Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Bảy, 2020, 10:30:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Stalingrad - Anthony Beevor  (Đọc 55284 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #70 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2015, 06:42:15 pm »

          Cả ba sứ giả mặc vào bộ quân phục ngụy trang ngay trước chiến hào tiền duyên, và bắt đầu băng qua dải đất trắng toát mờ mờ trong sương mù đậm đặc. Có chừng hai tá mô tuyết phía trước, đó chính là các thi thể chết cứng. Tướng Vinogradov cùng hai viên tướng khác leo lên một chiếc xe tăng Nga bị cháy để quan sát hoạt động. Siderov nâng cây trumpet. “Chú ý! Chú ý!”, âm thanh này nghe trong tai Dyatlenko như bài “Điểm cuối!”.

           Khi họ đến gần hơn tuyến quân Đức, họ thấy có những bóng người chuyển động. Trông có vẻ như các boongke và chiến hào tiền duyên đang được tăng viện. Siderov vẫy lá cờ trắng và thổi kèn giục giã lần nữa. “Các ông muốn gì” một chuẩn úy Đức hỏi:

           “Chúng tôi là sứ giả Hồng quân” Dyatlenko hét to trả lời bằng tiếng Đức:

           “Chúng tôi đến để gửi thông điệp cho tư lệnh của các ngài. Chúng tôi yêu cầu tiếp nhận chúng tôi theo các điều luật quốc tế”.

           “Đến đây đã” anh ta trả lời.

          Vài cái đầu nhô lên và chỉa súng về phía họ. Nhưng Dyatlenko từ chối đi lên cho đến khi có trả lời từ cấp sỹ quan. Cả hai bên trở nên e dè trong một thời gian dài chờ đợi. Rốt cuộc, viên chuẩn úy cũng bắt đầu đi về phía sau để tìm đại đội trưởng. Ngay khi anh ta vừa đi, lính Đức đứng dậy và bắt đầu đùa cợt. “Rus! Kom, komm!” họ gọi. Một tay lính, lùn, bó mình trong cả đống giẻ, trèo lên bờ công sự và diễn một trò ngốc. Hắn nhại theo kiểu opera. “Ta là sỹ quan” hắn hát.

           “Tôi biết anh là kiểu sỹ quan gì

           Dyatlenko độp lại, và lính Đức cười ngặt nghẽo. Đám bạn tay hề đó nắm gót và lôi hắn trở lại chiến hào. Smyslov và Siderov cũng cười.

           Sau cùng, viên chuẩn úy cũng quay lại, đi cùng với ba sỹ quan. Người cấp cao nhất trong số đó nhã nhặn hỏi họ muốn gì. Dyatlenko giải thích nhiệm vụ, và hỏi xem họ có được tiếp nhận theo các quy tắc quốc tế với sự đảm bảo an toàn cho họ. Sau đó là những thỏa thuận chi tiết rắc rối – theo đó họ phải cưởi bỏ trang phục ngụy trang và bị bịt mắt – trước khi được đưa lên. Sau khi hai nhóm sỹ quan chào nhau, Smyslov đưa ra chiếc cặp vải dầu gửi đến Đại tướng Paulus. Các sỹ quan Đức thì thào với nhau đầy căng thẳng. Rồi một viên thượng úy đồng ý đưa các đại diện phía Sô viết đến gặp trung đoàn trưởng của họ. Những chiếc băng mắt được làm bởi sỹ quan quân nhu phương diện quân ngày hôm qua được đưa trả lại với lá cờ trắng, và họ phải dùng tạm bằng khăn tay và thắt lưng. Còn những gì Siderov có là chiếc áo cánh từ bộ đồ ngụy trang để dùng, và dùng nó thắt quanh đầu, cánh lính Đức trong hầm hào nhìn ra cười rộ lên. “Người Bedouin! Người Bedouin!” họ réo.

           Viên thượng úy dẫn tay Dyatlenko đi. Sau vài bước anh ta hỏi “với nụ cười trong giọng nói” rằng thông điệp gửi cho Paulus nói gì vậy. “Rằng chúng tôi phải đầu hàng à?

          “Tôi không được biết” Dyatlenko trả lời theo thể thức quân đội Nga hoàng. Rồi họ đổi chủ đề.

         “Cho tôi biết” viên thượng úy hỏi:

         “Có phải một nhà văn Đức tên Willi Bredel đang ở Platonovsky không? Anh ta nói chuyện với quân lính của tôi qua sóng phát thành chừng mười hay mười bốn ngày nay. Anh ta khẩn khoản bảo họ đầu hàng và hứa sẽ đảm bảo mạng sống cho họ. Dĩ nhiên là quân tôi cười nhạo anh ta. Nhưng có thật là anh ta ở đây không? Theo khẩu âm thì rõ ràng anh ta là người Hamburg. Nhưng đó chính là người thật hay chỉ là ghi âm lại giọng nói?

         Dyatlenko kéo dài việc trả lời. Thật sự Bredel là một trong những người Đức đang hoạt động trong bộ phận của anh, và anh biết anh ta rất rõ. Nhưng nếu Dyatlenko cho biết bất kỳ chỉ dấu nào thì viên thượng úy kia sẽ nhanh chóng hiểu ngay cái “loại công việc thực chất” mà anh đang làm. Một kế hoạch nghi binh không định trước chợt lóe ra trong phút chốc. Lớp băng tuyết mà họ đang đi không bằng phẳng do đạn pháo và đồng thời trơn bóng do những đôi ủng cuốn ghẻ qua lại bao lần. Dyatlenko ngã xuống kéo theo viên thượng úy. Nghe thấy có sự biến, Smyslov vội la lên cảnh báo. Nhưng Dyatlenko đã trấn an anh ta và xin lỗi viên thượng úy. Dyatlenko không có chút e ngại nào khi thi hành kế đó.

          “Hàng ngàn tù binh chiến tranh đã qua tay tôi”.

          Sau này anh viết lại “nên tôi đủ hiểu tâm lý của ho, và tôi biết rằng họ sẽ không hại tôi”.

           Lính Đức đến kéo hai người bị ngã lên và bị trượt chân lúc quay về, tạo hành một hàng người nằm sóng xoài. Dyatlenko so sánh hình ảnh này với một trò chơi trẻ con Ukraina tên là “một đống nhỉ thì quá nhỏ: ai cần đứng đầu”.

           Viên thượng úy vẫn nhớ câu hỏi của mình khi chuyến hành quân của những người bị bịt mắt bắt đầu lại, anh quay lại câu hỏi về Bredel. Dyatlenko còn lâu mới nói thật. Anh bảo rằng anh có biết cái tên đó bởi đã đọc vài quyển sách của ông ta. Cuối cùng, viên thượng úy thông báo rằng họ sẽ đến nơi sau vài bước nữa.

....................................... 


                               NHẬT LỆNH TIẾP TỤC KHÁNG CỰ
                            - ORDER TO CONTINUE RESISTANCE

         Mùng 9 tháng 1, 1943

         (Tuyên bố trước toàn thể các đơn vị cho đến tận cấp đại đội - To be announce in all units down to the company''s level)

          Gần đây, quân Nga đang tiến hành rất nhiều nỗ lực để bắt đầu đàm phán với ban chỉ huy Tập đoàn quân hoặc với ban chỉ huy các đơn vị trực thuộc - Recently Russians were undertaking numerous attempts to start negotiations with Army command or with command of subordinate divisions.

        Rõ ràng, đó chính là điều chúng muốn. - It''s clear, what they want.

       Chúng muốn bẻ gãy ý chí kháng cự của chúng ta bằng nhiều kiểu hứa hẹn và đảm bảo. - They want to breake our will to resist by various promises and assurances.

       Tất cả chúng ta đều biết rõ điều gì đang đợi chúng ta, nếu chúng ta đành hạ vũ khí. - We all know what will be waiting us, if we lay down our weapons.

        Hầu hết chúng ta sẽ chết hoặc dưới làn đạn thù, hoặc vì đói và những chịu đựng khủng khiếp ở xứ Siberia tù đày, - Most of us will die either from enemy''s bullet, or from famine and suffering in the dreadful Siberian captivity.

       Chỉ có một điều chúng ta đã rõ: những ai đầu hàng sẽ không bao giờ được gặp lại người thân của mình. - Only this is clear: those who will surrender, never will see their relatives again.

       Chúng ta chỉ có 1 chọn lựa: chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, không đếm xỉa tới giá rét và đói khát. - We have only one option left: to fight till the last cartridge, despite of cold and hunger.

        Mọi đề nghị phải bị từ chối, và các nhóm đàm phán phải bị chặn lại bằng đạn lửa. - All offers were rejected, and truce envoys were fended off by fire.

         Còn chúng ta sẽ vững vàng tiếp tục cuộc chiến mà chúng ta đã bắt đầu, cho tới khi có được những chỉ đạo mới. - And we shall firmly continue the fight we started, until it has guidance.


                                                             Paulus
                            Source: Central Archive of the FSB, Russian Federation,
                                                        14-5-173, p. 173

......................................
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #71 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2015, 07:05:29 am »

         Khi băng bịt mắt được tháo ra, ba sứ giả thấy mình đang ở trong một căn hầm kiên cố ken bằng thân cây. Dyatlenko chú ý tới hai bao chứa ngũ cốc đầy bùn nâu mà họ đang cố làm khô. “Thứ đó dành cho bọn mi đấy, lũ rắn độc” Dyatlenko nghĩ “Bọn mi đốt tháp ngũ cốc ở Stalingrad và giờ bọn mi phải đào kiếm thức ăn ở dưới tuyết”. Anh ta cũng quan sát những tấm thiếp màu và những giấy trang trí Giáng sinh vẫn còn ở đó.

          Một sỹ quan cao cấp Đức bước vào và yêu cầu được biết cấp thẩm quyền nào ra lệnh cho nhiệm vụ của họ. “Bộ tư lệnh tối cao Hồng quân” Dyatlenko đáp. Thế là viên sỹ quan cao cấp rời khỏi căn hầm, có thể đoán chừng là đi gọi phôn. Khi không có mặt viên đại tá, các sỹ quan Đức và Dyatlenko tán chuyện về lễ Giáng sinh. Rồi sau đó về súng lục và khẩu Tokarev của Dyatlenko mà cánh Đức hâm mộ. Anh ta nhanh chóng đưa nó ra bởi các sứ giả Nga biết, với sự ngượng ngùng ghê gớm, rằng theo lề luật quốc tế họ phải bỏ lại đằng sau các vũ khí cá nhân.

          Để duy trì không khí thân ái thần tiên đó, Siderov mở một bao thuốc lá Lux – loại mà Dyatlenko gọi là “thuốc lá tướng quân” – mà họ được đặc cấp có nhằm tạo ấn tượng với phía Đức. “Với thái độ chững chạc, Siderov đưa gói thuốc cho phía Đức như thể anh ta cả đời hút loại thuốc hạng nhất này chứ không phải là makhoka”.

          Anh ta cũng bảo Dyatlenko dịch cho họ nghe rằng "đây là cuộc chiến thứ ba mà anh tham gia: anh ta đã chiến đấu trong cuộc chiến đế quốc, nội chiến và cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại”  Dyatlenko lo là anh ta sẽ nói thêm “chống bọn phát xít Đức xâm lược”, nhưng thực ra Siderov chỉ cười và bảo: “Trong cả ba cuộc chiến đó tôi chưa từng có cơ hội được nói chuyện một cách hòa bình với quân địch”.

         Các sỹ quan Đức đồng tình và thêm vào rằng cái nhóm nhỏ này hiện chứa những con người hòa bình nhất cả mặt trận. Sau đó cuộc nói chuyện gần như dừng lại. Trong sự yên lặng tiếp theo, họ nghe thấy tiếng hỏa lực nặng. Cánh Nga lo sợ. Một sỹ quan Đức phóng vụt ra ngoài hầm để xem việc gì. Anh ta quay lại và buộc tội: “Do bên các ông”. May thay, tiếng súng ngưng ngay (các sứ giả sau này phát hiện ra rằng đó là các khẩu đội phòng không Nga không giữ nổi sự cám dỗ khi thấy máy bay vận tải Đức xuất hiện ngay trên đầu).

          Sự căng thẳng dâng cao trong suốt thời gian dài chờ viên đại tá trở lại. Nhưng khi ông ta đến, không có điều gì cho thấy có chiếc xe nào được gửi từ sở chỉ huy Tập đoàn quân VI xuống. Ông ta, theo cách viết của Dyatlenko “nét mặt rất khác – như một con chó bị đòn”. Các sỹ quan cấp thấp, đoán được điều gì xảy ra, đứng thẳng người “như thể tuyên bố này là cho cả bọn họ

        “Tôi được lệnh” viên đại tá thông báo cho phía Nga “không đưa các ông đi đâu, không hộ tống, không nhận bất kỳ thứ gì, chỉ bịt mắt các ông lại, dẫn về phía sau, trả lại vũ khí và đảm bảo các ông về an toàn.

          Dyatlenko phản ứng rất trôi chảy. Anh ta đề nghị, dù nó ngược lại với chỉ thị, rằng được giao cặp giấy dầu cho một sỹ quan đặc biệt có thẩm quyền nhận.

         “Tôi được lệnh không nhận bất kỳ thứ gì từ các ông”

         Viên đại tá Đức đáp lại.

        “Chúng tôi đề nghị ông viết rõ trên đó rằng ông, theo chỉ thị thượng cấp, từ chối nhận thư gửi cho tư lệnh của ông”.

          Nhưng viên đại tá từ chối không đụng cái chiếc cặp. Không được gì, Smyslov và Dyatlenko kết luận, nhưng cũng cho phép họ bịt mắt lại và hộ tống về phía sau. Cũng chính tay thượng úy ấy đưa Dyatlenko về.

         “Anh bao nhiêu tuổi”

         Dyatlenko khe khẻ hỏi khi họ bắt đầu đi

         “Hai mươi bốn” anh ta trả lời.

         Vậy là họ chỉ cách nhau có vài tuổi.

        “Cuộc chiến này giữa hai dân tộc chúng ta là một sai lầm thảm thương”.

         Dyatlenko nói sau khi ngừng một chút:

         “Nếu nó có thể kết thúc sớm sau này, và thật là tốt nếu tôi và anh có thể gặp nhau vào ngày đó, phải không?

          “Trong tim tôi không có chỗ cho ảo tưởng

         Viên thượng úy Đức nói:

        “Bởi trước khi kết thúc tháng này, cả tôi và anh đều chết cả rồi”.

        “Có phải phía Đức các anh nghĩ rằng nước Nga sẽ để các anh có một mùa đông yên ổn trong hầm hào ấm áp?”. Dyatlenko hỏi?

         “Không, có thể rút kinh nghiệm của mùa đông năm trước rằng phía anh sẽ tấn công. Nhưng không ai đoán được mức độ cũng như cách thức nó diễn ra

        “Lúc nãy anh bảo rằng quân anh cười nhạo lời yêu cầu của Willi Bredel”.

         Với sự tò mò mang tính nghiệp vụ, Dyatlenko không thể kháng cự nổi việc bỏ qua chỉ lệnh rằng phải tránh chủ đề này:

         “Nhưng không phải ông ta nói đúng về tình cảnh vô vọng của các anh? Đề nghị của ông ta không đủ nghiêm túc sao?

          “Mọi thứ ông ý nói đều đúng”.Viên thượng uý đáp:

          “Nhưng đừng quên một điều. Khi cuộc chiến giữa hai thế giới quan còn tiếp diễn, không thể thuyết phục quân thù bằng cách ném vài từ qua bên kia chiến tuyến”.

           Khi đến chiến hào, băng mắt của ba sỹ quan Nga được tháo ra. Súng ngắn và trang phục ngụy trang cũng được trả lại. Hai nhóm sỹ quan đứng đối diện nhau chào, rồi phía Nga, dưới lá cờ Siderov vẫy, trở về “qua vùng tuyết trắng lặng lẽ” đến chỗ tướng Vinogradov, vốn vẫn chờ họ nơi chiếc xe tăng cháy.

           Vinogradov dẫn họ về lại balka. Viên chỉ huy trinh sát sư đoàn không để tốn thời gian. “Nào Siderov” anh ta bảo “vẽ nhanh lại cho tôi bản đồ phòng thủ của chúng”. Hai sứ giả còn lại theo họ vào trong hầm đào bên ngách vách núi và nhìn “anh bạn già của chúng tôi người đã nói chuyện hết sức hòa bình với quân địch” sẽ lại sơ đồ bố trí hỏa lực của chúng một cách hoàn hảo. “Tôi không biết anh ta có được giao nhiệm vụ này ngay từ đầu không” sau này Dyatlenko viết lại “hay đó chỉ là một kỹ năng của anh ta, nhưng nó cho thấy anh ta có thể nhớ hết mọi thứ”.

           Sau đó Dyatlenko và Smyslov trở về lại sở chỉ huy phương diện quên trên chiếc Willy cùng với hai vị tướng “mệt mỏi và buồn bã” bởi nhiệm vụ của họ bất thành và vì nhiều người nữa phải chết không mục đích.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #72 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2015, 05:27:42 pm »

                                                                                   XX


                                                                                CẦU KHÔNG VẬN


 
             “Mây mù treo thấp” Hans Dibold, một bác sỹ thuộc sư đoàn bộ binh 44 viết “gần như chạm đầu người. Và trên trần mây đó, tiếng động cơ của một chiếc máy bay vận tải không nhìn thấy rền rĩ cô độc”.

             Thuật ngữ “cầu không vận” hiếm khi được dùng trong kịch bản chiến dịch. Ý tưởng về một mối liên kết bền vững trên đầu người Nga làm hài lòng những kẻ ảo tưởng đang xem bản đồ, biểu đồ ở Berlin và Rastenburg. Rồi đột nhiên Hitler yêu cầu có thông tin, thế là mọi vị tướng, mọi sỹ quan tham mưu ráng có số liệu trong tay, họ làm phiền chỉ huy các sân bay để đòi những bảng thống kê, bảng nhật ký nhiệm vụ mới nhất. Sự nhiễu loạn cưỡng ép từ thượng cấp này chỉ làm mọi thứ tồi tệ thêm. Các tướng lĩnh không lực Đức (Luftwaffe) vì đã lỡ tuân theo lệnh Hitler về việc cung cấp hậu cần cho tập đoàn quân 6 bằng không vận, nên đã bố trí cả những chiếc Ju-86, một loại máy bay dùng cho huấn luyện, hoàn toàn không phù hợp nhiệm vụ để làm cho con số có vẻ tốt hơn. Ngay cả việc sử dụng tàu lượn cũng được đưa vào tầm ngắm cho đến khi mọi người nhận thấy chiến đấu cơ của Nga sẽ dễ dàng bắn hạ chúng.

           Sự hỗn loạn còn do việc các tư lệnh không quân ở hậu phương chuyển lên phía trước những chiếc Junker 52 trước khi chúng được cải tiến cho phù hợp với hoạt động trong mùa đông, mà chỉ đơn giản là biểu diễn cho thấy họ đã đáp ứng lời kêu gọi của Quốc trưởng nhanh chóng. Hàng đống máy bay vận tải chuyển đến mà không có báo trước cũng góp phần làm lộn xộn thêm, đặc biệt bởi nhóm điều hành không vận không không ở địa vị điều khiển. Lúc cuối tháng Mười một, tướng Fiebig và phòng tham mưu quân đoàn không quân VIII chịu trách nhiệm chung, và tình hình cải thiện nhiều, dù những sai lầm mang tính cơ bản của dự án đã xác định là nó hỏng ngay từ đầu.

           Tướng von Richthofen cảnh báo rằng họ cần sáu phi trường đủ kích thước trong Kessel, chứ không phải chỉ một, cùng những đội phục vụ mặt đất đã được huấn luyện. Sự lo ngại của ông về việc thiếu đường băng cũng được xác nhận nhanh chóng trong điều kiện thời tiết xấu. Ngày ổn nhất là ngày 19 tháng Mười hai, khi có 154 chuyến hạ cánh cùng 289 tấn hàng, nhưng những ngày tốt như vậy rất hiếm. Không chỉ do thời tiết. Mà còn vì phi trường Pitomnik lôi kéo sự quan tâm của kẻ địch, máy bay bị bắn hạ, bị rơi thường xuyên làm phi trường bất khả dụng trong những khoản thời gian ngắn. Phần xác kim loại bị cháy được đẩy ra ngoài bãi tuyết bên cạnh đường băng, hình thành một “nghĩa địa máy móc trải dài”. Việc hạ cánh ban đêm nguy hiểm bội phần. Những khẩu đội phòng không ở Pitomnik hầu như không thể cân bằng vấn đề. Bởi họ cần phải sử dụng đèn pha để rọi tìm máy bay ném bom Liên Xô, nhưng những chùm sáng đó là cơ sở tốt cho pháo binh Nga nhận mục tiêu.

         Các tổ lái không quân Đức cực kỳ căng thẳng. “Các tổ lái trẻ, ít kinh nghiệm sốc nặng” trước cảnh tượng ở Pitomnik, hơn hết là hình ảnh thương binh trong điều kiện khốn khổ nằm chờ bên cạnh đường băng để được di tản, và những đống thi thể cứng đờ từ bệnh viện dã chiến bỏ ra, bởi mặt đất bị đông cứng không thể chôn được.

          Dù Tập đoàn quân VI biết ơn trước nổ lực của không lực Đức, nhưng những lần cáu tiết cũng không thể tránh khỏi. Khi một kiện hàng được mở ra và thấy chỉ có chứa cây kinh giới ô và hạt tiêu, trung tá Werner von Kunowski, sỹ quan quân nhu Tập đoàn quân VI, nổi nóng: “Đồ con lừa nào chịu trách nhiệm về kiện hàng này?”. Một sỹ quan đi cùng đùa rằng ít ra tiêu cũng có thể dùng được trong cận chiến.

           Sau trận tấn công của phía Sô viết vào sân bay Tatsinskaya, phi đoàn vận tải bị giảm sút nghiêm trọng, khối lượng máy bay có thể phục vụ ít đi nhiều. Đồng thời, phi trường Ju-52 mới ở Salsk cách Pitomnik hơn 200 dặm, khoản cách gần bằng tầm hoạt động tối đa, nên những máy bay nào động cơ ăn xăng nhiều không thể sử dụng. Trong sự liều lĩnh tuyệt vọng, vài chiếc máy bay bốn động cơ lớn nhất của không lực Đức – FockeWulf 200 Condor, sức tải 6 tấn và Junker 200 có thể xoay sở tải đến 10 tấn – được đưa vào sử dụng, nhưng chúng mỏng mảnh và không vững chắc như những chiếc “Tante Ju” ba động cơ. Rồi khi Salsk bị đe dọa, những chiếc Ju-52 còn lại chuyển lên hướng tây bắc đến Zverevo, phía bắc Shakhty. Phi trường mới này chỉ có một đường băng phủ đầy tuyết trên một vùng đất nông nghiệp trống trải. Không có nhà ở, nên những đội phục vụ mặt đất, đội điều hành và cả phi hành đoàn phải sống trong những túp lều, rạp dã chiến.

           Khi tuyết trở thành vấn đề lớn trên không trung, thì trên mặt đất, động cơ cũng trở nên khó khăn hơn để khởi động. Tuyết rơi dày, thường xuyên làm phi trường phải ngưng hoạt động, ngay cả máy bay cũng phải được đào ra từ những đống tuyết tích tụ. Việc phòng không rất tệ ở Zverevo, và trong ngày 18 tháng Giêng, máy bay ném bom, tiêm kích Liên Xô đã tấn công 18 lần chỉ trong một ngày, phá hủy được 50 chiếc Ju-52 trên mặt đất. Đây là một trong khá ít những chiến dịch hữu hiệu của Không quân Nga, do phi công của họ vẫn thiếu tin cậy.

           Tướng Richthofen và Fiebig hiểu ngay từ đầu là họ không có sự chọn lựa nhưng phải làm những gì tốt nhất có thể cho cái nhiệm vụ bất hạnh này. Họ chẳng mong được cấp trên hiểu. “Lòng tin của tôi vào lãnh đạo tụt nhanh chóng xuống dưới mức zero” Richthofen bảo với tướng Jeschonnek, tham mưu trưởng không quân Đức vào ngày 12 tháng Mười hai. Một tuần sau, khi nghe Goering báo với Hitler rằng tình hình cung cấp hậu cần ở Stalingrad là “không quá tệ”, ông đã viết trong nhật ký: “Ngoại trừ một sự thật là nó sẽ rất tốt cho cái thân béo ị của ông ta, nếu ông ta ở trong vòng vây một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể tóm lại là những báo cáo của tôi hoặc không được đọc hoặc không được tin

           Trong khi Goering chẳng làm gì để hạn chế tính phàm ăn của mình, thì tướng Zeitler, trong một cử chỉ thể hiện tình đoàn kết với các đơn vị bị thiếu đói ở Stalingrad, đã giảm khẩu phần ăn của mình xuống bằng mức của họ. Theo Albert Speer, ông ta mất 12 ký lô trong vòng hai tuần. Hitler, khi nghe được tin về vụ ăn uống này từ Martin Bormann, đã lệnh cho ông ta trở lại khẩu phần thông thường. Và như một cử chỉ nhượng bộ.

           Hitler cũng ra lệnh cấm sâm panh và rượu ở các văn phòng của Quốc trưởng nhằm “vinh danh những anh hùng Stalingrad”.

           Phần lớn thường dân Đức chẳng biết rằng thất bại chung cuộc của Tập đoàn quân VI đã đến gần như thế nào. “Em mong rằng anh sẽ thoát khỏi vòng vây sớm” một thiếu phụ viết cho anh lính, bạn tâm thư của mình vào giữa tháng Giêng “và khi anh đó, chắc anh sẽ được cho nghỉ phép”. Ngay cả lãnh đạo Đảng Quốc Xã ở Bielefeld cũng viết lúc giữa tháng Giêng cho tướng Edler von Daniel để chúc mừng ông mới có con trai, được thăng cấp cùng Chữ thập Hiệp sỹ và bảo rằng ông ta mong sẽ gặp lại tướng Daniel “sớm trở về giữa chúng tôi”.

           Cái không khí hão huyền tràn ngập trong khối lãnh đạo cao cấp nhất của chính phủ tại Berlin. Speer, người cực kỳ lo lắng về tình hình của Stalingrad, đi cùng với vợ mình, “cô ấy như mọi người khác vẫn tin rằng không có điều gì xấu xảy ra”, đến một buổi diễn vở opera Cây sáo thần. “Nhưng khi ngồi trong lô của mình, trong những chiếc ghế bành êm ái giữa những khán giả ăn mặc lộng lẫy, tất cả làm tôi nghĩ đến những gì tương tự với đám đông tại nhà hát kịch Paris năm ấy, khi Napoleon rút chạy khỏi nước Nga, và giờ cũng chính là điều đang xảy ra với quân ta”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #73 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2015, 05:56:03 pm »

            Thế là ông ta chuồn về văn phòng bộ, tìm quên với công việc và cố triệt tiêu cái “cảm giác tội lỗi ghê gớm” với em mình, một binh nhì thuộc Tập đoàn quân VI ở Stalingrad.

             Mới đây, bố mẹ Speer hoảng hốt gọi phone cho ông ta. Họ vừa nghe rằng cậu út Ernst đang nằm ở “một trạm phẫu dã chiến sơ sài” đặt trong một chuồng ngựa, “tạm gọi là có mái mà không có vách”, cậu đang bị sốt vàng da, phù chân và đau cật. Mẹ Speer nức nở trong điện thoại: “Con không thể làm gì cho em con sao!”. Còn bố ông thì nói: “Thật không thể tin rằng con, với chừng ấy quyền lực mà không làm được gì để cứu em con ra”.

             Cảm giác bất lực và có lỗi của Speer là sự hòa trộn giữa sự thật là năm ngoái, theo lệnh của Hitler, những quan chức cao cấp không được dùng ảnh hưởng của mình để tạo điều kiện cho bà con họ hàng, và việc ông đã phải lừa cậu em với lời hứa sẽ chuyển sang chiến trường Pháp sau khi chiến dịch kết thúc. Còn giờ đây, lá thư cuối cùng của Ernst từ Stalingrad nói rằng cậu ta không thể nằm đó, nhìn chiến hữu chết dần trong trạm phẫu. Nên cậu đã quay lại với đồng đội của mình ở chiến trường, dù với đôi chân sưng phù kệt cỡm và thể trạng bệnh tật.

            Trong vòng vây, khi Tập đoàn quân VI đợi trận tấn công sau rốt của quân Nga, thì những câu chuyện đồn đãi lan tràn không chỉ về một quân đoàn xe tăng SS đang tiến tới như Hitler đã hứa vào giữa tháng Hai, và còn về cả một sư đoàn được không vận vào trong Kessel để tăng cường phòng ngự.

            Nhiều tin đồn khác còn chẳng có chút căn cứ nào. Những cái đầu ngu dốt quả quyết rằng Tập đoàn quân xe tăng IV đã tiến sát chỉ còn cách tuyến của họ tầm hơn chục dặm, nhưng Paulus đã lịnh cho tướng Hoth không được tiến thêm nữa. Nhiều tay lính còn tự thuyết phục họ sau này rằng chính Paulus, theo một thỏa thuận mật với phe Nga, đã phản bội họ!!! Còn theo một câu chuyện khác thì “Bên Nga có một mệnh lệnh, rằng ai giết một phi công Đức [bị bắt] sẽ bị phạt nghiêm, bởi họ (các phi công Đức) rất cần cho việc lái máy bay vận tải ở sâu trong hậu phương, và phía Liên Xô đang thiếu các phi hành đoàn”.

             Tin đồn được gói gém và lan truyền đi trong những cộng đồng lạ lùng của họ, bất kể ở trong khu trại quanh sân bay hay giữa những hầm hào đục vào balkas trên thảo nguyên, túm tụm lại như một ngôi làng thời tiền sử. Nếu có chút củi nào để đốt trong bếp lò, thì khói sẽ cuộn lên từ những ống khói bé xíu được làm từ những lon đồ hộp rỗng xếp chồng lên nhau. Ván kê, bàn, và cả giường ngủ của người đã chết cũng bị chẻ ra là củi. Thứ duy nhất thay thế cho cái ấm áp thực thụ là mùi hôi hám, được tạo từ những thân thể quấn trong vải dầu, nhưng mọi người vẫn run rẩy không kiểm soát được.

             Nhưng so ra, hơi ấm này chẳng được là bao với việc khuấy động lũ rận rệp hoạt động và đưa chúng lây lan qua những lần gãi. Họ thường ngủ thành từng cặp trên một chiếc giường lính cùng một chiếc chăn phủ quá đầu trong một nỗ lực thống thiết để chia sẽ hơi ấm cho nhau. Dân số của các loài gặm nhấp bùng nổ nhanh chóng với nguồn thức ăn là xác người, xác ngựa. Trên thảo nguyên, lũ chuột nhắt trở nên phàm ăn đi tìm nguồn thực phẩm. Có một người lính báo cáo rằng chuột đã “ăn mất hai ngón chân bị lạnh cóng của anh ta” khi anh ngủ quên.

          Khi khẩu phần ăn đến, được chở trên xe trượt tuyết kéo bởi một con ngựa pony trơ xương, những thân hình cứng ngắc, vụng về quấn trong những lớp giẻ, tụ tập lại để nghe ngóng những tin đồn mới nhất. Không có chất đốt để đun tuyết ra tắm giặt hay cạo râu. Những gương mặt với gò má trũng sâu nhợt nhạt như sáp, lởm chởm – râu cũng sơ xác thảm hại vì thiếu Canxi. Cổ gầy nhẳng, khẳng khiu như các cụ già. Thân mình đầy rận. Việc tắm rửa hay có đồ lót sạch xa vời như một giấc mơ, và một bữa ăn đàng hoàng cũng vậy.

           Khẩu phần bánh mỳ hiện giảm xuống còn dưới 200gram mỗi ngày và thường không tới 100 gram. Những mẩu thịt ngựa được thêm vào món “canh toàn quốc” là từ các nguồn tự cung tại chỗ. Xác súc vật được bảo quản tươi bởi cái lạnh, nhưng nhiệt độ quá thấp làm cho thịt không thể cắt được bằng dao. Chỉ có những chiếc cưa của cánh công binh mới đủ mạnh.

           Cái lạnh cùng cái đói đã khiến người lính, khi không trong phiên gác, nằm ru rú trong hầm, để tiết kiệm năng lượng. Căn hầm là một nơi ẩn náu mà họ chẳng muốn rời đi. Thường, đầu óc họ trống rỗng bởi cái lạnh của huyết áp thấp, theo cả hai nghĩa thể chất lẫn tinh thần. Sách được chuyển quanh cho nhau đến khi bị rách nát hoặc mất trong bùn tuyết, nhưng đến giờ chẳng có mấy ai còn sức để đọc. Cũng như vậy mà các sỹ quan không quân Đức ở phi trường Pitomnik phải bỏ thú vui chơi bài xcat bởi không thể tập trung tinh thần. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, việc thiếu thức ăn không dẫn đến sự lãnh đạm mà đến những ảo ảnh điên khùng, tương tự như những người trong tích cổ nghe được giọng nói thần bí vì thiếu đói.

            Không thể ước tính số ca tự tử hay chết vì stress nơi chiến trường. Như đã đề cập, ở các quân đội khác, số lượng đó tăng cao kịch tích khi bị cắt đứt với hậu phương, và không một quân đội nào bị bao vây hơn Tập đoàn quân VI ở Stalingrad. Binh lính nói sảng điên dại trong hầm hào, vài người còn nằm tru lên. Nhiều người, có hành động thất thường đột ngột, phải được đồng đội chế ngự hoặc đánh ngất đi. Một số binh sỹ còn sợ việc phá vây và nổi điên với người khác như thể bị truyền nhiễm. Nhưng hồi chuông báo động lớn nhất nổi lên là khi một người lính bị bệnh có mũi nở to, môi đen xì và lòng trắng con mắt chuyển sang màu hồng. Nỗi sợ về bệnh sốt Ricketsia dường như lại giống lạ kỳ, như thể một trận dịch thời trung cổ.

          Cảm giác về cái chết đang tới gần cũng có thể kích động một cảm giác mãnh liệt về những gì họ sẽ mất đi. Những người mạnh mẽ thì bồn chồn mơ về hình ảnh của ngôi nhà, và nhỏ nước mắt lặng lẽ với suy nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại vợ con. Đa số trầm ngâm hồi tưởng những ký ức, hoặc chiêm nghiệm lại thế giới quanh họ, đặc biệt là đồng đội, với niềm thích thú mới. Vài người còn đa cảm tới mức cảm thấy có lỗi với những chú ngựa bị bỏ đói đang gặm một mẫu gỗ.

          Trong tuần đầu hoặc mười ngày đầu tháng Giêng, trước trận tấn công của Liên Xô diễn ra, binh lính ráng không để lộ tình trạng khốn khổ trầm trọng của họ trong các lá thư gửi về nhà. “Con nhận được một xị rượu vodka và mười ba điếu thuốc lá cho năm mới” một người lính tên Willy viết cho bố mẹ trong một lá thư không bao giờ đến được với họ “nhưng toàn bộ thức ăn mà con nhận chỉ là một mẩu bánh mỳ. Con chưa bao giờ thấy nhớ bố mẹ nhiều hơn hôm nay, khi chúng con ngồi hát bài Wolgalied. Ở đây con đang ngồi trong lồng – không phải làm bằng vàng mà bằng vòng vây của quân Nga”.

          Nhiều người lính còn ngụy trang sự thật xa hơn nhiều. “Bọn anh có thể tính đến việc mùa xuân sẽ sớm bắt đầu” một người lính tên Seppel viết về nhà. “Thời tiết vẫn tệ, nhưng vấn đề chính là anh vẫn khỏe và có một cái lò sưởi tốt. Lễ Giáng sinh đã đi qua an lành”. Tuy vậy, những người khác không cố dấu cảm xúc của mình “Điều duy nhất còn lại trong anh là suy nghĩ về ba mẹ con em” một người lính viết cho vợ và con.

        Vài người liều lĩnh tìm lối thoát bằng giải pháp tự thương. Nhưng những ai dùng cách này không chỉ đối mặt với án tử hình. Mà ngay cả nếu không bị nghi ngờ, họ cũng sẽ đánh đu với tử thần từ chính hành động của họ. Bởi một vết thương nhẹ sẽ không đủ để có một vé bay ra khỏi “chiếc túi”. Một cú bắn vào tay phải thì quá lộ liễu, và do chỉ còn khá ít lính trận, nên vết thương phải ở dạng làm cho mất khả năng hoạt động thì mới được giải phóng khỏi nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng đến khi trận tấn công sau chót của phía Soviet bắt đầu thì ngay cả chỉ “một vết thương nhẹ gây ảnh hưởng đến việc di chuyển thì trên thực tế là biểu hiện cho cái chết
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #74 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2015, 12:30:51 pm »

         Ngay từ đầu tháng Giêng, số lượng lính Đức đầu hàng không kháng cự hay đào ngũ sang phía địch gia tăng. Những kẻ đào ngũ là lính bộ binh ở tuyến đầu, chừng mực nào đó là do họ có nhiều cơ hội hơn. Nhưng cũng có những trường hợp các sỹ quan và binh lính từ chối khi được di tản ra, vượt quá sự anh dũng và hầu như ám ảnh bởi ý thức trách nhiệm. Trung úy Lobbecke, một đại đội trưởng xe tăng thuộc sư đoàn xe tăng 16, bị mất một tay trong trận đánh nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu mà không điều trị vết thương. Sư đoàn trưởng của ông không thể thuyết phục được ông đi điều trị. Rốt cuộc tướng Strecker phải ra tay.

          “Tôi yêu cầu được phép ở lại với lính của tôi” Lobbecke trả lời ngay “hiện nay tôi không thể rời bỏ họ khi cuộc chiến đang lúc căng thẳng”. Nhưng tướng Strecker, có lẽ vì nghe được mùi hôi, cho rằng phần tay cụt của Lobbecke đang bị nhiễm trùng. Nên ông đã ra lệnh cho viên trung úy lên máy bay ra khỏi vòng vây đến một bệnh viện ở hậu phương.

          Với những ca bị mất khả năng đi lại thật sự, hi vọng duy nhất để được chuyển đế một bệnh viện dã chiến là được lên một chiếc xe trượt tuyết hoặc xe cứu thương. Tài xế những chiếc xe này được nhìn nhận là “những anh hùng bánh thép”, bởi mức thương vong cực cao. Một chiếc xe chuyển động – và xe cứu thương nằm trong số rất ít được cấp xăng – ngay lập tức sẽ thu hút hỏa lực mặt đất hoặc hỏa lực không quân Nga.

          Những thương binh và bệnh binh có thể đi lại được, tự tìm đường về hậu phương. Nhiều người dừng lại để nghỉ chân và vĩnh viễn không bao giờ đứng dậy được nữa. Những người khác vẫn đến dù có thêm những thương tích tệ hại hoặc bỏng tuyết. “Một ngày nọ có ai đó gõ cửa hầm chúng tôi” một trung úy không quân nhớ lại lúc ở Pitomnik “ngoài đó là một anh lính già, thành viên tổ chức Todt tuyển dụng để sửa đường. Cả hai bàn tay của anh bị bỏng tuyết nghiêm trọng, và anh ta sẽ không bao giờ có thể dùng chúng được nữa”.

          Mà nếu đến được bệnh viện chính ở phi trường thì vẫn còn xa cho việc đảm bảo được di tản ra hoặc được điều trị trong một những căn lều lớn, nơi vẫn tránh được cái lạnh chút ít. Vết thương và bỏng tuyết chỉ là một phần nhỏ của lượng công việc, đang đe dọa chôn ngập các bác sỹ. Còn có dịch bệnh vàng da, bệnh lỵ và những loại bệnh khác, những bệnh này càng trầm trọng bởi việc thiếu ăn và thường xuyên thiếu nước, kể từ không còn nhiên liệu để đun tuyết. Các thương binh không hẳn là ít bị phơi ra trước các trận không kích của quân Liên Xô hơn hồi họ còn ở chiến trường. “Cứ mỗi nửa giờ, máy bay Nga lại tấn công sân bay” sau này một hạ sỹ báo cáo “Nhiều đồng đội vừa mới được cứu, và đã được chuyển lên máy bay, chờ cất cánh, đã mất mạng ở thời khắc sau cùng”.

           Việc di tản thương – bệnh binh bằng máy bay không thể dự báo trước được tương tự như những chuyến bay tiếp tế bay vào. Trong ba ngày, 19, 20 tháng Mười hai và ngày 4 tháng Giêng, có trên một ngàn người có được cơ hội cho mỗi ngày, nhưng tính trung bình tổng thể, bao gồm cả những ngày không có chuyến bay nào, thì từ 23 tháng Mười một đến 20 tháng Giêng, con số là 417 người.

           Việc lựa chọn người được lên máy bay không phụ thuộc mức độ nghiêm trọng của vết thương. Mà nó dựa vào một thứ tự xếp đặt tàn nhẫn do thiếu chỗ trên máy bay. “Chỉ có những thương binh nhẹ, có thể dự đi được, mới có cơ hội đi” một quan chức ngành thông tin kể lại “Chỉ có đủ chỗ cho chừng 4 chiếc cáng thương trong một chiếc Heinkel, nhưng có thể nhét đến gần 20 người còn đi được trong đó. Nên nếu bạn bị thương nặng, hoặc ốm nặng đến mức không di chuyển nổi, thì bạn coi như là cầm chắc cái chết” (Đoạn này mâu thuẫn với đoạn binh lính tự thương ở bên trên, cơ bản qua nhiều đoạn cũng thấy rõ được tâm ý thiên lệch của tác giả - TNL). Nhưng may mắn vẫn tồn tại. Như chính người quan chức này, đã xoay sở để kéo một NCO bộ binh, người đã nằm đó trên phi trường 3 ngày nay với một viên đạn cắm vào lưng, lên máy bay. “Tôi không bao giờ biết được bằng cách nào mà người này đến được phi trường”. Ông ta cũng đưa được một NCO khác, một chiến binh già bị sốt cao, lên máy bay.

         Quân cảnh, bị các sắc lính khác ghét cay đắng và được biết với cái tên “chó xích” bởi vòng giáp kim loại hình lưỡi liềm nối vào một đoạn xích đeo quanh cổ của họ, canh gác lối vào đường băng, kiểm tra giấy tờ từng phút để đảm bảo rằng không có kẻ giả bệnh nào lọt qua được. Rồi khi hy vọng được thoát ra tiêu tan trong tháng Giêng, họ phải dùng đến súng tiểu liên mỗi lúc một nhiều hơn để cản lại đám thương binh và giả thương binh.

          Những chiếc Focke-Wulf Condor bốn động cơ khổng lồ, vốn được dùng một ít trong tuần thứ hai của tháng Giêng, nhét được nhiều thương binh hơn. Tuy vậy, những chiếc phi cơ này, nếu chở quá tải trọng, sẽ bị những tổn hại khác thường. Như một trung sỹ thuộc sư đoàn Cao xạ số 9 đã tận mắt thấy một chiếc Condor ì ạch tăng tốc, trên đó có hai đồng đội bị thương của anh, vừa được đưa lên. Khi chiếc phi cơ ngóc mũi để tăng độ cao, những con người vô vọng được tải đi bên trong hẳng bị ngả lăn chiên hoặc lộn nhào ra phía sau, bởi đuôi máy bay đột nhiên rụng ra. Tiếng máy gầm lên khi mũi chiếc phi cơ gần như chĩa thẳng lên trời, rồi cả cỗ máy rơi trở lại mặt đất, ngay trước khuôn viên phi trường và nổ ầm trong một quả cầu lửa và một “tiếng động inh tai”.

         Hơn nữa, những binh sỹ đóng ở góc cực tây của vòng vây chứng kiến số phận của nhiều chiếc vận tải cơ Junker, vốn được biết rõ là đang tải những đồng đội thương binh. Thường thì những chiếc này “không thể đạt độ cao nhanh chóng và phải bay trong tầm bắn của cao xạ, rồi gặp kết cục thê thảm. Từ chiến hào của mình, tôi đã tận mắt thấy vài trường hợp của số mệnh khải huyền này, và rất, rất buồn lòng

          Bên cạnh những thương binh, phóng viên báo chí và những chuyên gia được di tản ra, những chuyến bay còn mang vào vài sỹ quan, binh lính vốn được đi phép ngay trước khi vòng vây bị khép lại. Và bởi ở Đức, tin tức bị ỉm lại, nên đa số họ không có ý niệm về những gì diễn ra khi họ vắng mặt cho đến khi chuyến tàu đưa họ đến Kharkov. Sỹ quan phụ tá của thống chế Manstein, Alexander Stahlberg, đã tả cảnh người em họ thông gia hai mươi mốt tuổi, Gottfried von Bismarck, khi đến sở chỉ huy cụm Tập đoàn quân sông Don ở Novocherkassk vào ngày 2 tháng Giêng ngay sau kỳ nghỉ Giáng sinh ở nhà tại Pomerania. Anh ta nhận được lệnh bay vào Kessel để trở lại với sư đoàn bộ binh số 76. Thống chế Manstein, biết được trường hợp này, đã mời anh ta đến bàn ăn tối, nơi có thể nói chuyện thoải mái. Cả Manstein và Stahlberg đều rất khen ngợi người thanh niên, không kêu ca, làm nổi bật truyền thống Postdam của trung đoàn bộ binh số 9 bằng cách quay lại một trận chiến thất bại, không phải vì Hitler mà vì lòng tận tâm với nhiệm vụ theo cách Phổ. Còn bản thân Bismarck, tuy vậy, lại dùng một thuật ngữ ít vẻ vang hơn: “Tôi là một người lính, tôi nhận được lệnh và phải chịu chấp nhận mọi hậu quả”.

            Tướng Hube, khi trở lại trong vòng vây vào ngày 9 tháng Giêng, đêm trước trận tấn công của quân Sô viết, đã kể với Paulus và Schmidt rằng Hitler hoàn toàn từ chối chấp nhận khả năng thất bại ở Stalingrad. Ông ta không chịu nghe bản báo cáo về tình hình trong vòng vây của ông, mà thay vào đó ông ta còn cố thuyết phục ông rằng một nỗ lực giải vây thứ hai có lẽ đã lên khuôn.

            Vài sỹ quan dưới quyền Hube đã thất vọng về ông, dường như đã bị chủ nghĩa lạc quan của Hitler thôi miên – “liều thuốc ánh sáng”. “Tôi rất thất vọng” sỹ quan tình báo của Hube, Công tước Dohna ghi nhận “khi thấy một người lính chân chính dũng cảm dễ bị thuyết phục như thế nào”.

            Tuy vậy, những người khác lại nghe rằng chính Hube đã đủ can đảm để “khuyên Hitler kết thúc chiến tranh”, và khi Hube chết trong một tai nạn máy bay vào năm sau, nhiều tin đồn lan truyền rằng hẳn có bàn tay Hitler trong đó. Nói cho ngay, cả hai đằng đều đúng. Khi Hube báo cáo tại sở chỉ huy cụm Tập đoàn quân sông Đon, trước khi bay vào trong vòng vây, Manstein tin rằng ông ta đã là một người tín cẩn của Hitler. Nhưng mặt khác, sau đó ông cũng phát hiện ra rằng Hube đã can đảm đề nghị Hitler nên trao chức Tổng tư lệnh tối cao cho một tướng lĩnh nào đó thì tốt hơn, nhỡ khi Tập đoàn quân VI có thất bại thì sẽ không bị tổn hại đến hình tượng cá nhân.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #75 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2015, 12:03:56 pm »

          Hube là một trong những viên tư lệnh cưng của Hitler, nhưng niềm tin chắc chắn của ông ta rằng Tập đoàn quân VI đã tận số chỉ làm khẳng định thêm sự nghi ngờ của Hitler rằng tất cả các tướng lĩnh đang tiêm nhiễm chủ nghĩa bi quan. Paulus nhận ra điều này. Nên ông đi đến kết luận rằng chỉ có một chiến binh trẻ từng được tặng thưởng cao mới có thể gây nên những cảm xúc lãng mạn nơi Hitler và như vậy sẽ ở vị trí tốt hơn để thuyết phục ông ta nghe sự thật.

          Paulus có một ứng cử viên hiển nhiên cho nhiệm vụ này, chính là đại úy Winrich Behr, với bộ quân phục binh chủng xe tăng màu đen cùng chữ thập Hiệp sỹ có lẽ sẽ gây được ấn tượng tốt với Quốc trưởng. Behr, chịu trách nhiệm cập nhật không những bản đồ tình huống mà cả những sự kiện và con số  trong các báo cáo, là một trong những sỹ quan báo cáo tốt nhất ở sở chỉ huy Tập đoàn quân VI.

           Behr nhận được nhiệm vụ vào sáng ngày 12 tháng Giêng, hai ngày sau khi trận tấn công của quân Soviet mở màn, quá ít thời gian đến nỗi anh không thể nhận những thư gửi về nhà từ các đồng nghiệp. Anh gói gém nhật ký chiến tranh của Tập đoàn quân VI và mang theo để đảm bảo nó an toàn, rồi vội vã ra phi trường Pitomnik. Đường băng đang ở trong tầm hỏa lực của cối hạng nặng và pháo binh (Nga). Lúc Behr chạy lên chiếc Heinkel 111, lèn đầy thương binh, quân cảnh với tiểu liên trong tay phải ngăn lại hàng trăm người khác cố xông lên, hoặc ngay cả bò lên phi cơ.

           Chuyến bay đến Taganrok mất một tiếng rưỡi. Và anh ngạc nhiên, vì ở biển Azov trời còn lạnh hơn ở Stalingrad. Một chiếc xe đợi đưa anh đến sở chỉ huy của thống chế Manstein. Vị thống chế triệu tập vài sỹ quan của ông và yêu cầu Behr báo cáo tình hình. Behr mô tả mọi thứ: nạn đói, mức thương vong, binh lính mỏi mệt, thương binh nằm trên tuyết, đợi di tản, máu họ đông đặc; việc thiếu nghiêm trọng thức ăn, đạn dược, xăng dầu. Khi Behr kết thúc, Manstein bảo: “Hãy báo cáo Hitler đúng chính xác những gì anh đã báo cáo với tôi”. Một chiếc máy bay được lệnh sáng hôm sau đưa anh ta đến tổng hành dinh Rastenburg. Quốc trưởng đang đợi.

        Buổi sáng hôm sau, trời vẫn rất rét, dù ánh mặt trời tạo cảm giác ấm áp giả tạo. Tại phi trường, viên sỹ quan không quân Đức được chỉ định bay cùng Behr đến Đông Phổ đã không nề hà cưởi bỏ găng tay để làm ấm động cơ. Và khi trở lại văn phòng, anh ta không còn chút da nào trên hai bàn tay vì chạm vào kim loại đông lạnh. Phải tìm một phi công khác để thay thế.

         Cuối cùng Behr cũng đến được Tổng hành dinh Hang sói vào đầu buổi tối. Thắt lưng và súng ngắn bị giữ lại ở phòng cảnh vệ. Từ đó, anh ta được dẫn đến phòng điều hành, nơi mười tám tháng sau Stauffenberg mang chiếc cặp chứa chất nổ vào. Ở đó có chừng hai mươi, hai lăm sỹ quan cao cấp đang có mặt. Sau mười phút, cửa mở ra, và Hitler xuất hiện.

         Ông ta chào mừng viên đại úy xe tăng trẻ tuổi.

        Chào Đại úy!

         Kính chào Quốc trưởng!


        Behr đáp lời, đứng nghiêm trong bộ quân phục màu đen cùng Chữ thập hiệp sỹ trên cổ. Behr đã được người anh rể, Nicolaus von Below trợ tá không quân của Hitler, cho biết về những chiến thuật của Quốc trưởng dùng một khi có “người báo hung tin” đưa về những tin xấu. Ông ta luôn cố điều khiển cuộc nói chuyện, áp đảo người đối thoại vốn chỉ biết về một khu vực đơn lẻ trên mặt trận, bằng ấn tượng mạnh mẽ của tình huống tổng thể. Đó chính xác là điều đang xảy ra.

         Sau khi Hitler kết thúc phần thuật chi tiết những kế hoạch của ông trong chiến dịch Dietrich, một cuộc đại phản công với các sư đoàn xe tăng SS để chuyển bại thành thắng, ông bảo Behr “Ông đại úy, khi ông trở về gặp tướng Paulus, hãy nói với ông ta rằng cả con tim và hy vọng của ta ở cùng ông ấy và tập đoàn quân”. Nhưng Behr, vốn đã biết rằng đó là một “mánh lới” của Hitler, và hiểu rằng anh không thể cho phép mình im lặng.

           “Thưa Quốc trưởng” anh trả lời “Tư lệnh của tôi ra lệnh tôi báo cáo với Người về tình hình. Xin cho phép tôi được báo cáo”. Hitler, trước mắt đông đảo nhân chứng, không thể từ chối.

            Behr bắt đầu nói, và Hitler, khá làm anh kinh ngạc, vì không hề cố ngắt lời anh. Anh không tiếc cung cấp cho những thính giả của mình thông tin chi tiết, kể cả việc gia tăng số lính Đức đào ngũ sang phía Nga.

           Thống chế Keitel, không thể chịu nỗi sự thẳng thắn đó trước mặt Quốc trưởng, nên đã lắc nắm đấm với Behr từ phía sau lưng Hitler để cố làm anh ngưng lại. Nhưng Behr không nao núng, tiếp tục với những mô tả về sự kiệt sức, nói kém, lạnh cóng của tập đoàn quân, và đối diện với những cú đánh áp đảo mà không có đạn dược hay xăng dầu để đẩy lùi.

            Behr có tất cả thông số của những chuyến không vận hằng ngày trong đầu. Hitler hỏi lại anh có chắc chắn về những thống kê đó không, và khi Behr trả lời rằng đúng như vậy, ông ta bèn quay sang một sỹ quan Không quân cao cấp và yêu cầu giải thích sự khác biệt.

           “Thưa Quốc trưởng” viên tướng không quân đáp “tôi có mang theo đây danh sách các chuyến bay và hàng hóa chuyển đến mỗi ngày”.

          “Nhưng thưa Quốc trưởng” Behr cắt lời “Với tập đoàn quân, điều quan trọng không phải là có bao nhiêu chiếc máy bay được gửi đi, mà là cái chúng tôi thực sự nhận được. Chúng tôi không phê bình bên Không quân. Phi công bên đó thực sự là những anh hùng, nhưng chúng tôi chỉ nhận được những con số mà tôi vừa báo cáo. Có thể có vài đại đội nhận được vài thùng lẻ và giữ lại không báo cáo lên cấp chỉ huy, nhưng điều đó cũng không đủ để tạo nên sự khác biệt”.

         Vài sỹ quan cao cấp cố làm chệch lời phê phán của Behr bằng những “câu hỏi ngô nghê”, nhưng đáng ngạc nhiên là Hitler lại cho thấy sự giúp đỡ, có lẻ bởi ông ta muốn xuất hiện để bảo vệ lợi ích của chất-long-não-Stalingrad chống lại Bộ tổng tham mưu. Nhưng khi Behr chuyển đến phần tình huống mà Tập đoàn quân VI đối mặt, Hitler lại quay lưng đến tấm bản đồ khổng lồ lấm tấm những lá cờ tí hon như thể chưa có gì thay đổi. Behr biết những lá cờ này “nó như những tháng trước” còn giờ thì “các sư đoàn chỉ còn lại một vài trăm tay súng”.

         Nhưng, một lần nữa Hitler lại viện đến thông điệp của ông ta về việc đảo ngược toàn bộ hình thái tình hình bằng một cuộc phản công ghê gớm. Ông còn thông báo rằng cả một tập đoàn quân xe tăng SS đã được tập hợp quanh Kharkov, để đánh vào Stalingrad. Trước đó Behr đã biết từ thống chế von Manstein rằng cái lực lượng SS đó cần phải mất thêm vài tuần để mang sang phía đông. “Khi đó tôi hiểu là ông ta đã không cảm giác được sự thật. Ông ta đang sống trong một thế giới kỳ ảo của các bản đồ và cờ xí” với Behr, một con người hăng hái và là “một sỹ quan Đức trẻ theo chủ nghĩa dân tộc”, phát hiện này là một cú sốc. “Việc này kết thúc mọi ảo tưởng của tôi về Hitler. Tôi bị tin rằng chúng ta sẽ thua trong cuộc chiến”.

          Behr không được gửi thẳng về trong vòng vây như dự định. Anh gặp lại Hitler lần nữa trong trưa ngày hôm sau, cùng thống chế Milch, người được lệnh thúc đẩy các nỗ lực giải cứu của không quân đến Stalingrad. Sau đó, Behr được tướng Schmudt, tùy viên quân sự cao cấp của Hitler, triệu tập và chịu một cuộc thẩm vấn dài, đầy dò xét, dù thân tình.

          Schmudt, một trong những ủng hộ viên trung thành nhất của Hitler (ông ta chết mười tám tháng sau đó trong vụ đánh bom của Stauffenberg), nhanh chóng nhận ra viên đại úy thiết giáp trẻ tuổi đã mất niềm tin. Behr đã thú nhận điều này khi được hỏi. Nên khi đó Schmudt quyết định anh không được trả về lại cho Paulus. Behr phải quay lại bờ biển Đen, và làm việc ở Melitopol như là một phần của “Đội đặc nhiệm” mới thành lập dưới quyền thống chế Milch nhằm giúp Pháo đài Stalingrad giữ vững cho đến phút cuối.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #76 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2015, 05:11:33 am »

          Tại tổng hành dinh Rasterburg, tướng Stieff cùng trung tá Bernhard Klamroth, vốn quen Behr từ trước chiến tranh, đã gặp riêng anh hỏi – “theo kiểu mật mã” – rằng anh có tham gia một cuộc vận động nhằm hất cẳng Hitler không. Behr, người chỉ vừa mới thấy sự bất hạnh dưới sự lãnh đạo của Hitler, nên cảm thấy không thể quay ngoắt 180 độ được. Klamroth hiểu, nhưng vẫn cảnh báo anh cẩn thận với Manstein. “Ở bàn ăn thì nghe chừng lão ấy rất chống Hitler, nhưng lão ấy chỉ to mồm thôi. Chứ nếu Hitler bảo lão quay sang trái hay sang phải, thì lão ấy sẽ làm chính xác những gì được bảo”.

          Chỉ trích của Klamroth không hề thổi phồng. Tất cả những sự bất kính với Quốc trưởng mà Manstein chỉ thể hiện ở giữa những thuộc cấp thân cận và trò đùa chào theo kiểu Nazi bởi con chó của mình, ông không muốn có rủi ro với vị trí cá nhân. Trong hồi ký, ông dùng cái có thể gọi là luận cứ phản bội: một coup d’état  có thể dẫn đến một sự sụp đổ ngay tức khắc ở ngoài mặt trận và sự hỗn loạn trong lòng nước Đức. Ông ta vẫn là thành viên của giới sỹ quan, chống Bolsevik vốn thành hình từ cuộc nổi loạn và cách mạng năm 1918. Behr nghe theo lời khuyên của Klamroth và cẩn trọng khi báo cáo lại ở cụm tập đoàn quân sông Đon.

            Việc Manstein sợ Hitler sớm được chứng minh. Những cuộc thảo luận thẳng thắn giữa các sỹ quan của ông ta về khả năng thảm họa ở Stalingrad đã làm ông khó chịu tới mức ông ra một mệnh lệnh cho ban tham mưu của mình rằng: “Các cuộc thảo luận về khả năng của các sự kiện gần đây phải ngưng lại” bởi “không thể làm gì để thay đổi sự thật hiện tại mà chỉ có thể gây hại do sói mòn niềm tin”. Các sỹ quan cũng bị nghiêm khắc cấm thảo luận “các nguyên nhân hủy diệt Tập đoàn quân VI” trong các thư từ cá nhân.

           Lúc bấy giờ, vị Quốc trưởng lại muốn, bất kể hậu quả, là một điển hình anh hùng cho nhân dân Đức. Ngày 15 tháng Giêng, ông trao tặng Paulus Cành sồi cho Chữ thập Hiệp sỹ và thông báo 178 huân chương quan trọng khác cho các thành viên trong Tập đoàn quân VI. Nhiều người được nhận thưởng vẫn không nhận ra tính hai mặt của tấm huân chương.

         Mặt khác, Manstein trong khi xem thường động cơ của Hitler, hiểu rằng ông rất cần kéo dài thời gian đau khổ của Tập đoàn quân VI. Bởi cứ mỗi một ngày thêm vào, là ông có thêm thời gian để đưa hai tập đoàn quân ở vùng Caucasus về tuyến phòng ngự hữu hiệu. Hitler, qua một trong những logic méo mó kỳ cục của ông, giờ có thể biện luận rằng quyết định bắt Paulus phải ở lại vị trí là hợp lý.

         Các sự kiện điên rồ hình như cũng có lây nhiễm chút ít. Max Plakolb, một sỹ quan Không quân Đức, phụ trách điện báo ở Pitomnik, ghi nhận vài thông điệp cổ vũ lạ thường từ các tư lệnh cấp trên. Ngày 9 tháng Giêng, ngày tối hậu thư phía Sô viết tuyên bố, Plakolb và những người khác trong tổ của anh nhận lệnh bay ra khỏi Kessel. “Bỏ đi để lại mọi thứ sau lưng thật là khó. Mọi người viết một lá thư về nhà để chúng tôi mang theo”.
.
          Nhưng cũng như những người khác, thoát khỏi được cái túi Stalingrad ở thời khắc đó, ông ta có cảm giác như được sinh ra lần nữa. “Kể từ đó, ngày 9 tháng Giêng trở thành ngày sinh nhật thứ hai của tôi”. Tuy vậy, những người thoát ra được đó luôn bị bao phủ bởi cảm giác có lỗi của người sống sót “Chúng tôi không bao giờ được nghe bất cứ điều gì thêm về những đồng đội ở lại”.

         Mọi người giao lại những bức thư sau cùng hoặc những món đồ quan trọng be bé cho các đồng đội có được một chỗ trên máy bay. Tiểu đoàn trưởng, người chơi piano, thuộc sư đoàn xe tăng 16 bị ốm, nên tiến sỹ Kurt Reuber thuyết phục ông ta mang theo bức họa “Pháo đài Madonna” đi cùng. Reuber cũng cố hoàn tất bức tranh cuối cho vợ mình khi viên sỹ quan đó khởi hành chậm một ngày do thời tiết xấu. Lá thư cuối của ông cho vợ cũng được gửi theo. Ông biết không còn điểm lùi với sự thật hiện hữu mà họ đang đối mặt “Chắc chắn là không có một hi vọng nào nữa …

          Đã có những lúc lính Đức tin rằng những thư từ Giáng sinh được phát vào ngày 22 tháng Chạp là lần sau chót họ nhận được từ thế giới
bên ngoài. Nhưng sau đó vẫn có những lượt lẻ tẻ khác, lần muộn nhất là mãi đến ngày 18 tháng Giêng, còn hệ thống thông thường của Luftpost (quân bưu) ngưng từ ngày 13 tháng Giêng, khi quân lính được báo rằng chỉ còn một cơ hội cuối để viết về nhà. Nhiều người đã nói trong thư rằng họ chỉ có thời gian để “nguệch ngoạc đôi dòng”. Như một bác sỹ đã nhận thấy trong bức thư gửi cho cha “Tâm trạng ở đây thật lộn xộn. Vài người cực tệ, một số khác thì nhẹ nhàng và cũng có người trầm tĩnh. Thật là một trải nghiệm thú vị”.

          Sự trái ngược chủ yếu dường như là giữa những người viết thư để gây ấn tượng với gia đình về chủ nghĩa yêu nước tượng trưng cho cái chết sắp đến của họ và những người viết vì tình yêu. Với những người sau, thì không như những người dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành, thường bắt đầu lá thư của mình dịu dàng hết sức có thể: “Có lẽ đây sẽ là lá thư sau cùng của anh sau một thời gian dài”.

         Một thiếu tá tên von R. viết cho vợ: “Em luôn là suy nghĩ đầu tiên và sau cùng của anh. Anh thật sự không từ bỏ hi vọng. Nhưng, mọi thứ rất rất tệ, không ai biết được rằng anh và em gặp có còn được thấy mặt nhau. Quân ta vẫn và đang nỗ lực trong vô vọng. Anh và em không thể ít dũng cảm hơn họ, em nhé”.

     Từ “số mệnh” dường như là từ duy nhất được chia đều. “Thưa cha mẹ” một hạ sỹ viết “Số mệnh quyết định chống lại chúng con. Nếu cha mẹ được tin rằng con đã ngã xuống vì Đại Đức, xin cha mẹ hãy dũng cảm đón nhận. Và sau chót, con để lại vợ và con con trong tình yêu của cha mẹ”.

       Những người hết lòng vì chế độ thì quan tâm đến con đường vinh quang của quốc gia và cuộc chiến vĩ đại hơn là chia tay gia đình. Họ viết về “trận chiến định mệnh của nước Đức” và vẫn tin rằng “vũ khí và sự lãnh đạo của chúng ta là tốt nhất thế giới”. Và trong nỗ lực để làm cho tấm thảm kịch kệch cỡm trở nên có ý nghĩa, họ giữ tinh thần bằng ý tưởng rằng những thế hệ mai sau sẽ xem họ như những người bảo vệ Châu Âu khỏi hiểm họa của chủ nghĩa Bolshevik châu Á. “Đây là một cuộc chiến anh hùng, để thế giới vĩnh viễn không lạnh lẽo” một trung sỹ viết “Những anh hùng Đức bảo vệ cho tương lai nước Đức”.

            Những lá thư đó không bao giờ đến nơi. Đại úy bá tước Von Zedtwitz, trưởng ban kiểm duyệt của tập đoàn quân xe tăng số 4, nhận nhiệm vụ nghiên cứu thư từ vòng vây Stalingrad, để báo cáo về tinh thần và cảm xúc cho nhà cầm quyền. Dù báo cáo của ông ta gửi về cố tránh âm hưởng chủ bại, nhưng Goebbels đã lệnh rằng những thư sau cùng đó phải được giữ lại và cuối cùng là hủy đi.

              Những đoạn trích bên trên lấy từ một bảng ghi hình như của Heinz Schroter, một sỹ quan cấp thấp nguyên thuộc đại đội tuyên truyền của tập đoàn quân 6, sau được Bộ Tuyên truyền giao nhiệm vụ viết một thiên sử thi cho trận chiến. (Những thứ được xuất bản trong tập sách sưu tập vô danh có tên Những bức thư cuối cùng từ Stalingrad, gây nhiều cảm động khi ra mắt vào năm 1954, giờ được xác định là giả mạo)

            Còn những lá thư khác thì bị chặn lại bởi một cách rất khác. Như tướng Voronov ghi nhận, trong ngày 1 tháng Giêng “chúng tôi được tin, trong đêm có một chiếc vận tải cơ Đức bị bắn hạ trên các vị trí của quân ta. Và có chừng 1200 lá thư được tìm thấy trong xác máy bay”.

           Ở sở chỉ huy Phương diện quân Sông Đon, một bộ phận phụ trách bởi đại úy Zabashtansky và đại úy Dyatlenko cùng những phiên dịch viên rảnh rỗi, cũng như những người Đức “chống phát xít” làm việc với các túi thư đó trong ba ngày. Trong đó bao gồm cả những lá thư theo kiểu nhật ký của tướng Edler von Daniels gửi cho vợ. Theo tướng Voronov và đại úy Dyatlenko, lá thư sau chót của ngày 30 tháng Chạp cho thấy nhiều về tình hình phòng thủ yếu ớt của sư đoàn bộ binh 376 ở cánh tây nam, điều này phù hợp với những gì mà các thẩm vấn viên NKVD đang cố moi từ tù binh của họ.

          Mãi cho đến trận tấn công sau cùng của quân Soviet, bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng, mối bận tâm chính của Tập đoàn quân VI vẫn là như cũ “Kẻ thù số 1 là cái đói thường trực” một bác sỹ viết. “Thưa ba má” một hạ sỹ viết về nhà lâm ly “nếu có thể, hãy gửi cho con chút đồ ăn. Con thiệt ngại khi viết ra chuyện này, nhưng con đói quá”.

           Lính Đức bắt đầu liều lĩnh hơn để mò lên khu phân tuyến nhằm tìm trong xác quân Nga một mẩu bánh mỳ hay một túi đậu rang nhằm đun với nước. Hi vọng lớn nhất là tìm thấy một gói giấy chứa muối, mà họ khát khao.

          Sự đau khổ về việc thiếu đói với lính Đức trong vòng vây là rất tệ, nhưng còn có những người khác tệ hơn nhiều. Đó là 3500 tù binh Nga trong trại ở Voroponovo và Gumrak đang chết với tốc độ gia tăng nhanh chóng. Vài sỹ quan Đức đã sốc nặng khi phát hiện ra trong tháng Giêng rằng những tù binh đó buộc phải ăn cả thịt đồng đội, và đã báo cáo miệng lại. Khi quân Nga đến được các trại tù đó vào cuối tháng Giêng, nhà cầm quyền Liên Xô tuyên bố rằng chỉ còn 20 người sống sót trong số 3500 ban đầu.

          Cảnh tượng bày ra trước mắt lính Nga – minh chứng bởi những thước phim do các tay máy đến được nơi đó ghi lại – cũng tệ như những gì được thấy khi tiến vào các trại tử thần Nazi đầu tiên. Tại Gumrak, Erich Weinert miêu tả lại: “Trong một cái rãnh, chúng tôi tìm thấy một đống lớn xác tù binh Nga, hầu như trần trụi và gầy trơ xương”. Những hình ảnh đó, đặc biệt quay từ Voroponovo, có lẽ đã làm cứng rắn thêm trái tim của Hồng quân để tiến đến những chiến thắng mới.

          Nhiều nghìn quân Hiwis còn ở trong các sư đoàn Đức cũng bị chết đói. Girgensohn, sau khi thực hiện một cuộc giải phẫu tử thi, đã bảo viên sỹ quan Đức chịu trách nhiệm rằng người lính Hiwi đó hẳn là chết vì đói. Chuẩn đoán này “làm anh ta hoàn toàn bị ngạc nhiên”. Anh ta tuyên bố rằng quân Hiwi của mình cũng nhận được khẩu phần tương tự như lính Đức.

          Nhiều người được sỹ quan Đức của họ đối đãi khá tốt, và cũng nhiều lính Hiwis đã thể hiện cho thấy niềm tin  lẫn nhau đó trong trận chiến đấu cuối cùng. Nhưng rồi cuối cùng  những người Nga trong quân phục Đức đó cũng biết rằng họ tận số rồi. Không có chỗ cho họ trên những chuyến bay di tản, và vòng vây của các tập đoàn quân Nga cùng với quân NKVD đang chờ.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #77 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2015, 12:40:13 pm »

                                                                                                XXI


                                                                                               KHÔNG ĐẦU HÀNG

 

           Chiến trường trên thảo nguyên khá yên tĩnh trong suốt tuần đầu tháng Giêng. Hầu hết thời gian, chỉ có những phát súng bắn tỉa đơn điệu, hay một tràng đại liên lẻ loi cùng tiếng rít phía xa xa của pháo sáng tín hiệu bắn lên: tất cả mọi thứ đó được một tay trung úy gọi là “giai điệu chiến trường thông thường”. Sau chương trình phát thanh và những lượt truyền đơn trong ngày 9 tháng Giêng, lính Đức biết rằng đợt tấn công sau cùng sắp xảy ra. Những đội gác, không chủ động rùng mình trong cái lạnh, có lý do mạnh mẽ hơn để thức.

           Một người lính trông thấy một cha tuyên úy đang trên đường đi, trước trận tấn công chút xíu “Chỉ cần thêm một chút bánh mì thôi, Cha Pfarrer đang đến, có thể thế”. Nhưng khẩu phần bánh mỳ lại vừa giảm xuống còn 75 gram. Tất cả họ đều biết rằng sẽ phải đối mặt với trận xung phong của phía Liên Xô trong cái yếu ớt do đói ăn cùng bệnh tật và thiếu đạn dược, dù họ không hẳng hiểu nguyên do.

          Cả thuyết định mệnh – “mọi người nói về cái chết như kiểu về bữa sáng” – lẫn ý chí đều được tin tưởng. Lính trơn vẫn tin vào câu chuyện về những quân đoàn xe tăng SS và các lực lượng tăng viện đang được không vận vào. Tại sư đoàn bộ binh 297, binh sỹ vẫn tiếp tục được thuyết phục rằng “lực lượng giải cứu đã đến Kalach…đó là những sư đoàn Đại Đức và Leibstandarte”. Một vệt pháo ở phía Tây được diễn dịch ngay là tín hiệu từ họ. Ngay cả những sỹ quan cấp thấp cũng thiếu thông tin từ thượng cấp, như một trung úy đã khai với điều tra viên NKVD. Ngay trong tuần đầu tháng Giêng, trung đoàn trưởng của anh ta, thuộc sư đoàn bộ binh 371, vẫn bảo họ rằng: “Sự trợ giúp đang rất gần”. Họ bị sốc nặng khi nghe “qua các nguồn tin không chính thức” (có lẽ từ những quân nhân thuộc Không lực) về nỗ lực giải cứu thất bại và cụm Tập đoàn quân sông Đon phải rút lui về phía tây.

          Mặt khác, NKVD cũng sửng sốt vì biết được con số người Nga đang chiến đấu trong hàng ngũ Đức ngay tại mặt trận Stalingrad, không phải với tư cách lao công như những Hiwis không vũ trang. Nguồn tin Đức cho thấy một phần lớn Hiwis trong các sư đoàn thuộc Tập đoàn quân VI đang chiến đấu ở tiền tuyến. Nhiều sỹ quan đã chứng thực cho khả năng và lòng trung thành của họ. “Đặc biệt dũng cảm là người Tartar” một sỹ quan ở khu vực quận Nhà máy Stalingrad báo cáo. “Những xạ thủ chống tăng, sử dụng vũ khí thu được của Nga, họ tự hào với từng chiếc tăng Liên Xô mà họ bắn trúng. Những người đồng đội này thật tuyệt”.

          Cụm chiến đấu của trung tá Mader, gồm hai trung đoàn thủ pháo của sư đoàn bộ binh 297 ở góc cực nam Kessel, có chứa không ít hơn 780 “lính chiến người Nga”, gần một nửa lực lượng của ông. Họ được tin cậy với những vai trò quan trọng. Như một đại đội đại liên có mười hai người Ukraina “tự quản rất tốt”. Vấn đề nghiêm trọng nhất của họ, bên cạnh việc thiếu lương thực, là việc thiếu đạn dược. Một pháo đội chín khẩu có mức cơ số đạn trung bình là một viên rưỡi (1.5) cho mỗi khẩu một ngày.

         Chiến dịch Koltso, hoặc “Cái vòng”, bắt đầu vào rạng sáng Chủ Nhật, ngày 10 tháng Giêng. Tướng Rokossovsky và Voronov đang ở tại sở chỉ huy tập đoàn quân 65 khi lệnh “Khai hỏa!” được truyền qua vô tuyến lúc 6h05 phút, giờ Đức. Những khẩu đại bác gầm lên, nảy lùi lại. Những quả rocket Katyusha réo vụt qua bầu trời mang theo những luồng khói dày đặc. 7000 khẩu đại bác, dàn phóng rocket và cối tiếp tục bắn phá trong 55 phút như cách mà tướng Voronov mô tả là “một trận sấm vang rền không ngớt”.

           Những cột đen ngòm xuất hiện trên khắp thảo nguyên tuyết phủ, làm tiêu ma cái khung cảnh trắng tinh đó. Cuộc pháo kích mạnh đến nỗi đại tá Ignatov, một tư lệnh pháo binh, nhìn nhận với sự hài lòng ác nghiệt: “Chỉ có hai con đường để thoát khỏi một trận tấn công dữ dội kiểu này – hoặc là cái chết, hoặc là nổi điên”. Trong một cố gắng để tỏ ra lãnh đạm, tướng Edler von Daniels mô tả nó là “một ngày Chủ nhật rất không yên bình” trong một lá thư gửi về cho vợ. Nhưng trung đoàn thủ pháo ở tuyến một của sư đoàn ông ta, không có tâm trạng khinh bạc như vậy, khi thấy họ cực kỳ dễ bị tổn thương do những vị trí phòng thủ được chuẩn bị vội vàng. “Dự trữ đạn dược của quân địch” viên chỉ huy viết “thật ghê gớm, và chúng tôi chưa từng đối mặt với những gì tương tự”.

           Chỗ mấu lồi góc tây nam, “Mũi Marinovka”, được phòng thủ bởi sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 44,29 và 3, được mạnh thêm vào phút chót bởi một bộ phận của sư đoàn 376. Mọi trung đoàn đều dưới sức. Sư đoàn bộ binh 44 phải dùng cả pháo thủ và người từ các tiểu đoàn xây dựng. Vài chiếc tăng và đại bác hạng nặng còn lại được chia cho từng khu vực. Ngay sau vị trí của tiểu đoàn công binh là hai khẩu pháo tự hành và một khẩu cao xạ 88mm. Nhưng ngay trong trận pháo kích, những người lính công binh nhìn thấy sở chỉ huy tiểu đoàn họ nổ tan thành từng mảnh. “Không ai chui ra được” một trong số họ viết. “Trong một tiếng đồng hồ, cả trăm khẩu đại bác các cỡ nòng và những giàn dương cầm Stalin bắn phá”, một trung úy cùng sư đoàn ghi lại. “Căn hầm lắc lư liên tục dưới làn bom đạn. Rồi bọn Bolshevik tấn công đông vô kể. Ba làn sóng lính tràn lên, không do dự. Rất nhiều tên đeo huy chương Cờ đỏ. Cứ mỗi năm mươi đến một trăm thước có một chiếc xe tăng.

           Những người lính bộ binh Đức, ngón tay bị bỏng tuyết nặng đến nỗi rất khó khăn để đưa vào vòng cò súng, khai hỏa từ những hố nông choèn vào quân bộ binh Nga đang tiến lên  qua vùng tuyết phủ với lưỡi lê dài cắm sẵn. Những chiếc T-34, vài xe có mang bộ binh như những con khỉ đu trên lưng voi, tròng trành vượt qua thảo nguyên. Những cơn gió mạnh thổi qua lớp áo tuyết bị nổ tung, làm phơi ra những ngọn cỏ thảo nguyên không màu. Đạn cối bị lớp đất lạnh phủ lại, rồi nổ tung ra, gây nhiều thương vong hơn. Các tuyến phòng ngự của sư đoàn bộ binh 44 (Đức) sớm bị xuyên thủng, và những người sống sót, trần trụi, phụ thuộc vào lòng khoan dung của quân thù cũng như sức mạnh của thiên nhiên.

            Trong cả buổi chiều, sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 29 và số 3 tại mấu lồi chính của mũi Marinovka bắt đầu nhận ra họ bị bọc sườn. Tại sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 3, lính thay thế lãnh đạm. “Nhiều người quá mệt và bệnh” một sỹ quan viết “và chỉ nghĩ đến việc chuồn về hậu phương trong đêm, nên tôi chỉ có thể giữ họ lại vị trí bằng mũi súng”. Những nguồn tin khác gợi ý rằng nhiều trường hợp bị tử hình tại chỗ trong thời khắc sau cùng đó, nhưng không có số liệu cụ thể.

           Đại đội tạp nham của thượng sỹ Wallrawe gồm lính thủ pháo tăng, lính không quân và quân Cossack đã trụ được tới mười giờ đêm đầu tiên, rồi họ nhận được lệnh lui về bởi quân địch và chọc thủng về phía sau. Họ cố xác lập một vị trí ở phía bắc nhà gia Karpovka nhưng lại bị đẩy lùi lần nữa. “Từ ngày này, chúng tôi không thể làm ấm boongke, thực phẩm và cũng chẳng có chút bình yên nào!” Wallware viết.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #78 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2015, 06:48:12 am »

          Những sư đoàn yếu ớt đó, với rất ít đạn dược, không có chút cơ hội nào để chống lại những trận đánh ồ ạt của Tập đoàn quân số 21 và 65 của Nga, được hỗ trợ bởi Tập đoàn quân không quân 16. Quân Đức củng cố khu Marinovka và Karpovka ở phía nam mấu lồi bằng các công sự bê tông ngầm và các ụ đại bác, nhưng điều này chẳng hữu dụng mấy do những mũi tấn công chính lại ở giữa cái mũi. Những nổ lực của quân Đức nhằm phản công bằng những cụm chiến đẩu lẻ tẻ với vài chiếc tăng còn lại cùng bộ binh bị thất bại. Quân Nga dùng hỏa lực cối để chia cắt bộ binh với xe tăng, rồi quét sạch những người sống sót. Ban chính trị Phương diện quân  sông Don đưa ra câu khẩu hiệu: “Nếu quân địch không đầu hàng, nó phải bị tiêu diệt!

          Trong khi Tập đoàn quân số 21 và 65 (Nga) tấn công vào mũi Karpovka ở ngày đầu tiên, thì Tập đoàn quân 66 công kích vào sư đoàn bộ binh cơ giới số 60 và sư đoàn xe tăng số 16 ở điểm cực bắc, nơi những ngọn đồi nhấp nhô đã bị đổi sang màu vàng đen do bị cối phía Soviet đốt trụi. Những chiếc xe tăng còn lại của trung đoàn xe tăng số 2 (Đức) một lần nữa lại ghi được chiến công khi liên tục bắn hạ những đợt sóng T-34 ngoài công sự và buộc những kẻ sống sót phải tháo lui.

          Trong khi đó, ở khu vực phía nam, Tập đoàn quân 64 bắt đầu dội pháo vào sư đoàn bộ binh 297 và trung đoàn Rumani số 82 phối thuộc. Ngay sau khi đợt pháo kích bắt đầu, đại tá Mader (*Ở đoạn trên ghi là Trung tá lieutenant-colonel, còn tới chỗ này lại là đại tá Colonel, không rõ có sự nhầm lẫn nào không hay Mader vừa được thăng chức, nên người dịch giữ nguyên theo nguyên văn) nhận được điện từ một sỹ quan tham mưu sư đoàn: “Bọn lợn Rumani chạy rồi”. Tiểu đoàn đóng ở xa nhất rút chạy gây ra một khoản trống rộng nửa dặm ở bên cánh cụm chiến đấu của ông ta. Phía Nga, nhận ra cơ hội, liền đưa xe tăng vào đó và khoét sâu thêm. Tình thế cả sư đoàn trở nên nguy hiểm, nhưng tiểu đoàn công binh của họ, do thiếu tá Gotzelmann trong một cuộc phản công nửa  tự sát đã xoay sở để lấp lại lổ hổng đúng lúc.

          Cái sư đoàn Áo không toàn vẹn này, không như lúc rút lui qua sông Đon, đã cố để giữ vững tuyến phòng thủ mạnh. Trong hai ngày kế tiếp, đã đánh lui được sư đoàn bộ binh cận vệ 36, sư đoàn bộ binh 422, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến và một phần của quân đoàn xe tăng 13. Khi một người lính “bị thuyết phục trước” bỏ trốn sang phía Nga, anh ta đã bị bắn hạ bởi những đồng đội của mình trước khi tới được tuyến địch. Nhưng trong vài ngày sau, sau những lượt tuyên truyền mạnh, có hơn bốn mươi người khác đã đảo ngũ.
         

          Nỗ lực chính của phía Liên Xô tập trung vào bước tiến ở phía tây. Cuối buổi sáng ngày thứ hai, 11 tháng Giêng, Marinovka và Karpovka đã được giải phóng. Phía chiến thắng đếm được 1600 xác quân Đức.

         Ngay khi trận đánh vừa kết thúc, những phụ nữ nông dân xuất hiện không rõ từ đâu và xô vào các chiến hào quân Đức tìm kiếm chăn mền, cả để dùng cho họ lẫn để bán chác. Erich Weinert, đi cùng với những đơn vị tiến công, trông thấy quân Nga ném bỏ hồ sơ từ các thùng xe tải chiến lợi phẩm ở một sở chỉ huy nhằm sử dụng chúng. “Karpovka trông như một chợ trời lộn xộn khổng lồ” ông viết. Nhưng giữa cái đống hỗn độn của những thứ thiết bị quân sự bị phá hủy hoặc bỏ đi, ông thấy được kết quả của cuộc pháo kích tự do kinh khủng. “Những người chết nằm đó, vặn vẹo một cách kỳ quái, mắt và miệng vẫn mở to trong sự kinh hoàng, đông cứng, hộp sọ bị vỡ, ruột sổ ra, đa số họ tay và chân được băng bó, vẫn còn đẫm chất dầu chống bỏng tuyết màu vàng

          Sức kháng cự của Tập đoàn quân VI, với điều kiện thể chất và trang bị đều yếu kém, rất đáng ngạc nhiên.Thước đo rõ nhất là mức độ thương vong trong ba ngày đầu. Phương diện quân sông Đon mất 26000 quân và một nửa lực lượng tăng. Các chỉ huy Soviet ít cố gắng để giảm mức thương vong. Quân của họ trở thành những mục tiêu dễ dàng khi tiến lên từ những tuyến trải dài. Những cụm màu nâu, xác quân Nga rải bừa bãi trên thảo nguyên tuyết phủ. (Quân phục ngụy trang màu trắng được dành chủ yếu cho các đại đội trinh sát và bắn tỉa). Cơn giận của binh lính và sĩ quan Nga được trút lên những tù bình Đức, gầy gò và đầy rận. Nhiều người bị bắn tại chỗ. Những người khác thì chết khi đang áp giải đi theo từng hàng nhỏ, và quân Soviet quạt họ bằng súng máy. Có trường hợp, một viên đại đội trưởng đang bị thương của một đại đội trừng giới đã buộc một sỹ quan Đức bị bắt quì xuống tuyết trước mặt ông ta, hét to lý do trả thù rồi bắn chết.

           Trong những giờ đầu của ngày 12 tháng Giêng, tập đoàn quân 65 và 21 đến được bờ tây của con sông Rossoshka đang bị đóng băng, và như vậy là kết liễu mấu lồi Karpovka. Những đơn vị (Đức) rút lui, nếu vẫn muốn chiến đấu trong tương lai, phải tự mang vác đại bác chống tăng theo. Trong nhiều ca, tù binh Nga được dùng thay cho súc vật kéo, và làm cho đến chết. Trời quá lạnh và mặt đất đóng băng cứng, tướng Strecker ghi nhận “thay vì đào hào, quân ta dựng lên những bờ công sự và hầm bằng băng tuyết”. Lính thủ pháo của sư đoàn xe tăng 14 “kháng cự ác liệt ngay cả khi họ không còn đạn dược, và bị phơi trần trên thảo nguyên băng giá”.

             Chẳng có mấy người trong Tập đoàn quân VI thích chúc mừng sinh nhật lần thứ 50 của Goering trong ngày đó. Chất đốt và đạn dược thiếu thê thảm. Sở chỉ huy Tập đoàn quân VI không hề cường điệu khi điện báo cho tướng Zeitzler trong sáng hôm sau “Đạn dược đã hết”. Khi nhóm chiến đấu hỗn hợp của Wallrawe, đóng trong một vị trí cũ của quân Nga đào trong mùa hè năm trước, đã đối diện với một trận tấn công lớn khác trong buổi sáng hôm sau và họ “chỉ bắn ở cự ly gần nhất bởi thiếu đạn dược”.

            Thiếu chất đốt làm cho việc di tản thương binh khó khăn hơn trước nhiều. Những thương binh mất khả năng di chuyển bị chất đống lên xe tải, và khi bị buộc phải dừng lại, họ chết cóng trên đồng trống. Những người lính với gương mặt xạm đen, khi đến phi trường Pitomik đã bị sốc bởi cảnh tượng. Một sỹ quan trẻ viết “Phi trường rất hỗn loạn: hàng đống xác người, được vác ra từ các hầm hào, lều trại và nhà thương binh, rác rưởi; quân Nga tấn công; pháo kích; phi cơ vận tải Junker đáp xuống

          Nhưng thương binh nhẹ và người giả ốm; xuất hiện như một đám ăn xin du cư, giẻ quấn đầy người; cố ào đến máy bay khi chúng đáp xuống; để ráng lên được. Những kiện hàng đã dỡ hết được ném qua một bên hoặc được lục soát kỹ lưỡng để kiếm đồ ăn. Những kẻ yếu nhất trong đám đó bị dẫm đạp dưới chân. Quân cảnh,nhanh chóng bị mất kiểm soát tình hình, đã khai hỏa nhiều lần. Nhiều thương binh nặng được quyền đi hợp pháp lo rằng họ sẽ không bao giờ thoát khỏi địa ngục này.
                                               
           Thượng sỹ Wellrawe, trong khi đó, bị thương vào dạ dày. Đây thường là một vết tử thương ở Kessel, nhưng bằng quyết tâm, anh ta đã tự cứu mạng mình. Hai viên hạ sỹ thuộc quyền đã đưa anh ta về từ trận địa, mang lên xe cùng với những người bị thương khác. Tài xế chạy thẳng về hướng phi trường Pitomik. Nhưng khi chỉ còn cách hai dặm, họ hết xăng. Người lái xe được lệnh phá hủy xe trong trường hợp như vậy. Và anh ta không thể làm gì hơn cho những thương binh, mà để họ lại “cho số mệnh”. Wallware, dù vết thương rất đau, hiểu rằng sẽ chết nếu không thể đến chỗ máy bay. “Tôi phải bò quảng đường còn lại đến sân bay. Đêm xuống. Trong một căn lều lớn, tôi nhận được giúp đỡ. Bom từ một trận không kích bất ngờ rơi và giữa đám lều bệnh viện và phá hủy nhiều căn”. Trong cơn hỗn loạn xảy ra sau đó, Wallware vẫn xoay sở để lên được một chiếc Ju cất cánh vào lúc 3 giờ sáng.

            Ở phi trường Pitomik, một cơ hội trùng hợp ngẫu nhiên đã có thể cứu sống một thương binh trong khi hàng trăm người khác chết trên tuyết. Alois Dorner, một pháo thủ trong sư đoàn bộ binh 44, bị một vết thương vào tay trái và bắp đùi trái bởi mảnh đạn đại bác, kinh hoảng trước cảnh tượng ở Pitomik “Đó là cảnh đau đớn nhất mà tôi được thấy trong đời. Tiếng rên rỉ khóc than không dứt của thương binh và của những người chết… hầu hết mọi người không được gì để ăn mấy ngày rồi. Không còn đồ ăn cho thương binh. Chúng được dự trữ để cung cấp cho các lực lượng chiến đấu” (Thật khó để nói rằng đó có phải là một chính sách chính thức không. Các sỹ quan cao cấp của Tập đoàn quân VI nhất mực phủ nhận, nhưng vài viên chỉ huy thuộc quyền lại xem ra đã xây dựng chính sách đó). Dorner, không được ăn từ ngày 9 tháng Giêng, xem chừng sẽ chết, rồi trong đêm 13 tháng Giêng, một phi công người Áo của một chiếc Heinkel 111 đi qua và đột nhiên hỏi anh đến từ đâu. “Tôi ở gần Amstetten” anh ta trả lời. Thế là người đồng đội gốc Áo đó gọi thêm một thành viên khác trong tổ lái, họ cùng nhau đưa Dorner lên chuyến bay.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 867


« Trả lời #79 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2015, 06:48:40 am »

           Ở cánh bắc, sư đoàn bộ binh cơ giới 60 và sư đoàn xe tăng 16 bị đánh lùi lại tạo nên một vết lõm trong khu vực, trong lúc ở nội thành
Stalingrad, tập đoàn quân 62 của Chuikov tấn công sư đoàn 100 Jager và sư bộ binh 305, chiếm lại được vài khối nhà. Trong khi đó, mũi tiến chính của Soviet từ phía tây tiếp tục xuyên qua tuyết, tiến đến từ phía tây của vòng vây. Sư đoàn bộ binh cơ giới số 29 trên thực tế đã bị xóa sổ. Việc thiếu nhiên liệu buộc sư đoàn bộ binh cơ giới số 3 phải bỏ lại xe cộ, vũ khí nặng và rút chạy trên tuyết bằng chân. Chẳng có mấy hi vọng thiết lập được một tuyến phòng thủ mới trên thảo nguyên trống trải khi mà quân lính không còn sức để đào công sự.

           Tập đoàn quân 21 và 65 (Nga) thọc về hướng Pitomnik, với sự hỗ trợ của Tập đoàn quân số 57 và 64 đã chọc thủng cánh nam, nơi sư đoàn bộ binh 297 (Đức) bao gồm cả cụm chiến đấu của Mader bị ép lùi lại. Đơn vị bên phải của họ, sư đoàn bộ binh 376 của tướng Edler von Daniel, đã bị cắt rời. Đầu buổi chiều ngày 14 tháng Giêng, Tập đoàn quân VI đánh điện: “Sư đoàn 376 đã bị tiêu diệt. Khả năng phi trường Pitomnik chỉ còn hữu dụng đến ngày 15 tháng Giêng”.

          Tin về những đợt tấn công bằng xe tăng của Liên Xô giờ gây nên nỗi “sợ xe tăng” với quân Đức. Chẳng còn mấy khẩu pháo chống tăng còn đạn. Không ai có thời gian để chỉ trích cái cách mà họ khinh miệt quân Rumani cũng đã hành động tương tự trong hai tháng trước.

         Trong giai đoạn sau chót của trận chiến này, Hitler quyết định rằng Tập đoàn quân VI phải được giúp đỡ nhiều hơn để đứng vững được. Động cơ của ông ta thật sự rối rắm. Ông có lẽ đã xúc động thực sự khi biết từ đại úy Behr rằng có rất ít sự trợ giúp đến được nơi, nhưng ông có lẽ cũng muốn chắc ăn rằng Paulus sẽ không có lý do để bào chữa cho việc đầu hàng. Giải pháp của ông ta – một nét đặc trưng của việc kích động hoạt động lớn cho một kết quả rõ ràng nhỏ - là thành lập một “Đội đặc nhiệm” do thống chế Erhard Milch đứng đầu để giám thị chiến dịch không vận hậu cần. Một thành viên của ban tham mưu Milch mô tả cái hành động muộn màng này là cái “cớ để Hitler có thể nói rằng ông đã cố làm mọi thứ để cứu quân sỹ trong vòng vây”.

        Albert Speer đi cùng với Milch đến phi trường, khi ông chuẩn bị đi nhận nhiệm vụ mới. Milch hứa sẽ cố tìm người em của ông ta và đưa ra khỏi Kessel, nhưng cả Ernst Speer lẫn đơn vị của anh không được tìm thấy. Tất cả họ biến mất “xem như đã chết”. Dấu vết duy nhất, như Speer ghi nhận, là một lá thư được chuyển ra bằng máy bay rằng “tuyệt vọng về cuộc sống, giận dữ vì cái chết và cay đắng về tôi, anh cậu ta”.
            Milch và ban tham mưu của ông đến phi trường Taganrok trong niềm tin rằng họ sẽ làm được một điều lớn lao, nhưng như một viên sỹ quan vận tải cao cấp Không lực Đức viết “mọi người nhìn thấy tình trạng thực tế thì đủ nhận ra rằng họ không thể làm gì hơn với nguồn lực không thỏa đáng này”.

           Sáng ngày 15 tháng Giêng, ngày làm việc đầu tiên, đã không được đánh dấu bằng một khởi đầu đáng động viên. Milch nhận được một cú gọi từ Quốc trưởng yêu cầu tăng lượng không vận đến Stalingrad. Và như thể tăng mạnh thêm nỗ lực của mình, trong ngày đó Hitler tặng Paulus cành sồi cho Chữ thập Hiệp sỹ. Vào giờ trưa, Goering gọi cho Milch, cấm ông ta bay vào trong vòng vây. Rồi Fiebig báo rằng phi trường Pitomnik đã rơi vào tay quân Nga (việc này thì ông ta báo hơi sớm), và rằng tín hiệu radio từ Gumrak không được thiết lập, điều này có nghĩa là phi cơ vận tải không nên được gửi đi.

           Những chiếc Messerschmitt 109 bay khỏi Pitomnik ngay sau bình minh ngày kế tiếp, khi quân Nga tiến đến trong tầm nhìn. Họ chuyển đến Gumrak và đáp xuống trong tuyết chưa được dọn sạch. Đến trưa, phi trường Gumrak cũng ở dưới tầm hỏa lực đại bác, và những chiếc Messerschmitt cùng Stuka bay khỏi Kessel, lần cuối cùng, theo lệnh của Richthofen. Lời phản đối của Paulus là vô ích.

          Ngày hôm đó, cả một tiểu đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 295 đầu hàng. Truyền đơn mang lời hứa của Voronov sẽ đối đãi tử tế với tù binh xem ra có vài tác dụng. “Thật vô vọng để trốn chạy” viên tiểu đoàn trưởng nói trong buổi thấm vấn của đại úy Dyatlenko “Tôi bảo quân tôi đầu hàng để cứu lấy mạng sống”. Viên đại úy này, nguyên là một giáo viên Anh văn, thêm vào “Tôi cảm thấy rất tệ bởi đây là lần đầu tiên nguyên cả một tiểu đoàn quân Đức đầu hàng”.
           Một tiểu đoàn trưởng khác đầu hàng sau đó, thuộc sư đoàn bộ binh 305 ở Stalingrad, nói rằng “điều kiện không thể chịu đựng nổi ở tiểu đoàn chúng tôi”. “Tôi không thể giúp được quân mình nên tôi đã tránh gặp họ. Khắp nơi trong trung đoàn, tôi nghe quân lính nói về cái đói, cái lạnh. Mỗi ngày sỹ quan quân y của chúng tôi nhận cả tá ca thương vong do bỏng tuyết. Bởi vì tình trạng quá thê thảm, nên tôi nghĩ tiểu đoàn đầu hàng là lối đi tốt nhất”.

            Phi trường Pitomnik và bệnh viện dã chiến ở đó bị bỏ với nhiều đau khổ. Trong tình huống tiêu chuẩn khi rút lui, những ai không thể đi được và bỏ lại đằng sau được chăm sóc bởi một bác sỹ và ít nhất một hộ lý. Giờ những thương binh còn lại khập khiễng, bò hoặc trượt trên những chiếc xe trượt tuyến trên con đường băng đông cứng lỗ chỗ ổ gà để đến Gumrak cách đó hơn tám dặm. Vài chiếc xe tải còn chút ít nhiên liệu thường xuyên bị chiếm dụng, ngay cả khi nó chứa đầy thương binh. Một đại úy không quân báo cáo tình hình trên đường trong ngày 16 tháng Giêng, ngày phi trường Pitomnik thất thủ: “Con đường một chiều dày đặc quân lính rút lui, với dáng vẻ cùng đường. Chân và tay quấy trong những mảnh chăn”. Trong buổi chiều anh ta ghi nhận rằng “Số lượng những người tụt hậu từ nhiều binh chủng tăng lên, họ lạc mất đơn vị, xin ăn và xin đi ké”.

          Lúc đó bầu trời không một gợn mây, mặt trời chói lòi trên nền tuyết. Đêm xuống, bóng tối trở nên màu xanh thép trong khi vầng dương ở đằng chân trời như một quả cà chua đỏ mọng. Tình hình của hầu hết binh sỹ, không kể là bị thương hay không, thật tệ hại. Họ khập khiễng đi trên những bàn chân bị tuyết ăn, môi nứt nẻ vì lạnh, gương mặt nhợt nhạt như sáp, như thể cuộc sống của họ đã trôi mất. Những người kiệt sức sụp xuống trên tuyết và không bao giờ dậy được nữa. Những người cần thêm quần áo, lột chúng từ những xác chết ngay khi họ chết. Một khi thi thể đã bị đông cứng lại, thì không thể lột đồ được nữa.

            Cách sư đoàn Soviet không xa mấy ở phía sau. “Trời thật lạnh” Grossman ghi lại khi ông đi cùng với các đơn vị tiến công “Tuyết và băng đá bay vào mũi. Răng nhức nhối. Có những lính Đức đông cứng, thi thể không bị tổn hại nào, dọc con đường chúng tôi đi. Chúng tôi không giết chúng. Mà cái lạnh đã làm. Áo khoác và ủng của chúng không tốt. Áo quân phục mỏng như giấy… Có những vết chân khắp trên tuyết. Báo cho chúng tôi rằng quân Đức rút từ những làng dọc theo con đường; và từ những con đường vào các khe núi, ném vũ khí đi”. Erich Weinert, cùng một đơn vị khác, quan sát thấy từng đàn quạ bay vòng rồi đáp xuống móc mắt người chết.

           Tại một điểm gần Pitomnik, các sỹ quan Liên Xô kiểm tra lại phương hướng, bởi phía xa, họ trông thấy cái gì đó như một thị trấn nhỏ trên thảo nguyên, mà không có trong bản đồ của mình. Khi họ đến gần hơn, họ thấy đó là cả một khu phế liệu quân sự khổng lồ, những xe tăng bị bắn hạ, xe tải, xác máy bay, xe moto, pháp tự hành, xe halftrack, xe kéo pháo và nhiều thứ đồ trang bị có thể tưởng tượng khác. Điều hài lòng nhất của lính Nga là tận mắt thấy những chiếc máy bay bị bắn hạ hoặc bị bỏ lại ở phi trường Pitomnik, đặc biệt là những chiếc Focke-Wulf Condor khổng lồ. Đợt tiến công của họ về phía đông hướng đến Stalingrad giờ chứa những trận đùa liên miên của việc “đang ở hậu phương Nga”.

           Trong lần rút lui này, hi vọng của quân Đức về các sư đoàn xe tăng SS và lực lượng tăng viện qua không vận, cuối cùng cũng tiêu tan. Các sỹ quan hiểu rằng Tập đoàn quân VI quả thực đã tận số. “Vài vị chỉ huy” một bác sỹ ghi nhận “đến gặp chúng tôi và xin thuốc độc để tự sát”. Các bác sỹ cũng cám dỗ bởi ý tưởng của việc tìm về lãng quên, nhưng ngay sau đó, họ suy nghĩ cẩn thận, họ biết, nhiệm vụ của mình là ở lại với thương binh. Trong số 600 bác sỹ của tập đoàn quân 6, không ai còn có thể làm việc lại bay ra.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM