Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 05:17:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Stalingrad - Anthony Beevor  (Đọc 53741 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 04:02:43 PM »

          Các chỉ huy quân Đức thường thừa nhận rằng người Nga ngụy trang rất thành thạo, nhưng ít biết rằng chính không quân của họ đã tạo nên các điều kiện lý tưởng cho quân phòng ngự. “Không còn một ngôi nhà nào đứng vững” một trung uý viết gửi về quê “chỉ là một nơi hoang tàn rực lửa, những đống đổ nát, vụn vỡ tiêu điều không thể vượt qua trong đêm”.

           Ở cực nam thành phố, một sỹ quan liên lạc của Luftwaffe đi cùng sư đoàn tăng 24 viết “quân phòng ngự tập trung củng cố ở những khu vực đối diện với các cuộc tấn công của ta. Trong công viên, có xe tăng hoặc chỉ tháp pháo tăng được chôn dưới đất, súng chống tăng thì ẩn dưới hầm làm cho các cuộc tấn công của tăng ta rất khó khăn”.

           Kế hoạch bên phía tướng Chuikov là làm phân mảnh những cuộc tấn công tổng lực của quân Đức bằng những chiếc “đê chắn sóng”. Những toà nhà kiên cố, với lính bộ binh vũ trang súng trường chống tăng và đại liên, có thể làm các mũi tấn công bị lệch về phía những chiếc T-34 hay những khẩu đại bác chống tăng được nguỵ trang vùi nửa mình sau các đống đồ nát, chờ đợi. Với các cuộc tấn công của tăng Đức có bộ binh tùng thiết, thì mối ưu tiên hàng đầu ở phía quân phòng thủ là chia cắt chúng ra.

           Quân Nga sử dụng cối tầm ngắn rải đạn ngay sau những chiếc tăng địch để đuổi bọn bộ binh, trong khi các pháo thủ chống tăng phóng đến với lũ thiết giáp. Các hướng tiếp cận cũng có thể đã bị cài mìn từ trước bởi cánh công binh, đây là binh chủng có tỷ lệ thương vong cao bậc nhất. “Mắc lỗi, khỏi ăn tối” là khẩu hiệu không chính thức của họ. Mặc đồ nguỵ trang, mỗi khi tuyết rơi, họ bò ra ngoài trong đêm, đặt mìn chống tăng. Một tay công binh kinh nghiệm có thể cài được đến 30 quả mìn một đêm. Họ cũng lừng danh với việc nhảy ra khỏi nơi trú ẩn để ném mìn ngay vào những chiếc tăng đang tiến công.

           Chiếm đa số trong cuộc chiến này không phải là những trận tấn công lớn mà là những lần đụng độ nhỏ nhưng gay go và chết người. Là trận chiến của những tổ xung kích có chừng 6 đến 8 quân khoẻ mạnh đến từ “Học viện chiến tranh đường phố Stalingrad”. Họ trang bị bằng dao, bằng những chiếc mai bén ngọt để giết người không tiếng động, cùng với tiểu liên và lựu đạn. (Mai thì ít được cung cấp nên những người lính khắc tên mình lên cán, nằm đè lên lưỡi mà ngủ để phòng kẻ khác trộm mất). Các tổ xung kích phái vào các cống rãnh thì được tăng cường thêm súng phun lửa và công binh mang theo chất nổ. Có trường hợp một tổ sáu chiến sỹ công binh của sư đoàn Bộ binh Cận vệ Rodimtsev đã xoay sở tìm ra một ống dẫn hơi ngay dưới một vị trí mạnh của quân Đức và đã thổi tung nó lên bằng 300 cân anh thuốc nổ.

             Một chiến thuật phổ biến khác được rút ra, dựa trên việc thấu rõ rằng quân Đức có dự trữ ít. Tướng Chuikov xác định tầm quan trọng của các cuộc tấn công ban đêm, lý do thiết thực nhất được đưa ra là không quân Đức sẽ không thể phản ứng, nhưng cũng bởi ông ta tin rằng quân Đức khiếp sợ hơn trong giấc đêm và sẽ trở nên kiệt sức. Quân Landser Đức mang nỗi sợ đặc biệt với những lính người Siberi thuộc Sư đoàn bộ binh 284 của đại tá Batyuk, họ vốn được biết đến như là những thợ săn bẩm sinh với bất kỳ loại con mồi nào. “Giá mà em có thể biết kinh khủng như thế nào” một lính Đức viết trong bức thư bị quân Nga thu được “cứ mỗi tiếng động sột soạt dù rất khẽ, anh cũng kéo cò, bắn một loạt đạn súng máy”. Việc cứ buộc phải bắn vào những gì động đậy trong đêm để cân bằng nỗi sợ của lính gác, dĩ nhiên góp phần vào lượng tiêu thụ đến 25 triệu băng đạn chỉ trong tháng 9 của quân Đức.

           Phía người Nga thêm vào sự căng thẳng đó bằng việc bắn pháo sáng ban đêm liên tục nhằm tạo cảm giác về một cuộc tấn công sắp xảy ra. Ban ngày, không quân Nga, phần nào né tránh những chiếc Messerschmitt, nhưng hằng đêm thì lại rải bom vào các vị trí quân Đức không chút nao núng. Góp phần vào tiến trình làm kiệt sức và hoang mang lên phía người Đức.

          Hồng quân sử dụng cả những chiếc máy bay ném bom đêm hai động cơ, vốn là những thứ thu hút hoả lực các khẩu đội phòng không của Đức ở chiến trường, lẫn một số lượng lớn các máy bay lưỡng cư U2 rất dễ lái để thả loại bom nhỏ cho những cuộc tấn công đêm. “Quân Nga làm phiền chúng tôi cả đêm” một hạ sỹ công binh viết về nhà. Phần tệ hại nhất chính là lúc âm thanh thay đổi kỳ quái. Khi ở xa, tiếng của chiếc U2 nghe giống như một trong những biệt danh của nó, “máy khâu”. Rồi, khi phi công tiếp cận mục tiêu, anh ta sẽ tắt động cơ để lượn như một con chim vồ mồi. Tiếng động lúc đó chỉ là tiếng gió vút qua những thanh giằng của chiếc máy bay, cho đến khi bom rơi. Dù rằng trọng lượng bom mang theo chỉ 400 kí lô, nhưng hiệu ứng tâm lý của nó thật là đáng nể. “Chúng tôi kiệt lực nằm trong hố và chờ chúng” một người lính khác viết. Những chiếc U2 thu hút được nhiều biệt danh hơn bất cứ vũ khí hay thứ máy móc nào ở Stalingrad. Những tên lóng khác gồm “Gã hạ sỹ mẫn cán” – do cái cách nó trườn tới mà không biết trước, hoặc “Oanh tạc cơ nửa đêm”, “Máy cà phê” và “Quạ-đường-sắt”.
          Tập đoàn quân VI yêu cầu lên sở chỉ huy cụm giữ áp lực của không quân Luftwaft lên các phi trường Hồng quân bằng việc tấn công suốt ngày đêm. “Việc quân Nga làm chủ bầu trời ban đêm mà không bị thách thức gì đã đến mức không chịu đựng nổi. Quân lính không được nghỉ ngơi và sức lực sẽ sớm bị bào mòn”.

          Không có những bằng chứng công khai trong các tài liệu còn sót lại về các ca hội chứng stress vì chiến đấu. Giới chức y tế Đức hay dùng uyển ngữ đại loại như “kiệt sức”, giống phía người Anh, nhưng trong các hồ sơ bệnh án lại thể hiện rất gần với sự thẳng thẳn thô bạo của bên Hồng quân. Quân Đức từ chối thừa nhận sự tồn tại này. Năm 1926, gần bảy năm trước khi Hitler lên nắm quyền, hội chứng chiến tranh đơn giản bị chối bỏ như là một điều kiện đi cùng với lương hưu mà vốn nó phải có. Không có bệnh tật ở đây và bạn cũng không còn lý do để rời mặt trận. Sự suy sụp tinh thần được xếp vào nhóm hèn nhát và như vậy có thể bị tử hình. Theo cách đó, không thể nói đến sự cân bằng trong những hình thức kỷ luật ở các hai phía tại mặt trận Stalingrad, đặc biệt với tội đào ngũ, vốn gây ra bởi sốc hay do căng thẳng kéo dài. Ai cũng có thể nhận thấy qua sự so sánh tình hình về mức thương vong do sốc lên cao trong tháng Chín, ngay khi trận chiến chuyển sang tính chất hủy diệt nhưng hầu như giậm chân tại chỗ. Chấn thương tâm lý cũng tăng nhanh, nếu nghiên cứu qua các ca sốc của quân Anh tại Anzio và Normandy – ngay khi bị bao vây hoặc bị ghìm chân một chỗ.

           Bất đồng chính yếu giữa tướng Chuikov và các sỹ quan cấp cao ở sở chỉ huy phương diện quân liên quan đến việc thiết lập vị trí cho các trung đoàn pháo binh cấp sư đoàn và cấp tập đoàn quân. Rốt cuộc, ông ta đã thắng trong cuộc tranh luận rằng chúng nên được đặt ở phía bờ đông sông Volga, bởi đơn giản là không còn đủ chỗ bên bờ Tây. Và cũng bởi vì lý do khó vận chuyển đủ đạn pháo qua sông Volga, và “ở Stalingrad, một khẩu dã pháo hổng có chút giá trị nào nếu không có đạn”.“Một ngôi nhà do quân Nga giữ, một căn khác thì quân Đức” Vasily Grossman viết vội vào sổ tay ngay khi ông vừa tới nơi “Pháo binh hạng nặng làm sao dùng được trong trận chiến này?”. Và ông nhanh chóng phát hiện ra câu trả lời.

           Đại bác Soviet bắn về phía xa của con sông, như Chuikov đã cố nài, mà không cố bắn vào các vị trí tuyền duyên của quân Đức. Mục đích của họ là băm vụn tuyến thông tin của quân địch và, trên hết, dập nát các tiểu đoàn được tập trung lại để (chuẩn bị) cho một cuộc tấn công. Để làm được điều này, hàng chục các sỹ quan điềm chỉ pháo đã tự giấu mình như những tay bắn tỉa trên đỉnh của các toà nhà đổ nát. Phía Đức, cũng nhận biết được mối nguy hiểm hiện hữu này, nên xem họ là các mục tiêu ưu tiên số một đối cho các tay bắn tỉa và pháo chống tăng.

          Bất cứ lúc nào định được vị trí quân Đức tập trung, mục tiêu toạ độ được báo về cho các khẩu đội ở bờ Đông qua điện thoại vô tuyến hoặc hữu tuyến, một khối lượng hoả lực tàn phá ngay. “Ở bờ kia sông Volga” Grossman viết “dường như cả hoàn vũ chấn động bởi tiếng gầm kinh khủng của đại pháo. Mặt đất run rẩy”.Những khẩu đội còn ở lại bên bờ tây chính là các giàn phóng Katyusha đặt trên xe tải. Nấp sau bờ cao của sông Volga, họ có thể tiếp đạn, gần như sát cạnh mép nước, phóng hết 16 quả rocket với một tốc độ cực kỳ nhanh, rồi lại chạy lui. Giàn phóng rocket Soviet này là loại vũ khí tầm xa có hiệu quả tâm lý cao nhất của phía Hồng quân. Mười sáu quả rocket 130mm, dài gần 5 feet, bắn với tốc độ nhanh, với một tiếng hú nghe vỡ tim. Có nhiều ghi nhận rằng họ (quân Đức) tưởng bị không quân tấn công khi lần đầu đối mặt với Katyusha.    

         Lính Hồng quân đã đặt ra cái tên Katyusha cho loại rocket này do cái tông cao vút của bài ca nổi tiếng của Nga trong suốt cuộc chiến. Trong bài hát đó, Katyusha hứa với chàng hôn phu rằng sẽ giữ gìn tình yêu của họ khi chàng trai đi bảo vệ tố quốc ngoài chiến trường.

         Lính Nga làm ra vẻ xem thường cái bản sao của phía quân Đức, khẩu cối sáu nòng, được biết dưới cái tên Nebelwerfer. Họ gọi nó là “đồ vớ vẫn” hoặc “con lừa” bởi nó gây ra tiếng rít như lừa, hoặc “Vanyusha” (nghĩa là Ivan bé bỏng, cũng như Katyusha là Katya nhỏ xinh). Có một câu chuyện cười ở tập đoàn quân 62 là việc gì sẽ diễn ra nếu “Vanyusha cố cưới Katyusha”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 04:06:30 PM »

           Tướng Chuikov sớm nhận ra rằng vũ khí bộ binh chính yếu ở Stalingrad chính là tiểu liên, lựu đạn và súng bắn tỉa. Sau cuộc chiến tranh mùa Đông, rút kinh nghiệm từ những trận tấn công ghê gớm của các đội quân trượt tuyết Phần Lan, bắn vào mọi thứ chuyển động, Hồng quân chấp nhận ý tưởng về những tổ tiểu liên chừng 8 lính, phù hợp để đưa ra chiến đấu, nếu cần thiết thì sau một chiếc T-34. Với cuộc chiến trên đường phố Stalingrad, thì các tổ cỡ đó cực kỳ lý tưởng cho các trận cận chiến. Còn việc quét sạch các ngôi nhà, boongke thì lựu đạn là chủ yếu. Lính Nga gọi chúng là “đại bác bỏ túi” của họ. Lựu đạn cũng hữu hiệu khi phòng ngự. Theo lệnh của tướng Chuikov, lựu đạn được trữ để sẵn sàng sử dụng ở những góc đào sâu trong mỗi chiến hào. Và vì thế, cũng không ngạc nhiên khi có nhiều tai nạn gây ra bởi những người lính thiếu huấn luyện bài bản. Một đại đội phó hi sinh cùng vài lính bị thương nặng khi một tay tân binh thao tác sai với lựu đạn. Một số khác cũng bị chết khi lính, chủ yếu là người Trung Á, cố tra kíp nổ thu được của Đức và lựu đạn của họ. “Cần phải có huấn luyện bài bản về vũ khí”, trưởng ban chính trị đã báo cáo như vậy về hội đồng quân sự Phương diện quân Stalingrad.

            Một thứ vũ khí khác, thường gây nguy hiểm cho người sử dụng ngang bằng với mức nó gây ra cho địch nhân, là súng phun lửa, thứ này cực kỳ hiệu quả khi dùng để quét sạch các hầm, hào và những nơi không thể thâm nhập được. Nhưng người mang nó cũng biết rằng, quân địch sẽ “điểm mặt” anh ta sớm, và trở thành mục tiêu số một.

           Cánh lính Hồng quân khoái phát minh, cải tiến những vũ khí để giết địch. Những cái bẫy mới mẽ, khờ khạo được tưởng tượng ra, tưởng chừng như hết sức khéo léo nhưng kết quả rốt cuộc thì kém hơn. Giận dữ với sự bất lực khi đáp trả lại các cuộc tấn công của máy bay Stuka, đại uý Ilgachkin, một tiểu đoàn trưởng, cùng với binh nhì Repa, tự tạo một khẩu cao xạ của riêng mình. Họ cột một khẩu súng trường chống tăng vào nan hoa của bánh xe ngựa, rồi đến lượt cái này lại gắn lên một cây cọc cao dựng trên mặt đất. Ilgachkin làm những con tính phức tạp dựa trên cơ sở tốc độ đầu nòng của khẩu súng và tốc độ bổ nhào dự báo của máy bay, nhưng dù “chán ngắt và u sầu” Repa vẫn chú tâm nhiều đến những thông số này. Cái thứ vũ khí kỳ cục này của họ, dù vậy cũng có những thành công nhất định, bởi Repa xoay sở để hạ được ba chiếc Stuka.

       Các khẩu đội cao xạ thứ thiệt cũng cải thiện được chiến thuật của họ. Những chiếc Stuka tiếp cận ở độ cao 4,000 đến 5,000 feet, lúc đó chúng lộn vòng và bổ nhào theo góc chừng 70 độ, đó chính là lúc tiếng rú man rợ của nó gào lên. Dưới 2,000 feet họ sẽ thoát ly bổ nhào. Những pháo thủ cao xạ tìm ra rằng, nên dựng một màn hoả lực để bắn trúng chúng vào điểm bắt đầu bổ nhào hoặc điểm thoát ly. Bắn khi đang bổ nhào chỉ tổ phí đạn.

            Một thứ vũ khí khác được tưởng tượng ra bởi Vasily Ivanovich Zaitsev, người sớm nổi danh là tay bắn tỉa ngoại hạng ở Stalingrad. Zaitsev gắn cái ống ngắm bắn tỉa của mình vào một khẩu pháo chống tăng để hạ các ổ đại liên, bằng cách bắn viên đạn đại bác xuyên qua lỗ châu mai của hỏa điểm. Nhưng ông sớm nhận ra rằng liều phóng của những quả đạn đại bác sản xuất
 hàng loạt này không đủ độ chính xác để bắn kiểu đó. Tiếng tăm cũng có thể đến với cả những vũ khí thông thường (không cải tiến – ND).

          Bezdiko, một pháo thủ cối lừng lẫy của sư đoàn Batyuk, nổi tiếng bởi việc bắn đựơc 6 quả một lúc. Những câu chuyện này được khai thác triệt để nhằm gia tăng mức tinh thông vũ khí cho mọi người lính. Câu khẩu hiệu của tập đoàn quân 62 là “Hãy chăm sóc vũ khí cẩn thận như con ngươi của bạn”.Những “vệ binh” đang giữ các toà nhà vững chắc là tâm điểm chiến thuật của Chuikov, bao gồm cả các nữ tải thương, điện báo viên trẻ tuổi, thiếu thốn kinh khủng khi bị cô lập trong nhiều ngày. Họ phải chịu đựng bụi, khói, đói và tệ nhất là khát. Thành phố đã không còn nước sạch kể từ khi trạm bơm bị phá huỷ trong những trận không kích hồi tháng Tám.

        Dẫu biết hậu quả của việc dùng nước bẩn, nhưng vài người lính tuyệt vọng vẫn bắn vào các ống thoát nước để mong có lấy vài giọt.Công tác hậu cần cho các vị trí phía trước luôn là vấn đề. Một chi đội chống tăng, có anh đầu bếp người Tartar, anh đổ đầy trà hoặc súp vào cái phích quân dụng lớn, cột lên lưng rồi bò đến các vị trí tiền tiêu trong lửa đạn. Nếu chẳng may cái phích bị dính đạn hay mảnh bom, thì anh chàng rủi ro nọ sẽ bị ướt đẫm. Và sau đó, khi tuyết rơi dày, thì súp hay trà đó sẽ đông lại và anh ta sẽ “phủ kín trong băng lúc trở về”.

           Với tuyến phân giới không rõ ràng, và chiều sâu phòng ngự không quá vào trăm thước Anh, các sở chỉ huy cũng trong trạng thái nguy hiểm không kém gì các vị trí tiền tiêu. “Đạn đại bác nổ trên nóc hầm chỉ huy là chuyện thường tình” đại tá Timofey Naumovich Vishnevsky, trưởng ban pháo binh Tập đoàn quân 62 viết cho bạn từ một bệnh viện:

         “Khi rời hầm, tôi có thể nghe thấy hoả lực tiểu liên từ mọi phía. Đôi khi tưởng chừng như quân Đức đã bao vây chúng tôi”. Một chiếc tăng phát xít chạy đến đúng ngay lối vào hầm ông và “thân xe chặn mất lối ra”.Vishnevsky và các sỹ quan thuộc cấp phải đào để thoát thân sang một cái rãnh ở phía xa. Vị đại tá bị thương nặng. “Mặt tôi hoàn toàn biến dạng, và hậu quả là từ giờ tôi sẽ có bộ điệu tệ hại trong mắt phụ nữ”, ông viết.

            Các boongke chỉ huy phía Đức thì chỉ có chút ít nguy hiểm trong giai đoạn tháng Chín, tháng Mười, với lớp đất dày 3 feet theo tiêu chuẩn phủ trên xà gỗ, đủ hữu hiệu để chịu được đạn Katiyusha. Hiểm hoạ chính là việc trúng trực tiếp đạn pháo hạng nặng bắn từ bên kia sông Volga. Các chỉ huy cấp trung đoàn, sư đoàn chú ý đến việc thoả mãn các nhu cầu cá nhân càng nhiều càng tốt. Một chiếc máy hát đĩa đặt cạnh một lọ Brandy hoặc rượu mang từ Pháp sang. Vài sỹ quan còn diện cả quần thể thao, hay cả quần sọc tennis, khi xuống những chiếc hầm tối tăm, nặng nề của họ, bởi những bộ đồ trận nhiễm đầy chấy rận.

             Nhưng thật trái ngược với thế giới của những người lính chiến. Thay cho câu chúc “Ngủ ngon”, họ cầu cho nhau một đêm “yên tĩnh” vì những giờ khắc nguy hiểm đó. Và rồi trong buổi sáng giá lạnh, họ duỗi những khớp chi cứng đờ, tìm một vạt nắng nơi cuối chiến hào cố hấp thụ những luồng ánh sáng, như những chú thằn lằn. Cảm thấy dũng cảm hơn vào ban ngày, lính Đức gào lên lăng mạ và đe doạ từ tuyến của họ: “Bọn Nga! Chúng mày tận số rồi!” hoặc “Hei, Rus, bul-bul, sdavaisa”, nói theo dạng tiếng bồi của câu “Đầu hàng đi hoặc chúng mày sẽ bị thổi tung như bong bóng!”. Ý niệm về việc dồn quân Soviet xuống dòng Volga để họ bị chết chìm như một bầy cừu hoảng loạn, đã trở thành một điệp khúc bất tận.

           Trong những phút mặt trận tạm yên, những người lính Nga cũng tìm những chỗ nắng, ngoài tầm hoả lực bắn tỉa của quân thù. Những chiến hào đôi khi trông như một “xí nghiệp hàn gò”, những vỏ đại bác được chế làm đèn dầu với một mảnh giẻ thay tim đèn, và những vỏ đạn làm bật lửa.

           Khẩu phần thuốc lá thô Makhorka, hoặc việc thiếu thốn nó, luôn là mối quan tâm hàng đầu. Những người thành thạo tuyên bố rằng không có loại giấy nào có thể được dùng để cuốn thuốc Makhorka thành những điếu xì gà bự, xù xì tốt bằng giấy báo. Vì mực in trong đó sẽ góp cho hương vị đậm đà. Lính Nga hút liên tục khi chiến đấu. “Được phép hút khi đánh nhau mà” một lính chống tăng nói với Simonov “chỉ là không được phép trật mục tiêu thôi. Chỉ cần trật một lần là vĩnh viễn không đốt thuốc được”

          Có thứ còn quan trọng hơn cả thuốc lá, chính là khẩu phần vodka, theo lý thuyết là 100 gam một ngày. Khi vodka đựơc cấp phát, mọi người chìm vào sự yên lặng, dán mắt vào chiếc chai. Khi cuộc chiến trở nên căng thẳng thì khẩu phần vodka đó không bao giờ được coi là đủ, và thế là những người lính sẵn sàng liều lĩnh để thoả mãn nhu cầu. Cồn y tế hiếm khi được dùng theo công dụng chính thức của nó. Cồn công nghiệp và cả chất chống đông lạnh, cũng được uống sau khi cho qua một lớp lọc bằng carbon hoạt tính lấy từ mặt nạ phòng độc. Nhiều người đã vứt bỏ mặt nạ phòng độc sau cuộc rút lui năm ngoái, và thế là những ai còn giữ được tha hồ mặc cả. Thật ra, hậu quả (của loại thức uống trên – ND) còn tệ hại hơn nhiều chứ không chỉ là những cơn nhức đầu. Hầu hết qua đựơc là nhờ vào sức trai khoẻ mạnh và nếu không cố dùng nhiều, nhưng những ai uống thường xuyên sẽ bị mù.

         Với những đơn vị đóng ngoài thảo nguyên, quân lính thường uống đến cả lít rượu một ngày trong tiết đông giá. Để cân đối với khẩu phần chính thức, chúng được che đậy bằng những báo cáo sai về số thương vong và phân phối, hoặc qua việc trao đổi quân phục rách cùng một ít trang bị cho dân ở sau vùng hoả tuyến. Bia nhà tự ủ cũng có cách ra thảo nguyên Kan-mức bao gồm cả “mọi loại cồn có thể nghĩ ra, ngay cả thứ làm từ sữa”.

          Những cuộc thương mại kiểu đó mang lại nhiều hiểm hoạ cho thường dân hơn là binh lính. Một “toà án quân sự của lực lượng NKVD” đã tuyên án hai người phụ nữ, 10 năm mỗi người trong trại cải tạo Gulag vì việc đã đổi rượu và thuốc lá lấy vải dù để may đồ lót.Trong Hồng quân, với các vị tư lệnh, bộ phận y tế hiếm khi được quan tâm như một ưu tiên hàng đầu. Khi một người lính bị thương nặng và loại khỏi vòng chiến, các sỹ quan cao cấp chỉ bận tâm tới việc ai thay thế anh ta. Tuy vậy, quan điểm này không ngăn chặn được những hình ảnh anh dũng nhất trên chiến trường Stalingrad, đó chính là những lính tải thương, chủ yếu là nữ sinh (hoặc sinh viên) hầu hết vốn chỉ qua một khoá sơ cứu cơ bản.

         Đại đội trưởng của một đại đội quân y thuộc tập đoàn quân 62, Zinaida Gavrielova, là một sinh viên y khoa chỉ mới 18 tuổi, cô nhận vị trí này dựa theo lời đề nghị mạnh mẽ từ một trung đoàn kỵ binh mà cô vừa phục vụ ở đó. Các lính tải thương của cô, chỉ có một ít là lớn tuổi hơn, đã chiếm lĩnh vị trí, bò lên phía trước dưới làn hoả lực dày đặc để đến với các thương binh. Rồi họ kéo thương binh trở lui cho đến chỗ an toàn để có thể vác lên trên lưng. Họ hẳn phải có cả “thể chất và thần kinh bằng thép” như vị chỉ huy của họ.Không có nghi ngờ về việc tham gia của cánh quân y cho các hoạt động chiến đấu.

         Cô gái Gulya Koroleva xinh đẹp, hai mươi tuổi, xuất thân từ một gia đình nhà văn có tiếng tăm ở Moscow, cô đã để lại đứa con trai bé bỏng ở thủ đô và tình nguyện ra trận làm y tá. Phục vụ trong sư đoàn bộ binh số 214 thuộc tập đoàn quân số 24 ở cánh bắc mặt trận, cô được ghi nhận thành tích là đã “tải về được hơn một trăm thương binh từ trận địa và đã tự tay giết được mười lăm tên phát xít”. Cô được truy tặng huân chương Cờ đỏ.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 04:09:21 PM »

            Natalya Kachnevskaya, một y tá trong một trung đoàn bộ binh Cận vệ, nguyên là một sinh viên kịch nghệ ở Moscow, đã cứu được về tuyến sau 20 thương binh chỉ trong một ngày và đã “ném ba quả lựu đạn về phía quân thù”. Sở chỉ huy Phương diện quân Stalingrad cũng đã tuyên dương (và truy tặng) cho lòng dũng cảm cho một nữ tải thương khác, cô Kochnevskaya, người đã tình nguyện ra trận và mang được hai mươi thương binh ra khỏi trận địa. Dù bị thương hai lần, cô vẫn cố băng bó và đưa các sỹ quan, binh lính về phía sau (1)

           Sự hy sinh của các nữ tải thương thường bị lãng phí bởi cách xử lý ở những khâu công việc sau phần của họ. Những thương binh được cõng hoặc kéo ra đến tận cạnh mép nước dòng Volga và ở lại đó mà không được chăm sóc chút gì, mãi cho đến lúc, rất lâu sau khi trời đổ tối, mới được vác bỏ lên những chiếc thuyền vận tải như những bao tải khoai để trở về tuyến sau. Và khi những thương binh đó được đưa xuống ở bờ đông, tình hình còn tệ hơn, như một nữ phi công nhận thấy.

          Những người sống sót của một trung đoàn không quân tan tác, ngủ quên trong một khu rừng phía đông dòng Volga, và lúc bình minh họ bị đánh thức bởi những âm thanh lạ. Vì khó hiểu, nêu họ bò qua những lùm cây, hướng về phía dòng sông để thám thính. Ở đó, họ thấy “hàng ngàn thương binh, nằm tràn tầm mắt’ được chuyển qua sông trong đêm, nằm trên bãi cát. Những người bị thương gọi xin nước hoặc “hét, khóc, mất chân, tay”. Những nhân viên mặt đất đó cố giúp bằng tất cả sức mình.

         Cựu nữ hộ sinh, Klavdia Sterman, đã thề rằng, ngay khi họ về đến được Moscow, cô sẽ xin chuyển sang một đơn vị quân y tiền phương.Và cho dù có đến được một trong những trạm phẫu tiền phương ở phía bờ đông sông Volga thì việc sống sót được hay không cũng chưa thể nói đảm bảo. Bất kể đến sự hiện diện của vài bác sỹ tốt nhất nước Nga, điều kiện của các trạm phẫu Hồng quân làm chúng trông giống như những xí nghiệp mổ thịt.

          Ở trạm phẫu tiền phương tại Balshchov, nơi đặc trị các vấn đề về chân, tay, cách thành phố chừng 6 dặm, tình trạng thiết bị rất tệ hại. Thay cho giường chuyên dụng ở bệnh viện là các giường 3 tầng kiểu trên xe lửa. Một nữ phẫu thuật viên trẻ, cán bộ mới, chị lo lắng không chỉ về tình trạng thể chất của thương binh. “Họ thường khép kín và không muốn quan hệ với bất cứ ai”. Đầu tiên, chị lo là những thương binh được mang về qua bên này sông Volga từ cái địa ngục Stalingrad không bao giờ muốn quay trở lại. ‘Nhưng ngược lại: rõ ràng là cả sỹ quan lẫn binh lính đều muốn quay trợ lại mặt trận’. Những thương binh mất chân tay khăng khăng thể hiện rằng không có vấn đề gì với những phần thân thể đã mất cho việc chiến đấu. Nhưng thực tế là hầu hết họ đã mất khả năng hoặc bị thành sẹo vĩnh viễn như trường hợp vị đại tá pháo binh đã nhắc tới bên trên, khuôn mặt ông bị rạch ngang dọc bởi mảnh đạn và ông cảm thấy mình không còn là đàn ông đúng nghĩa nữa.

            Khẩu phần ăn tệ hại không giúp được chút nào cho việc hồi phục thể xác hay tinh thần. Nhà văn Grossman, trong tình trạng xúc động, rõ ràng là đã thừa nhận rằng đây là thời khắc định mệnh của nước Nga. Ông ghi trong sổ tay: ‘Trong bệnh viện, thương binh được cấp một mẩu cá trích muối bé tý vốn được các nữ hộ lý cắt ra một cách cẩn thận. Thật bần hàn’. Trong những ngày ấy, với những gì diễn ra trước mắt, ông không thể tin rằng đó là sự thật.

             Cái logic Soviet tàn nhẫn đã chỉ ra rằng những thực phẩm hạng nhất thì dùng cho những người đang chiến đấu. Còn với thương binh, nếu họ may mắn, sẽ được nhận ba suất kasha, hoặc cháo kiều mạch mỗi ngày, không hơn. Mẫu cá trích muối mà Grossman thấy thật ra là một khẩu phần chiêu đãi bất thường.

             Một gợi ý rõ ràng hơn cho thấy thực trạng của vấn đề tinh thần bao trùm lên các đơn vị quân y ở phương diện quân Stalingrad, đó là kết quả của ‘Cuộc thi đua Xã hội Chủ nghĩa’ đựơc báo về Moscow cho Shcherbakov. Trong đó, cánh hậu cần chiếm vị trí cao nhất, thứ nhì là bác
sỹ và thứ ba là tài xế. Với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì cách hành sử này là sự hạ nhục đến cùng cực sự hy sinh chân thật của các nhân viên y tế, những người đã hiến rất nhiều máu mình để truyền cho thương binh – đôi khi là hai lần trong chỉ một đêm – đến mức suy kiệt. Một báo cáo giải thích ‘Nếu họ không cho máu, thương binh sẽ chết’

           Trong trận đánh tiêu hao vĩ đại này, việc đưa những thương binh về phía bờ đông phải được cân bằng với những “miếng mồi cho đại bác” mới tinh, đựơc đưa theo hướng ngược lại, vào thành phố. Bộ Tổng tư lệnh tối cao tăng viện nhỏ giọt cho tập đoàn quân 62 vài sư đoàn lúc mà những đơn vị tiền nhiệm bị bắn rã thành từng mảnh.
             Những tiểu đoàn mới hành quân lên phía trước để xuống tàu vào lúc chập tối dưới sự quan sát của NKVD. Họ chỉ có thể liếc nhìn thành phố ở phía bên kia đường chân trời, sáng rực bởi các đám cháy và cố quên đi mùi khét nồng nặc. Rải rác trên sông vẫn còn những đám dầu cháy. Và cũng có rất nhiều đội NKVD trên hầu hết các con thuyền, sẵn sàng bắn vào những ai nhảy qua mạn thuyền trong nỗ lực sau cùng nhằm tránh định mệnh của họ bên bờ Tây. Đạn đại bác quân Đức nổ vang ở phía trước, trên dòng sông, đủ làm nhiều người thất thần. Nếu có ai đó hoảng loạn, thì một thượng sỹ hoặc một sỹ quan có thể bắn người phạm tội đó, ngay tại chỗ rồi vứt xác qua một bên.

          Những chiếc thuyền mà họ vừa lên mang đầy đủ các dấu hiệu của một cuộc vượt sông nguy hiểm. Một trong những thuyền cứu hỏa, được cải tạo lại thành chiến thuyền thuộc giang đội Volga đã kể rằng, sau một chuyến đi qua và về, họ có đến 436 vết đạn và đại bác bắn trúng, chỉ có vài chỗ là không bị gì.

           Mục tiêu dễ dàng nhất cho đại bác quân Đức là những chiếc bè được các trung đoàn công binh dùng để đưa các thứ đồ nặng như kèo chống hầm, qua sông. Khi một trong những chiếc bè đó dạt vào được bờ tây, và anh em binh lính nhảy ra để giúp tải hàng lên, họ thấy một trung uý công binh cùng ba binh sỹ bị đạn đại liên bắn thủng lỗ chỗ ‘trông như bị một hàm răng bằng sắt cắn xé dã man cả thi thể họ lẫn những xúc gỗ ướt đẫm của chiếc bè’.

             Sở chỉ huy Tập đoàn quân số VI (Đức) biết rằng mùa đông đang đến gần, và không thể phí phạm thời gian nữa. Ngay cả trước khi chiếm được quảng trường Đỏ và tháp Lương thực ở phía nam Tsaritsa, họ đã bắt đầu chuẩn bị cho việc đánh gục được khu công nghiệp ở nửa phía bắc của thành phố.Tướng Chuikov cho chuyển sở chỉ huy của mình lên bờ sông Volga, cách chừng nửa dặm về phía bắc xí nghiệp̣ Tháng Mười Đỏ trong sáng ngày 18 tháng Chín. Nhưng các sỹ quan tham mưu của ông, vẫn chọn một vị trí không được bảo vệ, nằm ngay dưới các bồn dầu khổng lồ mà họ cho rằng đã được hút cạn.

             Một nỗ lực to lớn để mang nhiều đạn dược, đồ hậu cần cũng như quân tăng viện hơn trong đêm, đã cập vào bờ sông ngay sau xưởng Barrikady và xí nghiệp Tháng Mười Đỏ. Những người không cần thiết và có thể hữu dụng ở nơi khác hơn được sơ tán đi. Hầu hết những khẩu đội phòng không quanh nhà máy điện Stalingrad bị loại khỏi vòng chiến và kho đạn dã chiến của họ cũng bị phá huỷ, nên những cô gái trẻ của những khẩu đội còn sống sót được rút qua bên kia sông Volga trong ngày 25 tháng Chín, và được tái bố trí lại trong các khẩu đội pháo ở bờ Đông.

          Sáu giờ (giờ Đức) sáng Chủ Nhật, ngày 27 tháng 9, cuộc tấn công mở màng bằng một trận đánh bom dày đặc từ những phi đội Stuka. Từng chiếc một liệng xuống, lao vào công kích với những tiếng hú ghê rợn, những chiếc cánh bắt bóng mờ mờ trong ánh bình minh mùa thu. Trên mặt đất, tổng cộng hai sư đoàn xe tăng cùng năm sư đoàn bộ binh tiến lên nhằm tiêu diệt một mấu lòi chính hình tam giác chọc ra về hướng tây từ bờ sông Volga.

           Tập đoàn quân 62 đã dự báo được vị trí đột phá chính của quân Đức, phía bắc đồi Mamaev Kurgan, cùng vài điểm tấn công phụ trợ về phía nam. Điều này dường như củng cố cho mối nghi ngờ thái quá của các sỹ quan tham mưu Đức, rằng lính thông tin Nga đã lẻn vào được vào
hậu phương và nghe lén đường dây liên lạc cố định. Họ không thể chấp nhận rằng những biện pháp chuẩn bị cho cuộc tấn công này là quá lộ liễu.
           Nỗ lực chính của bên Sô viết là chuẩn bị các chướng ngại vật chống tăng và những bãi mìn dày đặc trước các nhà máy lớn vốn kéo dài từ phía bắc đồi Mamaev Kurgan chừng năm dặm – nhà máy hoá chất Lazur, xí nghiệp Tháng Mười đỏ, xưởng vũ khí Barrikady và nhà máy máy kéo Stalingrad.

             Những người lính bộ binh Đức, trang bị nặng nề, bắt đầu chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công dưới làn đạn pháo, lên và xuống theo bờ balkas và đến những con dốc đầy đá, gạch vụn. Họ thở không ra hơi vì gắng sức và cũng vì nỗi sợ chết chóc của trận đánh phía trước. Ở cánh trái, một phần của sư đoàn bộ binh 389 chuẩn bị tấn công vào khu nhà tập thể công nhân xưởng Barrikady. Một quan sát viên mô tả chúng như là “những khối cân xứng các toà nhà và những ngôi nhà nhỏ với mái tôn lấp lánh”. Trận dội bom sẽ sớm làm chúng bốc cháy. Ở giữa, sư đoàn tăng số 24 tiến công từ một phi trường nhỏ. Sư đoàn Áo số 100 đánh vào khu vực xí nghiệp Tháng Mười đỏ.

          Trong khi đó, căn cứ của cánh này, đỉnh đồi Mamaev Kurgan, đã bị chiếm từ tay sư đoàn bộ binh số 95 (Nga) của Gorishny, vốn bị băm vụn bởi không kích và pháo kích. Hồng Quân, một lần nữa, cho thấy sự không khoan nhượng ngay với cả thường dân của họ. Trong trận đánh ở khu vực xưởng Barrikady, một trung sỹ trong sư đoàn bộ binh 389 (nguyên là trung sỹ cảnh sát ở Darmstadt) quan sát thấy “phụ nữ Nga chạy ra khỏi các ngôi nhà với đồ đạc của họ và cố tìm cách nương tựa ở phía quân Đức, nhưng đã bị hạ gục bằng hoả lực súng máy của quân Nga từ phía sau”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 04:12:02 PM »

          Cuộc tấn công của quân thù dữ dội đến mức tướng Chuikov đã tự nói với chính mình: “Chỉ một trận như vậy nữa là chúng ta sẽ rớt xuống sông Volga”. Một lát sau, Khrushchev gọi từ sở chỉ huy phương diện quân đến để chắc rằng tinh thần vẫn được giữ vững. Chuikov trả lời, cho rằng không lo lắng về số phận của sư đoàn bộ binh 95 ở đồi Mamaev, mà mối bận tâm chính là về sức mạnh của không quân Đức. Khrushchev cũng nói chuyện với Gurov, chính uỷ tập đoàn quân, thúc giục ông có những quyết tâm lớn hơn.

         Sáng hôm sau, thứ Hai, ngày 28 tháng 9, không quân Đức tập trung đánh phá vùng bờ tây và việc chuyển vận trên sông Volga nhằm cắt đứt tuyến hậu cần huyết mạch của tập đoàn quân 62. Những khẩu đội phòng không của giang đội Volga bắn nhiều đến nỗi rãnh xoắn của nòng pháo nhanh chóng mòn vẹt đi. Năm trong số sáu chiếc thuyền vận tải bị hư hại nghiêm trọng. Tướng Chuikov khẩn cầu được hỗ trợ tốt hơn từ Tập đoàn quân không quân số 8, nhằm kéo không quân Đức ra khi ông ném thêm những trung đoàn vào trận cận chiến để tái chiếm đỉnh đồi Mamaev. Họ đã đẩy lùi được quân Đức, nhưng đỉnh đồi lại trở thành đường phân tuyến giữa hai bên. Nhiệm vụ sống còn của tướng Chuikov là ngăn không cho quân Đức thiết lập được trận địa pháo (tại đây), mà từ đó có thể khống chế được cả bắc Stalingrad lẫn việc vượt sông.

          Đêm ấy, Chuikov và ban tham mưu của ông có thể cảm thấy được khuây khoả chút đỉnh bởi những gì tồi tệ nhất đã qua đi, nhưng họ hiểu rằng thiệt hại của tuyến vận tải đường thuỷ là nghiêm trọng. Hàng ngàn thương binh bằng bên bờ sông mà không được tải đi, và lực lượng tiền phương lại gần cạn đạn dược cũng như lương thực.

          Thứ ba, ngày 29 tháng 9, quân Đức lại tấn công vào đỉnh của tam giác vùng đất còn lại phía Soviet. Làng Orlovka bị đánh từ phía tây bởi một bộ phận của sư đoàn bộ binh 389, và từ phía đông bắc bởi sư đoàn bộ binh mô tô hoá số 60. Sự kháng cự của quân Soviết vốn bị vượt trội về lực lượng dữ dội đến nỗi một hạ sỹ trong sư đoàn 389 viết thư về nhà rằng: “Mọi người không thể tưởng tượng ra chúng phòng thủ Stalingrad như thế nào đâu – như một đàn chó dữ”.

          Những tập đoàn quân Sô viết ở phía bắc lần nữa lại tấn công vào quân đoàn xe tăng số XIV trong ngày 30 tháng 9. Sư đoàn bộ binh mô tô hóasố 60 và sư đoàn xe tăng 16 ở giữa họ, tuyên bố đã hạ được 62 chiếc tăng trong một cuộc “phòng ngự thành công” chống lại ít nhất hai sư đoàn bộ binh và ba lữ đoàn xe tăng Nga. Cuộc tấn công bị tổn hại trầm trọng của Phương diện quân Sông Đôn tuy không giải toả được nhiều áp lực cho làng Orlovka hay khu vực các nhà máy, nhưng cũng làm chậm lại tiến trình giải quyết mấu lồi Orlovka, việc này rốt cuộc làm quân Đức phải mất đến gần 10 ngày.

           Sư đoàn xe tăng 24, phần lớn sư đoàn bộ binh 389 và sư đoàn Jager 100 tấn công về phía xí nghiệp Tháng Mười Đỏ và xưởng pháo binh Barrikady – “bối rối bởi trạng thái phức tạp ở khu vực nhà máy bị huỷ hoại hoàn toàn”, như một binh sỹ Jager mô tả khu phức hợp này, ở đây hầu hết các cửa sổ và mái bị chém vụn bởi các trận bom, cùng những cổ máy rỉ sét vặn vẹo không nhận ra hình dạng. “Ngay khi những đồng đội đầu tiên ngã xuống. Tiếng la hét của cánh tải thương vang lên. Hoả lực thật là dữ dội, nhưng không phải chỉ đến từ phía trước mặt mà hầu như đến từ cả hai phía”.

          Đạn pháo, cối Nga nổ tung gây thương vong nặng nề một phần đá vụn từ đống đổ nát rất bén ngọt.Ngày kế tiếp, để tăng tốc cho mũi tấn công vào khu phức hợp xí nghiệp Tháng Mười Đỏ, tướng Paulus lịnh cho sư đoàn bộ binh 94 và sư đoàn xe tăng 14 ngược lên từ khu phía nam thành phố.

          Về phía Nga, Tập đoàn quân 62 bị sức ép nặng nề cũng nhận được chút ít viện binh khi tướng Stephan Guriev của sư đoàn bộ binh cận vệ 39 qua sông Volga. Lực lượng này được gửi ngay đến hỗ trợ cho cánh phải của xí nghiệp Tháng Mười Đỏ. Một sư đoàn mới khác, sư bộ binh 308 của đại tá Gurtiev, đơn vị thứ hai với binh lính chủ yếu là người Siberi, cũng bắt đầu vượt sông Volga, nhưng những đơn vị tăng viện này chỉ vừa đủ thế cho những tổn thất vừa qua.

          Tướng Chuikov ngay sau đó lại đối mặt với một mối nguy không lường trước. Ngày 1 tháng 10, sư đoàn bộ binh 295 thâm nhập được xuống một khe núi ở cánh phải quân Rodimtsev. Lính cận vệ của ông phản kích ác liệt, chặn đánh chúng trong các trận cận chiến với súng tiểu liên và lựu đạn. Nhưng trong đêm, một nhóm lớn bộ binh Đức trèo theo rãnh nước chính chạy xuống theo hẻm núi Krutoy và đến được bờ sông Volga. Họ ngoặc xuống phía nam và tấn công vào phía sau sư đoàn Rodimtsev. Cuộc đột kích này diễn ra đồng thời với một xung phong khác ở cánh phải. Tướng Rodimtsev phản ứng nhanh chóng, ông tung tất cả các đại đội dự bị vào cuộc phản công không được chuẩn bị trước và tình hình được phục hồi.

           Ngày 2 tháng 10, quân Đức tiến đánh những bồn chứa dầu ở bờ sông, ngay bên trên sở chỉ huy của Chuikov. Những chiếc bồn đó không hoàn toàn trống rỗng. Bị đạn đại bác và bom đánh trúng, chúng bốc cháy. Dầu cháy tràn xuống đồi, vây quanh sở chỉ huy và chảy xuống dòng sông. Chỉ còn liên lạc được qua sóng vô tuyến. “Các anh ở đâu vậy?” sở chỉ huy Phương diện quân Stalingrad gửi tín hiệu hỏi liên tục. Rốt cuộc nhận được hồi đáp ”Chúng tôi ở chỗ nhiều khói và lửa nhất”

          Trong suốt tuần đầu tháng Mười, tướng Chuikov rõ ràng bắt đầu lo ngại rằng liệu họ có thể giữ vững nổi dãy đất đang hẹp đi rất nhanh bên bờ sông hay không. Mọi thứ phụ thuộc vào việc vượt sông Volga.

          Ông biết rằng những trung đoàn bầm dập của mình gây được tổn thất nghiêm trọng cho quân Đức, nhưng kết quả trận đánh phụ thuộc vào tinh thần cũng như nguồn lực. Họ không có nhiều lựa chọn, nhưng trung thành với câu khẩu hiệu của tập đoàn quân 62 “Với những người bảo vệ Stalingrad, không còn đất ở bên kia sông Volga”. Nó thật sự trở thành một lời thề thiêng liêng với nhiều người lính. Một trong những hành động dũng cảm nổi tiếng nhất trong thời gian này diễn ra ở phía nam quận nhà máy, khi xe tăng Đức tiến đánh một vị trí phòng ngự trong đống đổ nát của một ngôi trường bởi một phân đội lính thuỷ đánh bộ phối thuộc sư đoàn 193. Họ cạn sạch lựu đạn chống tăng, nhưng lính thuỷ quân Mikhail Panikako còn được hai chai bom xăng. Ngay khi anh rướn người để ném chai thứ nhất, một viên đạn Đức bắn vỡ nó trong tay anh, cả người anh bùng cháy. Nhưng anh vẫn lao qua những mét cuối cùng, ném người vào một bên chiếc xe tăng, đút chiếc chai cháy còn lại trong quầng lửa đỏ vào khoan động cơ sau tháp pháo.

            Các chỉ huy quân Đức cũng được cảnh báo. Binh lính của họ kiệt sức và tinh thần sút giảm. Ví dụ như, quân của sư đoàn bộ binh 389, không che đậy niềm ao ước được gửi về lại nước Pháp, do bị thương vong nặng nề. Nghĩa địa quân Đức phía sau chiến tuyến phình to từng ngày. Những ai nghe thấy bài diễn văn của Hitler vào ngày 30 tháng Chín từ sân Berliner Sportpalast đã không phấn khích lên nổi trước những lời khoác lác của ông ta rằng sức mạnh của Đồng Minh không thể so được với thành tựu của nước Đức, mà trên tất cả, chính là cuộc tiến quân từ sông Đôn đến sông Volga. Một lần nữa, sau khi ném ra lời thách thức đối diện với số mệnh, Hitler khăng khăng rằng “không ai thay nổi chúng ta từ vị trí này”.


---------------------------


         (1) Thành viên của một kíp tăng, Yekaterina Petlyuk, là một trong số rất ít những phụ nữ phục vụ với tư cách lính chiến trong thành phố. Nhưng trong những đơn vị không quân hỗ trợ cho mặt trận Stalingrad, lại có cả một trung đoàn máy bay ném bom nữ, do phi công nổi tiếng Marina Raskova lãnh đạo. “Trước đây, tôi chưa từng giáp mặt em” Simonov viết trong nhật ký của ông sau buổi gặp cô ấy ở phi trường Kamyshin “ nên tôi không thể tin nổi rằng em quá trẻ và quá đẹp như thế. Có lẽ tôi nhớ như in việc này bởi ngay sau đó tôi được tin em hi sinh”
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:20:47 PM »

                                                                                                XI

                                                                                          PHẢN BỘI VÀ ĐỒNG MINH


          “Chúng tôi, những người Nga, đã chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc chiến ở Stalingrad” một cựu sỹ quan nói “Trên tất cả, chúng tôi không ảo tưởng chút nào về mức thiệt hại, và chúng tôi sẵn sàng cho điều đó”.

           Sự thật trọn vẹn có thể nói rằng chính quyền Sô viết và có lẽ là phần lớn binh lính đã có chút ít ảo tưởng. Đây không phải là sự xúc phạm đến lòng dũng cảm của họ –  nhỡ nếu có, thì cũng chỉ để khẳng định thêm – mà để ghi nhận về một thiểu số đã không hoặc không thể trụ vững trước sự căng thẳng kinh khủng của trận chiến này.

           Nhà cầm quyền Sô viết rất khắc nghiệt. “Trong thành phố rực lửa” tướng Chuikov viết: “Chúng tôi không dung thứ cho những kẻ hèn nhát, không có chỗ cho chúng”. Binh lính và dân chúng đều như nhau, được cảnh báo bởi Stalin trích từ lời dạy của Lenin “Những ai không giúp đỡ Hồng quân, không tuân lệnh, vô kỷ luật, là bọn phản bội và chúng phải bị trừng trị không thương tiếc”. Tất cả “tính đa cảm” bị dẹp bỏ. Cuộc chiến tranh tổng lực luôn đi kèm với  những sai sót trong luật quân sự, tỷ như việc lính tiền đồn bị sát thương bởi chính pháo và bom của phe mình.

          Khó khăn đầu tiên là việc thiết lập kỷ luật sắt. Mãi đến ngày 8 tháng 10, phòng chính trị Phương diện quân Stalingrad mới có thể báo cáo về Moscow rằng “tâm lý chủ bại gần như đã bị loại trừ và số lượng các vụ phản nghịch cũng thấp đi”. Chế độ Sôviết gần như không tha thứ cho lính của mình ngang bằng với quân địch, nó được minh chứng với con số 13,500 cuộc hành quyết, tính cả được xét xử hay không, trong suốt trận chiến Stalingrad. Nó bao gồm tất cả tội lỗi được các chính trị viên xếp vào dạng “vụ việc đặc biệt”, từ rút lui không theo lệnh đến tự-thương, đào ngũ, chạy qua phía địch, và các hành vi chống phá chính quyền Sôviết. Lính Hồng quân cũng thấy có lỗi nếu họ không bắn ngay tức khắc những đồng đội có vẻ cố đào ngũ hoặc đầu hàng quân địch. Có một trường hợp vào cuối tháng Chín, khi một nhóm quân Sôviết đầu hàng, xe tăng quân Đức phải chạy lên nhanh chóng để bảo vệ họ khỏi bị bắn hạ từ tuyến quân Nga.

           Những đơn vị yếu kém nhất của tướng Chuikov chính là các lữ đoàn dân quân đặc biệt, được tổ chức từ những công nhân thuộc các nhà máy phía bắc Stalingrad. Những nhóm đoàn viên thanh niên Komsomol tình nguyện hoặc các phân đội NKVD trang bị tốt, được bố trí ở phía sau họ để ngăn việc rút chạy. Các chính trị viên của họ trong áo jacket da đen và khẩu súng ngắn làm gợi nhớ đến hình ảnh cây bút Konstantin Simonov của Cận vệ Đỏ năm 1918.

         Trong trường hợp của lữ đoàn đặc biệt số 124, khi đối mặt với sư đoàn xe tăng 16 tại Rynok, chính các nhóm chặn hậu ở tuyến sau đã buộc những người bị mất tinh thần đào thoát sang phía địch. Dobronin báo cáo cho Khrushchev rằng, ngày 25 tháng 9, một nhóm 10 kẻ đào ngũ, trong đó có 2 NCO, đã chạy sang phía địch. Đêm hôm sau, lại có thêm chín tên lẻn qua. Theo báo cáo phía quân Đức trong cụôc thẩm vấn nhóm đầu, thì đại đội của họ chỉ còn có 55 người. “Từ sau cuộc tấn công cuối vào ngày 18 tháng 9 và bị thiệt hại nặng, họ không được giao thêm nhiệm vụ nào cả. Bố trí sau tuyến một là tuyến của các đoàn viên Kosomol và đảng viên Đảng Cộng Sản, vũ trang bằng súng máy và súng ngắn”

         Một thượng uý Sôviết, người Smolensk lại đảo ngũ vì một lý do khác. Anh ta bị bắt trong một trận chiến ở vòng cung sông Đôn vào tháng Tám, nhưng ngay sau đó đã xoay sở để thoát khỏi sự canh giữ của quân Đức. Khi anh ta đến trình diện lại với Hồng quân, “anh ta đã bị bắt theo một lệnh của Stalin, và đối xử như một kẻ đào ngũ”, rồi bị gửi vào đại đội trừng giới trong khu vực của Lữ đoàn đặc biệt 149.

          Những kẻ khác đào ngũ với những lý do làm phía Đức sa vào trạng thái lạc quan sai lầm. “Tinh thần quân Nga thật sự kém” một NCO thuộc sư đoàn bộ binh 79 viết về nhà “Hầu hết bọn đảo ngũ đến với chúng tôi vì đói kém. Có khả năng rằng bọn Nga sẽ bị nạn đói trong mùa đông này”

         Những hồ sơ Sôviết thể hiện cho thấy một thoả hiệp lớn về mặt tâm lý trong thời gian này. Khi có ba người lính đào ngũ khỏi trung đoàn bộ binh dự bị số 178, một trung uý đã được lệnh đi tóm ba người nào đó khác, bất kể là lính hay thường dân để thay vào chỗ bị khuyết. Nhiều, nếu không nói là hầu hết những người đào ngũ thuộc những nhóm thường dân bị bắt vào cho đủ số lượng này. Ví dụ, đa số của 93 lính đào ngũ thuộc sư đoàn Bộ binh Cận vệ 15 là “công dân Stalingrad tản cư đến Krasnoarmeysk”. “Những người này hoàn toàn chưa được huấn luyện và một số họ còn không có quân phục. Vì huy động một cách hấp tấp nên chứng minh thư của nhiều người không kịp mang theo”. Điều này, trong báo cáo về cho Moscow là một sai lầm lớn. “Che phủ trong bộ áo thường dân và có chứng minh thư, chúng sẽ dễ dàng xoay sở để qua sông Volga. Cần và khẩn cấp thu hồi chứng minh thư của tất cả binh sỹ”

           Cánh chính trị viên bị điên tiết vì tin đồn rằng quân Đức cho phép những người Nga, người Ucraina đào ngũ được trở về nhà nếu họ sống ở vùng tạm chiếm. “Việc ít học tập chính trị đã bị lợi dụng bởi phản gián Đức, chúng tung tin thất thiệt để lung lạc những binh sỹ đang dao động đào ngũ, đặc biệt với những ai có gia đình bị kẹt lại trong vùng địch tạm chiếm”. Những người chạy thoát được đà tiến của quân Đức đã không có được chút thông tin nào về số phận của gia đình, nhà cửa của họ.

             Thỉnh thoảng, những kẻ đào ngũ bị hành quyết trước sự chứng kiến của đôi trăm đồng đội trong sư đoàn. Tuy nhiên, thông thường hơn, kẻ tử tội bị một tổ vệ binh NKVD dẫn đi đến một vị trí thích hợp ngay trước chiến hào tiền duyên. Ở đó, hắn được bảo cởi bỏ quần áo, vì quân phục và ủng có thể được sử dụng lại. Nhưng ngay cả cái nhiệm vụ dễ dàng này không phải lúc nào cũng đúng theo kế hoạch. Sau một cuộc hành quyết ở sư đoàn bộ binh 45, một lính tải thương nào đó nhận thấy kẻ tử tội vẫn còn mạch. Anh ta muốn kêu giúp đỡ, nhưng khi đó một trận pháo kích của quân thù bắt đầu dội tới. Người lính bị tử hình nhỏm lên, đứng dậy, lảo đảo đi về tuyến quân Đức. “Không thể biết hắn còn sống hay đã chết” báo cáo về Moscow như thế.

          Hẳn bộ phận đặc biệt của sư đoàn bộ binh 45 có những nhà thiện xạ “khác thường”; sự thật là mọi người tự hỏi: phải chăng họ có được dũng khí để thi hành công việc của họ là nhờ vào khẩu phẩn vodka bổ sung. Trong một trường hợp khác, họ được lệnh xử tử một người lính đã tự-thương. Anh ta bị lột quân phục như thường lệ, bắn và ném xác xuống một hố đạn đại bác. Ném vài xẻng đất lên thi thể đó, đội bắn trở về lại sở chỉ huy sư đoàn. Hai tiếng sau, người lính được cho là đã bị xử tử, máu và bùn bám đầy đồ lót, lảo đảo trở về tiểu đoàn của anh ta. Và đội hành quyết đó được gọi lại lần nữa để bắn anh ta.

         Trong nhiều trường hợp, chính quyền địa phương của kẻ đào ngũ cũng được thông báo. Và gia đình hắn, khi đó, cũng bị trừng phạt bổ sung theo mệnh lệnh số 270, mà thường là cảnh cáo. Cánh chính trị viên và sỹ quan các đơn vị đặc biệt ở phương diện quân Stalingrad, thấy việc phạt người thân là một biện pháp tốt cho việc ngăn chặn những kẻ khác, vốn đang dao động, bỏ chạy.

         Các đơn vị NKVD, khi thẩm vấn các ca đào ngũ, chắc chắn đã tạo áp lực mạnh lên kẻ tình nghi để tố cáo những người khác. Một lính mới của sư đoàn bộ binh 302 (tập đoàn quân 51) đã bị kết tội bởi một người đồng đội vì đã nói: “Nếu tao bị đưa ra tiền tuyến, tao sẽ là người đầu tiên chạy về phía người Đức”. “Khi thẩm vấn”, anh ta còn bị cho là đã thú nhận rủ rê thêm năm người khác cùng đi và đã “khai ra” tên những người đó, nhưng có lẽ anh ấy đã bị ấn vào một âm mưu hoàn toàn hư cấu và không có thật bởi NKVD.

          Các chính trị viên đổ lỗi rằng “các sỹ quan cẩu thả và không có tình người” cho các trường hợp đào ngũ trong đơn vị. Nhưng có vô số trường hợp các sỹ quan đã dùng quyền bắn hạ trong “biện pháp đặc biệt chỉ dùng trong chiến đấu khi một Hồng quân từ chối thi hành mệnh lệnh hoặc bỏ chạy khỏi chiến trường”. Tuy nhiên, cũng có một trường hợp hiếm gặp, nhà cầm quyền đã tuyên rằng các sỹ quan đó đã quá khắt khe “Trong đêm 17/18 tháng Mười, hai người lính mất tích [thuộc sư đoàn bộ binh 204, tập đoàn quân 64]. Trung đoàn trưởng và chính uỷ đã lệnh cho đại đội trưởng tử hình viên trung đội trưởng của những người lính đào ngũ ấy”. Người thiếu uý 19 tuổi, vừa gia nhập trung đoàn 5 ngày trước và cũng chỉ vừa mới biết đến hai kẻ đào ngũ ấy là từ trung đội anh ta. “Viên đại đội trưởng tuân lệnh. Đến chiến hào của anh ta (chỉ viên thiếu uý) và trước sự hiện diện của chính trị viên, bắn chết anh ta”.

           Các chính trị viên muốn khoát lác về tình đoàn kết các dân tộc Liên Xô, có thể chỉ ra một thực tế rằng gần phân nửa số lính của tập đoàn quân 62 không phải là người Nga. Nhưng bộ phận tuyên truyền, có lý do đúng đắn để giữ im lặng về chủ đề này. “Thật khó để làm cho họ hiểu” một trung uý người Nga được gửi đến chỉ huy trung đội súng máy báo cáo “và cũng thật khó để làm việc chung với họ”. Việc thiếu thân thuộc với kỹ thuật hiện đại cũng đồng nghĩa với việc họ bị khiếp sợ và thất tán hơn trong các cuộc không kích. Ngôn ngữ dị biệt và hậu quả là hiểu nhầm làm mọi thứ còn tệ hơn. Trong một đơn vị, sư đoàn 196 bộ binh, quân số hầu hết là người Kazakh, Uzbek và Tartar “nhận thiệt hại nghiêm trọng và phải rút ra khỏi mặt trận để củng cố”.

           Các chính trị viên nhận ra những điều đó thật tệ hại, nhưng đơn thuốc duy nhất kê ra dễ dàng dự đoán được là: “tuyên truyền cho binh lính và sĩ quan không phải là người Nga về lòng tự hào của công dân Liên Xô, về lời thề quân nhân và khung luật trừng phạt với tội phản bội Tổ quốc”. Việc tuyên truyền của họ không thể đạt nhiều thành công, bởi có nhiều người rõ ràng biết rất ít về ý nghĩa cuộc chiến. Một lính người Tartar trong sư đoàn bộ binh 284, không thể trụ nổi nữa, nên quyết định đảo ngũ. Anh ta bò về màn tối phía trước từ vị trí của mình mà không bị ai phát hiện, nhưng đến khu phân tuyến, hắn lại bị mất phương hướng. Không nhận thức ra điều đó, hắn bò đến một địa đoạn trong khu vực trung đoàn 685. Thấy có một hầm chỉ huy, hắn mò vào. Tin là đã đến được nơi cần đến, hắn đoán chừng viên sỹ quan đang nhìn mình hẳn là một quân nhân Đức cải trang trong bộ quân phục Nga. “Hắn báo rằng hắn đến để đầu hàng” báo cáo ghi nhận “tên phản bội đã bị xử tử”.

         Các chính trị viên cũng đối mặt với một vấn đề quan liêu “Thật khó để phân biệt các sự kiện khác thường” Ban chính trị Phương diện quân báo cáo về cho Shcherbakov ở Moscow, “bởi chúng tôi không thể xác định nhiều trường hợp có đào ngũ hay chạy sang phía địch không”. “Trong điều kiện chiến trường” trong một báo cáo khác từ Ban ấy viết “không thể luôn có thể xác định được chắc chắn sự việc xảy ra cho một cá nhân hay một nhóm quân sỹ. Tại sư đoàn bộ binh 38, một trung sỹ và một lính đã đi lấy thức ăn cho đại đội họ và không bao giờ còn được thấy lại. Không ai biết việc gì đã xảy ra với họ. Có thể họ bị chôn vùi bởi một phát đại bác mà cũng có thể đã đào ngũ. Nếu không có người chứng kiến, chúng ta chỉ có thể nghi ngờ (mà không thể kết luận)”.

       Thực tế là các sỹ quan thường thất bại khi đếm lính của họ. Vài người vắng mặt bị liệt vào danh sách phản bội, nhưng lại tìm thấy là được cán đến trạm phẫu dã chiến với những vết thương nghiêm trọng. Có cả người sau khi được ra viện để về lại đơn vị chiến đấu lại thấy mình bị kê trong danh sách đào ngũ và xử tử. Trong nhiều trường hợp thì sự bất cẩn của các sỹ quan lại là có tính toán. Nhiều binh sỹ hy sinh không được báo cáo để nhận được thêm khẩu phần ăn, một tệ nạn cũ xưa từ thời hình thành quân đội, nhưng giờ được định nghĩa là “tội làm trái quân luật”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:24:02 PM »

          Việc Dobronin thừa nhận có khó khăn trong thống kê ắt được nhớ đến khi nhìn vào con số 446 trường hợp đào ngũ trong tháng Chín. Không có ca nào được đề cập đến thuộc nhóm “chạy sang phía địch”. Ngay cả trong báo cáo liên quan đến một vấn đề nghiêm trọng của chính phương diện quân Stalingrad về một nhóm đào ngũ. Ví dụ, sau khi có 23 lính từ một tiểu đoàn đào ngũ liên tục trong ba đêm, “một khu vực phòng ngừa được thiết lập ngay trước chiến tuyến và được các sỹ quan tổ chức canh gác 24/24”.

         Tự thương cũng được xếp vào nhóm đào ngũ bởi không trung thực. Một lính thuộc sư đoàn Bộ Binh Cận vệ số 13 của Rodimtsev bị nghi là tự bắn vào tay, đã được áp tải lên trên. Hắn cố đào thoát vào bóng tối khi pháo quân Đức bắt đầu bắn, nhưng bị kéo lại. Một hội đồng bác sỹ khám nghiệm và tuyên bố rằng vết thương là tự-thương. Tên tù bị hành quyết ngay trước mặt một nhóm khán giả là binh sỹ thuộc tiểu đoàn của hắn. Ngay cả các sỹ quan cũng có liên quan đến việc tự thương. Một thiếu uý 19 tuổi thuộc sư đoàn bộ binh 196, bị kết tội là đã tự bắn vào bàn tay trái bằng súng máy, và bị tử hình trước mặt các sỹ quan trong đơn vị. Báo cáo ngụ ý, bằng một logic không mấy thuyết phục, rằng tội anh ta rõ ràng bởi đã “cố giấu hành vi vô đạo đức ấy bằng cách băng lại”.

         Những kẻ giả ốm cũng bị nhìn theo cùng kiểu. “Mười một binh sỹ trong trạm phẫu tiền phương giả câm, điếc” Dobronin ghi nhận, và thêm vào với sự thoả mãn tàn nhẫn, “nhưng rất nhanh, hội đồng y khoa quyết định rằng bọn chúng vẫn đáp ứng được với các nhiệm vụ quân sự, và hồ sơ đã được chuyển đến toà án binh, họ bắt đầu làm việc”.

        Tận cùng của hành động tự thương là tự tử. Cũng giống như phía quân đội Đức, nhà cầm quyền Sô viết cho rằng đó là “dấu hiệu hèn nhát” hoặc là sản phẩm của “tâm hồn bệnh hoạn”. Ngay cả việc định nghĩa của từ hèn nhát cũng có nhiều dạng thể. Một phi công, nhảy dù ra khỏi chiếc máy bay bốc cháy của mình, đã xé ngay thẻ đảng khi tiếp đất, bởi anh ta nghĩ rằng đã rơi vào phía sau tuyến quân Đức. Khi trở lại căn cứ, chính trị viên kết tội anh ta là hèn nhát theo mệnh lệnh số 270 của Stalin, dù rằng bộ phận tuyên truyền Soviet luôn nhấn mạnh rằng quân Đức tử hình những người Cộng sản ngay tại chỗ.

           NKVD và Ban chính trị Phương diện quân Stalingrad hành động cực kỳ chặt chẽ với bất kỳ dấu hiệu của hoạt động “chống Sô Viết”. Ví dụ “ai giữ tờ rơi quân Đức sẽ bị giao cho NKVD”. Thật nguy hiểm để nhặt một tờ lên, dù chỉ để cuộn thuốc hút. Một người lính mất tinh thần và kể với sỹ quan cấp trên những gì anh ta nghĩ về bản thân và Hồng quân, có thể đối mặt với lời buộc tội là “tuyên truyền chống cách mạng” hay “thiếu niềm tin vào chiến thắng”. Hạ sỹ K. thuộc sư đoàn bộ binh 204 đã bị tử hình vì “không tin tưởng lãnh đạo Hồng quân và có hành vi đe doạ chống lại sỹ quan chỉ huy”. Những ai chỉ trích chế độ, như hai người lính thuộc tập đoàn quân 51, cũng sẽ bị giao cho NKVD. Một người đã “phát tán luận điệu phát xít rằng nông dân nông trang tập thể giống như nô lệ” và người kia thì phát biểu “Tuyên truyền Soviet là dối trá để nâng tinh thần quân đội”.

         Các trường hợp “hoạt động chống Sô viết”, vốn thường bị đối xử tương tự như với tội “phản bội Tổ quốc”, xem ra có vẻ tương đối hiếm gặp ngoài mặt trận. Các sỹ quan nhìn chung là làm theo chỉ dẫn không chính quy có trong quân đội Nga từ năm 1812 rằng “Khi lính thì thầm, sỹ quan không nên nghe”. Hầu hết cho rằng trong chiến tranh, khi con người đối diện với cái chết, họ cần nói ra những gì họ nghĩ. Giữa những đồng đội ở tuyến đầu, người lính không còn rụt rè trước những phê phán kém cỏi, nhũng lại và bắt nạt của các quan chức Đảng Cộng Sản. Mối nguy thường trực về việc bị giết bất kỳ khi nào làm cho họ không thèm để tâm đến các chính trị viên và chỉ điểm viên của bộ phận đặc biệt. Trong chiến hào cạnh kề quân Đức, dường như không có quá nhiều khác biệt giữa một viên đạn thù và khẩu phần cuối cùng từ Tòa án Soviết: “chín gam chì” của NVKD.

         Hầu hết các trường hợp “hoạt động chống Sô viết” được báo cáo là ở hậu phương. Tân binh nào hay thì thào thường dễ bị tố cáo bởi các đồng đội là lính tình nguyện. Một thường dân Stalingrad thuộc tiểu đoàn huấn luyện 178 đã cả gan nói rằng họ sẽ bị lạnh cóng và chết đói khi mùa đông đến, đã nhanh chóng bị bắt “cảm ơn các huấn luyện viên K. và I. đã giữ vững lập trường chính trị”. Tính đa nghi của NKVD mở rộng đến các đơn vị vận tải và kỹ thuật của phương diện quân Stalingrad ở bờ đông sông Volga. Mười hai binh lính và năm sỹ quan, trong đó bao gồm hai sỹ quan cao cấp, bị bắt trong tháng Mười vì “hoạt động chống Sô viết vì có tư tưởng chủ bại”. “Hầu hết những kẻ bị bắt đến từ cái vùng tạm chiếm”, báo cáo thêm vào, rằng chúng đã có kế hoạch “phản bội Tổ quốc và tham gia vào phía địch”.

         Báo chí viết rằng những người lính tiền tuyến (frontoviki) hăng hái thảo luận về sự lãnh đạo anh hùng của đồng chí Stalin trong chiến hào, và xung phong với tiếng hét “Za Stalin” (vì Stalin), hoàn toàn là sản phẩm tuyên truyền. Yury Belash, một nhà thơ lính, đã từng viết:

        Thành thật mà nói rằng –
        Thứ cuối cùng chúng tôi nghĩ đến, trong chiến hào
        Là Stalin

        Dù nhiều báo chí Sô viết tô hồng cho các mẫu chuyện của chủ nghĩa anh hùng cá nhân, thì nhà cầm quyền hoàn toàn thiếu tôn trọng với các cá nhân vốn được khẳng định rõ ràng bởi các phương tiện tuyên truyền ở Stalingrad. Báo chí đưa lên một khẩu hiệu, có lẽ lấy từ phát biểu của Chuikov ở một buổi họp hội đồng quân sự: “Mỗi người lính phải thành một viên đá tảng của thành phố”.

        Một trong các sỹ quan của Chuikov hào hứng thêm vào rằng Tập đoàn quân 62 là “chất gắn bó những tảng đá của thành phố mang tên Stalin, như bê tông sống”. Câu này đạt tới mức biểu cảm tối thượng trên tượng đài kỷ niệm kỳ dị dựng sau chiến tranh ở đồi Mamaev Kurgan, trong đó, hình tượng người lính giữa đống đổ nát được miêu tả có dụng ý trên một bức phù điêu bằng gạch. Tượng đài tưởng niệm này là dành cho Liên Xô, không phải cho những người lính, hầu như biến họ thành một thứ đội quân đất nung, như của các hoàng đế Trung Hoa.

     Ủng, quân phục và trang bị mới được chuẩn bị cho lực lượng mới được sắp xếp ở hậu phương. Còn với những người lính tiền phương ở Stalingrad, đồ dùng thay thế không đến từ các cửa hàng hậu cần, mà từ thi thể của những đồng đội đã chết. Không thứ gì lãng phí khi đem đi chôn. Có cả người được gửi lên phía trước, vào vùng phân tuyến để lột đồ lót từ những xác chết. Hình ảnh của những người đồng đội ngã xuống, bán khoả thân, làm nhiều người chán nản. Và khi mùa đông đến với toàn bộ sức mạnh của nó, những bộ nguỵ trang màu trắng trở thành những thứ đặc biệt quí giá. Thương binh phải cố cửi nó ra trước khi bị máu vấy bẩn. Có một sự kiện nổi tiếng của một người lính, bị thương quá nặng để có thể cửi bộ đồ nguỵ trang màu trắng, xin lỗi cho từng vết bẩn do mình gây ra.

          Nhà báo Grossman, người đã ở cùng với những đồng đội của mình tại Stalingrad đã thẳng thừng bác bỏ ý kiến cho rằng mọi người đã hoàn toàn dửng dưng với sự hung bạo. Ông viết “Cuộc sống thật không dễ dàng cho người dân Nga, nhưng trong sâu thẳm con tim, không ai cảm thấy rằng đó là điều không thể tránh được. Trong suốt cuộc chiến ở tiền tuyến, tôi quan sát thấy chỉ có hai cảm giác theo hướng: một quá lạc quan và một quá u ám. Không ai có thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng chiến cuộc còn lâu mới kết thúc và ai bảo rằng chỉ cần một vài tháng cực nhọc sẽ mang lại chiến thắng, cũng không đáng tin”. Sự thật là trong cái cuộc chiến kinh khủng đó, con người chỉ có thể nghĩ làm sao để sống sót qua từng ngày, từng giờ. Nhìn xa về hướng nào cũng là một giấc mơ hung hiểm.

        Binh lính, ít nhất còn có chút đỉnh mục đích và khẩu phần kha khá đều đặn, để giữ họ tiếp tục tồn tại. Còn thường dân bị kẹt ở Stalingrad hoàn toàn không có gì cả. Làm thế nào mà 10,000 người, trong đó có một nghìn trẻ em, vẫn còn sống sót trong cái thành phố đổ nát đó trong suốt hơn năm tháng đánh nhau, và điều này trở thành phần lạ lùng nhất trong lịch sử trận Stalingrad.

         Các nguồn tin Sôviết tuyên bố rằng từ ngày 24 tháng 8, một ngày sau trận không kích đầu tiên, khi cư dân Stalingrad đã được phép vượt sông Volga, và đến ngày 10 tháng 9, 300.000 người đã được vận chuyển sang bờ Đông. Con số này thật sự không đủ so với lượng dân cư phình to ra của thành phố. Sao không tự nhận rằng lúc đó có hơn 50,000 thường dân bị kẹt bên bờ Tây, phần nào là bởi NKVD điều khiển các bến vượt.

         Cuộc di tản chính quy sau cùng thật hỗn độn và bi thảm. Một đám đông khổng lồ. Gồm nhiều gia đình đã bị từ chối cho phép ra đi cho đến giờ cuối cùng, thường không có lý do đúng đắn. Chiếc thuyền bắt đầu quá tải một cách nguy hiểm, và không ai được phép lên thêm. Những người bị bỏ lại trên cầu tàu nhìn chiếc phà rời đi. Họ tuyệt vọng, nhưng rồi “chỉ mới cách bến 50 thước, nó bị trúng bom” và bốc cháy, chìm trước mặt họ.

          Với nhiều người ngay cả việc đến bờ sông cũng không kịp, họ bị kẹt lại sau tuyến quân Đức do đà tiến quá nhanh của Tập đoàn quân VI. Hitler, ngày 2 tháng 9 đã lệnh rằng không có thường dân ở Stalingrad, và thế là cuộc di tản đầu tiên mang tính tự phát hơn là có tổ chức.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:26:59 PM »

         Một hàng lớn những người tị nạn rời thành phố, thẳng về hướng tây vào vùng tạm chiếm của quân Đức trong ngày 14 tháng 9, với chút xíu của cải còn lại chất trên xe ba gác hoặc trong vali bằng giấy bồi. Báo Đức cho thấy cảnh người dân bị hoả pháo xé toạc quần áo, thân thể máu me và bàn tay dính vào đường dây thép trên cao. Rồi những người thoát sang phía Đức an toàn cũng khó có cơ hội tìm được thực phẩm. Các đơn vị quân Đức đã làm điều đó trước rồi, họ trưng thu và hái sạch nông phẩm để dùng. Ngay cả nông dân Cossack, mà nhiều người là cựu Bạch vệ, vốn chào đón quân Đức như những người giải phóng với bánh mỳ và muối, cũng bị cướp sạch ngũ cốc, lương thực trong kho.

          Hình ảnh của những người tị nạn có lẽ đã tạo ra những suy nghĩ lộn xộn kỳ lạ, như một sỹ quan NCO từ sư đoàn bộ binh 295 bộc lộ một cách không chủ tâm trong thư viết về nhà “Hôm nay, anh đã thấy nhiều người tị nạn chạy từ Stalingrad. Những cảnh tượng cực nhọc không tưởng tượng nổi. Trẻ em, phụ nữ, người già – già như ông bà anh vậy – nằm ở đó, bên vệ đường, trên thân chỉ là lần vải mỏng manh không thể chống chọi cho cái lạnh. Dù họ là kẻ thù, anh vẫn thấy quá sốc. Và vì thế, chúng ta không thể nói hết lòng cảm ơn với Quốc trưởng và Chúa, rằng đất nước ta vẫn còn dư dả so với tình trạng kinh hoàng kia. Anh đã tận mắt thấy nhiều cảnh cực khổ trong suốt cuộc chiến này, nhưng ở nước Nga là hơn cả. Và cao nhất là ở Stalingrad. Em không thể hiểu điều này đâu – phải tận mắt thấy…”

          Nhiều ngàn phụ nữ và trẻ em bị bỏ lại trong thành phố phía sau đã tìm cách ẩn náu trong các đống đổ nát, trong cống và trong các hang hốc đào vào bờ dốc đứng của con sông. Dường như trong các hố đạn pháo ở đồi Mamaev ở lúc cuộc chiến căng thẳng nhất, cũng có dân thường trú ngụ. Đa số, dĩ nhiên, không thể sống sót. Trong chuyến thăm lần đầu  của mình, Simonov ngạc nhiên viết “Chúng tôi vượt qua một cây cầu bắt ngang qua một chỗ giao nhau của con rạch trong thành phố. Tôi không thể nào quên hình ảnh hiện ra trước mắt tôi. Con rạch đó, trải dài bên trái và bên phải tôi, đầy nhung nhúc người, trông như một tổ kiến với lỗ chỗ hang hốc. Những con đường bị đào vào cả hai bên. Miệng hang được che phủ bởi ghẻ rách hay những tấm bảng cháy đen. Cánh phụ nữ đã dùng mọi thứ có thể dùng được”.

         Ông ta viết về sự đau khổ “hầu như không thể tin nổi” của tất cả những ai ở Stalingrad, bất luận là lính hay dân, nhưng rồi nhanh chóng bỏ đi bất kỳ dấu hiệu đa cảm, uỷ mị nào – “Những điều đó chẳng giúp ích gì: cuộc chiến này được tiến hành là vì sự sống hoặc cái chết”. Rồi ông ta tiến đến việc mô tả hình ảnh của một thi thể phụ nữ trôi sông bám chặt vào một thanh gỗ cháy, dạt vào bờ Volga “những ngón tay méo mó cháy dở. Gương mặt bị biến dạng cho thấy sự đau khổ cô phải chịu trước khi chết là vô cùng to lớn. Bọn Đức đã gây ra điều đó, làm điều đó trước mắt chúng ta. Không để chúng xin được tha thứ từ những người chứng kiến. Sau Stalingrad chúng ta sẽ không tha thứ!”.

         Bên cạnh tìm chỗ trú là ưu tiên số một, thì những thường dân cũng đối mặt với tình trạng khó tìm ra thức ăn và nước. Mỗi khi có một đợt ngừng bắn phá, phụ nữ và trẻ em lại ra khỏi hố ẩn nấp để cắt thịt từ xác ngựa trước khi những con chó vô chủ hay chuột cống róc sạch cái xác. Cầm đầu đám lục lọi đó là bọn trẻ. Trẻ hơn, nhỏ hơn và nhanh nhẹn hơn nên chúng là những mục tiêu khó hạ hơn. Ẩn mình trong bóng tối, bọn trẻ mò vào khu tháp ngũ cốc bị cháy trụi ở phía nam Tsaritsa, nơi quân Đức đã chiếm hoàn toàn. Rồi ở đó, chúng thường ráng lèn đầy túi, đầy cặp với lúa mì cháy dở và nháo nhào đào tẩu, nhưng lính gác Đức, bảo vệ khu tháp đó vì mục đích quân sự, đã bắn hạ một số. Với những ai cố đánh cắp khẩu phần ăn của quân Đức sẽ bị bắn tại chỗ, cả tại Stalingrad lẫn ở hậu phương.

         Chính quân Đức cũng sử dụng những trẻ mồ côi ở Stalingrad. Khi những công việc thường nhật, như lấy nước, trở nên nguy hiểm vì lính bắn tỉa Nga phục kích bất kỳ chuyển động nào. Và, với sự hứa hẹn có vài miếng bánh mỳ, chúng dụ bọn trẻ Nga mang chai xuống bờ sông Volga để lấy nước. Khi phía Soviet xác minh được những gì đang diễn ra, Hồng quân bắn cả những đứa trẻ làm việc đó.

          Việc tàn nhẫn này đã có tiền lệ từ giai đoạn đầu của trận vây hãm thành Leningrad, khi dân thường bị dùng làm lá chắn sống cho quân Đức. Stalin, ngay lập tức, đã lệnh cho các lực lượng Hồng quân phải bắn hạ bất kỳ thường dân nào nghe theo lệnh quân Đức, ngay cả khi họ bị cưỡng ép hành động. Mệnh lệnh này cũng được thi hành ở Stalingrad. Báo cáo của sư bộ binh cận vệ 37 ghi nhận “quân địch buộc người dân phải tiến lên để vác xác lính và sỹ quan của chúng về. Quân ta đã bắn vào bất cứ ai cố mang xác quân phát xít đi”.

          Những đứa trẻ khác thì may mắn hơn. Chúng bám dính vào các sở chỉ huy, các trung đoàn Sô viết. Nhiều em được sử dụng làm liên lạc, trinh sát hoặc tình báo, nhưng với những em mồ côi nhỏ hơn, chừng bốn năm tuổi thì chỉ ở đó như một thứ bùa may mắn.

        Tập đoàn quân VI (Đức) thiết lập một Bộ tư lệnh quân quản cho khu trung tâm cùng khu bắc thành phố, và một cái khác cho khu nam Tsaritsa. Mỗi nơi có một đại đội vệ binh (KSQS) chịu trách nhiệm, trong số các công việc, có việc bảo vệ chống phá hoại, đăng ký và di tản dân.
 
        Chỉ thị được phát hành cho biết bất kỳ ai không đăng ký sẽ bị bắn. Người Do Thái được lệnh phải mang một ngôi sao vàng trên ống tay áo. Đội vệ binh này hoạt động gần giống như lực lượng Cảnh sát dã chiến mật của Wilhelm Moritz. Một sỹ quan tòng sự trong đơn vị kể trên, bị bắt sau đó, đã thừa nhận trong cuộc thẩm vấn rằng công việc của họ bao gồm cả việc chọn lựa những người dân “thích hợp” cho việc lao động cưỡng bức ở Đức và bắt giữ những nhà hoạt động Cộng sản và Do thái cho lực lượng SD. Các nguồn tin Sôviết cho rằng quân Đức đã xử tử hơn 3000 thường dân trong suốt cuộc chiến, và hơn 60,000 người Stalingrad bị chuyển đến Đế chế, theo lệnh của Hitler để lao động nô lệ. Con số người Do Thái và đảng viên Cộng sản bị bắt bởi vệ binh Tập đoàn quân 6 và giao cho SS thì không được cho biết. Đơn vị Sonderkommando 4a, theo đà tiến của tập đoàn quân 6, đã tới được Nizhne-Chriskaya theo vết của quân đoàn xe tăng XXIV, và nhanh chóng tàn sát trẻ em chở đầy trên hai xe tải “phần lớn là từ sáu đến mười hai tuổi”. Chúng cũng đã xử tử nhiều cán bộ Cộng sản và NKVD bởi tố giác của người Cô dắc, của những gia đình Kulek vốn bị đối xử tệ dưới bàn tay chế độ. Quân Sonderkommando còn ở lại vùng Stalingrad đến tận tuần thứ 4 của tháng Chín.

          Cuộc di tản người lớn diễn ra vào ngày 5 tháng 10 và cuộc cuối cùng vào đầu tháng 11. Từng nhóm thường dân được chọn, bị tống lên các toa chở súc vật trên các ga đầu mối và đưa về phía sau. Thảm cảnh của những người này thật kinh hoàng. Từng tấm chăn họ có thể mang theo được đổi thành thực phẩm cho những tuần kế tiếp. Những người dân Stalingrad này đầu tiên phải đi bộ đến một trại tập trung không đựơc chuẩn bị sẵn ở cạnh làng Voroponovo (hiện là Gorkovsky) và rồi đến những trại khác ở Marinovka, Kalach và Nizhne-Chirskaya.

         Khẩu phần của họ dù sao vẫn không tệ bằng phần cho lính Nga bị bắt. Trong một nhà giam cạnh Gumrak, vào ngày 11 tháng Chín, tại đó có hơn 2000 tù binh chiến tranh, phần lớn là công nhân-dân quân tự vệ. Các sỹ quan Sô viết được cho ở lại để giữ trật tự, nếu cần, bằng nắm đấm, khi thức ăn được ném vào qua hàng rào. Không có chút tiện nghi y tế nào được cung cấp. Một bác sỹ Sô viết làm tất cả những gì ông có thể cho thương binh, nhưng “trong trường hợp không còn hi vọng, ông chỉ có thể giúp họ thoát khỏi kiếp nạn mà thôi”.

        Những đợt kế tiếp càng nghiêm trọng hơn. Sau cùng, “một đám đông đen nghịt khổng lồ” bị ép ra ngoài tuyết. Đây là nhóm lớn nhất và sau cùng của dân Stalingrad đi đến Karpovka và những trại tập trung khác. Điều kiện thật kinh hoàng. Ngay cái tên “trại tập trung” cũng mang tính lạc quan, vì chúng chỉ là một vòng kẽm gai khổng lồ quây trên thảo nguyên trống trải. Không có lấy một chiếc lều. Những ngừơi tù cố đào hố trên mặt đất bằng đôi bàn tay không để trốn gió. Đêm ngày 7 tháng 11, ngày Cách mạng tháng Mười, những người tù Nga tiến hành kỷ niệm bằng những tiếng hát lặng thầm với nhau, nhưng đến đêm, trời đổ mưa nặng hạt. Sáng hôm sau, nhiệt độ giảm rất nhanh, mang theo băng tuyết, họ run rẩy trong những bộ đồ ướt đẫm. Nhiều người ra đi mãi mãi. Trong một hầm, có một bà mẹ nằm cạnh Valentina Nefyodova, bà ôm chặt hai đứa con vào lòng: đứa bé gái còn sống nhưng em trai đã chết. Người em họ trong tuổi thiếu niên của Nefyodova cũng chết cóng trong đêm đó.

          Cai ngục của những trại tập trung đa phần là người Ukraina trong quân phục Đức (chừng 270,000 người Ukraina được tuyển mộ từ các trại tù binh tính đến ngày 31 tháng 1 năm 1942. Những kẻ khác là dân tình nguyện. Theo một báo cáo của NKVD, Stadtkommandantur ở Stalingrad có 800 thanh niên Ukraina được trang bị để làm nhiệm vụ canh gác và hộ tống). Nhiều trong số đó là bulbovitsi,  những người dân tộc cánh hữu cực đoan lấy theo tên Taras Bulba, đối xử với các nạn nhân của họ rất tàn tệ.

           Tuy nhiên, không phải tất cả những cai ngục đều hung ác. Một số cho người bị giam chạy trốn với một ít của đút lót. Nhưng những người chạy trốn nhanh chóng bị hạ trên thảo nguyên trống trải bởi bọn vệ binh (KSQS). Tuy thế, tại trại Morozovsk, gia đình Goncharov, mẹ, bà và hai em bé, lại được cứu sống bởi một bác sỹ Đức tốt bụng, ông ta đã thu xếp cho họ chuyển đến một trang trại ở gần cạnh bởi cậu bé mười một tuổi Nikolay bị bỏng tuyết khá nặng.

           Còn hàng ngàn người cố trốn những cuộc bố ráp trong thành phố, thì trở thành những người tiền sử thời hiện đại, sống trong các hang ổ đổ nát- thực tế đã ngã bệnh vì thực phẩm độc và nước uống ô nhiễm. Ở ngoại ô thành phố, những đứa trẻ mò ra khi đêm tối, như những con vật hoang để kiếm củ rễ và dâu dại.

         Nhiều người sống được ba bốn ngày chỉ với một mẩu vụn bánh mì được lính Đức hoặc lính Nga thí cho, tuỳ theo vị trí chiến tuyến. Phụ nữ thường bị ép dùng thân thể tàn tạ của họ để sống sót hoặc để có đồ ăn cho lũ trẻ. Thậm chí có những báo cáo về các nhà thổ tự chế trong đống hoang tàn đó. Và trong vài trường hợp, lại có cả tình yêu không chút tương lai lại diễn ra giữa phụ nữ Nga và lính Đức. Điều này hầu như là một mối quan hệ bất chính tai hại. Một phụ nữ Stalingrad đã từ chối “báo hiệu có quân địch với chiếc khăn tay trắng” và bị phát hiện ra là “dấu ba tên phát xít” trong hầm của mình. Cô ta bị đưa đến cho NKVD. Còn ba lính Đức thì bị bắn tại chỗ.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:29:35 PM »

        Ở những địa điểm xa thành phố, số tù binh Đức bị giết ngay khi bị bắt dường như ít đi, khi cơ quan tình báo Sô viết bắt đầu trở nên tinh vi hơn. Nhu cầu xác minh thông tin từ tù nhân tăng lên nhanh chóng trong tháng Mười, khi tướng Zhukov và bộ tham mưu của ông chuẩn bị cho kế hoạch đại phản công.

        Việc thẩm vấn của phía Sô viết với các tù binh chiến tranh người Đức, thường diễn ra vào ngày kế sau hôm bị bắt, theo một kiểu mẫu khá thẳng thắn. Mục tiêu chính yếu là xác định đơn vị của tù nhân và ước lượng sức mạnh, tình trạng hậu cần cùng tinh thần của đơn vị đó. Tù binh Đức cũng thường được hỏi những câu đại loại như: Họ có phải là thành viên đoàn thanh niên Hitler không? Họ có biết gì về việc chuẩn bị cho chiến tranh hoá học? Những hoạt động du kích nào họ nghe được hoặc chứng kiến? Ảnh hưởng của truyền đơn Liên Xô ra sao? Sỹ quan của họ đã nói gì về Cộng sản? Tuyến tiến quân của sư đoàn họ thế nào tính từ tháng 6 năm 1941? (điều này có thể cho thấy họ có liên quan đến các tội ác chiến tranh được báo cáo ở những vùng mà họ đã đi qua).

         Nếu tù binh xuất thân từ gia đình nông dân, thì họ được hỏi có tù binh chiến tranh Nga đang làm việc cho họ ở nhà không? Tên của những người đó là gì? Thư từ nhà cũng bị tịch thu để xem xét có biểu lộ nào của tinh thần người dân ở hậu phương Đức. Suốt cuối hè và mùa thu 1942, sau “hàng ngàn cuộc ném bom rải thảm” của RAF, những cán bộ thẩm vấn NKVD rất quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng của nó lên tinh thần dân thường cũng như quân lính ở tiền phương. Rồi khi NKVD bàng hoàng với việc khám phá ra rằng có nhiều công dân Soviet, chủ yếu là cựu Hồng quân, có mặt trong quân đội Đức, những người thẩm vấn cố khai thác từ tù binh để biết có bao nhiêu người trong mỗi đại đội.

        Ngoài khuynh hướng tự vệ, phía tù nhân thường nói những gì họ cho rằng phía Nga muốn nghe. Trong vài trường hợp cũng tình cờ có những sự thật. Như một hạ sĩ khác nói “Với cánh cựu binh, những thứ tuyên truyền của Goebbels nhét vào đầu chúng tôi là không đáng tin. Chúng tôi vẫn nhớ bài học không quên của năm 1918”. Vào giữa tháng Chín, lính Đức bị bắt thường thú nhận với nhân viên thẩm vấn Nga rằng họ cùng đồng đội “lo sợ rằng mùa đông đang đến”.

          Nhiều cuộc thẩm vấn tù nhân được thực hiện bởi Đại uý N.D.Dyatlenko thuộc NKVD, một thông dịch viên tiếng Đức của Ban 7 – phương diện quân Stalingrad. Trung tá Kaplan, phó ban tình báo tập đoàn quân 62, thì khác, ông thẩm vấn tù binh thông qua người phiên dịch Derkachev. Dĩ nhiên là Kaplan tốn nhiều thời gian hơn một chút. Sau khi một hạ sỹ bị thương nặng tiết lộ rằng sư đoàn tăng 24 chỉ còn có 16 xe, Kaplan ghi chú vào cuối trang giấy: “Cuộc thẩm vấn không được hoàn tất vì người này đã chết vì vết thương”.

         Vốn đã biết về sự căng thẳng giữa quân Đức và quân Romania, Kaplan cũng quan tâm đến mối quan hệ không ngọt ngào trong nội bộ Wehrmacht. Những tù binh Áo, có lẽ với hi vọng sẽ được đối đãi tốn hơn, đã phàn nàn về thái độ các sỹ quan Đức là phân biệt đối xử với họ. Một người Czech 32 tuổi thuộc sư đoàn xe tăng 24, bị bắt vào ngày 28 tháng Chín, thậm chí còn tình nguyện chiến đấu cho phía Liên Xô. Tuy vậy, mối quan tâm hàng đầu trong thời điểm đó của bộ phận tình báo Hồng Quân là đánh giá cho đúng sự phụ thuộc của quân Đức vào các sư đoàn quân đồng minh dọc theo tuyến sông Đông và thảo nguyên Kalmyk.

       Nhiểu chỉ huy cấp trung đoàn phía Đức, vào lúc đó, rất lo ngại với những bổ sung được gửi đến. Một sỹ quan thuộc sư đoàn xe tăng số 14 viết rằng cần có “những biện pháp rất mạnh”    để thay đổi “việc thiếu niềm tin vào tương lai và lòng dũng cảm”.

       Tuy nhiên, điểm yếu nhất, lại đến từ những cánh quân Đồng minh, vốn hiện diện như những tập đoàn quân đầy đủ sức mạnh trên bản đồ tình huống của Hitler. Tinh thần của quân Ý, Romania và Hungaria vốn đã dao động bởi những cuộc tập kích riêng lẻ của du kích vào các chuyến tàu trên đường đến tiền tuyến. Và nó trở nên trầm trọng khi không quân Nga tấn công, ngay cho dù chỉ có vài ca thương vong. Rồi khi họ đối mặt với một cuộc tấn công từ phía lục quân Nga cùng với pháo phản lực Katyushha “đàn dương cầm Stalin”, quân lính bắt đầu tự hỏi rằng họ làm gì ở đây.

         Máy bay Sôviết thả truyền đơn viết bằng tiếng Hungari, Ý và Romani, nói rằng quân Đồng minh không chết vô nghĩa cho người Đức. Lối tuyên truyền này đặc biệt tốt với những sắc dân thiểu số. Người Serb và người Ruthenia bị bắt lính trong quân đội Hungary hầu hết muốn đào ngũ. “Làm sao chúng ta có thể tin tưởng vào những ai không phải là người Hung?” hạ sỹ Balogh viết trong nhật ký. Tình báo Hồng quân báo về Moscow rằng nhiều nhóm nhỏ có kế hoạch đào ngũ cùng nhau ngay cả  trước khi họ đến mặt trận. Khi quân Nga tấn công, họ trốn tiệt trong chiến hào và chờ ra hàng.

          Một người Ruthenia đào ngũ từ một trung đoàn nào đó, được thẩm vấn bởi NKVD đã khai rằng hầu hết đồng đội của anh ta cầu nguyện “Chúa giữ cho được sống sót” “cả ngày họ ngồi trong chiến hào. Hầu hết quân lính không muốn chiến đấu, nhưng họ sợ đào ngũ bởi tin vào các câu chuyện của sỹ quan rằng quân Nga sẽ tra tấn và bắn chết họ”.

          Một trong các vấn đề nghiêm trọng nhất của các lực lượng Đồng minh là sự lộn xộn. Các đơn vị tiền phương liên tục bị dội bom, pháo bởi chính quân họ. “Xin Chúa hãy giúp chúng con làm cho cuộc chiến này ngắn lại” hạ sỹ Balogh viết “mọi người dội bom, đạn vào chúng con”.                                             Rồi không đầy một tuần sau, anh ta viết tiếp “Hỡi Chúa nhân từ, xin hãy chấm dứt cuộc chiến kinh khủng này. Nếu chúng con còn tiếp tục thêm thì chắc là thần kinh sẽ bị đứt mất… Lẽ nào chúng con không còn có được một ngày Chủ nhật vui vẻ ở nhà? Liệu chúng con còn có cơ hội để dựa vào cánh cửa gia đình? Ở nhà họ có còn nhớ chúng con?”. Tinh thần hạ thấp đến nỗi giới chức quân sự Hungary cấm binh sỹ viết thư về nhà vì sợ sự hoang mang lan đến tận Budapest. Ngay cả hối lộ cũng không được. Trước một cuộc tấn công, quân lính được khích lệ bằng “bữa ăn tốt nhất có thể – với sôcôla, mứt trái cây, mỡ lợn, đường và ragu” nhưng hầu hết lại bị đau dạ dày bởi “không thể nạp nhiều thức ăn như vậy”

          “Quân Nga là những thiện xạ đáng nể” Balogh viết vào ngày 15 tháng Chín “Lạy Chúa, đừng để con là đích ngắm của họ. Chúng con đang đối mặt với những đơn vị thiện chiến nhất của Nga” viên hạ sỹ thiếu am hiểu này thêm vào “những tay súng Siberia dưới sự chỉ huy của Timoshenko. Chúng con lạnh, đó là vẫn chưa tới mùa đông. Và điều gì sẽ xảy ra nếu chúng con vẫn còn ở đây khi mùa đông đến? Hãy giúp con với, lạy Đức Mẹ Đồng Trinh, hãy cho con về nhà”. Những dòng của anh ta ngày hôm sau một lần nữa lại cầu xin “Chúa và Đức Mẹ Đồng Trinh” – là những dòng sau cùng. Nhật ký của Balogh được tìm thấy từ xác anh, cạnh bờ sông Đông, được dịch sang tiếng Nga vài ngày sau đó tại Bộ Chỉ Huy Phương diện quân Tây Nam của tướng Vatutin và gửi về Moscow.

        Tập đoàn quân số 8 Italia, đóng giữ cạnh sườn sông Đông giữa quân Hungaria và tập đoàn quân số 3 Romania, đã đựơc người Đức lưu tâm ngay từ cuối tháng Tám. Tổng hành dinh Quốc trưởng bị ép phải đồng ý rằng quân đoàn Lục quân XXIX phải được dùng để tăng cường cho sức phòng thủ của quân Ý. Ban tham mưu đã ra chỉ thị sau cho các sỹ quan liên lạc “Ta phải đối xử với họ lịch thiệp, cần phải hiểu biết về mặt tâm lý, chính trị…. Hoàn cảnh và môi trường ở Ý làm cho quân của họ khác với người của ta (Đức). Quân Ý dễ bị mệt mỏi hơn, nhưng ở khía cạnh nào đó khác thì họ lại sung sức. Chúng ta không nên trịch thượng trước đồng minh Ý, những con người gan dạ đã đến đây, trong những điều kiện khắc nghiệt và khác thường, để giúp chúng ta. Đừng gọi họ bằng những tên khó nghe và cũng đừng quá gay gắt với họ”.

         Những hiểu biết này chỉ thay đổi được chút xíu biểu hiện thiếu nhiệt tình với cuộc chiến của quân Ý. Như một trung sỹ, khi được thẩm vấn viên Sô viết hỏi tại sao cả tiểu đoàn của anh đầu hàng mà không bắn phát nào, đã trả lời với một lập luận hết sức dân dã: “Chúng tôi không bắn trả bởi chúng tôi nghĩ rằng đây là một sai lầm”.

         Tập đoàn quân VI, để thể hiện khối đoàn kết chống Quốc tế Cộng sản, có trong đội hình của mình một đơn vị Đồng minh là trung đoàn Croatia số 369 phối thuộc vào sư đoàn Jager 100 Áo. Ngày 24 tháng 9, Poglavnik của Croatia, TS. Ante Pavelíc, đã đáp phi cơ đến duyệt quân đội và gắn mề đay. Ông ta được tướng Paulus cùng dàn Vệ binh danh dự của Luftwaffe chào đón.

         Về mặt chiến lược, các đơn vị Đồng minh quan trọng nhất chính là hai tập đoàn quân Romania đóng hai bên cánh của tướng Paulus. Nhưng các đơn vị đó không chỉ trang bị kém mà còn không đầy đủ sức mạnh. Nhà cầm quyền Rumani, dưới áp lực của Hitler yêu cầu cung cấp thêm quân, đã vét đi hơn 2000 tù thường phạm với các tội danh hãm hiếp, cướp của, giết người. Một nửa trong số đó được đưa đến tiểu đoàn trừng giới đặc biệt 991, nhưng đa phần đã đào ngũ hay trận chạm súng đầu tiên với đối phương và đơn vị đó bị giải thế, số quân còn lại chuyển thuộc vào sư đoàn bộ binh số 5 ở mặt trận sông Đông, đối diện với quân của tướng Serafimovich.

        Giới sỹ quan Rumani bị hoang tưởng khác thường về việc đối phương thâm nhập vào hậu tuyến của họ. Khi có dịch lỵ bùng phát, thì điều này lại đựơc lưu tâm nghi ngờ quá mức. Như một thông điệp cảnh báo nội bộ sư đoàn bộ binh số 1 Rumani viết “Gián điệp Nga đã đem nhiều thuốc độc vào hậu phương gây ra thương vong trong quân ta. Chúng dùng thạch tín, một gam của nó đủ giết chết mười người”. Chất độc đựơc cho là dấu trong các bao diêm, và “gián điệp” được xác định là “phụ nữ, người nấu bếp và những người phụ giúp có liên quan đến việc cung cấp thực phẩm”.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:31:59 PM »

          Quân Đức các cấp, những ai có liên hệ với Đồng minh thường mất tinh thần vì cái cách mà sỹ quan Rumani đối đãi với binh sĩ của họ. Các sỹ quan đó có phong cách như “Chúa tể và chư hầu”. Một bá tước Áo, trung uý Graf Stolberg, báo cáo rằng “Tất cả các sỹ quan đều không tốt…. Họ không được binh sỹ yêu mến”. Một hạ sỹ, tình nguyện quân thuộc sư đoàn bộ binh 305 ghi chú rằng bếp dã chiến của quân Rumani chuẩn bị ba nhóm phần ăn “một dành cho sỹ quan, một cho NCO và một cho binh lính, phần sau cùng thì có rất ít thứ để ăn”.

        Quan hệ giữa hai quân đội Đồng minh được biểu lộ qua các cuộc cãi lộn thường xuyên. “Để tránh các vấn đề đáng tiếc hoặc hiểu lầm trong tương lai giữa binh sỹ Đức và Rumani, mà mối quan hệ thân tình đó vốn phải được gắn kết bằng máu trong các tình huống thông thường trên mặt trận”, Tư lệnh tập đoàn quân Rumani số 6 yêu cầu phải tổ chức “thăm hỏi, ăn tối, tiệc tùng và vâng vâng để các đơn vị Đức- Rumani thiết lập được mối liên hệ tinh thần gần gũi”.

        Trong đầu mùa thu năm 1942, các sỹ quan tình báo Hồng quân chỉ có ý niệm mơ hồ về sự tín nhiệm của Wehrmarch với quân “Hiwis” – những người tình nguyện. Trong khi chỉ có một số là tình nguyện thật thụ, còn hầu hết là tù binh chiến tranh Sô viết, tuyển mộ từ các trại để bổ sung cho tình trạng thiếu hụt nhân lực, chủ yếu là làm lao công, nhưng ngay cả phục vụ trong các hoạt động chiến đấu cũng tăng lên.

         Đại tá Groshcurth, tham mưu trưởng quân đoàn XI đóng ở khúc ngoặc lớn của sông Đông, nhận xét trong một lá thư gửi tướng Beck: “Thật là đáng lo khi chúng ta buộc phải tăng cường lực lượng cho các đơn vị chiến đấu bằng những tù binh chiến tranh Nga, họ sẵn sàng trở thành các pháo thủ. Có một cảm giác kỳ cục về việc những “tên quái vật” mà chúng ta từng đánh nhau giờ lại cùng sống và có cùng quyền lợi”.
 
         Tập đoàn quân VI có hơn 50.000 quân bổ trợ phân vào các sư đoàn tiền duyên, tương đương với một phần tư sức mạnh của họ. Ở sư đoàn bộ binh số 71 và 76, mỗi đơn vị có hơn 8,000 Hiwis, gần bằng với số người của họ vào thời điểm giữa tháng Mười Một (Đó là không tính số Hiwis trong các đơn vị còn lại của tập đoàn quân VI và các đơn vị phối thuộc khác, mà theo các ước tính có thể lên đến hơn 70,000).

          “Người Nga trong quân đội Đức có thể chia thành ba nhóm” một tay Hiwis bị bắt đã khai với người thẩm vấn NKVD “Nhóm thứ nhất, là lính được động viên vào quân Đức, còn được gọi là quân Cossack, thường được biệt phái vào các sư đoàn Đức. Nhóm thứ hai là các Hilfswillige được lấy từ dân địa phương hoặc tù binh Nga tình nguyện hoặc lính Nga đảo ngũ sang phía Đức. Nhóm này được mặc quân phục Đức với đầy đủ huy hiệu, cấp bậc. Họ ăn uống như quân Đức và hoạt động trong các trung đoàn Đức. Nhóm thứ ba là tù binh Nga làm những công việc bẩn thỉu, bếp núc, chăn ngựa v.v… Ba nhóm này được đối đãi khác nhau, dĩ nhiên là phần tốt nhất dành cho những kẻ tình nguyện. Lính trơn thì đối xử với chúng tôi cũng ổn, nhưng bọn sỹ quan và NCO thuộc sư đoàn Áo thì thật tệ.”

         Tay Hiwis này là một trong số mười một tù binh Nga lấy từ trại Novo-Aleksandrovsk lúc cuối tháng mười một năm 1941 để phục vụ cho quân Đức. Tám trong số đó bị bắn khi họ gục ngã trên đường hành quân vì đói. Người sống sót này được cho vào một bếp ăn dã chiến thuộc một trung đoàn bộ binh, ở đó hắn gọt khoai tây. Rồi được chuyển sang trông coi ngựa.

        Đa phần trong số gọi là các đơn vị Cossack thành lập để chống du kích và đàn áp ở vùng hậu phương, như tên Hiwis kể trên nhắc tới, có sự cân xứng cao của người Ucraina và người Nga. Hitler ghét cái ý tưởng người Slav trong quân phục Đức, thế mà họ phải định nghĩa lại như với trường hợp người Cossack, được xem như chấp thuận về mặt chủng tộc. Điều này phản ánh sự bất đồng cơ bản giữa hệ thống Quốc xã, vốn ám ảnh bởi việc nô dịch hóa hoàn toàn dân Slav, và giới sỹ quan chuyên nghiệp, tin rằng cơ hội duy nhất của họ là hành động như những người giải phóng cho dân Nga khỏi chủ nghĩa cộng sản. Ngay từ đầu mùa thu năm 1941, tình báo quân đội Đức đã đi đến kết luận rằng Wehrmacht không thể chiến thắng ở Nga nếu không biết từ một cuộc xâm lăng thành một trận nội chiến.

          Quân Hiwis được thuyết phục qua những lời hứa hẹn để tình nguyện từ các trại tù, nhanh chóng tỉnh ngộ ra. Như một anh lính đào ngũ người Ruthenian trong buổi thẩm vấn đã mô tả những Hiwis mà anh gặp khi tìm nước trong một ngôi làng. Rằng họ là người Ucraina đã đào ngũ sang phía Đức với hi vọng sẽ được về nhà. Họ nói với anh ta “Chúng tôi tin vào những tờ truyền đơn và muốn trở về với vợ mình”.

        Thay vào đó họ lại nhận thấy mình đang khoác lên bộ quân phục Đức và bị huấn luyện bởi sỹ quan Đức. Mà phương pháp rèn luyện thì thật tàn nhẫn. Họ có thể bị bắn vì “những lỗi nhỏ nhặt nhất” như là rớt lại sau tuyến hành quân. Rồi nhanh chóng sau đó, họ lại bị gửi ra tiền tuyến. “Vậy anh sẽ giết đồng bào mình à?” anh lính Ruthenian hỏi “Chúng tôi biết làm gì bây giờ?” họ trả lời “Nếu chúng tôi chạy về lại phía Nga, chúng tôi sẽ bị xem như những kẻ phản bội. Còn nếu không chiến đấu, chúng tôi sẽ bị quân Đức bắn”.

          Hầu hết các đơn vị tiền duyên Đức dường như đối xử với quân Hiwis của họ tốt, dẫu rằng vẫn có biểu lộ của sự coi thường. Một phân đội chống tăng thuộc sư đoàn tăng số 22 ở bờ Tây sông Don thường cho tay Hiwi, mà họ gọi là Ivan, áo khoát và súng trường để bảo vệ đại bác chống tăng khi họ xuống làng uống chút gì đó, nhưng có một lần, họ phải chạy về để cứu hắn bởi một toán quân Romania, khi biết được gốc gác của tay đó đã muốn bắn hắn ngay tại trận.

         Với nhà cầm quyền Soviet, ý tưởng về các cựu Hồng quân phục vụ cho Wehrmacht bị hoàn toàn làm nhiễu loạn. Họ đi đến kết luận là việc thanh lọc và công tác của Bộ phận Đặc biệt là gần như không đủ triệt để. Ban chính trị phương diện quân Stalingrad và NKVD bị ám ảnh bởi việc các Hiwis được dùng để thâm nhập vào tuyến của họ. “Ở vài địa đoạn mặt trận” Shcherbakov được thông báo “có vài trường hợp Nga-gian mặc quân phục Hồng quân và thâm nhập vào các vị trí ta để thám sát, bắt cóc lính, sỹ quan để thẩm vấn”. Ở khu vực của sư đoàn Bộ binh số 38 (tập đoàn quân 64), trong đêm 22 tháng Chín, một nhóm tuần tra trinh sát Soviet đã đụng độ với một tổ cảnh vệ Đức. Phía Hồng quân báo cáo khi quay về rằng có ít nhất một tên “Nga gian” trong số quân Đức. Cụm từ “Nga gian” được dành cho bản án tử hình với hàng trăm, hàng ngàn người trong các phiên tòa ba năm sau đó, như SMERSH tập trung trong câu hỏi về hành động bội tín, vốn nằm sâu trong tâm trí Stalin.

        Bằng việc nhanh chóng tước bỏ quốc tịch của những kẻ chống đối và ly khai, Liên Xô cố ngăn chặn bất kỳ bất kỳ dấu hiệu nào của sự bất mãn, không trung thành trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2015, 05:34:47 PM »

                                                                                                XII

                                                                                    PHÁO ĐÀI SẮT THÉP VÀ VỤN VỠ
   
 

          “Liệu Stalingrad có thành một Verdun thứ hai không?”. Đại tá Groscurth viết trong ngày 4 tháng Mưới “Đó là những gì mà mọi người ở đây hỏi với sự quan ngại lớn”. Sau bài phát biểu của Hitler ở sân vận động Berlin Sportpalst bốn ngày trước, tuyên bố rằng không ai có thể đẩy được họ ra khỏi các vị trí trên sông Volga, Groscurth và những người khác đã cảm thấy rằng Tập đoàn quân VI sẽ không được phép ngừng trận chiến này nữa, bất kể hậu quả gì. “Nó gần như trở thành một thứ vấn đề uy tín giữa cá nhân Hitler và Stalin”

        Trận tấn công lớn của phía Đức vào quận Nhà máy ở phía bắc Stalingrad bắt đầu khá tốt trong ngày 27 tháng Chín, nhưng lúc cuối ngày thứ hai, các sư đoàn Đức biết rằng họ lâm vào một trận chiến khó khăn nhất từ trước tới giờ. Khu liên hợp Tháng Mười Đỏ và xưởng pháo binh Barrikady trở thành các pháo đài chết chóc như ở Verdun. Họ bị nguy hiểm cực kỳ vì các trung đoàn Soviet ẩn nấp rất tốt.

       Các sỹ quan sư đoàn bộ binh Siberia số 308 của Gurtiev, khi vừa đến xưởng Barrikady và đoạn đường sắt tránh tàu của nó, đã nhận thấy “những phân xưởng sửa chữa to, cao, đen trũi, và những tuyến ray lấp lánh ướt đè lên những toa hàng hư hại gỉ sét nằm hỗn độn, những cột xà thép gãy nằm ngổn ngang trên một diện tích tương đương với quảng trường thành phố, những đống than đá và xỉ đỏ, những ống khói to lủng lỗ chỗ bởi đạn pháo Đức”

         Gurtiev bố trí hai trung đoàn để bảo vệ xưởng, còn trung đoàn thứ ba giữ cạnh sườn bao gồm cả hẻm núi sâu chạy xuyên từ khu tập thể công nhân đã bị cháy rụi đến sông Volga. Và nơi này nhanh chóng được biết đến là “hẻm tử thần”. Quân Siberi không để phí thời gian. “Trong sự im lặng kinh người, họ đào trên vùng đất sỏi đá bằng cuốc chim, đục lỗ châu mai trên tường nhà máy, làm hầm trú ẩn, boongke và giao thông hào”. Một sở chỉ huy được thiết lập tại đoạn hào vách bê tông dài chạy dưới một nhà xưởng lớn. Gurtiev nổi danh là một người luyện quân khắc nghiệt. Khi còn nằm trong thê đội dự bị ở bờ đông sông Volga, ông đã bắt họ phải đào chiến hào, rồi cho xe tăng chạy qua. “Kỷ luật sắt” như các đó là phương thức tốt nhất để dạy họ đào hào cho sâu.

          May mắn cho quân Siberia, chiến hào của họ đã sẵn sàng khi những chiếc Stuka ập đến. “Nhạc công” hay “máy hét”, như quân Nga gọi những chiếc máy bay ném bom bổ nhào này bởi tiếng hú rền rĩ của nó, gây ít sát thương hơn thông thường... Quân Siberia làm những chiến hào hẹp, vì thế giảm được ảnh hưởng của mảnh bom, nhưng những đợt sóng chấn động liên miên do sức nổ làm mặt đất rung chuyển như bị động đất và gây ra những cơn đau dạ dày. Những tiếng nổ lớn còn gây cho mọi người bị điếc tạm thời. Đôi khi, những đợt sóng xung kích mạnh còn làm vỡ kiếng và hệ thống vô tuyến phải tạm ngưng tiếng.

         Các cuộc tấn công dọn đường của không quân kéo dài cho đến hết ngày. Sáng hôm sau, khu Barrikady bị các phi đoàn Heinkel 111 ném bom rải thảm và bị pháo binh bắn phá. Đột nhiên, hỏa lực Đức ngưng bặt. Ngay trước khi tiếng hô cảnh báo “Hãy sẵn sàng!”, thì quân Siberia đã chuẩn bị cho họ xong, biết rõ rằng cái điềm yên tĩnh kia nói lên điều gì. Chỉ giây lát sau, họ nghe thấy tiếng rít, tiếng nghiến kèn kẹt của xích xe tăng trên đống đổ nát.

         Trong những ngày kế tiếp, bộ binh Đức nhận ra rằng quân Siberia của Gurtiev không ngồi yên để đợi họ. “Quân Nga tấn công từ sáng mới đến tối mịt” một NCO của sư đoàn Jager 100 báo cáo. Sách lược ngông cuồng tột độ của Chuikov khi liên tục phản công làm các tướng lĩnh Đức kinh ngạc, dù họ buộc phải chấp nhận rằng điều này làm thiệt hại quân của mình. Tuy thế, Phương tiện phòng thủ hữu hiệu nhất lại là đại bác hạng nặng đặt ở phía bờ đông sông Volga, mỗi khi kế hoạch bắn của họ được phối hợp.

          Ở khu liên hợp Tháng Mười Đỏ, các đơn vị thuộc sư đoàn chống tăng số 414 dấu pháo 45mm và 96mm của họ vào trong các đống đổ nát, dùng những tấm thép vỡ để ngụy trang và che chắn. Họ được định vị để bắn với khoảng cách chỉ từ 150 thước trở xuống. Bình minh ngày 28 tháng Chín, hai trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 193 qua được sông Volga và nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí. Cuộc “xông đất” của họ bắt đầu bằng một đợt công kích ồ ạt của máy bay Stukas trong ngày hôm sau. Đà tiến của quân Đức buộc họ phải khẩn cấp có thêm viện binh. Và sư đoàn bộ binh Cận vệ 39 được gửi qua dù rằng nó mới chỉ đạt một phần ba sức mạnh của mình.

        Các cuộc tấn công phía Đức càng mạnh hơn trong tháng Mười, đặc biệt khi có thêm tăng viện là sư đoàn bộ binh 94, sư đoàn xe tăng 14 và năm tiểu đoàn công binh chiến đấu vừa không vận đến. Về phía Sô viết, các đơn vị hoàn toàn bị xé lẻ và thường mất liên lạc, nhưng từng cá nhân, từng nhóm vẫn tiếp tục chiến đấu mà không cần lệnh. Ở khu vực Barrikady, lính công binh Kossichenko và một lính lái tăng không rõ tên, mỗi người đều bị gãy một tay, đã rút chốt lựu đạn bằng răng. Khi đêm xuống, cánh công binh vẫn tiếp tục chạy lên phía trước, mang theo mìn chống tăng, mỗi lần hai quả, “cắp chúng dưới nách như cắp bánh mỳ”, và chôn vào các đống đổ nát trên các hướng tiếp cận. Grossman viết rằng “Các cuộc tấn công quân Đức cuối cùng phải chùng lại bởi những người lính Siberi bướng bỉnh, ngang ngạnh”. Một tiểu đoàn công binh Đức chỉ trong một trận tấn công đơn lẻ, đã bị thương vong đến 40%. Viên chỉ huy sau khi đến thăm quân mình, đã ra về với gương mặt lặng câm, hóa đá.

         Các sư đoàn của Chuikov bị thiệt hại nghiêm trọng, mệt mỏi và thiếu đạn dược. Nhưng vào ngày 5 tháng 10, tướng Golikov, cấp phó của Yeremenko, đã vượt sông và mang đến lệnh của Stalin rằng thành phố phải đứng vững và những phần bị quân Đức tạm giữ phải được tái chiếm. Chuikov chả thèm quan tâm tới mệnh lệnh ngớ ngẩn đó. Ông ta biết cơ hội duy nhất của mình để có thể trụ nổi là nhờ vào các cuộc pháo kích từ bên kia sông. Phía Đức cũng nhanh chóng cho Yeremenko thấy sự không thích hợp đó. Sau ngày 6 tháng 10 khá yên lặng, quân Đức mở một cuộc tấn công lớn vào xí nghiệp máy kéo Stalingrad với sư đoàn xe tăng 14 đánh từ phía tây-nam và sư đoàn mô tô hóa số 60 từ phía tây. Một trong các tiểu đoàn của sư 60 đó gần như bị xóa sổ bởi những loạt Katyushas bắn kịch tầm. Góc nâng được tăng thêm do bánh sau của những chiếc xe mang dàn phóng được kê lên trên bờ dốc đứng của sông Volga. Trong khi đó, một bộ phận của Sư đoàn tăng 16 (Đức) tấn công vùng ngoại ô khu công nghệ Spartakovka ở phía bắc, đẩy lùi những phần còn lại của Sư đoàn bộ binh 112 và Lữ đoàn đặc biệt 124.

        Tập đoàn quân của tướng Chuikov, lúc này chỉ còn giữ được một dải đất mỏng manh dọc bờ tây, tưởng chừng như luôn luôn có thể bị đẩy xuống sông.

         Việc vượt sông Volga càng trở nên nguy hiểm hơn khi chu vi phòng thủ của tập đoàn quân 62 giảm xuống trầm trọng. Các pháo đội Đức, thậm chỉ cả đại liên cũng có thể trực xạ vào các vị trí đổ bộ. Một cây cầu phao hẹp nối liền đảo Zaitsevsky đến bờ tây được xây bởi một tiểu đoàn thủy binh Volga đến từ Nam Tư. Nó cho phép một dòng liên miên như đàn kiến, những người tải thức ăn, đạn dược băng qua sông trong đêm đen. Kích thước nhỏ của nó làm giảm tối đa mục tiêu, nhưng những bước chân cũng làm cho ván cầu rung rinh không ngớt, thêm vào đó là sức nổ của đạn pháo trên mặt sông ở hai bên cũng làm cho mỗi chuyến đi thêm phần kinh hoàng. Thuyền vận tải vẫn cần thiết cho việc chuyển vận những thiết bị to nặng, cũng như để di tản thương binh. Xe tăng bổ sung được đưa qua bằng sà lan. “Ngay khi trời vừa sẩm tối” Grossman viết “những người có trách nhiệm cho cuộc vượt sông ra khỏi hầm hào, boongke và những nơi ẩn náu”.

        Cạnh bên các điểm vượt sông ở bờ đông là những lò bánh mỳ dã chiến trong boongke, là bếp ngầm để cung cấp thực phẩm nóng vào bình thủy và cả nhà tắm. Bất chấp những tiện nghi tương đối này, chế độ ở bờ đông cũng gần khắt nghiệt như trong thành phố. Đội thuyền vận tải và thủy thủ đoàn chịu lệnh trực tiếp của vị chỉ huy NKVD mới, thiếu tướng Rogatin, cũng là chỉ huy quân quản của Quận Sông.

       Mức độ thương vong trong thủy thủ giang đoàn Volga cũng bằng với các tiểu đoàn tiền duyên. Ví dụ, chiếc tàu hơi nước Lastochka (nghĩa là Chim Nhạn) trong khi di tản thương binh, đã nhận đến mười phát đạn bắn thẳng, chỉ trong một chuyến đi. Những người sống sót sửa chữa các vết thủng trong cả ngày, và rồi lại sẵn sàng phục vụ trở lại trong đêm tiếp theo. Thiệt hại do những tai nạn do áp lực cao cũng khá nặng nề.

         Ngày 6 tháng 10, một chiếc tàu chở quá tải đã lật úp, mười sáu trong số hai mốt người bị chết đuối. Và không lâu sau đó, một chiếc khác cập bờ trong đêm sai vị trí, và 34 người hy sinh ở bãi mìn. Dù muộn chút xíu, trong ngày, tai nạn được báo cho nhà cầm quyền để “quây bãi mìn bằng thép gai”.

        Sự căng thẳng trong công việc đưa đến các cuộc rượu chè say sưa nếu có cơ hội. Ngày 12 tháng Mười, lính NKVD khi tìm kiếm quân đào ngũ đã kiểm tra vài ngôi nhà ở một ngôi làng cạnh bờ sông Tumak, và họ phát hiện thấy một “khung cảnh đáng thất vọng”. Một đại úy, một chính trị viên, một trung sỹ quân nhu, và một hạ sỹ thuộc Giang đoàn Volga cùng Bí thư đảng ủy địa phương “Say không biết trời đất”, và như theo báo cáo ghi nhận, là nằm ngay trên sàn nhà “trong trạng thái ngủ với phụ nữ”. Vẫn còn trong tình trạng say xỉn, họ bị kéo đến trước mặt “chỉ huy NKVD tại Stalingrad, thiếu tướng Rogatin”.

          Cũng có những tình huống lạ lùng ở bên kia bờ. Ngày 11 tháng Mười, trong một trận chiến gay go ở xí nghiệp máy kéo Stalingrad, T-34 của lữ đoàn xe tăng 84 cùng với lính của sư đoàn bộ binh cận vệ 37 ngồi trên tháp pháp, trên ô động cơ, phản công vào sư đoàn tăng 14 Đức ở phía tây nam xí nghiệp. Cả hai đơn vị Sô viết này đều mới đến bờ Tây. Một lính lái tăng, không nhìn thấy có một hố bom nên lái thẳng qua nó. Theo báo cáo thì “Đại đội trưởng đại đội bộ binh, đang say rượu” nổi cơn thịnh nộ vì cú sóc ghê gớm đó, đã nhảy xuống. “Hắn chạy đến trước chiếc xe, mở cửa sập và bắn hai phát, giết chết người lái tăng”.

         Trong tuần thứ hai của tháng Mười, cuộc chiến có chút tạm lắng. Tướng Chuikov, đã đúng khi nghi ngờ rằng quân Đức đang chuẩn bị cho một trận tấn công lớn hơn, khả năng là có thêm viện binh.

         Tướng Paulus cũng bị áp lực từ Hitler tương tự như Chuikov từ phía Stalin. Ngày 8 tháng Mười, cụm tập đoàn quân B, theo lệnh từ Tổng hành dinh Quốc trưởng, đã yêu cầu tập đoàn quân Sáu chuẩn bị một trận tấn công lớn vào phía bắc Stalingrad, và bắt đầu chậm nhất là vào ngày 14 tháng Mười. Paulus và Ban tham mưu đã bị mất hết tinh thần bởi những thiệt hại của họ. Một trong các sỹ quan của ông đã ghi vào nhật ký chiến tranh rằng sư đoàn bộ binh 94 giảm xuống chỉ còn 535 tay súng, “điều này có nghĩa là sức chiến đấu trung bình của một tiểu đoàn bộ binh chỉ còn 3 sỹ quan, 11 NCO và 62 lính”. Anh ta cũng mô tả rằng sư đoàn bộ binh 76 là “mất sức chiến đấu”. Chỉ còn sư đoàn bộ binh 305, tuyển mộ từ bờ bắc hồ Constance là trù bị của Tập đoàn quân VI để tăng cường cho các đơn vị chiến đấu.

         Quân Đức, qua truyền đơn và loa phóng thanh, đã không giữ bí mật cho việc chuẩn bị của họ. Câu hỏi duy nhất còn lại là dự đoán mục tiêu tấn công. Các đại đội trinh sát Sô viết được điều đi hằng đêm để tóm lấy càng nhiều “cái lưỡi” càng tốt. Các lính gác vô phước hoặc những người tải lương bị kéo về phía sau để dành cho các cuộc thẩm vấn chuyên sâu, và tù binh, thông thường qua nỗi khiếp sợ do luận điệu tuyên truyền của phát xít về các phương pháp tra tấn của phía Bolshevik, đã rất hăm hở để nói. Bộ phận tình báo của tập đoàn quân 62 đã nhanh chóng kết luận sau khi tổng hợp từ các nguồn tin, rằng nỗ lực chính là nhằm thẳng vào xí nghiệp máy kéo. Những công nhân còn lại ở đó và ở xí nghiệp Barrikady, những người đã sửa chữa xe tăng, pháo chống tăng cho cuộc chiến, đã được tuyển mộ vào các tiểu đoàn tiền duyên hoặc với các chuyên viên đặc biệt, thì sơ tán sang bên kia sông.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM