Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 09:32:29 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: G. Baklanov: Forever Nineteen - Mãi mãi tuổi mười chín  (Đọc 28320 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #60 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2018, 03:34:14 PM »


       XXIII.




      Trong đám hơi nước phủ kín sân ga, những người đàn bà ngược xuôi dọc theo đoàn tàu, gọi con cái bằng những giọng kỳ quái, họ leo cả lên các bậc tàu, nhân viên hỏa xa dập vào tay họ :
      - Đi đâu ? Hết chỗ rồi ?

      - Anh Vôlôđia ! Vôlôđia ! Vào toa này ! — Xasa hét lên. Cô cũng bị cái không khí hốt hoảng của nhà ga tác động.

      Chị nhân viên hỏa xa giơ ngực chặn anh lại :
      - Đầy người rồi, không nhìn thấy à ?

      Từ lối ra vào toa, mọi người cúi xuống và hét lên :
      - Đồng chí trung úy, chúng tôi còn đứng được bao người nữa đây này ?

      Anh gỡ chiếc quai ba lô ra khỏi vai rồi tung qua đầu người nữ nhân viên hỏa xa vào lối ra vào toa, anh trông thấy họ đón lấy chiếc ba lô lúc nó rơi xuống. Mọi người chạy ngang qua, xô cả vào hai người.
     - Xasenka, anh sẽ viết thư cho em. Có địa chỉ đơn vị là anh sẽ viết cho em ngay.

      Và anh nhẩy lên bậc lên xuống của đoàn tàu đang chuyển bánh, lấy vai đẩy người nữ nhân viên hỏa xa.

      Xasa bước đi bên cạnh bậc tàu, vẫy anh.

      Tất cả mọi cái đang nhảy nhót trước mắt cô. Và một khoảnh khắc nào đó cô đã để mất anh.
       - Xasa !

      Cô lướt nhìn, không trông thấy anh. Bỗng anh lại nhảy vọt xuống sân ga, ôm cô, hôn thật chặt. Từ nhà ga mấy sĩ quan mặc áo lông chạy xồ ra vừa chạy vừa ngoảnh lại nhìn họ. Cả anh và Xasa cùng chạy, và rồi cố đẩy anh ra :
      - Vôlôđia, nhanh lên !... lỡ tầu đấy !

      Đoàn tàu đã bắt đầu tăng tốc. Những người còn lại trên sân ga thấp thoáng qua, họ vẫn chạy ùa đến các toa tàu. Xasa chạy bên dưới, cô rớt lại sau và kêu lên điều gì đó. Đoàn tàu bắt đầu lượn vòng cung. Xasa chạy sang phía bên, kịp vẫy tay thêm lần cuối - không thấy cô nữa, cô đã khuất hẳn. Chỉ còn lại vị mằn mặn của nước mắt cô trên môi anh.

      Chị nhân viên hỏa xa không nhìn ngó ai hết lấy lưng chắn mọi người đẩy vào phía trong, rồi đóng sầm cánh cửa sắt có lắp kính lại. Yên ắng. Ai đó chuyền chiếc ba lô lại cho anh.
      - Trung úy, ở quân y viện ra hả ?

      Trêchiakov chăm chú nhìn người nói :
      - Ở quân y viện ra.

      - Nằm lâu không ?

      Anh lại nhìn, phát ngượng vì mình nhìn quá chăm chú. Anh nghe nghe thấy câu hỏi, nhưng mãi mới hiểu được ý nghĩa của câu hỏi : Xasa vẫn đang ở trước mắt anh.
      - Lâu rồi, từ đầu thu.

      Rồi anh lôi túi đựng thuốc ra :
       - Ai có giấy không ?

       Họ xé cho anh một mẩu giấy. Trêchiakov đổ thuốc ra tay và chuyền chiếc túi đựng thuốc qua tay người khác. Vào được trong toa, anh mời mọi người hút thuốc. Túi đựng thuốc bằng cao su là chiến lợi phẩm của bọn Đức, thả miệng túi ra, tự nó sẽ khép lại, và được ghim chặt bằng một chiếc đinh vít nhỏ. Thuốc đựng trong túi này không bị khô, không bị mất mùi, và luôn luôn ấm, sợi nằm thẳng trong điếu thuốc, Xtarưk đã tặng anh lúc chia tay. Từ cổng quân y viện Trê-chiakov ngoảnh lại, hai người vẫn đứng ở cửa sổ phòng bệnh : đó là Xtarưk và Atrakovxki.

       Sau khi đi một vòng chiếc túi lại trở về với anh, ai cũng trầm trồ ngắm nghía nó. Mọi người cùng phun khói, hệt như là nếm xem thuốc có ngon không. Bánh tàu gõ dưới sàn, tất cả mọi người cùng lắc lư. Giờ thì Xasa đang đi về nhà, anh mường tượng thấy cảnh cô đi một mình.

       Nữ nhân viên hỏa xa lại xuất hiện, dồn mọi người lại, khua khoắng thanh móc lò. Người chị chắc nịch khỏe mạnh, nhìn cau có. Khi chị cúi xuống, đám lính tráng nhấp nháy sau lưng chị.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #61 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2018, 03:15:41 PM »

    

   Họ đã hút hết thuốc, Trêchiakov choàng quai ba lô lên vai, gật đầu chào mọi người và đẩy cửa bước vào trong toa tàu. Không khí rất ngột ngạt. Anh bước dọc lối đi, người lắc lư theo sàn tầu đang lắc lư. Giường dưới, giường trên và các giá để hành lý, đâu đâu cũng có người nằm, người ngồi chật cứng, từ đầu chiến tranh chỗ nào cũng bận rộn cả.

       Và trên sàn tàu đã bị xéo qua, xéo lại, những đôi ủng thò ra dưới những giường nằm dưới thấp, anh phải bước qua những đôi ủng đó. Ngay trên cửa sổ, nơi ống nước sưởi chạy dọc toa tàu sát trên trần, anh trông thấy còn một chỗ nho nhỏ trên giá để hành lý. Anh tung chiếc ba-lô, trèo lên và phải nằm nghiêng. Ở đó, chỉ nằm nghiêng mới có thể đủ chỗ. Lúc chống tay này, lúc chống tay kia lên trần tàu, anh đã cởi được áo capốt, trải áo xuống dưới người và đặt ba lô dưới đầu. Thôi, ổn rồi. Đêm nay anh sẽ móc thắt lưng vào ống nước nóng—anh có thể ngủ mà không sợ ngã.

       Anh nằm nghĩ ngợi. Từ phía dưới khói thuổc lá bay lên chỗ anh. Ánh mặt trời thấp thoáng, thấp thoáng trong khói, lóa lên rồi lại vụt tắt: ngoài cửa sổ, có cái gì đó thấp thoáng phía dưới, che lấp mặt trời: tàu chạy nhanh.

      Anh thiu thiu ngủ trong bầu không khí ngột ngạt, trong sự chập chờn lắc lư.

      Anh thức giấc — trên đầu anh trần toa sáng lên, hoàng hôn làm vàng rực từng lỗ hổng nhỏ, Anh mở cổ áo varơi ướt đẫm, lau cái cổ đẫm mồ hôi toát ra trong lúc ngủ. Và đột nhiên anh cảm thấy một cách rõ ràng sự hẫng hụt trong anh: anh bây giờ đà ở xa lắm rồi. Và không thể thay đổi được gì nữa.

      Anh thận trọng tụt xuống phía dưới, tay vịn vào mép giường đi dọc toa tàu; ở phía dưới các giường sáng rực lên nhờ ráng chiều. Dưới các giường, mọi người hút thuốc, chuyện trò, ăn uống, và khi anh đi ngang qua, thoáng hiện lên nhiều gương mặt.

      Ở ngoài đầu toa tiếng sắt nện còn vang hơn. Mặt trời đỏ rực không tụt lạị phía sau con tàu, vẫn lướt trên khắp miền đồng bằng tuyết trắng. Ánh mặt trời lọt qua ô kính ám khói ở lối ra vào toa tàu, lung linh. Dưới màu ánh sáng ấy, trên sàn sắt, giữa đám tay nải ngổn ngang bên chiếc cửa ra vào bị phủ sương muối,— một người đàn bà đang cho hai đứa trẻ uống nước, giúi chiếc ca thiếc từ môi đứa này sang môi đứa kia. Chị ta nhìn anh hốt hoảng — anh có đuổi họ hay không ? — nhận thấy anh rút túi thuốc ra, nhưng rồi lại không hút, chị lấy làm vui sướng.
      - Anh cứ việc hút thuốc ! Các cháu quen cả rồi !

      Hai đứa trẻ cùng tuổi, đôi môi nhỏ xíu ươn ướt của cả hai đứa cùng bóng lên.
      - Chúng nó quen rồi, — ông già thu hút sự chú ý vào mình bằng giọng nói yếu ớt ra vẻ đáng thương. Chỉ khi nghe thấy tiếng nói, Trêchiakov mới nhìn thấy ông già : anh trông thấy chòm râu và đống tay nải. Trêchiakov hiểu ra, anh đưa thuốc cho ông già hút.
      - Mất thuốc lá cho ông ấy làm gì cơ chứ ! - Người đàn bà nói, chị ta xinh hẳn lên nhờ nụ cười – Chỉ phí công thôi.

       Đoàn tàu này không lấy khách dân sự ở bất cứ đâu, bất cứ ga nào. Thế mà sau mỗi ga lại thấy họ xuất hiện ở trong toa tầu, trong các đầu toa tàu, trong các buồng xép : họ cần phải đi lại, họ kiếm đủ cách và họ đi bằng được. Thế nên, người đàn bà đã lên được cùng với hai đứa trẻ, bao đồ đạc và một ông già hoàn toàn là gánh nặng đối với chị. Rõ ràng ông già tự ý thức được điều đó. Vừa hút thuốc vào là ông  ho đến tái xanh tái xám, ho trào nước mắt và toàn thân run lén. Rồi cứ sau mỗi hơi thuốc, ông già lại nhìn dán mắt vào điếu thuốc đang nắm chặt trong tay : xem nó còn lại bao nhiêu.

      Ở cửa đầu toa bên kia đại úy phi công và một thiếu phụ đứng quay mặt vào nhau, Đại úy đang kể về một trận không chiến, anh ta đưa tay vạch những đường lượn trong không khí, người thiếu phụ đưa mắt dõi theo cánh tay, mặt hiện lên vẻ thích thú cùng nỗi kinh hoàng. Đại úy dáng cao lớn, tóc cắt ngắn, chiếc cổ áo bó chặt căng lấy cổ, một con rận to đùng bò trên mép cổ lót trắng tinh, hệt như bò trên sợi chỉ, lúc thì trượt xuống, lúc thì bám chặt vảo. Và Trêchiakov không biết nói thế nào để đại úy biết, mà người thiếu phụ vẫn không biết.

       Nữ nhân viên hỏa xa bước vào cầm cờ hiệu đã cuốn lại trong tay, mùi nhà vệ sinh từ toa tầu xông ra. Tàu đang vào ga nào đó.
      - Chị cho bọn trẻ vào trong toa thì hơn - Trêchiakov khẽ nói, đưa mắt nhìn lũ trẻ, nhìn cánh cửa được sương muối rửa sạch.

      Người mẹ nghe thấy thế, bèn phẩy tay :
      - Kìa anh, chúng tôi ở đây cũng tốt lắm rồi ! Còn gì hơn nữa chứ !

      Chị nhân viên hỏa xa đưa tay vuốt lá cờ đen thui vì bụi than cho phẳng lại, dồn những nếp nhăn sang bên mép. Một tòa nhà thấp thoáng bên ngoài, bóng đổ xuống, và ánh mặt trời đỏ rực lại chiếu vào đầu toa tàu. Trông thấy rõ hai người đứng bên ô kính ám khói : thiếu phụ tay nắm chặt lấy những thanh sắt, mặt ngẩng cao, nhìn đại úy đầy vẻ thán phục.
       - Anh không biết xót mình hay sao ? Chị nhân viên hỏa xa hỏi, nheo mắt nhìn Trêchiakov.— Còn tôi thì thấy thương các anh lắm. Suốt cuộc chiến tranh tôi đưa mãi, đưa mãi các anh vẫn về hướng này…..


...................

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #62 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2018, 08:19:58 PM »



       XXIV.





       Đống lửa đỏ lách tách, đất quanh đống lửa vừa tan hết tuyết đã khô lại, hơi nước và khói từ những cành củi ẩm sì sộc vào mắt. Các pháo thủ, người ám khói, đã thức trắng hai ngày đêm liền, họ ngồi ủ rũ, lưng quay ra gió, quệt nước mắt bẩn trên má, hơ nhưng ngón tay co quắp lại vì gió lạnh trên ngọn lửa. Và họ vừa ngồi trong khói, vừa phun khói thuốc, sưởi ấm lòng mình. Tuyết ướt bay xiên vào đống lửa, vào lưng, vào mũ.

      Sau khi bốc được đầy thùng tuyết, Kưchin xách thùng đến bên đống lửa. Ở đăng đó khói nhiều hơn lửa.
      - Phômitrev ! — anh kêu lên.— Vẩy thêm lần nữa nào.

       Người lái xe bước đến, dẫm đôi ủng mòn vẹt nhọ nhem dầu máy lên tuyết mới tan. Người anh ta lem luốc dây đầy dầu mỡ. Anh ta vẩy dầu xôla lạnh ngắt múc từ chiếc thùng sắt tây dúm dó bỏ vào lửa. Lửa bùng lên, táp hơi nóng vào mặt. Người đang ngủ, bật dậy, đưa cặp mắt ngái ngủ nhìn ngọn lửa ; tuyết không tạt vào ngọn lửa nữa mà biến mất trong không khí.

       Lấy chiếc bao tay che mắt, Kưchin lăn mãi, lăn mãi đến bên đống lửa. Phômitrev ngồi chờ cùng với chỗ dầu còn lại trong thùng, cả người anh đen sẫm trong tuyết bay chênh chếch, đôi vai anh hệt như nhô lên cản tuyết. Nhìn đôi ủng há mõm vì nước tuyết tan, Trêchiakôv chợt nghĩ : cần phải đổi ủng. Anh ngồi trên hòm đạn, trận ho làm người anh rung lên : trán, ngực, cơ bụng — tất cả đều đau vì ho, anh đưa đôi mắt đầy nước nhìn ngọn lửa. Ngoài mặt trận biết bao lần toàn thân ướt sũng, tê cóng mà vẫn không hề bị cảm lạnh. Anh vào quán y viện, ngủ trên vải trải giường sạch sẽ trong những điều kiện sinh hoạt của con người, thế mà anh đã bị cảm lạnh ngay đợt di chuyển đầu tiên.

       Anh khó nhọc tháo chiếc ủng ướt sũng, rồi cởi xà cạp. Gió quấn lấy đôi chân trần, lạnh thấm sống lưng, còn toàn thân lại nóng bừng. Giá bây giờ được trùm áo Capốt kín đầu, hà hơi vào những ngón tay lạnh buốt, rồi nhắm mắt lại...

      Đại đội trưởng mặc chiếc áo capốt dài đang bước lại gần đống lửa. Đại úy Gôrôdilin, thủ trưởng mới của đại đội vừa chuyển từ đơn vị khác đến. Nghe nói ở đó,anh ta giữ chức vụ, trợ lý tham mưu trung đoàn, thoạt đầu, anh ta chưa thể quên được chức vụ của mình, thấy ở đại đội thấp quá, nên luôn giữ khoảng cách với tất cả mọi người — với các trung đội trưởng và với cả các chiến sĩ — anh ta chỉ có thể trao đổi ý kiến với chuẩn ủy, mà chuẩn úy thì không để ý đến các trung đội trưởng. Nhưng chỉ ít lâu sau, qua khoảng cách ấy mọi người đều nhận thấy: đại đội trưởng không tin ở bản thân mình. Dù đại đội trưởng cau có, quát tháo, nhưng mệnh lệnh của đại đội trưởng, thậm chí cả những mệnh lệnh rất xác đáng cũng được mọi người thi hành miễn cưỡng. Chuyện ấy bao giờ cũng vậy: khi ra lệnh một cách thiếu tin tưởng thì sẽ sinh ra việc thiếu tin tưởng hơn trong thi hành. Và tất cả mọi người càng nhớ đến Pôvưixenkô: thế mới gọi là đại đội trưởng ! Anh ta không ra lệnh, chỉ nói, mọi người thi hành ngay tức khắc.

        Nhưng Pôvưixenkô không còn ở trung đoàn nữa, anh đã bị thương hồi giáp tết. Trung đội của Trêchia- kôv có thêm vài người mới. Một thiếu úy được cử đến thay anh — nhưng các trung đội trưởng trung đội chi huy chẳng thọ được bao lâu — đã hy sinh trước khi mọi người nhớ được họ tên anh. Người thì gọi anh là Siakhmetôvưi, người thì gọi anh là Kamambetôvưi; «Nói chung, na ná thế…». Dù sao, Trabôrôv vẫn giao lại trung đội cho anh, song lần này mọi người đón anh như thể họ cũng chiến đấu bên nhau suốt nửa cuộc chiến tranh, ngay lập tức cả trung đội kháo nhau : «Trung úy của chúng ta đã trở về...».

       Thấy mọi người đón như vậy, anh rất xúc động và xen cảm giác : anh trở về nhà.   

       Naruxlaev vẫn cười lộ hết hàm răng trắng bóng như thế trên gương mặt đen xạm. Kưchin vẫn tự nguyện gánh trách nhiệm anh nuôi. Chỉ có Ôbuxôv, người lính trẻ nhất trung đội là anh chưa biết. Suốt thời gian ấy, anh ta nằm trên quân y của tiểu đoàn, không phải vì dính đạn, dính bom : Ôbuxôv mắc bệnh truyền nhiễm do bọn Đức để lại tại một trong các khu trại. Giả là năm bốn mươi hai đi thì anh ta đã thấy hài lòng với chiến công của mình... Đổ máu, gắng chiếm lấy một điểm cao nào đó mà tiểu đoàn chịu không chiếm được. Nhưng may cho anh ta, thời gian này đỡ ác liệt hơn.

      «Ôbuxôv của chúng ta đã được tặng thưởng—mọi người trong tiểu đội nói — không cần thiết đề nghị tặng thưởng huân chương nữa ».

       Đại đội trưởng đến bên đống lửa, rút một cành củi đang bốc khói, châm thuốc, người dài ngoẳng trong chiếc áo capốt dài, bản đồ kẹp bên sườn, ai nấy đều cảm thấy đại đội trưởng sắp sửa nói ngay bây giờ. Trận tấn công diễn ra không phải ở những ngày đầu tiên, bộ phận hậu cần tụt lại phía sau : thực phẩm, nhiên liệu, đạn pháo — tất cả đang còn ở phía sau. Trên đường, xe ôtô quay trượt suốt trong lớp tuyết lõng bõng và bùn lầy lội, họ phải kéo xe, tồn hại sức khỏe, nhưng chúng càng lún sâu xuống bùn lầy. Tiểu đoàn pháo binh của họ có ba đại đội thì hai đại đội đã tụt lại. Thoạt đầu, đại đội sáu gục trước. Họ lấy lại xe xích, chất đốt, gồm đạn pháo của đại đội ấy và hai đại đội tiến lên phía trước. Sau đó, đại đội bốn tụt lại — vì không có chất đốt và đạn pháo. Đại đội năm đáng lẽ đành bỏ lại một khẩu pháo, nếu như tại trạm xe kéo trước kia, họ không phát hiện ra được một chiếc xe xích loại TTD — 60 hoen gỉ, giống hệt như xe xích của họ. Suốt những năm Đức chiếm đóng, chiếc xe xích ấy nằm trong đống sắt vụn. Với hai chiếc xe xích ấy, các chiến sĩ lái xe đã sửa lại thành một chiếc hoàn chỉnh, hệt như nó nằm ở đây, và kéo pháo theo. Hai cỗ pháo, hai chiếc xe xích, mười bảy đạn pháo — đó là toàn bộ tiểu đoàn của họ đang kịp thời tiến ra mặt trận.

      Trong làn tuyết bay xiên xiên, lính bộ binh nối đuôi nhau suốt dọc đường, mang trên người mọi trang bị và cả đạn cối cho cánh lính cối. Phương tiện vận chuyển của họ — đó là những đôi chân gày gò quấn xà cạp mang ủng và quen lội bùn, — phương tiện tin cậy nhất trong thời tiết này : con người chứ không phải là xe xích, không có chất đốt vẫn có thể đi được. Lính bộ binh đi cách quãng nhau, ngoái nhìn ngọn lửa. Gió thốc vào lưng họ, họ chẳng trông thấy gì phía họ đang bước tới, xa xa sương mù bao phủ. Ngay trên đầu họ, một chú quạ cố bay ngược gió, đập cánh, lấy đà, tựa như chồm lên trong gió. Gió thổi bạt nó sang một bên.

.........................

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #63 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2018, 12:43:19 PM »

   

      Châm xong thuốc, đại đội trưởng quăng cành củi đang bốc khói vào trong lửa dưới chiếc thùng. Cục tuyết cuối cùng chưa tan trong thùng quay tít trong nước, đen đen, trông nằng nặng.
      - Các đồng chí định nấu ăn hả ? — Đại đội trưởng nheo mắt, lắng nghe tiếng ầm ầm vọng đến đâu từ bên trái.— Chưa được ăn. Có lệnh chiếm lĩnh trận địa. Các trung đội trưởng tới gặp tôi !

      Kưchin vẫn nhìn vào thùng. Rồi anh bực tức vẩy nước vào lửa. Hơi nước từ đám than đen xèo xèo bốc lên. Và như phải bỏng, đại đội trưởng đỏ mặt, bộ ria mép cắt ngắn cũng nổi bật lên :
      - Cứ chuyện nữa đi !

       Nhưng không một ai chuyện trò. Mệt mỏi đến tột độ, đã hai ngày đêm không ngủ và gần như không được ăn — khi mà họ không tiếc thân mình, họ thấy bực vì đại đội trưởng không cho họ nấu ăn và họ bực lẫn nhau làm như cứ đánh nhau là phải bực mình.

      Trêchiakôv xỏ chân vào chiếc ủng ẩm ướt khi Lavrenchev trung đội trưởng trung đội pháo thủ vội vã bước ngang qua, đó là người nhiều tuổi nhất trong số các trung đội trưởng và anh ta vừa mới được điều về đại đội. Người cao lớn, thắt cái thắt lưng lỗ ngoài cùng, ahh ta bước vội đến chỗ đại đội trưởng với bộ mặt khiếp  sợ, trượt chân trên tuyết ướt, vì thế trông anh ta như đang  khuỵu gối xuống lúc chạy. Giống như cánh bộ binh, anh ta cũng dắt hai vạt áo capốt vào thắt lưng đằng trước. «Trông như đàn bà » ấy — Trêchiakôv chợt nghĩ và đứng dậy. Anh bước đến gần Gôrôdilin, khẽ nói để các chiến sĩ không nghe thấy :
      - Thưa đồng chí đại đội trưởng, phải cho anh em chiến sĩ nấu ăn đã.

      Rồi anh bắt đầu ho :
      - Sao, đồng chí ốm hả? — Gôrôdilin hỏi mắt nheo nheo vẻ ghê sợ. Biện pháp bắt người dưới quyền phải im lặng đã được kiểm nghiệm : chỉ thẳng vào những nhược điểm của người đó.

      - Tôi không ốm, tôi khỏe. Các chiến sĩ không được ăn nóng đã bao nhiêu lâu rồi.

       Anh đứng với vẻ sẵn sàng phục tùng mệnh lệnh, nhưng nói năng kiên quyết. Và anh nhận thấy Gôrôdilin sẽ không thay đổi mệnh lệnh. Người chỉ huy càng thiếu tự tin bao nhiêu thì càng cứng nhắc bấy nhiêu, bao giờ cũng vậy. Không chịu lắng nghe những lời góp ý và không chịu thay đổi mệnh lệnh với bất cứ lý do nào, chỉ sợ mất uy tín.
      - Lấy bản đồ ra, — Gôrôdilin nói, tựa như nhắc lại điều lệnh. Mọi việc đều rõ ràng. Trêchiakôv rút tấm bản đồ ra. Ngay lúc đó, đại đội trưởng cũng không nén được nữa.

      - Tiện thể tôi cũng xin nói, suốt thời gian này tôi cũng đâu có được ăn nóng, các anh thấy cả đấy. Chẳng làm sao cả.

      Nếu là cấp chỉ huy, dù anh có hoàn toàn không ăn, anh vẫn phải cho chiến sĩ ăn. Song cấp dưới không được dạy cấp trên, cho nên Trêchiakôv đã im lặng.

       Lúc này Gôrôdilin vẫn đang giao nhiệm vụ :
       - Đây là quân ta. Đây là đối phương. Giả định thế! Hãy đến chỗ bộ binh, phát hiện xem đơn vị bộ binh nào ở phía trước, rồi liên lạc về. Nghe rõ nhiệm vụ không ?

       - Rõ !

      - Thi hành đi ! Đem theo bốn trinh sát.

      Trêchiakôv giơ tay chào. Trên đường về các trung đội, Lavrenhev đuổi kịp anh, bước đi bên cạnh. Anh cảm thấy lúng túng.
       - Tất nhiên, vẫn có thể nấu ăn được, có làm sao đâu cơ chứ, — anh ta dè bỉu đại đội trưởng. Trêchiakôv không đáp lại, chỉ thầm nghĩ : «Thì chính anh đã im lặng đấy thôi». Nhưng anh cũng không muốn lên Lavrenchev. Suốt cuộc chiến đấu, anh ta đã chiến đấu ở khẩu đội cối bốn nhăm ly, không được an toàn cho lắm, sau khi bị thương anh ta mới về trung đoàn pháo hạng nặng, anh ta hớn hở, và cảm thấy ở đây như ở sâu trong hậu phương. Anh ta không phản đối đại đội trưởng.

       Họ lê bước qua chỗ trũng. Gió dồn tuyết xuống, tuyết đang tan lúc thì bùng nhùng dưới chân, lúc thì thình lình sụt xuống, khi ống ủng sục xuống tuyết thì họ phải trèo ra khỏi tuyết. Phía trước cánh đồng nổi cao lôn, ở nơi đó bầu trời dựng lên thành bức tường xám xịt, cứ như đầy bồ hóng, trước mặt họ tuyết mới rơi trên đỉnh sáng trắng. Ở nơi nào đó phía bên phải, tiếng đại bác dội lại ầm ầm. Không quân không hoạt  động. Ở tầm nhìn xa như thế này, các phi công chỉ ngồi ru rú tại sân bay, chơi đô-mi-nô giải buồn. Chắc là sân bay của ta cũng lầy lội ; máy bay không cất cánh, hạ cánh được..

       Họ nằm quan sát trên đỉnh cao, trong các bụi cây thưa thớt và giở thuốc ra hút. Cho dù Trêchiakôv cố căng cặp mắt sưng húp lên vì nhiễm lạnh : không thấy hào, không thấy hầm, không thấy một dấu vết nào. Chỉ có cánh đồng tuyết trắng và chốn xa xăm ẩm ướt đang chìm dần trong màn hơi nước.

       Khi bò trên tuyết, người anh đẫm mồ hôi, cơn ho ngừng hẳn. Nhưng lúc này anh lại ho dữ hơn.
       - Nuốt một chút tuyết, — Ôbuxôv khuyên.

      - Cậu cũng nói vậy ư !

      Trêchiakôv nuốt khói âm ấm, cố giữ nó nơi cổ họng. Nghe thấy rõ tiếng tuyết tan rơi xào xạo từ trên các cành cây xuống và mặt còn cảm nhận được cả ánh sáng khuyếch tán của mặt trời ấm áp, mắt thường không nom thấy, đang nhởn nhơ đâu đó trên cao tít.

      - Nhìn kìa ! — anh chỉ cho Ôbuxôv thấy.

      Một chú muỗi con vẩn vơ bay trong không khí bên bụi cây, các cành cây trơ trụi ẩm ướt sáng lên lờ mờ.
      - Chúng tỉnh dậy rồi, đánh hơi thấy khí trời ấm áp. — Ôbuxov nói. —Tuyết đã thoang thoảng tiết xuân rồi đấy.

      - Bây giờ mũi tôi chẳng thấy mùi gì, tắc tịt hết…

     Họ vừa chuyện trò thầm thì, vừa lắng tai nghe, Ôbuxôv đào được thứ cỏ xanh như hành, đông cứng lại từ năm ngoái dưới lớp tuyết bên gốc cây, anh ta cho cả cụm cỏ vào miệng nhai, mắt nheo nheo : thèm rau. Do bị viêm họng, Trêchiakov cảm thấy băng lạnh toát. Hai đầu gối anh ướt sũng vì anh quỳ trên tuyết, mỗi lúc một lạnh hơn, anh vươn người duỗi chân.
       - Đồng chí trung úy, chúng ta không đè phải quân Đức đấy chứ ? Ôbuxôv hỏi nghiêm túc. — Phía trước hình như không có bộ binh..

      - Hình như thế.—Trêchiakôv đứng dậy trước tiên…


Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #64 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2018, 04:26:22 AM »



      Họ lùi lại khoảng ba mươi bước, và có cái gì đó hiện lên đen đen. Trêchiakov tháo dây khỏi vai, cầm súng tiểu liên trong tay,  ra hiệu cho Ôbuxốv đi cách ra. Anh đã hành động đúng, không đem theo bốn trinh sát, mà chỉ đưa có một người. Phía sau bầu trời sáng sủa hơn cánh đồng, mặc áo capốt sậm màu trông họ càng hiện rõ mồn một trên tuyết ; bọn Đức để họ đến gần rồi sẽ diệt cả bốn.

       Đống cỏ khô từ năm ngoái hiện lên sau tấm màn lay động đang loãng dần, chiếc mũ tuyết trên đống cỏ khô đang tan ra. Nếu bọn Đức đặt súng máy dưới đống cỏ khô…. Nhưng xung quanh không thấy dấu vết nào, họ tiến lại gần.   

      - Đồng chí trung úy, có trường hợp như thế xảy ra trong lúc đồng chí vắng mặt ở tiểu đoàn. — Và Ôbuxốv ngả lưng vào đống cỏ…

       - Lưng đủ ấm rồi, đi thôi !

      - Họ vừa mới đưa đồng chí đi thì….

      - Hết chiến tranh sẽ kể !

       Và họ tiếp tục đi khắp cánh đồng, nhận ra nhau mờ mờ. Khi những cây bạch dương trơ trụi ướt át của khu trại hiện ra sau màn sương ẩm ướt đạn bắn vào bọ. Từ quầng sáng hắt lên, những đường đạn lao vút về phía họ : bọn Đức bắn đạn lửa giữa ban ngày.

       Họ đã nằm xuống tuyết rồi mà súng máy vẫn chưa hài lòng, tiếp tục nện trên đầu họ. Họ bò cách xa nhau hơn, để chính xác cho việc gọi bắn, Trêchiakov lia thêm vài loại đạn khiêu khích ; chúng lại bắn thêm lần nữa. Thế là lại sáng rực lên từ hai phía. Sau đó là súng cối lên tiếng. Họ nằm chờ. Rồi nhổm dậy, đua nhau chạy vào đống cỏ. Tên bắn súng máy gửi với theo những cái quạt rực rỡ, sáng chói trong sương mù.   

       - Tôi đã bảo, phía trước không có bộ binh mà — Ôbuxốv vui vẻ trước sự hiểm nguy kề bên, nói khoe khoang…

      Trêchiakôv lắp đầy đạn vào băng súng tiểu liên Đức:
      - Bọn Đức ngu thật, chúng có thể để mình đến gần.

       Ngực anh đã yên yên, cơn cảm lạnh biến đi đâu mất.

      - Cứ đợi đấy, từ đằng đó bọn Đức sẽ nống ra !

      Ôbuxôv nói ra vẻ khoái chí.   
     - Lấy gì mà nống ra cơ chứ .

     - Chúng nó có đấy !

     Họ trở về vui vẻ. Và con đường trở nên ngắn hơn.

       Ngoài trận địa pháo, các chiến sĩ loay hoay trong bùn lầy, đào hầm cho pháo. Đại đội trưởng Gôrôdilin nghe vẻ hoài nghi, cứ hỏi đi hỏi lại : «Thế bộ binh, bộ binh của ta ở đâu ?». Bắt kể lại xem họ đã đi như thế nào, chúng bắn họ từ nơi đâu, và vẫn không sao chấp nhận được rằng đại đội của họ, những cỗ pháo hạng nặng của họ, đậu ở nơi này mà không có bất cứ một sự bảo vệ nào, đạn pháo lại gần cạn sạch, mà bọn Đức thì ở ngay phía trước.

       - Đại đội trưởng này, để chúng tôi đi sang cánh trái xem, sẽ biết ngay ai đang ở đó ? — Trêchiakôv yêu cầu.

       Nhưng vì sao đó đại đội trưởng bỗng nổi giận :
       - Các cố vấn...các anh còn dạy bảo điều gì nữa!...

       Ngày ẩm ướt. Trời trở nên tối sớm. Chỗ đó, trên điểm cao nơi anh và Ôbuxôv hút thuốc trong bụi cây nhỏ, vào lúc chiều tà đã được chiếm làm đài quan sát, và họ đã rải dây lên đó. Lính trinh sát vừa sưởi ấm, vừa lần lượt thay nhau dùng xẻng đào đất, vừa quan sát. Trời đã tối hẳn. Sương mù dày đặc, phủ kín cánh đồng, và chẳng mấy chốc sau thì không nhìn thấy gì nữa..

       Dưới sâu đất đông cứng lại, xẻng đào không được. Họ đắp một ụ đất không lớn lắm ở phía trước, bẻ cành cây, mang cỏ khô đến. Họ ngồi đó, lắng tai nghe ngóng. Trêchiakov cảm thấy người đang lên cơn sốt. Lưng anh lạnh ghê gớm, chốc chố người anh cứ run bắn lên.

       Khi trời tối hẳn, họ nghe có tiếng bước chân và hơi thở nặng nhọc của một vài người, ai đấy ở trận địa pháo đang lên chỗ họ. Họ im lặng chờ đợi. Hơi thở nặng nhọc nghe mỗi lúc một gần hơn. Phía quân Đức mờ mờ sáng ; ở đó, pháo sáng chưa bay lên cao đã tắt ngấm, và bị sương mù bóp nghẹt. Nhờ ánh sáng lập lòe, họ trông thấy rõ bốn người. Đang lần bước theo đường dây. Cao hơn những người khác nửa mái đầu, đó là Gôrôdilin, và ai đó dáng nhỏ bé đi bên cạnh. Khi họ đến gần hơn, mọi người nhận ra người đó là tiểu đoàn trưởng. Hai trinh sát đang hộ tống họ.

       Hóa ra, đại đội bốn đã đến, đang ổn định tại trận địa. Tiểu đoàn trưởng hỏi đi hỏi lại xem ở đây, họ nghe ngóng thấy những gì. Ông hỏi đi hỏi lại và nhìn vào tận mắt từng người. Rồi suy nghĩ :
       - Thế nào, đại đội trưởng — ông nói với Gôrôdilin — Tôi với anh cùng ở đây đến sáng chứ !

       Và sau khi cử Trêchiakov về trận địa để anh được ấm áp đôi chút trong khu trại, ông nói :
      - Đến sáng cậu ra thay cho cho chúng tớ. Sẽ đúng như thế nhé !   

      Rồi ông tự gật gù với chính mình…



Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #65 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2018, 05:31:30 AM »

       

       XXV.



       Đêm ấy thật dài. Suốt đêm anh uống hết nửa thùng nước, mà cơn sốt vẫn không hạ, đôi môi khô nóng nứt nẻ đến rớm máu. Anh cảm thấy mình hoàn toàn không ngủ được, mơ và thực lẫn lộn trong nhận thức. Mắt anh mở thao láo ; trong ánh than hồng, Lavrenchev ngồi bên đống lửa, kê chiếc cặp dã chiến lên đầu gối viết lách gì đó, môi mấp máy. Giữa các vỉa kèo là một quầng sáng hồng hồng và người nào khác nữa bên đống lửa, bóng người ấy lay động phía sau, che khuất nửa gian nhà kho. Anh mơ thấy hay anh trông thấy điều đó ? Và đêm mãi vẫn chưa qua.

       Anh ra ngoài một vài lần. Sương mù từ cánh cửa bốc lên cuồn cuộn ; trong sương mù anh thấy khó thở ; từ bóng tối nhà kho anh cảm thấy mình vừa bước vào một đám mây trắng, chứ không phải bước qua ngưỡng cửa ; đôi chân anh dè dặt dò dẫm mặt đất ở phía trước.

      Sáng ngày ra, anh tỉnh dậy, ướt đẫm mồ hôi và mệt mỏi. Nhưng anh lại cảm thấy khỏe khoắn. Mọi vật đều sáng bừng trước mắt anh, gian nhà kho trống rỗng trở nên cao hơn, to hơn. Lavrenchev cởi trần đang rửa mặt bên cạnh tường, người nổi gai. Hơi bốc lên từ thân thể cường tráng, từ hai bên bả vai đầy lông, anh ta rên lên, thích thú vã nước vào người, nước chảy từ ngực, từ bụng xuống.

      Trêchiakôv ngồi bệt xuống đất. Qua đêm, mặt anh hốc hác, mắt trũng xuống, anh cảm nhận được điều đó. Nhìn đống tro, Trêchiakôv  chợt nghĩ : ở đó chắc vẫn còn nóng, giá có trà mà hâm. Và anh trông thấy những tàn tro nhẹ bỗng bị không khí cuốn lên, rồi biến mất. Một chiến sĩ đứng trước cửa nhà kho vừa bị giật tung ra. Anh ta còn chưa kịp nói, thì Trêchiakov đã rờ tìm được chiếc mũ trong đống rơm :
      - Xe tăng !   

      Các chiến sĩ thấp thoáng ngoài cửa. Vừa chạy Trêchiakov vừa nhìn thấy Lavrenchev choàng chiếc va-rơi lên ngực ướt đẫm : mới chui được nửa áo, vai còn vướng, nhưng anh ta cứ thọc tay vào.

      Từ bên ngoài, tiếng kim loại va ầm ầm chối tai. Phía trước một chiến sĩ đang chạy trượt chân trên tuyết ướt hốt hoảng đứng lên. Và đột nhiên anh ta rẽ ngoặt sang bên, cúi lom khom sát đất.
      - Đi đâu ? Trêchiakov quát như sấm. — Quay lại !

       Nghe tiếng quát, anh chiến sĩ càng cúi thấp xuống nhảy vào hầm pháo. Các pháo thủ đang loay hoay xoay pháo, chân mang ủng chật căng dầm trong tuyết ẩm lẫn bùn nhão.   

        - Kìa ! Chúng kia kìa — Paravian đưa chiếc găng chỉ trỏ ngoài lá chắn, và anh quay mặt lại, mặt anh vốn trông đỏ au nay tái xanh tái xám lại.

       Sương mù là là trên mặt đất, trong không mờ hơi nước, từ trận địa pháo có thể trông thấy rõ mọi vật khoảng một trăm năm mươi mét. Và ở đằng kia, cây cối đẫm sương như những chiếc bóng đứng làm giới hạn của con đường : từ trên đồi chạy xuống dưới thấp và rồi lại từ dưới chạy lên đồi. Sau đường viền đó, mọi vật nhòa đi : qua đêm tuyết xám đã sụt xuống, dưới lớp tuyết ấy đất vẫn ẩn kín, và phía xa ám như chiều buông.   

      Trêchiakov nhìn về phía đó, tim anh bỗng hẫng hụt, chân chợt bủn rủn. Xe bọc thép xuất hiện sau hàng cây, bò dọc con đường : những cái xác nặng nề đần độn của chúng trông hệt như những cụm sương mù. Và anh vừa trông thấy chúng thì ngay lập tức tiếng động cơ gầm rú đã vang lên rõ hơn, gần hơn.

      - Một, hai, ba... — Paravian đếm.

      Xe bọc thép thọc vào bên sườn, phía mặt trận nơi đường dây điện thoại rải đến tận đài quan sát, vẫn yên ắng như lrước.
      - Chuẩn bị chiến đấu ! Trêchiakov kêu lên, bứt khỏi  giây phút lúng túng, nhảy lên miệng hào. Từ khẩu đội hai cũng vọng lại...«Chiến đấu!». Lavrenchev đứng đó, tay đã xỏ được vào áo capốt.

      Xe bọc thép vẫn xuất hiện trên đồi, chạy trong sương mù, mờ mờ chuyển dịch sau hàng cây. «Mười bảy, mười tám, mười chín» - Paravian lẩm nhẩm đếm. Tiếng búa tạ nện vào kim loại vang lên : Naxrullaev mặc áo varơi đang đóng lưỡi cày xuống nền đất đông cứng.

Anh vung búa qua vai, đập xuống và kêu lên. Các pháo thủ đang chờ đợi sau lá chắn, ngoảnh lại nhìn anh ta. Nhắm thẳng phía con đường, nòng pháo chậm chạp di dộng.

      - Chỉnh đường ngắm — Một thân ! — Từ trên cao, Trêchiakov nói với pháo thủ số một, rồi chính anh cũng ngắm và lắc đầu. Có cái gì vương vướng, quệt vào hai bên má. Lúc đó anh mới nhận ra : anh đội mũ trùm kín tai nằm ngủ và bây giờ vẫn mang chiếc mũ ấy. Anh sốt ruột đưa tay lột chiếc mũ xuống, để tay có việc, anh giữ chiếc mũ nơi ngực buộc hai bên tai mũ lại. Anh đứng đó đầu trần dõi nhìn con đường và thở dốc. Tay anh run run, không tài nào buộc được quai mũ. Anh nhin thấy và biết rằng trận chiến đấu này sẽ ngắn ngủi lắm. Khẩu đội anh có chín viên đạn đại bác, khẩu đội hai có tám viên. Từ đằng sau ngọn đồi, xe bọc thép tiếp tục xuất hiện. Tiếng búa tạ điểm thời gian. Đúng lúc ấy, khi Naxrullaev vừa quẳng búa xuống, anh vẫy mũ :
      - Bắn !

......................
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #66 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2018, 05:30:23 PM »



      Lửa bùng lên, đất dưới chân rung chuyển. Đạn bay vọt lên sau con đường, ở đó một cái cây đung đưa rồi đổ gục xuống trong sương mù. Đạn còn bay vọt lên vài lần nữa : Lúc thì trên cánh đồng, lúc thì sau con đường. Pháo thủ số một cuống lên, mất bình tĩnh. «Tôi sẽ chặn nó lại ngay bây giờ!». Những viên đạn , nóng rực va vào lá chắn, kêu xèo xèo trong bùn. Khắp mọi nơi trên cánh đồng, đạn lửa lao vun vút về phía đại bác. Xe bọc thép rẽ ngoặt khỏi con đường, lao vào đại dội. Chúng bò ra khỏi màn sương, sương mù đã tan bớt trước mũi xe bọc thép, và từng chiếc xe một lóe lên, lóe lên nhả đạn, phía dưới những loạt đạn lửa băm vằm khắp cánh đồng. Trông thấy rõ bọn xạ thủ tiểu liên nhảy ra khỏi xe bọc thép, chạy thành từng đám sau xe và từ phía chúng những đường đạn cũng tới tấp bay đến……

       - Trabarôv ! Trêchiakôv nhảy xuống hào và quát lên. Anh trông thấy gương mặt rỗ hoa cau có của Trabarov thấp thoáng phía bên kia khẩu pháo — Bắn, cắt rời bọn bộ binh !

     Và anh thở vào bên tai pháo thủ số một :   
     - Đừng vội. Ngắm đi. Đừng vội.

      Và anh thầm tính trong đầu : còn tới năm quả đạn. Năm phát súng. Khẩu đội hai bắn. Nơi nào đó phía sau khẩu đội bốn cũng gầm lên. Có nghĩa là ở phía đó quân Đức cũng đã lọt vào.

      Có tiếng rít ù ù dưới thấp. Đạn cối ! Lưng pháo thủ số một rung lên. Anh ta không rời mắt khỏi kính ngắm, vẫn tiếp tục ngắm, cảm thấy viên đạn đang bay, lưng anh ta võng xuống, mồ hôi chảy ròng ròng trên má, những giọt mồ hôi đùng đục rung rinh nơi cằm.

     Khi pháo bắn, đạn cối còn rít lên trên đầu họ. Sau lá chắn, Trêchiakov trông thấy: ở phía trước một chiếc xe bọc thép đã chạy thoát, xạ thủ tiểu liên, nhảy qua thành xe — tất cả bỗng nổ bùng lên, khắp các phía ở đằng xa lửa đạn bắn tung lên, một tên lính đội mũ sắt, tay giơ cao khẩu tiểu liên, đang còn co chân nhẩy trong không trung, đã bị đạn nã vào trán.

      Ngay lúc đó đạn cối nổ, quả nọ nối tiếp quả kia. Khi Trêchiakov nhổm lên, người anh đầy bùn loãng, ai đó động đậy giữa những chiếc càng pháo, rên rỉ. Những người sống lần lượt ngóc dậy. Từ khẩu đội hai, một pháo thủ vội vàng chạy đến. Khẩu đại bác vẫn nằm trong chiến hào nòng chĩa ra cánh đồng, hai càng pháo choãi ra, còn mọi người, đang bỏ chạy, Lavrenchev trông cao to trên những người khác, mặc áo ca-pốt mở phanh. Ầm! một tiếng nổ quét sạch những người đang chạy. Lavrenchev tay ôm lưng, gập người rồi ngã xuống.

      Và ai đó kêu lên :
      - Xe tăng !

      Xe tăng ra khỏi làng, ra khỏi Kravsôv, luồn vào sau lưng đại đội. Gian nhà kho mà họ vừa ngủ lại đã sụp xuống và nhích lên phía trước. Chiếc xe tăng cựa quậy trong gian nhà kho, tháp pháo quay tròn, cột gỗ lăn tuột khỏi xe tăng, mái nhà rơi xuống bên sườn xe. Cỗ pháo bị bỏ rơi trong chiến hào nẩy tung lên, hệt như nó vừa tự bắn xong và sụt xuống trong khói súng.

       Dưới làn đạn, Trêchiakov cúi gập người, trông thấy hết mọi sự, anh trông thấy xe bọc thép chạy khắp cánh đồng, khạc đạn, và anh còn thấy cả nỗi kinh hoàng trên mặt những người đang chạy tán loạn. Phải tháo khóa nòng... và anh chưa kịp kêu lên, đạn cối đã nổ vùi tất cả mọi người xuống đất. Anh nằm đó, đầm trong bùn lầy,  nghe tiếng đạn cối bay vào chiến hào. Và một ý nghĩ khủng khiếp trĩu nặng : xe tăng giết hết mọi người rồi sẽ lọt vào đây. Tiếng đạn cối rít lên gần bên. Tiếng động cơ gầm rú, Trêchiakov chống tay lên :
      - Chạy đến khe xói ! Đến cánh rừng thưa ! Đằng đó có tuyết...

      Anh ngã xuống trước khi đạn nổ.. Tiếng nổ ầm vang Anh ngóc đầu khỏi mặt đất :
      - Đến cánh rừng thưa ! Đằng đó có tuyết dày ! Tất cả hãy đến đó !

      Đạn rít trên đầu. Anh nhổm dậy :
       -  Paravian ! Tháo khóa nòng ! Nhanh lên !

      Paravian đứng trong chiến hào, tay bíu lấy khẩu pháo, mặt tái xanh. Và ở bên sườn …Anh trông thấy và không tin ở mắt mình, sườn anh ta rách toang, phơi ra ngoài cả lá phổi đỏ tươi, phập phồng. Paravian há cái miệng tê cứng, hở cả răng, cố hớp hớp không khí.

      Ai đó run lập cập lúng túng tháo khóa nòng. Nax- rullaev. Anh ta đưa đôi mắt không biết sợ hãi, âu yếm kiểu trẻ con nhìn anh trung thành.
      - Chạy đi, Elđar !

      Ôm chặt chiếc khóa nòng nặng trịch vào bụng. Naxrullaev ngó nhìn và bắt đầu chạy.

      Paravian ngồi bệt xuống đất. Mặt đầy nước mắt và mồ hôi, đôi đồng tử đã mờ đục. Trêchiakov quì gối, toàn thân căng ra, anh trút băng đạn súng tiểu liên vào túi áo capốt. Bên trên súng vẫn nện giòn giã. Anh quàng dây khẩu tiểu liên vào cổ. Và gập người, nhẩy ra khỏi chiến hào. Người chạy trên khắp cánh đồng. Người thì vừa chạy vừa nhìn quanh, người thì ngã sấp xuống, nhổm lên chạy tiếp. Từ bên sườn, một chiếc xe bọc thép lao về phía Naxrullaev. Naxrullaev quăng  chiếc khóa nòng, khom người vút lên. Một băng đạn lửa găm vào anh ta. Đã ngã xóng soài, anh ta vẫn còn gượng dậy. Trêchiakov không nom thấy vòng xích nghiến lên người Naxrullaev, nhưng tiếng kêu của anh ta không còn là tiếng kêu của con người đã xuyên thẳng vào trái tim anh.   

       Anh chạy dưới làn đạn, thở hồng hộc, cảm thấy đôi chân yếu đi, tê dại hẳn. Ngạt thở. Mắt tối sầm lại, quay cuồng, và vạt tuyết trắng tinh vẫy gọi, quyến rũ anh tới. Rồi cuối cùng anh không chạy được nữa, bước đi bằng đôi chân chỉ chực khuỵu xuống, và hớp lấy không khí bằng hai lá phổi bỏng rát. Anh ngã sấp mặt xuống tuyết. Trên trời tiếng động cơ gầm rú vùn vụt lao xuống anh.

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #67 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2018, 09:01:01 PM »


      XXVI.





      Trong cuộc tấn công vĩ đại mùa xuân năm 1944, triển khai tại miền Nam Ukraina, cuộc phản công của quân Đức ở vùng Apôxtơlavơ không thể làm thay đổi được gì — cả tiến triển của cuộc chiến tranh, cũng như tiến triển của lịch sử. Cuộc phản công ấy chỉ tạm thời làm chậm lại cuộc tấn công ở vùng này, trong phạm vi của các sự kiện đang diễn ra nó khppng mang một ý nghĩa nào. Nhưng đối với những người đã chống đỡ đòn tấn công ấy, thì đậy lại là cuộc sống ban ơn cho họ sống lần nữa..

       Mùa xuân bất thường đến sớm một tháng, biến những con đường mùa đông thành đất đen lầy lội, khí tài nặng chìm ngập trong đất bùn, xe chở đạn dược sa lầy, các cơ quan hậu cần rải dài trên những quãng đường dài hàng nghìn kilômét, và nhiên liệu chở ra mặt trận thì bị cháy trên đường. Nhưng họ đã kéo pháo lên, quân đoàn xe tăng tiến đến, đuổi kịp toán quân bị bọn Đức đột phá, và chính những chiếc xe tăng và xe bọc thép của quân Đức từng chọc thủng trận địa pháo, từng nã đạn và cán chết họ, giờ đây chúng bị phá hủy, bị bắn cháy và thậm chí vẫn còn có cái nguyên vẹn, tất cả đều lăn lóc, ngập trong bùn lầy trên khắp các cánh đồng.

      Sang ngày thứ ba họ chôn cất các pháo thủ đã hy sinh. Tuyết tan hết, chỉ còn ở chỗ trũng và bên cánh rừng thưa hồi mùa đông gió dồn tuyết lại là còn những cục tuyết lấm lem xam xám. Những vũng nước lấp lánh dưới ánh mặt trời, các chiến sĩ đã hy sinh nằm giữa các vũng nước. Trên khắp cánh đồng, mặc áo capốt, áo bông ướt sũng, họ nằm cứng đờ lại nơi tử thần bắt gặp họ. Cánh đồng canh tác nằm ở khu trại Kravsov, năm này qua năm khác họ gieo trồng, gặt hái lúa mì, và mùa thu nào họ cũng lùa ngỗng ra cánh đồng rạ, giờ đây đối với họ, cánh đầu ấy trở thành bãi chiến trường cuối cùng trong cuộc đời của mình. Các chiến sĩ còn sống trượt chân trên đất đen màu mỡ, khó nhọc nhấc ủng lên khỏi mặt đất, đi lại, tìm kiếm và nhận biết những người hy sinh.

      Trêchiakov tìm thấy Naxrullaev không xa cánh rừng thưa, khoảng hai trăm năm mươi mét kể từ chỗ chính anh ngã xuống tuyết và loạt đạn súng máy cuối cùng lia trên đầu anh. Anh nằm đó, ủng bết hàng pút dầu đen, chân bị cán nát vặn vẹo một cách bất thường. Anh nằm ngửa, phơi mảng bụng vàng vàng để hở, chiếc áo bông bị xô lên tận cằm, đôi bàn tay lần cuối cùng gắng gượng đưa lên che mắt, nay đã cứng đờ, lơ lửng trên người và bất động trong vũng nước tuyết tan phẳng lặng. Một đám mây trắng lướt qua in bóng trong vũng nước. Lúc đó, anh ta kêu lên kinh khủng làm sao! Vành miệng đen ngòm, răng nhe ra đau đớn, dường như cho đến bây giờ vẫn giữ được những tiếng vọng câm lặng của tiếng kêu ấy.

      Lần đầu tiên, Trêchiakov trông thấy anh ta, khi anh tiếp nhận trung đội, và từ đó anh còn nhớ mãi. Các chiến sĩ cởi trần đào hầm trú ẩn sau nhà, Naxrullaev nổi bật hẳn lên giữa đám lưng đẫm mồ hôi, phơi dưới mặt trời, lực lưỡng như võ sĩ, ngực đầy lông. Trong danh sách có ghi họ tên Đzeđzelasvili, không hiểu sao Trêchiakov đã nghĩ ngay đó chính là anh.

       Trong hầm pháo, Paravian ngồi giữa hai càng pháo mở rộng, lưng tựa vào một bên, đầu không đội mũ rũ xuống ngực. Một vệt máu khô vắt chéo từ gáy đến mang tai. Có nghĩa là Paravian vẫn còn sống nhưng một tên Đức nào đấy, rẽ ngang qua và bắn vào anh.

       Họ lượm được mười chín người trên cánh đồng và mai táng ở Kravsov. Không thấy Lavrenchev trong số đó. Nhiều người trông thấy anh ta ngã lộn xuống, tay ôm lưng, có thể Lavrenchev vẫn sống và bị bắt làm tù binh. Rồi chúng xả súng vào họ. Suốt chiến tranh, Lavrenchev ở đơn vị pháo chống tăng, sau khi ra viện anh ta chuyển sang trung đoàn pháo hạng nặng, anh ta vui sướng vì điều đó và cố gắng làm việc, ở trung đoàn pháo mọi chuyện đều tốt đẹp

      Anh ta bảo:
      - «Ở đây tôi có thể chiến đấu được ! ».

      Ngày xuân rực rỡ. Mặt trời lộng lẫy. Thế mà có một cái gì đó buông xuống trước mắt Trêchiakov, trời và
ngày trở  nên tối sầm lại — bóng tối trùm lên tất cả.

       Lính đầy chật sân của khu trại, xe máy, xe ngựa, đại bác nằm khắp nơi, các chiến sĩ vội vã đi từ sân này sang sân kia, lửa cháy rực trên mặt đất, các bếp ăn khói bay nghi ngút. Mùi khói bếp, mùi phân ngựa, mùi xăng quyện vào nhau.

      Ở ngay sân bên cạnh mọi người í ới gọi Trêchiakov:
      - Đồng chí trung úy ! Đồng chí trung úy!

..........................
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #68 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2018, 08:30:57 PM »

       

        Cả trung đội anh ngồi bên bức tường nhà trắng toát được mặt trời sưởi ấm. Chiếc xe bò không còn bánh lật úp xuống giống như chiếc bàn, mọi người tùy ý  vây quanh. Họ nhường chỗ cho anh. Một chiến sĩ tóc hung hung má lúm đồng tiền, mặt đỏ như gấc chạy vào bếp, nơi góc sân, đông đặc người, vừa chen lấn vừa la hét, rồi bưng gamen xúp ra. Anh ta không mặc áo capốt, vai rộng, hông nhô, dây lưng thắt chặt. Bê chiếc gamen lên, Trêchiakov vẫn chăm chú nhìn vào mặt anh ta. Đôi mắt mầu hung hung, tươi tỉnh nằm dưới hàng mi trắng. Đzeđzelasvili Naxrullaev. Anh vẫn chỉ nhìn thấy Naxrullaev, anh ta đang bóp trán, chiếc mũ lưỡi trai của anh ta lơ lửng trước mắt anh, che đi ánh mặt trời. Không, anh không bị sức ép, mà chỉ choáng váng thế nào đó, và rồi không sao tỉnh lại được : trông thấy hết, nghe thấy hết, nhưng chậm hiểu.

       Chỉ đến khi ăn xong, anh mới nhìn xem mình ăn món gì. Trong gamen có món xúp đậu Hà Lan nấu nhừ vàng sánh. Trêchiakov tay cầm thìa, mắt nhắm lại nhưng trong thâm tâm anh đang nhớ đến những người hôm nay không còn ở bên đồng đội. Họ vẫn đang ở đây, có thể lúc này họ đang chen chúc bên bếp, có thể họ đang ngồi ngoài nắng.   

       Bức tường ngôi nhà bằng đất sét đã được quét vôi lại bị các mảnh đạn làm lở lói. Ruồi vo ve, đậu đầy tường. Những chú ruồi xanh ruồi vàng uể oải sau mùa đông, giờ sống lại dưới nắng xuân. Con người đã hy sinh để làm gì ? Con người sẽ còn hy sinh nữa để làm gì? Chiến tranh đã kết thúc, kết thúc thật rồi. Và không thể đảo ngược được điều đó, chúng ta đã chiến thắng. Nhưng những người khởi sự ra cái chết lại đang cố kéo căng thời giờ của cái chết, vẫn điều ra mặt trận không chỉ một tiểu đoàn bộ binh hay xe tăng, và con người vẫn bắn nhau, vẫn chết và còn biết bao người sẽ chết.

        - « Đầm già! » - họ kêu lên trong sân. Và trong khu trại tiếng í ới từ sân nhà nọ lan sang sân nhà kia.

        - « Đầm già! ».

       Chiếc máy bay trinh sát hai thân của Đức « Phôkkevulphơ» lượn vòng, kêu ù ù tít trên cao. Mặt trời chói chang, đạn cao xạ nổ trắng xóa trên trời xanh đuổi theo chiếc máy bay. Không nom thấy chiếc máy bay, chỉ thấy lấp loáng ánh nhôm dưới mặt trời. Ở dưới, tất cả mọi người ngửa mặt lên nhìn. Suốt cuộc chiến tranh đã bao lần Trêchiakov trông thấy máy bay rơi, nhưng chưa lần nào anh trông thấy «đầm già » bị bắn rơi. Đạn cao xạ vẫn nổ trắng xóa trên trời đuổi theo chiếc máy bay, trên không tiếng đạn nổ dày đặc, vang lên rất lạ và nghe chói tai.

       Nhảy lên chiếc xe bò, Kưchin giơ khẩu các-bin bắn theo.   
       - Xuống! — Tsabarov nói với anh ta.— Sao, cậu muốn hạ nó hả ?   
   
      Trêchiakov chán ngấy những tiếng đùng đoàng bên tai, bèn bảo :
       - Xuống !

      Lia hết băng đạn, Kưchin hài lòng mỉm cười :
      - Nó bay một lát rồi ngoẻo.

      Vẫn là Đzeđzelasvili Naxrullaev thu dọn ga men đi rửa trong vũng nước : hôm nay anh ấy «làm anh nuôi». Tất cả mọi người bắt đầu hút thuốc. Mặt trời mệt mỏi bên bức tường. Ngựời sống kể chuyện sống. Tsabarov kể chuyện mùa xuân ở Tatari quê anh họ hun ngỗng như thế nào.
      - Ở chỗ tôi mặt trời tháng ba mới đích thực là mặt trời. Tuyết vẫn còn mà mặt trời đã chói chang, không bụi bặm, không ruồi nhặng. Những chú ngỗng béo núc đi lại khắp sân. Đã được chén món thịt ngỗng hun thì không muốn biết món đồ nhắm nào khác.

       - Này ! — Ôbuxov vội vàng nói.

      - Này cái gì? — Tsabarov không thích người khác ngắt lời mình.

      - Thế họ hun như thế nào ?

      - Rất đơn giản…

      Và cuối đường chiếc «Villix» của trung đoàn trưởng từ trong ngõ hiện ra.

      Có ai đó kêu lên :
       - Tiểu đoàn một !....

      - Chà, trung sĩ này — Kưchin nói,— giá chúng mình được nếm món ngỗng hun của cậu…

      Ở sân bên cạnh, động cơ xe xích nổ xình xịch, ngựa hí lên the thé….

Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 758


« Trả lời #69 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2018, 07:25:48 PM »

       


      XXVII.





      Gió từ biển thổi vào ẩm ướt, ấm áp đẩy mùa xuân về phương Bắc. Các bình nguyên bao la lộ ra dưới lớp tuyết. Ở phương Nam, đường sá khô ráo và cuộc phản công của quân ta diễn ra suốt dọc vùng duyên hải Ukraina. Cả Krivôi Rog và Nhikôpôl đều lùi lại phía sau, quân ta vượt qua sông Ingules, dũng cảm đột phá, tiến về giải phóng Ôđetxa.

       «...Cuộc sống của gia đình ta, bây giờ là chờ vào bản thông báo này tới bản thông báo khác, — mẹ viết.— Vắng thư con, lòng mẹ nặng trĩu. Có lần giữa ban ngày mẹ nghe thấy tiếng con gọi mẹ. Thế là mẹ đứng ngồi không yên. Sau đó, Lilia từ ngoài đường chạy về, em nó gặp bác đưa thư. Mẹ và em phát khóc lên vì sung sướng, cả hai mẹ con cùng đọc thư và thoạt đầu chẳng hiểu gì cả. Tất nhiên, con dối mẹ, để mẹ khỏi lo lắng, chứ những trận chiến đấu ở chỗ con, chắc chắn là khủng khiếp, dù họ có nhắc tới Apôxtôlôvơ ở trên đài…».

      Còn Xasa viết :   
      «Em đang khuyên mẹ mùa xuân này không trồng rau, nhưng mẹ lại sợ. Phaia bảo ‘sang thu bác hãy dỡ khoai tây, bác nên đi cùng với em nó, không có em nó thi bác biết đường nào?‘. Em rất muốn về nhà, nhưng không thể được. Em đi từng trải qua những điều đáng sợ nhất, nên bây giờ thế nào cũng được. Chà ! Em quên bẵng không viết cho anh biết ; Phaia sinh con gái. Con bé mới vui nhộn và thông minh làm sao, nó nhận ra em rồi đấy. Nhưng nó chẳng giống ai cả».   

       Làn gió ấm áp khẽ lật hai tờ giấy xé từ vở của Lianka và Xasa trong tay anh. Ngoài thảo nguyên, mặt trời chưa lên cao mà lưng đã nóng lên lên dưới lần áo capốt, chiếc mũ mùa đông sau gáy làm cho đầu thêm bức bối. Người anh khe khẽ lắc lư trên chiếc xe xích, rồi chìm vào giấc ngủ. Hai mi mắt nặng trĩu cữ sụp xuống.

      Ở phía sau, khẩu đội trưởng Alavidze ngửa mặt lên trời, hát một bài gì đấy bằng tiếng Grudia thật hay, nghe như kinh cầu nguyện — Chắc là anh ta đang đón mặt trời mọc. Trêchiakov ngoái cổ lại và nhìn thấy : Alavidze ngồi trên pháo, còn ở phía dưới vẫn là Đzeđ- zelasvili và Kôtzêrava lông mày sâu róm đi bên cạnh.  Cả hai người nhìn anh ta, khao khát chờ đợi Alavidze thể hiện âm điệu. Kôtzêrava vẫy mũ, hai người hòa theo bằng hai giọng nữ kim và bước đi cương quyết như đi ra trận. Có ai đó từ khẩu pháo bên cạnh chạy đến chỗ họ.   

       Phômitsev, vừa điều khiển cần lái máy kéo, vừa lắc đầu :
       - Có lẽ gặp thời đấy. Trông họ kìa : một người cất tiếng hát, tất cả hòa theo, giống như theo mệnh lệnh ấy. Còn hai người nữa chạy theo sau, sợ chậm trễ.

       Anh ta có ghen tỵ đôi chút, cười mỉa mai che giấu lòng mình.

       Mặt trời chiếu ấm áp, trên thảo nguyên làn không khí lay động, khói bom đạn bay lên lặng lẽ. Khi bạn ngồi trên xe xích ngay sát máy nổ, cuộc chiến tranh xung quanh bỗng trở nên lạ lùng, câm lặng. Thỉnh thoảng tiếng máy nổ đều đều trượt ra khỏi tai ; Trêchiakov giật mình thức giấc. Anh gập hai bức thư theo nếp cũ thành hai tam giác. Những bức thư của anh đã gặp những bức thư này ở đâu đó trên đường. Những bức thư của anh còn đang theo đường dây quân bưu ; chắc có lẽ họ sẽ chiếm được Ôđetxa sớm bơn.

       Khẩu pháo của quân Đức bị bỏ lại nằm ngay lề đường. Không hiểu sao đại bác của chúng bao giờ trông cũng có vẻ đồ sộ hơn, nặng nề hơn đại bác của ta. Khẩu pháo ngụy trang, lốm đốm sơn vàng, đang bị sa lầy, nhưng họ cũng không kịp kéo nó lên. Và một chiếc xe tăng Đức khác nữa ở ngay đó, tháp pháo bị hất tung ra xa. Năm bốn mươi mốt, toán bãi chiến trường còn nằm sau lưng quân dịch, cùng với những vũ khí hư hỏng, hay nguyên vẹn, hoặc đã được tu sửa. Bây giờ bãi chiến trường ấy nằm sau lưng quân ta. Còn chính những chiếc xe bọc thép đã chà lên khẩu đội cùa họ ở Kravsov, chắc chưa rời xa khỏi nơi đây.

      Trêchiakov nhét thư vào túi ngực áo varơi, và rút chiếc gương nhỏ đựng trong bao da ra. Chiếc gương rất tốt, dùng được cả hai mặt, và không thể vỡ được: nó là thép mài. Hôm qua lúc mặt trời lặn, lính trinh sát cùng với bộ binh đột nhập vào vạt rừng. Một đơn vị hậu cần nào đó của quân Đức đóng ở đấy. Chúng bỏ chạy hết, vứt lại mọi thứ: nhiên liệu đựng trong phuy chôn dưới đất, thùng đựng đồ hộp; họ còn tìm thấy một thùng rượu trên chiếc xe bò, dưới lớp cỏ khô và chính ở chỗ đó họ tìm thấy bộ quân phục sĩ quan Đức mới nguyên bị vứt lại, trong túi có cây thánh giá bằng sắt và chiếc gương con này. Hẳn là tên Đức bỏ chạy chỉ cầu xin Chúa có một điều: được sống. Và giờ đây, nếu còn sống, hắn sẽ tiếc cây thánh giá, có lẽ hắn sẽ không được phát chiếc mới. Ôbukhov lấy cây thánh giá sắt để chơi, anh nói : trở về, anh sẽ đeo cây thánh giá vào vòng cổ chó — để cho chó sủa.

      Trêchiakov nhấc mũ ra, đặt lên đầu gối tự ngắm nhìn mình trong chiếc gương thép, mơ màng nghĩ đến Xasa, đến mẹ, đến Lianka, đến Ôđetxa, đến Biển Đen phía trước, trong đời anh chưa lần nào đến đó. Chiếm được Ôđetxa phải ngủ một giấc ! Hai ngày hai đêm. Giá như người ta tuyên bố với cả quân ta và quân Đức như vậy : đi ngủ ! Tất cả mọi người sẽ ngả khuỵu xuống và ngủ mê mệt. Chỉ có trong chiến tranh mới không xảy ra chuyện ấy. Trong chiến tranh người ra trận lần đầu sẽ không chịu đựng nổi điều đó. Nghĩ cũng sợ thật, biết bao chuvện đã xảy ra suốt nhưng năm tháng này. Đấy là năm bốn mươi mốt anh còn chưa tham gia chiến đấu. Những người đã tham gia chiến đấu dạo đó, nay chỉ còn lại rất ít. Thật tiếc cho họ — những người hy sinh năm bốn mươi mốt, lúc mà tất cả mọi cái đang sụp đổ. Chính bọ không được trông thấy chiến thắng dù chỉ từ xa.
............................
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM