Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:13:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: The Last Battle - Trận chiến cuối cùng  (Đọc 99210 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #100 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2017, 07:57:27 am »

   

      3.


       Âm thanh đó khác hẳn những thứ dân Berlin từng nghe, không giống tiếng bom rơi xé gió, cũng không hề  giống tiếng hỏa lực phòng không nổ đùng đùng. Khách mua đang xếp hàng ngoài tiệm tạp hóa Karstadt ở quảng trường Hermannplatz hoang mang nghe ngóng: tiếng động trầm thấp đó từ xa vọng tới, rồi to dần thành tiếng rít khủng khiếp xé tai. Nhất thời, khách mua hàng như bị mê hoặc. Rồi thình lình hàng người vỡ ra tán loạn. Nhưng đã quá muộn. Những quả đạn pháo đầu tiên bắn vào thành phố nổ ầm ầm trên khắp quảng trường. Những mảnh thi thể đập vào mặt tiền cửa hàng lát ván. Ngoài đường, đàn ông và phụ nữ nằm rên la quằn quại vì đau đớn. Lúc đó là đúng 11:30 trưa thứ 7 ngày 21/4. Berlin đã biến thành tiền tuyến.

      Đạn pháo bắt đầu bắn vào khắp nơi. Những lưỡi lửa lan trên các mái nhà khắp trung tâm thành phố. Các tòa nhà vốn đã bị bom làm suy yếu đổ sụp xuống. Xe hơi nằm chổng ngược và bốc cháy bừng bừng. Cổng Brandenburg bị trúng đạn, một cái gờ đắp nổi bên trên rớt xuống dưới đường. Đạn pháo cày nát từ đầu này tới đầu kia đại lộ Unter den Linden; lâu đài Hoàng gia vốn đã bị hư hại sẵn giờ lại bùng cháy. Tòa nhà Quốc hội cũng vậy, mấy thanh xà nhà chống đỡ cho cái mái vòm đổ sụp, sắt thép rơi xuống như mưa. Trên đường Kurfürstendamn, người ta chạy loạn xạ, làm rơi cặp táp, túi xách tùm lum, chạy từ nhà này qua nhà khác. Ở công viên Tiergarten cuối đường, một chuồng ngựa bị trúng đạn trực tiếp. Tiếng ngựa hí hòa cùng tiếng khóc la của người ta; một giây sau, mấy con ngựa lao ra khỏi biển lửa, chạy tán loạn trên đường Kurfürstendamn, đuôi và bờm cháy phừng phừng.

     Đạn pháo thi nhau trút xuống thành phố một cách có hệ thống đàng hoàng. Phóng viên Max Schnetzer của tờ báo Thụy Sĩ Der Bund, đứng bên cạnh Cổng Brandenburg, ghi lại rằng cứ mỗi 5 giây lại có ít nhất một quả đạn pháo rơi xuống trung tâm khu hành chính của chính phủ ở đường Wilhelmstrasse. Rồi sau đó sẽ ngừng khoảng nửa phút tới một phút, rồi bom đạn lại ập xuống tiếp. Từ chỗ đứng, anh có thể thấy lửa bốc lên cao từ phía nhà ga Friedrichstrasse. Sau này anh viết, “Vì khói và bụi mù làm tán xạ ánh sáng, nên trông cứ như mây đang sà xuống ngay bên trên ngọn lửa vậy.” Những nơi khác trong thành phố cũng bị đạn bắn dày đặc như vậy. Ở quận Wilmersdorf, Ilse Antz cùng mẹ và chị gái thấy cả tòa nhà đang rung chuyển. Hai cô bé nhào xuống sàn nhà. Bà mẹ bám vào khung cửa la hét, “Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi!” . Ở Neukölln, Dora Janssen thấy chồng cô, là một thiếu tá Lục quân bước trên lối đi nhỏ tới chỗ chiếc limousine. Người lính cần vụ mở cửa xe rồi đột nhiên bị một quả đạn pháo “xé tung thành từng mảnh.” Khi bụi tan hết, cô thấy chồng mình vẫn đứng cạnh chiếc xe, đầu ngẩng cao, nhưng gương mặt thì vặn vẹo đi vì đau đớn. Khi Janssen chạy tới chỗ chồng, cô thấy “một ống quần của anh ấy đẫm máu, chảy xuống ủng rồi lan ra vỉa hè.” Một lát sau, vừa nhìn chồng được đưa lên cáng, cô vừa có một cảm giác kỳ quặc xen lẫn nỗi lo cho chồng. Cô không thể không nghĩ, “Sao anh bị thương nặng thế mà vẫn đứng vững được nhỉ. Đúng là một sĩ quan thực thụ!”

      Cách đó không xa, có một sĩ quan khác, anh chưa bao giờ tin quân Nga có thể tới tận đây. Anh ta là Đại úy Gotthard Carl, viên kế toán cuồng tín làm việc cho Không quân, vẫn luôn chào cả nhà bằng điệu chào Hitler, nhưng giờ anh bắt đầu thấy tuyệt vọng. Khi quân Nga tiến đến gần hơn, Carl vẫn ăn diện bảnh bao sáng lóa như xưa; thậm chí còn rõ rệt hơn.

       Dù Gerda vợ anh chẳng bao giờ dám nói, nhưng cô nghĩ Carl trông thật buồn cười trong bộ lễ phục, cộng thêm mấy cái khuy măng-sét bằng vàng, rồi mớ tua rua vô dụng nữa. Mấy ngày này anh vẫn không quên mang chiếc nhẫn có con dấu riêng của anh, trên đó có một chữ thập nạm kim cương.

     Nhưng Gotthard Carl vẫn biết rõ tình hình đang xoay chuyển ra sao. Buổi trưa, từ văn phòng ở Tempelhof quay về nhà, anh giơ tay lên chào “Heil Hitler” như thường lệ rồi bảo vợ, “Đợt pháo kích bắt đầu rồi, em đi xuống hầm rồi cứ ở dưới đó. Anh muốn em ngồi ngay đối diện lối vào hầm.” Gerda ngạc nhiên nhìn anh; đó dường như là chỗ kém an toàn nhất mà. Nhưng Gotthard cứ khăng khăng. “Anh nghe nói ở các thành phố khác, quân Nga dùng súng phun lửa chĩa vào hầm và hầu hết người trong đó đều bị thiêu sống. Anh muốn em ngồi ngay trước cửa hầm để có gì thì em sẽ chết đầu tiên. Em sẽ không phải ngồi chờ tới lượt mình.” Rồi không nói thêm gì nữa, anh siết tay vợ, chào kiểu Nazi và bước ra khỏi căn hộ. Gerda lặng người, rồi làm theo những gì anh vừa nói. Cô ngồi trước những người khác, ngay lối vào hầm trú ẩn, liên tục cầu nguyện trong lúc bom đạn đang dội trên đầu. Lần đầu tiên kể từ khi kết hôn, cô không nhắc tới tên Gotthard trong lời cầu nguyện. Đến chiều, tầm giờ chồng cô thường về tới nhà, Gerda đi lên cầu thang bất chấp lời chồng dặn. Cô chờ một hồi lâu, run rẩy và sợ hãi, nhưng Gotthard không trở về. Cô không bao giờ còn được gặp lại anh.

       Đợt pháo kích bắt đầu ngay sau khi không kích kết thúc. Đợt không kích cuối cùng của phương Tây vào Berlin, đợt thứ 363 trong cuộc chiến, bắt đầu lúc 9:25 sáng, do Không lực 8 của Mỹ thực hiện. Suốt 44 tháng, Anh và Mỹ đã liên tục thả bom xuống “B Lớn,” phi công Mỹ gọi Berlin thế. Người Berlin dứ nắm đấm về phía máy bay ném bom, than khóc vì những cái chết của bạn bè và người thân, vì nhà cửa bị phá hủy. Cơn giận dữ của họ cũng giống những quả bom không trực tiếp nhằm vào ai, mà nhằm vào những kẻ họ sẽ không bao giờ được gặp. Pháo thì lại khác. Kẻ bắn pháo đứng ngay ngoài cửa nhà họ, sắp đối mặt với họ.

      Còn có một điểm khác biệt nữa. Người Berlin đã học cách chung sống với bom và thích nghi với nhịp điệu đều đặn như đồng hồ của các đợt không kích. Đa số người ta có thể nghe tiếng bom xé gió mà đoán được điểm rơi của nó; nhiều người còn quen với các đợt không kích tới mức không buồn đi trú ẩn. Hỏa lực của pháo phần nào nguy hiểm hơn. Đạn pháo tiếp đất thình lình và không đoán trước được. Những mảnh đạn hình lưỡi liềm sắc như dao cạo nổ tung ra mọi phía, thường văng tới mấy mét khỏi điểm nổ ban đầu.

       Nhà báo Hans Wulle-Wahlberg bước quanh quảng tường Potsdamer đang bị đạn pháo cày nát, thấy xác chết và cả những người đang hấp hối nằm la liệt khắp nơi. Anh thấy dường như một số người đã chết vì áp suất của vụ nổ “làm xé toạc phổi của họ.” Đi lắt léo để tránh đạn nổ, anh chợt nghĩ trước kia người Berlin cùng chống lại kẻ thù chung là những chiếc máy bay ném bom, nhưng “giờ họ không có thì giờ đâu mà bận tâm đến người chết hay bị thương nữa. Ai cũng bận rộn lo cứu cái mạng nhỏ của mình.” Đợt pháo kích tàn nhẫn này chẳng có khuôn mẫu gì. Nó cứ bắn lung tung không dứt. Dường như càng ngày nó càng mạnh thêm. Tiếng súng cối và tiếng nghiến ken két của mấy khẩu Katushka phóng tên lửa nhanh chóng nhập hội. Giờ phần lớn thời gian gười ta đều ở trong hầm, trong các chỗ trú không kích, các boong-ke của tháp phòng không và nhà ga xe điện ngầm. Họ chẳng còn cảm giác về thời gian nữa. Ngày trôi qua mơ hồ giữa nỗi sợ hãi, hoang mang và chết chóc bủa vây. Những người Berlin vẫn luôn viết nhật ký tỉ mỉ cho tới ngày 21/4 thì đột nhiên bị lẫn lộn ngày tháng hết cả lên. Nhiều người viết là quân Nga vào trung tâm thành phố vào ngày 21 hoặc 22/4, dù khi đó Hồng quân còn đang chiến đấu ở ngoại ô. Nỗi khiếp sợ quân Nga của họ thường tăng thêm bởi một nhận thức tội lỗi. Ít nhất thì một số người Đức có biết về cách quân Đức đã hành xử trên đất Liên Xô, về những tội ác khủng khiếp và bí mật mà Đệ tam Quốc xã đã làm ở trại tập trung. Khi quân Nga tiến gần hơn, một nỗi sợ hãi như cơn ác mộng phủ khắp Berlin, ko giống với bất kỳ thành phố nào trước giờ, kể từ khi Carthage bị san bằng (*).
……………………
         (*): Carthage là một đô thị cổ, thuộc Tunisia ngày nay, từng phát triển rất huy hoàng, mở ra nền văn minh Punic. Sau nhiều lần đem quân xâm lược các nước thù địch là Syracuse và La Mã, Carthage đã bị quân La Mã san bằng vào năm 146 TCN, sau lại được người La Mã tái thiết thành phố – ND.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #101 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2017, 08:00:11 am »

     
 Elfriede Wassermann và chồng bà, Erich đã trốn trong căn hầm rộng lớn nằm cạnh nhà ga Anhalter. Erich bị mất chân trái ở chiến trường Nga hồi năm 43,và chỉ có thể đi lại bằng nạng. Trước đó, ông đã nhanh chóng nhận ra tiếng pháo nổ, và giục vợ xuống hầm. Elfriede đã gói ghém đồ đạc của hai người vào hái cái vali và hai túi to khác. Bà cho chiếc quần lính cũ của Erich lên trên quần áo của mình, và cho áo len cùng áo lông của mình lên trên cùng. Vì chồng bà phải chống nạng bằng cả hai tay, nên bà chất một túi lên lưng ông, cái còn lại quàng trước ngực. Một trong hai túi chứa đồ ăn: mấy ổ bánh mì vỏ cứng, vài lon thịt và rau đóng hộp. Elfriede bỏ một hũ bơ lớn vào một chiếc vali. Lúc họ tới được nhà ga Anhalter, căn hầm ở đó đã chật cứng. Elfriede cuối cùng cũng tìm được một chỗ cho hai người ở bên cầu thang. Một ngọn đèn sáng yếu ớt treo trên đầu họ. Trong ánh sáng lờ mờ, có thể thấy người ta đứng chật kín từng tấc đất, từng bậc cầu thang của tòa nhà. Tình hình trong hầm thực không thể tin nổi. Tầng trên dành cho người bị thương, tiếng rên la của họ vang vọng cả ngày lẫn đêm. Nhà vệ sinh không dùng được vì không có nước; nên phân vương vãi khắp nơi. Ban đầu mùi hôi thối làm người ta thấy phát ói, nhưng ròi Elfriede và Erich cũng quen dần. Họ cứ ngồi đó thờ ơ, hầu như không nói chuyện, không biết bên ngoài đang xảy ra chuyện gì. Chỉ có một điều len lỏi vào tâm trí họ: tiếng trẻ con la hét liên hồi. Nhiều bậc cha mẹ đã hết sữa và đồ ăn. Elfriede thấy “ba em bé đưa đưa xuống từ tầng trên, và cả ba đều đã chết đói.” Ngồi cạnh Elfriede là một phụ nữ trẻ với đứa con chừng ba tháng tuổi. Ở trong hầm được một thời gian, Elfriede chợt nhận thấy đứa bé không còn nằm trong vòng tay mẹ nữa. Nó đang nằm trên nền xi măng ngay cạnh Elfriede, và đã chết. Người mẹ như đã dại đi. Elfriede cũng vậy; bà nhớ là “tôi thấy đứa bé đó chết nhưng lại chẳng thấy buồn thương gì cả.”

      Trên đường Potsdamerstrasse, văn phòng của Cục Du lịch đang bị bắn phá. Trong căn hầm 44 phòng có hơn hai nghìn người, và bà Margarete Promeist phụ trách căn hầm này bận rộn không ngơi tay. Ngoài dân chúng ra, mới đây còn có hai tiểu đoàn Volkssturm vừa chuyển vào, vì Margarete được bảo là “quân Nga đang đến ngày càng gần.”

      Liên tục bị làm phiền và sắp gục tới nơi, Margarete cực kỳ biết ơn cú điện thoại bà vừa nhận được cách đây không lâu. Một người bạn thân đã tình nguyện tới đây đem cho bà ít đồ ăn. Khi bà quay vào hầm thì có 44 dân thường bị thương được đưa từ ngoài đường xuống đây. Margarete vội vàng đi hỗ trợ những người bị thương.

      Một trong số bọn họ không thể cứu được nữa – bà lặng lẽ ngồi cạnh thi thể người bạn đem đồ ăn đến cho mình, Margarete thấy “ghen tị với nụ cười nhẹ nhàng và bình yên của cô ấy. Ít ra cô ấy sẽ không phải đi trên Con đường khổ nạn (*).”

      Trong khi ai nấy đều chạy xuống hầm trú ẩn trong suốt trận chiến thì dược sĩ Hans Miede lại đang đi tuần, làm giám sát không kích cho hầm trú ẩn công cộng ở số 61 đường Bismarckstrasse, quận Charlottenburg. anh căm ghét đứng nhìn tấm áp phích trên tường tòa nhà đối diện, trong khi đạn đại bác đang nổ ầm ầm xung quanh. Dòng chữ to đùng trên đó viết “GIÂY PHÚT TRƯỚC BÌNH MINH LÀ LÚC TĂM TỐI NHẤT.”

       Với bác sĩ Rudolf Hückel thì bình minh thật là xa xôi. Bà Annemaria vợ ông đã lo lắng cho nhà nghiên cứu bệnh học xuất chúng này suốt mấy tuần nay. Bà tin là ông sắp bị suy nhược thần kinh. Không lâu trước đó, ông đã cho bà xem một viên thuốc cyanide mà ông đã tăng cường độc tính cho nó bằng cách cho thêm axit acetic. Ông nói với bà, nếu tình hình Berlin xấu đi, bọn họ sẽ tự tử.

       Từ lúc đó, bà Hückel đã thấy được “mức độ nghiêm trọng và sự vô nghĩa của chiến tranh, và cơn giận dữ của chồng tôi với Hitler đã choáng hết tâm trí ông ấy.” Sức chịu đựng của bác sĩ Hückel đã tới giới hạn. Sau mấy tiếng đồng hồ nghe tiếng pháo nổ, ông bác sĩ đột ngột đứng dậy, chạy ra mở cửa sổ và hét to hết cỡ, “Der Kerl muss umgebracht werden!” – Phải giết thằng cha đó [Hitler]!

                           ******************

……………………
      (*): Nguyên văn Via Dolorosa, là một con đường tại thành cổ Jerusalem. Chúa Jesus đã vác cây thập giá đi đến chỗ đóng đinh trên con đường này – ND.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #102 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2017, 08:04:35 am »

       Hitler gõ gõ ngón tay lên bản đồ. Ông ta hét lên, “Steiner! Steiner! Steiner!” Quốc trưởng đã tìm ra đáp án. Ông ta quyết định để quân của tướng SS Felix Steiner tấn công tức thời từ khu rừng Eberswalde, bên hông Tập đoàn quân Thiết giáp 3 của Von Manteuffel; rồi tiến về phía nam, chặn mũi tiến công Berlin của quân Nga. Cuộc tấn công của Steiner sẽ khép lại khoảng cách bị hở ra khi cánh phía bắc của Tập đoàn quân 9 của tướng Busse bại trận. Trên bản đồ, đó có vẻ là một bước đi khôn ngoan. Hiện tại, mũi tiến công của Zhukov có dạng mũi tên, xuất phát từ sông Oder, mũi hướng thẳng vào Berlin. Dọc sườn phía bắc của Zhukov có một lá cờ nhỏ, trên đó ghi “Nhóm Steiner.” Hitler thấy tự tin trở lại. Cuộc tấn công của Steiner sẽ tái thiết lập mối liên hệ giữa Tập đoàn quân 3 với Tập đoàn quân 9.

      Kế hoạch của ngài Quốc trưởng chỉ có một chỗ không ổn. Steiner gần như không có lính. Trước đó, Heinrici đã quyết định để Steiner chỉ huy các nhóm tàn quân bị quân Nga đẩy lui về phía bắc. Không may là, do hỗn loạn trên diện rộng ngoài mặt trận, thêm nữa là thời gian thiếu hụt, nên không thể tập trung đủ quân để hình thành Nhóm Steiner được. Thực sự thì không có Nhóm Steiner nào cả. Nhưng cái tên đó vẫn tồn tại, và cả lá cờ nhỏ trên bản đồ của Hitler cũng thế.

      Hitler gọi cho Steiner. Steiner nói, “Theo tôi nhớ thì cú điện thoại đó là vào khoảng 8 giờ rưỡi hay 9 giờ gì đó. Nguyên văn lời của Hitler là thế này: ‘Steiner, anh có biết là ngài Thống tướng [Goering] có một đội quân riêng ở Karinhall không? Cần giải tán đội quân này và đưa ra chiến trường ngay lập tức.’ Trong lúc tôi còn đang cố đoán điều đó nghĩa là thế nào thì ông ta nói tiếp, ‘Tôi đã ra lệnh mọi phương tiện có thể thu thập được ở giữa Berlin và biển Baltic cho tới Stettin và Hamburg cần được đưa vào cuộc tấn công này.’ Tôi phản đối, nói là đội quân do tôi chỉ huy không có kinh nghiệm, rồi tôi hỏi chính xác thì cuộc tấn công sẽ diễn ra ở đâu, và ngài Quốc trưởng không trả lời tôi. Ông ta cứ thế gác máy. Tôi hoàn toàn không biết mình phải tấn công bằng cái gì, ở đâu, và khi nào.”

      Steiner gọi cho Krebs, giải thích tình hình của mình và nói với Chỉ huy trưởng của OKH là ông không có quân. “Rồi tôi nhớ lại việc Hitler đột nhiên gác máy. Lúc đó, tôi đang giải thích với Krebs là quân của tôi hoàn toàn không hề có kinh nghiệm, và bọn tôi cũng không có vũ khí hạng nặng. Hitler giảng cho tôi một tràng và chốt lại thế này, ‘Steiner, rồi anh sẽ thấy. Anh sẽ thấy. Bọn Nga sẽ phải chịu thất bại nặng nề nhất trước ngưỡng cửa Berlin.’ Tôi nói với ông ta rằng tôi thấy tình hình Berlin đã vô vọng rồi. Thế là tôi bị lơ luôn.”

      Không lâu sau đó, Steiner có lệnh tấn công chính thức. Đoạn cuối tờ lệnh viết:
     “Cấm không được rút lui về phía tây. Sĩ quan nào không tuân thủ mệnh lệnh này sẽ bị bắt và bị xử bắn ngay lập tức. Anh, Steiner, phải lấy đầu mình ra đảm bảo thực hiện mệnh lệnh này. Số phận của thủ đô tùy thuộc vào thành công của anh.
      ADOLF HITLER.”


     Sau khi nói chuyện với Steiner, Hitler gọi Tham mưu trưởng Không quân là tướng Koller đến. Hitler cao giọng nói, “Giao toàn bộ không quân có thể huy động được ở miền bắc cho Steiner chỉ huy và đưa tới chỗ ông ấy. Sĩ quan nào giữ người sẽ bị xử bắn trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Nói cho họ biết như thế.” Rồi ông ta thét: “Anh, anh đó, lấy đầu anh ra mà đảm bảo thằng nào cũng phải ra trận.”

      Koller ngây người ra. Đây là lần đầu ông nghe nói tới Nhóm Steiner. Ông gọi điện cho tướng Dethleffsen ở OKH hỏi, “Steiner đang ở chỗ nào? Chúng ta phải đưa quân đi đâu?” . Dethleffsen cũng không biết, nhưng hứa sẽ nhanh chóng tìm hiểu.

      Suốt quãng thời gian điên rồ này, có một người lại không hề hay biết gì về toàn bộ kế hoạch, đó là Heinrici. Khi chuyện tới tai ông, Heinrici liền gọi cho Krebs. Heinrici giận dữ nói, “Steiner không đủ lực để tấn công. Tôi phản đối mệnh lệnh này. Tôi cực lực yêu cầu để Tập đoàn quân 9 rút lui. Nếu không làm thế thì đội quân duy nhất còn lại để bảo vệ Hitler và Berlin cũng sẽ tiêu tùng đấy Krebs. Giờ tôi nói cho anh biết, nếu đề nghị cuối cùng này không được chấp thuận, thì tôi sẽ xin từ chức.” Heinrici hỏi có thể để ông gặp Hitler để bàn bạc về tình hình được không. Krebs thẳng thừng bác bỏ. Ông ta nói, “Việc đó là không thể nào. Quốc trưởng đã quá tải rồi.”

      Chính xác thì, Heinrici viết về kết quả của cuộc nói chuyện trên trong nhật ký chiến tranh của ông như sau: “Tôi khẩn khoản yêu cầu các quan chức cấp cao hãy ghi nhớ rằng họ phải có trách nhiệm với binh lính, nhưng tôi đã bị từ chối bằng một câu, ‘Trách nhiệm đó thuộc về Quốc trưởng.’”

      Sinh mệnh của Cụm Tập đoàn quân Vistula đang dần đi tới hồi kết. Heinrici biết họ chỉ có thể cầm cự thêm vài ngày nữa. Sự nghiệp của ông có vẻ cũng sắp tiêu tan rồi. Viên thượng tướng hiểu rất rõ, sự ngoan cố không chịu khuất phục của mình về cách đánh trận chiến sắp thua tới nơi này sẽ bị Krebs coi là kiểu tư tưởng chủ bại tồi tệ nhất. Trong đêm 21/4, Heinrici được tin Tham mưu trưởng của Cụm Tập đoàn quân Vistula, tướng Eberhard Kinzel sẽ bị thay thế mà không hề báo trước. Người sẽ đảm nhiệm vị trí đó là Thiếu tướng Thilo von Trotha, một trong những môn đồ hăng hái nhất của Hitler. Heinrici tin là Krebs cố ý đưa Von Trotha tới đây để gây ảnh hưởng lên các quyết định của ông. Nếu vậy thì ông ta đã uổng công.

       Heinrici nói với Đại tá Eismann, “Tôi biết thằng cha Von Trotha này. Có lẽ hắn ta cũng khá thông minh đấy, nhưng luôn thích thêm mắm dặm muối; thuộc dạng lạc quan điên rồ.” Ông mỉa mai, “Người đâu cứ ở trên mây.” Heinrici quyết định, khi Von Trotha tới, ông sẽ cô lập hắn ta hoàn toàn và sẽ chỉ bàn bạc với Eismann mà thôi. Làm lơ kẻ được Hitler sủng ái là một bước đi nguy hiểm, nhưng giờ Heinrici không rảnh bận tâm đến điều đó.

       Trước rạng đông ngày 22, Heinrici lại nhận được thông báo thứ hai. Sĩ quan chỉ huy Berlin, tướng Reymann gọi điện cho ông và nói, “Tôi bị cách chức rồi.” Vụ việc diễn ra sau đó thì cứ như một tuồng hề. Người kế nhiệm Reymann là một nhân vật cao cấp khác trong đảng Nazi, một đại tá Kaether nào đó, một kẻ vô danh tiểu tốt tới mức tên riêng của ông ta đã bị biến mất trong dòng chảy lịch sử. Kaether lập tức được thăng vượt cấp lên hàm thiếu tướng, bỏ qua hàm chuẩn tướng. Ông ta vui sướng dành cả ngày để gọi điện báo tin cho bạn bè. Đến chiều tối thì Kaether lại trở về với hàm đại tá, và bị cách chức: Hitler quyết định tạm thời tự mình chỉ huy.

      Trong khi đó, người có tương lai gắn bó chặt chẽ với những ngày tháng cuối cùng của thành phố lại đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Tướng Karl Weidling đã mất liên lạc hoàn toàn với các sở chỉ huy, kể cả với cấp trên trực tiếp của ông là tướng Busse. Quân đoàn Thiết giáp 56 của Weidling đã quá sức tơi tả, và thường xuyên bị Tập đoàn quân tăng Cận vệ 1 của tướng Katukov bao vây, tới mức ông đã mất toàn bộ liên lạc với các đồng nghiệp. Người ta đang đồn ầm lên là Weidling cố ý rút lui, mà Weidling thì chẳng thể nào bác bỏ tin đồn được. Chuyện tới tai Hitler. Và cả Busse nữa. Sau khi đợi tin tức trong gần 24 giờ đồng hồ, cả hai đã ra lệnh bắt giữ và xử bắn Weidling ngay tức khắc.


                                *************
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #103 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 08:41:29 pm »


       Khi màn khói ở ngoại ô Bernau tan đi, Đại úy Sergei Golbov thấy những người tù đầu tiên bước ra khỏi phòng tuyến của họ. Trận giao tranh vừa rồi cực kỳ thảm khốc. Quân của Chuikov mất gần nửa ngày mới tiến thêm được 5 dặm tại vùng này, còn cách Berlin 14 dặm về phía đông bắc. Nhiều chỗ trong thị trấn đang bốc cháy phừng phừng, nhưng xe tăng vẫn băng qua, đi theo hướng tây nam để tới các quận Pankow và Weissensee. Golbov ngồi trên chiếc xe máy mới tịch thu được, quan sát các tù binh. Anh nghĩ, bọn họ trông thật thảm – “mặt xám ngắt, đầy bụi đất, cả người võng xuống vì kiệt sức.” Golbov nhìn quanh quất, anh thấy giữa những công trình của con người tạo ra với của thiên nhiên có sự khác biệt quá lớn. Những vườn cây ăn trái bắt đầu trổ hoa. “Những nụ hoa đó trông như bông tuyết, còn các khu vườn nhỏ ở ngoại ô đều tràn ngập hoa, nhưng rồi những cỗ máy chiến tranh to đùng, đen thui – những chiếc tăng – lại lăn bánh qua đó, thật quá sức tương phản!”

      Golbov móc từ trong túi áo quân phục ra một tờ báo Sao Đỏ, cẩn thận xé một góc, trút ít thuốc lá vào đó rồi cuộn thành một điếu thuốc. Ai cũng dùng tờ Sao Đỏ, nó có giấy mỏng và dễ cháy hơn mấy tờ Pravda (Sự Thật) hay Izvestia (Tin Tức). Khi châm thuốc, anh chợt thấy một viên thiếu tá Đức khập khiễng đi về phía mình.

      Người đó hét lên bằng tiếng Ba Lan, “Để vợ tao yên! Để vợ tao yên!” Golbov đứng nhìn viên sĩ quan mắt long sòng sọc đi cà nhắc tới chỗ anh, anh thấy chả hiểu gì. Khi ông ta tới gần hơn, Golbov xuống xe và đi tới chỗ ông ta. Tay ông ta chảy máu ròng ròng.

       Ông ta giơ cánh tay đầm đìa máu lên, Golbov thấy có vẻ ông ta đã cắt cổ tay. Ông ta thở hổn hển, “Tao sắp chết rồi. Tao đã tự cắt tay. Nhìn đây!” Ông ta chĩa cánh tay đẫm máu về phía Golbov. “Đấy! Mày để vợ tao yên được chưa?”..

       Golbov nhìn ông ta đăm đăm. Anh nói, “Thằng ngu. Tao còn nhiều thứ phải làm lắm, hơi đâu làm phiền vợ mày.” Anh gọi tổ cứu thương, rồi giữ chặt cổ tay ông ta để cầm máu trong lúc chờ người tới sơ cứu. Khi tổ cứu thương tới, Golbov nghĩ có lẽ đã quá muộn. Người đó vẫn cứ la hét “Để vợ tao yên! Để vợ tao yên!” Golboov dựa vào chiếc xe và lại châm thuốc. Anh nghĩ, có vẻ Goebbels đã làm rất tốt; bọn họ nghĩ chúng ta là ai chứ, quỷ chắc?




                            **************



        Nước mắt lăn dài trên gương mặt, Bruno Zarzycki đứng trên đường nhìn đội quân giải phóng đi qua, ông đã chờ họ quá lâu rồi. Nhà lãnh đạo Cộng sản của vùng Neuenhagen-Hoppegarten, cách Berlin 12 dặm, hết sức sung sướng vì giờ ai cũng có thể thấy điều mà ông đã biết từ lâu: mấy lời tuyên truyền của Goebbels về Liên Xô đều đã được thêu dệt nên từ những lời nói dối độc địa nhất. Lính Hồng quân đã vào Neuenhagen rồi nhanh chóng đi qua đây, ai nấy nai nịt gọn gàng, tiến về phía tây, hướng tới các quận Weissensee và Lichtenberg. Thực tế thì không hề có giao tranh gì trong thị trấn này cả. Phần lớn các đảng viên Nazi địa phương đã đi khỏi đây rừ ngày 15/4. Lúc đó, Bruno đã nói với thị trưởng Otto Schneider, “Khi nào tôi thấy những người lính Nga đầu tiên, tôi sẽ ra đó gặp bọn họ với lá cờ trắng trong tay. Có chiến đấu cũng vô ích.”

       Viên thị trưởng đồng ý. Chỉ có một người chống trả: Hermann Schuster, một kẻ cuồng tín, tổ trưởng tổ công tác xã hội của đảng. Ông ta rào quanh nhà, rồi nã đạn vào các đội trinh sát đầu tiên. Đó là một trận đánh một chiều. Quân Nga dễ dàng dẹp tan Schuster và căn nhà bằng mấy quả lựu đạn. Bruno và những người cộng sản khác đốt rụi mấy cái băng đeo tay Volkssturm của mình rồi đi gặp quân Nga với lá cờ trắng trên tay. Bruno cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết.

       Ông chia sẻ mọi thông tin mình có với quân Liên Xô và nói với bọn họ là ông và các bạn mình “đã, đang và sẽ luôn chống phát xít.” Đối với Bruno, quân Zhukov tới đã đem đến một liều thuốc nhiệm màu mà ông đã mong chờ nhiều tuần nay: mấy vết lở loét của ông đã biến mất. Lần đầu tiên ông có thể ăn uống mà không bị buồn nôn hay đau đớn gì.

      Liều thuốc đã có hiệu quả khá ngắn ngủi. Sau đó vài tuần, ông tự tin đưa cho đội quân chinh phục bản kế hoạch điều hành thị trấn chi tiết trong tương lai của mình, và bị bác bỏ. Một quan chức Nga nghe ông trình bày, rồi đáp cụt lủn một chữ: “Không.” Ngày hôm đó – ba tháng sau ngày Bruno Zarzycki tự hào đứng nhìn thần tượng của mình đi qua – những vết lở loét mà ông luôn gọi là “đồ phát xít” đã quay trở lại, tồi tệ hơn bao giờ hết.

      Trong trại giam Lehrterstrasse, hạ sĩ Herbert Kosney, bị tuyên án tử hình, không biết vận may của mình có thể cầm cự được bao lâu. Án tử hình do chính quyền dân sự tuyên vẫn chưa được tòa án quân sự thẩm định. Herbert đang sống bằng thời gian vay mượn. Vào ngày 20, anh được thông báo là tòa quân sự sẽ xử vụ của anh vào ngày hôm sau. Anh biết rõ lời phán quyết là gì, và có lẽ anh sẽ bị xử bắn ngay sau đó. Nhưng sáng hôm sau, khi lính gác đưa anh đến tòa án ở Plötzensee, cả tòa nhà trống rỗng: ai nấy đều đã trốn vào hầm trú ẩn.

       Dù đợt pháo kích bất ngờ của quân Nga đã cứu mạng anh, nhưng việc trì hoãn này chỉ là tạm thời. Kosney nghe nói phiên tòa xử anh sẽ dời qua thứ hai, ngày 23. Quân Nga là tia hi vọng cuối cùng của Herbert. Nếu họ không tới được nhà tù trước ngày hôm đó, anh chắc chắn sẽ phải chết.

     Vì có pháo kích nên tù nhân được đưa xuống hầm. Herbert thấy lính gác tự dưng thân thiện hẳn ra. Có tin đồn là một số tù nhân đã được thả ra và những người khác cũng có thể được ra khỏi đây trong vài giờ tới. Herbert cầm chắc là mình sẽ bị giữ lại, nhưng anh hi vọng anh trai mình, Kurt, có thể được ra ngoài.

       Kurt cũng có nghe tin đồn, nhưng anh biết một chuyện mà Herbert không biết – đó là tin đồn cũng có phần đúng. Một số người theo đạo Nhân chứng Jehovah (*) – bị buộc tội trốn lính, phải làm rất nhiều việc vặt trong tù – được gọi tên, và bọn họ được cấp lệnh thả, cho phép họ rời khỏi nhà tù. Kurt để ý thấy có một người trong số đó không vội vàng đi khỏi đây cho lắm. Người đó đang ngồi cạnh một cái bàn trong hầm, cẩn thận vét sạch từng mẩu đồ ăn cuối cùng trên chiếc đĩa thiếc của mình. Kurt hỏi, “Sao anh không đi với mấy người kia?” Anh ta giải thích rất đơn giản: “Nhà tôi ở Rhineland, cạnh giới tuyến của quân Đồng minh phương Tây. Chẳng thể nào đi tới đó được. Tôi sẽ ngồi chết dí ở đây chờ mọi chuyện xong xuôi.”

      Kurt liếc tờ lệnh thả của anh ta. Nếu anh ta không định dùng tới, thì anh biết có người có thể dùng. Khi các tù nhân tiếp tục ăn, Kurt vẫn trò chuyện với anh ta, xích lại gần tấm giấy màu vàng báo hiệu cho tự do. Sau một hồi tán gẫu thân mật, Kurt đã thành công trong việc xoáy được tờ giấy cho vào trong túi áo; rồi đi khỏi đó mà không hề bị phát hiện.

       Anh nhanh chóng tìm được Herbert và đưa cho em trai tờ lệnh thả quý giá. Nhưng ngạc nhiên thay, Herbert lại từ chối. Herbert nói mình đã bị tuyên án tử, có thế nào thì mật vụ Gestapo cũng sẽ bắt được anh. Kurt chỉ bị bắt vì bị nghi là cộng sản; anh vẫn chưa bị buộc tội gì cả. Herbert nói với anh trai, “Anh có cơ hội lớn hơn. Anh đi đi.” Rồi anh nói thêm, cố tỏ ra hào hứng, “Có khi hôm nay cả hai đứa mình sẽ được thả ra đấy. Vậy nên anh cứ đi trước đi.”

       Một lát sau, Kurt Kosney lấy cái túi ngủ phủ lên vai, bước vào phòng lính gác dưới tầng trệt và đứng vào hàng người theo đạo Nhân chứng Jehovah đang chờ được thả. Một người lính gác là trung sĩ SS, tên Bathe có biết Kurt, anh ta nhìn thẳng vào anh. Nhất thời, Kurt nghĩ mình sẽ bị tóm lại và tống vào ngục. Nhưng Bathe lại quay đi. Người ngồi sau chiếc bàn nói, “Người kế.” Kurt đưa tờ lệnh thả ra.

      Năm phút sau, cầm tờ lệnh đã đóng dấu chính thức trong tay, Kurt Kosney đứng đó, trên đường phố bên bên ngoài nhà tù. Anh đã thành người tự do. Ngoài đường, đạn xẹt như mưa, và “mảnh đạn văng tùm lum khắp nơi,” nhưng Kurt hầu như không để ý. Anh thấy “mừng tới phát cuồng – như thể vừa nốc hai chục chai brandy vậy.”
………………………….
        (*): Một tôn giáo có tín ngưỡng dựa trên Kinh Thánh của Kito giáo. Trong Thế chiến thứ 2, các  tín đồ của tôn giáo này bị bắt vào trại tập trung của phát xít Đức.


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #104 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 08:45:23 pm »

     
      Quân Nga đã tới Zossen. Đoàn xe tăng của Tập đoàn quân Tăng Cận vệ 3 của tướng Rybalko chiếm được trụ sở của Bộ Chỉ huy Tối cao còn nguyên vẹn, cùng với một đám kỹ sư, lính lác và kỹ thuật viên. Số còn lại đã đánh bài chuồn.

       Những anh lính tăng mệt mỏi và lấm lem bụi đất của Rybalko chớp chớp mắt ngạc nhiên trước ánh đèn sáng rực trong các căn phòng rộng lớn dưới tầng hầm. Khi đi qua các phòng tranh, phòng sinh hoạt và văn phòng, dấu vết của cuộc đào tẩu tốc hành vẫn còn hiển hiện khắp nơi. Thiếu tá Boris Polevoi, một chính ủy trong sở chỉ huy của Koniev thấy sàn nhà vương vãi bản đồ và giấy tờ. Trong một căn phòng nọ, có một chiếc áo đầm nằm trên bàn; gần đó là một chiếc cặp da đựng đầy ảnh chụp gia đình.

    Hệ thống tổng đài điện thoại Exchange 500 bị chiếm mà không có chút sứt mẻ gì. Người ta đứng ngoài ngưỡng cửa, há hốc mồm nhìn đèn sáng nhấp nháy trên bảng kiểm soát, giờ chẳng còn ai vận hành. Có những tấm biển to gắn vào bảng kiểm soát, đã viết bằng tiếng Nga rất chuẩn mực: “Gửi các bạn lính! Đừng phá hủy hệ thống này. Nó sẽ rất có giá trị với Hồng quân đấy.” Polevoi và các sĩ quan khác đoán những nhân viên người Đức chạy khỏi đây “đã dựng mấy tấm biển đó để cứu mạng chính mình.”

     Trong số những người ở trung tâm chỉ huy bị bắt có Hans Beltow, kỹ sư trưởng của các hệ thống điện phức tạp, ông đang giới thiệu hệ thống Exchange 500 với người Nga. Thông qua các nữ phiên dịch người Nga, Beltow giải thích là có một tổng đài viên vẫn ở lại đây, tận tới khi sở chỉ huy sắp bị chiếm mới đi. Quân Nga cho máy ghi âm phát lại các đoạn hội thoại cuối cùng của người đó, rồi đứng nghe trong căn phòng rộng thênh thang không chút tỳ vết. Trong những phút cuối cùng Zossen còn nằm trong tay người Đức, các cuộc điện thoại vẫn tiếp tục đổ về từ mọi miền của đế chế Đức đang teo tóp cực nhanh, và toàn bộ đều được ghi âm lại.

      Một người nói bằng tiếng Đức, “Tôi cần gọi điện khẩn tới Oslo.” Người trực tổng đài ở Zossen nói, “Xin lỗi, nhưng chúng tôi không chuyển cuộc gọi được. Tôi  là người cuối cùng còn ở đây.”

      “Chúa ơi, chuyện gì đang diễn ra vậy…?”

      Một giọng khác: “Chú ý, chú ý. Tôi có điện khẩn…”

     “Chúng tôi không nhận bất kỳ bức điện nào nữa.”

       “Còn liên lạc với Prague được không? Ở Berlin sao rồi?”

      “Bọn Nga sắp tới cửa rồi. Tôi kết thúc đây.”


        Zossen đã thất thủ. Trừ cuộc kiểm tra ngắn ngủi này ra, quân Koniev hầu như không dừng chân lại đây. Một hàng xe tăng đang tiến về Potsdam; một hàng khác thì đã vượt qua kênh Nuthe và tới Lichtenrade, phía nam quận Tempelhof của Berlin. Những chiếc tăng khác thì tiến về Teltow và giờ đang vượt qua phòng tuyến phía nam kênh Teltow. Đằng sau nơi đó chính là hai quận Zehlendorf và Steglitz.

       Đến chiều tối ngày 22, quân Koniev đã phá được phòng tuyến phía nam Berlin và tới Berlin sớm hơn Zhukov cả một ngày.



                                   ***********


     Trong căn hầm Führerbunker, hội nghị quân sự như thường lệ bắt đầu vào lúc 3 giờ chiều. Trong lịch sử 12 năm của nền Đệ tam Quốc xã, chưa bao giờ có một ngày thế này. Những lời lạc quan mọi khi nay chẳng hề thấy đâu. Mặt trận Oder đã thất thủ. Tập đoàn quân 9 dần bị bao vây. Đơn vị mạnh nhất của nó, Quân đoàn Thiết giáp 56 thì bị mất liên lạc và chẳng biết ở đâu (*). Steiner thì không thể tấn công được. Berlin gần như đã bị bao vây. Các tư lệnh đang bị thay thế từng giờ. Đế chế Đức đang trong cơn hấp hối quằn quại, và con người là đầu dây mối nhợ của nó giờ đã bỏ cuộc.

      Thông báo của Hitler khơi dậy một cơn lũ chửi rủa điên cuồng không kiềm chế nổi, trong đó ông ta buộc tội các tướng lĩnh, cố vấn, binh lính và nhân dân Đức, những người đã bị ông ta kéo vào tai ương. Hitler lắp bắp rằng đã đến hồi kết; mọi thứ đã sụp đổ; rằng ông ta không thể tiếp tục được nữa; ông ta đã quyết định ở lại Berlin, tự chỉ đạo công tác phòng ngự của thành phố – và sẽ tự sát vào phút cuối. Tướng Krebs và đại diện của Không quân là tướng Eckhardt Christian đều bị sốc cực độ. Cả hai thấy Hitler dường như đã suy sụp tinh thần hoàn toàn. Chỉ có Jodl là giữ được bình tĩnh, vì Hitler đã nói hết với viên Tư lệnh hành quân từ 48 giờ trước.
……………………………
          (*): Trong cuốn nhật ký chiến tranh của Heinrici, mọi cuộc nói chuyện điện thoại đều được ghi tốc ký nguyên văn, và có một đoạn rất đáng ngjac nhiên: “12:30 ngày 21/4: Busse gọi Heinrici: ‘Mới nghe được là tối qua Quân đoàn 56 đã dời từ Hoppegarten vào làng Olympic dù chưa được lệnh. Đề nghị bắt giữ…’” Không ai biết được Busse có tin tức này từ đâu, nhưng nó đã sai: làng Olympic nằm ở Döberitz, phía tây Berlin. Còn Weidling thì đang chiến đấu ở vùng ngoại ô phía đông thành phố.


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #105 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 08:51:44 pm »

     
      Những người có ở đó cố thuyết phục vị Quốc trưởng gần như đã loạn trí rằng họ vẫn chưa mất tất cả. Họ nói, ông ta phải chịu trách nhiệm trước đế chế Đức, và phải rời khỏi Berlin, vì không thể kiểm soát tình hình từ thủ đô được nữa. Người từng chống đỡ thế giới của bọn họ giờ lại thô lỗ từ chối họ. Hitler nói ông ta sẽ ở lại Berlin. Những người khác có thể đi bất cứ đâu họ muốn. Ai nấy đều sững sờ. Để nhấn mạnh ý mình, Hitler khẳng định rằng ông ta định thông báo công khai về sự hiện diện của mình tại Berlin. Rồi ông ta đọc một bản tuyên bố để phát sóng ngay sau đó.

        Những người có ở đó cố thuyết phục ông ta đừng phát sóng liền. Thông báo sẽ được dời sang hôm sau. Trong khi đó, các sĩ quan và phụ tá trong hầm gọi cho các đồng nghiệp ở ngoài thành phố để gia tăng sức ép lên Quốc trưởng. Himmler, Doenitz và cả Goering cùng gọi tới, cũng van nài giống những đồng nghiệp, hi vọng Hitler đổi ý. Nhưng Hitler sẽ không nghe lời can ngăn.

       Jodl bị gọi đi nghe điện thoại. Trong lúc ông đi khỏi đó, Keitel bảo muốn nói chuyện riêng với Hitler, nhằm thuyết phục ông ta. Phòng họp trống không. Theo lời Keitel kể, ông đã nói với Hitler là có hai khả năng còn đang để ngỏ: “một là đề nghị đầu hàng có điều kiện trước khi Berlin trở thành chiến trường.” còn không thì sắp xếp “cho Hitler bay tới Berchtesgaden và bắt đầu đàm phán ngay từ đó.” Theo Keitel, Hitler “không cho tôi nói thêm gì nữa. Ông ta ngắt lời và nói, ‘Tôi đã quyết định xong rồi. Tôi sẽ không rời khỏi Berlin. Tôi sẽ chống cự tại đây tới giây phút cuối cùng. Cho dù là tôi sẽ thắng trận ở thủ đô của đế chế Đức, hay là tôi sẽ ngã xuống nơi đây, như một biểu tượng của đế chế Đức.’”

      Keitel thấy quyết định đó thật điên rồ. Ông nói với Hitler, “Tôi buộc phải yêu cầu ngài hãy bay tới Berchtesgaden ngay tối nay.” Hitler không chịu nghe nữa. Ông ta gọi Jodl trở lại, và trong buổi họp riêng với hai người sĩ quan, ông ta “ra lệnh cho bọn tôi bay tới Berchtesgaden và cùng nắm quyền với Goering, cấp phó của Hitler.”

       Keitel phản đối, “Bảy năm nay, tôi chưa bao giờ từ chối thực thi mệnh lệnh nào của ngài, nhưng lần này tôi sẽ không làm. Ngài không thể bỏ rơi quân đội trong cơn hoạn nạn được.” Hitler đáp, “Tôi sẽ ở lại đây. Điều này sẽ không thay đổi.” Rồi Jodl đề nghị là có thể để đoàn quân của Wenck đi từ sông Elbe tới Berlin (*).

       Keitel nói sẽ lập tức đi tới mặt trận phía tây, gặp tướng Wenck, “bỏ hết các mệnh lệnh trước đó dành cho ông ấy và bảo Wenck hành quân tới Berlin để hợp quân với Tập đoàn quân 9.”

        Cuối cùng Hitler cũng nghe được một đề nghị lọt tai. Keitel thấy lời đề nhị đó có vẻ đã “giúp Hitler thấy nhẹ nhõm phần nào trong bối cảnh cực kỳ tồi tệ này.”

       Một lát sau, Keitel rời khỏi đó để tới sở chỉ huy của Wenck.

       Một số sĩ quan không có mặt trong hội nghị, chẳng hạn như Tham mưu trưởng Không quân, tướng Karl Koller rất ngạc nhiên khi hay tin Quốc trưởng ngã bệnh, tới mức họ không chịu tin vào báo cáo của người đại diện của chính mình tại hiện trường. Koller vội chạy tới sở chỉ huy mới nhất của Jodl ở Krampnitz, cách Potsdam 5 dặm về phía đông bắc, và được kể lại đúng nguyên văn. Jodl nói với Koller, “Tin anh nghe được là đúng rồi đó.”

       Ông cũng nói với viên tham mưu trưởng Không quân rằng Hitler đã bỏ cuộc và định tự tử vào giờ phút cuối cùng. Jodl nói tiếp, “Hitler nói là ông ta không thể tham gia trận chiến vì lý do sức khỏe, và ông ta sẽ không làm thế để tránh bị rơi vào tay giặc. Bọn tôi đều đã cố khuyên can hết lời rồi. Nhưng Hitler nói không thể tiếp tục được nữa và giao phó mọi chuyện cho ngài Thống tướng. Một vấn đề đặt ra là quân lính sẽ không chịu chiến đấu dưới trướng Goering, nhưng Quốc trưởng lại nói: ‘Chiến đấu à, ý anh là sao hả? Chẳng cần phải chiến đấu gì nhiều nữa, và trong việc đàm phán thì ngài Thống tướng có thể làm tốt hơn tôi.’”

      Jodl nói thêm, “Hitler nói quân lính không còn chiến đấu nữa, rào cản xe tăng ở Berlin thì đang mở toang hoác và chẳng có ai phòng thủ.”

       Trong căn hầm Führerbunker, rõ ràng ý Hitler đúng y những lời ông ta đã nói. Ông ta dành hàng giờ để lựa tài liệu, giấy tờ rồi đem ra sân đốt. Rồi ông ta cho gọi vợ chồng Goebbels và các con tới. Bọn họ sẽ phải ở lại trong hầm với ông ta cho tới cùng. Tiến sĩ Werner Naumann, trợ lý của Goebbels trước đó có nghe “Goebbels thấy hành động đúng đắn nhất khi bại trận là ngã xuống ngoài chiến trường hoặc là tự sát.” Bà Magda Goebbels, vợ của vị bộ trưởng cũng thấy vậy. Khi nghe nói gia đình Goebbels sắp chuyển vào Dinh Thủ tướng, Naumann biết là “bọn họ sẽ cùng chết ở đó.”

          Cũng như Hitler, Goebbels cực kỳ khinh bỉ “những kẻ phản bội và không xứng đáng.” Trước hôm Quốc trưởng nổi cơn, Goebbels gọi điện cho các nhân viên trong bộ truyên truyền và nói, “Người Đức đã thua trận. Ở miền đông, người ta đang chạy trốn, miền tây thì vẫy cờ trắng đầu hàng. Nhân dân Đức đã tự lựa chọ số phận của mình. Tôi không ép ai làm đồng sự của mình cả. Sao các bạn lại làm việc với tôi? Giờ các bạn sắp bị cắt cổ rồi đó! Nhưng tin tôi đi, khi chúng ta rời khỏi đây, mặt đất sẽ phải rung chuyển.”

      Theo tiêu chuẩn của Hitler, có vẻ như chỉ những ai định tự tử và vùi mình trong mộ mới được coi là trung thành. Tối hôm đó, các đội SS lùng sục từng căn nhà, tìm những kẻ đào ngũ. Hình phạt rất nhanh gọn. Ở quảng trường Alexanderplatz gần đó, một người chạy nạn vừa mới tới Berlin tên Eva Knoblauch, 16 tuổi phát hiện thấy thi thể của một binh nhì Lục quân trẻ tuổi nằm vắt vẻo trên trụ đèn đường. Có một tấm thẻ to màu trắng buộc vào chân xác chết. Trên đó viết: “Tôi là kẻ phản bội. Tôi đã trốn chạy khỏi nhân dân mình.”

       Suốt cái ngày quyết định này, Heinrici đang đợi tin tức mà ông thấy hẳn phải sắp tới, rằng Hitler đã cho phép Tập đoàn quân 9 rút lui. Quân của Busse đang bị bao vây và bị chia cắt khỏi các tập đoàn quân ở hai bên sườn của nó, và sắp bị tiêu diệt tới nơi. Kreb thì cứ khăng khăng bảo phải giữ vị trí.

       Thậm chí ông ta còn đi xa hơn: ông ta đề nghị để một vài đơn vị của Tập đoàn quân 9 thử đánh về phía nam mở đường hợp quân với Đại nguyên soái Schörner. Bản thân Busse đang phức tạp hóa vấn đề. Heinrici đã cố bảo Busse rút lui dù không có lệnh; nhưng Busse kiên quyết từ chối, dù chỉ là cân nhắc vấn đề, trừ khi có lệnh cụ thể từ Quốc trưởng.

………………………..
        (*): Vì đã nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu về Chiến dịch Nhật thực, nên Jodl tin là để Wenck tiến về phía đông thì sẽ không bị quân Mỹ ngăn cản, vì ông tin chắc là bọn họ phải dừng lại bên sông Elbe.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #106 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 08:54:49 pm »

       Đến 11 giờ trưa ngày 22/4, Heinrici cảnh báo với Krebs là đến chiều tối hôm đó, Tập đoàn quân 9 sẽ bịcắt thành nhiều mảnh. Krebs tự tin dự đoán rằng nguyên soái Schörner sẽ giải quyết được tình hình bằng cách tiến quân về phía bắc để hợp quân với Busse. Heinrici rành hơn. Ông nói với Krebs, “Schörner sẽ phải mất mấy ngày mới phát động tấn công được. Tới lúc đó thì Tập doàn quân 9 chẳng còn tồn tại nữa rồi.”

       Tình hình đang xấu đi từng giờ, và Heinrici giục Krebs hãy làm gì đó hết lần này tới lần khác. Ông nổi điên, “Anh bắt tôi giữ nguyên vị trí, đồng thời bảo tôi phải làm mọi thứ có thể để Quốc trưởng ở Berlin không bị bao vây. Bất chấp mong muốn của tôi, bất chấp đề nghị xin từ chức của tôi, tôi lại không được rút đoàn quân duy nhất còn dùng được để bảo vệ Quốc trưởng và Berlin.” Sở chỉ huy của Quốc trưởng không chỉ gây khó khăn cho Busse; giờ lại còn yêu cầu Tập đoàn quân 3 của Von Manteuffel phải đẩy lùi quân Rokossovskii ra khỏi sông Oder – một mệnh lệnh bất khả thi, tới mức Heinrici phải há hốc mồm khi nhận được lệnh này.

       Lúc 12:10, Heinrici cảnh báo với Krebs: “Tôi tin đây là phút chót còn kịp cho Tập đoàn quân 9 rút lui.” Hai tiếng sau, ông gọi lại nhưng Krebs đã rời khỏi hội nghị của Quốc trưởng. Heinrici nói với tướng Dethleffsen, “Chúng ta phải có quyết định.” Đến 2:50 chiều, Krebs
gọi cho Heinrici. Quốc trưởng đã đồng ý cho một số đơn vị của Tập đoàn quân 9 ở mạn bắc phía ngoài rút lui, từ bỏ Frankfurt. Heinrici hừ mũi. Biện pháp nửa vời này chẳng thể giúp tình hình cải thiện được bao nhiêu. Ông không nói cho Krebs biết là thành phố đó vẫn đang được trấn giữ ổn thỏa bởi người Hitler từng nhận định “không phải là Gneisenau,” tức Đại tá Bieler. Giờ Bieler sẽ thấy khó lòng rút lui được. Gì thì gì, sự chấp thuận đến quá muộn màng. Tập đoàn quân 9 đã bị bao vây.

       Gần 2 tiếng sau, Krebs lại gọi tới tiếp. Lần này ông ta nói với Heinrici là hội nghị của Quốc trưởng đã quyết định để Tập đoàn quân 12 của tướng Wenck rời khỏi vị trí ở mặt trận phía tây. Wenck sẽ phát động tấn công về phía đông, hướng vào Berlin, giải tỏa bớt áp lực. Đó quả là một thông báo đáng ngạc nhiên; Heinrici lạnh lùng bình luận: “Bọn họ sẽ rất được hoan nghênh đấy.”

       Nhưng Tập đoàn quân 9 vẫn chưa nhận được lệnh cho rút lui toàn bộ. Dù bọn họ đã bị bao vây, nhưng Heinrici tin là quân của Busse vẫn còn đủ sức để bắt đầu hành quân về phía Tây. Giờ đây, việc Krebs báo tin về Wenck – thực tình Heinrici chưa từng nghe đến tên Wenck trước đó – đã mở ra một cơ hội mới. Sau này Heinrici kể, “Cái tin đó đem lại hi vọng rằng vẫn có thể cứu được Tập đoàn quân 9 trước tình thế hiểm nghèo của nó.” Heinrici gọi cho Busse. Ông nói, “Krebs mới nói cho tôi là quân của Wenck sẽ quay lại và tiến tới chỗ anh.” Ông chỉ đạo Busse cho sư đoàn mạnh nhất rút lui, đột phá qua quân Nga, rồi tiến về phía Tây để gặp Wenck. Busse phản đối, vì làm thế sẽ khiến ông yếu đi nhiều. Nhưng Heinrici đã chịu đựng quá đủ rồi. Ông nghiêm khắc cắt ngang, “Đây là mệnh lệnh dành cho Tập đoàn quân 9. Cho một sư đoàn rút lui và tìm cách hợp quân với tướng Wenck.” Ông kết thúc cuộc tranh luận tại đây.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #107 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 08:59:03 pm »

       
      Quanh vành đai thành phố, một quầng sáng đỏ lờ mờ phảng phất trên bầu trời đêm. Lửa bừng bừng cháy khắp các quận, và pháo thì dội không ngừng. Nhưng trong căn hầm của nhà tù Lehrterstrasse lại có một cảm giác hân hoang và phấn khích đang dần lan tỏa. Chiều nay, vừa có 21 người được thả. Sau đó, một số đồ đạc có giá trị của các tù nhân còn lại được trả về. Theo các lính gác, việc này là để đẩy nhanh quy trình phóng thích tù nhân. Giờ các tù nhân có thể được thả bất kỳ lúc nào. Có người nghĩ mình có thể về nhà trước khi trời sáng. Đến cả Herbert Kosney cũng cảm thấy mình đã đánh bại được án tử hình.

      Một người lính gác bước vào hầm. Anh ta nhanh chóng đọc tên từ bản danh sách trên tay. Mọi người căng thẳng lắng nghe từng cái tên được gọi. Có một người cộng sản, một tù binh chiến tranh người Nga và mấy người Kosney biết là nghi phạm trong âm mưu ám sát Hitler năm 1944. Người lính gác đọc to từng tên: “… Haushofer … Schleicher … Munzinger … Sosinow … Kosney … Moll….” Một cơn sóng hi vọng chợt dâng trào trong lòng Herbert khi anh nghe thấy tên mình được gọi.

      Mười sáu người tù được thả ra. Sau khi đếm xong, người lính gác dẫn họ ra phòng bảo vệ. Rồi họ đứng chờ ngoài cửa, từng người một được gọi vào. Khi đến lượt Kosney, anh thấy có 6 tên lính SS trong phòng, cả đám đều đã say khướt. Một gã liếc nhìn tên anh và trao lại đồ đạc cá nhân đã tịch thu lúc bị bắt cho anh. Chúng ít ỏi đến thảm hại: thẻ lương quân đội, một cây bút chì và một cái bật lửa. Herbert ký nhận, rồi lại ký vào một tờ đơn xác nhận anh đã được thả. Một tên lính SS nói với anh, “Ha, anh sắp được gặp lại vợ mình rồi đó.”

       Quay lại căn hầm, họ được lệnh gói ghém đồ đạc. Kosney không thể tin nổi mình lại may mắn đến thế. Anh gói ghém thật nhanh, cẩn thận xếp gọn bộ đồ vía vợ tặng nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày cưới. Xong xuôi, anh quay qua giúp người bạn tù của mình, Haushofer. Đồ đạc của Haushofer có một ít thức ăn, gồm một chai rượu và một lát bánh mì đen. Haushofer không thể nhét nổi lát bánh vào trong ba lô, nên anh tặng luôn cho Kosney. Họ phải chờ khá lâu. Rồi chừng một tiếng rưỡi sau, 16 người đứng thành hai hàng, bước lên bậc thang căn hầm, đi qua một cánh cửa vào trong đại sảnh tối tăm. Đột nhiên cửa đóng sầm sau lưng họ, chỉ còn lại bóng tối dày đặc. Đèn flash bật lên ngay sau đó. Khi mắt Herbert dần quen với ánh sáng lờ mờ, anh thấy ngọn đèn được treo trên thắt lưng một sĩ quan SS. Đó là một trung tá, đầu đội mũ, có mang súng. Ông ta nói với cả bọn, “Bọn mày sẽ được đưa đi. Thằng nào định trốn sẽ bị bắn ngay. Đem đồ lên cái xe tải ngoài kia. Chúng ta sẽ đi tới nhà ga Potsdam.”

       Hi vọng của Kosney tắt ngấm. Nhất thời, anh định lao vào một phòng giam gần đó. Anh chắc chắn là quân Nga sẽ tới đây chỉ trong vài giờ nữa. Nhưng khi cân nhắc tới chuyện trốn đi, anh cũng nhận thấy có những tên lính SS khác mang súng máy đang đứng quanh phòng.

       Những người tù bị lùa ra ngoài đường Lehrterstrasse và đi về phía đường Invalidenstrasse. Trời đang mưa; Herbert kéo cao cổ áo khoác lên và cột chiếc khăn mặt đang quàng quanh cổ chặt hơn. Đi được nửa đường, cả bọn bị ngăn lại kiểm tra, và mấy món đồ tùy thân vừa được trả về mới đây không lâu lại bị lấy đi lần nữa. Hàng người lại lên đường, mỗi người có một tên lính SS đi kèm một bên, lưng đeo súng máy, tay cầm súng. Khi tới đường Invalidenstrasse, một trung sĩ SS đề nghị đi đường tắt qua trung tâm triển lãm Ulap đã bị trúng bom tan tành. Bọn họ đi qua đống gạch đá, bước vào tòa nhà đổ nát chỉ còn trơ lại mấy cây cột bê tông. Bỗng một tên lính SS chợt xách cổ người tù đứng cạnh hắn. Một nhóm tù nhân đi qua bên trái, nhóm lia qua bên phải. Họ bị bắt đứng úp mặt vào tường, cách nhau chừng 2 mét. Và cả bọn biết ngay chuyện gì sắp xảy ra.

       Một số tù nhân bắt đầu van xin tha mạng. Người đứng cạnh Kosney la hét, “Cho tôi sống! Tôi chưa từng làm gì cả.” Lúc đó, Herbert thấy lành lạnh gáy, một nòng súng chĩa vào gáy anh. Ngay khi viên trung sĩ SS hô “Bắn,” Herbert quay đầu qua một bên. Từng tên lính SS nổ súng thành một tràng không đều nhau. Thình lình Kosney nghe được một tiếng nổ lớn. Rồi anh nằm bất động trên mặt đất.

       Viên trung tá bước dọc theo hàng người đang nằm la liệt, bắn thêm một phát vào đầu từng người tù. Khi tới chỗ Herbert nằm, ông ta nói: “Con heo này nhận đủ rồi.” Rồi ông ta lại nói: “Đi nào các cậu. Ta phải nhanh lên. Tối nay còn nhiều việc phải làm lắm.”

      Kosney không biết mình đã nằm đó bao lâu. Một hồi sau, anh thận trọng giơ tay lên sờ cổ và má. Máu chảy đầm đìa. Nhưng anh đã thoát được ngay tích tắc quay đầu. Anh nhận thấy tay và chân phải không cử động được. Anh chậm chạp bò qua đống đổ nát ra ngoài đường Invalidenstrasse. Rồi anh đứng dậy, thấy mình còn đi được, anh bèn buộc khăn chặt hơn quanh cuống họng bị thương rồi chầm chậm đi về phía bệnh viện Charité, hết sức đau đớn. Anh té ngã mấy lần. Có một lần anh bị một đám đoàn viên Đoàn Thanh niên Hitler chặn lại; thoạt đầu bọn chúng đòi xem giấy tờ tùy thân của anh, nhưng rồi thấy anh đang bị thương nặng, chúng bèn cho qua.

      Đi một chập, anh cởi giày ra vì “thấy nặng quá.” Có lúc anh gặp phải một loạt pháo kích kinh hoàng. Anh không thể nào nhớ nổi mình đã đi bao lâu – lúc đó anh nửa tỉnh nửa mê – nhưng cuối cùng anh cũng về được tới nhà ở trên đường Franseckystrasse. Herbert Kosney, nhân chứng sống duy nhất trong cuộc thảm sát tại nhà tù Lehrterstrasse dằng chút sức lực cuối cùng để đập cửa liên hồi. Vợ anh, Hedwig ra mở cửa. Cô không thể nhận ra người đang đứng ngoài cửa. Mặt anh ta toàn là máu, vạt trước áo khoác cũng vậy. Cô hoảng sợ bật thốt, “Anh là ai?” Kosney kịp thời nói trước khi ngã xuống, “Anh Herbert đây.” (*)
……………………. 
    (*): Mười lăm cái xác còn lại được phát hiện ra ba tuần sau đó. Tay Albrecht Haushofer vẫn còn nắm chặt mấy bài thơ anh đã viết trong tù. Có một câu thế này: “Có những lúc bị điên cuồng dẫn lối; Và thực lòng thấy xấu hổ thay.”

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #108 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2017, 09:03:28 pm »

     
       Một giờ sáng ngày 23/4, trong sở chỉ huy nằm ở khu rừng Wiesenburg của tướng Walther Wenck, tư lệnh Tập đoàn quân 12, điện thoại kêu reng lên. Vị tướng trẻ nhất của quân đội Đức vẫn còn mặc quân phục, đang thiếp đi trên một chiếc ghế bành. Văn phòng chỉ huy Alte Hölle – Địa ngục cổ xưa – của ông cách Magdeburg khoảng 35 dặm về phía đông, từng là nhà của một người gác khu săn bắn.

      Wenck tự nhấc máy nghe. Một vị tư lệnh báo cáo là Thống chế Wilhelm Keitel vừa đi qua phòng tuyến, đang trên đường tới sở chỉ huy. Wenck gọi cho tham mưu trưởng của ông là Đại tá Günther Reichhelm. Ông nói, “Chúng ta có khách tới, là Keitel.” Wenck thực lòng không ưa được viên tham mưu trưởng của Hitler. Hiện tại, Keitel là người cuối cùng trên đời ông muốn gặp.

       Trong mấy tuần qua, Wenck đã gặp phải nhiều phiền muộn, khó khăn và gian khổ hơn suốt cả cuộc chiến cộng lại. Khi biên giới nước Đức ngày càng thu hẹp lại, vùng đóng quân của ông trở thành một trại tị nạn khổng lồ. Những người dân Đức vô gia cư có ở khắp nơi – trên đường, ngoài đồng, trong làng, trong rừng, ngủ trong xe kéo, trong lều, trong các xe tải bị hư và toa tàu hỏa, và ngủ ngoài trời. Wenck đã biến toàn bộ nhà cửa có thể ở được trong vùng – như nhà dân, nhà thờ, thậm chí là cả các sảnh khiêu vũ trong làng – thành nơi trú chân cho dân tị nạn. Sau này ông kể, “Tôi thấy mình cứ như một tu sĩ đi ngang qua. Ngày nào tôi cũng đi loanh quanh, cố làm những gì có thể làm cho những người chạy nạn, nhất là trẻ em và người bệnh. Và chúng tôi luôn tự hỏi không biết bao giờ quân Mỹ sẽ tấn công từ các đầu cầu bên sông Elbe.”

        Đoàn quân của ông đang phải nuôi hơn nửa triệu người. Tàu hỏa từ mọi miền nước Đức chạy tới vùng đất hẹp này, nằm giữa Berlin và sông Elbe, rồi không đi được nữa. Số hàng hóa và người được tàu hỏa chở đến là món lợi lớn, nhưng cũng là gánh nặng cho Tập đoàn quân 12. Trên tàu có đủ thứ hàng hóa có thể tưởng tượng ra, từ mảnh máy bay cho tới những toa tàu đầy ắp bơ. Cách đó vài dặm, tại mặt trận phía đông, đoàn xe thiết giáp của Von Manteuffel phải dừng lại vì thiếu nhiên liệu; ngược lại, Wenck gần như ngập trong xăng. Ông đã báo cho Berlin về lượng xăng thừa này, nhưng chẳng có ai tới lấy. Thậm chí còn chẳng ai biết tới báo cáo của ông.

       Trong lúc chờ Keitel, Wenck thấy lo là nếu vị tham mưu trưởng của OKH mà biết được những hoạt động xã hội mình làm cho nạn dân thì ông ta sẽ không chấp thuận. Theo chuẩn mực đạo đức quân nhân của Keitel, những hành động như thế thực sự không thể hiểu nổi. Wenck nghe tiếng xe chạy tới và một viên tham mưu của ông nói, “Giờ xem Keitel đóng vai anh hùng nào.”

       Keitel mặc bộ lễ phục hoàn chỉnh của thống chế, đến cả quyền trượng cũng có, bước vào căn nhà nhỏ, viên sĩ quan quản trị và phụ tá theo sau. Wenck thấy cảnh tượng đó thật đáng hổ thẹn, “Đám người Keitel phô trương bước vào, kiêu ngạo và vênh váo như thể mới chiếm được Paris, trong khi khắp mọi nẻo đường, người ta đang kể lại câu chuyện đau thương của mình và nước Đức thì đã bại trận.”

       Keitel trịnh trọng chào, cây quyền trượng chạm vào vành mũ. Qua mấy cử chỉ vụn vặt đó, Wenck nhận ra ngay là vị khách của mình đang rất lo âu và kích động. Viên sĩ quan quản trị của Keitel trải bản đồ ra; Keitel cúi xuống bản đồ, gõ gõ vào Berlin, rồi không mào đầu gì hết mà nói luôn: “Chúng ta phải cứu Quốc trưởng.”

        Rồi có vẻ như thấy quá đường đột, Keitel bỏ lửng chủ đề đó và hỏi sơ lược tình hình của Tập đoàn quân 12. Wenck không hề nhắc tới dân chạy nạn cũng như các đơn vị trong đoàn quân đang chăm lo cho họ. Thay vào đó, ông chỉ nói chung chung về khu vực Elbe. Ngay cả khi bánh sandwich và cà phê được đưa tới, Keitel cũng không nghỉ. Wenck chẳng buồn làm gì để vị khách của mình thấy thoải mái hơn. Sau này ông giải thích, “Thực tình, bọn tôi thấy bị coi thường quá mức. Có cái gì Keitel nói mà bọn tôi còn chưa biết chứ? Chẳng lẽ đã tới hồi kết?”

      Keitel chợt đứng dậy và bắt đầu rảo bước quanh phòng. Ông ta nghiêm giọng, “Hitler hoàn toàn sụp đổ rồi. Tệ hơn nữa là ông ta đã bỏ cuộc. Trước tình hình này, anh phải đổi hướng, đưa quân về Berlin, tập hợp cùng Tập đoàn quân 9 của Busse.” Wenck yên lặng nghe Keitel diễn tả tình hình. Keitel nói, “Trận chiến ở Berlin đã bắt đầu. Số phận của nước Đức và của Hitler đang rất nguy ngập.” Ông ta nghiêm nghị nhìn Wenck. “Anh có trách nhiệm tấn công và giải cứu Quốc trưởng.” Wenck chợt nghĩ, dù không liên quan mấy, rằng đây có lẽ là lần đầu Keitel từng tới sát tiền tuyến tới vậy trong đời.

      Trong những lần làm việc với Keitel trước đó, Wenck đã học được một điều, “nếu anh cãi lại, thì một trong hai điều sau sẽ diễn ra: hoặc anh bị giáo huấn nghiêm khắc trong hai giờ đồng hồ, hoặc bị cách chức.” Nên ông tự động đáp lời, “Tất nhiên rồi, thưa Thống chế, chúng tôi sẽ làm theo lệnh ngài.”

       Keitel gật đầu. Ông ta chỉ vào hai thị trấn nhỏ cách tiền tuyến của Tập đoàn quân 12 chừng 12 dặm về phía đông bắc và nói: “Các anh sẽ đánh vào Berlin từ vùng Belzig-Treuenbrietzen.” Wenck biết đó là chuyện không tưởng. Kế hoạch của Keitel được xây dựng dựa trên các đội quân – binh lính, xe tăng và sư đoàn – đã bị tiêu diệt từ lâu, hoặc là chưa từng tồn tại. Thực sự thì, không có xe tăng hay súng tự động, và lính thì hết sức ít ỏi, Wenck không thể nào vừa trấn giữ trận địa ở sông Elbe trước quân Mỹ, vừa đánh vào Berlin để cứu Quốc trưởng. Dù thế nào đi chăng nữa, muốn đánh về phía đông bắc vào Berlin cũng là chuyện khó khăn muôn vàn. Trên đường đi có quá nhiều sông hồ. Với lực lượng ít ỏi có trong tay, ông chỉ có thể tiến về Berlin từ phía bắc. Ông đề nghị với Keitel để Tập đoàn quân 12 tiến về Berlin “từ phía bắc mấy cái hồ, qua Nuaen và Spandau.” Wenck nói thêm, “Tôi nghĩ là mình có thể phát động tấn công trong vòng hai ngày.” Keitel đứng im lặng một hồi. Rồi ông ta lạnh lùng nói với Wenck, “Chúng ta không thể đợi hai ngày được.”

       Lần này Wenck cũng không cãi lại. Ông không thể lãng phí thời gian. Ông nhanh chóng đồng ý với kế hoạch của Keitel. Khi vị thống chế rời sở chỉ huy, ông ta quay qua Wenck nói, “Tôi chúc ngài mã đáo thành công.”

      Khi xe của Keitel đã đi xa, Wenck tập hợp ban tham mưu lại. Ông nói, “Giờ chúng ta sẽ làm thế này. Chúng ta sẽ tiến tới gần Berlin hết mức có thể, nhưng sẽ không bỏ vị trí ở sông Elbe. Các cánh quân của ta đóng bên sông sẽ để ngỏ lối thoát ở phía Tây. Cứ đánh vào Berlin rồi bị bọn Nga bao vây thì đúng là ngớ ngẩn. Ta sẽ cố gắng hợp quân với Tập đoàn quân 9, rồi đưa toàn bộ số binh sĩ và dân thường có thể đi được tới miền Tây.”

       Về phần Hitler, Wenck chỉ nói là “giờ số phận của một cá nhân chẳng là gì cả.” Trong lúc chỉ đạo cuộc tấn công, Wenck chợt nhớ ra, suốt buổi bàn bạc tối nay, Keitel không một lần nhắc tới người dân Berlin.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #109 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2017, 09:56:34 am »

      
       Khi bình minh lên trên Magdeburg, ba người Đức bơi qua sông Elbe và đầu hàng Sư đoàn Bộ binh 30 của Mỹ. Một người bọn họ là Trung tướng Kurt Dittmar, 57 tuổi, một sĩ quan Lục quân hàng ngày vẫn đọc các thông cáo mới nhất từ mặt trận, được cả nước Đức gọi là “tiếng nói của Bộ Chỉ huy Tối cao Đức.” Đi cùng ông là đứa con trai 16 tuổi của mình, Eberhard và Trung tá Werner Pluskat, từng tham gia trận D-Day, những khẩu pháo Magdeburg của ông đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cản Tập đoàn quân 9 Hoa Kỳ của tướng Simpson vượt sông Elbe.

       Dittmar được coi là phát thanh viên quân sự chuẩn xác nhất của Đức, lượng theo dõi rất đông, không chỉ ở Đức mà còn có cả các nhân viên vô tuyến của quân Đồng minh. Ông lập tức được đưa tới sở chỉ huy của Sư đoàn 30 để thẩm tra. Một thông tin của ông khiến các sĩ quan tình báo kinh ngạc: ông nói chắc như đinh đóng cột, Hitler đang ở Berlin. Tin tức này làm các sĩ quan Đồng minh sáng tỏ vấn đề. Cho tới giờ, vẫn không ai chắc chắn được nơi ẩn náu của Quốc trưởng (*). Phần lớn tin đồn đều nói Hitler đang ở trong Pháo đài Quốc gia. Nhưng Dittmar rất kiên định. Ông nói với các điều tra viên, Quốc trưởng không chỉ đang ở Berlin mà ông còn tin là “Hitler sẽ bị giết, hoặc sẽ tự sát tại đó.”

        Có người giục, “Nói cho bọn tôi biết về Pháo đài Quốc gia.” Dittmar trông như bị đánh đố. Ông nói, điều duy nhất ông biết về một pháo đài quốc gia là một bài báo của Thụy Sĩ đọc được hồi tháng 1 vừa rồi. Ông đồng ý là có một số cứ điểm kháng cự ở miền bắc, “bao gồm cả Na Uy và Đan Mạch, và một cái ở miền nam, trên dãy Alps của Ý.” Ông nói thêm, “Nhưng cái đó là do hoàn cảnh bắt buộc thôi.” Khi các điều tra viên hỏi về pháo đài, Dittmar lắc đầu. “Pháo đài Quốc gia ấy à? Chỉ là một giấc mơ lãng mạn thôi. Chuyện hão huyền.” Vậy là đã rõ – đó chỉ là chuyện hoang đường. Sau này, Đại tướng Omar Bradley, tư lệnh Cụm Tập đoàn quân 12 viết, “Pháo đài chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của một số tên Nazi cuồng tín. Nó bị thổi phồng tới mức tôi thấy ngạc nhiên là chúng tôi có thể ngây thơ tin sái cổ như thế. Nhưng trong lúc chuyện này bị đồn dai dẳng, nó… đã định hình tư duy chiến thuật của chúng tôi.”

       Giữa đám bụi mù, từng hàng xe tăng Đức lăn bánh qua những con đường lát đá ở Karlshorst, ngoại ô quận Lichtenberg, phía đông Berlin. Eleanore Krüger, hôn thê của anh chàng Do Thái Joachim Lipschitz đang trốn trong hầm nhà cô, kinh ngạc quan sát cảnh tượng đó. Những chiếc xe tăng này đến từ đâu? Bọn họ định đi đâu? Thay vì đi vào thành phố, đoàn xe lại tiến về phía nam, hướng tới Schöneweide, cứ như đang chạy trốn khỏi Berlin vậy. Quân Nga đã ở ngay đằng sau chăng? Nếu bọn họ tới đây, điều đó cũng có nghĩa là Joachim cuối cùng cũng sẽ được tự do. Nhưng sao quân Đức lại rời khỏi thành phố? Họ bỏ rơi nơi đây rồi ư? Hay là rút lui?

        Elaeanore không biết, cái cô đang thấy chính là tàn dư bại trận của Quân đoàn Thiết giáp 56 của tướng Weidling đang trong quá trình khôi phục liên lạc với quân chủ lực. Sau khi bị đẩy lui ra tít ngoại ô, quân của Weidling đã nối lại được liên lạc với Tập đoàn quân 9 đang bị bao vây của tướng Busse bằng một cách thức rất chi là lòng vòng: khi tới rìa thành phố, bọn họ dùng điện thoại công cộng gọi về trụ sở của Bộ Chỉ huy Tối cao tại Berlin, rồi sau đó được chuyển tiếp tới Quân đoàn 9 qua radio.

       Quân đoàn 56 được lệnh lập tức tiến về phía nam thủ đô, xuyên qua vòng vây bên ngoài của quân Nga và hợp quân với Tập đoàn quân 9 lần nữa ở Königswusterhausen và Klein Kienitz, cách thành phố 15 dặm. Tại đó, bọn họ sẽ cùng ngăn chặn quân của Koniev.

       Nhưng trước hết, Weidling còn mấy việc dang dở cần làm. Giờ ông đã nghe được là sở chỉ huy của Busse và Hitler đều cử người tới bắt ông, buộc tội ông đã cố tình bỏ trốn khỏi chiến trường, bỏ lại quân đoàn như rắn mất đầu. Ông giận dữ ra lệnh cho quân mình cứ đi trước, còn ông thì vào thành phố gặp Krebs.

       Weidling băng ngang qua Berlin tới Dinh Thủ tướng, mấy tiếng sau, ông tới được căn hầm phụ tá, là văn phòng của Krebs và Burgdorf. Hai người họ lạnh nhạt chào ông. Weidling hỏi, “Cái quái gì đang diễn ra vậy? Sao tôi lại bị đem ra xử bắn hả?” Weidling nói gay gắt, rằng sở chỉ huy của ông vẫn luôn đặt ngay ngoài tiền tuyến từ đầu trận chiến tới giờ: sao lại có người nói ông bỏ trốn cho được? Có người nhắc tới làng Olympic ở Döberitz. Weidling gầm lên, Quân đoàn 56 chưa từng tới gần Döberitz; đi tới đó “là ngu xuẩn tột độ.” Krebs và Burgdorf dần cởi mở hơn; cả hai vội vàng hứa hẹn sẽ làm rõ vấn đề với Quốc trưởng “nhanh nhất có thể.”

      Weidling tóm lược tình hình của mình cho hai người. Ông nói, quân đoàn của mình sẽ đánh vào phía nam Berlin – và rồi, “lúc kết thúc, tôi tình cờ nói thêm là trước khi đi tôi có nhận được một báo cáo nói rằng đã thấy xe tăng tiên phong của Nga xuất hiện ở gần Rudow.” Rudow nằm ngay ngoài rìa quận Neukölln, đông nam Berlin. Krebs thấy ngay là nguy hiểm đã cận kề. Ông ta nói, trong trường hợp đó, mệnh lệnh của Tập đoàn quân 9 dành cho Quân đoàn 56 cần phải đổi lại: quân đoàn của Weidling sẽ ở lại Berlin. Rồi cả Krebs và Burgdorf vội vàng đi gặp Hitler.

      Không lâu sau đó, Weidling được bảo là Hitler muốn gặp ông. Chặng đường tới căn hầm Führerbunker khá dài, phải đi qua “một thành phố ngầm,” theo lời kể sau này của Weidling. Từ văn phòng của Krebs, thoạt tiên ông đi qua một lối đi ngầm, rồi qua một gian bếp và phòng ăn, cuối cùng đi xuống một cái cầu thang vào khu riêng của Quốc trưởng.

        Krebs và Burgdorf giới thiệu ông với Hitler. Weidling viết, “Quốc trưởng của Đế chế Đức ngồi sau một cái bàn chất đầy bản đồ. Khi tôi bước vào, ông ta quay đầu lại. Tôi thấy mặt ông ta sưng húp, đôi mắt bồn chồn. Khi ông ta cố đứng dậy, tôi kinh hãi nhận thấy tay chân ông ta đều run lẩy bẩy. Bằng một nỗ lực lớn lao, cuối cùng ông ta cũng đứng lên được. Ông ta nặn ra một nụ cười méo mó, bắt tay tôi và hỏi bằng giọng nhỏ rí, gần như nghe không ra, là chúng tôi đã từng gặp nhau chưa.”

        Weidling nói, bọn họ từng gặp nhau một lần; khi Quốc trưởng trao huy chương cho ông hồi năm ngoái. Hitler nói: “Tôi có nhớ tên, nhưng không nhớ rõ mặt.”

      Khi Hitler ngồi xuống, Weidling để ý thấy ngay cả khi ngồi thì “chân ông ta vẫn cứ run rẩy, đầu gối đánh qua đánh lại như con lắc, nhưng mà nhanh hơn.”

      Weidling nói tình hình của Quân đoàn 56 cho Hitler nghe. Rồi Hitler xác nhận lại chỉ đạo của Krebs là Quân đoàn 56 cần ở lại Berlin. Sau đó, Quốc trưởng nói về kế hoạch phòng thủ Berlin của mình. Ông ta định kéo tập đoàn quân của Wenck từ phía tây về, của Busse từ phía đông nam, và Nhóm Steiner từ phía bắc, và bằng cách nào đó đánh bại quân Nga. Weidling viết, “Tôi nghe Quốc trưởng nói mà thấy càng lúc càng ngạc nhiên.” Weidling chỉ thấy rõ một điều: “Nếu không có phép màu xảy ra, thì ngày thất bại cuối cùng đang được đếm ngược.”

       Tối đó, sau nhiều tổn thất nặng nề, Quân đoàn 56 cũng thoát khỏi quân Nga ở phía nam và tiến vào Berlin. 24 giờ sau, Weidling kinh hãi hay tin, ông được chỉ định làm sĩ quan chỉ huy thành phố.

…………………………
       (*): Rõ ràng là sau khi London nhận được báo cáo của Wiberg, người ta chưa kịp chuyển nó đi.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM