Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2019, 11:55:49 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phi công Mỹ ở Việt Nam  (Đọc 55251 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #40 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2015, 06:05:52 PM »

        Trong số các vị khách không mời từ trên trời rơi xuống ấy, không thể không kể đến một nhân vật khá đặc biệt, một "cậu ấm" của quân đội Mỹ. Đó chính là Thiếu tá hải quân John McCain, con trai của Đại tướng John s. McCain III. Máy bay của "cậu ấm" này trong khi đi ném bom nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) ngày 26 tháng 10 năm 1967, để "biến Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá!" - theo cách tuyên bố ngạo mạn của Mỹ, đã bị lưới lửa phòng không Thủ đô ta bắn rất trúng, gần như rơi thẳng đứng xuống nhà máy điện Yên Phụ. "Cậu ấm" bị thương rất nặng, nhưng cũng đã kịp nhảy dù và rơi tõm xuống hồ Trúc Bạch. Khi người ta kịp tới để vớt lên, "cậu ấm" này chỉ còn thoi thóp như một cái xác không hồn. oái oăm thay, đúng ba tháng sau ngày McCain con bị bắn rơi, thì McCain bố được Tổng thống Mỹ ký quyết định thăng chức Đô đốc Chỉ huy trưởng các lực lượng tác chiến khu vực Thái Bình Dương, để tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. McCain con đã được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, được chăm sóc thuốc men theo chế độ đặc biệt và 9 tháng sau, tháng 7 năm 1968, anh ta được trao trả cho phía Mỹ. Chẳng biết hồi đó, trước mỗi lần ra lệnh cho các đơn vị thuộc quyền đi gây tội ác ở Việt Nam, ngài Đô đốc McCain bố có suy nghĩ và ân hận gì không? Riêng McCain con, sau ngày được trao trả, ông ta đã trở thành một vị Thượng nghị sỹ Mỹ; thậm chí còn là ứng cử viên Tổng thống. Ngài Thượng nghị sỹ John Sidney McCain cũng đã nhiều lần trở lại thăm Việt Nam, thăm lại nơi mình đã bị bắn rơi và cả phòng giam mình đã nằm những tháng ngày đằng đẵng.

        Tối ngày 10 tháng 9 năm 1966, tại An Bình, một làng quê nghèo của tỉnh Hải Dương bỗng bùng lên một bó đuốc lớn giữa trời. Thì ra có máy bay Mỹ bị bắn cháy, cả làng hò nhau đi lùng bắt Phi công Mỹ. Số phận đã xui khiến cho lão Chộp, một thợ cày hết sức chân quê của làng An Đoài tóm được một trong hai viên Phi công Mỹ vừa thoát chết nhảy dù xuống đất... Gần 30 năm sau, viên Phi công ấy trở lại thăm An Đoài trong cương vị là thượng khách của Chính phủ ta - ngài Peter Peterson đáng kính, Thượng nghị sĩ Mỹ, vị Đại sứ đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. câu chuyện cảm động này đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa viết thành một thiên ký sự độc đáo, hẳn nhiều quý bạn đọc đã biết.
        Và còn nhiều, rất nhiều những chân dung đầy ấn tượng của các vị khách không mời từ trên trời rơi xuống nữa. Phía Mỹ cho hay: tới cuối năm 1968, tổng cộng đã có tới 356 Phi công của họ bị ta bắt làm tù binh, và cuộc đời của mỗi người trong số ấy đều là cả một câu chuyện dài, với bao tình tiết éo le...

        Trong thực tế, số Phi công Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc nước ta đến thời điểm đó còn lớn hơn nhiều. Bởi vì khi máy bay bị trúng đạn bốc cháy, không phải viên Phi công nào cũng may mắn kịp thoát được ra ngoài. Nhiều người bị trúng đạn chết ngay trong buồng lái. có người bị kẹt và đâm đầu xuống đất cháy thui cùng máy bay. Cũng có trường hợp đã nhảy được ra ngoài, nhưng dù lại không mở, hoặc dù mở nhưng bị trúng đạn và chết ngay từ trên không... Phía Mỹ công bố: tới cuối năm 1968, ngoài số Phi công "may mắn" được phía việt Nam bắt đưa về trại giam, đã có 927 Phi công khác bị chết trong khi thi hành nhiệm vụ.

        Hầu hết các Phi công Mỹ khi bị ta bắt được đều tỏ ra hối hận với những tội ác mà mình gây ra cho nhân dân Việt Nam. Họ thường nhanh chóng thật thà khai báo để mong được hưởng lượng khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ ta. Các "sĩ quan quý tộc" và "lính cậu" này rất sợ gian khổ, đau đớn và đói khat về thể xác.

        Tại Bảo tàng Phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật của các Phi công Mỹ khi bị bắn rơi. Từ những hiện vật hết sức riêng tư như nhật ký, ảnh vợ con, gia đình... đến các hiện vật có tính "quốc thể" như các loại trang bị, vũ khí có nhãn Made in USA, giấy chứng nhận, các loại tiền...

        Có một hiện vật hết sức thú vị, đó là tấm vải hình chữ nhật cỡ 25 cm X 50 cm, được in bằng thứ mực đặc biệt với hai màu xanh và đỏ, ngâm nước không phai và cực bền. Phi công Mỹ gọi đây là tờ "Phiếu máu", còn dân ta thì gọi là "Cờ xin ăn", (chả là trên đầu của tờ "Phiếu máu" có in hình lá cờ Mỹ và nội dung là để xin ăn). Nội dung của "Cờ xin ăn" này rất ngắn, nhưng được in bằng 14 thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia... Phần tiếng Việt viết thế này: Tôi là người Mỹ. Tôi không nói được tiếng Việt. Gặp bước không may, tôi phải nhờ quý ông giúp đỡ, kiếm thức ăn, chỗ ở và nhờ quý ông bảo vệ tôi. Rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa tôi đến một người nào đó có thể che chở cho tôi và đưa tôi về nước. Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông. Quả là một sự quan tâm hết sức cụ thể và chu đáo của Chính phủ Mỹ đối với những người lính viễn chinh xâm lược! Nhưng một sự thật là những Phi công Mỹ khi bị bắn rơi, may mắn thoát chết xuống được đến đất, thường ngoan ngoãn giơ tay đầu hàng ngay, không phải sử dụng đến "Cờ xin ăn".

        Hồi ấy, mỗi khi bị bắt buộc phải bay trên bầu trời đầy lửa đạn phòng không của miền Bắc nước ta, các "người hùng" Mỹ đều không khỏi khiếp sợ. Họ thường phải bay với tốc độ cao, có khi là tốc độ siêu âm trong nhiều giờ liền, với thần kinh tập trung cao độ, hết sức căng thẳng. Thân thể họ bị ép chặt vào ghế lái, cố gắng chống trả các xung lực gấp nhiều lần bình thường để không bị phóng ra ngoài, và khi máy bay bị trúng đạn, theo bản năng phản xạ trước cái chết, họ phải thao tác rất nhanh để bật tung người phóng ra khỏi buồng lái.

        Được biết, do thiết kế buồng lái, những Phi công lái máy bay phản lực chiến đấu hiện đại nhất của Mỹ hồi đó đều được khóa lại bằng những đai da để giữ chắc trong ghế ngồỉ. Nhưng hầu hết khi bay tới vùng trời miền Bắc Việt Nam, các Phi công đều tháo lỏng chiếc đai da đó để ngả người ra sau cho dễ nhìn vào kính ra đa, hoặc quan sát xung quanh canh chừng những chiếc MIG lợi hại của không quân Việt Nam bất ngờ xuất hiện phóng tên lửa. và khi máy bay bị trúng đạn, họ thường không còn đủ thời gian để siết chặt người lại bằng đai da. Khi phóng người thoát ra ngoài trong tư thế ấy, các Phi công thường bị va vào sườn buồng lái khiến họ gãy tay, dập gối, hoặc bị các chấn thương nặng khác... Tiếp đó, họ bị quay cuồng trong không khí, tay chân như bị lực siêu âm xé rời từng mảnh, cho tới khi chiếc dù tự động mở ra giúp họ tiếp đất... và thường là khi đó đã có rất nhiều người dân thường với súng, dao, gậy gộc, đòn càn, hoặc bất cứ thứ gì sẵn có trong tay, với ánh mắt rực lửa căm thù, trong không khí phẫn nộ đến cực độ lao đến...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #41 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2015, 04:43:18 AM »

        Nỗi khiếp đảm của các Phi công Mỹ hồi đó không chỉ mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc nước ta, mà dường như đã len vào cả trong mỗi bữa ăn, giấc ngủ của họ. Nhiều người đã chán chường dẫn đến nghiện rượu, thậm chí nghiện cả ma tuý; có một số người đã tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam.

        Hẳn nhiều bạn đọc còn nhớ những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt nhưng cũng rất hào hùng ấy. Cả miền Bắc nước ta đều là trận địa phòng không, sẵn sàng chia lửa đánh trả máy bay Mỹ. Chưa ai quên được cảnh thành phố đi sơ tán, tự vệ và dân quân trực chiến bắn máy bay, trẻ con đội mũ rơm đến lớp học trong hầm... Suốt đêm ngày, thỉnh thoảng bầu trời lại vang lên tiếng gầm rú của máy bay phản lực, tiếng bom nổ rung đất, tên lửa và đạn cao xạ bẳn đỏ trời đêm... Mỗi sáng ra, người ta nô nức tìm đọc tin thắng trận trên báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân; nghe loa phóng thanh công cộng phát đi bài xã luận mới nhất về trận thắng Mỹ đêm qua của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam...

        Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc nước ta đã leo thang tới mức độ ác liệt nhất. Các cuộc không chiến ngày càng dữ dội và thiệt hại của phía Mỹ cũng ngày càng tăng, có lẽ đây là cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử xâm lược quân sự của nước Mỹ. cùng với số lượng máy bay bị bẳn rơi ngày càng nhiều, số Phi công Mỹ bị ta bắt được, lần lượt đến đăng ký ăn ngủ tại "Khách sạn Hilton Hà Nội" cũng ngày càng đông hơn. Các Phi công Mỹ thường có khổ người to lớn quá cỡ, các phòng tạm giam họ ở Hà Nội khi đó luôn chật ních và thật sự là đã quá tải... Để vừa đảm bảo sự an toàn cho các tù binh Phi công Mỹ, đồng thời vừa phục vụ công tác đấu tranh chính trị, ngoại giao, trong điều kiện thời chiến thiếu thốn, khó khăn, nhiều trại giam tù binh phl công Mỹ đã được xây dựng hết sức bí mật.

        Phối hợp với chiến thắng của quân và dân miền Bắc, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của đồng bào và Quân giải phóng miền Nam đã làm nức lòng bè bạn năm châu và đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam đến từng gia đình người dân Mỹ. Tổng thống Mỹ Johnson đã phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân, Hải quân Mỹ chống lại miền Bắc Việt Nam. cùng năm đó, Chính phủ Mỹ đã phải chấp thuận cử đại biểu ngồi vào bàn thương lượng hòa bình với Việt Nam tại Hội nghị Paris.

        Từ "Khách sạn Vỡ Tim"...

        Giáo sư Benjamin F.Schemmer, một sĩ quan cao cấp của Lầu Năm Góc kiêm nhà báo và chuyên viên nghiên cứu lịch sử quân sự Mỹ, (người đã có công thu thập tài liệu và viết một cuốn sách khá công phu với nhan đề The Raid nói về cuộc tập kích của quân Mỹ ở sơn Tây; thông qua một nhân viên sứ quán Mỹ tại Hà Nội, ông đã nhiều lần liên hệ với người viết cuốn sách này để trao đổi tư liệu về sự kiện đặc nhiệm Mỹ tập kích trại tù binh sơn Tây nói trên) đã thống kê rằng trong số 356 "người hùng" của không lực Hoa Kỳ đã từng có "vinh dự" được ần ngủ ở Hỏa Lò của Hà Nội, chỉ có hai người lớn tuổi nhất là một Đại uý không quân và một Trung uý hải quân đều đã có vợ và hai con. Còn lại, tuổi trung bình của họ là 32 và hầu hết đang là lúc thanh xuân của cuộc đời. Trong đó, 85% số các Phi công này đã bay trên 15 phi vụ ném bom miền Bắc. Nghĩa là họ đã gây ra không ít tội ác, trước khi số phận được quyết định đến "an dưỡng" tại đây.

        Khi tiến hành thiết kế xây dựng nhà giam Hỏa Lò, những kiến trúc sư, kỹ sư người Pháp không hề nghĩ rằng nơi này sau đó sẽ được sử dụng để giam giữ những tù binh Phi công Mỹ - các sĩ quan quý tộc của ông bạn vàng giàu có và cường quốc quân sự. và như vậy, vô tình họ được "thơm lây" vì đã có vinh dự góp phần vào chiến thắng không lực Hoa Kỳ của Việt Nam. Các Phi công Mỹ đã gọi Hỏa Lò bằng một cái tên rất Mỹ: Khách sạn Hilton Hà Nội. Nhiều Phi công lại muốn gọi Hỏa Lò bằng cái tên khác, cho đúng với tâm trạng của họ khi bước vào đây: Khách sạn Vỡ Tim. Dù là Hiton Hà Nội hay Vỡ Tim thì nó cũng chỉ là một: Đó là nơi đã từng tạm giam những "người hùng" của không lực Mỹ khi đã bị thất thế từ trên trời rơi xuống đất!

        Bây giờ thì Hỏa Lò của Hà Nội chỉ còn lại một phần rất nhỏ, đủ cho người ta lưu luyến nhớ đến một chứng tích lịch sử. cơn lốc cơ chế thị trường trong thập niên 90 của thế kỷ trước ở nước ta đã thổi bay gần hết cả khối bê tông cốt thép rắn chắc đã sừng sững tọa lạc giữa lòng Hà Nội gần một trầm năm. Thay vào đó là một tòa nhà mấy chục tầng được thiết kế, xây dựng theo kiểu tân kỳ, để làm một trung tâm dịch vụ du lịch. Nghe nói, một cựu Phi công Mỹ khi đến thăm lại Hỏa Lò đã thốt lên tiếc rẻ: Nếu biết trước, với cương vị là Giám đốc một Công ty giàu có, ông ta sẽ bỏ tiền ra mua toàn bộ khu đất này và đề nghị với Chính phủ Việt Nam cho giữ lại nguyên trạng của Hỏa Lò xưa, rồi cải tạo, đầu tư biến nó thành một địa điểm du lịch đặc sắc. Sau đó, chỉ cần lần lượt tổ chức cho mấy trăm Phi công Mỹ từng là cựu ''công dân Hỏa Lò" 40 năm về trước cùng thân nhân và bạn bè của họ đến thăm. Khách sẽ được mời ngủ lại một vài đêm, cùng thưởng thức món phở Hà Nội, hoặc đậu phụ luộc chấm mắm tôm... thế là chủ chỉ còn việc tha hồ mà ngồi đếm đô-la mệt nghỉ. Ịrhật đúng là một sáng kiến kinh doanh kiểu... Mỹ!

        Nếu như trước đây cánh cửa đen sì của Hỏa Lò chỉ mở khi các chiến sĩ Cảnh sát dẫn giải các bị cáo ra Tòa án xét xử, tiếp nhận phạm nhân mới, hoặc chuyển trại cho phạm nhân; ai muốn vào thăm nuôi phạm nhân cũng phải đến đúng ngày giờ và được phép của cán bộ quản lý trại thì bây giờ quý vị và tôi có thể vào... dạo chơi ở tất cả các phòng giam trong Hỏa bất kể lúc nào, miễn là khi nó... mở cửa!
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Một, 2015, 04:38:00 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #42 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2015, 04:51:16 AM »

        Ngay ngoài cổng chính, bên dưới vòm cửa có dòng chữ MAISON CENTRALE (dấu tích của người Pháp để lại từ khi có trại giam Hỏa Lò), người ta đã dựng một tấm biển Nội quy nền trắng, chữ đỏ và đen kẻ nắn nót, với nội dung mời chào quý khách đến tham quan di tích lịch sử này vào tất cả các ngày trong tuần (trừ thứ Hai).

        Chỉ hơi tiếc một điều là phần trưng bày về các tù binh Phi công Mỹ còn rất ít và quá sơ sài. cả "khách sạn Hilton Hà Nội" xưa chỉ còn thu lại trong hai cần phòng nhỏ khoảng 10 mét vuông. Nơi đây, bạn có thể được chiêm ngưỡng một chiếc giường cá nhân với đầy đủ chiếu, chăn, màn... một chiếc hòm kính với những giày, dép, sách vở, lưới bóng bàn... mà những tù binh Phi công Mỹ đã sử dụng năm xưa. Ngoài ra, còn một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt thường nhật của các Phi công Mỹ trong tù như: nấu ăn, nhận quà thăm nuôi, xem thư nhà, cầu nguyện trong nhà thờ, v.v...
Trước ngày Hỏa Lò bị phá để giải phóng mặt bằng xây dựng vài tháng, có một đoàn làm phim chuyên nghiệp của nước ngoài, được trang bị rất hoàn chỉnh đến làm phim tư liệu tại Hỏa Lò. Bộ phim được mang một cái tên nghe hơi "gò bó", nhưng thiện ý và xây dựng: Tết Việt Nam, hòa giải, có thể nói, đây gần như là một sự "đặc ân". Bởi vì trước đó khu "cấm địa" này chưa hề có tiền lệ cho ai được tự do quay phim chụp ảnh. Những phóng viên ta "xịn", bình thường đi qua khu phố này, trước cánh cửa sắt nặng nề xám xịt và bức tường đá lạnh băng... đôi lúc còn có tâm trạng ngại ngùng, chứ đừng nói gì đến phóng viên của Tây, lại còn dám hành nghề đàng hoàng nữa! Một chuyện lạ kỳ hết sức kể từ khi ngôi nhà số Một của Hỏa Lò được sinh ra, chí ít là từ khi nó thuộc sự quản lý của chính quyền ta! Và còn một điều đặc biệt hơn, các diễn viên đóng vai chính cho bộ phim này đều mang quốc tịch Mỹ và là "cựu công dân Hỏa Lò" năm xưa. Đó chính là sáu Phi công Mỹ đã từng "làm khách" bất đắc dĩ ở Hỏa Lò trong những năm chiến tranh. Họ được đạo diễn đưa thẳng từ sân bay quốc tế Nội Bài về để gặp lại Hỏa Lò lần lượt từng người một, trong khi máy quay phim đã được bố trí đón sẵn để chớp luôn sắc thái, tâm trạng, giọng nói... của những người trong cuộc.

        Ông Pullman, vừa là đạo diễn vừa kiêm luôn quay phim "Tết Việt Nam, hòa giảỉ" bảo: "Nểu thuê diễn viên chuyên nghiệp, giỏi lắm cũng chỉ thể hiện được 60% tinh thần của kịch bản và đạo diễn, còn đây, tất cả đều thật 100%! Kê’ cả nụ cười và những giọt nước mắt."

        Một "diễn viên" hết sức quen thuộc mà bạn đọc đã biết: Trung uý Everett Alvarez, người Phi công có "thâm niên" tù binh đáng nể của Hỏa Lò, đã sắp bước sang tuổi 60, tóc bạc quá nửa đầu. Sau bao năm xa cách, giờ được gặp lại "cảnh cũ, người xưa", ông Alvarez xúc động không nói nên lời, mắt rưng rưng ứa lệ, tay run run chạm vào những chiếc chấn song sắt cũ kỹ và đứng lặng đi hồi lầu trước cần phòng giam quen thuộc năm ấy... Người viết bài này chợt nghĩ: Giá như hồi đó Tổng thống Bill Clinton được tận mắt chứng kiến cảnh đó, thì hẳn Chính phủ của ngài sẽ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ khi mới lên nắm quyền kia!

        Một tối đầu tháng 9 năm 1998, tôi được nhà văn Xuân Ba (tác giả của thiên phóng sự nổi tiếng một thời "Hỏa Lò tò mò... ký") dẫn đến thăm nhà ông 'Thổ công" của đất Hỏa Lò nhiều năm: Thượng tá Nguyễn Văn Hoắc, (hồi đó, ông Hoắc đã đeo lon Thượng tá công an gần 6 năm!). Vị giám thị ''Xứng danh anh hùng" của Trại Tạm giam công an Thành phố Hà Nội đang đợi chúng tôi, nhờ một cú "phôn" hẹn trước. Thật ra, cũng đã có vài lần tôi có dịp tiếp xúc làm việc với ông Hoắc, nhưng toàn là chỗ tập thể và đông người. Đây là lần đầu tiên tôi tìm đến "tư dinh" của Thượng tá Hoắc. Không hiểu sao, trong tưởng tượng của tôi, chắc chắn nó phải là một biệt thự rất oách nằm trên một đường phố lớn của Thủ đô. Nhưng không, tôi đã nhầm và không ngờ trí tưởng tượng của mình lại kém đến thế! Anh Xuân Ba đã dẫn tôi đi vòng vèo bỏ qua hết các đường phố cổ của Hà Nội rồi... chui qua gầm cầu Long Biên và... leo lên bờ đê sông Hồng... Thì ra, nhà của ông Thượng tá giám thị ở mãi tận... "Quân khu bãi sông"!

        Người ta thường đồn: Đã có hộ khẩu thường trú ở "ngoài đê" thì khiếp lắm! Các hộ dân ở đây, đến mùa mưa hàng nầm cứ lo nhoi nhói. Mỗi khi đài báo có lũ về là đêm nằm thấp thỏm, ăn ngủ chẳng yên. Nhà ông Hoắc cũng vậy. Nơi gia đình ông định cư bây giờ, trước vốn là cái ao rau muống, lẫn với bèo tây và rác rưởi; bùn và nước tù đọng đen ngòm, sâu đến mấy mét; còn nếu xét về mặt ô nhiễm, mất vệ sinh thì phải cỡ... nhất nhì xóm bãi! Chật vật mãi, cuối cùng vợ chồng ông Hoắc cũng san lấp được cái vũng bùn ấy và dựng lên một ngôi nhà nhỏ ở tạm. Nghe bảo, có lần ông dẫn bạn thân về nhà mình chơi, nước lũ về trước lúc nào không biết đã dâng ngập hết lối vào, thế là họ đành phải kê ghế, ngồi chồm hỗm trên đống gạch ngoài cổng mà tiếp chuyện nhau...

        Nhưng đó là chuyện của nhiều năm về trước. Rất mừng là sau đó vợ chồng ông Hoắc đã dồn sức tôn cao được cái nền nhà và xây lên tầng đàng hoàng, nên giờ đã có thể... "kê cao gối mà ngủ ngon" trong mùa mưa lũ.

        Biết chúng tôi tìm đến nhà không ngoài chuyện về các tù binh Phi công Mỹ, Thượng tá Hoắc nói ngay:

        - Hồi tù binh Phi công Mỹ bị giam giữ ở Hỏa Lò, tôi chưa về. Mãi tới năm chín mươi tôi mới được trên điều động đến tiếp quản nơi đó, thì "khách sạn Hilton Hà Nội" có còn vị khách nào đầu!

        - Nhưng chính bác là người đã nhiều lần được tiếp các cựu tù binh Phi công Mỹ đến thăm Hỏa Lò! - Xuân Ba khắng định như đinh đóng cột.

        - Cũng có đón tiếp, nhưng đâu phải nhiều lần! - ông Hoắc cải chính ngay - Họ ngó nghiêng bên ngoài chụp ảnh thì nhiều, còn chính thức thì chỉ có hai lần thôi. Lần đầu, là một đoàn phóng viên và làm phim đến quay phim tài liệu. Anh Xuân Ba là người được chứng kiến, đã kể hết chuyện ở trên báo rồi. Còn lần thứ hai, người đến thăm chúng tôi là ông John McCain.

        - Ông John McCain nào? có phải là "cậu ấm" (có bố đẻ và ông nội đều là Đô đốc trong quân đội Mỹ) đã bị bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch năm xưa?

        - Thì chính là ông ấy chứ còn ai nữa! Nghe giới thiệu, bây giờ ông ấy đã đeo lon Trung tướng và là Thượng nghị sỹ Mỹ. To lắm! Cấp trên báo trước cho chúng tôi là ông ấy có nguyện vọng được vào thăm lại căn phòng giam cũ. Khổ quá, tra sổ mới biết cần phòng đó đẵ được bố trí làm phòng làm việc của anh em cán bộ quản lý trại. Cực chẳng đã, chúng tôi đành phải chiều theo ý muốn của ông ấy bằng cách cùng nhau... khiêng hết cả giường tủ bàn ghế ra ngoài, để ông John McCain vào thăm và xác nhận đúng là căn phòng mình đã ngồi "bóc lịch" năm xưa. Hẳn là ông ấy đã hài lòng lắm, nên lúc chia tay cứ luôn mồm "Thanh-kiu-ve-ry-mát" chúng tôi mãi... - Ông Hoắc cất tiếng cười vang, thoải mái.

        Thượng tá Hoắc là người rất xởi lởi và hay chuyện. Một điều lạ nữa là ông rất mê thơ, thích bình thơ và còn... thuộc nhiều thơ tình. Phàm là những người có tính ấy, thường rất thiện tâm, chẳng thể làm điều ác cho ai bao giờ!

        - Thế còn cái vụ Phi công Mỹ cứu nhau ở sơn Tây lúc nửa đêm... Bác có biết gì không?

        - Hồi đó tôi còn đang là lính đặc công đánh nhau ở chiến trường, làm sao biết được. Tốt nhất là các anh cứ tới... Sơn Tây mà hỏi!

        Vậy là chúng tôi quyết định tìm đến Sơn Tây, không phải một lần mà rất nhiều lần, gặp nhiều nhân chứng, thu thập được khá nhiều tài liệu thú vị...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #43 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2015, 04:59:08 AM »

 
        ... Đến Trại giam "Hy Vọng"


        Thị xã Sơn Tây cách Hà Nội khoảng 40 km về phía tây. Người Mỹ sẽ không bao giờ để ý và quan tâm đến cái thị xã hiền lành xinh đẹp này nếu như nơi đây không có một trại giam nhỏ. Đó là trại giam Xã Tắc nằm trên địa phận của xóm Cầu Cộng, thôn vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ), giờ thì tất cả khu đó đã cùng Hà Tây sáp nhập về Hà Nội rồi

        Khởi đầu, nơi đây vốn là trại cải tạo và giam giữ thường phạm của Ty Công an Sơn Tây. Trại được xây dựng hết sức đơn giản, chỉ có mấy dãy nhà cấp bốn, lợp ngói đỏ, xung quanh có bức tường rào cao khoảng ba mét bao bọc. Nằm giữa cánh đồng lúa, có đê điều bao quanh, mùa mưa Xã Tắc luôn bị đe dọa vì nước dâng lên sẽ ngập lụt. Hồi đó, nơi đây còn rất vắng vẻ, hầu như chưa có hộ dân nào ở. Từ thị xã Sơn Tây muốn vào Xã Tắc phải qua một chiếc cầu nhỏ bắc qua sông Tích. Đó là con đường độc đạo, khá hiểm yếu xét về mặt bố phòng quân sự.

        Nầm 1965, sau khi tái lập tỉnh mới, trại giam Xầ Tắc do Công an Hà Tây quản lý. Một thời gian sau, trại này được giao cho Quân đội mượn và nó được sử dụng làm một nhiệm vụ rất đặc biệt: Trông coi vài chục tù binh Phi công Mỹ. công việc này được giữ gìn hết sức bí mật. Đến mức, người dân xung quanh Xã Tắc và ở thị xã sơn Tây hồi đó chỉ được thông báo đây là một cái "kho chứa hàng quân sự" quan trọng, được bộ đội ta canh giữ đêm ngày hết sức cẩn mật. Người ta thường đồn đại và đoán già đoán non rằng: trong xã Tắc đang cất giữ một số "hàng ngoại" rất có giá trị. Nguyên tắc bảo vệ nơi đây được thực hiện nghiêm ngặt theo kiểu "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Đêm đêm, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy những chiếc xe ô tô quân sự được che đậy kín mít, lặng lẽ ra vào "kho" để giao và nhận "hàng".

        Bây giờ thì cái "kho hàng quân sự" ấy và cả số "hàng ngoại" kia cũng không còn gì phải bí mật nữa. Tù binh Phi công đã được Chính phủ Việt Nam trao trả hết cho phía Mỹ sau Hiệp định Paris năm 1973.

        Những Phi công Mỹ đã bị bắn rơi và bị ta bắt như thế nào? Họ được giam giữ ở những đâu?... Hẳn những cựu tù binh Mỹ chưa ai quên. Những buồn vui, kỷ niệm không phai mờ khiến nhiều người trong số họ khi về nước đã kể chuyện, đã viết hồi ký, đã làm phim... và những tù binh Phi công Mỹ đã từng ở trại giam sơn Tây năm 1970 cũng thế.

        Người vỉết bài này không những có điều kiện gặp gỡ trực tiếp với các nhân chứng của Vụ tập kích sơn Tây ở Việt Nam đang còn sống; mà còn may mắn tiếp xúc với khá nhiều tài liệu, những hồ sơ lưu trữ đã một thời được coi là tuyệt mật từ phía Mỹ... để phục vụ bạn đọc.

        Tù binh Phi công Mỹ đã báo cho "Lâu Năm Góc" nơi
        họ bị giam giữ ở sơn Tây bằng cách nào?


        Cuối tháng 12 năm 1968, Thiếu tá không quân Elmo Baker cùng mười một tù binh Phi công khác được di chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" đến một trại giam mới, trong một đêm tối trời. Cùng một chuyến xe ấy có cả Đại uý Carrigan. Thật khó đoán được họ đã đi xa bao nhiêu cây số, vì con đường toàn ổ voi, ổ gà xấu khủng khiếp. Ngược chiều với xe chở tù binh, thỉnh thoảng họ lại gặp một vài chiếc xe quần sự kéo pháo cao xạ, và có cả xe kéo tên lửa SAM đi về hướng thành phố...

        Khi đã nằm im trong cần buồng giam vắng lặng, Baker đã nghĩ ra cách đánh "moóc" gõ vào tường để liên lạc với những tù binh ở phòng bên cạnh. Baker thông báo với những người bạn xung quanh rằng anh ta bị bắn rơi trong chuyến bay thứ 61, khi cùng phi đội đi ném bom Bắc Giang - một thị xã nhỏ cách Hà Nội khoảng 50 km. Baker tự giới thiệu mình năm nay 35 tuổi, quê ở thành phố Kenneth, đã đỗ tiến sĩ về điện và có bằng cử nhân văn chương. Anh ta đã may mắn thoát ra khỏi chiếc "Thần Sấm" F-105, khi nó bốc cháy và sắp nổ tung. Nhưng khi chiếc dù vừa giúp Baker tiếp đất thì bị bắt ngay... Anh ta bị thương rất nặng và đã được các bác sĩ Việt Nam cứu chữa ở bệnh viện Bạch Mai suốt 30 ngày liền. Baker cũng không quên thông báo rằng trước khi được đưa đến đây, anh ta đã có thâm niên hai mươi bảy tháng nằm "bóc lịch" trong trại tù bỉnh của quân đội nhân dân Việt Nam ở Hà Nội...

        Ở một buồng giam bên cạnh, một người bạn tù cũng đã dùng cách gõ "moóc" vào tường tự giới thiệu với Baker:

        - Tôi là Thiếu tá không quân Irby David Terrell, bị bắn rơi từ tháng Một năm 1968.
Baker mừng quá, hỏi luôn:

        - Đây là đâu?

        Phòng bên kia cho biết:

        - Đây là trại giam Hy Vọng, thị xã sơn Tây.

        - Tại sao lại gọi là trại "Hy Vọng?"
        - Đó là cái tên do những tù binh ở đây tự đặt trong ngày Lễ Tạ ơn Chúa năm 1968.
        Lại hỏi tiếp:

        - Có đông tù binh ở đây không?

        Trả lời:

        - Khoảng vài chục người...

        Bằng cách gõ vào tường như thế, dù có hơi chậm một chút nhưng Baker đã trao đổi được khá nhiều thông tin cần thiết với những người bạn tù xung quanh. Cuộc trò chuyện của họ chỉ chấm dứt khi có cán bộ của trại tù binh đi kiểm tra bên ngoài và thay gác...

        Buổi sáng hôm sau, Baker rất ngạc nhiên khi anh ta được tự do ra sân làm vệ sinh, tắm giặt. Thì ra các tù binh ở đây vẫn có điều kiện tiếp xúc với nhau. Ban ngày, họ thường được giao cho làm những việc lặt vặt ngoài sân trại như đập gạch, đào rãnh, chuyển vật liệu xây dựng... Chiều tối, họ được tự do đánh bóng chuyền, bóng rổ và chơi thể thao trong sân trại. Không khí tại đây có vẻ thoáng đãng, dễ thở hơn khách sạn "Vỡ Tim" ở Hà Nội nhiều. Chí ít là những tù binh mới đến đều có cảm nhận như thế!

        Số tù binh Phi công Mỹ được đưa về sơn Tây ngày càng nhiều hơn. Trại "Hy Vọng" đang được nới rộng ra bằng cách xây thêm một số bức tường chắn bao quanh, khu nhà bếp, nhà ăn và bể nước để tắm giặt, và các tù binh cũng được tham gia xây dựng, góp phần tạo nên những ngôi nhà cho chính mình.

        Các tù binh Phi công Mỹ đã thông báo cho nhau biết: Dù bị bắt làm tù binh thì tới niên hạn họ vẫn được xét tăng lương và thăng quân hàm bình thường như đang "tại ngũ". Các tù binh thường bí mật tập hợp nhau lại thành từng nhóm giúp đỡ, động viên nhau trong sinh hoạt. Ai có quân hàm cao nhất, hoặc thâm niên lâu hơn thì được bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" để chỉ huy chung. (Ví dụ: Trước khi cuộc tập kích sơn Tây diễn ra, Trung tá Hải quân Clower đã được các tù binh bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" của trại tù binh này. Và mặc dù đã bị phía Việt Nam bắt và ngồi tù, nhưng ông ta vẫn được xét và phong Đại tá).
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Một, 2015, 11:22:15 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #44 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2015, 11:19:07 AM »

        Baker cùng một số người khác được giao cho mỗi người ínột ống sắt nhỏ để đập gạch vỡ, phục vụ cho việc xây dựng. Từ những âm thanh bắt buộc, buồn tẻ và đơn điệu, Baker đã nảy ra sáng kiến lợi dụng việc đập gạch để biến nó thành tiếng moóc thông báo tin tức và trò chuyện với những tù binh khác, ví dụ, anh ta thông báo việc một nhóm tù binh 20 người mới Ịrược chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" Hà Nội đến đêm qua. Baker cũng không quên báo cho các tù binh khác biết rằng cách thông tin với nhau bằng tín hiệu "moóc" rất hay, vì những người lính Bắc Việt bảo vệ trại giam hoàn toàn không để ý đến, hoặc không biết!

        Công việc lao động của các tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" tuy không có gì vất vả, nhưng cũng chẳng lấy gì làm thú vị, nhất là đối với những "người hùng" chỉ quen "lướt mây cưỡi gió" trên trời cao.

        Lại một mùa đông nữa đến với trại "Hy Vọng" ở Sơn Tây.

        Trời cứ mưa rét dai dẳng, khiến cho không khí ẩm ướt rất khó chịu. Nước sông Tích vẫn còn dâng cao sát tường rào của trại, cơ hồ như sắp lụt đến nơi. với các tù binh Phi công, mùa đông nơi đây thật khắc nghiệt và gay gắt.

        Chiến tranh đã tàn phá đất nước Việt Nam mấy chục năm, nên đời sống của bộ đội và nhân dân Việt Nam ngày đó cũng còn bao khó khăn cơ cực. Mặc chưa đủ ấm, ăn chưa đủ no, bữa cơm thường nhật của các gia đình đều phải dùng thứ độn nhiều hơn gạo; nhưng vẫn cùng nhau thắt lưng buộc bụng và gồng mình, dồn sức cho chiến trường đánh giặc...

        Ông Lê Việt Tiến, nguyên Phó trưởng Ty công an Hà Tây nhớ lại: Mỗi tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" của Sơn Tây hồi đó vẫn được hưởng mức ăn tới 7 đồng mỗi ngày. (Đây thực sự là một cố gắng rất lớn của Chính phủ ta, nếu bạn đọc biết rằng một cán bộ của Ty công an Hà Tây hồi đó ăn bếp tập thể chỉ với chế độ... 0,5 đồng một ngày; còn ông Trưởng Ty Công an tỉnh thì lĩnh lương tháng cộng tất tật các khoản cũng chỉ vẻn vẹn có... 115 đồng!). Tuy nhiên, dù đẫ cố gắng rất nhiều trong việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ, thì nơi đây vẫn là thiếu thốn đủ thứ tiện nghi sinh hoạt đối với họ.

        Ước mơ lớn nhất của các tù binh ở trại "Hy Vọng" là sớm được trở về đoàn tụ với gia đình. Họ tự hiểu rằng việc ''vượt ngục trốn trại" ở đây chỉ là chuyện điên rồ và vô vọng!

        Một lần, đại uý Richard Brenneman lợi dụng việc chôn cột bóng chuyền đã trèo lên cao để nhìn ra ngoài qua bức tường rào. Anh ta phát hiện ra vị trí của trại "Hy Vọng" nằm biệt lập giữa cánh đồng, rất xa khu vực dân cư.

        Một số tù binh khác cũng nhân lúc bộ đội ta canh gác sơ hở đã trèo lên tường rào nhìn vội ra ngoài... Rồi họ đã cùng chắp nối lại những gì quan sát được. Họ đã hình dung ra nơi họ bị giam nằm giữa cánh đồng lúa, có đê điều bao quanh và rất gần một dòng sông; cách vài trăm mét về phía nam còn có cả một trạm biến thế điện, xa hơn nữa là một khu nhà có vẻ như bệnh xá, trường học hay một trại an dưỡng gì đó. và ngoài tường rào phía tây của trại là một trạm bơm nhỏ...

        Một tù binh bỗng nêu lên ý nghĩ: Giá như có một lực lượng "giải thoát"? Đúng, chỉ có cách giải thoát là biện pháp tốt nhất! Nhưng làm cách nào để có được lực lượng đến giải thoát nơi đây?

        Các tù binh Mỹ đều biết rằng, hầu như tuần nào cũng có máy bay trinh sát bay qua vùng trời này để chụp ảnh, phát hiện các mục tiêu cần đánh phá trên miền Bắc Việt Nam. vậy thì phải tìm cách báo hiệu cho các chuyên viên nghiên cứu ảnh biết nơi đây là trại giam tù binh Mỹ... Bởi vì nếu nhìn từ trên không xuống, với những dãy nhà nhỏ có tường bao quanh, Trại giam "Hy Vọng" cũng chỉ giống như một trường học, một nhà kho, hay một nông trại dùng để nhốt gà vịt bình thường khác.

        Hy vọng "có thể được giải thoát" đã loé lên trong đầu mỗi tù binh, và họ đã bàn nhau tìm mọi cách để báo cho các máy bay trinh sát của quân đội Mỹ chụp ảnh được tín hiệu cấp cứu và lời khẩn cầu của họ.

        Lợi dụng những khi lao động đào giếng, đào rãnh và chuyển đất đá, các tù binh Phi công Mỹ đã cố tình đổ đất mới tạo nên những hình ảnh khác thường.

        Thậm chí khi phơi quần áo sau lúc tắm giặt họ cũng nghĩ cách làm sao để tạo thành các chữ viết tắt như SOS (cấp cứu), K (hãy đến cứu chúng tôi), hay SAR (tìm và giải thoát), để các chuyên gia nghiên cứu ảnh chụp từ máy bay dễ nhận thấy nhất...
Và tất cả những sự cố gắng nỗ lực đó đã không phải không có tác dụng!
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Một, 2015, 11:29:32 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #45 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2015, 02:58:59 PM »

       
        Các chuyên gia của "Lầu Năm Góc"
        đã phát hiện ra Trại Tù binh Phi công Mỹ
        ở Sơn Tây như thế nào?


        Tháng 10 năm 1966, sau hơn hai năm tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, lực lượng Không quân Mỹ đã bị thiệt hại nặng nề. Phía Mỹ cho rằng họ đã có tới 264 Phi công bị bắn rơi. Nhưng một điều rất đáng lo ngại là trong số 264 Phi công đó, chỉ có một số người "may mắn" được phía Việt Nam bắt sống. Số còn lại được coi như đã mất tích trong lúc thi hành nhiệm vụ.

        Trước sự thúc ép của dư luận, nhất là của gia đình các Phi công, một cuộc họp bất thường đã được Bộ Quốc phòng Mỹ tổ chức với thành phần gồm một số chuyên viên tình báo và chuyên viên giải thoát tù binh của nhiều đơn vị hữu quan. Mục đích của cuộc họp là tìm ra được phương pháp hữu hiệu thu thập thông tin về tù binh Phi công Mỹ bị bắt và bị mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ. Trước mắt, có hai việc cần phải tiến hành ngay: Thứ nhất, xác định danh sách những Phi công sau khi bị bắn rơi đã bị bắt làm tù binh, để mối quan tâm lo lắng của gia đình họ được vơi đi phần nào. Thứ hai, xác định được vị trí của những trại tù binh Phi công để đưa chúng ra ngoài mục tiêu ném bom bắn phá của quân đội Mỹ. Họ rất sợ vì "dư thừa bom đạn", nên không khéo sẽ xảy ra chuyện ''gậy ông lại đập lưng ông"! Và sau này, chính điều sợ hãi của người Mỹ ấy đã được phía Việt Nam tận dụng để "tương kế, tựu kế": dùng nơi giam giữ Phi công Mỹ đe bảo vệ các mục tiêu trọng yếu nhất: ví dụ trại giam khu vực Fafim cạnh Ngã Tư Sở rất sơ sài (Phi công Mỹ gọi hài hước là "Sở Thú") có tác dụng bảo vệ Khu công nghiệp lớn Cao-Xà-Lá cùng Nhà máy công ; cụ số 1, lớn nhất của Hà Nội hồi đó. Còn trại giam ở phố Lý Nam Đế thì để bảo vệ khu vực "Nhà Con Rồng" - cơ quan đầu não của Bộ Quốc phòng...

        Kể từ đó, những cuộc họp có nội dung như trên đã được thường xuyên tổ chức hàng tuần tại Trung tâm không quân của Lầu Năm Góc. Chủ tọa các phiên họp này do CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) và DIA (Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ) phối hợp; tham gia còn có đại diện các cơ quan khác như Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, FBI (Cục Điều tra Liên bang), cơ quan Mật vụ và cả đại diện của Bưu điện Liên bang Mỹ...

        Đồng thời với những cuộc họp được thường xuyên tổ chức đó là một chiến dịch săn lùng, kiếm tìm ráo riết của các lực lượng tình báo và kỹ thuật Mỹ, được huy động với hết khả năng và điều kiện cho phép, và trong cuộc chạy đua này, một ịđơn vị tình báo hoạt động trên mặt đất của Không quân Mỹ mang bí số 1127 đã về đích đầu tiên.

        Trụ sở của đơn vị 1127 nằm tại căn cứ Fort Belvoir, cách Nhà Trắng chỉ khoảng 20 km và được bảo vệ hết sức cẩn mật. Làm việc cho đơn vị đặc nhiệm 1127 là những chuyên gia sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm trong số các nhân viên tình báo nhà nghề Mỹ. Họ có nhiệm vụ khai thác tin tức từ các binh sĩ của Liên Xô (cũ) cùng các nước Đông Âu đào ngũ và cả các tù binh bị quân Mỹ bắt được trong chiến tranh Việt Nam...

        Trong đơn vị 1127, có một bộ phận làm nhiệm vụ chuyên nghiên cứu việc giải thoát các tù binh, trong đó có tù binh Phi công Mỹ bị đối phương bắn rơi, kể cả việc soạn thảo kế hoạch đột kích giúp tù binh Mỹ thoát khỏi trại tù... Tại đơn vị đặc nhiệm 1127, trong khoảng thời gian những năm 1966 - 1970, các chuyên gia đã xử lý, phân tích hàng núi tài liệu tình báo, được thu thập bằng rất nhiều nguồn, từ khắp nơi trên thệ giới gửi về.

        Vào khoảng cuối năm 1968, qua sàng lọc các nguồn tin, các chuyên gia Mỹ cho rằng có một Trại Tù binh Phi công được giam trong một căn cứ có tường kín bao quanh, cách Hà Nội vài chục cây số về phía tây. Tuy nhiên, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng họ vẫn không xác định được chính xác vị trí cụ thể của trại tù binh ấy.

        Ngày 9 tháng 5 năm 1970, một chuyên viên kỹ thuật tình báo tên là Collinsbell, một tay già dặn trong nghề, đã có nhiều năm làm việc tại Lào, vốn nổi tiếng là ngườỉ kiên nhẫn tìm tòi... bằng việc tổng hợp suy đoán từ các tin tức tình báo cộng với việc phân tích các bức không ảnh do máy bay trinh sát chụp được, ông ta đã quả quyết khám phá ra điều nóng hổi mà cả cơ quan tình báo Mỹ đang mong chờ: có ít nhất hai trại giam tù binh Phi công Mỹ tại phía tây Hà Nội. Một trong hai trại đó nằm ở thị xã sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 40 km!

        Cũng cần phải nói thêm rằng trước đó, Collinsbell đã báo cáo những dấu hiệu nghi vấn này cho đại tá George J. Iles, người đặc trách bộ phận "vượt ngục và trốn thoát" của đơn vị đặc nhiệm 1127. Đại tá George J. Iles cũng đấ kiên trì dày công tìm tòi, đồng thời so sánh các bức không ảnh chụp vùng thị xã sơn Tây. và ông ta cũng đi đến kết luận giống hệt và gần như cùng một thời điểm với Collinsbell.

        Vậy là người Mỹ đã có cớ để ăn mừng thành công bước đầu! Họ lập tức huy động các chuyên gia giỏi nhất tập trung nghiên cứu vùng sơn Tây. Sau khi phân tích, so sánh rất nhiều các bức không ảnh cũ và mới do máy bay trinh sát chụp được, họ đều có kết luận giống nhau: Các dấu hiệu của trại giam tù binh Phi công rất rõ. Trong nhiều bức không ảnh, các chuyên gia đã chẳng khó khăn gì, đọc được rất rõ các ký hiệu cầu cứu giải thoát SOS, K và SAR... do các tù binh Phi công tạo nên. Các bức ảnh chụp kiểu phơi quần áo, cách đổ đất đá... với những hình thù kỳ lạ đều chứa đựng những thông tin cần thiết.

        Chắp nối và tổng hợp lại, các chuyên gia tình báo quân sự Mỹ đã có cả một sơ đồ thực sự để nhận biết và có kế hoạch giải thoát cho tù binh. Để chắc chắn hơn, họ đã sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ tình báo nhằm xác minh độ chính xác của trại tù binh Sơn Tây. ví dụ, qua các thông tin mà một số đoàn khách quốc tế được phép vào Việt Nam vì mục đích hòa bình tiết lộ, qua lời kể của một số tù binh Phi công được phía Việt Nam trao trả sớm, qua thư từ mà các tù binh Phi công vẫn gửi về cho gia đình họ và thậm chí thông qua cả một số sỹ quan của quân đội ngụy Sài Gòn có quê gốc ở vùng Sơn Tây nhớ lại, vẽ thành sơ đồ...

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2015, 09:44:42 AM »

        Vấn đề còn lại chỉ là tìm cách thuyết trình, báo cáo để Lầu Năm Góc có kế hoạch quyết định cho số phận của các Phi công Mỹ đang được giam giữ ở trại "Hy Vọng" thị xã Sơn Tây!

        Đây là kết quả sau nhiều ngày làm việc của Nhóm công tác theo dõi và xét duyệt vấn đề tù binh, thuộc thành phần đặc biệt của Bộ Tham mưu. Để có buổi thuyết trình với sự có mặt của rất nhiều tướng lĩnh chóp bu của Lầu Năm Góc, Nhóm công tác đã phải lần lượt tìm cách "mở khóa từng cửa" một.

        Trước hết, họ liên lạc qua điện thoại để xin được thuyết trình bản kế hoạch của mình cho Trung tướng Rossky, Phụ tá Tham mưu trưởng Không quân. Rất may là ông này đã sốt sắng ủng hộ và cả quyết rằng: Kế hoạch giải thoát cho tù binh nhất định sẽ được thi hành! và ông ta giao cho Thiếu tướng James Allen Phó giám đốc Kế hoạch - Chính sách của phòng 4D-1062 lo việc này.

        Tuy nhiên, không phải là đã hết những ý kiến nghi ngờ. Thậm chí đã xảy ra những cuộc tranh luận quyết liệt giữa các chuyên gia phân tích tình báo của Không quân Mỹ và giữa các thành viên của nhóm IPWIC (Uỷ ban Tình báo Tù binh Liên cơ quan) do DIA cầm đầu.

        Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao phía Việt Nam không giam giữ tù binh ngay tại Hà Nội cho dễ quản lý? Tại sao họ lại đưa các tù binh Phi công lên mãi Sơn Tây, ở một nơi hẻo lánh như vậy? Phải chăng đây chỉ là sự vô tình hay một cái bẫy cố ý?

        Song, dù có cãi nhau hăng thế nào thì người ta vẫn không thể phủ nhận một điều: Tù binh Phi công Mỹ đang được giam giữ tại thị xã Sơn Tây là có thật! và việc xác định, tìm kiếm đã thành công! Vấn đề còn lại là tìm cách giải thoát cho họ ra khỏi trại giam đó...

        Ai sẽ giải cứu cho Tù binh Phi công Mỹ và giải thoát bằng cách nào?

        Để có đáp án cho câu hỏi trên, Thiếu tướng James Allen đã liên lạc với SACSA. Đây là một đơn vị chuyên làm nhiệm vụ Chống phiến loạn và hoạt động đặc biệt. Tổng hành dinh của nó khá đồ sộ và nằm ngay dưới văn phòng của Chủ tịch Hội đồng tham mưu hỗn hợp.

        Phụ tá đặc biệt của SACSA là Thiếu tướng Donald Blackburn, ông này có một tiểu sử binh nghiệp khá đặc biệt: Sinh trưởng tại bang Florida. Trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, Blackburn có công tổ chức và chỉ huy một đơn vị du kích Philippines chiến đấu chống lại quân đội phát xít Nhật cho đến ngày thẳng lợi. Trở về nước, ông ta đeo lon đại tá khi mới 29 tuổi. Là một sỹ quan có uy tín và từng trải trong quân đội Mỹ, năm 1957, Blackburn đã từng được cử sang Nam Việt Nam làm cố vấn cao cấp cho một viên tướng nguỵ Sài Gòn. Năm I960, Blackburn được Tổng thống Mỹ John F. Kennedy giao nhiệm vụ tổ chức một nhóm quân sự tại Lào. và chính tại đây, Blackburn đã lần đầu tiên gặp Simons, người sau này đã được ông ta tiến cử với Lầu Năm Góc để chọn làm Chỉ huy cuộc tập kích cứu Phi công Mỹ tại sơn Tây.

        Dưới quyền chỉ huy của Phụ tá đặc biệt SACSA - Thiếu tướng Donald Blackburn còn có một nhân vật khá đặc biệt là Đại tá Mayer, chuyên viên điện tín bí mật, đồng thời cầm đầu một bộ phận hoạt động đặc nhiệm của SACSA.

        Ngày 25 tháng 5 năm 1970, Tướng Alien đã có cuộc bàn bạc với Tướng Blackburn và Đại tá Mayer. Sau khi thông báo cho nhau kết quả làm việc của nhóm nghiên cứu thuộc đơn vị 1127, Alien đã nhận thấy Blackburn rất xúc động. Hình như số phận đã chờ đợi để gắn bó con người này vào công việc đó. Alien hỏi Blackburn rất cụ thể:

        - Liệu có thể cử một toán điệp viên đến vùng sơn Tây trước được không? Bọn họ sẽ có nhiệm vụ xác minh các kết quả làm việc của 1127 trên địa bàn thực tế, sau đó có thể làm Việc "lót ổ" trước...

        Blackburn suy nghĩ rồi đáp:

        - Làm như vậy rất nguy hiểm. Theo tôi biết, hầu hết các điệp viên ta có trên Bắc Việt trước đây đều thuộc DIA chỉ huy. CIA cũng có một số cơ sở và căn cứ, nhưng chỉ hoạt động hạn chế trong vòng 20 cây số ở vùng biên, giới Lào - Việt. Chính Tổng thống Johnson đã quy định như thế! sứ mệnh giải thoát tù binh là do SACSA đảm nhiệm.

        Alien đã cắt ngang lời Blackburn:

        - Vậy nếu ta sử dụng một căn cứ của CIA tại Bắc Lào, rồi dùng trực thăng đưa một toán nhỏ lực lượng đặc nhiệm đến Sơn Tây?

        - Sử dụng trực thăng cùng đội đặc nhiệm? Một ý kiến hay đấy! - Blackburn tán thành.

        - Có nguồn tin khẳng định rằng: Một nhóm tù binh ở trại Sơn Tây thỉnh thoảng vẫn xuất hiện ở Ba vì để làm việc gì đó. Nếu toán điệp viên được ''lót ổ" trước phát hiện ra họ và điện cho trực thăng đến thì cuộc hành quân phải được thực hiện rất nhanh và nắm chắc phần thắng. Rồi những người được giải thoát sẽ nhanh chóng được đưa đến một căn cứ của chúng ta tại Thái Lan, để trở về trong vòng tay của gia đình họ...

        - Nhưng chắc gì toán điệp viên kia đến được Sơn Tây yên ổn. Rất có thể bọn họ sẽ bị lực lượng An ninh Việt Nam tóm cổ trước khi kịp hành động theo kế hoạch! Chúng ta đã từng trả giá đắt cho hành động này với những bài học cay đắng, chẳng nhẽ ngài quên rồi sao?

        Tuy Blackburn không nhắc lại nhưng Alien thừa hiểu ông ta muốn nói đến điều gì. Kể từ năm 1968, sau khi Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân và Hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã không có quyền muốn làm gì thì làm như trước đó, kể cả việc phát động những cuộc hành quân đặc biệt hay đưa điệp viên xâm nhập. Thậm chí, công việc tiếp tế cho các toán điệp viên (CAS) đang hoạt động ở Bắc Việt Nam cũng bị Tổng thống Mỹ cấm. Chính điều đó đã dẫn tới việc có tới mấy chục điệp viên người Việt đã được tuyển dụng, huấn luyện kỹ càng trước khi tung ra miền Bắc hoạt động... đều bị người Mỹ bỏ rơi một cách nhẹ nhàng. Các toán CAS này đã sử dụng nhiều biện pháp liên lạc để cầu cứu các quan thày một cách tuyệt vọng. Họ chỉ cầm cự được thêm một thời gian ngắn, rồi kẻ bị bắt, người ra đầu thú, một số rất ít tìm cách vượt biên trốn được sang vùng rừng núi phía bắc Lào... và cũng kể từ đó, hầu như không có nguồn tin nào nhắc đến số phận bi thảm của họ nữa!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2015, 03:13:54 AM »

        - Tôi giả thiết rằng khi toán điệp viên của ta được phái đến Sơn Tây bị lực lượng An ninh Bắc Việt bắt - Blackburn nói tiếp - Thì chuyện giải thoát cho các tù binh sau đó sẽ càng khó khăn gấp bội. còn việc đưa được đội đặc nhiệm bằng những chiếc trực thăng đến sơn Tây cũng đâu phải dễ! cứ cho rằng chúng sẽ bay thật thấp, luồn lách qua những thung lũng của
dãy núi Ba vì để tránh sự phát hiện của lực lượng phòng không Bắc Việt, và yếu tố bí mật bất ngờ sẽ khiến cho quân Bắc Việt ở Sơn Tây không kịp phản ứng... Thì vẫn còn những tay súng bảo vệ trại giam. Họ sẽ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm khó lường, và thương vong của lực lượng đặc nhiệm Mỹ là không thể tránh khỏi, thậm chí có thể bị tiêu diệt gọn nếu lực lượng này ít và yếu. vì thế, chúng ta phải có một lực lượng đủ mạnh, được tuyển chọn chu đáo, tập luyện kỹ càng, được trang bị đầy đủ và thiện chiến nhất!

        - Nếu vậy, việc giải thoát cho nhóm tù binh kia sẽ chậm và e rằng mất thời cơ?

        - Thế tại sao chúng ta chỉ muốn giải thoát cho một nhóm mà không quan tâm đến cả trại, nếu điều kiện cho phép?- Blackburn trả lời Tướng Alien bằng một câu hỏi. Sau đó ông ta bày lên bàn một loạt bức ảnh mà nhóm 1127 đã dày công chuẩn bị - Tôi cho rằng trại "Hy Vọng" ở thị xã sơn Tây ở một vị trí khá hẻo lánh và được coi như có nhiều sơ hở nhất. Chúng ta có thể tiến hành một trận tập kích bất ngờ vào trại Sơn Tây và bốc tất cả đi bằng trực thăng!

        Alien dường như đã bị nhữhg ý tưởng táo bạo của Blackburn chỉnh phục, ông ta ngồi im lặng, hồi lâu mới buông một tiếng "OK". Tuy nhiên, khó khăn đang chồng chất chờ đợi ở phía trước. Có rất nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưhg đều cực kỳ nan giải! Mà việc trước mắt là phải làm cho Lầu Nầm Góc tin và ủng hộ cho kế hoạch của họ.

        Thuyết trình... rồi lại... thuyết trình

        Cần nhớ rằng, vào thời điểm này, Mỹ đang sa lầy trong chiến tranh Việt Nam. Số lính Mỹ bị chết trận trung bình là 500 người mỗi tháng. Riêng tháng 5 năm 1970, có tới 754 lính Mỹ bị chết ở chiến trường Nam Việt Nam. và số quân dự trữ chiến lược ở các đơn vị trực tiếp tham chiến đã thiếu hụt tới mức báo động. Tổng thống Mỹ Richard Nixon rất sợ thêm tai tiếng xấu trước dư luận trong nước và thế giới. Cho nên Lầu Năm Góc không dễ gì thông qua kế hoạch giải thoát tù binh Phi công Mỹ của Blackburn và Mayer.
Cũng ngày 25 tháng 5 năm 1970, Blackburn và Mayer đã xin được gặp Tướng 4 sao Earle G. Wheeler, ông này là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân từ năm 1964, trước khi xảy ra cái gọi là "Sự kiện vịnh Bắc Bộ". Wheeler là một trong nhữhg người ủng hộ SACSA mạnh nhất. Trong thời gian McNamara còn làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, chính ông ta đã đệ trình giới thiệu nhiều kế hoạch hoạt động của SACSA rất thành công. Nghe thuyết trình xong, Wheeler đã thốt lên: "Lạy Chúa! Phải có bao nhiêu tiểu đoàn mới làm được việc này!". Tuy nhiên, Wheeler vẫn ủng hộ bằng cách giới thiệu Blackburn với Đô đốc Thomas Moorer, người sẽ thay thế chức vụ của ông nay mai.

        Được "bật đèn xanh", Blackburn và Mayer đã lập tức đề nghị Cục Tình báo quân đội Mỹ (DIA) giúp đỡ bổ sung thêm tin tức tình báo và phác họa một kế hoạch hành động, và chỉ một ngày sau, tức 26 tháng 5 năm 1970, DIA đã chính thức vào cuộc với sự ủng hộ tích cực của Trung tướng Donald Bennett Giám đốc cơ quan này.

        Ngày 27 tháng 5 năm 1970, Blackburn và Mayer lại đến gặp Trung tướng John Vogt, Chỉ huy cơ quan Hỗn hợp tác chiến của lực lượng Không quân Mỹ. ông này cũng đã thốt lên: "Lạy Chúa! Thế bao giờ anh báo cho Chính phủ biết công việc quan trọng này?'.

        Ngày 1 tháng 6 năm 1970, Tướng John W. Vogt và Tướng Bennett đã cùng nghe lại bản thuyết trình mới được bổ sung thông tin của Blackburn và Mayer. Bọn họ đã cùng cân nhắc bàn bạc rất kỹ từng phương án được nêu ra, với những tình huống rất cụ thể trong việc tập kích giải thoát tù binh Mỹ...

        Hôm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1970, Blackburn và Mayer lại được Tướng Wheeler tiếp và nghe lại bản thuyết trình lần nữa. Ông ta đã khẳng định ngay: "Tôi tin rằng không ai có thể từ chối đối với cuộc hành quân này!".

        Được phép của Wheeler, chiều ngày 5 tháng 6 năm 1970, tại một phòng họp đặc biệt có tên là "TANK", Blackburn và Mayer đã thuyết trình kế hoạch của mình cho Hội đồng Tham mưu trưởng hỗn hợp cùng nghe. Không một ai hỏi thêm câu nào. Các tướng Mỹ có mặt hôm đó đều đồng ý rằng SACSA cần thực hiện cho được kế hoạch này!

        Chưa hết, những ngày sau, Blackburn và Mayer còn phải thuyết trình thêm cho các Phụ tá tham mưu trưởng hỗn hợp, để tranh thủ sự ủng hộ của họ. (Vì mỗi vị này đều nắm trong tay cả sư đoàn quân!). Nhờ đó, sau này SACSA mới có thể yêu cầu được tuyển chọn người, trang bị các loại vũ khí, phương tiện và rất nhiều các khoản tiền chi đặc biệt theo yêu cầu, để phục vụ cho cuộc tập kích Sơn Tây.

        Để thuận lợi hơn trong khi hành sự, Blackburn và Mayer còn tìm đến Tổng hành dinh của CIA để gặp Phụ tá đặc biệt của Giám đốc về Đông Nam Á là George Carver cùng Phụ tá của ông ta. Công việc này cũng đã khiến cho họ tốn kém không ít thời gian.

        Và cuối cùng, ngày 10 tháng 7 năm 1970, tại Lầu Năm Góc đã có một cuộc họp đặc biệt với sự có mặt tham gia của rất nhiều tướng lĩnh cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ: Đô đốc Moorer, tân Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân; Đại tướng Westmoreland, Tham mưu trưởng Lục quân; Đại tướng John Ryan, Tư lệnh lực lượng Không quân; Đô đốc Elmo Zum wait, Tư lệnh lực lượng Hải quân; Tướng Leonard F. Chapman, TƯ lệnh lực lượng Thuỷ quân lục chiến... Họ đã chăm chú lắng nghe thuyết trình về kế hoạch giải cứu tù binh Phi công Mỹ, để cùng nhau hoàn chỉnh, trước khi đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Melvin Laird...

        Một tuần sau, bản báo cáo kế hoạch khá hoàn chỉnh và chi tiết nói trên đã được đặt trên bàn Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.

        Phản ứng đầu tiên của ông này là sự lo ngại về độ chính xác của các tin tức tình báo. ông ta tự hỏi: Liệu quân biệt kích Mỹ có thể tới được trại giam và ra khỏi nơi này không? vì nếu kế hoạch thất bại, thì chẳng những tù binh Mỹ ở Việt Nam không giảm đi mà còn tầng lên!...

        Tuy nhiên, cuối cùng Laird vẫn ra lệnh tiếp tục triển khai kế hoạch, ông ta không quên nhấn mạnh: Đây là một cuộc hành quân quy mô và cũng rất mạo hiểm, nên phải tổ chức và chuẩn bị hết sức chu đáo. và trước khi có hành động quyết định cuối cùng, nó phải được trình lên Tổng thống Richard Nixon phê chuẩn.

        Như vậy, dù ở cách chiến trường Việt Nam tới gần một vạn cây số, nhưng chỉ duy nhất Nhà Trắng mới có quyền quyết định về Vụ tập kích giải cứu Phi công Mỹ ở sơn Tây.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #48 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2015, 03:46:13 AM »

 
        Người Mỹ đã đánh giá như thế nào về Lực lượng bảo vệ
        của Việt Nam hồi đó ở Trại Tù binh Sơn Tây?


        Sau rất nhiều cuộc thuyết trình, cuối cùng thì Lầu Năm Góc cũng đã "bật đèn xanh" cho SACSA và Nhóm nghiên cứu giải thoát tù binh Phi công Mỹ tại Sơn Tây hành động.

        Bấy giờ đã là cuối mùa hè năm 1970, thời gian không còn nhiều và tướng Blackburn cũng hiểu rằng muốn cho "ông chủ" của Nhà Trắng gật đầu không phải là chuyện đơn giản chút nào!

        Tổng thống Richard Nixon đang rất sợ bị thêm tai tiếng xấu. Sau khỉ ông ta quyết định cho quân đội xâm lược Campuchia hồi cuối tháng 4 năm 1970, nước Mỹ đã bị chia rẽ. Phong trào sinh viên biểu tình phản đối chiến tranh đã làm cho Richard Nixon ăn ngủ không yên. Trong khi đó, cả nước Mỹ đang đòi hỏi vấn đề tù binh và những người bị mất tích trong chiến tranh phải được giải quyết.

        Trong thâm tâm, Blackburn chỉ cầu mong để Nhà Trắng đồng ý cho ông ta thực hiện cuộc tập kích Sơn Tây này. và chỉ cần một lần đưa quân xâm nhập vào miền Bắc Việt Nam nữa thôi là đủ.

        Biệt kích là cái nghề đã ngấm vào máu của Blackburn từ khi còn trẻ. Khi đã có tuổi, ông ta vẫn còn cầm đầu một toán lính SOG với biểu tượng mũ nồi xanh có gắn phù hiệu hình sọ người và ngọn lửa đen... nhiều lần nhảy dù xuống vùng rừng biên giới Việt - Lào, hoặc vượt biên sang Campuchia.

        Trước khi có kế hoạch tập kích Sơn Tây, chính Blackburn chứ không phải ai khác đã có dự kiến thực hiện những âm mưu tội ác cực kỳ thâm độc: Dùng thuốc nổ phá huỷ đập thuỷ điện Thác Bà và đê sông Hồng vào đúng mùa lũ lụt; đồng thời, gây ra một cuộc phá hoại lớn ngay trong lòng Thủ đô Hà Nội. Ông ta cho rằng có thể sử dụng những tội ác này như một món hàng để Chính phủ Mỹ mặc cả với Hà Nội trên bàn tròn ở hội nghị Paris.
Có thể nói Blackburn như một con cáo già đầy nham hiểm. Ông ta là một trong những tác giả chính của bản kế hoạch vụ tập kích Sơn Tây, nó được soạn thảo rất cụ thể và đầy đủ tới từng chi tiết nhỏ nhất.

        Bằng cách tổng hợp phân tích từ nhiều nguồn tin tình báo, phía Mỹ cho rằng vào thời điểm xảy ra cuộc tập kích, Việt Nam có khoảng 12.000 bộ đội đóng quân xung quanh khu vực trại giam tù binh Phi công Mỹ ở thị xã Sơn Tây. (Chưa kể đến hàng vạn người trong lực lượng tự vệ và dân quân được trang bị vũ khí thô sơ!). Đó là các đơn vị thuộc Trung đoàn 12 bộ binh, Trường Pháo binh Sơn Tây, một Kho Quân trang ở thị xã với khoảng 1.000 cán bộ chiến sĩ hậu cần. Ngoài ra, còn có khoảng 500 bộ đội với 50 xe tại một căn cứ Phòng không ở phía Tây Nam thị xã...

        Tuy nhiên, phía Mỹ cũng đã tính toán rằng: Các đơn vị cơ động tác chiến của những lực lượng này, nếu muốn ứng cứu thì nhanh nhất cũng phải sau 30 phút trong điều kiện ban ngày bình thường, họ mới đến được trại tù binh. (Và đêm khuya thì dĩ nhiên sự phản ứng sẽ còn chậm hơn nữa!). Đó là thời gian đủ để cho quân biệt kích Mỹ rút chạy an toàn, sau khi đột nhập vào trại giam.

        Một điều làm cho phía Mỹ lo ngại là trại giam tù binh Sơn Tây nằm ở giữa hai sân bay Hòa Lạc và Phúc Yên. Đặc biệt là sân bay quân sự Phúc Yên chỉ cách Trại Tù binh sơn Tây khoảng 35 cây số. Những chiếc MiG lợi hại sẵn sàng cất cánh để không chiến, sẽ là mối đe dọa lớn và rất nguy hiểm cho đơn vị tập kích.

        Ngoài ra, các chuyên gia quân sự Mỹ cũng đẫ nghiên cứu rất kỹ hệ thống phòng không của miền Bắc nước ta hồi đó. Họ tính toán tới khả năng hoạt động của tên lửa SAM2, các trận địa súng cao xạ, súng bộ binh bắn máy bay tầm thấp... đặc biệt là khả nầng kiểm soát, phát hiện mục tiêu của hệ thống ra đa...

        Từ đó, người Mỹ chọn đường bay và cách bay như thế nào để những chiếc trực thăng chậm chạp, nặng nề có thể lẩn tránh được sự trừng phạt của lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam.

        Theo các chuyên viên của DIA, thì Trại tù binh Phi công Mỹ ở Sơn Tây hồi đó gồm hai khu vực riêng biệt: Một số ngôi nhà cấp bốn cũ được sử dụng làm khu hành chính; một số khác vừa được xây cất và mở rộng, có tường rào cao và dây thép gai bao quanh. Các tù binh Mỹ tập trung ở bốn dầy nhà của khu này. Toàn trại chỉ duy nhất có một đường điện thoại và một đường dây tải điện lưới. Cũng theo DIA ước tính thì có khoảng gần 50 bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ trại giam; nhà của họ nằm ở bên ngoài bức tường rào phía đông. Cả trại tù binh có ba chòi canh, hai chiếc nằm sát tường rào, chiếc còn lại đặt gần cổng chính phía đông...

        Các chuyên gia Mỹ đã phân tích và tính toán rất kỹ địa hình, địa vật trong trại tù binh cùng khu vực xung quanh. Trong kế hoạch giải cứu họ đã dự tính: Sau khi cho một số trực thăng bay quần đảo bên trên tiêu diệt hết mấy chòi canh và các ổ đề kháng nếu có; sẽ dùng một chiếc trực thăng loại lớn cùng khoảng chục lính biệt kích đổ bộ xuống sân chơi thể thao nhỏ trong trại giam. (Thực tế sau này, khi chiếc trực thăng khổng lồ HH53 chưa tiếp đất thì cánh quạt đã bị va vào cây, khiến cho máy bay bị lật nhào, buộc quân đặc nhiệm Mỹ phải đặt chất nổ phá hỏng, trước khi rút chạy).

        Nếu cuộc đổ bộ xuống sân trại trót lọt, tốp biệt kích nói trên sẽ xông vào khu giam giữ để bảo vệ tù binh và nổ súng trước khi những chiến sĩ canh gác của phía Việt Nam kịp phản ứng... Một số trực thăng khác sẽ đỗ xuống khu đất trống ở bên ngoài bức tường rào phía Nam. Họ sẽ chia quân đi phá sập cầu sông Tích, cắt đứt con đường duy nhất mà lực lượng tiếp viện từ thị xã có thể vào; một toán khác sẽ phá trạm biến thế để cắt điện lưới và đường điện thoại liên lạc toàn bộ khu vực; toán quân còn lại sẽ dùng thuốc nổ phá tường rào trại giam để phối hợp với toán quân đã đổ bộ vào bên trong đưa tù binh ra ngoài, kể cả những người bị thương...

        Nếu tốp trực thăng đỗ bên ngoài tường rào trại giam bị chặn đánh, không đáp xuống được, hoặc đã xuống mà không cất cánh được nữa, thì số tù binh vừa được cứu thoát sẽ được đưa ra xa hơn nữa, thoát khỏi vòng vây đối phương và tốp trực thăng làm nhiệm vụ bay quần đảo yểm hộ bên trên sẽ đáp xuống địa điểm thứ hai để đón họ...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #49 vào lúc: 21 Tháng Mười Một, 2015, 10:47:09 AM »

       
        Biệt kích Mỹ đã triển khai bản kế hoạch tuyệt mật ấy ra sao?


        Tất cả những hành động kể trên, quân biệt kích Mỹ chỉ được phép thực hiện trong thời gian... 26 phút; nghĩa là trước khi lực lượng bộ đội ta ở thị xã Sơn Tây có thể vào tới khu vực trại giam, thì quân biệt kích Mỹ cùng các tù binh vừa được cứu thoát đã... xa chạy cao bay!

        Ngày 1 tháng 8 năm 1970, Thiếu tướng J. Manor, Tư lệnh Lực lượng hành quân đặc biệt tại căn cứ không quân Eglin, thuộc bang Florida, bất ngờ nhận được cú điện thoại đặc biệt gọi từ Lầu Năm Góc, yêu cầu phải lập tức về Washington ngay mà không được cấp trên cho biết lý do. Nhưng vốn là một viên sỹ quan già dặn, từng trải ở tuổi 49, với 345 phi vụ trót lọt từ Chiến tranh thế giới 2 đến chiến trường Việt Nam... ông ta đã quá quen với kiểu quân lệnh cần phải phục tùng tuyệt đối như thế.

        Cùng thời gian đó, Đại tá bộ binh D. Simons, 52 tuổi, nguyên Đại đội trưởng biệt động quân từ thời kháng Nhật tại Philippines, đang ở căn cứ Bragg, cũng đột ngột được lệnh phải về ngay Washington để trình diện và nhận nhiệm vụ mới.

        Manor và Simons đã làm quen với nhau trên chặng đường cùng bay về Washington. Hai người không hề biết rằng họ đã được chọn làm nhân vật chính của Bộ chỉ huy hành quân tập kích vào Trại tù binh sơn Tây, gây chấn động nước Mỹ sau gần 4 tháng nữa.

        Cùng được chọn vào Bộ chỉ huy cuộc hành quân này còn có một Trung tá quân y. Đó là một nhân vật khá kỳ quặc, ông ta đã đột ngột xuất hiện tại văn phòng của Simons và tự giới thiệu:

        - Tôi là Joseph Cataldo, một bác sĩ mà Đại tá đang cần.

        Simons đã hỏi lại.

        - Anh có biết tại sao chúng tôi đang cần một bác 9 không?

        Cataldo nói ngay:

        - Để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt và nguy hiểm gì đó.
 
        Tướng Manor đã được Lầu Năm Góc chỉ định làm Tư lệnh chỉ huy cuộc hành quân tập kích nói trên. Đại tá Simons làm Phó tư lệnh, trực tiếp huấn luyện toán biệt kích đổ bộ và cầm đầu toán quân này bay đến Sơn Tây để giải cứu các tù bỉnh. Trung tá Cataldo đặc trách về công tác huấn luyện tự cứu cho đơn vị đổ bộ và lo chuẩn bị mọi phương tiện vật chất để chạy chữa cho tù binh trên đường trở về.

        Việc tuyển lựa nhân viên tham gia vào cuộc hành quân đã được bộ ba Manor, Simons và Cataldo tiến hành tuyển chọn rất kỹ lưỡng: Họ được kiểm tra lý lịch, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe, kinh nghiệm chiến đấu và các yếu tố tâm lý khác... Điều đặc biệt là tất cả số nhân viên này đều được tuyển chọn trên cơ sở tự nguyện. Họ không được phép hỏi và hoàn toàn không biết mình sẽ làm gì. Nhưng chắc chắn đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và nguy hiểm! Các cấp chỉ huy chỉ thông báo cho họ một điều duy nhất là: Nếu vấn đề bí mật không được đảm bảo thì họ sẽ bị thất bại và không ai còn cơ hội trở về nữa. Gia đình của các binh sỹ cũng chỉ được biết một cách mơ hồ và chung chung là người thân của họ sắp phải thi hành một nhiệm vụ đặc biệt và phải xa nhà từ 3 đến 6 tháng...

        Riêng Manor được trực tiếp tuyển chọn các Phi công tham gia cuộc hành quân. Ngoài kinh nghiệm già dặn và con mắt tinh đời của một tay nhà nghề lão luyện, ông ta còn có trong tay một mật lệnh khá đắc dụng. Đó là lá thư tay của tướng John D.Ryan, Tham mưu trưởng lực lượng Không quân Mỹ. Nội dung lá thư này gủl tới tất cả các vị chỉ huy thuộc quyền, chỉ thị cho họ phải tạo mọi điều kiện tốt nhất ủng hộ cho yêu cầu Manor và... không được hỏi han gì cả!

        Những viên Phi công được chọn vào phỉ hành đoàn trực thắng của cuộc hành quân đều đã có ít nhất hàng ngàn giờ bay chiến đấu, cùng hàng trăm cuộc tiếp cứu các Phi công bị bắn rơi tại vùng Đông Nam Á. Đó là những cuộc tiếp cứu với những tài nghệ lái trực thăng đẫ trở thành huyền thoại trong lịch sử chiến tranh của quân đội Mỹ. có thể điểm danh vài gương mặt sáng giá nhất: Trung tá Warner A. Britton, viên Phi công trực thăng cừ khôi số Một chuyên huấn luyện bay giải cứu của căn cứ không quân Eglin; Trung tá John Allison, tay lái huấn luyện bay ngoại hạng của loại trực thăng HH53; Trung tá Herbert Zehnder, người đã từng lập kỷ lục lái loại trực thăng HH53 bay đường dài một mạch từ New York đến Paris vào năm 1967; Thiếu tá Frederick Marty Donohue, người đã thực hiện thành công hơn 6.000 giờ bay trực thằng và được chọn là sĩ quan huấn luyện bay trong chương trình Apollo...

        Và kết quả là đã có tới 15 sỹ quan từ cấp uỷ đến cấp tá cùng 85 hạ sỹ quan và binh sỹ trong một đơn vị "mũ nồi xanh" (biệt động quân) đã được chọn để chuẩn bị cho cuộc hành quân Tập kích trại tù binh ở sơn Tây.
Vào trung tuần tháng 8 năm 1970, một thông điệp đặc biệt của Bộ Tổng tham mưu hỗn hợp quân đội Mỹ do Mayer soạn thảo và Tướng Moorer kỷ, đã được gửi đi cho nhiều chỉ huy các đơn vị thuộc quyền. Nội dung bức thông điệp này thông báo: Có một Toán hành động cấp thời, đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Manor và Đại tá Simons đang thực thi một nhiệm vụ đặc biệt. Chiến dịch tuyệt mật này được ngụy danh bằng cái tên khá thơ mộng: Bờ biển Ngà. Thoạt nghe, nhiều người sẽ nhầm tưởng địa danh trong chiến dịch là ở Trung Đông hoặc Châu Phỉ. Không một ai ngờ rằng mục tiêu mà chiến dịch Bờ biển Ngà sẽ nhẳm vào lại chính là thị xã sơn Tây nhỏ bé xa xoi ở tận bên kia Thái Bình Dương!

        Hồi đó, kế hoạch cụ thể của chiến dịch Bờ biển Ngà nói trên ngay tại Washington cũng chỉ một vài nhân vật chóp bu như Tổng thống Nixon, Cố vấn An ninh quốc gia Kissinger và mấy Bộ trưởng Bộ quan trọng được biết, còn bộ máy Nguỵ quyền ở miền Nam nước ta từ Nguyễn Văn Thiệu cho đến các tướng tá cao cấp nhất của ông ta, không một người nào được phép biết về kế hoạch của vụ tập kích cứu Phi công Mỹ ở sơn Tây, kể từ khi nó hình thành cho tới lúc kết thúc. Thậm chí, các Tư lệnh chiến thuật của quân đội Mỹ ở chiến trường Đông Nam Á cũng chỉ được thông báo về kế hoạch của chiến dịch Bờ biển Ngà vào thời gian xét thấy thuận tiện nhất. Và mỗi người cũng chỉ biết trong giới hạn phần kế hoạch có liên quan đến chức trách của họ mà thôi.

        Tất cả số nhân viên và phi đoàn bay được tuyển chọn tham gia cuộc hành quân tập kích trại tù binh sơn Tây đều được đưa đến huấn luyện về thể chất tại cân cứ Fort Bragg.

        Tiếp đó, họ được chuyển về cằn cứ Eglin để huấn luyện phối hợp với phi đoàn bay. Đó là một vùng đất rộng khoảng 465.000 héc ta, nằm ở phía Bắc của bang Florida. Đây cũng là nơi tập dượt của Trung tâm huấn luyện Cấp cứu và tìm lại bằng máy bay của quân đội Mỹ (USAF). Hầu hết các Phi công lái máy bay trực thăng và máy bay C.130 giải cứu hoặc tiếp tế nổi tiếng của lực lượng không quân Hoa Kỳ đều đã từng được huấn luyện tại nơi này.

        Vậy còn Toán hành động hỗn hợp cấp thời của chiến Ị dịch Bờ biển Ngà đã được tập luyện ra sao?
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười Một, 2015, 01:40:01 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM