối. Weltlinger lại nhấn mạnh rằng ông là người Do Thái và đã lẩn trốn hơn 2 năm nay. Rồi một giọng nữ vang lên: “Vậy hãy chứng minh cho tôi thấy ông là người Do Thái.” “Bằng cách nào?” Cô ta bảo ông đọc lời thề tín ngưỡng của người Do Thái.

       Trong phòng im ắng, Siegmund nhìn những gương mặt ẩn hiện trong bóng tối trước mặt mình. Rồi ông đặt tay phải lên đầu, bằng một giọng xúc động, ông đọc một trong những bài kinh cầu nguyện cổ xưa nhất, Sh’mah Yisroël. Ông chầm chậm ngâm bằng tiếng Do Thái:

      Nghe này, Israel!

      Chúa của chúng ta,

      Là Người được chọn.



       Người phụ nữ đó cất tiếng, “Đi đi. Ông là người Do Thái, và là người tốt.” Cô ta nói mình cũng là người Do Thái. Hôm sau, Siegmund được đoàn tụ với vợ mình. Ông nói, “Không từ ngữ nào diễn tả được cảm xúc của chúng tôi khi gặp lại nhau.” Tay trong tay, họ cùng dạo bước trong ánh nắng rạng rỡ, “tự do và hạnh phúc như trẻ nhỏ.”

……………………
         (*): Sau này, Joachim Lipschitz trở thành một trong những chính trị gia nổi tiếng nhất Tây Đức. Năm 1955, ông là thượng nghị sĩ trong Bộ Nội vụ, chịu trách nhiệm về lực lượng cảnh sát thành phố. Ông luôn là kẻ địch đáng ngại của bộ máy cộng sản Đông Đức, mãi tới khi ông qua đời năm 1961.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #115 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2017, 01:39:22 pm »

     
       Nếu Mẹ bề trên Cunegundes có điều gì sợ hãi, thì nó cũng không được biểu lộ trên gương mặt tròn phúc hậu của bà. Trận chiến đang sôi sục quanh Haus Dahlem. Mỗi lần xe tăng bắn, tòa nhà lại rung chuyển, và ngay cả trong căn hầm đã được tấn bao cát cũng có thể cảm nhận được cơn chấn động. Nhưng Mẹ bề trên Cunegundes không còn để ý tới tiếng súng máy tách tách và tiếng đại bác nữa. Giữa lúc súng nổ không ngừng, bà đang cầu nguyện trong căn phòng ăn nhỏ đã được đổi thành nhà nguyện; trong chốc lát, tiếng ồn ào của trận chiến dường như biến mất. Mẹ bề trên Cunegundes vẫn quỳ gối. Một bà xơ bước vào nhà nguyện và thì thầm với Mẹ bề trên: “Là quân Nga. Bọn họ tới đây rồi.”

       Mẹ bề trên Cunegundes bình tĩnh cầu nguyện cho mình, rồi quỳ lạy, và nhanh chóng đi theo bà xơ ra khỏi nhà nguyện. Quân Liên Xô tới đây từ phía sau, qua ngả vườn. Bọn họ xuất hiện bên cửa sổ nhà bếp, cười toe toét và chĩa súng vào các xơ và các phụ nữ làm công. Mười người lính, dẫn đầu là một trung úy trẻ tuổi đang chờ Mẹ bề trên. Bà bếp Lena, người Ukraine được đưa tới làm phiên dịch. Mẹ bề trên thấy viên sĩ quan “trông có vẻ rất khôn khéo, cử chỉ thì không chê vào đâu được.”

        Anh ta hỏi về Haus Dahlem. Mẹ bề trên Cunegundes giải thích rằng đây chỉ là một nhà hộ sinh kiêm bệnh viện và trại trẻ mồ côi. Lena nói thêm là ở đây chỉ toàn là “bà xơ và em bé.” Viên trung úy có vẻ cũng hiểu. Anh ta hỏi, “Ở đây có lính lác hay vũ khí gì không?” Mẹ bề trên Cunegundes đáp: “Không. Tất nhiên là không. Trong tòa nhà này chẳng có thứ gì như thế cả.” Có mấy người lính bắt đầu đòi đồng hồ và trang sức. Viên trung úy lạnh lùng nói gì đó, và cả đám lùi lại, có vẻ lúng túng.

       Mẹ bề trên nói với viên sĩ quan trẻ tuổi rằng Haus Dahlem cần được đảm bảo nó sẽ được bảo vệ, vì ở đây toàn trẻ em, sản phụ sắp sinh và các xơ. Viên sĩ quan nhún vai: anh ta là chiến sĩ, chỉ quan tâm tới việc quét sạch kẻ thù và tiến lên phía trước.

        Khi quân Nga rời khỏi đó, có mấy người lính dừng lại ngước nhìn tượng Thánh Michael sừng sững, “người hiệp sĩ chiến đấu chống lại quỷ dữ của Chúa.” Bọn họ bước quanh tượng, chạm vào mấy nếp gấp áo chùng của pho tượng và ngước nhìn gương mặt Thánh Michael. Viên trung úy tạm biệt Mẹ bề trên. Có vẻ anh ta có điều gì phiền muộn. Nhất thời, anh nhìn mấy người lính chăm chú, bọn họ đang quan sát bức tượng. Rồi anh nói với Mẹ bề trên Cunegundes: “Đây là những người lính tốt, tuân thủ kỷ luật và có khuôn phép. Nhưng tôi phải nói với bà điều này. Cái bọn đi sau bọn tôi, đám sắp tới đây là một lũ heo.”

       Quân Nga không ngừng tiến như vũ bão. Con người loạn tri ở trong hầm Führer-bunker liên tục ra những mệnh lệnh liều lĩnh, khi mà phần còn lại của Đế chế Đức và của thủ đô bị quân thù chia cắt. Lệnh cứ đưa ra, rồi lại bị lệnh khác thay thế. Rồi lệnh thay thế lại bị hủy và có lệnh mới. Tham mưu trưởng của Weidling, Trung tá von Dufving tổng kết như sau: “Rối rắm dẫn tới hỗn loạn; lệnh dẫn tới mệnh lệnh ngược lại; và cuối cùng thứ gì cũng lộn xộn.”

       Hệ thống chỉ huy của Đức đã sụp đổ. Khi quân Đồng minh phương Tây và quân Nga tiến gần hơn, OKW, vốn phụ trách mặt trận phía tây lại rối tung với OKH điều hành mặt trận phía đông. Tướng Erich Dethleffsen, trợ lý Tham mưu trưởng OKH nhận được một cuộc gọi khẩn từ tư lệnh Dresden khi đoàn xe tăng của Koniev tới gần thành phố, trên đường tiến về phía tây để hợp quân với quân Mỹ. Ông ta được lệnh đưa quân toàn bộ sang bờ đông sông Elbe chảy ngang thành phố. Mười phút sau, OKW lệnh cho vị tư lệnh Dresden đưa quân sang bờ Tây.

       Chỗ nào cũng thế. Liên lạc hầu như không còn tồn tại. Sở chỉ huy của OKW giờ đặt tại Rheinsberg, cách Berlin chừng 50 dặm về phía đông bắc, phải phụ thuộc vào một chiếc ăn-ten truyền tín hiệu độc nhất gắn trên một khí cầu phòng ngự để liên lạc. Tại Berlin, mệnh lệnh nào của Hitler không truyền đi bằng điện thoại được sẽ được phát qua sóng radio thông qua hệ thống liên lạc trong tòa tháp phòng không nhỏ hơn trong số hai tháp ở Sở thú.

      Trong phòng viễn thông rộng thênh thang của Tháp chữ L, Trung úy Không quân Gerda Niedieck ngồi bên chiếc máy in điện báo và máy giải mã, cô nhận thấy lúc này phần lớn bức điện của Hitler chỉ có một chủ đề: điên cuồng hỏi thăm tin tức – thường là về các tập đoàn quân vốn đã không còn tồn tại nữa. Hết lần này đến lần khác, chiếc máy in vô tuyến lách cách in ra những bức điện của ông ta. “Wenck đang ở chỗ nào?” “Steiner đâu?” “Wenck đâu rồi?” Đôi khi cô nàng Gerda 24 tuổi thấy như thế là hơi quá sức chịu đựng. Có mấy lần cô lặng lẽ khóc bên chiếc máy in, khi cô gửi đi những bức điện, những lời đe dọa và mệnh lệnh của Hitler, yêu cầu đất nước đang hấp hối này phải chiến đấu cho tới tận người Đức cuối cùng.

...................... 


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #116 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2017, 01:49:59 pm »

       
     Cuối cùng, sau 6 năm chiến tranh, sở chỉ huy của OKH và OKW – vốn chỉ huy các đội quân từng cách nhau cả ba ngàn dặm – giờ tập họp lại thành một bộ chỉ huy thống nhất. Các quan chức của bộ chỉ huy kết hợp OKH-OKW được Thống chế Wilhelm Keitel chỉ định tức thời. Ông ta nói chắc nịch, “Quân ta không chỉ bừng bừng ý chí chiến đấu, mà còn hết sức thiện chiến.” Ông ta rảo bước trong sở chỉ huy mới, dưới ánh mắt soi mói của tướng Alfred Jodl, Tư lệnh hành quân của OKW, và tướng Erich Dethleffsen, trợ lý Tham mưu trưởng của OKH. Keitel cũng vẽ ra một bức tranh tươi sáng tương tự cho Hitler xem vào ngày 24, ngay trước khi Quốc trưởng ra lệnh cho các sĩ quan cấp cao của mình rời khỏi thủ đô để bọn họ tiếp tục thực hiện các chiến dịch giải cứu Berlin từ bên ngoài thành phố.

       Đó là lần cuối cùng Dethleffsen ghé qua thế giới ngầm của Führerbunker. Khi tới đó, ông thấy mọi thứ rối tinh rối mù cả lên. Lối vào chẳng có lính gác. Ông ngạc nhiên thấy có khoảng hai chục công nhân trú sau cửa hầm: vì có pháo kích nên bọn họ được lệnh “đào một con hào từ bãi đậu xe tới lối vào,” nhưng bọn họ không làm việc được vì pháo nổ liên hồi. Ông xuống cầu thang và thấy trong phòng đợi cũng không có lính gác nào. Không ai kiểm tra cặp táp của ông hay là “kiểm tra xem ông có mang theo vũ khí hay không.” Ông có ấn tượng rằng mọi thứ “đã tan rã hoàn toàn.”

       Trong khu sảnh nhỏ bên ngoài phòng họp của Hitler, “mấy chai rượu rỗng không hoặc còn một nửa nằm lăn lóc.” Ông thấy “nguyên tắc phải giữ bình tĩnh nhằm tránh tình trạng hoảng sợ lan tràn của người quân nhân không còn được để ý tới nữa.” Ai nấy đều lo sợ và cáu gắt – trừ mấy người phụ nữ. “Mấy cô thư kí, các nhân viên nữ… Eva Braun và bà Goebbels cùng với mấy đứa con… đều tỏ vẻ hòa nhã và thân thiện, khiến cánh mày râu phải xấu hổ.”

      Bản báo cáo của Keitel với Hitler khá ngắn gọn. Dethleffsen nhớ lại, “Ông ta dùng toàn từ ngữ màu hồng để báo cáo về tình trạng của Tập đoàn quân 12 của Wenck và về viễn cảnh giải cứu Berlin.” Dethleffsen thấy khó mà đánh giá được là “Keitel có mấy phần tin vào lời lẽ của chính mình: có lẽ sự lạc quan của ông ta chỉ là để tránh cho Quốc trưởng phải bận lòng thêm.”

       Nhưng giờ, trước mặt cách lãnh đạo của OKH-OKW, cách xa tầm mắt Hitler, Keitel vẫn nói bằng giọng điệu đó. Ông ta vừa bước quanh phòng vừa nói: “Những thất bại của chúng ta chỉ là do các bậc chỉ huy cao cấp và trung cấp thiếu lòng can đảm và ý chí chiến đấu mà thôi.” Cứ như là Hitler đang nói ấy. Dethleffsen nghĩ, Keitel quả là “thầy nào trò nấy.” Và từ bản báo cáo tươi sáng của ông ta rằng Berlin sẽ được giải phóng thế nào, “rõ ràng ông ta chẳng biết mảy may về hoàn cảnh tuyệt vọng của quân lính.” Keitel cứ nói mọi thứ sẽ ổn thỏa hết; vòng vây của quân Nga quanh Berlin đang khép chặt sẽ bị phá vỡ; Quốc trưởng sẽ được cứu…

       Ở Bavaria, Thống tướng Hermann Goering gặp phải một chuyện hết sức phi lý: ông ta bị cảnh vệ SS bắt giữ tại nhà. Tham mưu trưởng của ông, tướng Koller đã bay tới Bavaria gặp Goering sau buổi họp đau buồn của Hitler vào ngày 22/4. Nhận được báo cáo của Koller rằng “Hitler đã gục ngã” và Quốc trưởng đã nói “Chuyện đàm phán thì thống tướng làm tốt hơn tôi,” Goering liền bắt tay vào hành động. Ông gửi cho Quốc trưởng một bức điện với từ ngữ được chọn lựa kỹ càng. Ông viết, “Thưa Quốc trưởng, trước quyết định ở lại pháo đài Berlin của ngài, và theo sắc lệnh ngày 29/6/1941 của ngài, ngài có đồng ý để tôi toàn quyền lãnh đạo nước Đức và được tự do hành động cả trong nước lẫn quốc tế ngay bây giờ, với tư cách là cấp phó của ngài hay không? Nếu đến 10 giờ tối nay mà tôi vẫn không nhận được hồi âm thì tôi sẽ cho là ngài không còn được tự do hành động, và tôi sẽ hành động vì lợi ích của nhân dân và đất nước…”

      Goering nhanh chóng nhận được hồi âm – mà rõ rành rành là do kỳ phùng địch thủ của ông ta, Martin Bormann gợi ý, một con người đầy tham vọng. Hitler làm một tràng buộc tội ông ta là đồ phản bội và tuyên bố ông ta sẽ bị xử bắn, trừ khi chịu từ chức ngay lập tức. Tối 25/5, đài phát thanh Berlin trang trọng thông báo, “bệnh tim của Thống tướng Goering đã vào giai đoạn nguy kịch. Do vậy, ông đã đề nghị được từ bỏ quyền chỉ huy Không lực và mọi trách nhiệm liên quan… Quốc trưởng đã chấp thuận đề nghị này…”

       Goering nói với bà vợ Emmy rằng ông thấy chuyện này thật lố bịch; dù gì thì cuối cùng ông cũng sẽ thực hiện việc đàm phán thôi. Sau này, bà Emmy kể cho Nam tước phu nhân von Schirach là Goering đang tự hỏi “nên mặc bộ đồng phục nào khi đi gặp Eisenhower lần đầu.”


.......................... 

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #117 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 08:02:39 am »


       Trong khi Berlin đang bốc cháy và đế chế Đức dần lụi tàn, người mà Hitler không bao giờ nghi ngờ sẽ phản bội đã vượt mặt Goering về quyền lực trong tay.

       Ở Washington, chiều ngày 25/4, Đại tướng John Edwin Hull, Quyền Tham mưu trưởng Chiến dịch của Quân đội Hoa Kỳ được Tham mưu trưởng, Thống tướng George C. Marshall gọi vào văn phòng ông trong Lầu Năm Góc. Marshall nói với ông là Tổng thống Truman đang trên đường từ Nhà Trắng tới Lầu Năm Góc để hội đàm với Winston Churchill qua điện thoại chống nghe lén. Bá tước Folke Bernadotte, hội trưởng Hội Chữ thập Đỏ Thụy Điển vừa nhận được một đề nghị đàm phán từ phía Đức. Vị sứ giả hòa bình này không phải ai khác ngoài người Hitler gọi là Der treue Heinrich (Heinrich trung thành) – Heinrich Himmler.

       Đề nghị bí mật của Himmler đang được truyền đi bằng điện tín mã hóa từ chỗ Đại sứ Hoa Kỳ tại Thụy Điển. Marshall bảo Hull cho phòng liên lạc sẵn sàng và phải tìm hiểu ngay ở chỗ Bộ Ngoại giao xem bức điện đã tới đây chưa. Hull nói, “Tôi đã gọi cho Dean Acheson ở Bộ Ngoại giao, ông ấy nói với tôi là mình không hề hay biết có bức điện nào gửi tới có chứa lời đề nghị của Himmler. Đúng ra, bức điện phải tới chỗ Bộ Ngoại giao rồi, nhưng lại chưa ai đọc qua.”

       Tổng thống Truman tới đó lúc 3:10 theo giờ Mỹ, ông nói chuyện với ngài Thủ tướng trong phòng điện thoại của Lầu Năm Góc. Hull kể, “Khi bắt máy, thậm chí Tổng thống còn không biết lời đề nghị của phe Đức là gì.” Theo Hull, Churchill “mở đầu bằng câu, ‘Anh nghĩ thế nào về bức điện đó?’ Ngài Tổng thống đáp, ‘Nó mới tới tức thì.’”

       Thế là Churchill đọc bức điện ông nhận được từ Đại sứ Vương quốc Anh tại Thụy Điển, Sir Victor Mallet. Ông nói với Truman, Himmler muốn gặp Thống tướng Eisenhower để đầu hàng. Nhà lãnh đạo SS nói Hitler đang ốm nặng, có khi đã chết rồi cũng nên, còn không thì cũng chỉ được vài ngày nữa thôi. Rõ ràng Himmler muốn đầu hàng có điều kiện – nhưng là với quân Đồng minh phương Tây chứ không phải với Nga. Bernadotte đã hỏi Himmler, “Nếu phe Đồng minh phương Tây từ chối đề nghị của anh thì sao?” Himmler đáp: “Thì tôi sẽ nắm quyền chỉ huy mặt trận phía đông và tử trận ở đó.” Hull nghe hai người nói chuyện bằng một chiếc điện thoại khác, và nghe thấy Churchill nói, “Đó, anh thấy sao?”

       Vị Tổng thống mới của Mỹ mới nhậm chức được 13 ngày trả lời không chút chần chừ. Ông nói, “Ta không thể nhận lời. Như thế thật đáng xấu hổ, vì chúng ta đã thỏa thuận với Nga là sẽ không đơn phương chấp thuận đề nghị đầu hàng.”

        Churchill đồng ý ngay. Sau này ông nói, “Tôi nói với ông ấy [Truman] là chúng tôi tin là việc đầu hàng phải là vô điều kiện và phải đầu hàng cả ba bên một lúc.” Khi cả Churchill và Truman nói cho Stalin biết về lời đề nghị của Himmler và bọn họ đã trả lời thế nào, vị Tổng tư lệnh liền cảm ơn cả hai, và đáp lại, ông hứa Hồng quân sẽ “duy trì sức ép lên Berlin trên nền tảng các nguyên tắc chung của chúng ta.”



                              **************



       Trung úy Albert Kotzebue thuộc Sư đoàn 69 Hoa Kỳ ngồi trong xe jeep và thấy đằng xa có một trang trại, anh nghĩ nơi này sao mà yên ắng quá. Anh ra khỏi xe và bước tới đằng trước đội tuần tra gồm 26 người, một mình tới gần căn nhà.

       Cả vùng quê bên sông Elbe này yên lặng đến lạ kỳ. Những ngôi làng có cờ trắng bay phấp phới trên các nóc nhà, nhưng lại chẳng có động tĩnh gì; dân làng đều trốn trong nhà. Kotzebue đã nói chuyện với vài người thị trưởng, và lần nào câu chuyện cũng y như nhau: quân Nga sắp tới rồi, bọn họ chắc chắn sẽ bị giết và phụ nữ sẽ bị cưỡng hiếp.

        Kotzebue thận trọng đi tới trước nhà. Cửa mở he hé. Anh đứng qua một bên và dùng súng trường đẩy cửa ra. Nó mở rộng ra sau và kêu cót két thật to, và Kotzebue trố mắt nhìn. Vợ chồng người nông dân và ba đứa con đang ngồi quanh bàn ăn. Cảnh tượng thật thanh bình và ấm cúng – chỉ trừ một điều, họ đều đã chết rồi. Hẳn họ đã phải sợ hãi lắm mới chọn cách uống thuốc độc như vậy.

        Những người còn lại trong đội đã tới, viên trung úy liền nhảy lên xe jeep. Bọn họ nhanh chóng tiến về phía sông Elbe, và rồi, ngay trước khi tới đó, Albert Kotzebue đã làm nên lịch sử. Tại làng Leckwitz, anh thấy một người đàn ông kỳ quặc, mặc bộ đồng phục rất quái, cưỡi một con ngựa nhỏ. Anh ta lắc lư trên yên ngựa và nhìn Kotzebue. Viên trung úy nhìn lại. Kotzebue và người kỵ sĩ đó đã chiến đấu qua gần nửa địa cầu để tới được đây. Kotzebue nghĩ có lẽ mình đã gặp được người lính Nga đầu tiên.

        Một người biết tiếng Nga bèn hỏi người kỵ sĩ đó. Anh ta nói, đúng vậy, anh ta là người Nga. Kotzebue hỏi, “Đơn vị của anh ta đâu?” Người đó trả lời cụt lủn, “Bên sông Elbe.”

       Cả đội lại lên đường đi tới dòng sông. Người kỵ sĩ đứng nhìn họ khởi hành. Bên dòng sông, Kotzebue và mấy người nữa tìm thấy một chiếc thuyền nhỏ, bọn họ bèn chèo qua bờ bên kia, dùng súng trường làm mái chèo. Khi bước xuống thuyền, Kotzebue thấy xác người phủ kín hàng trăm mét bờ sông – nam phụ lão ấu đều có. Có mấy chiếc xe bò và xe ngựa bị lật úp; hành lý và quần áo rải rác khắp nơi. Không có dấu hiệu gì cho biết cuộc thảm sát này đã diễn ra như thế nào, và vì sao. Một lát sau, mấy người lính Mỹ gặp toán lính Nga đầu tiên. Kotzebue làm động tác chào. Mấy người lính Nga cũng vậy. Không hề có sự niềm nở khi gặp mặt, không có vỗ lưng hay ôm nhau gì cả. Bọn họ chỉ đứng đó nhìn nhau. Lúc đó là 1:30 chiều ngày 25/4. Quân Đồng minh phương Đông và phương Tây đã gặp nhau tại thị trấn Strehla nhỏ bé.

       Lúc 4:40 chiều, tại Torgau nằm bên sông Elbe, cách đó chừng 20 dặm về phía bắc, Trung úy William D. Robinson, cũng thuộc Sư đoàn 69 chạm trán mấy người lính Nga khác. Anh đưa bốn người lính Liên Xô đi cùng mình quay về sở chỉ huy. Cuộc gặp gỡ của anh sẽ đi vào sử sách, đó là cuộc hội quân chính thức. Dù là 1:30 hay 4:40 đi nữa thì đế chế Đức của Hitler đã bị chia đôi bởi Tập đoàn quân số 1 Hoa Kỳ của tướng Hodges và Phương diện quân Ukraine số 1 của Nguyên soái Koniev. Và cùng ngày – không có ai nhớ giờ giấc chính xác – Berlin bị bao vây.


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #118 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 08:06:46 am »

       
      Toàn bộ cánh quân phía bắc của Tập đoàn quân 9 đã tiêu tùng. Tập đoàn quân 9 bị bao vây hoàn toàn và bị máy bay Nga dội bom đêm ngày. Tình hình cung ứng quân nhu rất nghiêm trọng. Không quân đã cố thả đồ từ trên không, nhưng không ổn. Họ không đủ máy bay để thực hiện và cũng không đủ xăng để bay – và mấy thứ đã thả lại hạ cánh sai chỗ. Nhưng bất chấp tất cả, Tập đoàn quân 9 vẫn chiến đấu kiên cường nhằm tới hợp quân với Tập đoàn quân 12 của Wenck.

      Nhưng giờ Heinrici đã biết được sự thật về Wenck: trái ngược hoàn toàn với những gì Krebs đã nói, Tập đoàn quân 12 hầu như chẳng còn lại chút sức mạnh nào. Ông điên tiết gọi điện cho Krebs, cáo buộc ông ta cố tình đưa thông tin sai lệch. Heinrici nổi khùng, “Đó là một tập đoàn quân ma. Nó không thể đủ sức đi tới chỗ Tập đoàn quân 9, rồi hợp quân với bọn họ và tiến về phía bắc để giải cứu Berlin được. Tới lúc hai đội quân gặp nhau thì bọn họ sẽ chẳng còn lại bao nhiêu quân cả – và anh biết rõ điều đó!”.

       Tính ra, Tập đoàn quân Thiết giáp 3 của Von Manteuffel là tất cả những gì còn lại của Cụm Tập đoàn quân Vistula. Von Manteuffel đang kiên cường chống đỡ, nhưng trung tâm phòng tuyến của ông đang phình ra một cách đáng ngại. Tệ hơn nữa là các đội xe tăng của Zhukov vốn đang áp sát mạn phía nam giờ lại đổi sang hướng bắc và bao vây Von Manteuffel. Đội quân duy nhất chắn đường bọn họ là nhóm quân tả tơi của tướng SS Felix Steiner.

       Kế hoạch giải cứu Berlin của Hitler yêu cầu Steiner tấn công về phía nam, cắt ngang qua lộ tuyến của quân Nga từ bên này thành phố, còn Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 12 sẽ cùng tiến lên phía bắc từ phía bên kia. Trên lý thuyết, kế hoạch này cũng khả thi. Nhưng thực tế thì nó không hề có cơ hội thành công. Steiner chính là một trong những điểm hạn chế. Heinrici nói, “Ông ra cứ tìm đủ cớ để khỏi phải tấn công. Tôi có cảm giác là có gì đó không ổn.”

      Vị tư lệnh của Vistula biết Steiner không đủ quân để tới được Spandau như Hitler ra lệnh, nhưng Heinrici cũng muốn ông ta tấn công. Ít ra thì Steiner cũng đủ sức làm mũi tấn công của Zhukov yếu đi một chút. Nếu ông ta làm được thì sẽ có thể ngăn quân Nga bao vây quân của Von Manteuffel.

       Như thế Heinrici sẽ có thêm thời gian cần thiết để từng bước cho Von Manteuffel rút quân về sông Elbe. Giờ chỉ có thể cố gắng cứu quân mình chứ chẳng thể làm gì được nữa; đế chế Đức không thể tránh khỏi sụp đổ trong vài ngày tới.

       Heinrici có một tấm bản đồ, ông đã vẽ 5 đường rút quân từ bắc xuống nam trên đó, chạy từ sông Oder qua miền tây. Tuyến đầu tiên mang tên “Wotan,” tiếp thep là “Uecker”; mấy cái còn lại thì đánh số. Mỗi tuyến cách nhau chừng 15 đến 20 dặm. Von Manteuffel đang ở ngay trên tuyến Wotan. Vấn đề là liệu ông ta có thể cầm cự ở đó được bao lâu.

       Sáng 25/4, Heinrici đến chỗ Von Manteuffel. Bọn họ đi dạo trong khu vườn nhỏ phía sau sở chỉ huy của Von Manteuffel, và vị tư lệnh của Tập đoàn quân Thiết giáp 3 lặng lẽ nói, “Tôi không thể cầm cự được nữa.”  Mặt ông hết sức nghiêm trọng. “Không có xe thiết giáp, cũng chẳng có súng chống tăng, quân lính thì thiếu kinh nghiệm và đã kiệt sức, sao người ta có thể cho là tôi còn cầm cự được nhỉ?”

       “Anh có thể cố được bao lâu nữa?”


        Von Manteuffel lắc đầu.
       “Chắc chỉ thêm được một ngày thôi.”

       Qua màn khói từ những đám cháy và pháo nổ, máy bay lên lên xuống xuống trên thành phố hoang tàn, thả truyền đơn xuống dưới trắng xóa. Ở quận Wilmersdorf, Charlotte Richter nhặt một tờ lên. Trên đó viết: “Hãy kiên nhẫn! Tướng Wenck và tướng Steiner sắp tới cứu Berlin.”

       Cần phải tìm hiểu ngay xem Steiner định làm gì. Heinrici tìm được ông ta ở sở chỉ huy Sư đoàn Đặc nhiệm Thiết giáp 25 ở Nassenheide. Jodl cũng ở đó. Bọn họ đã bàn bạc xong nên để Steiner tấn công thế nào. Giờ cả ba bàn lại lần nữa. Rồi Steiner bắt đầu nói về tình hình đội quân của mình. Ông ta hỏi, “Hai anh đã gặp bọn họ chưa?”

      Jodl nói: “Bọn họ đang trong điều kiện hoàn hảo đó chứ. Tinh thần rất tốt mà.”

      Steiner kinh ngạc nhìn Jodl.

      Heinrici lạnh lùng hỏi, “Steiner, sao anh không chịu tấn công? Sao cứ trì hoãn mãi thế?”

      Steiner nói, “Rất đơn giản. Tôi không có quân. Tôi không có tí cơ hội thành công nào dù là nhỏ nhất.”

      Heinrici kiên nhẫn hỏi, “Vậy anh có cái gì?”

      Steiner giải thích rằng toàn bộ lực lượng của mình có 6 tiểu đoàn, trong đó có một số lấy từ một sư đoàn cảnh sát SS, cộng thêm Sư đoàn Thiết giáp 5 và Sư đoàn Hải quân 3. Steiner nói, “Có thể dẹp bọn hải quân qua một bên. Tôi cá là ở trên thuyền thì bọn họ rất ngon lành, nhưng lại chưa từng được huấn luyện chiến đấu kiểu này. Tôi gần như không có đại bác, cực ít xe thiết giáp và lèo tèo vài khẩu pháo phòng không.” Ông ta ngừng lại. “Tôi nói anh nghe xem tôi có cái gì: một mớ hổ lốn không bao giờ tới được Spandau từ Germendorf.”

       Heinrici lạnh nhạt nói, “Steiner, anh phải tấn công thôi, vì Quốc trưởng của mình.”

Steiner nhìn ông chằm chằm. Ông ta hét, “Đó cũng là Quốc trưởng của ông nữa đấy!”

       Khi ông và Jodl rời đi, Heinrici thấy rõ rành rành là Steiner không hề có ý định tấn công gì cả.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #119 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 08:11:51 am »

      Mấy tiếng sau, điện thoại trong sở chỉ huy Vistula tại Birkenhain đổ chuông. Heinrici nhấc máy.

      Von Manteuffel gọi tới, và nghe giọng rất trầm trọng. “Tôi cần anh cho phép rút quân khỏi Stettin và Schwedt. Tôi không thể cầm cự nổi nữa. Nếu không rút bây giờ thì bọn tôi sẽ bị bao vây.”

      Nhất thời, Heinrici nhớ lại lệnh của Hitler hồi tháng 1 dành cho các tướng lĩnh cấp cao. Cá nhân bọn họ phải “chịu trách nhiệm trước Hitler” và không được phép rút quân hoặc từ bỏ vị trí mà không báo trước cho Hitler để ông ta quyết định. Heinrici nói: “Rút quân. Anh có nghe không? Tôi nói, rút quân. Và nghe này, Manteuffel. Bỏ pháo đài Stettin ngay đi.”

       Ông đứng cạnh bàn làm việc, trong chiếc áo khoác da cừu và chiếc xà cạp từ hồi Thế chiến thứ nhất, nghĩ lại những gì mình đã làm. Ông đã ở trong quân đội được đúng 40 năm và ông biết là giờ dù ông không bị xử bắn đi nữa thì sự nghiệp của ông cũng đã chấm dứt. Rồi ông gọi cho Đại tá Eismann và tham mưu trưởng của mình. Ông nói, “Báo cho OKW biết là tôi đã lệnh cho Tập đoàn quân 3 rút lui.” Ông suy nghĩ một chút rồi nói, “Đến lúc bọn họ nhận được tin này thì không kịp hủy lệnh nữa rồi.”

        Ông nhìn Von Trotha, một kẻ cuồng Hitler, rồi nhìn ông bạn già Eismann, và giải thích rõ chính sách của mình từ nay trở đi: ông sẽ không bao giờ để quân lính bị tiêu diệt không cần thiết nữa; ông thà rút lui sớm còn hơn lãng phí sinh mạng một cách vô ích. Ông hỏi bọn họ, “Ý các anh thế nào?” Eismann liền đề nghị nên ra lệnh “rút quân về sau tuyến Uecker, đóng ở vùng hồ Mecklenburg và đợi bên trên đầu hàng.” Von Trotha nhảy dựng lên. Ông ta lắp bắp, “Anh chỉ cần nghĩ tới chuyện đầu hàng, thậm chí chỉ cần dùng cái từ đó không thôi cũng là làm trái danh dự người lính rồi. Việc này không phải do ta quyết: phải tùy theo lệnh của OKW.”

       Heinrici lạnh lùng nói: “Tôi sẽ không làm theo mấy mệnh lệnh tự sát đó nữa. Trách nhiệm của tôi là thay mặt cho quân lính của mình từ chối các mệnh lệnh đó, và tôi sẽ làm thế. Tôi còn phải chịu trách nhiệm về hành động của mình trước người dân Đức.”

        Rồi ông nói thêm, “Và hơn hết là với Chúa, Trotha à.” “Chúc ngủ ngon.”

        Keitel chỉ cần mất 48 giờ đã hay tin Heinrici ra lệnh cho Von Manteuffel rút lui. Ông ta còn tận mắt thấy cuộc rút quân. Ông ta chạy xe qua khu vực của Tập đoàn quân 3 và kinh ngạc thấy binh lính đang lui quân khắp nơi. Nổi điên lên, ông ta lệnh cho Heinrici và Von Manteuffel tới gặp mình tại một ngã tư gần Fürstenberg.

       Khi tham mưu trưởng của Von Manteuffel là Trung tướng Burkhart Müller-Hillebrand biết chuyện, ông giật mình rồi trầm tư. Tại sao lại là một ngã tư? Tại sao lại ở ngoài trời? Ông vội đi tìm ban tham mưu.

      Ở ngã tư, khi Heinrici và Von Manteuffel ra khỏi xe, bọn họ thấy Keitel cùng đoàn tùy tùng đã tới trước.

       Viên tham mưu trưởng của Hitler là một bức tranh sống động diễn tả một người thịnh nộ lôi đình, mặt ông ta đỏ lựng, cây quyền trượng thống chế gõ lia lịa vào lòng bàn tay đeo găng. Von Manteuffel chào ông ta. Heinrici làm động tác chào. Keitel liền bắt đầu la hét. “Sao hai anh dám ra lệnh rút quân hả? Hai anh phải ở lại mặt trận Oder! Hitler đã lệnh các anh phải trấn thủ nơi đó! Chứ không phải lệnh cho các anh rời đi!” Ông ta chỉ thẳng vào Heinrici. “Chính anh! Anh đã ra lệnh rút quân!”

       Heinrici chẳng nói gì. Von Manteuffel kể, khi cơn giận dữ qua đi, “Heinrici lạnh nhạt giải thích tình hình, lời lẽ cực kỳ hợp lý.” Heinrici nói: “Thưa Thống chế Keitel, tôi phải nói với ngài là tôi không thể giữ được mặt trận Oder với số quân tôi có. Tôi không định hi sinh mạng sống của họ. Còn nữa, chúng ta sẽ phải rút lui xa thêm nữa.”

      Von Manteuffel chen lời. Ông cố giải thích tình hình chiến lược khiến họ buộc phải rút lui. Ông kết luận, “Tôi rất tiếc phải nói với ngài là tướng Heinrici nói đúng. Trừ khi được tăng viện, còn không tôi sẽ phải rút lui ra xa hơn nữa. Tôi đến đây để xem xem mình có được tăng viện hay không.”

       Keitel nổi điên. Ông ta hét, “Làm gì còn quân dự bị nữa! Đây là lệnh của Quốc trưởng!” Ông ta đập cây quyền trượng vào lòng bàn tay đeo găng. “Các anh phải giữ nguyên vị trí!” Ông ta lại đập vào tay tiếp. “Các anh phải cho quân quay lại ngay tại đây!”

        Heinrici nói, “Thống chế Keitel, chừng nào còn chỉ huy, tôi sẽ không ra lệnh cho Von Manteuffel làm thế đâu.”

       Von Manteuffel nói: “Thống chế Keitel, Tập đoàn quân Thiết giáp 3 chỉ nghe lệnh Trung tướng Hasso von Manteuffel.”

       Tới lúc này thì Keitel hoàn toàn mất kiểm soát. Von Manteuffel kể, “Ông ta nổi cơn thịnh nộ dữ dội, tới mức Heinrici và tôi chẳng thể hiểu nổi ông ta nói gì.” Cuối cùng, ông ta hét, “Các anh sẽ phải chịu trách nhiệm về hành động này trước lịch sử!”

        Von Manteuffel chợt nổi khùng. “Dòng họ Von Manteuffel đã phục vụ Đế quốc Phổ hơn 200 năm nay và vẫn luôn chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tôi, Hasso von Manteuffel, rất vui lòng nhận trách nhiệm này.”

       Keitel chĩa mũi dùi sang Heinrici. Ông ta hét: “Anh! Chính anh!”

       Heinrici chỉ vào con đường rút lui của đoàn quân của Von Manteuffel và nói: “Thống chế Keitel, tôi chỉ có thể nói nếu ngài muốn những người lính này quay lại để bị bắn bị giết thì sao ngài không làm đi?”

       Von Manteuffel thấy Keitel “bước về phía Heinrici đầy vẻ đe dọa.” Rồi ông ta xổ một tràng: “Thượng tướng Heinrici, từ lúc này anh bị cách chức tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Vistula. Anh phải quay về sở chỉ huy của mình và đợi người kế nhiệm ở đó.”

       Nói xong Keitel quay ngoắt đi, chui vào trong xe và chạy vèo đi.

      Vào lúc đó, Trung tướng Müller-Hillebrand và ban tham mưu bước ra khỏi khu rừng. Mỗi người mang một khẩu súng tự động. Ông giải thích, “Bọn tôi cứ tưởng sẽ có chút rắc rối.”

       Von Manteuffel nghĩ sém nữa là có không chừng. Ông đề nghị sẽ cho người bảo vệ Heinrici “cho tới cùng,” nhưng Heinrici từ chối. Ông chào các sĩ quan rồi bước vào xe. Sau 40 năm ở trong quân ngũ, trong thời khắc cuối cùng của cuộc chiến, ông lại bị cách chức trong nhục nhã. Ông dựng đứng cổ áo khoác cũ kỹ lên và bảo tài xế trở về sở chỉ huy.


                        ******************
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM