Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Một, 2020, 03:31:31 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đời tôi - Bill Clinton  (Đọc 160908 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #310 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 04:56:51 PM »

        Tưởng đâu tất cả các hành động kia đều nhằm vào lợi ích tốt đẹp cho cả Mỹ và Nga, ngờ đâu có một vài người lên tiếng phản đối. Yeltsin lúc này đang gặp phải một số chống đối từ phía quốc hội, đặc biệt là Vladimir Zhirinovsky, người đang lãnh đạo một số lượng lớn các nhóm theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan muốn đưa Nga quay trở lại thời vàng son của một đế quốc và cho rằng tôi đang tìm cách làm giảm quyền lực và vây cánh của họ. Nói cho rõ, tôi xin lặp lại rằng người dân Nga nên định nghĩa sự vĩ đại của quốc gia bằng cách nhìn về tương lai chứ đừng nhìn về quá khứ.

        Sau buổi họp báo, tôi có một cuộc gặp gỡ với các thanh niên tại đài truyền hình Ostankino. Các em hỏi những câu hỏi về vấn đề thời sự, nhưng cũng muôn biết các sinh viên Mỹ có thể học hỏi được gì từ nước Nga, rồi hỏi tới việc lần đầu tiên tôi có ý nghĩ trở thành tổng thông Mỹ là hồi mấy tuổi, tôi có những lời khuyên nào cho giới trẻ Nga dự định dấn thân vào chính trường, cũng như hỏi tôi muôn mọi người nhớ đến mình với hình mẫu như thế nào. Câu hỏi của các em làm tôi tin tưởng hơn vào tương lai nước Nga. Các em thật thông minh, bản lĩnh và có một tinh thần dân chủ sâu sắc.

        Chuyến đi diễn ra rất tốt đẹp, phát đi một thông điệp quan trọng về mối quan tâm của Mỹ trong việc xây dựng một thế giới an toàn và tự do hơn, nhưng không ngờ ở quê nhà, điều mà các chính khách và giới báo chí đang khui ra lúc này cũng vẫn là chuyện Whitewater. Trong chuyến đi tôi đã gặp phải những câu hỏi về chuyện này từ một phóng viên Mỹ tháp tùng tôi. Ngay cả trước khi tôi rời Mỹ, tờ Washington Post và New York Times đã đứng về phe đảng Cộng hòa yêu cầu Janet phải chỉ định một công tố viên độc lập. Chỉ có một chi tiết mới trong vụ việc là David Hale, một đảng viên Cộng hòa từng bị buộc tội vào năm 1993 là đã lường gạt Cơ quan doanh nghiệp nhỏ, cho rằng tôi đã yêu cầu ông cho Susan McDougal vay mặc dù cô này không đủ tư cách. Tôi đã không làm thế.

        Tiêu chuẩn để cử một ủy ban độc lập theo luật cũ (đã hết hiệu lực), và luật mới (đang được quốc hội xem xét) là có những bằng chứng đáng tin cậy về hành động sai trái. Trong số ra ngày 5.1 về việc cử ủy ban độc lập trong vụ Whitewater, tờ Washington Post đã thẳng thừng cho rằng "trong vụ việc này không hề có chứng cứ xác thực nào chứng minh tổng thống và phu nhân làm những việc sai trái". Tuy nhiên, tờ Post lại cho rằng dư luận công chúng yêu cầu cần phải có một công tố viên độc lập, vì Hillary và tôi đều cùng phe trong vụ thỏa thuận bất động sản Whitewater (mà đúng ra trong vụ này chúng tôi bị mất khá nhiều tiền), trước khi McDougal mua Madison Guaranty (chúng tôi không hề mượn tiền trong vụ này). Tệ hơn, chúng tôi không hề được giảm thuế sau vụ mất tiền. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử cơn thịnh nộ chống lại chính khách được thổi bùng do chính khách ấy bị mất tiền, không nhận được tiền vay, không được giảm thuế. Tờ Post cho biết đứng đầu Bộ Tư pháp là những nhân sự do tổng thống chỉ định, vì thế họ không đáng tin cậy để điều tra tôi hay chỉ định một người nào khác điều tra tôi.

        Quy định về công tố viên độc lập được ban hành sau khi Tổng thống Nixon sa thải công tố viên đặc biệt Archibald Cox trong vụ Watergate, người được Bộ trưởng Tư pháp của Nixon bổ nhiệm - tức là công tố viên đặc biệt cũng là một quan chức hành pháp có thể bị sa thải. Quốc hội nhận ra việc cần thiết phải điều tra độc lập về những sai trái của tổng thống và những người được ông chỉ định. Quốc hội cũng thấy được mối nguy hiểm trong việc trao quyền lực vô hạn cho một công tố viên không chịu trách nhiệm trước cơ quan nào. Chính vì thế mà luật đòi hỏi phải có chứng cứ xác thực rằng đã có chuyện làm sai. Giờ đây báo chí nói rằng bất cứ khi nào người có dính líu đến tổng thống bị thẩm tra, tổng thống nên đồng ý cử một công tố viên độc lập mà không cần phải đợi đến những bằng chứng xác thực gì cả.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #311 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:01:06 PM »

        Thời Bush-Reagan, hơn 20 người bị kết trọng tội bởi các công tố viên độc lập. Sáu năm sau thẩm tra, Thượng nghị sĩ John Tower tìm ra việc Tổng thống Reagan đã cho phép bán vũ khí phi pháp cho các tên phiến loạn Nicaragua, công tố Lawrence Walsh chính thức buộc tội Caspar Weinberger và năm người khác, nhưng Tổng thống Bush đã ân xá cho họ. Vụ thẩm tra của công tố viên độc lập duy nhất đối với các hoạt động của tổng thống trước khi nhậm chức là với Tổng thống Carter, người bị thẩm tra trong vụ cho vay gây tranh cãi cho một nhà kho đậu phộng mà ông và anh của ông, Billy, sở hữu. Công tố viên đặc biệt mà tổng thống chỉ định đã kết thúc việc thẩm tra trong vòng sáu tháng, xóa tội cho nhà Carter.

        Trước lúc tôi đến Moscow, vài thượng nghị sĩ đảng Dân chủ và tổng thống Carter đã bắt tay với đảng Cộng hòa và báo chí trong việc yêu cầu phải có công tố viên độc lập, mặc dù họ không có bằng chứng về những việc làm sai trái. Hầu hết những đảng viên đảng Dân chủ không biết gì về vụ Whitewater; họ chỉ sốt ruột muôn chứng tỏ rằng họ không chống đối việc tổng thống đảng Dân chủ bị thẩm tra, và họ không muốn chống đối tờ Washington Post và New York Times. Có lẽ họ cũng nghĩ rằng Janet Reno có thể được tin cậy để chỉ định một công tố viên chuyên nghiệp, người có thể giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng. Tuy vậy, rõ ràng là chúng tôi phải làm gì đó, như lời Lloyd Bentsen, để giải quyết vấn đề.

        Khi tôi đến Moscow, tôi thảo luận qua điện thoại với nhân viên của tôi, David Kendall, và Hillary hiện vẫn còn đang ở Washington, để bàn xem chúng tôi nên làm gì. David Gergen, Bernie Nussbaum, và Kendall đều không tán đồng việc cử công tố viên độc lập, vì không có cơ sở, và nếu chúng tôi không may mắn, một công tô viên gian trá có thể theo điều tra cho đến hết đời vẫn chưa xong. Với lại, chúng tôi chỉ cần một thời gian ngắn là bị phá sản ngay; tôi là tổng thống có thu nhập thấp nhất trong lịch sử hiện đại. Nussbaum, một luật sư có đẳng cấp quốc tế từng làm việc với Hillary trong vụ điều tra Watergate, đã thẳng thừng chống đối việc chỉ định công tố viên đặc biệt. Ông gọi nó là "một thể chế độc ác", vì nó cho phép các công tố viên không chịu trách nhiệm trước ai được quyền làm đủ mọi thứ. Bernie cho rằng tôi cần chống lại việc cử công tố viên đặc biệt với tất cả những quyền tôi có. Nussbaum cũng chỉ ra rằng việc tờ Washington Post coi thường điều tra của Bộ Tư pháp là không có lý, vì hồ sơ của tôi đã được xem xét bởi một công tố viên chuyên nghiệp, người đã được tổng thống Bush phân công vào Bộ Tư pháp.

        Gergen đồng ý nhưng nhấn mạnh việc tôi phải nộp tất cả hồ sơ cho tờ Washington Post. Mark Gearan và George Stephanopoulos cũng đồng ý như thế. David nói rằng Len Downie, tổng biên tập của tờ Washington Post đã thành công khi đưa tin vụ Watergate, vì vậy tin chắc chúng tôi đang cố tình che giấu điều gì đó. Tờ New York Times hình như cũng nghĩ thế. Gergen nghĩ cách duy nhất để làm giảm áp lực về việc bổ nhiệm công tố viên độc lập là phải trình ra các giấy tờ hồ sơ.

        Tất cả các luật sư, Nussbaum, Kendall và Bruce Lindsey - đều không đồng ý việc tiết lộ hồ sơ vì rằng, trong khi đồng ý nộp cho Bộ Tư pháp tất cả những gì chúng tôi có được, hồ sơ không đầy đủ và rất manh mún, và chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn thu thập lại. Họ nói ngay khi chúng tôi không thể trả lời một câu hỏi hoặc cung cấp một tài liệu nào đó, báo chí sẽ lại hô hoán việc phải cần đến một công tố độc lập. Trong lúc này chúng tôi phải đối diện với nhiều lời nói bóng gió và suy diễn.

        Nhóm nhân viên còn lại của tôi, gồm George Stephanopoulos và Harold Ickes, phó chánh văn phòng mới được bổ nhiệm vào tháng giêng, nghĩ rằng vì đảng Dân chủ đang muốn áp dụng chiến thuật càng ít chạm trán càng tốt, chuyện chỉ định công tố viên đặc biệt là không thể tránh khỏi, và chúng tôi nên tiếp tục và yêu cầu điều đó đê chúng tôi có thể trở lại công việc khác. Tôi hỏi ý kiến Hillary. Cô ấy bảo yêu cầu công tố viên sẽ dẫn đến một tiền lệ không hay: thay đổi từ việc yêu cầu phải có bằng chứng cụ thể về việc làm sai trái đến việc chịu thua mỗi khi có áp lực của giới truyền thông. Tuy nhiên tôi phải là người quyết định điều này. Tôi có thể nhận thấy rõ cô ấy rất mệt mỏi trong việc phải chống đối với nhân viên của tôi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #312 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:03:56 PM »

        Trên điện thoại tôi nói với mọi người rằng tôi không lo lắng về việc bị thẩm tra vì tôi không làm gì sai và Hillary cũng thế, cũng như tôi không phản đối việc phải cung cấp hồ sơ. Dù sao đi nữa chúng tôi cũng phải chịu đựng nhiều vụ việc rất oan ức có liên quan đến Whitewater kể từ lúc ra tranh cử. Ý định của tôi là cung cấp hồ sơ và sau đó tranh cãi với công tố viên, nhưng nếu mọi người nhất trí làm điều ngược lại, tôi cũng đồng ý thôi. Nussbaum rất tuyệt vọng, cho rằng bất cứ ai được chỉ định cũng sẽ rất thất vọng khi không tìm thấy chứng cứ gì, và cứ thế tiếp tục bới móc cho đến khi tìm thấy một việc làm sai nào của một người tôi quen. Anh bảo nếu tôi thấy cần phải làm một điều gì hơn thế nữa, chúng tôi chỉ cần ném đống hồ sơ sang cho giới báo chí, và thậm chí còn nên đề nghị tuyên thệ trước ủy ban Tư pháp thượng nghị viện. Stephanopoulos nghĩ đây là một ý tưởng không hay tí nào, vì nó sẽ dẫn đến rất nhiều dư luận. Ông nói Reno sẽ chỉ định một công tố viên độc lập, người này sẽ làm thoả mãn giới báo chí và mọi việc sẽ được khép lại trong vòng vài tháng. Bernie không đồng ý, cho rằng nếu quốc hội thông qua một luật mới về việc chỉ định công tố viên độc lập và tôi đặt bút ký, các quan tòa ở Tòa phúc thẩm Washington DC sẽ chỉ định một công tô viên mới và bắt đầu lại từ đầu. George rất giận dữ, cho rằng Bernie bị hoang tưởng và điều này sẽ không bao giờ xảy ra. Bemie biết chánh án Tối cao pháp viện Rehnquist sẽ chọn thành phần ủy ban và sẽ bao gồm chủ yếu là những người theo đảng Cộng hòa bảo thủ. Ông cười khi thấy George nổi cơn thịnh nộ và nói có lẽ khả năng có thêm một công tố viên thứ hai chỉ là 50-50.

        Sau một hồi thảo luận, tôi yêu cầu chỉ nói chuyện với Hillary và David Kendall. Tôi cho họ biết ý định của tôi trong việc đồng ý chọn một công tố viên đặc biệt. Dù sao đi nữa, tôi cũng không có gì phải giấu giếm, và những vụ chống đối này làm phân tán sự quan tâm của quốc hội và quốc gia vào những kế hoạch lớn hơn. Ngày hôm sau, Nhà Trắng yêu cầu Janet Reno chỉ định một công tố viên đặc biệt. Mặc dù nói tôi có thể chịu đựng được, tôi suýt nữa đã không chịu xiết.

        Đó là quyết định sai lầm nhât mà tôi từng mắc phải, sai lầm về luật pháp, về chính trị, về hiến pháp. Tôi đi đến kết luận này có lẽ do tôi hoàn toàn kiệt sức và đang đau buồn về việc mẹ mất, những sự việc ấy lấy đi của tôi tất cả những sự tập trung và minh mẫn. Lẽ ra tôi nên công bố hồ sơ, từ chối công tố viên, cung cấp tường tận những chi tiết cho tất cả những đảng viên Dân chủ có quan tâm, và nhờ đến sự ủng hộ của hẹ. Dĩ nhiên, có thể cũng sẽ không thay đổi được sự thật gì. Lúc đó thú thật là tôi không lo lắng gì về chuyên này, vì tôi biết tôi không làm gì sai trái cả, và báo chí cần biết được sự thật.

        Trong vòng một tuần lễ, Janet Reno đã chỉ định Robert Fiske, một cựu công tố viên của đảng Cộng hòa đến từ New York, người lẽ ra đã có thể hoàn tất việc điều tra đúng hạn nếu như anh ta được để yên để lo công việc. Dĩ nhiên Fiske không được phép hoàn thành, nhưng tôi đang kể chuyên quá một bước rồi. Ngay lúc đấy, việc chỉ định công tố viên cũng giống như việc nhức đầu mà uống aspirin, nó chỉ giảm đau tạm thời. Rất tạm thời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #313 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:10:52 PM »

        Trên đường từ Nga trở về nước, sau khi dừng chân một thời gian ngắn ở Belarus, tôi bay đến Geneva để gặp gỡ tổng thống Assad của Syria. Ông là một người nhẫn tâm nhưng rất sáng suốt, người đã từng xóa sổ cả một khu làng để làm bài học cho các đối thủ, và với sự hậu thuẫn của các nhóm khủng bố ở Trung Đông, Syria đã bị cách ly khỏi Mỹ. Assad ít khi nào rời khỏi Syria, và nếu có, chỉ là để ông ghé Geneva gặp gỡ với các lãnh đạo ngoại quốc. Khi gặp ông, tôi rất ấn tượng với sự thông minh của ông và khả năng nhớ chính xác đến từng chi tiết nhỏ những sự việc xảy ra trước đó hơn 20 năm. Assad nổi tiếng với những cuộc gặp gỡ kéo dài nhiều giờ: ông có thể làm việc một mạch trong sáu hoặc bảy tiếng đồng hồ mà không cần nghỉ giải lao trong khi tôi rất mệt cần phải uống trà, cà phê hay nước để có thể giữ được sự tỉnh táo. May thay, cuộc gặp chỉ kéo dài vài giờ. Buổi họp đi đến hai điều tôi cần: việc Assad tuyên bố rõ ràng rằng ông muốn giảng hòa và muốn thiết lập mối quan hệ bình thường với Israel, và việc ông cam kết rút tất cả quân đội của Syria ra khỏi Libăng và tôn trọng độc lập lãnh thổ của khu vực này một khi đạt được hòa bình Trung Đông. Tôi biết được cuộc gặp gỡ thành công không chỉ do lý do cá nhân. Assad đã nhận được nhiều viện trợ kinh tế từ Liên Xô cũ, và giờ đây khi viện trợ đã không còn, ông cần phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước phương Tây. Để làm được điều này, ông cần phải ngưng ủng hộ cho khủng bố trong khu vực. Điều này cũng dễ thực hiện nếu như ông ký kết thỏa thuận với Israel lấy lại được Cao nguyên Golan đã bị mất trong cuộc chiến năm 1967.

        Tôi quay trở lại Washington với một chuỗi những việc dường như xảy ra cùng một lúc. Vào ngày 17, Los Angeles gặp phải trận động đất gây thiệt hại nhiều nhất trong lịch sử của Mỹ, hao tốn nhiều tỉ đôla hư hại về nhà cửa, bệnh viện, trường học và các nhà máy, doanh nghiệp. Đến ngày 19, tôi bay đến vùng này cùng với James Lee Wit, giám đốc Cơ quan liên bang xử lý tình trạng khẩn cấp (FEMA) để xem xét những thiệt hại, trong đó có con đường quốc lộ liên tiểu bang bị nứt một đoạn dài. Vào ngày 20, hầu như toàn bộ nội các và tôi họp với thị trưởng Dick Riordan và các nhà lãnh đạo ở các bang khác trong một nhà chứa máy bay để lên kế hoạch cứu trợ khẩn cấp. Nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ, khu vực này nhanh chóng được phục hồi: con đường cao tốc chính được xây dựng sau ba tháng, FEMA hỗ trợ tài chính cho trên 600.000 gia đình và doanh nghiệp, hàng ngàn nhà và cao ốc được xây mới với sự hỗ trợ của Quỹ Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Tính ra toàn bộ chương trình viện trợ trực tiếp này lên đến 16 tỉ đôla. Tôi rất thương tình cảnh của người dân California: họ từng phải chịu đựng gánh nặng của sự đình trệ kinh tế và sự xuống dốc của tình hình an ninh, chịu đựng những trận hỏa hoạn nặng nề và giờ đây đến động đất. Một trong những viên chức địa phương nói đùa với tôi rằng anh đang chờ đợi một nạn dịch châu chấu nữa là xong. Óc hài hước của cậu nhắc tôi nhớ chuyện Mẹ Teressa đã từng quan sát thấy Chúa sẽ không bắt Bà gánh một gánh nặng hơn sức của Bà, nhưng đôi khi Bà ước rằng Chúa không nên đặt quá nhiều niềm tin vào Bà. Tôi quay trở lại Washington để tham gia cuộc phỏng vấn với Larry King nhân lễ kỷ niệm một năm làm tổng thống: trong buổi phỏng vấn, tôi cho biết mình thích công việc, ngay cả những lúc gặp khó khăn. Dù sao đi nữa, tôi không làm việc để có thời gian thảnh thơi cả, mà để thay đổi một quốc gia.

        Vài hôm sau, con trai cả của tổng thông Assad, người được Assad huân luyện để kế vị ông, qua đời vì tai nạn xe hơi. Khi tôi gọi điện chia buồn, có thê thấy rõ là ông đang suy sụp. Quả là không có gì khủng khiếp bằng việc người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #314 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:19:50 PM »

        Cùng tuần đó, tôi bổ nhiệm Bill Perry, Thứ trưởng Quốc phòng, lên kế nhiệm Les Aspin, người mới vừa từ chức không lâu sau vụ Black Hawk Down. Chúng tôi đã phải đau đầu tìm kiếm người kế nhiệm, trong khi ứng cử viên hoàn hảo đang ở ngay sát nách. Perry đã lãnh đạo một số cơ quan quốc phòng, là giáo sư toán và động cơ, và từng hoàn thành xuất sắc công việc ở Lầu năm góc trong việc giới thiệu kỹ thuật tàng hình trong máy bay, cải cách việc thu mua, hoạch đinh ngân sách. Ông là người ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm tốn, với vẻ ngoài ít ai biết được bên trong ông là một người rất cứng cỏi. Ông sau này là một trong những cộng sự đắc lực nhất của tôi, có lẽ là bộ trưởng bộ quốc phòng tài giỏi nhất kể từ thời tướng George Marshall.

        Ngày 25 là ngày tôi phải đọc Thông điệp Liên bang trước toàn dân Mỹ. Đây có lẽ là ngày duy nhất trong năm tổng thống có dịp tự do nói chuyện với người dân Mỹ trong vòng một giờ, và tôi muốn tận dụng hết mức có thể cơ hội quý báu này. Sau khi làm lễ mặc niệm Chủ tịch hạ viện Tip O'Neil, người qua đời trước mẹ một ngày, tôi tóm tắt một bản danh sách dài những thành tựu mà quốc hội đạt được vào năm 1993, nói rằng nền kinh tế Mỹ đang sản sinh ra rất nhiều việc làm, rằng hàng triệu người Mỹ đã tiết kiệm được tiền bằng cách trả nợ tiền mua nhà với tiền vay mới có lãi suất thấp, rằng chỉ có 1,2% dân Mỹ phải chịu tăng thuế thu nhập cá nhân, rằng thâm hụt thấp hơn dự báo đến 40%, và chúng tôi sẽ tinh giảm 250.000 nhân viên của chính phủ liên bang thay vì 100.000 như trước đây đã hứa.

        Phần còn lại của bài diễn văn là kế hoạch hành động của tôi năm 1994, bắt đầu là giáo dục. Tôi đã yêu cầu quốc hội thông qua Mục Tiêu Sáng Kiến 2000 để giúp các trường công đạt mục tiêu giáo dục quốc gia do thống đốc và chính quyền Bush đã đưa, thông qua việc cải cách việc lựa chọn trường, trường công, và việc liên kết tất cả các trường lại trên hệ thống mạng Internet vào năm 2000; và đo lường sự tiến bộ của các trường trong việc đạt đến mục tiêu như thế nào, xem liệu học sinh của chúng ta có học những gì chúng thật sự cần học hay không.
   
        Tôi cũng yêu cầu có thêm nhiều đầu tư trong việc tạo công ăn việc làm mới, đầu tư trong kế hoạch chuyển đổi các ngành trước đây phục vụ quốc phòng, thúc đẩy việc thông qua dự luật tội phạm và cấm bán vũ khí tấn công, khởi xướng ba luật môi trường: luật về nước uống an toàn, luật nước sạch, và chương trình Superfund đã được cải thiện Superfund là chương trình hợp tác công/tư chuyên làm sạch các khu vực bị ô nhiễm dơ bẩn, có hại cho sức khoẻ và bị bỏ hoang phế. Đối với tôi và Al Gore, đó là điều rất quan trọng, và đến lúc tôi mãn nhiệm kỳ, số khu vực Superfund dọn dẹp sạch sẽ nhiều hơn gấp ba lần thời Bush và Reagan cộng lại.

        Sau đó tôi yêu cầu quốc hội thông qua luật cải cách về phúc lợi và chăm sóc y tế vào năm 1994. Có một triệu người đang nằm trong diện hưởng trợ cấp xã hội vì đây là cách duy nhất con cái họ có thể được bảo hiểm y tế. Khi người ta từ bỏ trợ cấp để kiếm một công việc có mức lương thấp mà không có quyền lợi gì cả, họ phải chuyển sang đóng thuế để ủng hộ chương trình Medicaid nhằm cung cấp bảo hiểm y tế cho các gia đình sống nhờ vào chương trình phúc lợi. Cứ mỗi năm, có khoảng 60 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế vào một thời điểm nào đó trong năm. Hơn 80 triệu người Mỹ mắc các "bệnh tật nhiễm từ trước" khi mua bảo hiểm, hoặc bị các bệnh buộc họ phải dóng bảo hiểm y tế nhiều hơn, nếu họ có bảo hiểm; và thường hễ thay đổi công việc thì coi như mất bảo hiểm này. Cứ bốn người thì có ba người có chế độ giới hạn tiền trả bảo hiểm, vậy họ có thể bị mất bảo hiểm trong khi cần nó nhất. Cách thức này cũng làm nhiều doanh nghiệp nhỏ bị thua lỗ, phí bảo hiểm của họ cũng cao hơn 35% so với các doanh nghiệp lớn hoặc của chính phủ. Để kiểm soát được chi phí, ngày càng nhiều người Mỹ bị buộc phải chọn bảo hiểm với các công ty duy trì sức khỏe, vốn chỉ cho phép bệnh nhân chọn một bác sĩ, và các bác sĩ cũng phải chọn một số giới hạn trong cách thức điều trị, hoặc buộc các nhân viên chăm sóc y tê phải mất nhiều thời gian hơn với công việc giấy tờ và ít thời gian hơn với bệnh nhân. Tất cả những vấn đề này đều bắt nguồn từ một vấn đề cơ bản: hệ thống bảo hiểm y tế của chúng ta có kiểu bảo hiểm kỳ quặc trong đó các công ty bảo hiểm mới là có tiếng nói quyết định.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #315 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:24:46 PM »

        Tôi nói với quốc hội rằng tôi biết muốn thay đổi việc này không dễ. Roosevelt, Truman, Nixon và Carter tất cả đều đã thử làm nhưng rồi đều thất bại. Thậm chí Truman mất ghế tổng thống cũng vì điều này, do tỉ lệ ủng hộ ông xuống dưới mức 30%, và điều này giúp phe Cộng hòa giành được quyền kiểm soát quốc hội. Điều này xảy ra bởi vì hầu hết mọi người Mỹ đều có bảo hiểm, yêu thích bác sĩ và bệnh viện của mình, và biết rằng chúng ta có hệ thống y tế tốt. Những điều này bây giờ vẫn còn đúng. Những ai thu lợi từ việc kiểu bảo hiểm y tế đó đang bỏ một khoản tiền khổng lồ để thuyết phục quốc hội và dân chúng rằng thay đổi để cải thiện những bất lợi hệ thống y tế đó sẽ làm hỏng những thuận lợi của nó.

        Tôi nghĩ lý lẽ tôi đưa ra cũng khá thuyết phục ngoại trừ một việc: vào cuối phần diễn văn về chăm sóc y tế, tôi giơ cao cây bút và hùng hồn nói rằng tôi sẵn sàng dùng nó để phủ quyết bất kỳ dự luật nào không bảo đảm bảo hiểm y tế cho mọi người dân Mỹ. Tôi làm thế vì vài cố vấn của tôi cho rằng người ta sẽ nghĩ lời tuyên bố không có sức mạnh nếu tôi không chứng tỏ được sự cương quyết không nhân nhượng của mình. Đó là sự tuyên chiến không cần thiết với các đối thủ trong quốc hội. Chính trị là một sự thoả hiệp nhân nhượng lẫn nhau, và người ta mong tổng thống sẽ thắng, chứ không phải làm bộ làm tịch với họ. Cải cách về y tế là thách thức lớn nhất đối với chúng tôi. Tôi không thể làm việc đó một mình mà không có sự nhân nhượng. Nhưng hoá ra, lỗi lầm của tôi cũng chẳng ảnh hưởng gì, vì Bob Dole đã quyết định sẽ nhấn chìm tất cả các cải cách về chăm sóc y tế.

        Trong một thời gian ngắn, Thông điệp Liên bang đã giúp tăng nhanh sự ủng hộ của dân chúng đối với kế hoạch hành động của tôi. Newt Gingrich bảo sau khi nghe bài diễn văn của tôi, ông ta đã nói với các thành viên đảng Cộng hòa tại hạ viện rằng nếu tôi có thể thuyết phục đảng Dân chủ trong quốc hội làm theo những đề xuất của tôi, đảng của tôi sẽ chiếm đa số trong một thời gian dài. Dĩ nhiên là Newt không muốn điều đó xảy ra, và cũng như Bob Dole, ông cố gây cản trở kế hoạch càng nhiều càng tốt trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

        Vào tuần cuối của tháng giêng, chúng tôi có một cuộc tranh luận nảy lửa trong đội ngũ chính sách đối ngoại xem liệu có nên cấp visa cho Gerry Adams, lãnh tụ của tổ chức Sinn Fein, cánh chính trị của Quân đội Cộng hòa Ireland, hay không. Mỹ đã đóng vai trò rất quan trọng đối với cả hai phe trong cuộc xung đột Ireland. Trong nhiều năm qua, những người Mỹ ủng hộ IRA đã tài trợ cho các hoạt động bạo lực. Sinn Fein có một nhóm những người ủng hộ thuộc Thiên Chúa giáo gốc Ireland chống đối chủ nghĩa khủng bố nhưng muốn chấm dứt phân biệt đối xử đối với những người Thiên Chúa giáo và sự tự trị về chính trị cởi mở hơn tại Bắc Ireland. Những người theo đạo Tin Lành của Anh và Ireland cũng có người ủng hộ luôn chỉ trích mọi quan hệ với Sinn Fein vì Sinn Fein có dính dáng đến IRA, và cho rằng chúng ta không cần phải xía vào công việc nội bộ của Vương quốc Anh - đồng minh lớn nhất của chúng tôi. Cách lập luận trên luôn thuyết phục được các vị tiền nhiệm trước tôi, ngay cả đối với những người thông cảm với những nỗi bất bình chính đáng của bộ phận Thiên Chúa giáo tại Bắc Ireland. Bây giờ, khi Bản tuyên bố nguyên tắc được đưa ra, chúng tôi sẽ phải xem lại vấn đề trên.

        Trong bản tuyên bố, lần đầu tiên trong lịch sử, Anh tuyên bố quy chế của Bắc Ireland sẽ được định đoạt dựa trên ý kiến của đa số người dân, và Ireland từ bỏ chủ quyền đối với sáu hạt ở phía bắc cho đến khi nào đa số người dân bỏ phiếu đồng ý thay đổi quy chế. Những người ôn hòa trong đảng Hợp nhất và đảng Quốc gia Ireland rất ủng hộ thỏa thuận này. Đức cha Ian Paisley, lãnh đạo đảng Dân chủ Hợp nhất cực đoan, tỏ ra phẫn nộ vì quyết định này. Gerry Adams và Sinn Fein cho rằng họ rất thất vọng vì các nguyên tắc thiếu tính cụ thể về việc tiến trình hòa bình sẽ diễn ra như thế nào và làm cách nào để Sinn Fein tham gia vào tiến trình dó. Mặc dù những câu trả lời rất mập mờ, chính phủ Anh và Ireland rõ ràng đã tạo áp lực cho tất cả các bên nhằm nỗ lực tìm kiếm hòa bình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #316 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:29:59 PM »

        Sau khi bản tuyên bố được đưa ra, các đồng minh của Adams tại Mỹ đã yêu cầu tôi cấp visa để Adams được đến Mỹ. Họ nói điều này sẽ giúp tăng vị thế và khả năng của ông ta trong việc ép buộc IRA từ bỏ bạo lực. John Hume, lãnh đạo đảng Lao động và Dân chủ Xã hội ôn hòa, người đã xây dựng sự nghiệp của mình trên cương lĩnh bất bạo động, nói ông đã thay đổi quan điểm về việc cấp visa cho Adams. Bây giờ ông cho rằng visa sẽ góp phần vào tiến trình hòa bình. Một số nhà hoạt động người Mỹ gốc Ireland đồng ý, bao gồm bạn tôi Bruce Morrison, người từng tổ chức các hoạt động tiếp cận của chúng tôi tới cộng đồng người Mỹ gốc Ireland, và đại sứ Mỹ tại Ireland, Jean Kennedy Smith. Tại quốc hội, anh của bà là Thượng nghị sĩ Ted Kennedy; Thượng nghị sĩ Chris Dodd, Pat Moynihan, John Kerry, thành viên quốc hội từ New York Peter King và Tom Manton thì ủng hộ. Chủ tịch hạ viện Tom Foley, người đã từng hoạt động tích cực trong các vấn đề Ireland, chống đối cấp visa.

        Vào đầu tháng 1, Thủ tướng Ireland Albert Reynolds cho chúng tôi biết, giống như John Hume, giờ đây ông ủng hộ việc cấp visa vì Adams đang đấu tranh cho hòa bình, và ông nhận thấy visa sẽ giúp ông ta dễ dàng hơn trong việc đưa IRA ra khỏi bạo lực và đi vào tiến trình hòa bình. Chính phủ Anh vẫn một mực chống việc cấp visa, vì quá khứ khủng bố của IRA và vì Adams không từ bỏ bạo lực cũng như không tuân theo Bản tuyên bố nguyên tắc vốn là những điều cơ bản để giải quyết vấn đề.

        Tôi bảo với Albert Renoyds rằng tôi có thể xem xét khả năng cấp visa nếu Adams có được lời mời chính thức đến Mỹ để phát biểu. Không lâu sau đó, Adams cùng các lãnh đạo của các phe phái khác của Bắc Ireland, được mời tham dự một hội nghị hòa bình ở New York do một nhóm nghiên cứu chính sách đối ngoại ở New York tổ chức. Điều này làm cho vấn đề cấp visa trở thành tâm điểm, vì đây là vấn đề quan trọng đầu tiên mà các cố vấn ngoại giao của tôi không nhất trí với nhau.

        Warren Chirstopher và Bộ Ngoại giao, trong đó có đại sứ của chúng tôi tại Liên hiệp Anh, tỏ ý chống đối dữ dội việc cấp visa cho rằng vì Adams sẽ không từ bỏ bạo lực, điều này sẽ làm chúng ta trông có vẻ mềm mỏng đối với chủ nghĩa khủng bố và nó sẽ gây sai lầm không thể sửa chữa được trong mối quan hệ với Anh, bao gồm việc hợp tác với Anh trong vấn đề Bosnia và các vấn đề quan trọng khác. Bộ Tư pháp, FBI và CIA đều đồng ý với Bộ Ngoại giao. Việc họ nhất trí có trọng lượng lớn.

        Có ba người tham gia vào vấn đề Ireland tại Hội đồng An ninh Quốc gia: Tony Lake, chánh văn phòng Nancy Soderberg, và người phụ trách vân đề châu Âu, thiếu tá Lục quân Jane Holl. Với sự ủng hộ của tôi, họ xem xét vấn đề visa một cách độc lập trong khi cố gắng đạt được một thỏa thuận với Bộ Ngoại giao, làm việc thông qua thứ trưởng Peter Tarnoff. Họ tin chắc rằng Adams muôn kết thúc bạo lực ở IRA, muốn Sinn Fein tham gia đầy đủ vào tiến trình hòa bình, và một tương lai dân chủ cho Bắc Ireland. Sự phân tích này đúng là có lý. Người dân Ireland đang bắt đậụ khấm khá hơn, châu Âu nói chung đang hướng đến một nền kinh tế sáng sủa, hội nhập chính trị, và dân Ireland bắt đầu ít khoan dung hơn với khủng bố. Mặt khác, IRA không dễ đối phó, với đầy những người luôn căm thù người Anh và người đảng Ulster Unionist, và đối với họ việc chung sống hòa bình và là một phần của Vương quốc Anh là cực kỳ viển vông. Vì ở các hạt phía bắc số lượng tín đồ Tin Lành hơn số lượng Thiên Chúa giáo 10%, và Bản tuyên bố nguyên tắc định hướng chung cho Ireland và Vương quốc Anh sẽ có một tương lai dựa trên nguyên tắc đa số, Bắc Ireland có thể vẫn sẽ tiếp tục là một phần của Vương quốc Anh trong tương lai sắp tới. Adams hiểu được điều đó, nhưng ông cũng biết rằng khủng bố sẽ không mang lại chiến thắng. Ông trông thật lòng khi nói muốn IRA chấm dứt khủng bố để được đổi lại việc chấm dứt phân biệt đối xử và cô lập tín đồ Thiên Chúa giáo.

        Dựa trên phân tích này, Hội đồng An ninh Quốc gia quyết định cấp visa cho ông, vì điều này sẽ tăng ảnh hưởng của Adams đối với Sinn Fein và IRA, trong khi nâng tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với ông ta. Đây là điều quan trọng, vì nếu như IRA không từ bỏ bạo lực và Sinn Fein không là một phần của tiến trình hòa bình, vân đề của Ireland sẽ không được giải quyết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #317 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:34:40 PM »

        Tranh luận cứ thế tiếp diễn cho đến vài ngày trước khi hội nghị khai mạc theo dự kiến. Chính phủ Anh, các đồng minh của Adams trong quốc hội và cộng đồng người Mỹ gốc Ireland đã nêu bật vấn đề này lên. Tôi cẩn thận lắng nghe ý kiến cả hai phe, có cả lời yêu cầu thống thiết của Warren Christopher đừng làm điều đó, cũng như một thông điệp từ Adams cho rằng người dân Ireland đang phải mạo hiểm để có hòa bình và vì thê tôi cũng nên mạo hiểm một chút. Nancy Soderberg nói cô đồng ý cấp visa vì cô tin rằng Adams rất nghiêm túc trong việc thiết lập hòa bình và hiện tại ông ta chỉ có thể bày tỏ tư tưởng chống bạo lực trong khuôn khổ cho phép của Sinn Fein và IRA. Nancy đã từng cố vấn cho tôi về chính sách đối ngoại kể từ khi ra tranh cử, và tôi rất tôn trọng những phán xét của cô. Tony Lake cũng đồng ý với quan điểm của cô. Là một cố vấn an ninh quốc gia, Tony phải làm việc với nước Anh trên nhiều lĩnh vực mà có thể sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu cấp visa. Ông cũng hiểu được tầm ảnh hưởng của quyết định này trong nỗ lực chống khủng bố của chúng tôi. Phó tổng thống Al Gore cũng hiểu là không thể tránh né được chuyện này, và cũng ủng hộ việc cấp visa. Cuối cùng tôi quyết định cấp visa cho Adams, nhưng đưa ra những ràng buộc để Adams không thể tiến hành vận động gây quỹ hay di chuyển ra ngoài khu vực New York trong ba ngày ở đó.

        Người Anh phản đối kịch liệt quyết định này. Họ nghĩ Adams chỉ là một kẻ lường gạt dẻo miệng, không hề có ý định từ bỏ bạo lực, và trước đây đã từng ám sát hụt Margaret Thatcher. Ông ta cũng từng giết hại hàng nghìn công dân Anh, bao gồm trẻ em vô tội, quan chức chính phủ, thành viên của gia đình Hoàng gia là Ngài Mountbatten, người đã từng giám sát việc chấm dứt cai trị của Anh tại Ân Độ. Các đảng Hợp nhất cũng tẩy chay hội nghị vì sự tham dự của Adams. Trong nhiều ngày liền, John Major từ chối nhận điện thoại của tôi. Báo chí Anh đầy rẫy những bài báo nói về việc tôi đã phá hủy mối quan hệ tốt đẹp của hai nước. Có một hảng tít với nội dung khá ấn tượng: "Xà tinh gian xảo Adams nhả nọc vào dân Mỹ".

        Một vài bài báo cho rằng tôi đồng ý cấp visa để lấy lòng dân gốc Ireland ở Mỹ trong đợt bầu cử sắp tới và vì tôi vẫn còn bực tức việc Major từng giúp đỡ Bush trong đợt tranh cử. Điều này không đúng. Tôi chưa lúc nào giận Major như dân Anh nghĩ, và tôi rất ngưỡng mộ ông khi đã đứng mũi chịu sào trong Bản tuyên bố nguyên tắc, ông có một số lượng ủng hộ không mấy đông đảo và vì thế cần sự ủng hộ của các thành viên đảng Hợp nhất của Ireland. Hơn nữa, tôi, cũng như tất cả những người dân Mỹ, căm thù sâu sắc chủ nghĩa khủng bố, và vê mặt chính trị, quyết định của tôi có hại nhiều hơn có lợi. Tôi cấp visa vì nghĩ đây là cách tốt nhất để chấm dứt bạo lực. Tôi vẫn luôn nhớ câu châm ngôn của Yitzhak Rabin: nếu đã là bạn bè thì chúng ta đâu có cần phải thương lượng hòa bình làm gì.

        Gerry Adams đến Mỹ vào ngày 31.1 và nhận được sự tiếp đón nồng ấm từ những người dân Mỹ gốc Ireland có cùng lý tưởng. Trong chuyến thăm, ông hứa sẽ thúc ép Sinn Fein đi đến những quyết định cụ thể. Sau đó chính phủ Anh đã tăng cường nỗ lực đê sắp xếp những cuộc đàm phán với các đảng phái Bắc Ireland, và chính phủ Ireland tạo áp lực bắt Sinn Fein hợp tác. Bảy tháng sau đó IRA tuyên bố ngừng bắn. Quyết định cấp visa của tôi đã mang lại kết quả tốt. Đó là bước đầu trong một công cuộc tìm kiếm hòa bình dài và phức tạp ở Bắc Ireland.

        Vào ngày 3 tháng 2, tôi bắt đầu ngày mới với Bữa sáng cầu nguyện Quốc gia lần thứ hai. Mẹ Teresa là khách mời, và tôi nêu quan điểm rằng chúng ta nên học ở Mẹ và đưa sự nhún nhường và tinh thần hòa giải vào chính trị. Chiều hôm đó, bản thân tôi cũng đã làm một công việc hòa giải, tuyên bố xóa cấm vận thương mại đã có từ lâu của chúng tôi đối với Việt Nam, dựa trên sự hợp tác đáng kể của chính phủ Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề tù nhân chiến tranh và quân nhân bị mất tích và trong việc trao trả hài cốt lính Mỹ. Quyết định này của tôi được ủng hộ rất nhiều từ phía các cựu chiến binh Việt Nam trong quốc hội, đặc biệt là các thượng nghị sĩ John Kerry, Bob Kerrey và John McCain, và Dân biểu Pete Peterson của Florida, người từng là tù binh ở Việt Nam trong hơn sáu năm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #318 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:43:32 PM »

        Trong tuần thứ hai của tháng 2, sau khi người Bosnia gốc Serbia nã đạn vào một khu chợ Sarajevo làm chết mấy chục người dân vô tội, cuối cùng với sự đồng ý của tổng thư ký Liên hiệp quốc, NATO cũng đã bỏ phiếu đồng ý đánh bom lực lượng Serbia nếu họ không di chuyển vũ khí hạng nặng ra cách thành phố tối thiểu là 12 dặm. Quyết định này đáng lẽ được thực hiện từ lâu nhưng cũng là một quyết định có thể mang lại rủi ro cho người Canada vì lực lượng của họ ở Srebrenica đã bị bao vây bởi người Serbia, cũng như rủi ro cho người Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan vì họ có những nhóm quân tương đối nhỏ và yếu tại đó.

        Sau đó không lâu, các vũ khí hạng nặng được di chuyển hoặc được đặt dưới tầm kiểm soát của Liên hiệp quốc. Thượng nghị sĩ Dole vẫn đang thúc đẩy việc đơn phương xóa cấm vận vũ khí, nhưng lúc đó tôi chưa sẵn sàng vì cuối cùng NATO cũng bật đèn xanh cho việc oanh kích, và bởi vì lúc đó tôi không muốn những người khác lợi dụng việc chúng tôi đơn phương chấm dứt cấm vận Bosnia như một cái cớ để chống đối cấm vận tại Haiti, Libi và Iraq - những cấm vận mà chúng tôi ủng hộ.

        Đến giữa tháng, Hillary và Chelsea đến Lillehammer, Na Uy để đại diện nước Mỹ tham dự thế vận hội mùa đông, còn tôi bay đến Hot Springs trong một ngày để gặp Dick Kelley. Tính ra từ lúc mẹ mất đến giờ đã năm tuần, và tôi muốn ghé xem tình hình ra sao. Dick có vẻ rất cô đơn trong căn nhà nhỏ, hình như mỗi phòng đều có bóng dáng mẹ ẩn hiện, nhưng anh chàng hải quân ngày nào đang cố đứng vững trên đôi chân mình, và tìm mọi cách để tiếp tục cuộc sống.

        Trong hai tuần kế tiếp tôi phải quay trở lại với mớ công việc về cải cách chăm sóc y tế và dự luật tội phạm tại những địa điểm khác nhau của đất nước, đồng thời tiếp tục với các chính sách đối ngoại. Có một tin khá vui là Ảrập Xêút đã đồng ý mua một số lượng máy bay Mỹ trị giá sáu triệu đô sau những nỗ lực của Ron Brown, Mickey Kantor và Bộ trưởng Bộ giao thông Federico Pena.

        Chúng tôi bị sốc khi biết tin FBI bắt giữ cựu nhân viên CIA đã từng phục vụ trong suốt 31 năm tên Aldrich Ames và vợ ông trong một trong những phi vụ gián điệp lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Trong vòng chín năm, Ames đã kiếm được bộn tiền nhờ bán thông tin dẫn đến cái chết của hơn 10 nguồn tin tình báo của chúng tôi tại Nga, và đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lực lượng tình báo Mỹ. Sau nhiều năm cố tìm ra tên nội gián mà FBI và CIA biết là có tồn tại, cuối cùng họ cũng đã tóm được ông ta. Vụ việc này cho thấy bộ máy tình báo Mỹ và chính sách đối ngoại đối với Nga còn nhiều điểm yếu: nếu họ bí mật theo dõi chúng ta, liệu chúng ta có nên hủy bỏ hoặc tạm ngưng viện trợ cho họ không. Trong một cuộc họp quốc hội lưỡng đảng và để trả lời câu hỏi của giới báo chí, tôi đưa ra lý lẽ rằng không nên ngưng viện trợ. Nga đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh giữa quá khứ và tương lai, nước Nga hôm qua đã do thám chúng ta, nhưng viện trợ của chúng ta là để hỗ trợ một nước Nga tương lai, bằng cách nhấn mạnh cải cách kinh tế và dân chủ, tiêu hủy vũ khí hạt nhân của họ. Hơn nữa, Nga không phải là nước duy nhất có gián điệp do thám Mỹ.

        Đến cuối tháng, một người định cư Do Thái cực đoan giận dữ với khả năng phải trao trả Bờ Tây lại cho người Palestine, đã nã súng vào một số người đến thờ cúng tại đền Abraham ờ Hebron. Tên sát nhân đã tấn công vào tháng Hồi giáo Ramadan, tại một vùng thiêng liêng đối với cả người Hồi giáo lẫn Do Thái vì đây được xem là nơi yên nghỉ của tổ phụ Abraham và vợ ông, Sarah. Rõ ràng ý định của người này là châm ngòi cho các hoạt động bạo lực có thể gây khó khăn cho tiến trình hòa bình. Để giải quyết, tôi yêu cầu Warren Christopher liên lạc với Rabin và Arafat và nhờ họ cử gấp các nhà thương thuyết đến Washington; những người này sẽ phải ở đây cho đến khi họ đạt được những thỏa thuận cần thiết. Ngày 28 tháng 2, các chiến đấu cơ của NATO bắn hạ bốn chiến đấu cơ của Serbia vì vi phạm vùng cấm bay, hành động quân sự đầu tiên trong lịch sử 44 năm của liên minh này. Tôi hy vọng các cuộc oanh kích cũng như thành công của chúng tôi nhằm giải tỏa Sarajevo bị bao vây sẽ thuyết phục được các đồng minh có thái độ mạnh mẽ hơn đối với sự lấn chiếm của người Serbia trong và xung quanh các thị trấn Tuzla và Srebrenica.

        Một trong những đồng minh là John Major, ngày hôm đó lại đang ở Mỹ để bàn bạc về Bosnia và Bắc Ireland. Đầu tiên tôi đưa ông ấy tới Pittsburgh, nơi ông của ông ấy từng làm việc trong ngành luyện thép hồi thế kỷ 19. Major có vẻ thích thú lần theo cội nguồn của mình dẫn về ngay trung tâm công nghiệp của nước Mỹ. Tối đó ông ở lại Nhà Trắng, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên ngủ lại đêm trong thời tôi làm tổng thống. Ngày hôm sau chúng tôi họp báo, không có gì đáng nhớ ngoại trừ thông điệp lớn mà nó phát đi: rằng chuyện bất đồng về việc cấp visa cho Adams không làm ảnh hưởng tới quan hệ Anh - Mỹ hoặc khiến chúng tôi không thể hợp tác chặt chẽ với nhau về Bosnia hay các vấn đề khác. Tôi thấy Major là lĩgười nghiêm túc, thông minh, và như tôi đã nói, ông là người thực tâm muốn giải quyết vấn đề Ireland, dù nỗ lực làm vậy tạo ra nguy cơ đối với tình cảnh đã khá bấp bênh của ông trong quốc hội. Tôi nghĩ ông ấy là một lãnh đạo giỏi hơn báo giới mô tả, và sau hai ngày cùng nhau chúng tôi đã giữ được mối quan hệ thân hữu và làm việc hiệu quả.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22370


« Trả lời #319 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2016, 05:50:52 PM »


        38

        Khi tôi đang bận bịu lo đối ngoại thì vụ Whitewater bắt đầu lùm xùm ở quê nhà. Vào tháng 3, Robert Fiske nhanh nhảu bắt tay vào công việc mới của mình bằng việc gửi giấy triệu tập cho một số nhân viên Nhà Trắng, trong đó có Maggie Williams và Lisa Caputo, những người từng làm việc cho Hillary và là bạn của Vincẹ Foster. Mack McLarty lập ngay một Đội Phản ứng Whitewater do Harold Ickes đứng đầu để tổng hợp trả lời cho các chất vấn của Fiske và của giới truyền thông, nhờ vậy tôi và các nhân sự khác của Nhà Trắng có thể yên tâm công tác cũng như để giảm tối đa những đàm luận giữa các nhân viên với nhau, hay với tôi hoặc Hillary, về đề tài Whitewater. Những cuộc trò chuyên như vậy chỉ khiến các nhân viên trẻ phải dính đến nhiều phiền toái. Có rất nhiều người mong kiếm lợi từ sai lầm của người khác. Nếu họ không tìm ra điều gì phi pháp trong chuyện mua bán đất đai của chúng tôi trước kia, có lẽ họ sẽ phát hiện được một ai đó mắc sai lầm trong quá trình giải quyết nó.

        Với tôi, hệ thông này làm việc rất ổn. Nói cho cùng thì ngay từ nhỏ tôi đã học được cách sống hai cuộc đời song song: hầu như lúc nào tôi cũng có thể mặc kệ mọi cáo buộc và cạnh khóe để tiếp tục làm việc. Tuy nhiên, những người chưa từng sống với môi đe dọa thường trực từ những đợt chỉ trích mang tính triệt hạ và tùy tiện sẽ khó mà chịu đựng nổi, đặc biệt là trong một môi trường mà bất kỳ cáo buộc nào cũng đều dẫn đến suy đoán có tội. Có một số chuyên gia, trong đó có Sam Dash, ca ngợi thái độ hợp tác của chúng tôi so với các chính quyền Reagan và Nixon, vì chúng tôi không chống lại lệnh triệu tập và giao nộp tất cả báo cáo cho Bộ Tư pháp và Fiske. Nhưng mục tiêu của cuộc tấn công đã thay đổi: hoặc là tôi và Hillary chứng minh được mình vô tội trước mọi cáo buộc mà đối thủ của chúng tôi nêu ra, hoặc là từ nay về sau tất cả các câu hỏi, các bài báo đều sẽ có giọng điệu đầy nghi ngờ. Đa số đang ngờ rằng chúng tôi hẳn đã làm gì đó sai trái.

        Chẳng hạn, khi báo chí săm soi báo cáo tài chính của chúng tôi, tờ New York Times viết rằng, khởi đầu từ số vốn đầu tư 1.000 đô la, Hillary đã kiếm được 100.000 đôla từ thị trường nhà đất trong năm 1979 với sự trợ giúp của Jim Blair. Blair là một trong số bạn thân nhất của tôi. Quả thật ông đã giúp Hillary và một số bạn bè trong chuyên mua bán nhà đất, nhưng vợ tôi đã tự chấp nhận rủi ro, phải trả hơn 18.000 đôla cho chi phí môi giới, và theo bản năng mách bảo đã rút chân khỏi thị trường này trước khi nó sụp đổ. Leo Melamed, thuộc đảng Cộng hòa, nguyên chủ tịch Sàn giao dịch Thương nghiệp Chicago, đã xem xét lại tất cả những cuộc mua bán của Hillary và kết luận là không có gì sai trái. Nhưng điều này chẳng thay đổi được gì. Trong nhiều năm, những người chí trích vẫn xem số lợi nhuận kinh doanh của Hillary như một bằng chứng tham nhũng hiển hiện.

        Đồn đoán về sai trái được phản ánh trong một bài báo trên tạp chí Newsweek, cáo buộc Hillary đã không phải bỏ tiền riêng của mình vào các "hợp đồng béo bở". Newsweek cho biết kết luận này được rút ra từ một phân tích dựa trên ý kiến của giáo sư Marvin Chirelstein, trường Luật Columbia, một trong những cíìuyên gia lão luyện của Hoa Kỳ trong lĩnh vực hợp đồng và luật công ty. Ông đã từng dạy tôi tại trường Yale, và luật sư của tôi từng nhờ ông xem lại bản khai thuế của chúng tôi trong các năm 1978-1979, tức là thời điểm diễn ra vụ Whitewater. Chirelstein phản bác bài báo của tờ Newsweek, ông cho biết mình "chưa hề nói như vậy", và ông bị "tổn thương" và "sỉ nhục".

        Cùng thời gian này, tạp chí Times đăng một tấm ảnh chủ ý cho thấy tôi đang ngồi bực bội với vụ Whitewater còn George Stephanopoulos đứng nhìn qua vai tôi. Thật ra, ảnh này được chụp tại một cuộc họp thường kỳ có sự tham dự của nhiều người khác. Trong ảnh gốc có ít nhất là hai người nữa, nhưng Times đã cắt mất.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM