Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 01:10:56 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Stalingrad - Anthony Beevor  (Đọc 53734 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #60 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2015, 12:21:02 AM »

           Ngày 28 tháng 11, Stalin yêu cầu Zhukov đánh giá ý định quân địch. Zhukov đã gửi báo cáo ngày hôm sau rằng “Quân Đức bị vây sẽ không cố phá vây mà không có sự trợ lực của một lực lượng giải cứu từ hướng Nizhne – Chirskaya và Kotelnikovo”. Dự báo của ông là chính xác, và nghiên cứu tình hình thực địa chi tiết cũng cho thấy đó là cơ hội khả thi duy nhất. Sau khi gửi câu trả lời cho Stalin, Zhukov bàn bạc tình huống với Vasilevsky, chính Vasilevsky được Stalin bảo hướng sự quan tâm hiện tại vào việc tiêu hao Tập đoàn quân VI. Hai vị tướng kín đáo đồng ý rằng họ có thể phải trì hoãn chiến dịch Sao Thổ lại mà thay vào đó là tính toán cho chiến dịch Sao Thổ nhỏ. Kế hoạch là tấn công vào hậu phương và cánh trái cụm tập đoàn quân sông Đôn của Manstein. Và điều này sẽ làm những nỗ lực giải tỏa Stalingrad phải dừng lại đột ngột.

             Kế hoạch của Manstein nhằm giải cứu Tập đoàn quân VI – chiến dịch Bão Mùa Đông – được phát triển dưới sự tham mưu của đại bản doanh Quốc trưởng. Nó chú trọng vào việc đột kích đến gặp tập đoàn quân 6 và thiết lập một tuyến hành lang để cung cấp hậu cần, tăng viện, và như vậy, theo lệnh Hitler, có thể giữ vững được vị trí “như đá tảng” này trên dòng Volga, “để hướng đến các chiến dịch trong năm 1943”. Tuy vậy, thống chế Manstein hiểu rằng Tập đoàn quân VI không thể sống sót qua mùa đông ở đó, nên đã cho ban tham mưu của mình xây dựng một kế hoạch bổ sung. Nó bao gồm một cuộc tấn công phá vây theo sau của Tập đoàn quân VI nếu giai đoạn một thành công, và tái nhập vào cụm tập đoàn quân sông Đông. Bảng kế hoạch này được đặt tên là Chiến dịch Sấm rền.

             Cuộc hành binh Bão Mùa Đông, như Zhukov đã dự báo, có kế hoạch nguyên thủy là một trận tấn công theo hai mũi. Một là từ vùng Kotelnikovo, chếch về hướng Nam, cách tập đoàn quân 6 tầm 100 dặm. Mũi còn lại bắt đầu từ tuyến sông Chir ở phía tây sông Đôn, và chỉ cách góc vòng vây ít hơn 40 dặm, nhưng những trận công kích liên miên của tập đoàn quân xe tăng số 5 của tướng Romanenko vào các đơn vị Đức đóng dọc sông Chir đã phá vỡ tuyến xuất phát tấn công. Do vậy chỉ còn lại một mũi duy nhất do quân đoàn xe tăng 57 từ Kotelnikovo, cùng với phần còn lại của Tập đoàn quân xe tăng số IV của Hoth, tiến hành giải vây cho những sư đoàn của Paulus.

            Quân đoàn xe tăng 57, chỉ huy bởi tướng Friedrich Kirchner, trước tiên là rất yếu. Nó gồm hai sư đoàn kỵ binh Rumani và sư đoàn xe tăng số 23, tập hợp lại có không quá 30 chiếc xe tăng hữu dụng. Nhưng sư đoàn xe tăng số 6, chuyển đến từ Pháp, là một đơn vị mạnh hơn nhiều. Tư lệnh sư đoàn, tướng Erhard Raus, người Áo, được triệu tập đến toa xe vương giả của Manstein ở ga Kharkov trong ngày 24 tháng 11, vị thống chế trực tiếp chỉ dẫn cho ông. “Ông ta mô tả tình huống rất u ám” Raus ghi nhận. Ba ngày sau, khi chuyến tàu đầu tiên đổ quân của Raus xuống ga Kotelnikovo, các đơn vị của ông được chào đón bởi “một trận mưa đại bác” từ các khẩu đội pháo Nga. “Nhanh như chớp, lính thủ pháo tăng nhảy khỏi toa xe. Nhưng quân thù đã tấn công vào ga với tiếng thét xung trận Urrah!!!”.

            Tướng Hoth vui mừng khi gặp sư đoàn xe tăng số 6. Nó được kiện toàn ở Brittany, và mạnh mẽ với 160 chiếc Mark IV nòng dài cùng 40 pháo tự hành. Sư đoàn nhanh chóng có cơ hội thử những vũ khí mới. Ngày 3 tháng 12, nó giao chiến với quân đoàn kỵ binh 4 Sô viết trong một trận đánh dữ dội gần làng Pakhlebin, cách Kotelnikovo bảy dặm về phía tây bắc. Các tổ lái tăng, hồ hởi như những vành xích nghiến lên lớp băng, cắt rời sư đoàn kỵ binh 81 (Nga) và gây thiệt hại nặng. Tướng Raus, hài lòng với kết quả, đã coi trận đánh đó như là “trận Cannae ở Pakhlebin”. Việc sư đoàn của Raus được đưa đến đã khẳng định cho mối nghi ngờ của Yeremenko rằng quân Đức sắp tấn công lên phía đông bắc từ Kotelnikovo, nhưng Stalin vẫn từ chối đưa lực lượng dự bị đến khu vực bị đe dọa.

            Cũng trong ngày 3 tháng 12, tướng Hoth đưa ra bảng đề xuất cho chiến dịch “Bão mùa đông” bắt đầu với câu “Mục đích: Tập đoàn quân xe tăng 4 giải nguy cho tập đoàn quân 6”, nhưng thời điểm có giá trị đã bị mất rồi. Sư đoàn xe tăng số 17, hợp thành trong lực lượng xung kích của ông ta, đã bị rút về phía sau, theo lệnh từ đại bản doanh Quốc trưởng, để làm lực lượng dự bị phía sau tập đoàn quân Italia số 8. Cuối cùng nó vẫn không thể tham gia vào đội hình của tướng Huth mãi cho đến 4 ngày sau khi chiến dịch nổ ra. Thế mà Hitler vẫn khăng khăng bảo rằng không nên tốn thời gian. Ông ta cũng sốt ruột muốn xem những chiến tăng Tiger mới với đại bác 88m làm ăn ra sao. Tiểu đoàn đầu tiên được trang bị đã đến mặt trận phía Đông và thuộc về lực lượng của Kirchner. Đêm ngày 10 tháng 12, viên chỉ huy được nhận “Huân chương giải phóng Stalingrad”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2015, 09:27:21 AM »

         Ngày 12 tháng 12, sau một trận pháo kích chuẩn bị, xe tăng của Huth tiến lên hướng bắc. Lính Đức trong vòng vây háo hức lắng nghe âm thanh của trận chiến đằng xa. Niềm tin dường như vô bờ. Tin đồn háo hức lan nhanh trong Tập đoàn quân VI. “Manstein đang đến!” quân lính bảo nhau, không khí như trong lễ Phục sinh của giáo hội chính thống. Với những người trung thành với Hitler, tiếng đại bác xa xa là bằng chứng cho thấy một lần nữa Quốc trưởng giữ lời.

           Tuy vậy, Hitler không có chút ý định nào cho phép Tập đoàn quân VI phá vây. Trong buổi họp trưa ở Hang sói , ông ta bảo Zeitzler rằng không thể rút lui khỏi Stalingrad vì nó dính dáng tới việc từ bỏ “Ý nghĩa của cả chiến dịch” và phàn nàn rằng quá nhiều máu đã đổ. Như Kluge đã cảnh báo Manstein, ông ta vẫn bị ám thị bởi những sự kiện của mùa đông năm trước khi lệnh của ông đã giúp cụm tập đoàn quân trung tâm trụ vững. “Một khi một đơn vị bắt đầu tháo chạy” ông lên lớp tổng tham mưu trưởng “mối ràng buộc theo luật lệ nhanh chóng bị mất nhanh như chớp”.

          Các chỉ huy phía Liên Xô không nghĩ trận tấn công của thống chế Manstein diễn ra sớm như vậy. Yeremenko lập tức lo sợ cho Tập đoàn quân 57, giữ góc tây nam của vòng vây. Vasilevsky đang ở sở chỉ huy Tập đoàn quân 51 cùng với Khrushchev trong ngày 12 tháng 12 và nhận được tin báo quân Đức tấn công qua điện tín. Ông cố gọi về Moscow cho Stalin, nhưng không thông máy được. Không để mất thời gian, ông liên lạc với tướng Rokossovsky, tư lệnh Phương diện quân sông Đon, và báo ông ta rằng ông muốn chuyển tập đoàn quân cận vệ số 2 của tướng Rodion Malinovsky sang dưới quyền của phương diện quân Stalingrad nhằm chặn đường tiến của Manstein. Rokossovsky phản ứng dữ dội,  Vasilevsky mất tinh thần khi gọi được về điện Kremlin trong tối đó, Stalin giận dữ trước điều mà ông nghĩ là một nỗ lực để ép ông vào sự đã rồi. Nên ông không chịu trả lời và Vasilevsky phải có một đêm đầy lo lắng.

       Trong khi đó, Yeremenko điều quân đoàn cơ giới hóa số 4 và quân đoàn xe tăng 13 chặn mũi tiến hấp tấp của đoàn thiết giáp Đức. Sư đoàn xe tăng số 6 tiến lên được chừng 30 dặm trong 24 giờ đầu tiên, vượt được sông Aksay. Sau nhiều cuộc bàn luận trong điện Kremlin mà kết thúc đến tận những giờ đầu ngày hôm sau, cùng với nhiều cú điện thoại với Vasilevsky, cuối cùng Stalin cũng đồng ý chuyển Tập đoàn quân Cận vệ 2 sau hai ngày trì hoãn.

        Trong ngày thứ hai của chiến dịch, sư đoàn xe tăng số 6 đã đến được làng Verkhne-Kumsky. Trời mưa làm tuyết tan. Trên vùng đất cao của ngôi làng này bắt đầu một trận mà tướng Raus mô tả là “một trận vật lộn khổng lồ”. “Trận đánh lòng vòng” dài ba ngày này trở nên hao tổn. Đó là một chiến thắng cục bộ - các sư đoàn của Hoth cùng với những chiếc tăng Tiger đã đến được tuyến Myshkova, một khi Sư đoàn xe tăng số 17 đến được và Richthofen hỗ trợ tối đa trên không – nhưng những sự kiện ở đây cho thấy không thích hợp cho tương lai của Tập đoàn quân VI. Họ được xác định ở đâu đó cách 125 dặm về phía tây bắc.

            Stalin nhanh chóng nhận ra rằng Zhukov và Vasilevsky đã đúng. Cách hữu hiệu nhất để đập tan nỗ lực giải cứu tập đoàn quân Paulus là chặn đà tiến công của Hoth tại tuyến Myshkova, đồng thời tung ra một đòn đánh quyết định ở đâu đó. Ông đồng ý với ý kiến là hiệu chỉnh chiến dịch Sao Thổ. Chỉ lệnh được chuẩn bị trong suốt ngày đầu tiên của trận đánh tại làng Verkhne – Kumsky, hướng dẫn cho Tư lệnh phương diện quân Voronezhe và Tây Nam chuẩn bị triển khai một phiên bản hiệu chỉnh, gọi là chiến dịch Sao Thổ nhỏ. Kế hoạch là đánh tan tập đoàn quân Italia số 8 tiến sâu vào hậu phương cụm tập đoàn quân sông Đôn chứ không tấn công vào Rostov.

         Những Tập đoàn quân của họ phải được chuẩn bị để tấn công trong thời hạn ba ngày. Yeremenko vẫn còn lo lắng. Với việc quân đoàn xe tăng của Hoth ở tuyến sông Myshkova, sư đoàn xe tăng số 6 chỉ còn cách vòng vây dưới 40 dặm, trong khi tập đoàn quân cận vệ 2, vì một cơn bão tuyết mới đến, không thể có đầy đủ sức mạnh ở vị trí phản công trước ngày 19 tháng 12. Ông lo các lực lượng xe tăng của Tập đoàn quân VI sẽ tiến hành phá vây ở góc tây nam của cái túi bất kỳ lúc nào, nhưng ông ta không biết rằng Hitler vẫn không cho phép, và rằng 70 chiếc xe tăng còn lại của Paulus chỉ còn đủ xăng để chạy chừng 12 dặm.

           Thống chế Von Manstein gửi thiếu tá Eisman, sỹ quan tình báo của ông, vào trong vòng vây bằng máy bay trong ngày 19 tháng 12. Nhiệm vụ của anh ta, như Manstein sau này nói, là chỉ dẫn cho Paulus và Schmidt chuẩn bị Tập đoàn quân VI  cho chiến dịch Sấm rền. Những dị bản, những cách giải thích khác nhau cũng cho thấy rằng cuộc gặp đó chẳng giải quyết được gì. Tuy vậy, rõ ràng là Manstein vẫn cố tránh chịu trách nhiệm về việc không tuân lệnh Hitler. Ông ta đã không cho Paulus một lệnh rõ ràng, và từ chối – không nghi ngờ gì, lấy lý do an toàn – bay vào trong vòng vây để thảo luận vấn đề trực tiếp với Paulus.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #62 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2015, 11:44:48 PM »

          Nhưng Manstein phải hiểu ngay từ đầu rằng Paulus, một người tuân thủ mệnh lệnh nghiêm ngặt, sẽ không bao giờ phá vây nếu không có một mệnh lệnh đúng nguyên tắc từ cấp trên. Nỗ lực của Manstein, theo như hồi ký của ông  chỉ là để bào chữa cho việc chịu trách nhiệm về số mệnh của Tập đoàn quân VI , đã quá cường điệu và cũng không công bằng với Paulus. Nó hóa ra chỉ là do lương tâm ông khó chịu và không ai bào chữa cho ông.

          Ngày 16 tháng 12, chỉ bốn ngày sau cuộc tấn công của Hoth, Tập đoàn quân cận vệ số 1, số 3 cùng Tập đoàn quân số 6 (Nga) từ sông Đon, tấn công xuống phía nam. Bị chậm do sương giá lạnh buốt, dày đặc và các đơn vị tăng mò mẫn trong các bãi mìn, chiến dịch của phía Liên Xô không có một khởi đầu tốt. Tuy vậy, trong vòng hai ngày, tập đoàn quân Italia số 8 sụp đổ sau vài trận kháng cự ác liệt. Không có lực lượng dự bị để phản công, vì lúc này sư đoàn xe tăng số 17 đã gia nhập vào chiến dịch của Hoth ở bờ đông sông Đon, nên xe tăng quân Nga chọc thẳng xuống hướng nam trên thảo nguyên tuyết phủ rộng mở. Đợt lạnh ghê gớm trong vùng bắt đầu từ ngày 16 tháng 12 chỉ làm chậm chút ít việc các lữ đoàn T-34 hoàng hành dữ dội ở hậu tuyến cụm tập đoàn quân sông Đon. Các trạm, ga xe lửa bị chiếm chỉ ngay sau khi các toa hàng chứa đầy trang thiết bị bốc cháy bởi các đơn vị hậu cần đốt trước khi họ trốn chạy.

           Mối đe dọa nghiêm trọng nhất với quân Đức là cuộc tiến quân dài 150 dặm của Thiếu tướng Vasily Mikhailovich Badanov, quân đoàn xe tăng số 24. Chiều ngày 23 tháng 12, quân đoàn đó tràn qua Skassirskaya, ngay phía bắc của Tatsinskaya, căn cứ chính của phi đoàn máy bay vận tải Junker 52 phục vụ Stalingrad. Tướng Feibig nhận lệnh trực tiếp từ đại bản doanh Quốc trưởng rằng không được bỏ phi trường cho đến khi nó nằm trong tầm đại bác. Dường như không ai trong số những người bên cạnh Hitler cân nhắc về việc có khả năng một đơn vị thiết giáp có thể đến cạnh khu vực và công kích.

           Fiebig và các sỹ quan của ông rất lo lắng. Có thể tái chiếm phi trường này, nhưng nếu số máy bay vận tải bị mất đi, cũng đồng nghĩa với Tập đoàn quân VI . Họ không có đơn vị mặt đất nào để bảo vệ cho “Tazi”, như cách của Luffwaffe gọi phi trường này. Tất cả những gì họ
có thể làm là chuyển bảy khẩu cao xạ để bảo vệ con đường, và chuẩn bị cho tất cả những phi cơ khả dụng cất cánh vào đầu giờ sáng. Việc nhiều đến nỗi không thể triển khai dễ dàng. “Quanh đường chạy là khung cảnh hỗn loạn” tham mưu trưởng của Richthofen, người có mặt ở đó ghi nhận “Với tiếng máy gầm, mọi người khó lắm để nghe được tiếng của nhau”. Và để cho mọi việc thêm phần tồi tệ, trời đầy sương mù dày đặc, mây thấp ở tầm 150 thước và tuyết rơi nhẹ.

          Lúc 5h20 phút sáng, phát đại bác đầu tiên nổ tới. Hàng đàn xe tăng Sô viết tràn tới, không đi trên đường. Nhiều phi công, vì tiếng ồn và sự náo nhiệt của phi trường, đầu tiên không hiểu việc gì xảy ra ngay cả khi hai chiếc Junker 52 bốc cháy. Chính Fiebig ra lệnh qua radio “Tất cả đi thôi, thẳng đến Novocherkassk!”. Cánh phi công không để tốn thời gian. “Chuyến bay từ Tatsinskaya” bắt đầu. Dù có những lộn xộn lúc đầu, nhưng thật đáng ấn tượng là có rất ít sự hoảng loạn. Những chiếc phi cơ cất cánh vững vàng, dù cho sự thương vong tăng lên. Với những chiếc T-34 Nga, đó giống như một bãi tập bắn. Vài chiếc bắn bừa bãi khi tiến đến trên lớp tuyết. Có chiếc thậm chí còn đâm vào một chiếc Junker ba động cơ đang chạy vào vị trí cất cánh. Vụ nổ trùm một quả cầu lửa lên cả hai. Rất nhiều phi cơ đâm vào nhau trên đường chạy hoặc bị hạ bởi pháo địch. Tầm nhìn kém đi từng phút, và những chiếc phi cơ còn lại phải né tránh xác những chiếc đang bốc cháy để thoát ra. Cuối cùng, lúc 6h15 phút sáng, cỗ máy của tướng Fiebig, một trong những chiếc cất cánh sau cùng, đã trên không trung. Cả thảy 108 chiếc Ju-52 ba động cơ và 16 chiếc máy bay huấn luyện Ju-86 được cứu thoát, nhưng có đến 72 chiếc bị mất chiếm 10% tổng trọng lượng cất cánh đoàn bay vận tải Luffwaffe.

           Với tướng Banadov, sau trận càng quét này, nhận ra đơn vị mình bị cắt rời trong 5 ngày, bị đánh tơi tả và cạn kiệt đạn dược. Stalin đã rộng rãi trong nhận định của mình. Đơn vị đó được nhận danh hiệu Quân đoàn xe tăng Cận vệ số 2, và cá nhân Badanov là người đầu tiên được tặng loại huân chương mới, huân chương Suvorov. Bộ máy Tuyên truyền Hồng quân công bố rằng xe tăng của ông tiêu diệt được tổng cộng 431 chiếc máy bay, nhưng rõ ràng đây là sự phóng đại quá mức. Tuy nhiên, kết quả quan trọng nhất, là Tatsinskaya không bao giờ còn được dùng cho các nhiệm vụ vận tải nữa. Không quân Đức phải chuyển đi xa hơn đến phi trường thay thế.

          Kết quả của nhiệm vụ giải cứu của tướng Hoth đã được định đoạt. Mối đe dọa bên sườn trái cụm tập đoàn quân sông Đôn và khả năng bị chọc thủng đến Rostov (được xác minh sau cuộc thẩm vấn tham mưu trưởng Tập đoàn quân cận vệ số 3, người bị bắt trong ngày 20 tháng 12), buộc Manstein phải xem xét lại toàn bộ vị trí của mình. Các sư đoàn xe tăng ở tuyến sông Myshkova cũng nhận một trận pháo kích nặng nề, riêng sư đoàn xe tăng 6 đã bị mất 1.100 người chỉ trong một ngày. Đêm 23 tháng 12, quân đoàn xe tăng của Hoth được lệnh rút lui, mà không giải thích gì thêm. “Ngay cả người lính trẻ nhất cũng hiểu rõ” tướng Raus viết “rằng đây là dấu hiệu cho sự thất bại ở Stalingrad. Dù không ai biết được nguyên nhân đằng sau mệnh lệnh, nhưng cả sỹ quan và binh lính đều nghi hoặc rằng có điều gì đó tệ hại đã phải diễn ra”.

          Cũng trong đêm đó, tướng Paulus và thống chế Manstein thảo luận tình huống bằng máy điện báo. Manstein cảnh báo rằng Tập đoàn quân xe tăng IV gặp kháng cự mạnh mẽ và các đơn vị Italia ở cánh bắc sụp đổ. Paulus hỏi khi nào ông ta có được mệnh lệnh cho Tập đoàn quân VI phá vây. Manstein trả lời rằng ông chưa nhận được sự chấp thuận từ Bộ tổng tư lệnh tối cao. Ông không nói chi tiết. Nếu Paulus có đủ thông tin để cập nhật vào bản đồ hành quân của mình, ông có thể thấy được rằng Tập đoàn quân VI ở quá xa để được giúp.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2015, 11:56:57 AM »

         Trong ngày 16 tháng 12, gió mạnh, buốt bắt đầu thổi từ hướng đông bắc. Mọi thứ phủ đầy băng tuyết: dây điện thoại, cây cối, những mảnh vụn của chiến tranh. Mặt đất đông cứng tới nỗi mỗi bước chân bắt đầu nghe rung vang như bước đi trên kim loại. Đêm, theo sau mặt
trời đỏ chói lặn xuống, vùng đất trắng xóa chuyển sang màu xanh bắc cực. Quân Nga bảo vệ Stalingrad đón cái lạnh quen thuộc và lành mạnh. “Hôm qua và hôm nay mùa đông đã bắt đầu ở đây rồi” một người lính viết cho vợ “Ôi băng giá tốt lành. Anh sống ổn, nhưng không nhận được thư nào từ em”.

            Không ai hạnh phúc bằng những người lính thuộc Tập đoàn quân 62 của Chuikov trong thành Stalingrad, sau năm tuần nằm nghe tiếng nghiến vào nhau của những tảng băng trôi trên dòng sông Volga không thể qua lại bằng tàu, và tồn tại bằng lượng dự trữ khẩn cấp 12 tấn chocolate cùng một ít hàng hậu cần thả xuống bởi những chiếc máy bay lưỡng cư U-2. Cuối cùng dòng sông cũng đã đóng băng cứng trong đêm 16 tháng 12, khi những tảng băng va vào nhau và dính cứng lại. Một tuyến đường bộ đầu tiên lát ván bắc trên băng. Và sau đó là một tuyến đường ô tô làm bằng cành cây rồi đổ nước lên cho đóng băng và phủ kín hết bờ mặt. Trong bảy tuần kế tiếp, xe bánh xích, 18.000 xe tải cùng 17.000 xe cộ các loại khác đã băng qua. Bất kỳ thương binh nào bây giờ cũng có thể được đưa thẳng qua mặt băng đến bệnh viện dã chiến. Sau đó đại bác cũng được đẩy qua bờ tây, bao gồm cả một khẩu lựu pháo 122mm vốn cần để khai thông sự bế tắc ở nhà máy Tháng Mười đỏ. Hạ nòng ở góc thấp nhất, nó được dùng để bắn thẳng, phá vỡ tòa nhà chính, nơi quân Đức dùng thành một pháo đài.

          May mắn nhất với toàn thể Tập đoàn quân 62, là việc thiếu đạn đại bác của phía Đức, điều này đồng nghĩa với việc những trận pháo kích liên miên vào các điểm vượt sông Volga không còn nữa. Nơi bờ sông giờ thường diễn ra cảnh thanh bình. Trông giống như một khu định cư cạnh mỏ mới với những căn lều dã chiến, những chỗ trú che bằng vải dầu trên những chiếc hố bên bờ sông. Ở đó, người ta xẻ gỗ, chặt củi, rồi một người bưu tá trung đoàn đi qua trong ánh mặt trời lạnh giá đến sở chỉ huy cùng túi thư bằng da, mong một tách trà nóng từ chiếc ấm samovar bằng đồng. Những người khác thì đã vác theo những thùng ủ ấm chứa thức ăn nóng cho binh sỹ ở các vị trí tiền tiêu.  Lính tráng giờ  có thể đi về phía sau theo từng tốp, trên lớp băng để để nhà tắm hơi đặt ở bờ đông dòng sông, rồi tối hôm sau trở lại sạch sẽ, sạch rận.

           Ngày 19 tháng 12, tướng Chuikov vượt sang bờ đông dòng Volga lần đầu tiên kể từ ngày ông chuyển Sở chỉ huy trong tháng Mười. Ông đi bộ trên băng, và khi đến bên kia, ông hình như quay lại nhìn về đống đổ nát mà tập đoàn quân của ông đang giữ. Tướng Chuikov đến dự buổi tiệc tổ chức bởi tư lệnh NKVD, thiếu tướng Rogatin, để kỷ niệm lần thứ 24 ngày thành lập đơn vị đặc biệt Cheka. Trên đường về, khi đó Chuikov rất say, ông đã té xuống một hố trên mặt băng và phải được vớt lên từ dòng nước lạnh buốt. Vị Tư lệnh tập đoàn quân 62 xuýt gặp phải một kết cục tệ hại.

         Trong khi người Nga vui mừng với thời tiết thấp, thì các bác sỹ trong tập đoàn quân của Paulus lại khiếp sợ điều đó, vì vài lý do. Khả năng hồi phục của bệnh nhân, cả thương binh hay bệnh binh, đều sụt giảm. Cái rét ở nơi trống trải nhanh chóng cho thấy sự chết chóc. Mặt đất đông cứng, nên khi đạn đại bác, rocket Katyusha hay đạn cối nổ, làm gia tăng số lượng đau bao tử. Và kể từ giữa tháng 12 thì “gia tăng đều đặn số lượng những ca bị bỏng tuyết nặng”. Bàn chân không chỉ bị sưng tím – trường hợp này thì chỉ cần điều trị bằng bôi thuốc mỡ, băng bó rồi quay lại hoạt động – mà còn bị đen và có thể hoại thư, thường thì cần phải cắt cụt ngay.

         Ngay từ đầu tuần thứ hai của tháng 12, các bác sỹ bắt đầu chú ý đến những ca kỳ lạ. Số lính đột tử “mà không bị thương hay có dấu hiệu bệnh lý nào” tăng nhanh. Khẩu phần ăn quả thật là có cắt giảm nhiều, nhưng theo các bác sỹ, vẫn còn quá sớm để có những ca chết đói. Một nhà nghiên cứu bệnh học được giao phó tìm hiểu viết “Những trường hợp nghi ngờ gồm dầm dãi mưa gió, “kiệt sức” [không ai trong số gần 600 bác sỹ trong vòng vây dám nói đến việc thiếu đói] và trên cả là một chứng bệnh nào đó chưa được xác định cho đến nay”.

           Ngày 15 tháng 12, tiến sỹ Girgensohn, một nhà bệnh lý học của Tập đoàn quân VI đang làm việc tại một bệnh viện cạnh phi trường Tatsinskaya, được lệnh bay vào trong vòng vây trong ngày hôm sau. “Không may là chúng tôi không có chiếc dù nào dành cho ngài”, viên phi công bảo ông khi đến trình diện vào sáng ngày hôm sau, nhưng họ bị buộc phải quay lại. Cuối cùng, ngày 17 tháng 12 họ cũng vào được trong Kessel, viên phi công bảo với ông rằng họ đang trên không phận Pitomnik, và Girgensohn nhìn qua khung cửa sổ nhỏ, ông thấy “trên tấm chăn tuyết trắng một khung cảnh lổ chỗ hố đạn nâu”.

          Girgensohn tìm được tướng – bác sỹ Renoldi, trưởng ban quân y, trong một toa xe khách chôn ngầm dưới đất ở một góc phi trường. Tướng Renoldi vờ như như biết gì về nhiệm vụ của Girgensohn, bởi tiến sỹ Seggel, chuyên gia nội khoa ở trường đại học Leipzig, đã yêu cầu ông ta hiện diện, và Renoldi trong tình cảnh đó, nghi ngại sự việc bị phóng đại * (Sau đó tướng quân bác sỹ Renoldi quan tâm nhiều hơn. Trong toa xe của mình, ông gần như ớn lạnh khi mô tả sự suy sụp sức khỏe của binh sỹ trong vòng vây là một “thí nghiệm trên diện rộng về ảnh hưởng của sự thiếu đói”). Từ Pitomnik, Girgensohn được đưa đến bệnh viện dã chiến tại ga Gumrak, rất gần Sở chỉ huy của tướng Paulus. Hầm của ông là một boongke lát gỗ, đào vào trong vách một balka. Trang bị xem ra khá “sang trọng”, vì ít ra nó có một lò sưởi bằng sắt và hai giường đôi và, với sự ngạc nhiên của ông ta, khăn trải giường sạch sẽ. Đó là sự tương phản ghê gớm khi so với tiện nghi ngay cạnh bên dành cho thương binh, trong đa số căn lều không được sưởi ấm ở nhiệt độ âm 20.

          Girgensohn thảo luận sơ bộ với các sỹ quan quân y sư đoàn, rồi bắt đầu đi quanh trong vùng bị vây, làm các khám nghiệm tử thi trên xác các binh sỹ bị chết không rõ nguyên nhân. (Vì thiếu thốn gỗ ở vùng không cây cối này nên một ngã ba hay ngã tư trên con đường tuyết phủ được đánh dấu bằng một cái chân ngựa đã bị giết. Những ký hiệu chiến thuật hay bảng chỉ đường được gắn trên đỉnh của cái điểm đánh dấu ghê rợn đó). Các cuộc khám nghiệm tử thi được thực hiện ở những nơi bất tiện khác nhau: trong lều, trong hầm, nhà dân hay ngay cả trong toa xe hàng. Cái lạnh ghê gớm đã bảo quản tốt các thi thể, nhưng tất cả bị đông cứng. Việc làm rã đông rất khó vì thiếu thốn chất đốt cần thiết. Một người cán thương phải tốn cả đêm để đảo những tử thi đó quanh một chiếc lò nướng nhỏ bằng gang. Có trường hợp, anh ta ngủ quên và kết quả là có “thi thể một bên đông lạnh, còn một bên thì bị đốt cháy khô”.

           Cái lạnh ghê gớm đến nỗi thật khó và cũng rất đau để Girgensohn tháo găng tay cao su ra. Hằng đêm, ông cặm cụi ghi lại kết quả dưới ánh nến. Trong những điều kiện khó khăn như thế, bao gồm cả những trận không kích hay pháo kích của quân Sô viết, Girgensohn cũng đã xoay sở thực hiện được 50 cuộc khám nghiệm tử thi, tính đến cuối tháng. Chính xác là trong một nửa số mẫu thử, ông ta nhận thấy rõ ràng dấu hiệu của việc chết đói: tim và gan teo lại, hoàn toàn không thấy mô mỡ, cơ co rút.

         Trong nỗ lực để bù vào lượng bánh mỳ ít calorie và món “canh toàn quốc” (nguyên văn là Wasserzuppe) lêu bêu vài miếng thịt ngựa bé tí, cụm Tập đoàn quân sông Đon ném xuống những hộp thịt pate chứa nhiều chất béo, nhưng đó là một sản phẩm phản tác dụng. Khá thường xuyên, khi một trung sỹ đi tuần qua các vị trí gác, một người lính nói “Tôi ổn, giờ tôi có thứ để ăn” và ăn hết vài miếng pate thịt nhiều chất béo, rồi anh ta chết khi người trung sỹ đi tuần qua lần thứ hai. Chết đói, như Girgensohn quan sát thấy, là “không có kịch tính”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #64 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2015, 12:34:04 AM »

          Tỷ lệ các ca chết đói cao nhất là ở sư đoàn bộ binh 113. Và ở đó, rốt cuộc Girgensohn cũng tìm ra lời giải thích rõ ràng. Viên sỹ quan hậu cần của sư đoàn đã cắt giảm khẩu phần từ trước khi bị vây để tích trữ nhằm phòng ngừa cho việc thiếu hụt hậu cần trong suốt kỳ mưa thu. Kết quả là quân lính đã không được ăn uống, chăm lo đầu đủ từ giữa tháng Mười một. Và đến khi vài sư đoàn bị mất toàn bộ số hàng hậu cần trong lúc rút lui, sở chỉ huy Tập đoàn quân VI đã tập hợp toàn bộ những quân nhu còn lại từ khắp nơi rồi chia đều cho tất cả. Và như vậy là sự khôn ngoan của tay sỹ quan hậu cần đó lại đem về kết quả trái ngược tệ hại cho chính sư đoàn anh ta.

         Girgensohn, dù tốn mất bảy năm trong các trại lao động Nga sau ngày đầu hàng, không bao giờ hết quan tâm đến đề tài này. Ông luôn tranh luận mạnh mẽ trước bất kỳ  ý kiến nào về “chứng bệnh stress”, cả về điều kiện phát sinh hay giải thích cho đa số những cái chết không rõ ràng, dù qua những thí nghiệm gần đây cho thấy, loài chuột sẽ chết sau ba tuần không được ngủ, và như thế con người không được ngủ sẽ kiệt đi nhanh chóng.

          Phương thức tấn công đêm của người Nga và những hoạt động liên miên không nghỉ ngơi, rõ ràng là có góp phần vào việc kiệt sức như ông đã nhận thấy. Nhưng giải thích của ông, sau những năm đó, phức tạp hơn. Ông tin rằng sự kết hợp giữa tình trạng kiệt sức, stress và cái lạnh kinh khủng đã làm thay đổi sự trao đổi chất ở binh lính. Điều này có nghĩa là ngay cả khi họ nhận được một lượng, ví dụ như 500 calory một ngày, thì cơ thể họ cũng chỉ hấp thu được một phần nhỏ. Như vậy, có thể nói là chiến thuật của Liên Xô cùng với điều kiện thời tiết và việc thiếu thực phẩm, đã sinh hay, hay ít nhất là góp phần vào việc đẩy nhanh tiến trình chết đói.

          Việc thiếu ăn nghiêm trọng cũng làm giảm khả năng qua khỏi của bệnh binh trước các loại bệnh truyền nhiềm như viêm gan, lỵ trong giai đoạn đầu bị vây, và những bệnh nghiêm trọng hơn trong giai đoạn cuối như thương hàn hay sốt Rickettsia. Trên thảo nguyên, không có nước để rửa ráy đừng nói chi tới chuyện quần áo, chỉ đơn giản là vì không có chất đốt để làm tan băng tuyết. “Có chút xíu chuyện mới ở đây” một trung úy pháo thủ tăng thuộc sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 29 viết “Đứng đầu danh sách là việc mỗi ngày chúng tớ bị bọn rận càn quét nhiều hơn. Chúng như bọn Nga vậy. Giết một tên, thì có ngay mười tên khác xuất hiện ngay tại chỗ đó”. Rận là vật mang mầm bệnh giết nhiều người ở Stalingrad.

          Tuy vậy, mối bận tâm trước mắt của đội ngũ quân y vẫn là tình trạng yếu ớt do thiếu lương thực. “Dần dần, những chiến binh dũng cảm của ta bắt đầu trở nên hom hem”, một trợ lý bác sỹ viết. Rồi ông ta tiếp tục mô tả về một ca cắt cụt đến đùi, ông đã thực hiện dưới ánh đèn pin trong một căn hầm mà không có thuốc tê “Mọi người lãnh đạm với mọi thứ và chỉ nghĩ đến thức ăn”.

          Ước vọng của quân Đức là sự pha trộn giữa lòng căm ghét quân thù Bolshevik và sự trả thù trong tương lai. Trong tình trạng gọi là “cơn sốt Kessel”, họ mơ về một quân đoàn xe tăng SS chọc thủng vòng quân của các tập đoàn quân Nga, cứu họ, rồi đảo ngược tình thế cho một chiến thắng vĩ đại, bất ngờ. Họ có khuynh hướng là những người vẫn còn tin, nghe vào những bài diễn thuyết của Goebbel. Đa số giữ tinh thần bằng cách hát vang bài ca của Tập đoàn quân VI, Bài ca sông Volga (Das Wolgalied), nhạc của Franz Lehar: “Một người lính đứng đó, bên bờ Volga, nhìn về phía xa, nơi Tổ quốc anh”.

             Ban tuyên truyền của phương diện quân sông Đon dùng cán bộ hỗ trợ là những người Cộng sản Đức, quyết định khai thác vào lòng yêu ca nhạc của lính Đức. Họ phát qua hệ thống loa một bài ca yêu thích cũ, mà trong hoàn cảnh hiện thời nó chứa một đoạn tuýt tàn nhẫn: “Ở quê nhà, ở quê nhà, đang chờ ngày sum họp”. Những người cộng sản Đức dưới sự giám sát của NKVD bao gồm Walter Ulbricht (sau này là chủ tịch nước Đông Đức), nhà thơ Erich Weinert, cây bút Willi Bredel với một nhóm tù nhân Đức – bốn sĩ quan và một lính – được tuyển dụng vì chống phát xít. Họ dạy những “anh mõ làng”, đây là những lính Hồng quân được chọn để bò lên vùng chết người trước tuyến quân Đức và hét to những câu khẩu hiệu, những đoạn tin tức qua loa. Vài người biết chút tiếng Đức, và đa số hi sinh.

            Hoạt động chính của các đội tuyên truyền là chuẩn bị các chương trình dài tầm 20-30 phút, ghi âm với nhạc, thơ, bài hát và tin tuyên truyền (đặc biệt là tin về việc chọc thủng mặt trận quân Ý). Sau đó các chương trình này được chạy trên các máy hát băng và phát ra các loa có công suất lớn được gắn trên các xe tải hoặc thỉnh thoảng được đầy lên phía trước bằng xe trượt còn dây thì kéo dài ra phía sau. Hầu hết các chương trình kiểu này bị hỏa lực cối Đức nện ngay tức khắc, bởi các sỹ quan sợ quân của họ có thể sẽ nghe. Nhưng trong suốt tháng Mười hai, phản ứng như thế thưa dần, yếu dần vì thiếu đạn dược.

          Nhiều mánh khóe âm thanh khác nhau được áp dụng ví dụ như “tiếng tích tắc đơn điệu của đồng hồ” kèm theo đó là tuyên bố rằng cứ mỗi bảy giây có một người lính bị giết trên mặt trận phía Đông. Hoặc “tiếng răng rắc của âm thanh tuyên truyền” rồi ngâm nga: “Stalingrad, nấm mồ chung của quân đội Hitler” và điệu tăng gô chết chóc lại vang lên trên thảo nguyên trống trải giá buốt. Và như một nốt nhạc cộng thêm, thỉnh thoảng là tiếng hú đứng tim của rocket Katyusha tiếp theo sau từ một dàn phóng “đàn dương cầm Stalin”.

         Truyền đơn của phía Nga hoàn thiện khá nhiều, giờ được viết bằng tiếng Đức. Tù binh được thẩm vấn tại Ban 7 xác nhận rằng “ảnh hưởng nhất là những tờ viết về gia đình, vợ và con cái”. “Binh lính hăm hở đọc truyền đơn Nga dù rằng họ không tin” một tù binh Đức thừa nhận. Vài người còn “khóc khi nhìn thấy tờ truyền đơn in hình xác một lính Đức và đứa trẻ ngồi khóc bên cạnh. Mặt bên kia là vài vần thơ đơn giản của nhà văn Erich Weinert”. Những tù binh không biết rằng Weinert, người viết bài thơ “Hãy nghĩ đến con!” đang ở rất gần, ngay trong sở chỉ huy phương diện quân Sông Đôn.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #65 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2015, 04:05:45 PM »

         Có lẽ phần ảnh hưởng nhất của chiến dịch tuyên truyền là thuyết phục quân Đức rằng họ sẽ không bị bắn nếu bị bắt. Nhiều sỹ quan tin vào luận cứ rằng không thể đầu hàng vì quân Nga sẽ giết họ ngay.  Có một tờ truyền đơn kết thúc bằng một tuyên bố của Stalin bắt đầu thuyết phục cả những sỹ quan cấp thấp rằng chính sách Liên Xô đã thay đổi: “Nếu lính hoặc sỹ quan Đức bỏ ngũ, Hồng quân phải bắt giữ làm tù binh và đảm bảo cho mạng sống của họ” (Mệnh lệnh số 55 Dân ủy Quốc Phòng, J. Stalin).

         Việc một đoàn quân lớn của Đức bị hợp vây lần đầu tiên ở cách xa Tổ quốc, được lệnh phải trụ lại và sau cùng bị bỏ rơi trước định mệnh, dĩ nhiên là tạo nên những tranh luận đầy cảm xúc sau nhiều năm. Nhiều người Đức có dự phần hoặc các sử gia đã đổ lỗi cho tướng Paulus không chịu không tuân lệnh và phá vây. Nhưng nếu một ai ở vào vị trí của Paulus, người bị tước bỏ những thông tin sống còn, (sẽ phải hiểu) nguyên nhân dẫn đến vụ việc đó chính là người chỉ huy trực tiếp của ông, thống chế Von Manstein.

        “Ai có thể phục vụ được hai chủ?” tướng Strecker ghi chú khi Hitler loại bỏ chiến dịch Thunderclap, vốn dự tính triển khai tiếp theo sau chiến dịch Bão Mùa đông. Nhưng quân đội Đức chỉ có duy nhất một chủ. Ghi nhận từ năm 1933 cho thấy sự nô lệ của đa số sỹ quan cao cấp, bất lực cả về chính trị lẫn danh dự. Trên thực tế, thảm họa và sự nhục nhã tại Stalingrad là cái giá của quân đội phải trả cho sự ngạo mạn xấc xược từ những đặc quyền và thanh thế dưới cái ô của Chủ nghĩa Quốc Xã.  Không có sự lựa chọn chủ, vì chỉ có vài người tham gia vào nhóm của Henning von Tresckow và Stauffenberg.

           Nhiều thời gian đã tiêu tốn vào việc tranh luận rằng một cuộc phá vây có khả thi hay không trong nửa sau tháng Mười hai, dù ngay cả các tư lệnh thiết giáp cũng hiểu rằng “cơ hội thành công của cuộc phá vây giảm bớt sau mỗi tuần”. Cánh bộ binh thì ít ảo tưởng hơn. “Bọn anh, những người sống sót” một hạ sỹ viết về nhà “khó có thể đi nổi vì cái đói và yếu sức”. Bác sỹ Alois Beck, khá đúng, khi tranh luận rằng “cuộc phá vây mà thành công” thì đó là một “huyền thoại”. Quân Nga đã bắn hạ “nhiều lính Đức nửa-đóng-băng như bắn thỏ”, bởi những người đó quá yếu không thể lội qua nổi một đụn tuyết, băng giá phủ đầy trên mặt, và mang theo súng đạn. “Mỗi bước đi đều kiệt lực” quan sát của một sỹ quan thuộc sở chỉ huy Tập đoàn quân VI “Như là trận Berezina”.

          Cuộc tranh luận “phòng thủ hay phá vây” do vậy chỉ hoàn toàn mang tính học thuật so với thực tế. Nói tóm lại là người ta nghi ngờ con người thông minh kinh khủng Manstein đã nhận ra điều này từ lúc đó. Ông đã tạo một màn kịch vĩ đại bằng cách gửi thiếu tá Eismann, sỹ quan quân báo của mình vào trong vòng vây vào ngày 19 tháng Mười hai để chuẩn bị cho Tập đoàn quân VI triển khai chiến dịch Thunder Clap. Nhưng hẳn nhiên Manstein đã thừa biết Hitler, vốn đã tái xác nhận quyết định không rời dòng Volga, sẽ không bao giờ đổi ý.

          Trong bất kỳ trường hợp nào, Manstein cũng phải nhận thức rõ rằng nỗ lực giải cứu đã tiêu tan. Các sư đoàn xe tăng của tướng Hoth đang phải chiến đấu để trụ lại tuyến Myshkova với thương vong nặng nề, ngay cả trước khi khối lượng quân to lớn của tập đoàn quân cận vệ số 2 (Nga) của tướng Malinovsky được triển khai. Và Manstein, luôn được cập nhật thông tin đầy đủ về tình trạng và hình thái quân đội trong vòng vây, hiểu rằng quân của Paulus không còn đi nổi, đừng nói chi tới chiến đấu trên chặng đường dài 40 đến 60 dặm xuyên qua bão tuyết và giá rét. Tập đoàn quân VI, với ít hơn 70 chiếc tăng thiếu hậu cần, không có lấy một cơ hội để chọc thủng tuyến tập đoàn quân 57 (Nga). Và quan trọng nhất, là Manstein biết, chiến dịch Sao Thổ nhỏ, với ba Tập đoàn quân Sô viết đã thọc sâu vào hậu phương ông ta, làm thay đổi tình huống.

          Rất đơn giản, Manstein cảm thấy rằng, dưới ngọn đèn lịch sử và quân đội Đức, ông ta phải được nhìn nhận là đã cố gắng làm mọi thứ,
ngay cả khi ông ta tin rằng, và rất đúng, là cơ hội duy nhất Tập đoàn quân VI có để tự cứu mình đã qua từ gần một tháng trước đó. Lương tâm hình như bứt rứt của ông sau sự kiện này phải được gắn liền với một sự thật rằng, với việc Hitler từ chối rút khỏi vùng Caucasus, ông cần Tập đoàn quân VI trói chân bảy Tập đoàn quân Liên Xô vây quanh nó. Nếu Paulus nỗ lực phá vây với chút ít quân sống sót, thì trong điều kiện đáng thương đó, thì họ chẳng thể dùng được gì trong giai đoạn khủng hoảng.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #66 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2015, 12:04:45 AM »

                                                                                      XIX


                                                                             GIÁNG SINH THEO CÁCH ĐỨC
 

           Tranh luận về việc phá vây trong nửa sau tháng Mười hai bỏ qua một nhân tố tâm lý quan trọng. Giáng sinh đang đến. Không đơn vị nào trong quân đội Đế chế bận tâm đến chủ đề này hơn Tập đoàn quân VI đang bị vây. Những nỗ lực to lớn dành cho ngày lễ ở các boongke dưới thảo nguyên chẳng cho thấy có liên quan đến việc nôn nóng phá vây. Sự lơ mơ do thiếu dinh dưỡng cộng với trạng thái siêu thoát mơ ngủ rõ ràng là góp một phần, và rõ ràng phần còn lại là do trạng thái tâm lý “Pháo đài” với sự giúp đỡ của Hitler đã nuôi dưỡng nó. Nhưng không điều nào trong số đó giải thích cho sự tập trung đầy cảm xúc và ám ảnh cho triển vọng tổ chức lễ Giáng Sinh cho những người bị vây, xa Tổ quốc.

       Các công tác chuẩn bị đã được tiến hành từ ngay trước khi những sư đoàn xe tăng của Hoth tiến lên phía bắc đến sông Myshkova không bao giờ có vẻ chùng lại ngay cả khi binh sỹ phấn khích bởi những tiếng đại bác đang tiến tới. Ngay từ đầu tháng, quân lính đã bắt đầu tích trữ những phần thực phẩm ít ỏi, không phải để dành cho chuyến phá vây băng ra trên tuyết mà để cho bữa tiệc Giáng sinh hoặc làm quà tặng. Một đơn vị thuộc sư đoàn bộ binh 297 còn giết thịt một con ngựa thồ từ sớm để chế “xúc xích ngựa” làm quà tặng Giáng sinh. Những vòng cây mùa vọng được làm từ cỏ thảo nguyên màu hung nâu thay vì bằng cây thường xuân, và những cây Giáng sinh bé tẹo được đẽo ra từ gỗ trong những cố gắng vượt bậc để làm “giống như ở nhà”.

          Tính đa cảm không chỉ giới hạn ở chỗ lính tráng. Tướng Edler Von Daniels đã trang hoàng cho căn hầm mới đào của ông một cây thông Noel và phía dưới là một chiếc nôi với tấm hình chụp em bé “KesselBaby” của ông vốn vừa mới sinh ngay sau khi họ bị vây. Ông viết cho người vợ trẻ, mô tả kế hoạch mừng đêm Giáng sinh “theo cách Đức, dù đang ở xa tít trong nước Nga”. Đơn vị rõ ràng trở thành một dạng gia đình. “Mỗi người cố tìm cách mang lại chút ít niềm vui cho người khác”, ông viết sau khi đến thăm hầm của quân mình ”Điều này rõ ràng là nâng tầm trải nghiệm của tình chiến hữu thực thụ ở chiến trường”. Một băng rôn mừng lễ ghi rằng rằng “Tình chiến hữu bằng máu và thép”, tuy nó phù hợp với với tình cảnh nhưng lại thiếu thông điệp của Giáng sinh.

          Một người không quên thông điệp đó, chính là Kurt Reuber, bác sỹ thuộc sư đoàn xe tăng 16. Nhân vật Reuber ba-mươi-sáu tuổi này, một nhà thần học và là bạn của Albert Schweitzer, cũng là một tay nghệ sỹ nghiệp dư. Ông đã biến căn hầm của mình trên thảo nguyên ở góc tây bắc Stalingrad thành một studio và tiến hành vẽ trên mặt sau một tấm bản đồ thu được của quân Nga – thứ giấy lớn nhất được tìm thấy. Tác phẩm này, hiện được trưng bày tại nhà thờ Kaiser Wilhelm tại Berlin, “Pháo đài Madonna”, ôm ấm, che chở như mẹ và con, cùng với lời dạy của thánh John Phúc âm: “Ánh sáng, cuộc sống, tình yêu”.

          Khi đã vẽ xong, Reuber ghim nó lên vách hầm. Mọi người bước vào đều dừng lại và nhìn. Nhiều người đã khóc. Reuber ngượng nghịu chút ít – không nghệ sỹ nào có thể khiêm tốn hơn về năng khiếu của mình – căn hầm của ông trở thành một thứ điện thờ.

         Không có mấy nghi ngờ về sự hào phóng chân thành và tự phát trong kỳ Giáng sinh ấy. Một thiếu úy đã cho đi những điếu thuốc, giấy viết thư, mẩu bánh mì sau chót của mình cho binh sỹ. “Giờ con chẳng còn gì” anh ta viết về nhà “nhưng đây thật là một Giáng sinh đẹp nhất của con và con sẽ không bao giờ quên”. Cùng với việc biếu khẩu phần thuốc lá, họ còn biếu nhau cả bánh mì, mà họ rất cần. Những người siêng năng khác còn làm giá để đồ cho nhau.

          Đêm Giáng sinh, Reuber người nghệ sỹ dương cầm của tiểu đoàn còn tặng chai rượu cuối cùng của mình cho những binh lính trong bệnh xá, nhưng ngay khi vừa rót đây các ca, bốn quả bom nổ đùng bên ngoài. Mọi người quăng mình xuống sàn, và làm đổ tất cả rượu. Viên sỹ quan quân y vơ vội chiếc túi cứu thương và chạy ra khỏi hầm để xác định thương vong – một chết, ba bị thương. Người tử nạn còn vừa đang hát giai điệu Giáng sinh “O du fronhliche”. Tai nạn này, không bất ngờ, nhưng cũng làm kết thúc cuộc lễ lạt. Và cả sư đoàn xe tăng 16, sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 60 bị tấn công mạnh ngay trong đầu giờ sáng Giáng sinh.

        Bài ca truyền thống, ưu thích trong đêm đó là “Stille nacht, heilige nacht” (Silent night, holy night) được binh lính hát với giọng khê nồng trong hầm dưới ánh sáng của những ngọn nến được dành dụm. Nhiều người đã cố kìm tiếng nức nở khi nghĩ về gia đình ở quê. Tướng Strecker rõ ràng cũng mủi lòng khi ông đi thăm các vị trí tiền tiêu. “Đó là một “Đêm yên bình – Silent nightgiữa sự hỗn độn của chiến tranh.. Giáng sinh đã cho thấy tình chiến hữu thật thụ của người lính”. Chuyến viếng thăm của các sỹ quan cao cấp cũng được cảm kích bởi những lợi ích đi kèm. Một NCO trong một sư đoàn xe tăng ghi nhận “tư lệnh sư đoàn tặng chúng tôi một tợp rượu từ chai của ông và một thanh sô cô la”.

          Ở những vị trí không bị tấn công, binh sỹ tập hợp vào một căn hầm có máy thu thanh để nghe “Chương trình Giáng sinh của Đài phát thanh Đại Đức”. Và ngạc nhiên thay, họ nghe thấy thông báo “Đây là Stalingrad” và tiếp theo sau là một Dàn đồng ca bài “Stille Nacht, heilige nacht”, được cho là từ mặt trận sông Volga. Vài người chấp nhận mánh bịp này như là một nhu cầu tình thế, nhưng những người khác giận dữ thật sự. Họ cảm thấy gia đình mình và cả nhân dân Đức bị chơi khăm. Goebbel cũng đã tuyên bố rằng đây phải là một “Giáng sinh Đức”, một sự xác định nhằm truyền đạt ý niệm về trách nhiệm và sự khổ hạnh, và có lẽ cũng để dọn đường cho cả nước về tin tức của tấn bi kịch Stalingrad.

          Lúc bảy giờ sáng ngày Giáng sinh, nhật ký chiến tranh của Tập đoàn quân VI ghi: “Không có chuyến bay tiếp vận nào trong bốn mươi tám giờ qua [hơi cường điệu]. Nhiên liệu và quân nhu gần cạn”. Cũng trong ngày đó, tướng Paulus gửi một thông điệp cảnh báo đến cụm tập đoàn quân sông Đôn để chuyến đến tướng Zeitzler “Nếu chúng tôi không nhận được khối lượng hậu cần nhiều hơn trong vài ngày tới, chúng ta phải chấp nhận mức thương vong cao do kiệt sức”.

         Dù họ biết rằng cơn bão tuyết của ngày hôm trước làm cản trở các chuyến bay, nhưng họ không được thông báo về việc xe tăng của tướng Badanov đã quần nát phi trường Tatsinskaya vào sáng hôm qua. Sở chỉ huy của Manstein thậm chí còn không chuyển tin tức về cuộc phán công với 4 Tập đoàn quân Liên Xô vào các sư đoàn xe tăng của Hoth ở khu vực sông Myshkova đã được triển khai. Rồi khi 108 tấn hàng hậu cần sau cùng cũng đến trong ngày 26 tháng 12, sở chỉ huy tập đoàn quân Sáu nhận thấy họ có 10 tấn bánh kẹo cho Giáng sinh, nhưng không có tý nhiên liệu nào.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #67 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2015, 07:12:09 PM »

          Mọi người, nếu có cơ hội, đều ngồi viết thư Giáng sinh về nhà, trong đó họ bày tỏ niềm mong muốn. “Trong tim mình, bọn anh vẫn giữ hi vọng” một bác sỹ của sư đoàn bộ binh 44 viết “rằng mọi thứ sẽ thay đổi”. Anh ta nói rất nhiều, nhưng vị Tư lệnh tập đoàn quân VI, vốn nhiều thông tin hơn, không nằm trong số họ. “Dĩ nhiên là Giáng sinh không vui mấy” tướng Paulus viết về cho vợ trong vài ngày sau. “Trong thời điểm nay, nên tránh hội hè thì tốt hơn… Anh tin, mọi người sẽ không mong chờ quá nhiều vào sự may mắn” Không ngạc nhiên khi thấy sự tương phản giữa những lá thư gửi về nhà của lính Đức với lính Nga trong giai đoạn Giáng sinh hơn bình thường. Trong khi những lá thư lính Đức mang đầy đa cảm và khát khao về gia đình, về mái nhà, thì những lá thư Nga rõ ràng cho thấy cái logic không lay chuyển rằng Tổ quốc vẫn chiếm vị trí ưu tiên hơn. “Em yêu!” một người lính viết cho vợ trong đêm Giáng sinh “Bọn anh đang buộc lũ rắn độc về lại hang ổ của chúng. Cuộc tiến quân thành công của quân ta sẽ mang ngày gặp lại của chúng ta gần thêm”. “Chào Mariya”, một cậu lính tên Kolya viết “Tớ đã chiến đấu ở đây được ba tháng rồi để bảo vệ [bị kiểm duyệt xóa] xinh đẹp của chúng ta. Bọn tớ đang gây áp lực mạnh lên quân địch. Giờ chúng tớ đang vây bọn Đức. Mỗi tuần có tới cả ngàn tên bị bắt và vài ngàn tên bị giết tại trận. Giờ chỉ còn lại bọn lính SS ngoan cố thôi. Bọn chúng củng cố hầm hố và bắn ra từ đó. Giờ tớ phải đi thổi tung một cái như vậy đây. Tạm biệt cậu, Kolya”.

          Nhiệt độ trong ngày Giáng sinh rớt xuống còn âm 25 độ. Nước trong các hố đạn, dù sâu tới đâu, cũng bị đông đặc. Những trận mưa tuyết bất chợt phe phủ bớt phần lớn tình trạng bẩn thỉu ở các khe núi. Các cha tuyên úy tập hợp mọi người theo từng chi phái hoặc tập hợp chung trên lớp tuyết trong tiếng vỗ, tiếng xé của vải bạt, vải dầu che lều trong cơn gió, thành những vòng bán nguyệt quanh một bàn thờ tạm. Trong nhiều trường hợp, sự an ủi tôn giáo và biện hộ ý thức hệ trở nên lẫn lộn, như khi những người Công giáo Đức bị tương phản với người Nga vô thần.

          Ngay cả trong Kessel, Giáng sinh cũng không hoàn toàn là một dịp của thiện chí. Bác sỹ Renoldi, vị tướng quân y của Tập đoàn quân VI, đã cấm không cho di tản bằng máy bay với những ca bỏng tuyết, vì những thương tích đó có thể là tự thương để trốn chiến đấu. Tệ hơn cả, là việc thiếu thức ăn, một phần ngũ cốc mục nát lấy từ tháp lương thực Stalingrad được dùng cho 3.500 tù binh chiến tranh Nga ở trại Voroponovo và Gumrak, bởi họ không còn tưởng tượng được ra chút thực phẩm nào nữa. Sự tàn bạo phần nào mang tính quan liêu này đã đưa đến mức tử vong hai mươi ca một ngày trong dịp Giáng sinh, và sau đó đột ngột tăng nhanh chóng. Tay quân nhu chịu trách nhiệm nuôi họ tuyên bố rằng bệnh sốt Rickettsia là nguyên nhân, nhưng khi một sỹ quan thuộc Sở chỉ huy Tập đoàn quân VI hỏi có ai chết vì thiếu đói không thì hắn lảng tránh. “Sau một khoảng khắc ngẫm nghĩ, hắn chối biến” viên sỹ quan đó viết “Nhưng tôi biết hắn nói gì. Ngay trong quân ta cũng bắt đầu thấy điều tương tự”. Nhưng cả việc liên hệ giữa định mệnh của họ với lính Đức cũng là một sự lảng tránh. Bởi những tù nhân đó không có sự lựa chọn – họ không thể đầu hàng lần nữa. Và khi những tù nhân cá biệt bắt đầu phải ăn cả thịt người thì cũng chẳng có điều gì được làm để cải thiện điều kiện sống của họ bởi vì điều đó có nghĩa là “lấy thực phẩm của lính Đức”.

          Đêm Giáng sinh là một “đêm sao tuyệt đẹp” và nhiệt độ xuống thấp hơn nữa. Nhưng, cuộc chiến vẫn tiếp tục diễn ra trong sáng hôm sau ở địa đoạn phía đông bắc vòng vây, nơi được sư đoàn xe tăng 16 và sư đoàn bộ binh mô tô hóa số 60 phòng thủ. “Thế là một tá trong số chúng tôi” vị cha tuyên úy cuối cùng của sư đoàn báo cáo “được đưa ra phản công trong gió tuyết và cái lạnh âm 35 độ”. Hai sư đoàn đó, dù trong điều kiện tệ hại và thiếu đạn dược, cũng đã cố diệt được chừng 70 chiếc xe tăng.

          Cũng trong sáng ngày 26 tháng Mười hai, tướng Paulus gửi điện báo cho thống chế Manstein, bắt đầu bằng: “Thương vong, giá lạnh và thiếu hậu cần đã làm giảm sức chiến đấu của các sư đoàn rất nhiều”. Ông cảnh báo rằng nếu quân Nga đưa các lực lượng đang chiến đấu với quân của tướng Hoth về, tái bố trí để chống lại Tập đoàn quân VI “thì không thể đứng vững trước chúng lâu dài”.

          Thế rồi một cơ hội không mong đợi lại xuất hiện. Tướng Hube, tư lệnh quân đoàn xe tăng XIV, nhận được lệnh bay khỏi vòng vây trong ngày 28 tháng 12 để đến sở chỉ huy của thống chế Manstein tại Novo-cherkassk. Rồi một chiếc phi cơ đưa ông thẳng về Đông Phổ để nhận Thanh gươm Hiệp sỹ chữ thập với Cành sồi từ chính tay quốc trưởng. Tướng Paulus bảo tướng Schmidt chuẩn bị cho ông ta “tất cả những tài liệu cần thiết” từ chuyện thiếu xăng dầu cho tới dụng cụ y tế. Niềm hi vọng của các tướng lĩnh, sỹ quan tăng nhanh với chuyến đi của ông ta tới Rastenburg. Tướng Hube, một cựu binh một tay, đậm người là một trong ít tướng lĩnh được Quốc trưởng tin cậy. Họ vẫn không tin rằng “Hitler có thể bỏ rơi Tập đoàn quân VI”.

          Rõ ràng là Hitler đã thuyết phục chính mình là ông đang làm mọi thứ để cứu Tập đoàn quân VI, nhưng nhận thức của ông ta về tình hình thực tế chẳng khá lên chút nào. Trong ngày đó, bộ tổng tham mưu đã điện cho cụm Tập đoàn quân sông Đon, hứa rằng dù trong điều kiện vận chuyển khó khăn, họ sẽ được chi viện với “372 xe tăng và pháo tự hành”. Nhưng Manstein biết rằng đó chỉ là mơ tưởng hão huyền.

          Trong khi đó, ở nội thành Stalingrad, những gì còn lại từ các sư đoàn của tướng Seydlizt tiếp tục phòng thủ. Họ phải tiết kiệm đạn dược để đẩy lùi các đợt tấn công. Họ nấp sâu trong hầm hào để giữ ấm và cũng để an toàn trước pháo binh Liên Sô. “Chúng ở đó râu tóc bù xù như trong hang động người tiền sử” Grossman viết “ngấu nghiến gặm thịt ngựa trong bóng tối và khói bụi, giữa đống đổ nát của thành phố xinh đẹp và chúng đã phá hủy".
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #68 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2015, 05:12:42 PM »

        Cụm từ “hoạt động mạnh mẽ của quân địch” xuất hiện thường xuyên trong nhật ký chiến tranh của Tập đoàn quân VI. Hans Urban, một trung sỹ cảnh sát 28 tuổi từ Darmstadt, phục vụ trong sư đoàn bộ binh 389, sau này đã cung cấp một báo cáo chi tiết về cuộc chiến ở khu vực phía bắc Stalingrad vào cuối tháng 12.

         Quân địch thường tấn công vào lúc rạng đông hay hoàng hôn, sau một đợt pháo kích bắn chuẩn bị. Nếu chúng chiếm được hai ba boongke của chúng tôi thì chúng tôi sẽ cố tái chiếm lại sau. Ngày 30 tháng 12, sau nhiều đợt tấn công, tôi được lệnh đưa tổ liên thanh của
mình lên phía trước. Chín người chúng tôi cùng với súng đại liên đã có thể đứng vững trước cuộc tấn công tiếp sau của chừng 300 quân từ Spartakovka. Có hai mươi lính bộ binh còn lại ở khu vực đó, nhưng họ quá kiệt sức sau các trận đánh nên không giúp được mấy. Hầu hết đã sẵn sàng bỏ vị trí. Tôi cùng với 2 khẩu đại liên không điểm xạ dài. Bởi quân địch có thể lợi dụng địa hình và các đống đổ nát. Chúng tôi để cho quân Nga vào trong tầm 20 thước rồi bắt đầu khai hỏa nhanh chóng. Ít nhất có hai mươi hai xác chết để lại trước vị trí của chúng tôi. Quân Nga còn sống sót cố quét chúng tôi bằng lựu đạn. Chúng lại tấn công cùng vị trí ấy trong rạng sáng ngày đầu năm mới với ba đại đội. Thật khó để ước tính đúng bởi chúng bị bắn trong hố, sau các bức tường đổ hay những đống vụn vữa. Chúng tôi bắn chéo cánh sẻ từ hai khẩu đại liên, và chúng bị thiệt hại nặng. Một tên pháo thủ cối bị hạ, và dù tôi chưa từng được huấn luyện với vũ khí đó, chúng tôi vẫn có thể dùng đạn của chính chúng để chống lại chúng. Khi kết thúc, chúng tôi yếu, mệt ghê gớm và quanh đó trên mặt đất đông cứng là hàng đống xác chết, chúng tôi cũng không thể chôn nổi đồng đội mình.

         Tướng Paulus, trái ngược với những điện tín đầy bi quan của mình gửi đến cụm Tập đoàn quân sông Đông và trong những lá thư gửi vợ, đã ký một thông điệp năm mới đầy hào hứng cho binh sỹ Tập đoàn quân VI: “Ý chí chiến thắng của chúng ta là không thể phá vỡ và năm mới sẽ đến cùng với sự giải thoát cho chúng ta! Khi nào điều đó đến, tôi không thể nói chắc. Nhưng, Quốc trưởng sẽ không bao giờ quay lưng lại với lời nói của người, và thời điểm đó sẽ đến”.

         Cảm ơn sự cứng đầu của Hitler về múi giờ, năm mới của người Nga đến sớm hơn hai giờ so với người Đức. Tướng Edler von Daniel bị gián đoạn ván bài “doppelknopf” vào lúc mười giờ bởi “màn bắn pháo bông mạnh mẽ” do những quân Liên Xô đang bao vây bắn để “mừng Năm mới”.
     
        Lúc đó tướng Daniel đang trong tâm trạng phấn khởi. Ông vừa được vinh thăng trung tướng và tặng Chữ thập Hiệp sỹ. Rồi như món quà năm mới từ tướng Paulus, ông bất ngờ được nhận một chai Veuve-Cliquot “Schampus”. Vài vị tướng ở Stalingrad vẫn dường như bận tâm với huân huy chương và thăng cấp hơn là số phận của Tập đoàn quân VI.

         Rồi khi giao thừa Đức đến, chỉ có pháo sáng được bắn lên. Đạn có sức nổ mạnh không được lãng phí. Những chai rượu sau cùng được khui trong vòng vây với tiếng hô “Prosit Neujahr!”. Trong khi đó, các sư đoàn Sô viết thì chỉ bị hạn chế chút ít trong vấn đề đạn dược và rượu bia. Nhưng Viktor Barsov, một thủy quân lục chiến viết “Lễ mừng năm mới rất vui. Tôi uống 250 gram vốt ca trong đêm đó. Thức ăn cũng không tệ. Và trong buổi sáng để tránh nhức đầu, tôi uống thêm 200 gram nữa”.

        Lính Đức cố giảm nhẹ sự bất hạnh của mình, với mộng tưởng rằng mọi việc sẽ tốt hơn khi năm cũ qua đi. “Cha mẹ thân yêu. Con vẫn ổn” một người lính viết “Nhưng không may là con phải đi canh gác tối nay. Con hi vọng rằng năm mới 1943 này, con sẽ không phải trải qua nhiều điều không hay như năm 1942”.

         Sự lạc quan đầy ám ảnh đó có từ thông điệp năm mới của Hitler gửi cho Paulus và Tập đoàn quân VI. Chỉ ai hoài nghi lắm mới phát hiện ra rằng thông điệp đó không chứa đựng sự đảm bảo chắc chắn nào “Thay mặt toàn thể nhân dân Đức, tôi xin gửi đến ngài và Tập đoàn quân anh hùng của ngài lời chúc mừng năm mới nồng nhiệt nhất. Tôi hiểu được tình thế hiểm nghèo của ngài. Công cuộc phòng thủ anh hùng của đơn vị ngài nhận được sự kính  trọng nơi tôi. Tuy nhiên, ngài và binh sỹ cũng phải bước vào năm mới với niềm tin vững chắc rằng tôi cùng quân lực Đức sẽ làm mọi thứ với sức mạnh của chúng tôi để giải phóng những người bảo vệ Stalingrad, và như vậy sự trung thành của các ngài sẽ là một kỳ công chói lọi trong lịch sử vũ trang Đức. Adolf Hitler”.

         “Thưa Quốc Trưởng!” tướng Paulus hồi đáp ngay lập tức “Những lời chúc Năm mới chân tình của ngài được đón nhận nơi đây với lòng cảm kích sâu sắc. Chúng tôi sẽ cố để xứng đáng với lòng tin cậy của ngài. Ngài có thể tin chắc rằng, chúng tôi – từ vị tướng già nhất đến người pháo thủ trẻ tuổi nhất – sẽ kiên định với ý chí quyết tâm, và góp phần của mình vào thắng lợi chung. Paulus”. Những lá thư đầu xuân từ đa số binh lính trong vòng vây phản ánh một tinh thần quyết tâm mới.

         “Chúng tôi sẽ không để tinh thần tụt xuống, thay vào đó chúng tôi tin vào lời hứa của Quốc Trưởng” một đại úy viết.

         “Chúng tôi luôn kiên quyết tin vào Người, không lay chuyển, cho đến thắng lợi cuối cùng” một NCO khác viết.

         “Quốc trưởng hiểu rõ mọi mối lo và mong đợi của chúng ta” một người lính bày tỏ người sẽ luôn – và tôi chắc chắn thế - nỗ lực để cứu chúng ta nhanh nhất có thể”.

           Ngay cả một vị tướng đa nghi như Strecker dường như cũng bị ảnh hưởng. Ông viết “Hy vọng tăng lên, và có nhiều lạc quan về hiện tại và tương lai gần”.

          Tướng Paulus, trong khi đó, lại lo ngại về ảnh hưởng tăng cao của tuyên truyền Sô viết tại thời điểm ấy. Ban 7 của Phương diện quân sông Don, chịu trách nhiệm về “chiến dịch tuyên truyền” đã xác định rằng sư đoàn bộ binh 44 và sư đoàn bộ binh 376 của tướng Edler von Daniel là những đơn vị mà họ tập trung đấu tranh.

           Sáng sớm ngày 3 tháng Giêng, tướng Paulus đến sư đoàn bộ binh Áo số 44 “ngay sau giờ phát thanh thực hiện bởi những tù binh từ sư đoàn 44”. Chương trình nói về việc thiếu lương thực, đạn dược và thương vong nặng nề. Biên bản của Tập đoàn quân VI ghi nhận “Vị tư lệnh muốn cảnh báo về những hậu quả gây ra bởi những chương trình phát thanh như thế. Và bất kỳ người lính nào làm thế, phải hiểu rằng tên họ sẽ bị phát hiện và họ sẽ phải đối mặt với tòa án binh”. Trong suốt buổi làm việc của tướng Paulus với tướng Deboi, sư đoàn trưởng, có một trận “tấn công mạnh khác với xe tăng”.

           Và trong sáng hôm sau, tướng Paulus đến thăm chỉ huy quân Rumani trong “khu vực pháo đài”, quân Rumani chịu thiệt hại vì bỏng tuyết nghiêm trọng do thiếu quần áo (ấm) “cả giày bốt, quần và vớ”. Số lượng đảo ngũ tăng khiến Paulus phải kết luận rằng “Cần có phản-tuyên-truyền để chống lại truyền đơn Nga in bằng tiếng Rumani

          Các tiểu đoàn, đại đội mất sức, yếu đến nỗi chúng chỉ còn lại phiên hiệu. Trong số hơn 150.000 quân còn lại trong vòng vây, chỉ có không quá một phần năm là lính chiến đấu. Nhiều đại đội chỉ còn chừng một tá người thích hợp cho nhiệm vụ. Những tổ rời rạc từ các đơn vị được gọp lại với nhau trong các nhóm chiến đấu. Các pháo thủ xe tăng còn sống của đại đội thượng sỹ Wallrawe thấy mình nhập chung với "các đại đội không quân và các trung đội Cossack” và gửi đi phòng thủ một vị trí cạnh làng Karpovka. Đó là một nơi đầy bất hạnh để đến. Bởi trên bản đồ cho thấy đó là cái “mũi” chọc ra phía tận cùng góc tây-nam vòng vây, và sẽ là mục tiêu đầu tiên của quân Nga khi họ quyết định kết liễu Tập đoàn quân VI.

          Trong những ngày đầu năm, có vài hôm thời tiết tương đối ẩm ướt, ôn hòa. Quân Nga ghét việc tuyết tan “Tôi không thích khí hậu ở Stalingrad” một lính thủy đánh bộ tên Barsov viết “Nó cứ thay đổi luôn và làm súng ống han rỉ. Khi trời ấm lên, tuyết bắt đầu tan. Mọi thứ trở nên ẩm ướt. Valenki bị ướt sũng và chúng tôi không có cơ hội để làm khô”. Nên không nghi ngờ gì, anh ta cùng đồng đội của mình, vui mừng hơn trong ngày 5 tháng Giêng, khi nhiệt độ giảm xuống âm 35 độ.

        Các lực lượng Sô viết chấp nhận một chiến thuật có tính toán nhằm khai thác sự ưu việt của trang bị mùa đông. “Quân Nga bắt đầu với những trận đánh thăm dò” một sỹ quan thông tin Không lực Đức viết “Nếu họ chọc thủng phòng tuyến, thì không một ai trong chúng tôi ở một vị trí có thể thiết lập chiến hào mới. Bởi quân ta quá yếu về thể lực vì thiếu ăn và mặt đất đông cứng như đá”. Bị kẹt ngoài thảo nguyên trống trải, nhiều người bị giết hơn. Ngày 6 tháng Giêng, tướng Paulus điện cho tướng Zeitzler “Tập đoàn quân đói khát, lạnh cóng, không còn đạn, và không còn xe tăng nào có thể di chuyển”. Cùng ngày đó, Hitler phong tặng tướng Schmidt Chữ thập sắt hiệp sỹ.

          Khi mà số phận của Tập đoàn quân VI đã rõ ràng, các nhà báo Liên Xô được đưa đến sở chỉ huy Phương diện quân sông Đôn tại Zavarykino. Một phái đoàn nhà văn Sô Viết từ thủ đô đến thăm sư đoàn bộ binh 173, vốn xuất thân từ quận Kievsky của Moscow và có nhiều trí thức trong thành phần. “Từ vị trí chỉ huy của Tập đoàn quân 65, nhà văn Aleksandr Korneychuk và Wanda Vasilevskaya” quan sát sư đoàn tấn công Kazachy Kurgan, một gò mộ cổ của người Tartar ở phía tây bắc vòng vây.

           Ngay cả trước khi nỗ lực giải cứu của tướng Hoth gãy vụn tại tuyến sông Myshkova, Stalin đã quấy rầy các tướng lĩnh của mình nhằm đưa ra kế hoạch tiêu diệt Tập đoàn quân VI. Sáng ngày 19 tháng Mười hai, ông gọi điện cho Voronov, đại diện đại bản doanh trong chiến dịch Sao Thổ nhỏ, và yêu cầu ông ta về sở chỉ huy Phương diện quân sông Đon. Voronov chọn ở gần “dinh thự” của tướng Rokossovsky, trải qua những ngôi làng nối liền Zavarykino và Medvedevo, ở đó, phòng cho mỗi vị tướng hay mỗi ban, là một ngôi nhà nông dân kiểu izba “năm vách”, thật ra đó là một buồng nhỏ bằng gỗ với một vách ngăn ở giữa. Những chiếc xe Willy của Mỹ, với ngôi sao Sô viết, lắc lư chạy theo những vệt bánh xe đông cứng, mang theo các vị tướng ra vào trong những chuyến đi thị sát và khích lệ các viên tư lệnh dưới quyền.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #69 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2015, 09:48:41 AM »

         Voronov nhanh chóng tập hợp một tổ tham mưu để nghiên cứu tình huống. Ông ta khăng khăng đầu tiên phải đích thân tìm hiểu thực địa, dù rằng Stalin cố nài phải có kết quả trong vòng hai ngày. Chuyến làm việc của ông ở tập đoàn quân 57 mất hẳn một ngày. Ông quan sát thấy một nhóm phi cơ vận tải Junker xuất hiện trên đầu, tầm 9000 feet mà không có tiêm kích hộ tống. Những khẩu đội phòng không Nga trong khu vực khai hỏa quá chậm; và tiêm kích Sô viết cũng đến quá muộn để đánh chặn. Voronov càng điên tiết hơn khi ông phát hiện ra chẳng có mấy sự kết hợp giữa các trạm quan sát mặt đất, khẩu đội phòng không và các phi đoàn tiêm kích. Viên thiếu tướng phụ trách phòng không bị dọa sợ phát sốt.

         Trở lại Zavarykino, Voronov phân tích lại tình hình. Dù có sự kháng cự mãnh liệt của quân Đức trong đầu tháng mười hai, đại tá I.V. Vinogradov, trưởng ban Tình báo của Phương diện quân sông Đôn, vẫn không sửa nhiều phần ước lượng của mình về số lính Đức bị vây trong Kessel. Khi được yêu cầu nêu chính xác, lúc bấy giờ ông đưa ra con số là 86,000. Đây là con số gây ra sự xấu hổ của tình báo Hồng quân, đặc biệt khi địch thủ của họ NKVD dùng để bóng gió mỉa mai sau này.

          Kế hoạch sơ khởi của chiến dịch Chiếc vòng đã thảo xong trong ngày 27 tháng Mười hai và gửi về Moscow. Ngày hôm sau, Voronov được yêu cầu viết lại. Stalin muốn rằng ở đợt một của cuộc tấn công, tập trung vào mấu lồi Karpovka – Marinovka phía tây nam, phải triển khai từ hướng Tây bắc kết hợp với một đòn khác từ góc đối diện của Kessel, nhằm cắt rời quận Nhà máy của Stalingrad và vùng ngoại ô phía bắc.

          Ở cuộc họp Hội Đồng Quốc phòng, Stalin quan sát sự tranh đua hai ứng viên, tướng Yeremenko – tư lệnh phương diện quân Stalingrad, và tướng Rokossovsky – tư lệnh phương diện quân sông Đôn, phải được giải quyết trước khi chiến dịch Cái vòng bắt đầu.

       “Chúng ta sẽ giao trách nhiệm thanh toán quân thù cho ai đây?” ông ta hỏi. Vài người gợi ý là: Rokossovsky. Stalin hỏi ý của Zhukov.

         “Yeremenko sẽ rất đau lòng” Zhukov bảo

        “Chúng ta không phải là những nữ sinh trung học” Stalin vặn lại:

         “Chúng ta là những người Bôn-sê-vích  và chúng ta phải dùng những lãnh đạo đáng giá vào việc”.

         Zhukov đi ra để báo tin không hay cho Yeremenko.

         Tướng Rokossovsky, vị tư lệnh chịu trách nhiệm đánh cú “coup de grace” với Tập đoàn quân VI, được giao 47 sư đoàn, 5610 đại bác và cối hạng nặng, cùng 169 xe tăng. Lực lượng có quân số 218.000 người này được hỗ trợ bởi 300 chiến đấu cơ. Nhưng tính thiếu kiên nhẫn của Stalin lại bùng lên ngay vào lúc ông lên kế hoạch tấn công Tập đoàn quân Hungary số 2. Thêm vào đó, ông được báo rằng những khó khăn trong vấn đề vận tải đã làm chậm tiến độ chuyển quân, hàng hậu cần và đạn dược. Nên khi Voronov đề nghị được lùi thêm bốn ngày nữa. Stalin chua cay châm biếm “Anh cứ ngồi đó và chờ đến khi bọn Đức bắt cả anh và Rokossovsky làm tù binh”. Và miễn cưỡng lắm, ông mới đồng ý với thời hạn mới là ngày 10 tháng Giêng.

           Những sỹ quan Đức ở ngoài vòng vây đang tự hỏi việc gì sẽ xảy ra tiếp theo. Tướng Fiebig, tư lệnh quân đoàn không quân VIII sau một cuộc thảo luận dài với tướng Richthofen đã băn khoăn: “Sao quân Nga không cắt vụn Kessel vốn đã như một trái cây chín mùi nhỉ?”. Các sỹ quan Hồng quân thuộc phương diện quân sông Đon cũng vậy, họ cũng ngạc nhiên về sự trì hoãn, và muốn biết còn bao lâu nữa họ mới nhận được lệnh tấn công. Tuy vậy, Voronov lại nhận được một cú gọi khác từ Moscow bảo ông ta phải chuẩn bị một tối hậu thư cho Tập đoàn quân VI.

         N.N Voronov, trong tuần đầu tháng Giêng năm 1943 ấy, viết một bản thảo nhằm gửi cho cá nhân tướng Paulus. Những cuộc gọi liên tục từ Moscow, đã chuyển đến những bổ sung cần thiết từ Stalin. Và khi bản viết sau cùng được chấp thuận, nó được chuyển ngữ bởi “nhóm chống phát xít Đức do Walter Ulbrich lãnh đạo” tại sở chỉ huy Phương diện quân sông Đôn. Trong khi đó, đại diện của NKVD và đại tá Vinogradov của tình báo Hồng quân, cho thấy sự ganh đua thường kỳ của họ, với việc tìm kiếm những sỹ quan thích hợp thực hiện sứ mệnh này. Sau cùng, cũng đi đến một thỏa hiệp. Cuối buổi chiều ngày 7 tháng Giêng, thiếu tá Aleksandr Mikhailovich Smyslov thuộc tình báo quân đội, và đại úy Nikolay Dmitrevich Dyatlenko của NKVD, được chọn đi cùng nhau. Vinogradov, khi làm việc với Dyatlenko đã bất ngờ hỏi:

         “Cậu là dân khokhol à?” Khokhol hay “bù xù” (dịch thoáng từ tufty) là một thành ngữ mang tính xấc xược để chỉ dân Ucraina bởi người Nga thường tỏ ra khiếm nhã về kiểu tóc truyền thống của họ.

          “Không, thưa đồng chí Đại tá” Dyatlenko rắn rỏi trả lời:

         “ Tôi là người Ucraina”.

          “Thì bởi cậu giống người Nga” Vinogradov cả cười:

          “Tốt lắm. Cậu thích hợp là đại diện của Hồng quân đi gặp bọn phát xít”.

          Smyslov và Dyatlenko được chỉ dẫn bởi tướng Malinin, tham mưu trưởng, và sau đó là bởi chính thân Voronov. Ai cũng hiểu rằng Stalin đang theo dõi họ sát sao qua cái cách mà các vị tướng hỏi hai sứ giả rằng họ có hiểu đầy đủ những chỉ thị từ Moscow không. Sự thật là không ai biết rõ về lề luật và lễ nghi của một chuyến đi sứ. Dyatlenko thú nhận rằng kiến thức duy nhất của anh ta về việc này là từ vở kịch Nguyên soái Kutuzov của Solovyov.

           “Này các chú” Voronov hỏi:

           “Các chú hiểu rõ nhiệm vụ chưa

           “Chúng tôi rõ, báo cáo đồng chí đại tướng”.

          Cả hai đồng thanh hô.

          Rồi tướng Malinin lệnh cho phụ trách quân nhu của Phương diện quân trang bị cho hai viên sỹ quan ấy những bộ quân phục oách nhất có thể. Quân Đức phải bị gây ấn tượng. Viên sỹ quan hậu cần hứa sẽ cho họ “ăn mặc đẹp như chú rể” và lấp lánh “như một pháp sư”. Với sự hỗ trợ của Voronov, tất cả các sỹ quan phụ tá của các tướng lĩnh thuộc Phương diện quân có mặt ở ban hậu cần. Viên sỹ quan quân nhu yêu cầu tất cả họ cưởi quần áo ra để Dyatlenko và Smyslov có thể thử quân phục, giày vớ. Rồi nhanh chóng sau đó hai vị sứ giả lên một chiếc Willy cùng với Đại tá Vinogradov. Nơi đến của họ, được cho biết là nhà ga Kotluban ở khu vực Tập đoàn quân 24.

         Các đơn vị Nga trong khu vực nhận được lệnh ngừng bắn từ lúc chạng vạng. Rồi, trong cả đêm, những chiếc loa công suất lớn của Hồng quân liên tục phát ra một thông điệp do nhóm chống phát xít của Ulbrich chuẩn bị, nói với quân Đức về chuyến đi sứ sắp đến.

          Bình minh ngày hôm sau, ngày 8 tháng Giêng, hỏa lực tạm ngưng. Smyslov và Dyatlenko, cùng với một hạ sỹ mang theo cờ trắng và một cây kèn trumpet ba-nốt. “Đó là một sự yên lặng bất bình thường trên vùng tuyết phủ trống trải” khi họ tiến lên đến chiến hào sau cùng. Viên hạ sỹ nâng kèn lên thổi “Chú ý! Chú ý! Mọi người lắng nghe!”. Rồi họ đi lên chừng một trăm thước, khi đó có tiếng súng vang lên. Ba người bọn họ buộc phải nằm chúi xuống sau một bức lũy thấp bằng tuyết do những nhóm trinh sát Nga làm trong chuyến tuần đêm. Những bộ quân phục “chú rể” nhanh chóng kém vẻ sáng sủa đi, và họ cũng bị bớt đi sự bảo hộ khỏi cái lạnh kinh hoàng.

          Khi tiếng súng tắt, Smyslov và Dyatlenko nhỏm dậy và thận trọng tiến tiếp. Viên hạ sỹ cũng đứng dậy, vẫy cờ và thổi kèn. Một lần nữa, quân Đức lại khai hỏa, nhưng không bắn thẳng vào họ. Rõ ràng là họ muốn ép đoàn sứ giả lui về. Sau vài lần cố gắng nữa, Vinogradov lo lắng gửi thông điệp gọi họ về (Sau này thống chế Paulus tuyên bố rằng không hề ra lệnh bắn vào cờ sứ giả Nga, nhưng có lẽ Schmidt đã làm thế).

          Smyslov và Dyatlenko trở lại Sở chỉ huy Phương diện quân để báo cáo, và xấu hổ vì nhiệm vụ thất bại.

         “Tại sao lại cúi mặt hả, đồng chí?

         Voronov hỏi:

         “Tình hình như thế không phải là do chúng ta, vốn yêu cầu chúng chấp nhận đề nghị của ta, mà ngược lại. Nên chúng ta sẽ dội hỏa lực xuống thêm nữa, để rồi chính chúng nó sẽ phải van xin”.

         Rồi trong cả đêm ấy, máy bay Nga lượn trên các vị trí quân Đức và thả truyền đơn in tối hậu thư gửi Paulus và một thông điệp gửi đến “Sỹ quan, hạ sỹ quan và binh sỹ Đức”, ký bởi Voronov và Rokossovsky.

        Và để nhấn mạnh thông điệp “họ cho đi kèm chữ nghĩa với bom”. Đài phát thanh Hồng quân cũng phát sóng bài nói, được Erich Weinert đọc trên các tần số dùng nhiều bởi quân Đức và đa số các điện đài viên Đức biết. Truyền đơn chắc chắn được đọc. Như một đại úy thuộc sư đoàn bộ binh 305 (Đức) thú nhận sau khi bị bắt rằng từ sỹ quan đến lính đều bí mật đọc truyền đơn Liên Xô, cho dù có những hình phạt, “bởi trái cấm bao giờ cũng ngọt”. Đôi khi họ còn đưa những truyền đơn viết bằng tiếng Nga cho một tay Hiwis tin cậy và nhờ dịch. “Mọi người đều biết về tối hậu thư” anh ta nói.

         Smyslov và Dyatlenko ngủ được chỉ một đôi giờ tại sở chỉ huy Phương diện quân trước khi họ bị đánh thức vào đâu đó lúc nửa đêm. Một chiếc xe tham mưu đậu bên ngoài chờ họ khi họ mặc lại bộ quân phục cũ của mình (vì các ADC- sĩ quan phụ tá - đã đòi lại đồ của mình). Lúc đến ban tình báo, họ được biết đại tá Vinogradov được vinh thăng thiếu tướng còn họ được nhận huân chương Cờ đỏ. Vinogradov pha trò rằng ông được lên cấp vì “tất cả quần ông ta mặc làm việc đã mòn rách rồi”, và bảo thêm với Smyslov cùng Dyatlenko rằng họ có thể nhận được một huân chương cao quý hơn nếu họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ trong lần nỗ lực thứ hai này.

           Hai viên sứ giả lại được bảo lên xe với Vinogradov cùng viên sỹ quan được chỉ định thay ông ở vị trí Trưởng ban tình báo. Khi họ đang đi trong màn đêm lần nữa, hai viên tướng mới được thăng hát hò và “ngắt lời nhau bằng những giai thoại về tướng lĩnh” (Dù nguồn tin đáng tin cậy từ Dyatlenko không nói rằng họ đang say rượu, nhưng rõ ràng họ đang chúc tụng sự thăng thưởng của mình). Giai điệu bài hát bị đứt quãng liên tục bởi chiếc xe tròng trành băng qua những ổ gà dọc con đường bẩn thỉu lạnh giá. Đó là một chuyến đi dài dọc theo phía nam Kessel, băng qua bờ tây sông Đôn rồi ngoặc lại qua Kalach đến khu vực của tập đoàn quân 21. Chỉ trước bình minh một tý, họ đến được sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 96, chỉ vài dặm ở phía tây Marinovka.

         Khá giống như các tử tù, Smyslov và Dyatlenko được cấp một bữa ăn sáng với “khẩu phần Narkom [khẩu phần cấp bộ trưởng]”. Sau đó Vinogradov chấm dứt liều doping thứ hai và bảo họ sẵn sàng. Rồi đột nhiên họ hiểu rằng họ phải đưa trả cây cờ trắng cho sỹ quan hậu cần ở sở chỉ huy Phương diện quân. Một cây mới được làm, dùng một tấm ga trải giường của tư lệnh sư đoàn đính chặt vào một cành cây keo.

         Một chiếc xe đưa họ đến chiến tuyến và đỗ lại trong một balka, từ đó cả đội đi bộ lên phía trước. Tham gia cùng Smyslov và Dyatlenko là một chuẩn úy già, với cây kèn trumpet, ông ta tự giới thiệu: “Trung đội trưởng trung đội quân nhạc Siderov”. Một thiếu úy cũng đi lên để giúp họ vượt qua bãi mìn – “bởi mạng sống của tôi không đáng quí bằng các anh” anh ta giải thích
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM