Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Chín, 2019, 12:09:11 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phi công Mỹ ở Việt Nam  (Đọc 56152 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2015, 01:18:10 AM »

   

Thượng tướng Đào Đình Luyện (1929 - 1999), Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tong Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam - "Người anh cả" của ''gia đình"phi công tiêm kích Việt Nam.


Đào Đình Luyện thời trẻ, khi trực tiếp lái máy bay MiG-17 đưa Trung đoàn tiềm kích 921 từ Trung Quốc về Việt Nam.




Đón đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trung đoàn Không quân tiêm kích 921 tại Trung Quốc năm 1963

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2015, 03:20:11 AM »

   



Cùng cán bộ chiến sĩ đón Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng tới thăm Binh chủng Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng.




Tư lệnh Đào Đình Luyện họp bàn và trực tiếp chỉ huy những trận không chiến ác liệt nhất với Không quân Mỹ...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #32 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2015, 03:34:42 AM »

 

Tư lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện báo cáo với Quắn ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu phương án đánh B52 bảo vệ bầu trời Hà Nội, tháng 12-1972


 cùng Đại tướng văn Tiến Dũng chụp ảnh chung với "Phi đội Quyết thắng"năm 1975


Ngày 10-4-1994, tại Quảng trường Viện Bảo tàng quân sự cách mạng nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Trương Vạn Niên chủ trì lễ đón, chào mừng Thượng tướng Đào Đình Luyện, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam sang thăm Trung Quốc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #33 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2015, 03:15:25 AM »

 
 NHỮNG CHUYẾN BAY "TUYỆT MẬT" CỦA CÁC PHI CÔNG MỸ VÀ BÍ ẨN "CUỘC CHIẾN TRANH THỜI TIẾT"

        Từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 7 năm 1972 có tới 2.602 chuyến bay đặc biệt với gần 50.000 "đơn vị hóa chất" đã được người Mỹ huy động cho cuộc chiến tranh này. Những chuyến bay của các phi công Mỹ phục vụ cho cuộc chiến này bí mật tới mức... ngay cả Uỷ ban An ninh Quốc gia và các cố vấn thân cận nhất của Tổng thống Mỹ hồi đó đã không hề biết! Và thậm chí chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nói rằng ông ta... không được báo cáo (!?). Có phải thủ phạm của vụ lụt khủng khiếp năm 1971 ở miền Bắc Việt Nam là... "Cuộc chiến tranh thời tiết"?

        Bài viết dưới đây chúng tôi thực hiện từ năm 1999, nay bổ sung thêm một số tư liệu mới phục vụ bạn đọc.

        Sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, người Mỹ cần một lối thoát

        Đầu năm 1967, cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang ở vào giai đoạn gay go và quyết liệt. Sau khi bị thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Bộ Quốc phòng Mỹ đã nhanh chóng tăng thêm quân số trực tiếp tham chiến. Nếu như tháng 10 năm 1966, quân Mỹ ở Nam Việt Nam là 325.000 người, thì tới tháng 6 năm 1967, con số này đã tăng lên 463.000 người. Đó là chưa kể đến 54.000 lính đánh thuê và 600.000 lính của quân đội Sài Gòn.

        Và lúc này, ngân sách Mỹ dành cho quốc phòng chiếm 65%, cao hàng thứ ba trong lịch sử tài chính nước này. Chi phí cho chiến tranh Việt Nam lên đến gần 22 tỉ USD!... Với tất cả những nỗ lực trên, người Mỹ cho rằng họ sẽ dễ dàng bóp chết bộ đội chủ lực của Bắc Việt và nhanh chóng quét sạch "Việt cộng" ở miền Nam.

        Nhưng thực tế chiến trường thì chứng minh ngược lại: Cuối tháng 2 năm 1967, quân Mỹ mở chiến dịch Junction City nhằm càn quét và tiêu diệt chiến khu D. Nhưng âm mưu và kế hoạch của chúng đã bị thất bại thảm hại.

        Về Không quân, trung bình mỗi ngày vẫn có hàng trăm lượt chiếc máy bay mang bom đạn đi bắn phá miền Bắc Việt Nam, nhưng cũng vì thế mà số máy bay Mỹ bị bắn rơi đã lên tới gần 2.000 chiếc!

        Để đối phó với tình hình, giữa tháng 3 năm 1967, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson đã quyết định cách chức Henry Cabot Lodge, đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam và đưa Ellsworth Bunker lên thay thế. Chưa yên tâm, ông ta đã vội bay sang Guam rồi cho triệu các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ cùng các quan chức chóp bu của chính quyền Sài Gòn đến để tìm giải pháp cứu vãn tình thế. Đồng thời, Johnson cũng chỉ thị cho Lầu Năm Góc phối hợp với Cục Tình báo Trung ươrìg Mỹ CIA phải tìm mọi biện pháp để chống lại cuộc kháng chiến của Việt Nam.

        Và một trong những biện pháp mà các chuyên gia Cục tình báo Quân đội Mỹ (DIA) và Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) phối hợp thực hiện là tiến hành các chiến dịch gây mưa nhân tạo, rải hoá chất nhờn, nhằm làm sụt lở, lầy lội, trơn trượt,... mà người viết cuốn sách này tạm gọi là "Cuộc chiến tranh thời tiết".

        Cuộc chiến tranh nói trên đã được người Mỹ tiến hành ở Mệt Nam hoàn toàn bí mật, với một quy mô khá rộng lớn, kéo dài lới sáu năm trời ròng rã, từ đầu năm 1967 đến cuối năm 1972...

        Vậy người Mỹ đã tiến hành ''Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam để nhằm mục đích gì?
 
        Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ thừa hiểu rằng: Nguồn cung cấp hậu cần, nguồn nuôi dưỡng sức mạnh chiến thắng của Lực lượng Cách mạng và Quân giải phóng miền Nam chính là từ miền Bắc! Ngoài việc trực tiếp lao động sản xuất, miền Bắc còn thay mặt cả quân và dân miền Nam tiếp nhận rất nhiều viện trợ của bạn bè năm châu, đặc biệt là vũ khí, lương thực của các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa anh em ủng hộ cho cuộc kháng chiến... Nếu muốn giành thắng lợi ở chiến trường miền Nam thì họ phải bằng mọi biện pháp cắt đứt nguồn cung cấp này!

        Hẳn nhiều bạn đọc còn nhớ: Tháng 5 năm 1959, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thành lập "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" lấy mật danh là "Đoàn 559". Đơn vị này có một số nhiệm vụ chính: Tổ chức mở đường giao thông quân sự vào miền Nam, dọc theo dãy Trường sơn; vận chuyển hàng quân sự cho miền Nam; đưa, đón cán bộ, bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam...

        Bắt đầu từ đây, Đường dây 559 - còn gọi là "Đường mòn Hồ Chí Minh" - trở thành con đường huyền thoại, và trong suốt 16 năm (1959 - 1975), hàng triệu tấn hàng hoá, vũ khí, lương thực... cùng hàng triệu lượt bộ đội, cán bộ ở miền Bắc đã theo con đường huyền thoại này chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ cho tới ngày toàn thắng.

        Theo tài liệu lưu trữ phía Mỹ cho biết: Các chuyên gia Cục Tình báo Trung ương Mỹ và Cục Tình báo quân đội Mỹ đã nghiên cứu và thấy rằng lực lượng Hậu cần của miền Bắc thường dùng các dòng suối trên đất Lào, theo các nhánh chảy vào sông cửu Long để thả các chuyến hàng quân lương, quân nhu... xuống miền Nam cung cấp cho các chiến trường.

        Thường thì hàng tiếp liệu được đựng trong các thùng gỗ tròn, hoặc bọc trong các bao nilon nhiều lớp, rồi thả từ đầu nguồn, nổi lềnh bềnh, trôi theo dòng nước. Một bộ phận đã được báo trước và đón sẵn...

        Cứ thả 10 bao thì rơi rụng, mắc kẹt, hoặc hư hỏng dọc đường mất một nửa, chỉ thu lại được 5 bao, thậm chí còn 3 bao. Nhưng rõ ràng là cách làm này có hiệu quả và đỡ hao tổn xương máu rất nhiều so với việc xe vận tải phải cướp đường, liều mình vượt qua các túi bom, các trọng điểm đánh phá ác liệt của Không quân Mỹ.

        Theo thiếu tướng Nguyễn An, nguyên Cục trưởng Cục vận tải quân đội sau này hồi tưởng lại: Trung bình cứ 1.000 tấn hàng vào tới được chiến trường, chúng ta phải chấp nhận có 78 chiến sĩ hy sinh và 25 ô tô vận tải bị đối phương bắn cháy, bị hư hỏng, rơi xuống vực sâu...

        Cũng với con đường huyết mạch 559 này, một số lượng hàng hoá không nhỏ đã được lực lượng Hậu cần miền Bắc Việt Nam vận chuyển bằng cách sử dụng súc vật thồ, kéo và bằng chính sức người mang vác trên vai, cõng và gùi sau lưng... Các chuyên gia Mỹ đã không hiểu rằng với ý chí kiên cường, tinh thần yêu nước của cả một dân tộc, thì dù có sử dụng đến bao nhiêu bom đạn chăng nũầ, họ cũng không thể nào chặt đứt được con đường huyết mạch Trường sơn.

        Và trong bối cảnh đó, "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được "những cái đầu nóng" của Lầu Năm Góc hy vọng như là một sự cứu cánh, giúp họ thoát khỏi sự bế tắc và sa lầy trên chiến trường ở Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #34 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2015, 05:50:04 AM »


        Kế hoạch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được
        tiến hành như thế nào?

        "Cuộc chiến tranh thời tiết" thực chất, đó là việc các chuyên gia Mỹ lợi dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật, tiến hành các hoạt động rải hoá chất, để làm thay đổi thời tiết, tạo nên các trận mưa nhân tạo dữ dội trên miền Bắc Việt Nam, Lào và đặc biệt là con đường huyết mạch 559 dọc Trường sơn.

        Sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã chính thức được phía Mỹ bí mật tiến hành từ tháng 3 năm 1967 và kéo dài cho đến tháng 7 năm 1972.

        Thực ra, người Mỹ đã có ý đồ thực hiện cuộc chiến tranh này từ rất lâu, nhưng chưa tìm ra chiến trường để thể nghiệm. Ngay từ thập niên 50 mở đầu thời kỳ "chiến tranh lạnh", giới quân sự Mỹ và phương Tây đã cho ra đời một thuật ngữ mới: "Chiến tranh khí tượng", vào năm 1953, trên một tờ tạp chí của Hội Khí tượng Mỹ đã cho công bố lời phát biểu của một nhân vật có tên là Gugengeima về khả năng lợi dụng vị trí và điều kiện địa lý của Liên Xô (cũ) để sử dụng các phương tiện và hoá chất tác động vào khí hậu, tạo ra sự ngập lụt hay hạn hán bằng phương pháp nhân tạo... phục vụ cho mục đích quân sự. Âm mưu tội ác điên rồ này đã bị các nhà khoa học ở nhiều quốc gia phản đối kịch liệt.

        Gây mưa nhân tạo là công việc kích thích vào quá trình tích tụ hạt mưa, cho dễ mưa hơn và tăng lượng mưa nhiều hơn. Đây chỉ là một trong những biện pháp điều khiển thời tiếi phục vụ cho một mục đích nào đó của con người. Chuyện này đối với những nước có nền khoa học và công nghệ phát triển trên thế giới không có gì là mới lạ. Tại một số nước, người ta có thể chủ động làm đẹp trời, không có mưa trong những ngày lễ hội, hoặc có mít tinh lớn. Tại những vùng chuyên canh trồng cây ăn quả, rau xanh lớn, người ta cũng thường can thiệp vào thời tiết để cho mưa sớm hơn, muộn hơn bình thường, hoặc ngăn chặn các nguy cơ mưa đá gây thiệt hại cho mùa màng... Nhưng những việc làm thay đổi thời tiết này là để phục vụ cho con người và vì hoà bình.

        Còn với người Mỹ và "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam thì lại khác. Họ đã muốn lợi dụng việc gây mưa nhân tạo với mục đích để... tạo nên thật nhiều lũ lụt ở miền Bắc Việt Nam! Như vậy, trong chiến cuộc chiến tranh Việt Nam, bên cạnh bom đạn là những vũ khí sát thương trực tiếp, Mỹ còn sử dụng một vũ khí khác không kém phần nguy hiểm là thời tiết. Đó là phương thức tác động vào sự biến đổi của khí hậu để tạo ra nhữhg kiểu thời tiết gây bất lợi cho các hoạt động của đối phương, thậm chí là phá hủy cơ sở hạ tầng, tiêu diệt hệ sinh thái trong khu vực mà nó được sử dụng. Mượn bàn tay của thiên nhiên để tiêu diệt đối phương nên thời tiết được liệt kê vào một dạng vũ khí khi nó được sử dụng cho mục đích chiến tranh.

        Vào cuối năm 1965, khi nhữhg nỗ lực nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược trên đường mòn Hồ Chí Minh không đem iại kết quả mong muốn, Mỹ đã thay đổi chiến thuật. Họ đã ứng pụng kỹ thuật của Nhà toán học người Mỹ John von Neumann tìm ra vào cuối nhữhg năm 1940. Neumann nhận thấy rằng việc sử bụng kỹ thuật "gieo hạt vào đám mây" bằng tinh thể iốt bạc trộn ẫn với carbon dioxide có thể làm tăng sự ngưng tụ của hơi nước của các đám mây và gây mưa. Và như vậy, có thể tác động kéo dài và làm trầm trọng thêm mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh, đặc biệt là ở khu vực đi qua Lào, để ngăn nguồn tiếp tế hậu cần và các đơn vị quân chủ lực từ miền Bắc đổ vào miền Nam.

        Chương trình được đặt mật danh là "Dự án Popeye", được đề xuất bởi Tham mưu trưởng liên quân Mỹ vào ngày 10 tháng 8 năm 1966 và được Bộ tư lệnh Hỗ trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Fiệt Nam (COMUSMACV) và Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ tại Thái Bình lương (CINCPAC) đồng tình ủng hộ. Theo đó, loại máy bay WC- 130 sẽ được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất vào các đám mây để gây mưa.

        Vào đầu tháng 9 tháng 1966, (thời điểm chuẩn bị bắt đầu mùa mưa ở miền Trung Việt Nam) Không quân Mỹ đã tiến hành khoảng 50 phi vụ thí điểm rải hóa chất gây mưa dọc theo sông sê kong và một số khu vực sông suối có đường Hồ Chí Minh đi qua ở Tây Nguyên. Sở dĩ, dự án được tiến hành ngay trong thời điểm bắt đầu mùa mưa để nhằm che giấu dư luận, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương và hoàn toàn không có sự can thiệp của Mỹ. Các thử nghiệm ban đầu cho thấy có đến 85% những đám mây được rải hóa chất đã gây mưa, lượng mưa trung bình tăng thêm 30%, mùa mưa có thể lo dài thêm từ 30 - 45 ngày so với trước, sự thành công ban đầu này đã khiến COMUSMACV lên kế hoạch thực hiện nó trên toàn Việt Nam. Và cuộc chiến tranh thời tiết đã mở rộng từ khu vực sông Sê Kong ra phía Tây Bắc Việt Nam, khu vực thung lũng A Sầu và sang cả khu vực đông bắc Campuchia...

        Các tài liệu còn lưu trữ được cho thấy, để phục vụ cho cuộc chiến tranh bí mật này, phía Mỹ đã chi tới 21,6 triệu USD, đã có tới 2.602 chuyến bay được thực hiện, và tổng cộng có 47.409 đơn vị hoá chất iode chì và iode bạc đã được phía Mỹ sử dụng cho mục đích đen tối của họ, với ảo tưởng có thể cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

        Ngoài việc rải hoá chất làm thay đổi thời tiết để gây mưa nhân tạo, người Mỹ còn cho đổ xuống các trọng điểm, những đoạn đường mòn xung yếu nhiều tấn hoá chất có tính trơn nhẫy, nhầy nhụa như kiểu "nhũ tương", khiến cho những nơi này lầy lội, trơn trượt, sụt lở... người và súc vật không thể nào qua được, còn xe thì bị trượt bánh lao xuống vực... Các chiến sĩ vận tải Trường Sơn của chúng ta nầm xưa thỉnh thoảng vẫn gặp những đoạn đường khủng khiếp như thế. Hồi ấy, họ không hề biết rằng thủ phạm gây ra những con đường lầy lội, bẩn thỉu ấy lại chính là Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ!

        Theo các phương tiện do thám quân sự Mỹ tính toán, thống kê, thì trước khi tiến hành các hoạt động của ''Cuộc chiến tranh thời tiết", hàng tuần có khoảng 9.000 lượt xe ô tô vận tải hàng quân sự của Hậu cần miền Bắc theo con đường huyết mạch 559 tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Nhưng do sự ảnh hưởng và cản trở của các chiến dịch trong "Cuộc chiến tranh thời tiết", số lượng xe đã rút xuống còn 900 lượt chiếc mỗi tuần. (Nghĩa là còn 10% so với trước). Một kết quả vượt quá sự mong đợi của Lầu Năm Góc!

        Trong gần sáu năm trời nói trên, chương trình hoạt động mưa nhân tạo được quân đội Mỹ tiến hành ở Việt Nam, dưới nhiều mật danh khác nhau. Đầu tiên là "Chiến dịch Đồng hương", rồi "Chiến dịch Trung gian", sau cùng là "Chiến dịch Mở mắt".

        Riêng năm 1970, đã có tới 277 chuyến bay được xuất phát, với 8.312 đơn vị hoá chất gây mưa đã được rải xuống, tập trung trong thời gian mùa hạ và mùa thu. Hẳn nhiều người còn chưa quên nhữhg trận mưa như thác đổ năm ấy ở vùng rừhg núi Tây Bắc và cả ở một số vùng khác của miền Bắc nước ta.

        Tài liệu còn lưu trữ được của phía Mỹ cho thấy: Tháng 6 năm 1971, tại một vùng đồi núi biên giới Việt - Lào, lượng mưa đo I được là 40 xăngtimét. Các chuyên gia phân tích dữ liệu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ cho rằng khoảng một nửa lượng mưa ấy là do các hoạt động của "Chiến dịch Mở mắt" tạo ra.

        Hồi đó, hình như dân mình còn chưa biết đến các thuật ngữ Enninô và Lanina. Tất cả những hiện tượng thời tiết không bình thường kể trên, người ta đều đổ lỗi cho... trời!
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười Một, 2015, 10:40:53 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #35 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2015, 05:25:34 AM »

 
        Có phải vụ lụt khủng khiếp năm 1971 d miền BắcViệt Nam
        là hậu quả của "Chiến tranh thời tiết"?

        Do lịch sử để lại, công việc trị thuỷ của cha ông đã tạo nên một hệ thống đê điều vĩ đại, dài hàng nghìn kilômét ở miền Trung và đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hệ thống đê điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với an ninh đất nước trong mùa mưa lũ. Hàng năm, kế tiếp nhau đời này qua đời khác, công việc đắp đê chống lụt được tiến hành bền bỉ, kiên trì... Tuy nhiên, mặt trái của việc đắp đê này là việc phù sa không được bồi đắp cho châu thổ, mà lắng đọng tích tụ lại, khiến cho lòng sông Hồng ngày càng bị nâng cao lên...

        Người ta đã tính toán đo đạc và thấy rằng về mùa lũ, mặt nước sông Hồng có thể dâng cao hơn mặt ruộng và làng mạc hai bên bờ sông tới... gần 10 mét! Với mức nước chênh lệch như vậy, nếu đê vỡ thì thật khủng khiếp! Trong khi đó, chất lượng của các đoạn đê lại không giống nhau, đặc biệt là các tuyến đê trọng điểm. Nếu không được xử lý tốt về nền móng với nhữhg đoạn lòng sông có nhiều cát chảy, qua đầm lầy, nhiều tổ mối... thì rất khó chống lại với thiên tai trong mùa mưa bão như lũ kéo dài, lũ cao cực đại.

        Khi nghiên cứu về lũ lụt của hệ thống sông Hồng ở đồng bằng Bắc Bộ, các chuyên gia quân sự Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã thấy rằng đó là sự kết hợp lũ của ba nguồn nước hung dữ là sông Thao, sông Lô và sông Đà. Chúng có thể gây ra trên diện tích lưu vực rộng lớn tới gần 50.000 kilômét vuông và hầu như không có trung lưu. Lũ sông Hồng có đặc điểm là biên độ hằng năm rất lớn (có thể lên tới 12 mét đến 16 mét); cường suất lên rất nhanh (có thể tới 7 mét/ngày) và tốc độ dòng chảy lớn nhất có thể đạt tới 4-5mét/giây. Vì vậy, chỉ cần sau hai đến ba ngày ở thượng nguồn có mưa lớn, là lũ đã có khả năng tràn về tới đồng bằng gây thiệt hại thật khôn lường...

        Cũng theo các chuyên gia Mỹ thống kê thì chỉ riêng trong thập kỷ 60, trên thế giới đã xảy ra ít nhất là 151 trận lũ lụt lớn, làm cho 24.000 người chết, thiệt hại về kinh tế ước tính lên tới hàng nghìn tỷ USD.

        Còn ở Việt Nam, đã từ nhiều năm trước đây, lũ sông Hồng luôn ẩn chứa sự đe doạ khủng khiếp đối với dân cư hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Dưới chế độ phong kiến, với nhữhg triều vua bạc nhược và thối nát, chuyện vỡ đê, mất mùa như cơm bữa. Năm 1915, đê sông Hồng bị vỡ tới 45 nơi. Riêng tỉnh Hà Đông (cũ) đã bị nhấn chìm dưới 40 triệu kilômét khối nước trong 3 tháng liền. Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, đê sông Hồng đã bị vỡ tới 34 lần. Đê Văn Giang bị vỡ liên tục 18 năm liền... Gần đây nhất, lịch sử còn ghi nhớ trận vỡ đê năm 1945. Tại Hà Nội khi mực nước sông Hồng lên tới 11,45 mét thì đoạn đê xung yếu đầu tiên bị phá vỡ. và khi đỉnh lũ lên sắp chạm tới con số 13 mét thì đã có tới 52 đoạn đê bị nước cuốn trôi... Làng mạc, ruộng đồng đã ngập trắng trong biển nước mênh mông. Mùa màng cùng súc vật và gia cầm bị mất sạch.
Trận "đại hồng thuỷ" do lũ lụt, vỡ đê năm Ất Dậu ở miền Bắc Việt Nam cộng thêm chuyện "phá lúa trồng đay" của phát xít Nhật trước đó, đã tạo ra một nạn đói khủng khiếp, thê thảm và đau đớn nhất trong lịch sử dân tộc ta khiến cho hơn 2 triệu người dân Việt Nam bị chết đói! xác của họ nằm rải rác khắp nơi, không còn người thân để chôn cất. Chính quyền thực dân Pháp đã "giúp đổ" bằng cách cho từhg đoàn xe bò đi nhặt xác người, đổ chung vào nhữhg chiếc huyệt khổng lồ đào sẵn, rồi lấp đất vội vàng...

        Theo kế hoạch đã được hoạch định của "Cuộc chiến thời tiết", một trong những mục tiêu mà các chuyên gia Mỹ đã tính toán kỹ là: Nhằm thời điểm lưu vực sông Hồng đang nhiều mưa lũ, tăng cường rải hoá chất để tạo thêm những trận mưa dữ dội, khiến cho mực nước sông Hồng dâng cao, đẩy lũ lên tới cực đại. Tiếp đó là sử dụng Không quân, hoặc biệt kích làm vỡ đê sông Hồng ở đoạn xung yếu nhất... và trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn trăm bề, lại thêm lũ lụt, mất mùa... rất có thể Bắc Việt Nam sẽ tái diễn lại thảm cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Dân chúng sẽ rất bất bình, tự sinh ra bạo loạn để lật đổ chế độ Cộng sản xã hội chủ nghĩa...

        Rõ ràng, đó là một âm mưu tội ác cực kỳ thâm độc và dã man mà ''những cái đầu nóng" của Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã nghĩ ra.

        Tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Johnson buộc phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân và Hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Theo lệnh đó, tất cả các hoạt động của Không quân Mỹ trên vùng trời miền Bắc nước ta đã bị cấm. và các chuyến bay hoạt động gây mưa nhân tạo trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam cũng chấm dút. Nhưng các chuyên gia Cục Tình báo Trung ương Mỹ và Cục Tình báo Quân đội Mỹ đã không chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng như thế! Họ đã nghĩ ra cách chuyển các hoạt động gây ra mưa nhân tạo sang vùng trời của Lào, biên giới Đông Bắc Lào - Việt và thậm chí các hoạt động này còn tăng cường hơn trước. Những trận mưa "thối đất thối cát" trút xuống xứ này rồi cuối cùng đã theo những dòng sông, khe suối đổ cả về Việt Nam... để tạo thành lũ lụt. Các chuyên gia quân sự Mỹ đã tính toán rất kỹ chuyện đó!

        Theo số liệu tổng hợp chúng ta còn lưu trữ được: Tháng 8 năm 1971, do mưa lớn tập trung nên lũ dồn về rất nhanh và đỉnh lũ cao đột xuất. Tại Yên Bái, mực nước dâng cao 8 mét trong vòng 3 ngày. Tại Tuyên Quang, mực nước dâng cao 9 mét trong vòng 5 ngày, còn ở Hà Nội, chỉ sau 3 ngày đêm mực nước từ 12 mét đã lên 14,13 mét (vượt quá mức thiết kế cho phép của đê sông Hồng là 0,83 mét). Nếu không xảy ra vỡ đê và hồ chứa Thác Bà không điều tiết lũ (khoảng 1.100 mét khối/giây), không phân lũ qua sông Đáy (khoảng 2.500 mét khối/giây); thì lưu lượng lũ lớn nhất ở sông Hồng đoạn ở sơn Tây sẽ xấp xỉ 38.000 mét khối/giây; còn ở Hà Nội, mực nước lũ có thể lên tới 14,80 mét... Đó cũng chính là mực nước lớn nhất trong vòng từ 200 đến 250 nầm qua.

        Nếu xét về mặt tái diễn lưu lượng của đỉnh lũ năm 1971 thì ước tính khoảng 300 năm mới lặp lại ở Tuyên Quang, khoảng 150 năm mới lặp lại ở Yên Bái và 250 mới có ở Sơn Tây.

        Các chuyên gia khí tượng giỏi nhất thế giới thời đó cũng không giải thích được chuyện mùa lũ lạ lùng trong những năm 1970 - 1971 ở Việt Nam. Bởi các chiến dịch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được phía Mỹ tuyệt đối giữ kín!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #36 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2015, 01:11:30 AM »

       
        Phi công Mỹ với những chuyến bay... "tuyệt mật"


        Sau này, chính Lầu Năm Góc Mỹ đã cho hay: Trong suốt sáu năm tiến hành "Cuộc chiến tranh thời tiết" nói trên, chỉ có tổng cộng 1.400 lượt người được quyền biết về các hoạt động này. Và họ cũng chỉ được biết từng phần việc do mình đảm nhiệm. Số người đó bao gồm các phi hành đoàn, nhân viên yểm trợ, họ đã trực tiếp thực hiện 2.602 chuyến bay và đã chuyển vận 47.409 "đơn vị hoá chất" phục vụ cho các chiến dịch. Trung bình, mỗi năm khoảng 230 người được tuyển chọn và kiểm tra kỹ về an ninh để làm công việc đó. Họ được tham gia hoạch định kế hoạch, vận chuyển, khiêng bốc hoá chất và thực hiện các chuyến bay công tác đặc biệt một cách hết sức bí mật.

        Một tài liệu của Lầu Năm Góc cho biết: Ngay Cục Tình báo Trung ương Mỹ cũng chỉ có Giám đốc và một số viên chức tham mưu hạn chế mới được phép biết đến các hoạt động gây mưa nhân tạo ở Việt Nam. Tài liệu lưu trữ nói trên còn cho thấy danh sách hơn 10 cơ quan, văn phòng "được phép thông báo tuỳ theo sự cần thiết của nhiệm vụ có liên quan". Trong danh sách các cơ quan này, người ta thấy có: văn phòng Bộ Tổng tham mưu liên quân, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trung tâm Khai thác và điều hợp Quốc phòng... và thậm chí, trong suốt một thời gian dài, nhiều sĩ quan cao cấp của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ (DIA) cũng không hề được thông báo có các hoạt động gây mưa nhân tạo trong các chiến dịch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" nói trên

        Các tin tức xung quanh "Cuộc chiến tranh thời tiết" mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã được bảo mật tuyệt đối theo một hệ thống đặc biệt. Đến mức nhắc đến nó được coi như là một sự "cấm kỵ". Nhiều năm sau này, một sĩ quan tình báo cao cấp trong quân đội Mỹ đã thú nhận: Hồi đó, ông ta thật sự "run rẩy sợ hãi" mỗi khi phải có nhiệm vụ thuyết trình hoặc cần nói đến các hoạt động này. Cấp trên của ông ta luôn nhấn mạnh rằng: "Nếu anh biết nhiều quá mức, sẽ chẳng có lợi gì cho tương lai và thậm chí có thể sẽ nguy hại đến tính mạng!"

        "Dự án Popeye" bắt đầu bị rò rỉ vào đầu năm 1972 khi Jack Anderson (người được mệnh danh là cha đẻ của báo chí điều tra hiện đại) công bố về loại vũ khí nguy hiểm này. Quốc hội Mỹ lập tức chất vấn Melvin Laird Bộ trưởng Quốc phòng về chuyện thực hư của "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam?

        Tuy nhiên, trong một bài viết của tác giả Huỳnh Hữu Nghiệp đăng trên tạp chí "Khoa học Nghiên cứu" (La Recfhenche) cho biết ngoài một số ý kiến phản đối, thì sau đó đa phần Thượng viện Mỹ đã chấp nhận đây là một chương trình trọng yếu, không chỉ với cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Đông Dương, mà còn có ý nghĩa đặc biệt đối với vị trí độc tôn của Mỹ trong thời hiện tại... Đó là vấn đề thuộc phạm vi chiến lược toàn cầu, không thể chậm hơn kẻ khác... Bởi thế, ủy ban tài chính Thượng viện Mỹ thông qua ngân sách 1970 -1972 cho chương trình này 5 triệu đô-la... Rồi những chuyến bay tuyệt mật trên vùng trời Nam Lào diễn ra liên tục... Tập hồ sơ của nghị sĩ Pell đã xác nhận: Các thí nghiệm đấ tăng lượng mưa lởn từ 30% đến 50% đủ nói rõ ở những tiểu vùng có chế độ gió mùa Đông Nam Á, thì việc tạo nên "Mưa chiến lược" kéo dài là hiện thực. Đó là thứ "vũ khí" cực kỳ lợi hại. Nếu bom đạn, chất độc hóa học không hủy diệt nổi sự sống trên Trường Sơn, thì việc "biến đổi thời tiết", gây ra nạn "'hồng thủy" sẽ đạt được bằng cách dìm tất cả mọi vật trong biển nước mênh mông... Nhưng Hoa Kỳ vẫn bưng bít dưới vỏ bọc "Công trình nhân đạo nghiên cứu chế ngự thiên nhiên với những tên đẹp "Sông Nin xanh" (Nile Blue), "Mở mắt" (Popeye), "Người đồng bào trung gian" (Intermediary Compatriot) để huyễn hoặc công chúng.

        Những trang tài liệu do tạp chí La Recfhenche đăng tải còn tiết lộ một điều khủng khiếp hơn: Trong khi Stephen, chi huy chiến dịch vẫn tiếp tục những phi vụ "rải hạt" tinh thể iot bạc và C02 tạo nhân đông kết trong tầng mây siêu lạnh, biến thành những trận mưa xối xả kéo dài hơn nửa năm, cản trở mọi hoạt động sản xuất, giao lưu trên Trường sơn. Hàng nghìn bản Lào bị dìm trong biển lũ, gầy nạn đói, bệnh dịch trầm trọng. Các chuyên gia Hoa Kỳ hào hứng: "Nếu tiếp tục hơn sẽ biến hết thảy thung lũng Trường sơn thành vùng đầm lầy, sức người không thể khắc phục. Hàng chục vạn cộng quân chỉ còn có cách ăn lá rừng cầm hơi...".
Nhưng rồi nguồn tin tình báo "Việt cộng ở miền Nam vẫn liên tục mở được nhiều trận đánh lớn" nghị sĩ McDonald cảnh báo: "... Thế có nghĩa là mưa lũ vẫn chưa thể chặn hắn sức hoạt động tiếp tế của đối phương...!" và tỏ ý hối tiếc bỏ lỡ cơ hội năm 1971-1972 làm tăng mưa lũ ở lưu vực sông Hồng tạo nên cuộc sống trôi nổi, hạ gục tiềm lực chi viện của miền Bắc... ông ta gợi ý: "Mùa khô Lào, Trường sơn chỉ có sương mù ẩm ở nhiệt độ 32F (0 độ C) thì phải phun hóa chất Sodium và Calcium Qoride bằng khối lượng vô cùng lớn mới có thể gây mưa... Song hiệu quả rất hạn chế, ảnh hưởng không đáng kể với thời gian dài hữu ích cho hoạt động vận tải của đối phương... Nhưng một khi tạo được những đợt "sóng thần" quét sạch mọi thứ tàng trữ của họ tập kết ở dải đất hẹp từ Nghệ An vào Quảng Bình. Lúc ấy mới thật sự trói chặt chân tay họ...

        Các chuyên gia khoa học quân sự Mỹ lại lao vào nghiên cứu thử nghiệm tạo "sóng thần" ở thềm lục địa Việt Nam: Nếu tạo ra một loạt vụ nổ định kỳ làm cho khối nước sâu 100 mét, rộng 10km, xê dịch đi 100m thì sẽ sinh công 100 mê-ga-tôn. sự giải tỏa năng lượng này tạo nên nhũĩig cột sóng đổ ập lên bờ, cuốn sạch mọi thứ tung lên đỉnh núi hoặc dìm xuống đáy biển... Chỗ tuyệt vời của sự hủy diệt đó là không để lại dấu ấn người tạo ra nó. Đối phương chẳng sao biết được, chỉ còn cách oán trời...!


        Điều ngạc nhiên là chính ngài Melvin Laird Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - nhân vật quyền hành "nghiêng đất ngửa trời" thời đó đã khẳng định với uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ: ''Chúng ta chưa hề thực hiện một chiến dịch nào đại loại như thế ở Bắc Việt Nam". Thậm chí, ông ta còn khẳng định với Quốc hội Mỹ rằng: Thông tin mà nhà báo Anderson nêu ra là ''một câu chuyện hoang đường và hoàn toàn sai sự thật". Nhưng hai năm sau đó, biết không thể che đậy mãi được, lại chính Melvin Laird đã phải thừa nhận: Tình thế lúc đó buộc chúng tôi phải nói dõi, để che đậy dự án vì lo ngại sự phản đối của cộng đồng quốc tế.

        Tháng 3 năm 1974, trong một cuộc điều trần bí mật tại uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội Mỹ, các nhân chứhg đều nói rằng: Nhữhg nguồn tin liên quan đến "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được bảo mật ở mức độ cao nhất, các tin tức xung quanh vấn đề này đã không được tiết lộ cho uỷ ban An ninh quốc gia biết. Một nhân chứhg nữa là vị Phụ tá cho Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đặc trách khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương - người mà lực lượng Phản ứng nhanh của Lầu Nầm Góc tại Việt Nam có nghĩa vụ phải ''bẩm báo" mọi việc - cũng đã thú nhận: "Lần đầu tiên tôi nghe nói đến các hoạt động của "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam là nhờ đọc một bài báo của ký giả Jack Anderson".

        Sự kiện Mỹ sử dụng vũ khí thời tiết trong chiến tranh Việt Nam đã vấp phải sự phản đối gay gắt của cộng đồng quốc tế. Trước tình hình đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Claiborne Pell và dân biểu Donald Fraser đã phát động một chiến dịch vận động chính trị về việc cấm sử dụng việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí nhằm chống lại một quốc gia nào đó.

        Mặc dù chưa có thống kê đầy đủ về thiệt hại mà "Chiến tranh thời tiết" gây ra, nhưng nó vẫn bị coi là một hành động vô nhân đạo và bị lên án gay gắt. Đến tháng 5 năm 1977, Đại hội đồng Liên HỢp Quốc đã bỏ phiếu chính thức thông qua công ước ENMOD quy định: Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp thay đổi thời tiết nhằm mục đích gây thiệt hại hoặc phá hủy hệ sinh thái chống lại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #37 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2015, 05:33:21 AM »


 
Nhũng chiếc máy bay WC-130 được phi công Mỹ sử dụng trong những chuyến bay tuyệt mật, cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây, nhăm biến chúng thành một thứ vũ khí ở chiến trường Việt Nam


Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất trong "chiến tranh thời tiết"


Các phi công Mỹ đã thực hiện hàng ngàn phi vụ bí mật rải hóa chất gây mưa, để thực hiện cuộc "Chiến tranh thời tiết" chống lại Việt Nam


Một đoạn đường Trường sơn bị tàn phá trong cuộc chiến này

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #38 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2015, 03:05:47 AM »

 
        "Chiến tranh thời tiết" trong tương lai?


        Gần đây, tác giả Fred Burks đã cho công bố trên trang Canada Global Reaserch một bài viết về Chương trình Nghiên cứu cực quang cao tần (HAARP) của Lầu Năm Góc, đang gây xôn xao cả thế giới, vì nó có thể làm thay đổi thời tiết cả trái đất.

        Website chính thức của HAARP cho biết: Các nhà phân tích đã tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm bằng cách sử dụng các tần số điện từ để đốt cháy các chùm năng lượng trực tiếp, dao động, để tạm thời kích thích một khu vực nhất định của tầng điện ly. Tuy nhiên, các nhà khoa học quốc tế lo ngại việc chủ động gây xáo trộn tầng điện ly nhạy cảm này có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về bão lốc và lũ lụt và thậm chí gây thảm họa như động đất hoặc sóng thần.

        Kênh truyền hình History thuộc mạng CBC của Canada cũng vừa cho trình chiếu một bộ phim tài liệu dài tới 45 phút nói về chương trình HAARP được sử dụng cho cuộc chiến tranh này đã mô tả: Dùng điện từ... phát ra tia chớp mạnh gấp hàng trăm lần dòng điện thường để thay đổi thời tiết. Tất cả các loại vũ khí này sử dụng năng lượng trực tiếp để tạo nên một xung điện từ mạnh. Năng lượng đó có thể được sử dụng để đốt cháy tầng điện ly nhằm biến đổi thời tiết thành một loại vũ khí chiến tranh. Quân đội Mỹ đã mất khá nhiều thời gian vào việc biến đổi thời tiết thành môi trường chiến tranh. Nếu một dòng điện từ bay trên một thành phố, về cơ bản tất cả các loại phương tiện điện tử trong các hộ gia đình sẽ bị phá hủy".

        Mặc dù các quan chức HAARP phủ nhận, nhưng dư luận lo ngại "chiến tranh thời tiết" bí mật của chương trình HAARP nhằm thúc đẩy mục tiêu giành quyền thống trị toàn bộ quang phổ của quân đội Mỹ vào năm 2020. Thậm chí HAARP còn có thể và đã được sử dụng vào việc thay đổi thời tiết, gây nên các trận động đất và sóng thần, phá hủy các hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu và nhiều tác dụng khác, vì vậy, Liên minh châu Âu (EU) đánh giá HAARP là mối lo ngại toàn cầu và đã thông qua một nghị quyết yêu cầu quân đội Mỹ cung cấp thêm thông tin về các rủi ro sức khỏe và môi trường của chương trình. Nhưng các quan chức HAARP khẳng định chương trình không có gì nguy hiểm và chỉ là công trình nghiên cứu khoa học phóng xạ. Nghị quyết của EU nhấn mạnh EU lấy làm tiếc vì Washington không cung cấp bất cứ thông tin nào về HAARP cho các nước, kể cả đó là đồng minh EU.

        Một số nhà phân tích còn nghi ngờ: HAARP có thể liên quan đến các thảm họa lớn từhg xảy ra trện Trái đất thời gian gần đây như động đất ở Haiti và sóng thần ở Indonesia; kể cả trận bão Katrina và các vấn đề thời tiết bất thường gần đây.

        Đặc biệt, còn có ý kiến cho rằng: Siêu bão Haiyan khủng khiếp đã tàn phá đất nước Philippine và đe dọa các tỉnh miền Trung và miền Bắc của Việt Nam cuối năm 2013, cũng là một "hậu quả ngoài ý muốn" của việc nghiên cứu loại vũ khí phục vụ cho nhữhg cuộc "chiến tranh thời tiết" mà người Mỹ đang tiến hành trên toàn cầu (!?)
Hà Nội, 1999-2013        
(CÒN NỮA)
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Một, 2015, 07:30:59 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21200


« Trả lời #39 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2015, 03:52:29 AM »

 
SỰ THẬT VỀ VỤ TẬP KÍCH CỨU TÙ BINH PHI CÔNG MỸ TẠI SƠN TÂY NĂM 1970

        Cuối tháng 11 năm 1970, Quân đội Mỹ đã sử dụng một số lượng lớn máy bay trực thăng, máy bay vận tải cùng hàng trâm máy bay phản lực chiến đấu khác hộ tống, phối hợp để đưa một đơn vị đặc nhiệm đến Sơn Tây, một địa danh nằm sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, nhằm giải thoát cho gần 100 Phi công Mỹ là tù binh bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

        Đây là một kế hoạch được người Mỹ chuẩn bị hết sức công phu, tốn kém, với sự tham gia của rất nhiều quan chức chóp bu trong bộ máy chiến tranh khổng lồ của một cường quốc quân sự hồi đó: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Melvin Laird, Bộ trưởng Ngoại giao W.P. Rogers, Cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, Giám đốc Cục tình báo Trung ương R.M. Helms,... và đích thân Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã phê chuẩn cho kế hoạch này.
Vụ tập kích cứu tù binh Phi công Mỹ bị giam giữ ở sơn Tây nói trên đã nằm trong số những hồ sơ lưu trữ tuyệt mật của quân đội Mỹ một thời.

        Phi công Mỹ như những vị "khách không mời" từ
        trên trời rơi xuống... Việt Nam


        Có lẽ, Trung uý hải quân Everett Alvarez là một trong những người nổi tiếng nhất nước Mỹ trong những năm cuối của thập niên 60, thế kỷ này. Nhưng không phải anh ta đã có một hành động anh hùng, một khả năng phi thường, hay một chiến tích oanh liệt nào đó; mà đơn giản, Alvarez chính là viên Phi công Mỹ đầu tiên bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn rơi và bị bắt làm tù binh.

        Đó là ngày 5 tháng 8 năm 1964 khó quên, sau cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc bộ" do phía Mỹ cố tình dựng nên, theo lệnh của Tổng thống Lyndon B. Johnson, Alvarez đã lái chiếc máy bay A4D (được mệnh danh là "Chim ưng nhà trờỉ'), đi ném bom Quảng Ninh - Hải Phòng. Trước lưới lửa phòng không dày đặc, hai chiếc phi cơ hiện đại của không quân Mỹ đã trúng đạn và bốc cháy như bó đuốc... Lạy Chúa! Alvarez đã kịp thoát ra khỏi cái lò lửa ngùn ngụt ấy mà nhảy dù xuống biển và anh ta đã bị tóm cổ ngay tức khắc...

        Năm đó Alvarez mới có 26 tuổi, phải ngồi trong buồng giam số 6 ở Hỏa Lò gần 10 năm. Đây có lẽ cũng là người Phi công Mỹ có "thâm niên" tù binh cao nhất ở Việt Nam. Bị bắt giam chưa được bao lâu, anh ta đã phải dở khóc dở cười khi nhận được tin cô vợ trẻ của mình ở Mỹ đòi tòa án cho ly dị với chồng để đi tìm hạnh phúc mới!

        Nhưng dù sao thì Trung uý Everett Alvarez đã có may mắn hơn so với nhiều đồng đội của mình. Bởi cũng từ ngày đó, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc nước ta tuy không tuyên bố nhưng đã bắt đầu và ngày càng leo thang ác liệt hơn. Tổng thống Mỹ Johnson liên tục hò hét đẩy mạnh chiến tranh. Bình quân thời gian đầu có khoảng 70 lần chiếc máy bay đi oanh tạc trong một ngày. Trong năm 1966, số máy bay Mỹ xuất kích đi ném bom miền Bắc Việt Nam đã tăng lên mỗi ngày là 223 lần chiếc, và tới cuối năm 1967, trung bình hàng ngày có tới 300 lần chiếc xuất kích đi gây tội ác...

        Cùng với sự gia tăng các cuộc oanh tạc, số máy bay của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc nước ta cũng ngày một nhiều hơn.

        Phía Mỹ công bố: Cuối năm 1965, đã có 61 Phi công Mỹ bị Việt Nam bắt. Năm 1966, trung bình cứ 10 ngày lại có 8 chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, và có thêm 86 Phi công Mỹ (ĩơỡc đưa vào "Khách sạn vỡ tim "(hay là "khách sạn Hilton"- theo cách gọi hài hước của Phi công Mỹ) ở Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1967, hầu như chẳng mấy ngày lại không có tin máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Hà Nội, Hải Phòng, hay ở một địa phương nào đó trên miền Bắc Việt Nam...

        Một trong những Phi công Mỹ có may mắn ấy là Trung tá Richard "Pop" Kiern. Máy bay của anh ta bị bắn rơi ngày 24-7 năm 1965, khi nhảy dù được xuống đất thì bị bắt sống. (Đây cũng chính là ngày rất đáng ghi nhớ của Bộ đội Tên lửa non trẻ của Việt Nam, trận đầu ra quân đầ đánh thắng, bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại của không lực Hoa Kỳ!)
Với "Pop" Kiern, đây là lần thứ hai anh ta là tù binh. Lần đầu, trong Chiến tranh Thế giới thứ II, anh ta là Phi công lái máy bay B17 và đã bị bắn rơi trong chuyến công vụ đầu tiên tại mặt trận Đức. "Pop" Kiern đã phải nằm ở trại giam của Đức Quốc xã 9 tháng. Nhưng đó là trại giam của bọn phát xít, và anh ta đã chiến đấu trong lực lượng của quân Đồng Minh, dù sao cũng có chút ít vẻ vang, còn khi sang Việt Nam, "Pop" Kiern lái chiếc F105 " Thần Sấrri", đẫ bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh ngay ngày thứ ba sau khỉ đến chiến trường này. Mãi tới năm 1973, sau khi được trao trả, anh ta đã chua chát thú nhận: "Tôi chỉ thực nghiệm vài giờ bay chiến đấu theo lệnh của cấp trên, còn sau đó thi làm tù binh và nằm ở trại giam gần 10 năm trời. Hình ảnh của Không lực Hoa Kỳ sẽ kiêu hùng hơn nhiều, nếu không có những chiếc máy bay bị lưới lửa phòng không Việt Nam bắn rơi và những tù binh như chúng tôi".

        So với Trung tá Richard "Pop" Kiern, cuộc đời cầm lái của rrung tá James Robinson Risner có vẻ oanh liệt hơn. Anh ta vốn là một người hùng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, với 109 Dhi vụ thành công và hơn 3.000 giờ bay chiến đấu (một kỷ lục nà không phải bất kỳ một Phi công quân sự nhà nghề nào cũng lạt được!). Risner đã bắn hạ được 8 phi cơ của đối phương trong các cuộc không chiến ác liệt. Nhưng khi sang đến chiến :rường Việt Nam, mới bay đến phi vụ thứ 5 thì anh ta đã bị bắn cháy. Vốn là con cáo già lão luyện, Risner đã lái máy bay lao ra biển và nhảy dù xuống nước. Đội cứu hộ trên biển của quân đội Mỹ lần đầu ra tay đã cứu được anh ta khỏi chết đuối. Báo chí Mỹ hồi đó đã tuyên truyền rùm beng cả tháng trời về chiến tích này. Tờ thời báo Tỉme đã in cả ảnh của Trung tá Robinson Eisner, ca ngợi anh ta như một người hùng mẫu mực và siêu đẳng của không lực Hoa Kỳ. Nhưng cũng thật nực cười, vì sau đó báo chí Mỹ đã lờ tịt đi khi tới ngày 16-9 năm 1965, ngựa quen đường cũ, Risner lại ngồi vào chiếc "Thần Sấm" F105D đi gây tội ác, và lưới lửa phòng không của bộ đội Việt Nam đã quật cổ anh ta xuống đất Đò Lèn (Thanh Hóa). Lần này thì Chúa trời cũng chẳng cứu được Risner! Sau khi thú nhận hết tội lỗi của mình đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trước các nhà bảo, anh ta đã chui vào nằm "an dưỡng" trong trại giam bảy năm rưỡi, cho tới khi được trao trả. Một điều có lẽ cũng cần Ịhải nói thêm là: Khỉ bị bộ đội ta bắn rơi và bị bắt làm tù binh, 'người hùng" Mỹ này đã khai báo ngoan ngoãn và thành khẩn đến mức đáng ngạc nhiên. Nghe nói, sau ngày được trao trả, anh ta lại tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và còn được vinh thăng tới cấp Thượng tướng.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM