Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:46 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ký Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: "Những nẻo đường thời gian".  (Đọc 23422 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #40 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:40:44 PM »

Chấp hành chỉ thị của trên, các quân khu, đơn vị đã có sự phối hợp với ngành Thương binh -  xã hội, cùng các địa phương tập trung cất bốc qui tập số mộ liệt sĩ chôn rải rác ở các địa bàn vùng đồng bằng về từng khu vực và đưa vào các nghĩa trang liệt sĩ. Bộ Quốc phòng giao cho các quân khu, đơn vị tổ chức cất bốc qui tập mộ liệt sĩ ở vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi trong nước và trên đất Lào, Cămpuchia đưa về bàn giao cho ngành Thương binh - xã hội các địa phương quản lý. Từ năm 1976 đến cuối năm 1985, cả nước đã qui tập được trên 54 vạn mộ liệt sĩ. Ta phối hợp với bạn xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở một số nơi trên đất Cămpuchia và Lào. Đồng thời đã tiến hành xây dựng một số công trình bia kỷ niệm các trận chiến đấu, chiến dịch tiêu biểu, có ý nghĩa lịch sử ở một số địa phương trong nước.
Tuy đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do điều kiện chiến tranh ác liệt, kéo dài, chiến trường rộng lớn, đầy khó khăn phức tạp, nên hài cốt liệt sĩ chôn cất hết sức rải rác, phân tán, xa dân, xa các trục giao thông, nhiều vùng đã bị cây rừng mọc kín, vì thế việc tìm kiếm rất nhiều khó khăn. Nhiều nơi số mộ vô danh chiếm  hơn 60% số mộ qui tập được. Tính đến đầu năm 1986, tổng số mộ liệt sĩ chưa cất bốc qui tập còn khoảng 52 vạn mộ, bao gồm cả trong nước và trên nước bạn Lào, Campuchia.

 Giải quyết chính sách đối với thương binh sau các cuộc chiến tranh là một công tác hệ trọng, với nhiều khó khăn, phức tạp. Tổng số thương binh, bệnh binh trong kháng chiến chống Mỹ về điều dưỡng tại các đoàn an dưỡng của quân đội qua các thời kỳ là 49 vạn người. Trong đó có 30 vạn thương binh và 19 vạn bệnh binh. Đến cuối năm 1980, về cơ bản quân đội đã bảo đảm giải quyết xong chính sách đối với thương binh, bệnh binh trong kháng chiến chống Mỹ.
Trong khi tập trung giải quyết số thương binh, bệnh binh chống Mỹ, thì từ năm 1977 lại phải giải quyết chính sách cho thương binh, bệnh binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với số lượng lớn.
Yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghiã vụ quốc tế  đòi hỏi công tác chính sách phải đáp ứng kịp thời cả trong nghiên cứu đề đạt cũng như trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Cục Chính sách đã phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ ban hành chính sách đối với bộ đội làm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới, biển đảo đảo xa và làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Cămpuchia. Bao gồm : các qui định về chế  độ tiền lương, phụ cấp, tiêu chuẩn ăn mặc, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, nhu yếu phẩm, bồi dưỡng sức khỏe khi làm nhiệm vụ và khi hoàn thành nhiệm vụ trở về ; chế độ khi bị thương, hy sinh ; chính sách đối với gia đình ; chế độ khen thưởng , nghỉ phép ; chế độ bảo đảm sinh hoạt văn hóa tinh thần.

Ở Cục Chính sách hồi ấy, trừ mấy anh nhân viên hồ sơ, còn lại cán bộ đều là những người lớn tuổi, đã từng công tác trong quân đội từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tôi thuộc diện cán bộ trẻ, lại chưa lập gia đình. Bởi vậy, ngay từ khi bước chân về Cục, các cô, các chú trong cơ quan từ Cục trưởng Lê Tiến Phục trở xuống, đều có ý định giới thiệu cho tôi nơi này, nơi khác. Chân ướt chân ráo mới được điều động về cơ quan Cục, lại là một chàng trai học sinh nông thôn đi chiến đấu gần chục năm ở chiến trường trở về, tôi lớ ngớ chưa biết gì.
Thế rồi, qua giới thiệu của bạn bè, tôi gặp và làm quen với Trần Thanh Liễu là bác sĩ đang công tác ở Khoa nội 2 Viện quân y 354. Sau nhiều lần tiếp xúc, từ chỗ có cảm tình rồi chúng tôi yêu thương nhau. Liễu sinh ngày 2 tháng 9 năm 1948, lúc đó tròn 25 tuổi. Liễu là con gái đầu của ông Trần Sâm và bà Lê Thị Lý quê ở xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông bà có năm  người con đều được học hành đầy đủ. Sau Liễu có một em trai và ba em gái : Trần Hùng đang học ở Trường Đại học Kỹ thuật quân sự; Trần Thanh Lan đang học Đại học Hóa tinh vi Lômônôxốp; Trần Thanh Hòa đang học ở Đại học Tổng hợp Humbom, Cộng hòa dân chủ Đức và cô út là Trần Thanh Hà đang học Trường cấp III Chu Văn An, Hà Nội. Cả gia đình ra Miền Bắc từ trong kháng chiến chống Pháp.
Sớm tham gia cuộc sống tập thể, lúc bé học ở Trường Học sinh Miền Nam, lớn lên học ở Trường Đại học Quân y, nhưng thông thường thì Liễu là người kiệm lời, khép kín, ít thể hiện trong quan hệ giao tiếp. Song, qua nhiều lần gặp gỡ, tôi nhận ra đó là một người có nhân cách tốt, sâu lắng, sống bình dị, hiền hậu, khiêm nhường. Trong đời sống tập thể - kể cả trong gia đình lớn - Liễu không bao giờ ganh đua, bon chen với ai, vì bất cứ điều gì. Là con cái cán bộ cao cấp, lại được học hành cơ bản, nghề nghiệp ổn định, nhưng Liễu sống chan hòa với mọi người, không bao giờ tỏ ra khác thường. Từ chỗ đồng cảm với nhau, lại được các cô, các chú trong cơ quan tạo điều kiện tác thành, được hai gia đình đồng ý, sau một thời gian tìm hiểu, chúng tôi yêu thương nhau rồi nên vợ nên chồng. Lễ thành hôn được tổ chức vào ngày 24 tháng 11 năm 1973.
 Hồi mới cưới, trong lúc chưa được phân nhà, chúng tôi ở chung với bố mẹ vợ một thời gian. Chính ngay từ hồi đó và trong suốt thời gian sau này, tôi càng hiểu hơn về gia đình bên vợ.
 Qua học tập, rèn luyện và sự trải nghiệm trong cuộc đời phong phú, sôi động, ở ông Trần Sâm toát lên một con người trong sáng mẫu mực, vừa có năng lực vừa có đức độ. Trên từng cương vị công tác, ông là một cán bộ cương trực, trầm tĩnh, khiêm tốn và thanh liêm, được mọi người quí mến. Trong gia đình, ông  thưòng xuyên khuyên dạy con cháu phải không ngừng học tập. Bất cứ ở đâu, làm việc gì cũng phải tìm hiểu, học tập nghiên cứu đến nơi, đến chốn. Học để nâng cao kiến thức thực sự để làm việc cho tốt chứ không phải học để kiếm tấm bằng trang trí cho oai. Đối với tôi, cùng với cương vị là bố vợ, ông còn là người thầy trên nhiều phương diện – đặc biệt là phương pháp xem xét và giải quyết các vấn đề trong công tác và trong cuộc sống.
Bà Lê Thị Lý là người nhiệt tình hăng hái trong công việc. Tính cách bà  bộc trực, có lúc nóng nẩy. Xuất thân từ thành phần lao động, bà cảm thông và rất thương người, nhất là những người bình dân có hoàn cảnh khó khăn. Trong gia đình, bà yêu cầu con cái phải lao động và không được cậy thế đua đòi . Mặc dù rất gay gắt, nhưng bà lại chăm chút lo lắng cho con cháu từ việc nhỏ đến việc lớn. Bà thương con cháu với tất cả tấm lòng thơm thảo của một người mẹ, người bà.
 Mấy chị em trong gia đình được thụ hưởng những tố chất của cha mẹ, lớn lên trong sự môi trường nuôi dạy vừa tình cảm vừa nghiêm khắc. Vào đời, mỗi người một nghề nghiệp, một cương vị. Nhưng có thể khái quát nét chung nhất của mọi người con trong gia đình là: sự nỗ lực phấn đấu trong học tập, làm việc; sự khiêm nhường, hòa đồng trong quan hệ; và sự kiệm cần, thanh đạm trong đời sống, sinh hoạt.
 4 giờ sáng ngày 28 tháng 8 năm 1974, nhà tôi sinh con trai đầu lòng ở Viện 108, Hà Nội. Chúng tôi và cả gia đình hai bên nội ngoại đều rất mừng. Vợ chồng tôi đặt tên cháu là Nguyễn Quảng An. Ý muốn nói lên rằng, quê ngoại cháu là Quảng Trị và quê nội cháu là Nghệ An. Nhưng niềm vui quá ngắn ngủi. Chỉ được ba ngày điều bất hạnh đã ập đến. Đang trong tiết trời cuối hạ đầu thu nóng bức, thì đêm đó bất chợt gió mùa đông bắc tràn về, cháu bị cảm lạnh đột ngột gây viêm phổi cấp tính, mặc dù bác sĩ Khoa sản phát hiện và cấp cứu kịp thời nhưng vì nặng quá không qua được, cháu mất lúc 5 giờ sáng ngày 31 tháng 8 năm 1974. Chúng tôi bàng hoàng tiếc thương cháu vô cùng. Liễu khóc mất mấy ngày, sưng húp cả hai mắt, không ăn uống gì. Do bị cú sốc quá bất ngờ, đau đớn, hẫng hụt, mất nhiều ngày không ngủ, ăn uống qua quýt, sức khỏe suy sụp rất nhanh. Sự đảo lộn tâm, sinh lý sau khi sinh làm cho Liễu bị mất sữa hoàn toàn. Tôi ngẹn lòng thương con xót vợ.
Sau này khi sinh hai con là Nguyễn Trần Quang, ngày 28 tháng 11 năm 1975 và Nguyễn Trần Thùy Vinh, ngày 18 tháng 1 năm 1980, nhà tôi đều bị mất sữa, phải nuôi bằng sữa ngoài hoàn toàn, khá vất vả. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của thời bao cấp, chúng tôi vừa phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ công tác của mình, vừa cùng nhau chia sẻ  khó khăn, chắt chiu lo toan việc gia đình, nuôi dạy con cái trong đạm bạc, nghèo túng. Ngay từ khi còn rất bé, các cháu Quang, Vinh cũng đã được nếm trải ít nhiều về sự thiếu thốn. Cùng với thời gian, các cháu từng bước khôn lớn, khỏe mạnh, học hành thành đạt. Nối bước cha mẹ, hai cháu đều là sĩ quan quân đội. Hiện nay hai cháu đã xây dựng gia đình. Con dâu chúng tôi là Nguyễn Kim Thoa, công tác ở Đài Truyền hình Việt Nam. Hai cháu nội là Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Phúc Hưng. Con rể chúng tôi là Đặng Ngọc Thùy, công tác trong quân đội. Hai cháu ngoại là Đặng Nguyễn Thái và Đặng Nguyễn Thùy Anh. Sự trưởng thành của các con, sự lớn khôn của bốn đứa cháu là niềm hạnh phúc lớn lao đối với vợ chồng tôi.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #41 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:41:03 PM »

 Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hàng ngày thông qua công việc. tôi luôn luôn có ý thức tự học để nâng cao trình độ công tác chuyên môn. Trên thực tế, tôi nghiệm ra rằng, cách tốt nhất là thông qua công tác, chú ý nghiên cứu học hỏi các thủ trưởng và các anh, các cô chú lớp trước về phương pháp nghiên cứu phát hiện vấn đề, thể hiện văn bản và cách tổ chức theo dõi, quản lý nắm tình hình, chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên từng cương vị phụ trách. Tôi học được ở mỗi người một cách làm hay. Mỗi lần được giao xuống đơn vị, thì chú ý nghe ngóng, quan sát từ khâu đặt vấn đề, khêu gợi, nắm bắt, phân tích, tổng hợp, khái quát, rút ra những vấn đề then chốt nhất cần phản ánh lên trên chỉ đạo kịp thời. Học từ cách tiếp cận, ghi chép trở đi. Khi được giao chuẩn bị một văn bản, tôi cố gắng nghiên cứu thật kỹ chủ trương của cấp trên, các tài liệu có liên quan và thực tiễn tình hình ở cơ sở, để  từ đó trình bày đủ nội dung, cách hành văn chính xác, chặt chẽ, rõ ràng mạch lạc. Lúc được thông qua, tôi cố lưu giữ lại các bản thảo đã có ý kiến sửa chữa của cấp trên, nghiền ngẫm thật kỹ, tự nêu câu hỏi tại sao thế này, tại sao thế kia và tự tìm lấy câu trả lời. Tôi coi việc sửa chữa văn bản của các thủ trưởng là những bài học căn bản, bổ ích, kịp thời đối với cấp dưới. Kinh nghiệm cho thấy, bản thảo nào của người viết được cấp trên sửa chữa, thậm chí sửa chữa nhiều lần, bị gạch xóa be bét, thì đó là một bản thảo được chuẩn bị tốt, được cấp trên chấp thuận. Đáng ngại nhất là khi thông qua, cấp trên trả lại bản thảo còn trắng tinh, không sửa chữa gì. Thực chất đó là bản thảo của cấp dưới chuẩn bị trệch ý, chưa đạt yêu cầu.
Tôi đã chứng kiến một chuyện ở một cơ quan: Có người trợ lý thông qua một bản thảo tài liệu, đã được thủ trưởng trực tiếp sửa. Và theo bản sửa đó, người trợ lý đánh máy sạch, xin thủ trưởng ký ban hành. Nhưng khi đưa lên, thủ trưởng chưa ký mà lại sửa tiếp. Người trợ lý tự ái, cho rằng, thủ trưởng gây khó dễ cho mình. Anh ta quay về mang bản thảo lần trước đã có bút tích sửa chữa của thủ trưởng lên như thể đối chất. Người thủ trưởng nổi đóa lên, xạc cho một trận : “Ai cho phép đồng chí cố chấp, bảo thủ như vậy. Đúng là tôi đã sửa của đồng chí rồi đấy, nhưng đó là chuyện của ngày hôm qua. Hôm nay xem lại, tôi sửa tiếp để hoàn chỉnh hơn. Có sao đâu! Nhận thức là một quá trình chứ. Ban hành một văn bản là phải thận trọng cân nhắc kỹ. Khi văn bản chưa hoàn chỉnh mà người lãnh đạo vẫn đặt bút ký là một việc làm ẩu, tắc trách, sẽ gây hậu quả xấu. Mà văn bản đã sai thì cấp ban hành càng cao, gây hậu quả càng lớn, việc khắc phục càng khó khăn, phức tạp”.
Đồng thời với việc học tập chuyên môn, tôi xin vào học bổ túc văn hóa ở Trường cấp 3 Chu Văn An. Cùng học với tôi hồi đó, có anh Nguyễn Đình Liêu là cán bộ trong Cục Chính sách, chị Cao Minh Châu, cán bộ Nhà máy dệt 10 Tháng 10. Anh Liêu sau này là Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội. Chị Châu sau này là Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội. Dù là học bổ túc nhưng việc tổ chức của Phòng Giáo dục Khu phố Ba Đình và nhà trường ngày đó chặt chẽ qui củ. Thầy Khiêm hiệu trưởng, thầy Chỉnh hiệu phó và các thầy khác có trách nhiệm rất cao trong việc giảng dạy. Chúng tôi học hành rất nghiêm túc, tích cực và thực chất. Ngày đó một bộ phận của Cục Chính sách đóng ở gần cầu Mai Lĩnh, cách trung tâm Hà Nội gần 20 km. Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều, tôi đạp xe về Trường Chu Văn An để học. Học xong hơn 10 giờ đêm về nhà ăn cơm tối. Đến 5 giờ sáng lại đạp xe lên đơn vị cho kịp giờ làm việc buổi sáng. Cứ thế, diễn ra hàng năm trời, việc đạp xe cả đi lẫn về trong ngày hơn 40 km. Cực nhất là những ngày mưa gió, rét mướt. Anh Liêu ngày đó gia đình còn ở thành phố Nam Định. Nhiều lần anh về thăm nhà tối thứ 7, mà vẫn nhảy ô tô khách lên Hà Nội cho kịp học vào tối chủ nhật. Có bữa kẹt xe lên muộn anh vẫn vào học.
Mặc dù rời trang sách học trò đã nhiều năm, lại trong điều kiện chiến tranh, nhưng nhờ say mê và chịu khó nên kết quả học tập của tôi vẫn còn tốt. Khi thi tốt nghiệp tôi đạt 29,5 điểm trên 3 môn toán, lý, hóa. Trong giấy chứng nhận tốt nghiệp, có đóng dấu đỏ : Tốt nghiệp thuộc loại xuất sắc. Tôi nhớ, khi học cuối  lớp 10 trên 10 tôi được nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi toán (chương trình bổ túc) của Khu phố (Quận) Ba Đình, tôi đạt giải nhất. Rồi được Khu phố (Quận) cử đi thi tiếp cấp Thành phố, tôi đạt giải nhì. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, Sở Giáo dục trao thưởng cho những học sinh đạt giải tại Nhà hát lớn Hà Nội, tôi được mời lên nhận giải.
Khi vừa ra khỏi sảnh Nhà hát lớn, có người đập vào lưng tôi mà hét lên:
- Trời ơi! Đúng thật là mày, Đẩu ơi!
Tôi nhìn lại thì ra đó là anh Lê Văn Ban người cùng đơn vị cũ. Hai anh em ôm chầm lấy nhau. Anh Ban nói:
- Khi ngồi ở dãy ghế dưới, nghe đọc tên Nguyễn Mạnh Đẩu và nhìn cậu lên nhận giải, tớ không tin vào tai và mắt mình nữa. Ở đời thiếu gì trường hợp trùng tên. Bao nhiêu năm nay rồi, mình và nhiều người nghĩ là cậu đã hy sinh từ trong chiến trường, làm gì còn chuyện này nữa. Vậy là khi tan buổi lễ, mình không ra ngay, cố nán lại xem có đúng là cậu thật không.
Khi học xong chương trình cấp 3 bổ túc văn hóa, tôi xin thi vào hệ đào tạo tại chức Khóa 9 của Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế Quốc Dân). Trúng tuyển, tôi xin đăng ký vào học lớp Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Trải qua 5 năm học tại chức, đến năm 1981, tôi tốt nghiệp Đại học với tấm bằng tại chức dài hạn. Cùng học với tôi hồi đó, nhiều người sau này thành đạt trên nhiều cương vị. Trong đó có anh Đỗ Quang Trung, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ, chị Nguyễn Anh Thục, nguyên Giám đốc Công ty Vật tư bưu điện Tổng cục Bưu điện và nhiều anh chị khác nữa. Trước Tết năm Canh Dần chúng tôi họp mặt tổ học tập cũ tại nhà anh Nguyễn Văn Việt. Có cả chị Thục từ Sài Gòn ra. Đã thành ông, thành bà và đã rời nhiệm sở về nghỉ hưu cả rồi, chúng tôi gặp nhau vui vẻ trong tình cảm bỗ bã, thân thương trìu mến. Ôn lại một thời vừa làm việc vừa đi học trong điều kiện còn rất khó khăn đã để lại nhiều kỷ niệm ấm áp. Dẫu là ai, bao nhiêu tuổi, khi đi học vẫn là học trò với đầy đủ sự tinh nghịch, tếu táo vốn có của nó.


Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, tôi đang công tác ở Phòng Chính sách - Cục Tổ chức. Từ tháng 10 năm 1978, Cục Chính sách đã sáp nhập vào Cục Tổ chức chỉ còn một phòng do ông Nguyễn Hữu Quyền làm Trưởng phòng.
Chiều ngày 23 tháng 2 năm 1979, tôi cùng một số cán bộ cơ quan được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ đi làm phái viên nắm tình hình các đơn vị đang trực tiếp chiến đấu ở biên giới thuộc Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh. Theo phân công, tôi cùng anh Đào Thắng cán bộ Cục Tuyên huấn xuống Trung đoàn 567 Quân khu 1 đang chiến đấu ở mặt trận Cao Bằng.
Từ Hà Nội, chúng tôi đi ô tô lên Thái Nguyên, rồi đi về Cao Bằng. Tiết xuân đang lúc gió mùa đông bắc mưa phùn lất phất, trời se lạnh, đường đi qua nhiều đèo cao. Trên đường đi khá tấp nập xe cộ người ra mặt trận, người về phía sau. Lúc này quân địch đã chiếm được thị xã Cao Bằng. Tỉnh đội Cao Bằng đã lùi về Ngân Sơn, Bằng Khẩu. Vai khoác ba lô, lưng đeo khẩu súng ngắn K59, ngày 25 tháng 2 năm 1979, từ Ngân Sơn chúng tôi đi cắt đường rừng vào Trung đoàn 567 đang hoạt động chiến đấu ở Đường số 4.
 Trung đoàn 567 là trung đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 1. Trung đoàn trưởng là anh Hứa Văn Kính, chính ủy trung đoàn là anh Nông Văn Nhung. Khi chiến tranh xảy ra, trung đoàn đã chiến đấu nhiều trận ở Thạch An, Hà Quảng. Lúc này quân số và vũ khí trang bị của trung đoàn đã bị tiêu hao, lương thực thực phẩm khó khăn. Với chức năng phái viên của Tổng cục Chính trị, nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là nắm tình hình mọi mặt của đơn vị, giúp lãnh đạo chỉ huy trung đoàn xử lý tình huống. Qua nắm tình hình, chúng tôi nhận thấy, cán bộ, chiến sĩ nhận thức khá đầy đủ về âm mưu, thủ đoạn của địch và nhiệm vụ của đơn vị, xác định được quyết tâm chiến đấu. Cùng với việc nắm tình hình chung, tôi còn đi sâu nắm về tình hình chấp hành công tác chính sách của đơn vị trong chiến đấu, nhất là khâu giải quyết giấy tờ cho thương binh về phía sau và việc bình bầu đề nghị khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong chiến đấu.
Là nhà văn quân đội đang tác nghiệp như một  phóng viên chiến trường, anh Đào Thắng đi sâu gặp gỡ các điển hình tiên tiến trong chiến đấu, kịp viết bài đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo quân đội nhân dân. Hàng ngày, chúng tôi cùng ăn ở với bộ đội ở trận địa. Bằng vốn sống thực tế nhiều năm ở chiến trường, tôi khá quen với mọi việc, được anh em từ lãnh đạo chỉ huy đến chiến sĩ thân thiết gần gũi, công việc thuận lợi. Anh Đào Thắng cũng vậy. Trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh là bộ đội pháo cao xạ nhiều năm trên các địa bàn trọng điểm ác liệt ở Khu 4.
Ở trung đoàn được hơn một tuần, có điện của trên gọi chúng tôi về Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng báo cáo tình hình. Chúng tôi lại cắt đường trở ra. Lúc này Bộ Tư lệnh Mặt trận Cao Bằng đóng ở Bằng Khẩu. Ông Đàm Văn Ngụy làm Tư lệnh, ông Ngô Bằng Khê làm Chính ủy Mặt trận. Khi tôi ra đến Bộ Tư lệnh thì gặp và báo cáo với thủ trưởng trực tiếp là ông Hùng Phong, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị mới từ Hà Nội lên đang làm phái viên của Bộ ở Mặt trận. (Một thời gian sau, ông Hùng Phong được điều động làm Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1).
Khi chúng tôi chuẩn bị ra về thì có một việc đột xuất : Mặt trận dùng trực thăng Mi 6 để tiếp tế vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm cho Trung đoàn 567 nhưng tổ lái không xác định được địa điểm, tọa độ đóng quân của Trung đoàn. Vậy là, tôi và anh Đào Thắng được giao nhiệm vụ ngồi lên máy bay để dẫn đường. Dù biết chắc vị trí đóng quân của Trung đoàn 567 nhưng vì đìa hình rừng núi, trời mây mù dày đặc, bay cao thì nhìn xuống dưới không thấy gì, bay  thấp thì sợ đâm vào núi, hơn nữa hồi đó có pháo cao xạ của quân địch đã đưa sang đất ta. Chúng tôi ngồi vào buồng lái để dẫn đường, nhưng loay hoay cả mấy lần đều không tìm được, đành phải bay trở ra căn cứ.
Mấy hôm sau, có điện yêu cầu chúng tôi về Hà Nội gấp để tổng hợp tình hình, kịp xét đề nghị khen thưởng. Nhân có máy bay trực thăng Mi 6 chở hàng lên Mặt trận quay về Hà Nội, chúng tôi được phép cho ô tô vào máy bay để cùng về.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #42 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:41:32 PM »

Trước yêu cầu của công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, việc hình thành một cơ quan cấp cục đủ mạnh giữ vị trí trung tâm giúp Bộ Quốc phòng  trong việc nghiên cứu, phối hợp nghiên cứu đề nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng ban hành chính sách và chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp, ngành, đơn vị và địa phương tổ chức thực hiện chính  sách trở thành một nhu cầu tất yếu, khách quan. Cơ quan đó vừa phải kịp thời đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới;  đồng thời lo chỉ đạo giải quyết những hậu quả còn đọng lại về chính sách sau mấy chục năm chiến tranh.
Ngày 19 tháng 3 năm 1982, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Quyết định thành lập lại Cục Chính sách trực thuộc Bộ Quốc phòng. Cục Chính sách có các nhiệm vụ chủ yếu:
Giúp Bộ Quốc phòng nghiên cứu các chế độ, chính sách của Nhà nước có liên quan đén các lực lượng vũ trang để áp dụng vào quân đội, công nhan viên chức quốc phòng và các lực lượng vũ trang nói chung.
Giúp Bộ nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong quân đội, công nhân viên chức quốc phòng và các lưc lượng vũ trang nói chung cần phải qui định thành chế độ, chính sách để đề nghị Nhà nước ban hành hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định theo phạm vi và quyền hạn.
          Giúp Bộ chỉ đạo các cơ quan và đơn vị tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đã được ban hành đối với quân đội, công nhân viên quốc phòng và các lực lượng vũ trang; tổng hợp tình hình thực hiện chế độ, chính sách đó.
          Giúp Bộ quan hệ với các cơ quan, các ngành của Đảng và Nhà nước trong việc nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội, công nhân viên chức quóc phòng và các lực lượng vũ trang nói chung.
          Dự trù và cung cấp các loại Huân chương, các bằng khen, giấy khen… cho các đơn vị trong toàn quân.
          Đối với các chế độ có lên quan đến nhiều ngành, Cục Chính sách có trách nhiệm giúp Bộ phân công, hướng dẫn cho từng ngành nghiên cứu phần nội dung phụ trách và Cục tổng hợp lại thành Dự thảo chế độ chính sách chung để báo cáo Bộ Quốc phòng xét duyệt.
          Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết đinh về tổ chức biên chế của Cục Chính sách gồm : Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp, Phòng Thương binh - Liệt sĩ, Phòng Hậu phương quân đội, Phòng Hưu trí và Ban Hành chính. Sau đó một thời gian ngắn, Bộ Tổng Tham mưu có quyết định điều động Phòng Khen thưởng ở Cục Cán bộ trên cơ sở giữ nguyên chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, trang thiết bị và cán bộ nhân viên hiện có trở lại đội hình của Cục Chính sách.
Khi tái lập Cục Chính sách, ông Lê Tiến Phục đang là Phó Tư lệnh Chính trị Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trở về làm Cục trưởng. Ông Nguyễn Hữu Quyền, nguyên Trưởng phòng Chính sách Cục Tổ chức – Tổng cục Chính trị và ông Lê Văn Phiệt, nguyên Trưởng phòng Chính sách Cục Quân lực – Bộ Tổng Tham mưu được bổ nhiệm làm Cục phó (ông Phiệt đã nhận quyết định nhưng sau đó chưa kịp về Cục bị ốm nặng rồi từ trần). Sau đó, ông Đặng Hữu Lộc, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 29 được điều động về làm Cục phó. Ông Lộc làm Cục phó được khoảng một năm thì Bộ Quốc phòng lại điều đi làm Phó Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Bộ Quốc phòng Lào. Ông Đoàn Ngọc Luận, nguyên Cục phó Cục Cán bộ Chính trị được điều động làm Cục phó. Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp do ông Nguyễn Khắc Chuẩn, nguyên Trưởng phòng Cán bộ Quân chủng phòng không, làm Trưởng phòng; tôi được bổ nhiệm làm Phó phòng. Phòng Thương binh-Liệt sĩ do ông Nguyễn Công Hoan làm Trưởng phòng, ông Trần Giáng làm Phó phòng. Phòng Hậu phương quân đội do ông Nguyễn Liệu,  nguyên Trưởng phòng Cán bộ Tổng cục Hàng không dân dụng làm Trưởng phòng. Phòng Hưu trí do ông Trần Lưu Quang, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh  Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, làm Trưởng phòng, ông Phạm Thái làm Phó phòng. Phòng Khen thưởng do ông Nguyễn Đức Chiêm làm Trưởng phòng, có hai Phó phòng là ông Phạm Lam và ông Phạm Gia Thiết.( Ban đầu với tên gọi là Phòng Khen thưởng và Kỷ luật. Sau đó chức năng kỷ luật chuyển về Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy quân sự Trung ương. Ông Phạm Gia Thiết cùng chuyển về Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, còn một Phó phòng là ông Phạm Lam).
 Cán bộ của Cục Chính sách thời kỳ đó hình thành từ nhiều nguồn: một số là cán bộ cũ của Cục đã điều đi đơn vị khác lúc Cục sáp nhập vào Cục Tổ chức, nay trở lại; một số khác chọn ở các đơn vị về; nhiều hơn cả là số cán bộ vừa tốt nghiệp khóa bổ túc ở Học viện Chính trị. Chính số cán bộ này đều là cán bộ chủ chốt của Cục, như các ông : Đinh Mạnh Toan, Đỗ Quang Bích, Đinh Công Cử, Phạm Thái, Nguyễn Khắc Chuẩn, Nguyễn Liệu.
Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp lúc đó có: Nguyễn Khắc Chuẩn, Nguyễn Mạnh Đẩu, Đinh Công Cử, Đinh Mạnh Toan, Đỗ Quang Bích, Lê Sĩ Toàn, Hoàng Đức Cân, Nguyễn Bá Bồng, Hồ Ngọc Vận, sau này thêm Hồ Thủy. Chức năng nhiệm vụ của Phòng là: Nghiên cứu đề đạt các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Xây dựng kế hoạch công tác chính sách, cả nghiên cứu cũng như tổ chức thực hiện chính sách. Tổng hợp tình hình thực hiện chính sách trong toàn quân ở từng thời kỳ. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ hệ thống các văn bản chính sách nhằm phổ cập trong toàn ngành.
Thời kỳ này, ông Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngoài việc chỉ đạo các mặt công tác khác, còn trực tiếp phụ trách chỉ đạo Cục chính sách. Với cương vị Phó phòng Nghiên cứu- Tổng hợp, tôi được Thủ trưởng Cục giao nhiệm vụ nhiều lần trực tiếp báo cáo tình hình với ông Quang và nhiều lần “cắp cặp” theo ông đi dự các cuộc họp về chính sách do các bộ, ngành mời hoặc Chính phủ triệu tập.
Lúc mới tái lập, cùng với việc kịp thời triển khai chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các mặt công tác chuyên môn với một khối lượng lớn, trên diện rộng, có nhiều khó khăn phức tạp, Cục Chính sách còn phải đồng thời tập trung kiện toàn tổ chức biên chế, xác định chức năng nhiệm vụ cụ thể và các mối quan hệ, xây dựng chế độ làm việc.
Do hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thời kỳ này cả nước  lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và toàn diện. Sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, chi phí vật chất cao và không ngừng tăng lên. Sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Làm không đủ ăn và phải dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn. Siêu lạm phát hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và giá cả tăng đến chóng mặt. Đời sống nhân dân, cán bộ công nhân viên chức và cán bộ, chiến sĩ quân đội hết sức khó khăn. Các cơ quan, đơn vị ngoài việc thực hành chức năng nhiệm vụ, còn phải bung ra đôn đáo xoay xở lo cải thiện đời sống cho anh em. Hễ ở đâu mua được hàng hóa giá thấp như:  vải, nước mắm, mỳ chính, dầu hỏa, thịt, cá, phụ tùng xe đạp,…đều tìm mua về nhượng cho anh em dùng hoặc đem bán kiếm tiền chênh lệch giá.
Ngày đó đi họp chưa có chế độ phong bì như bây giờ hoặc nếu có thì cũng  rất ít. Ở những cuộc họp lớn, kể cả Đại hội Đảng các cấp, trong kế hoạch bao giờ cũng vậy, bộ phận tổ chức phải xoay xở mua hàng về bán cho đại biểu. Khi họp xong ra về, cùng với tài liệu, mỗi người cầm lủng lẳng mấy thứ đồ lặt vặt. Ngoài giờ đi làm, mọi người đều xoay xở làm thêm nghề phụ để kiếm tiền. Rất nhiều gia đình cố thu hẹp diện tích sinh hoạt vốn đã chật hẹp để nuôi lợn. Người người nuôi lợn. Nhà nhà nuôi lợn. Cả thành phố nuôi lợn. Khách đến thăm nhà, việc đầu tiên là vào thăm chuồng lợn. Chủ nhà cũng thật sự khoe lợn đẹp, hay ăn, chóng lớn.
Để xoay xở lo toan cuộc sống, cán bộ công nhân viên chức Nhà nước xoay xở đủ kiểu. Ngoài nuôi lợn, cá trê phi, chó cảnh, vẹt, làm bánh kẹo, kem, nước đá, đan áo, đan mũ để bán, đi buôn vặt, nhiều gia đình còn sắm máy khâu để may hàng gia công hoặc quấn vỏ pháo, dán hộp các loại. Có thể nói, chưa lúc nào, lao động xã hội được khai thác triệt để như thời kỳ đó. Khi đồng lương không đủ lấp kín được các nhu cầu tối thiểu trong đời sống đạm bạc, thì con nguời ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì, miễn là không vi phạm pháp luật, kiếm thêm được tiền để trang trải.  Kể ra, những đồng tiền kiếm được là rất chính đáng. Chỉ có điều, trong nhiều trường hợp không phù hợp với chức năng, sở trường, nên nhếch nhác, cơ cực quá.
Trải nghiệm qua những tháng ngày tuổi thơ ở một miền quê  nghèo khó, rồi những năm tháng đi chiến đấu trong hoàn cảnh đầy ác liệt, khó khăn, gian khổ ở chiến trường, cộng với những chuỗi dài thiếu thốn, vất vả của thời kỳ cơ chế bao cấp, là những chất liệu đã hun đúc nên ở thế hệ chúng tôi một bản lĩnh chịu đựng dạn dày. Lắm lúc tôi nghĩ rằng, đó là những cái đáy khó khăn trong cuộc đời. Không biết, phần đời còn lại có gì khó hơn.


Một buổi chiều giữa tháng 3 năm 1983, sau giờ làm việc, ông Lê Tiến Phục gọi tôi lên phòng của ông. Sau khi hỏi han về sức khỏe, về tình hình gia đình, ông nói với tôi:
- Thủ trưởng Cục giao cho đồng chí sang Cămpuchia làm việc trong Tổ đại diện của Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh 719 ở PhnômPênh. Tổ đại diện có nhiệm vụ giúp Cục Chính sách và Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 nghiên cứu đề đạt và theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác chính sách đối với quân tình nguyện và chuyên gia quan sự Việt Nam ở chiến trường Cămpuchia. Thời gian công tác ở Cămpuchia ít nhất là 1 năm, sau đó sẽ Cục sẽ cử người khác sang thay.
Nghe xong, tôi hoàn toàn nhất trí và biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, tôi được biết, việc cử tôi lên biên giới phía Bắc khi chiến sự mới nổ ra và cử sang trực ở Cămpuchia là nằm trong ý định qui hoạch rèn luyện, bồi dưỡng tôi của các Thủ trưởng.
Ngày 23 tháng 3 năm 1983, tôi cùng anh Nguyễn Bá Chước cán bộ Phòng Thương binh - Liệt sĩ đi máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh để sang PhnômPênh.
Trong lúc chờ sang Cămpuhia, chúng tôi nghỉ lại mấy ngày tại Nhà khách C59B - Bộ Tổng Tham mưu trong sân bay Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Hồi đó từ thành phố Hồ Chí Minh sang PhnômPênh cũng thuận tiện. Việc qua lại biên giới không cần hộ chiếu mà chỉ cần có giấy giới thiệu công tác. Về phương tiện thì, hoặc là đi máy bay quân sự loại cánh quạt An 26, hoặc đi máy bay trực thăng Mi 8, hoặc là đi ô tô của đơn vị theo đường bộ với cự ly chỉ hơn 300 km.
Ngày 26 tháng 3 năm 1983, chúng tôi từ thành phố Hồ Chí Minh đi lên Tây Ninh qua Cửa khẩu Mộc Bài, sang tỉnh Công Phông Chàm rồi qua phà Niếc Lương vào PhnômPênh. Đang giữa mùa khô, tiết trời nóng bức, trên trục đường, xe chúng tôi chạy qua những làng mạc, thị trấn, thị tứ sầm uất, những cánh đồng rộng mênh mông đã qua mùa thu hoạch, trơ lên cuống rạ khô khốc. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến Cămpuchia. Đường phố PhnômPênh khang trang, thoáng đãng. Những hàng phượng vĩ cao to rợp hoa đỏ rực hai bên đường trông rất đẹp - nhất là đoạn qua cầu Mônêvông, đại lộ Xihanúc. Trên ô tô tôi nhìn ra xung quanh, thấy người dân đi lại tấp nập. Cuộc sống thành phố khá đô hội, thanh bình, không có dấu hiệu gì là chiến tranh.
 Khi xe chạy qua một khu nhà rất đẹp, tôi hỏi, người lái xe nói đó là Điện Chămcammon, xe ngoặt trái, qua ba-ri-e cổng gác doanh trại bộ đội. Đây là Cơ quan Bộ Tư lệnh 719 (Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Cămpuchia). Đại diện Cục Chính sách được bố trí  ba căn phòng trong một tòa nhà vốn là Trụ sở Trường Đảng của Khơ me đỏ. Trên khuôn viên rộng, ở giữa là một tòa  nhà 5 tầng đẹp, kéo dài. Phía sau tòa nhà là hội trường rộng, khá đẹp. Trước hội trường, đi qua hai cây đa to là sân bóng đá và một sân tennis. Cơ quan Bộ Tư lệnh chọn đây làm Nhà khách. Các cơ quan khác của Bộ Tư lệnh hầu như mỗi cơ quan ở trong một tòa biệt thự xung quanh đó. Nhà khách chỉ dành cho những đoàn cán bộ ở trong nước sang công tác ngắn ngày và lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trên các Mặt trận về Bộ Tư lệnh họp hành, công tác. Đồng thời, tại đây còn dành ra một số phòng bố trí làm chỗ ở và làm việc của Đại diện các cơ quan như: Cục Chính sách, Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hóa học, Cục Khoa học Quân sự -Bộ Tổng Tham mưu.
Đại diện Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh 719 có ba người: Anh Phạm Lam  Phó phòng Khen thưởng, anh Nguyễn Bá Chước trợ lý Phòng Thương binh-Liệt sỹ và tôi (Nguyễn Mạnh Đẩu) Phó phòng Nghiên cứu-Tổng hợp. Về mặt chính quyền, anh Phạm Lam được cử làm Tổ trưởng chịu trách nhiệm chung trước Cục Chính sách ở Hà Nội và Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 ở PhnômPênh. Đồng thời, về tổ chức Đảng, Đảng ủy Cục Chính sách giao cho tôi làm Bí thư chi bộ. Trên cơ sở xây dựng kế hoạch công tác chung của cả tổ,  mỗi người chúng tôi triển khai công việc theo chức năng, nhiệm vụ của từng Phòng. Anh Pham Lam chuyên về công tác Khen thưởng. Anh Nguyễn Bá Chước chuyên về công tác Thương binh - Liệt sỹ. Còn tôi thì chuyên  về công tác nghiên cứu phát hiện đề đạt chế độ, chính sách đối với quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cămpuchia và tổng hợp tình hình thực hiện các chính sách đã ban hành của các đơn vị ở chiến trường.
Anh Phạm Lam quê ở Yên Mô, Ninh Bình; là người gắn bó với công tác khen thưởng ở chiến trường Nam Bộ (B2) trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vốn có trí nhớ tốt và thường xuyên bám sát địa bàn, lăn lộn với các đơn vị chiến đấu, nên anh nắm rất chắc tình hình tổ chức biên chế, chức năng nhiệm vụ, tính chất đặc thù, cơ cấu tổ chức, sự phát triển qua các giai đoạn của từng đơn vị, từng địa phương. Anh vừa nắm chắc nội dung, hình thức khen thưởng, có kinh nghiệm nắm bắt phát hiện các gương điển hình trong chiến đấu, cả tập thể và cá nhân, vừa thành thạo trong triển khai các bước của qui trình khen thưởng nên khi nắm tình hình ở cơ quan hoặc khi xuống đơn vị anh đều được thủ trưởng cấp trên và anh em tin tưởng. Nhờ đó, công tác khen thưởng có vai trò, tác động rất cao trong việc cổ vũ động viên bộ đội ở chiến trường. Trong sinh hoạt, anh chân thành, thắng thắn, có tính nguyên tắc cao, lại thường quan tâm đến mọi người, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, nên được mọi người quí mến.
Tôi nhớ, có lần tôi cùng Tổ công tác vận động quần chúng (có cả cán bộ của ta và cán bộ của bạn) thâm nhập nắm tình hình mấy cơ sở ở các phum, sóc ngoại thành PhnômPênh, cách chỗ đóng quân hơn 30 km. Ngày đó, quân địch thường xuyên hoạt động đánh lén kiểu du kích, nhất là vào ban đêm, kể cả trong thành phố PhnômPênh. Cá biệt có trường hợp chính quyền cơ sở hai mặt, nên rất khó lường. Có thời điểm Bộ Tư lệnh 719 qui định: “Để bảo đảm an ninh, từ 7 giờ tối trở đi, mọi cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị ở PhnômPênh phải ở trong doanh trại, không được ra ngoài”. Đến hơn 10 giờ đêm vẫn không thấy tôi về, hỏi sang một số cơ quan vẫn không ai biết, anh Lam lo lắng, đi ra đi vào, đứng lên ngồi xuống không yên. Nhưng, vì sợ ảnh hưởng, anh cũng không giám báo cáo lên cấp trên về việc tôi chưa về. Còn tôi, do mải công chuyện không chú ý đến giờ giấc, khi lên tới trục đường chính để trở về thì đã khuya rồi. Mãi tới hơn 12 giờ đêm tôi mới về đến cơ quan Bộ Tư lệnh. Thấy tôi về, anh Lam mừng lắm, nhưng ngay lập tức anh mắng tôi một trận khá gay gắt. Anh cho rằng, tôi chủ quan, coi thường địch, không am hiểu tình hình, không tuân thủ qui định của trên. Tôi phân trần lý do, anh vẫn không chịu. Tôi nghĩ, vì anh thương và lo lắng cho sự an nguy của tôi. Anh coi tôi như một đứa em, do đó, tôi chỉ biết nhận thiếu sót về mình.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #43 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:41:50 PM »

Anh Phạm Lam hơn tôi 13 tuổi, nhập ngũ trước tôi 11 năm, trưởng thành sớm, lại kinh qua thực tiễn chiến đấu nhiều năm ở chiến trường, có thời gian phụ trách tôi. Vậy mà, sau này khi cấp trên bổ nhiệm tôi làm Cục trưởng, anh làm Cục phó, anh không bao giờ có tư tưởng kèn cựa, hẹp hòi, ghen tức, đố kỵ.  Trong công việc, anh thực hành đúng theo Điều lệnh quân đội, trong sinh hoạt anh thân thiện cởi mở. Tôi luôn tôn trọng anh và cố gắng khai thác, phát huy những điểm mạnh của anh. Giữa chúng tôi luôn luôn có tiếng nói chung trong điều hành công tác chuyên môn và xây dựng cơ quan vững mạnh.
Anh Nguyễn Bá Chước sinh năm 1932, quê ở Hòa Vang, Quảng Nam. Suốt mấy chục năm, từ hồi kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ và đến tận sau này, anh đã lăn lộn, từng trải trên nhiều cương vị công tác. Khi về Cục Chính sách, anh được giao nhiệm vụ theo dõi công tác thương binh-liệt sĩ ở các đơn vị chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cămpuchía. Anh Chước là con người có ý thức tổ chức kỷ luật rất chặt chẽ, nghiêm túc. Anh toàn tâm, toàn ý với nhiệm vụ được giao, miệng nói tay làm. Trong công việc anh không thích dài dòng văn tự. Thời kỳ công tác ở Cămpuchia, anh xông xáo xuống các đơn vị đang chiến đấu theo dõi hướng dẫn công tác thương binh - liệt sĩ trong chiến đấu, chiến dịch. Đến kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với thương binh tại các đội điều trị, viện quân y và trên tuyến chuyển thương từ chiến trường về phía sau. Có lần, anh đến Viện 16 đóng ở ngoại thành PhnômPênh, đang giữa mùa khô, nước sinh hoạt đối với thương binh vô cùng khó khăn. Bình thường thiếu nước đã khó. Ở bệnh viện dã chiến, thiếu nước càng khó hơn nhiều trong điều trị, chăm sóc thương binh cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Bằng nhiều cách, anh đã đề đạt lên và được cấp trên giải quyết kịp thời tăng cường xe téc chở nước đến.
Tôi nhớ, để chuẩn bị kỉ niệm Ngày Thương binh – liệt sỹ 27/7 năm 1983, anh đã đề nghị Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 719 điều động một trung đội ra Nghĩa trang Liệt sỹ ở sân bay Pô-chen-tông để tu sửa mộ chí, chuẩn bị cho các đoàn đại biểu của ta và bạn đến viếng. Hôm đó buổi sáng trời mưa rào to, buổi chiều trời nắng gay gắt, oi nồng. Giữa buổi chiều chúng tôi ra kiểm tra trước. Xuống xe, từ xa đi vào, tôi nhìn thấy một ông già cởi trần, mồ hôi đầm đìa, người đen nhẻm, lấm lem bùn đất, mặc quần xà lỏn, đầu quấn khăn rằn, tay cầm xẻng đang vừa đào đất vừa chỉ trỏ hướng dẫn cho mấy chiến sĩ trẻ. Ngỡ rằng, anh em ở đây đã nhờ một người dân trong địa phương cùng làm giúp. Tới nơi nhìn lại thấy ông già nhoẻn miệng cười, thì hóa ra là anh Chước.
Anh Chước là vậy. Nhiều lần, tôi cùng anh đến các mặt trận rồi từ mặt trận xuống các đơn vị cơ sở. Ở đâu và  bao giờ,  anh cũng có tác phong sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ, từ đó đã giải quyết được nhiều vấn đề thực tế đặt ra.

Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cămpuchia lúc này được tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ giúp Bạn. Cấp lãnh đạo, chỉ huy cao nhất trên toàn chiến trường là Bộ Tư lệnh 719 do ông Lê Đức Anh, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh. Ông Lê Hai, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Phó tư lệnh Chính trị. Ông Hồ Quang Hóa, Thiếu tướng, làm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng. Ông Lê Khả Phiêu, Thiếu tướng, Chủ nhiệm Chính trị. Ông Nguyễn Văn Dương, Thiếu tướng, Phó tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật làm Chủ nhiệm Kỹ thuật. Ông Lê Khôi, Thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Chủ nhiệm Hậu cần. Các ông Phó Cục trưởng các cục : Tác chiến, Quân lực, Quân huấn trong thời gian thường trực ở Bộ Tư lệnh 719 đều là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh. Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại  Bộ Quốc phòng Cămpuchia ( Đoàn 478 ) do ông Mai Xuân Tần, Thiếu tướng làm Đoàn trưởng; ông Vũ Hải, Thiếu tướng, ông Nguyễn Như Ngà ,Thiếu tướng và ông Nguyễn Văn Viễn, Đại tá làm Đoàn phó.
Cùng với cương vị là Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 - người chỉ huy cao nhất của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cămpuchia, ông Lê Đức Anh còn được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo chung toàn bộ công tác chuyên gia ở Cămpuchia - cả chuyên gia về công tác xây dựng Đảng (B 68) và chuyên gia về kinh tế (A 40).
Ngoài Quân đoàn 4 là đơn vị chủ lực cơ động trực thuộc Bộ, còn lại toàn bộ lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự trên chiến trường Cămpuchia được tổ chức thành các mặt trận. Mặt trận 479 ở đóng ở Xiêm Riệp. Mặt trận 579 đóng ở StungTreng. Mặt trận 779 đóng ở Công Phông Thơm. Mặt trận 979 đóng ở Công Pông Chư Pư. Dưới các Mặt trận là các sư đoàn chủ lực và các Đoàn quân sự làm chuyên gia ở các tỉnh đội của bạn. Về triển khai thực hiện nhiệm vụ tác chiến và xây dựng địa bàn, thì tất cả các đơn vị trên chiến trường chịu sự  lãnh đạo chỉ huy của Bộ Tư lệnh 719. Về hành chính quân sự và các mặt bảo đảm, thì : Mặt trận 579 trực thuộc Quân khu 5, Mặt trận 479 và Mặt trận 779 trực thuộc Quân khu 7, Mặt trận 979 trực thuộc Quân khu 9. Tư lệnh các Mặt trận đều là Phó Tư lệnh của các Quân khu.

Bộ đội ta ở Cămpuchia bao gồm nhiều lực lượng với nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Đại bộ phận là lực lượng là Quân tình nguyên, một số lực lượng làm Chuyên gia quân sự trong các lực lượng của bạn ( cả chủ lực và  địa phương, cả cơ quan và đơn vị ), một số khác cùng tham gia với bạn trong lực lượng Vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn. Cùng là một đối tượng nhưng địa bàn đóng quân có đơn vị phía trước, đơn vị phía sau, khác nhau về môi trường, điều kiện sinh hoạt và an ninh. Vì vậy, để bảo đảm sự công bằng trong đãi ngộ, đòi hỏi các chế độ, chính sách bảo đảm đời sống, tiền lương, phụ cấp phải phù hợp với yêu cầu về tính chất và nhiệm vụ của từng đối tượng phục vụ.
Tháng 4 năm 1983, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về tăng cường hợp tác toàn diện với Lào và Cămpuchia trong giai đoạn mới. Về nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, Nghị quyết xác định: Đối với quân tình nguyện của ta ở Cămpuchia, cần tiếp tục quán triệt nhiệm vụ, phương hướng hoạt động và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu và công tác…Cải tiến bổ sung các chính sách, chế độ đối với quân tình nguyện…Cả chính sách tại chỗ và chính sách ở hậu phương, với những ưu tiên thích đáng, phù hợp với khả năng của bạn và ta.
 Căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, Cục Chính sách đã phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai nghiên cứu đề đạt lên trên ban hành chính sách. Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, ngày 2 tháng 12 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị  bổ sung một số điểm về chính sách, chế độ đối với LLVT làm nhiệm vụ ở Cămpuchia. Cụ thể là :
Quân nhân nếu hoạt động ở miến núi thực sự có khó khăn hoặc vùng thiếu an ninh thì được hưởng phụ cấp đặc biệt bằng 60% lương chính hoặc sinh hoạt phí. Nếu ở vùn khác thì vẫn áp dụng phụ cấp đặc biệt 45% lương chính hoặc sinh hoạt phí như hiện hành. Bộ Quốc phòng căn cứ vào tình hình chung, qui định cụ thể những vùng coi là vùng núi có khó khăn, vùng thiếu an ninh, theo tinh thần bảo đảm quan hệ hợp lý giữa các vùng và phù hợp với tình hình an ninh từng nơi, từng lúc.
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân viên chức quốc phòng được để lại tem phiếu thực phẩm (hoặc sổ mua hàng) cho gia đình sử dụng để mua hàng theo định lượng qui định của Nhà nước.
Thời gian công tác dài hạn (từ 3 năm trở lên) ở Cămpuchia, được tính hệ số bằng 1,5 lần khi tính thời gian công tác để xét điều kiện về hưu, mất sức, khen thưởng.
Những hạ sĩ quan, binh sĩ đã đủ 3 năm hoạt động ở Cămpuchia, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, được thực hiện chính sách phục viên, chuyển ngành như những quân nhân đã có 5 năm làm nhiệm vụ ở trong nước.
Sau khi làm nhiệm vụ dài hạn ( 3 năm trở lên ) ở Cămphchia trở về, được ưu tiên xét, sắp xếp công tác, học tập theo ché độ hiện hành.
Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan binh sĩ kéo dài thời gian hoạt động ở Cămpuchia được nghỉ phép một tháng ( không kể thời gian đi, về ); những ngày đi đường được thanh toán như khi đi công tác trong nước.
 Cuối năm 1984, Bộ Quốc phòng có qui định: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng ở các đơn vị quân tình nguyện từ sư đoàn trở xuống, trong thời gian làm nhiệm vụ giúp bạn ở các đảo và các xã có đường biên giới với Thái Lan, ngoài các khoản phụ cấp hiện có, hàng tháng được hưởng thêm khoản phụ cấp khuyến khích bằng 40% tính trên lương chính; hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các đơn vị trên được hưởng thêm khoản phụ cấp khuyến khích bằng 40% tính trên tiền ăn và phụ cấp tiêu vặt.
Về chấp hành công tác thương binh - tử sĩ của các đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế ở Cămpuchia; để đáp ứng yêu cầu cấp cứu, điều trị thương binh, Bộ Quốc phòng đã cho phát triển các đội điều trị, củng cố mở rộng các bệnh viện hiện có, tăng số giường điều trị lên gấp đôi ( toàn  tuyến phía Nam có 14 bệnh viện, 4 bệnh viện dã chiến và 14 đội điều trị).  Đã  sử dụng 135 xe cứu thương chuyên dùng, 30 ca nô và một số máy bay của Sư đoàn không quân 372 phục vụ vận chuyển thương binh. Điều kiện hoạt động của quân tình nguyện thời kỳ này phân tán trên nhiều tuyến, chủ yếu là các vùng rừng núi xa hậu phương, xa dân bạn; đường vận chuyển khó khăn, nhất là những đơn vị đóng ở các điểm chốt tiền tiêu trên núi cao biên giới Cămpuchia-Thái Lan. Trước hoàn cảnh đó, lãnh đạo chỉ huy và cơ quan các cấp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, nên việc chỉ đạo chuyển thương từ hỏa tuyến về hậu phương được tổ chưc tốt. Nhiều trường hợp hoạt động truy kích trong rừng sâu ( khu vực Pai-lin,Am- lay, Prây- veng,…) ở tuyến trước do chuyển thương bằng đường bộ về phía sau không an toàn, Bộ đã cho phép chuyển bằng máy bay trực thăng hoặc dùng xe bọc thép M113 hộ tống đưa thương binh về. Bộ tổ chức 6 đoàn an dưỡng với 3.600 giường. Đồng thời, các quân khu phía Nam có tổ chức các tiểu đoàn an dưỡng. Suốt trong quá trình chiến đấu, công tác tử sĩ được tiến hành chu đáo. Phần đông, các đơn vị đưa thi thể anh em về an táng ở khu vực các khu vực tập trung. Những năm sau này mới có điều kiện cất bốc hài cốt liệt sĩ về nước.
Khuyết điểm xảy ra là, không ít trường hợp hy sinh, do quá trình cơ động khẩn trương, đơn vị đã không nắm được danh sách khi chôn cất, không lưu giữ được sơ đồ mộ chí, làm cho việc tìm kiếm qui tập mộ liệt sĩ gặp rất nhiều khó khăn.

Thời gian công tác ở cơ quan Bộ Tư lệnh 719 tại PhnômPênh, theo phạm vi chức năng nhiệm vụ, tôi có điều kiện nghiên cứu các loại tài liệu, trực tiếp tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo các cấp của ta và của bạn - nhất là trong các cuộc hội nghị chuyên đề và hàng tuần được dự giao ban ở Cục Chính trị và ở Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Rồi lại nhiều lần được cử đi công tác đến nhiều đơn vị quân tình nguyện, đoàn chuyên gia đóng quân trên đất Cămpuchia, gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ ta; một số lần tham gia cùng Đội công tác vận động quần chúng thâm nhập vào trong dân;  xuống gặp gỡ tiếp xúc với cán bộ ta làm chuyên gia trong một vài đơn vị bạn,... Nhờ đó, tôi có dịp nhận thức tương đối đầy đủ hơn về cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam - Cămpuchia và nhiệm vụ quốc tế cao cả mà Quân tình nguyện Việt Nam tiến hành trên đất Cămpuchia.
Ngay trong khi chúng ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, tập đoàn cầm quyền PônPốt - Iêng Xari đã có những việc làm phản phúc thực hiện chính sách ngấm ngầm chống Việt Nam. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Cămpuchia thắng lợi, tập đoàn cầm quyền Khơ me đỏ đã gây ra nạn diệt chủng tàn bạo chưa từng có trong lịch sử ở Cămpuchia. Chúng chủ trương xây dựng đất nước Cămpuchia không tiền, không chợ, không trí thức, không trường học, không tôn giáo. Mọi người dân đều ở chung, ăn chung, làm chung trong các trại tập trung. Bè lũ Pôn Pốt đã biến đất nước Cămpuchia thành một trại tập trung khổ sai khổng lồ đầy những hố chôn người. Theo thống kê của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nứu Cămpuchia, bọn diệt chủng Pôn Pốt đã giết hại hơn 2,7 triệu người, trong đó có hàng vạn người là trí thức, văn nghệ sĩ và sinh viên. Chúng đã phá hủy hàng ngàn trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa chiền. Đồng thời với nạn diệt chủng ở trong nước, với tham vọng đất đai và ý đồ làm cho đất nước chúng ta mất ổn định, tập đoàn phản động Khơ me đỏ đã kích động hận thù dân tộc chống Việt Nam. Chúng đã  tiến hành các hoạt động đánh phá biên giới ngày càng tăng, từ thâm nhập, pháo kích, tiến tới lấn chiếm và đến ngày 30 tháng 4 năm 1977 thì phát động chiến tranh xâm lược.
Mùa khô năm 1978, tập đoàn Pôn Pốt đã huy động 19 trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh tiến công xâm nhập lãnh thổ Việt Nam trên hướng tây nam, tàn sát nhân dân ta ở các địa phương trên tuyến biên giới. Tính từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1978, bè lũ Pôn Pốt đã gây ra những tội ác vô cùng dã man đối với nhân dân Việt Nam. Chúng đã giết hại hơn 5.000 dân thường và làm bị thương gần 5.000 người. Hàng nghìn trâu bò bị cướp, giết, hàng ngàn héc- ta lúa mùa bị phá hoại, hạng vạn héc- ta ruộng đất và đồn điền cao su ở vùng biên giới phía Tây Nam bị bỏ hoang, nửa triệu dân ở biên giới phải bỏ đất, bỏ ruộng để chạy dạt về phia sau. Trên thực tế lúc bấy giờ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không thể nghĩ tới sự phản phúc, phản động với một qui mô to lớn và ác liệt đến như vậy. Mặc dù chúng ta đã hết sức kiềm chế, kiên trì thương lượng thuyết phục bằng con đường ngoại giao nhưng sau nhiều cố gằng không đạt được kết quả. Để thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chúng ta buộc phải đánh trả, đẩy quân Khơme đỏ ra khỏi biên giới. Đồng thời, thể theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cămpuchia, quân tình nguyện đã cùng Lực lượng vũ trang của Mặt trận tiến hành phản công, tiếp đến là tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh và toàn bộ đất nước Cămpuchia. Đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, cứu một dân tộc khỏi họa diệt chủng, từng bước hồi sinh và phát triển. Đồng thời, tạo được thế ổn định trong sự nghiệp xây dựng đất nước chúng ta.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:42:16 PM »

 Trong hơn 10 năm, kể từ mùa Xuân 1979, lực lượng vũ trang ta đã chiến đấu liên tục, không ngừng. Từ những trận đánh mở đầu cuộc phản công chiến lược quyết liệt, chuyển sang cuộc tiến công như vũ bão, lực lượng vũ trang ta đã đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt -  Iêng Sary, giải phóng đất nước Cămpuchia. Sau khi chính quyền Khơ me đỏ các cấp từ trung ương đến cơ sở bị đánh dập đánh sập,  quân của chúng đã bị tan rã từng mảng, dạt vào bưng biền, rừng núi. Nhưng sau đó, bọn chúng đã tập hợp lại lực lượng, được sự viện trợ, hà hơi tiếp sức và điều khiển của các thế lực phản động từ bên ngoài, hòng khôi phục chính quyền, giành lại những gì đã mất. Cuộc chiến đấu quyết liệt, phức tạp, kéo dài, căng thẳng, trên một không gian rộng lớn.
Theo yêu cầu của Mặt trận dân tộc cứu nước Cămpuchia, tiếp sau đó là thực hiện Hiệp định đã được ký kết giữa hai Nhà nước; để giúp chính quyền và nhân dân Cămpuchia giữ vững thành quả cách mạng, giúp bạn xây dựng chính quyền các cấp còn non trẻ, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Cămpuchia từng bước vững mạnh, đủ sức đánh trả quân địch, bảo vệ nhân dân nước Bạn, quân tình nguyện Việt Nam đã ở lại tiếp tục chiến đấu truy quét quân Pôn-Pốt trong những điền kiện đầy khó khăn, gian khổ, hi sinh.
Từ cuộc phản công chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới tây nam, đến tiến công giúp bạn giải phóng dân tộc Cămpuchia khỏi họa diệt chủng và 10 năm bền bỉ làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn là một quá trình liên tục tiếp nối giữa các giai đoạn trong mối liên hệ chặt chẽ mật thiết với nhau. Đó là một cuộc chiến tranh do tình thế bắt buộc, khi không còn cách nào khác. Cuộc chiến tranh chính nghĩa lâu dài, quyết liệt buộc chúng ta đã phải trả giá bằng hàng vạn sinh mạng cán bộ, chiến sĩ.


Tháng 10 năm 1984, tôi được gọi về Hà Nội để nhập học ở Học viện Chính trị. Đây là lớp học bổ túc cán bộ chính trị trung, cao cấp khóa 34. Lớp học được tổ chức tại cơ sở 2 của Học viên Chính trị đóng ở làng Xuân La, huyện Từ Liêm – Hà Nội. Tổng số lớp học có 125 học viên. Là lớp bổ túc trung, cao cấp nên học viên cũng không đồng đều. Về quân hàm thì từ đại úy đến đại tá. Về chức vụ thì có cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cấp trung đoàn, sư đoàn và cán bộ cơ quan các cấp.
 Đã 20 năm tuổi quân, cấp bậc Trung tá, mãi đến lúc đó tôi mới bước chân đến một học viện chính qui của quân đội, mà cũng chỉ thuộc diện học bổ túc. Thế hệ cán bộ chúng tôi phần đông đều vậy. Thực tiễn quân đội là trường học lớn. Phẩm chất, năng lực và phong cách công tác của cán bộ lớp trước là những trang giáo án sống động, thiết thực, hiệu quả đối với lớp sau. Chương trình học lúc đó là: Lý luận Chủ nghĩa Mác- Lê nin, bao gồm chương trình trung, cao cấp về : triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự. Nội dung, phương thức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cấp chiến dịch, trong các hình thức tác chiến, các trạng thái và các nhiệm vụ. Thời gian học là 6 tháng. Bằng kiến thức thu hoạch được qua từng môn học, đối chiếu với thực tiễn sống động đa dạng ở các đơn vị, lớp học chúng tôi vừa nghiêm túc vừa sôi nổi trong những giờ lên lớp và những buổi ximêna. Đặc biệt, hồi đó lớp chúng tôi tranh luận khá rôm rả, thậm chí gay gắt xoay quanh chủ đề có tính thời sự lúc bấy giờ là :” Cơ chế thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội “ theo Nghị quyết 07/BCT, rồi Nghị quyết 27/BCT của Bộ Chính trị Khóa V. Các ý kiến tranh luận đặt ra đặt ra trên nhiều khía cạnh nhưng tựu trung là, tiến hành công tác chính trị trong quân đội là một vấn đề thuộc về nguyên tắc và bản chất của quân đội cách mạng, là truyền thống của quân đội ta trong suốt mấy chục năm chiến tranh, đồng thời là nhu cầu của việc xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn mới. Thực tế cho thấy, cơ chế chính ủy, chính trị viên trong quân đội  không hề gây trở ngại cho người chỉ huy thực hành nhiệm vụ. Đưa người cán bộ chủ trì công tác chính trị của đơn vị xuống làm cấp phó về chính trị cho người chỉ huy các cấp là hạ thấp vai trò, vị trí và hiệu quả của công tác chính trị…Những vướng mắc, băn khoăn, trăn trở về những vấn đề đặt ra đó mãi tới hơn 20 năm sau mới được giải quyết sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 51/NQ-TW ngày 20 tháng 7 năm 2005.
Cùng học với tôi một khóa, sau này có nhiều người thành đạt trên nhiều cương vị, tiêu biểu như: Anh Phạm Văn Long lúc đó là Đại tá, Phó sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 324 - Quân khu 4; sau này là Ủy viên Trung ương, Trung tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh Bùi Văn Huấn (Út Lê) lúc đó là Trung tá, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh An Giang; sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh Nguyễn Đức Sơn lúc đó là Trung tá, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 312 - Quân đoàn 1; sau này là Trung tướng, Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu. Anh Vũ Tần, lúc đó là Thiếu tá, cán bộ Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng; sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng. Anh Lê Công Đoàn lúc đó là Thiếu tá, cán bộ cơ quan Ủy ban Kiểm tr Đảng ủy Quân sự Trung ương; sau này là Thiếu tướng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Và nhiều anh em khác nữa.


Ngày 1 tháng 6 năm 1986, tôi được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu - Tổng hợp thay anh Nguyễn Khắc Chuẩn được trên điều động sang Cămpuchia làm chuyên gia chính sách cho Bạn. Thời gian đó Cục Chính sách đang trực thuộc Bộ Quốc phòng, nên bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng cũng do Thủ trưởng Bộ ký quyết định. Lúc này ông Doãn Sửu, Thiếu tướng, Cục phó Cục Cán bộ được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Chính sách thay ông Lê Tiến Phục nghỉ chữa bệnh lâu dài.
Từ khi ông Lê Tiến Phục bị ốm nặng, tai biến mạch máu não, chúng tôi nghe phong phanh là cơ quan cán bộ đang nghiên cứu lựa chọn người thay thế. Đến khi Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm ông Doãn Sửu làm Cục trưởng Chính sách thì nhiều người phấn khởi. Vì biết rằng, ông Sửu là một con người nhân hậu, đức độ, toàn tâm toàn ý với công việc. Là người quen biết cùng chiến trường cũ lại là đồng hương Nghệ An nên ngay từ đầu ông Sửu đã chỉ đạo công việc đối với tôi khá ăn ý, nhịp nhàng.
Tôi quen biết ông Doãn Sửu từ hồi còn ở chiến trường Trị Thiên vào đầu năm 1968. Lúc đó, sau Tết Mậu Thân, ông Sửu là Cục phó Cục Chính trị Quân khu Trị Thiên Huế đi kiểm tra chỉ đạo đôn đốc việc chuyển thương binh từ đồng bằng lên miền núi tây Thừa Thiên. Còn tôi là trợ lý quân lực của Trung đoàn 8 đi theo anh Nguyễn Hoán tham mưu trưởng trung đoàn đang chỉ huy bộ đội làm nhiệm vụ chuyển thương. Chúng tôi không bao giờ quên giữa cái ngày mưa rét khi tổ chức đưa thương binh qua Sông Bồ bị máy bay trực thăng Mỹ phát hiện bắn phá rất ác liệt, anh em thương vong nhiều, máu lênh láng mặt nước.

Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VI là Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội VI là đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế-xã hội từ nhiều năm trước, đề ra các định hướng lớn để từng bước thoát khỏi tình trạng đó. Bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, một mặt, chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách xã hội, chính sách kinh tế, mặt khác, phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân trước tình hình mới.
Cùng với đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, sau các cuộc chiến tranh biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế, đứng trước bối cảnh tình hình mới, quân đội thực hiện chấn chỉnh tổ chức lực lượng, giảm tổ chức biên chế với số lượng rất lớn. Đi đôi với việc xây dựng lực lượng thường trực chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, việc xây dựng lực lượng dự bị động viên được coi trọng. Trong thế trận chiến tranh nhân dân, quân đội không ngừng được củng cố, làm nòng cốt chống chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng và các thành quả cách mạng, tạo môi trường ổn định để phát triển. Trong khi đó, các tồn đọng về chính sách sau các cuộc chiến tranh còn rất lớn.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #45 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:42:54 PM »

 Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI : ” Bổ sung và thực hiện tốt chính sách đối với lao động đặc thù của quân đội”; để đáp ứng với yêu cầu mới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, và Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách đã nghiên cứu xây dựng và đề xuất Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách đãi ngộ đối với quân nhân phục viên, chuyển ngành, về hưu, mất sức.
Nét nổi bật trong thời kỳ này là, Nghị quyết 47/NQ về “ Thực hiện chính sách đối với cán bộ cao cấp nghỉ hưu và cán bộ dư biên chế” của Đảng ủy Quân sự Trung ương đã đi vào cuộc sống đạt được nhiều kết quả. So với bây giờ thì quả thật chính sách hỗ trợ đối với cán bộ nghỉ hưu lúc đó là không đáng kể. Mỗi người được cấp mấy tạ xi măng, mấy tạ sắt, mấy nghìn viên gạch, mấy tấn than...Nhưng đặt nó trong bối cảnh đất nước đang giữa thời kỳ khủng hoảng kinh tế, chất chồng khó khăn, việc giải quyết được như thế đã là một sự cố gắng rất lớn của Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị. Phần vật chất nhỏ bé đó, đối với cán bộ về hưu lúc bấy giờ là rất quí trong việc sửa chữa lại mấy gian nhà đã cũ nát, sớm ổn định cuộc sống khi trở về sau nhiều năm xa cách. Đồng thời, thời kỳ này Chính phủ đã kịp thời có chủ trương đúng đắn trong việc ưu  tiên dành cho quân đội 40% chỉ tiêu đi lao động hợp tác quốc tế.
Với việc thực hiện đầy đủ, kịp thời, chu đáo các chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, mặc dù trong một thời gian ngắn, toàn quân đã giảm quân số biên chế với một số lượng rất lớn, nhưng không gây sự xáo động lớn cả về tổ chức và  tư tưởng, bảo đảm đời sống cho quân nhân chuyển ra, giữ được ổn định ở hậu phương.
Cục Chính sách đã đề xuất lên trên chủ trương khen thưởng nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, khen thưởng thành tích của quân và dân cả nước trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính rị và trật tự an toàn xã hội với số lượng lớn. Đổi mới công tác khen thưởng theo hướng nâng cao chất lượng, có tác động viện phong trào thi đua quyết thắng của quân đội.
Dưới sự chỉ đạo của trên, hệ thống cơ quan chính sách các cấp đã tập trung giải quyết hậu quả chính sách sau chiến tranh với khối lượng lớn, có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc. Nhờ đó, đã tạo cơ sở pháp lý để  các đối tượng được thực hiện chính sách theo qui định của Nhà nước, góp phần ổn định hậu phương quan đội.
Tuy nhiên, quá trình bước đầu đổi mới, trong điều kiện kinh tế-xã hội đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng, còn nhiều khó khăn, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội chưa thật sự có những bước chuyển cơ bản. Tính chất bao cấp còn lớn, bình quân cao; đối với những lưc lượng làm nhiệm vụ đặc thù chưa được quan tâm đúng mức. Các tồn đọng về chính sách vẫn còn với một khối lượng lớn, phức tạp, gây bức xúc lớn trong xã hội.

Một ngày cuối tháng 4 năm 1988, sau khi dự cuộc họp ở Bộ Quốc phòng, trên đường về cơ quan, tôi cùng đi với ông Đặng Vũ Hiệp, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bất ngờ ông Hiệp hỏi tôi:
- Tình hình công tác ở Cục Chính sách thế nào, ổn chứ. Cậu có muốn chuyển sang Văn phòng Tổng cục Chính trị không?  Bọn mình thấy cậu có khả năng làm việc ở Văn phòng đấy!
Thoạt nghe tưởng như tình cờ, nhưng qua cách nói và ánh mắt của ông, tôi có cảm tưởng là ông Hiệp và các thủ trưởng đã có chủ tâm từ trước. Câu hỏi của ông đối với tôi là khá bất ngờ. Nhưng tự xét thấy cũng muốn thay đổi môi trường công tác, tôi trả lời là :
-  Nếu có thể được,  xin Thủ trưởng cho tôi về bên Văn phòng công tác. Tôi ở Cục Chính sách lâu quá rồi. Phàm là, công tác lâu dài ở một cơ quan, thì cùng với việc tích lũy được kinh nghiệm, sẽ kèm theo đó là sự bảo thủ trì trệ theo đường mòn lỗi cũ.
 Ông Hiệp cười :
- Thôi được rồi. Nói như vậy là cậu đồng ý. Mình sẽ bàn bạc với các anh thủ trưởng Tổng cục. Cậu chuẩn bị tâm thế về Văn phòng Tổng cục!
 Mặc dù chỉ là mấy câu nói tưởng chừng như tình cờ, bất chợt, nhưng được tiếp xúc và làm việc nhiều năm với ông Đặng Vũ Hiệp, tôi biết rằng, đó đã là quyết định.
Ông Đặng Vũ Hiệp là một cán bộ lãnh đạo có trình độ văn hóa cao, được đào tạo cơ bản, lại được kinh qua các cương vị, nhất là hơn 10 năm ở chiến trường Tây Nguyên. Sau giải phóng Miền Nam ông được bổ nhiệm là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Là một cán bộ lãnh đạo vừa có năng lực, vừa có cương vị và lại có tính quyết đoán cao, nên thông thường ông Đặng Vũ Hiệp giải quyết công việc nhanh chóng, chất lượng và hiệu quả. Được làm việc trong nhiều năm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Đặng Vũ Hiệp, đối với tôi là một điều may mắn.
 Khoảng hơn một tuần sau, tôi có quyết định của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị điều động về Văn phòng Tổng cục Chính trị nhận công tác. Khi tôi đến nhận công tác ở Văn phòng, anh Chu Tự Di, Thiếu tướng, Chánh Văn phòng gặp và giao nhiệm vụ. Sau khi giới thiệu sơ bộ về truyền thống, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế, các mối quan hệ phối hợp, chế độ làm việc và nhất là những yêu cầu cần có trong phong cách công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị nói chung và Phòng Kế hoạch Tổng hợp nói riêng, anh Chu Tự Di nói với tôi:
- Mặc dù đồng chí đã được bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng Nghiên cứu-Tổng hợp của Cục Chính sách hơn hai năm rồi. Nhưng, hiện tại ở Phòng Kế hoạnh Tổng hợp của Văn phòng có đồng chí Phạm Ngân, Đại tá, đã giữ chức Phó phòng mấy năm, lại là người cũ ở đây, có kinh nghiệm về công tác kế hoạch tổng hợp ở Văn phòng. Hơn nữa, mỗi chức danh, mỗi tổ chức có tiêu chuẩn và có yêu cầu riêng. Do đó, sau khi cân nhắc và xin ý kiến của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, lãnh đạo Văn phòng quyết định giao cho đồng chí đảm nhiệm chức vụ Phó phòng. Đồng chí Phạm Ngân là Phó phòng phụ trách Trưởng phòng. Đồng chí có ý kiến gì không?
 Không để anh Chu Tự Di chờ đợi lâu, tôi từ tốn rành rọt trả lời:
- Báo cáo Chánh Văn phòng, tôi là người của tổ chức. Tổ chức phân công tôi làm gì thì tôi làm nấy. Tôi xin hứa sẽ cố gắng học hỏi, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các thủ trưởng cứ yên tâm, tôi không hề có sự suy bì, thắc mắc.
Thực ra, lúc đó việc trao đổi với nhau bằng miệng, chứ trong giấy tờ không hề viết như vậy. Ở đây có sự tế nhị. Thực tế là, anh Phạm Ngân mặc dù đã làm Phó phòng mấy năm, nhưng lãnh đạo Văn phòng không có kế hoạch bổ nhiệm làm Trưởng phòng. Trong qui hoạch cán bộ của Văn phòng, anh Ngân sẽ được giải quyết nghỉ hưu trong một hai năm tới. Trong thời gian đó, lãnh đạo Văn phòng không muốn có điều gì tác động đến tư tưởng. Còn tôi, trên thực tế đã được trao quyết định bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng do Thủ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Nay không có lý do gì lại hạ xuống Phó phòng.
Tôi biết là vậy nhưng không có ý kiến gì, càng không có thái độ biểu hiện khác. Trong quan hệ công tác và trong sinh hoạt giữa tôi và anh Ngân đều tôn trọng nhau, mọi việc đều suôn sẻ. Xét đến cùng, chức vụ là phương tiện trong một thời kỳ công tác. Sau một thời gian, khi anh Ngân nghỉ chuẩn bị hưu theo chế độ, tôi mặc nhiên thành Trưởng phòng.
Từ những ngày đầu tiên đặt chân đến cơ quan và trong suốt cả quá trình công tác, tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi được biết, khi xác định Ngày Truyền thống của Tổng cục Chính trị, có mấy ý kiến khác nhau. Có ý  kiến lấy ngày 25 tháng 3 năm 1946 - ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về tổ chức Bộ Quốc phòng. Trong đó, Chính trị Cục thuộc Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ  “đào tạo các chính trị viên phái đi các bộ đội để giữ vững và nâng cao tinh thần chiến đấu, tinh thần ái quốc và sự tôn trọng kỷ luật trong quân đội”. Có ý kiến lấy ngày  11 tháng 11 năm 1950 -  ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam  gồm:  Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp. Nhưng cuối cùng, với quan điểm phản ánh đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; thể hiện đúng một sự thật lịch sử : có quân đội là có ngay sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ; công tác chính trị là một nhân tố thuộc về bản chất của quân đội cách mạng, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương đã lấy ngày 22 tháng 12 năm 1944 - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, làm Ngày Truyền thống của Tổng cục Chính trị.
Ngày 11 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định về tổ chức Chính trị Cục để chỉ đạo và tiến hành công tác chính trị trong quân đội. Trong tổ chức biên chế của Chính trị Cục có Văn phòng. Từ đó, ngày 11 tháng 5 năm 1946 được xác định là Ngày Truyền thống của Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Trải qua nhiều thời kỳ có những thay đổi cụ thể, nhưng tựu trung lại, chức năng nhiệm vụ của Văn phòng Tổng cục Chính trị là : Thường xuyên theo dõi nắm tình hình, giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị tổng hợp kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân để báo cáo lên Đảng ủy Quân sự Trung ương và Ban Bí thư Trung ương Đảng; đồng thời thông báo cho cấp dưới. Xây dựng kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị và theo dõi đôn đốc thực hiện. Giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị quản lý kinh phí, vật tư công tác đảng, công tác chính trị; công tác tác chiến, huấn luyện quân sự,  quân lực, điều tra hình sự và thanh tra quốc phòng trong cơ quan Tổng cục Chính trị; công tác nghiên cứu tổng kết lý luận - thực tiễn.
Biên chế tổ chức của Văn phòng Tổng cục Chính trị gồm Thủ trưởng Văn phòng, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Hành chính, Phòng Quân lực-Tác huấn, Phòng Tài chính, Phòng Vật tư, Phòng Khoa học – công nghệ và môi trường, Phòng Điều tra hình sự. Thủ trưởng Văn phòng Tổng cục Chính trị  hồi đó có anh Chu Tự Di  chánh Văn phòng, phó Văn phòng gồm có các anh : Hoàng Xuân Lượng, Việt Hà, Nguyễn Tiến Quân;  tiếp theo là Võ Thịnh, Nguyễn Ngọc Cầm.
Phòng Kế hoạch Tổng hợp như tên gọi của nó, có hai chức năng cơ bản là giúp Văn phòng xây dựng kế hoạch và tổng hợp tình hình công tác đảng, công tác chính trị của toàn quân thông qua hệ thống báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản của các cơ quan, đơn vị và việc nắm tình hình của cán bộ trong các đợt công tác. Tổ chức của Phòng có hai bộ phận. Bộ phận cán bộ làm kế hoạch tổng hợp chung và bộ phận thư ký trực tiếp giúp việc các Thủ trưởng Tổng cục. Cán bộ của Phòng Kế hoạch Tổng hợp lúc đó có: Phạm Ngân, Nguyễn Mạnh Đẩu, Lê Bá Lục, Lê Văn Kích, Lê Văn Lai, Ngô Quí Vân, Đặng Ngọc Tỉnh, Nguyễn Cao Thế, Nguyễn Xuân Định, Nguyễn Công Lý, Trần Thanh Hải, Nguyễn Xuân Long, Nguyễn Trung Lạc. Một thời gian sau, bổ sung chức năng đối ngoại vào Phòng và tăng thêm nhân sự gồm : Trần Việt, Lại Vĩnh Mùi, Hà Mạnh Tường.
 Cán bộ công tác ở Phòng Kế hoạch Tổng hợp đều được lựa chọn từ các đơn vị. Mỗi người có một thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, đó là những người đã được rèn luyện trong chiến đấu, công tác, học tập, có phẩm chất, năng lực và phong cách công tác tốt.
 Phạm vi theo dõi quản lý rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, yêu cầu cao, cả về thời gian cũng như chất lượng, đòi hỏi mọi cán bộ của  Phòng Kế hoạch Tổng hợp phải không ngừng phấn đấu học tập nâng cao trình độ mọi mặt, vừa thành thạo chức năng theo phân công lại vừa am hiểu các lĩnh vực khác để sẵn sàng thay thế nhau khi cần thiết. Nét chung nhất của cán bộ Văn phòng là, có năng lực tốt, có bản lĩnh vững vàng và có phương pháp thái độ khiêm tốn, lịch lãm. Phòng Kế hoạch Tổng hợp là một tập thể mạnh của Văn phòng Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ.
Trong thời kỳ này, Phòng Kế hoạch Tổng hợp đã tham mưu đề xuất với  Văn phòng giúp Thủ trưởng Tổng cục Chính trị xây dựng các kế hoạch và chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Bao gồm kế hoạch hàng năm, kế hoạch 5 năm và các văn kiện công tác đảng, công tác chính trị trong các trạng thái, trong các nhiệm vụ của quân đội. Đồng thời, thực hiện tốt vai trò tổ chức theo dõi tiếp nhận thông tin, nắm tình hình kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang để tổng hợp báo cáo lên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Gồm có báo cáo tổng hợp theo định kỳ và  báo cáo theo chuyên đề.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Văn phòng Tổng cục Chính trị tổ chức chế độ trực ban nắm tình hình rất nghiêm túc, chặt chẽ, chính qui. Trực ban Văn phòng đồng thời là trực ban Tổng cục Chính trị. Hằng ngày, qua các kênh thông tin, qua chế độ báo cáo, trực ban có trách nhiệm theo dõi tổng hợp báo cáo tình hình chung trong cả nước, tình hình quân đội, tình hình hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Phải nắm bắt kịp thời những vấn đề đột xuất, những diễn biến bất thường, cả trong quân đội và ngoài xã hội,…Hằng ngày, bất luận trong hoàn cảnh nào,Văn phòng cũng tiến hành giao ban vào lúc 7 giờ sáng để đến 7 giờ 30 phút đã có báo cáo tình hình trên bàn làm việc của các Thủ trưởng Tổng cục. Tôi được biết chế độ này đã thành nền nếp mấy chục năm. Sau này, khi đã rời khỏi Văn phòng đi đảm nhiệm cương vị công tác khác, tôi vẫn giữ được nếp: cứ đúng 7 giờ sáng đã ngồi vào bàn làm việc ở cơ quan. Xem xét lại chương trình công tác, đọc lại các loại tài liệu có liên quan,…Bằng cách đó, tôi có một khoảng thời gian hữu ích cần thiết chuẩn bị cho công việc của một ngày mới, trong một tâm thế chủ động, sảng khoái, tập trung, không bị vội vã, cập rập, sơ suất.
Công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị  4 năm là thời gian rất có ý nghĩa đối với tôi. Đây là thời kỳ tôi được tiếp xúc với công việc khá phong phú sôi động, được cộng tác với những cán bộ tốt. Hơn nữa, lại được thường xuyên tiếp cận các Thủ trưởng Tổng cục Chính trị như các ông: Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Đặng Vũ Hiệp, Nguyễn Nam Khánh, Lê Hai, Lê Khả Phiêu, Phạm Hồng Cư – đó là những nhân cách lớn, nên tôi đã học hỏi được nhiều. Ngày đó, đảng viên Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Thủ trưởng Tổng cục Chính trị sinh hoạt trong một chi bộ. Tôi được bầu làm Đảng ủy viên Văn phòng, Bí thư chi bộ. Qua công tác, tôi được bồi dưỡng kiến  thức toàn diện về nội dung cũng như phương thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trên các mặt: tổ chức, tuyên huấn, cán bộ, bảo vệ, dân vận, chính sách, các cơ quan báo chí, văn nghệ, các tổ chức quần chúng trong quân đội. Tôi tự thấy mình trưởng thành lên nhiều hơn. Đó là những điều có giá trị rất lớn mà trước đó tôi chưa hề có. Những kiến thức đó đã từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ, giúp tôi có thêm vốn liếng, cẩm nang thuận lợi trong triển khai công tác sau này trên các cương vị mới.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #46 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:43:06 PM »

 Thời kỳ công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị đã giúp tôi nâng cao trình độ tổng hợp khái quát, khả năng diễn đạt và thể hiện văn bản. Điều may mắn đối với tôi là, thủ trưởng Tổng cục Tổng cục Chính trị và  thủ trưởng Văn phòng Tổng cục Chính trị ngày đó, đều là những người có độ dày cống hiến trong nhiều năm và hiện tại vừa giỏi vừa tốt. Trên cương vị lãnh đạo chỉ đạo, các Thủ trưởng thật sự là những người thầy của tôi trong thực hành nhiệm vụ. Trong số đó, ngoài các thủ trưởng Tổng cục, tôi học được nhiều điều ở anh Chu Tự Di sau này là Trung tướng, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi nhớ, có lần Văn phòng chuẩn bị dự thảo báo cáo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị 5 năm 1985-1990 và kế hoạch 5 năm 1990-2000. Sau khi đã tổng hợp báo cáo của các quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, học viện, nhà trường, các tổng cục, và ý kiên đề xuất của các Cục chức năng trong Tổng cục Chính trị, Phòng Kế hoạch Tổng hợp xây dựng một bản dự thảo khá dài, khoảng 25 trang. Chánh Văn phòng Chu Tự Di sau khi trao đổi với các Phó Văn phòng, đã trực tiếp viết lại bản dự thảo và cho in rô-nê-ô mấy bản để lấy ý kiến tham gia. Một hôm cuối giờ làm việc buổi chiều, anh Di gọi tôi lên đưa cho một bản thảo và dặn là về nghiên cứu và tham gia ý kiến. Yêu cầu trong vòng 5 ngày phải nộp lại.
Mang bản thảo về nhà, tôi đọc rất kỹ đến tận khuya. Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy, bản dự thảo được chuẩn bị khá công phu, có nội dung tốt, đầy đủ , toàn diện, phản ánh đúng thực trạng tình hình các đơn vị trong toàn quân, dự báo kế hoạch theo đúng theo yêu cầu chung và  tư tưởng chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị. Tuy nhiên, một số chỗ nội dung dự thảo còn dàn trải, tính khái quát chưa thật cao, đánh giá nhận xét chưa trực diện, đôi chỗ còn sa vào một số vấn đề quá cụ thể, hành văn có chỗ còn hơi dài. Bởi vậy, tự cho mình có trách nhiệm tham gia, lại được Chánh Văn phòng cho phép, thế là tôi dùng bút đỏ sửa chữa trực tiếp vào văn bản. Có chỗ tôi gạch xóa bớt đi cả một đoạn, rút gọn lại thành mấy câu.
Sáng sớm hôm sau, sau giờ giao ban, với thái độ tự tin, hăng hái, tôi xin gặp Chánh Văn phòng để nộp lại. Anh Di cầm bản thảo, hỏi tôi làm sao nhanh thế. Thế rồi anh mở ra đọc ngay. Đọc khá kỹ, thi thoảng ông dừng lại suy nghĩ đăm chiêu ở những chỗ tham gia của tôi. Ngồi đối diện nhìn sang, tôi thấy gương mặt chăm chú, có lúc chau mày, nhưng không hề đổi sắc.
Cuối cùng ngẩng lên nhìn tôi, anh từ tốn, ân cần nói với tôi rằng, thế là tốt. Mặc dù chỉ trong một đêm, vượt trước thời gian theo hẹn, nhưng với trách nhiệm và khả năng của mình, cậu đã có những ý kiến tham gia khá xác đáng. Đặc biệt là, đã thẳng thắn mạnh dạn sữa chữa những chỗ xét thấy cần thiết. Những ý kiến tham gia này, mình sẽ cân nhắc xem xét thêm.
Việc này, nhiều lúc sau này khi đã là cán bộ chủ trì đơn vị, nghĩ lại, tôi vừa cảm phục thái độ nhẫn nại, phục thiện của anh Di, lại vừa tự thấy ngượng ngùng xấu hổ cho sự vội vã, hấp tấp của mình.
Hồi đó, do yêu cầu nhiệm vụ, nhiều đêm chúng tôi phải làm việc trong cơ quan. Có bữa làm đến tận khuya, đói quá, trong túi cũng chẳng có nhiều tiền, tôi chạy ra phố Cửa Đông mua vội hai cái bánh mỳ chay. Cứ thế, hai thầy trò, mỗi người một cái bánh mỳ vừa cầm ăn vừa sửa tài liệu.
Lại có lần họp Tổ Đảng để kiểm điểm đảng viên cuối năm. Tổ chúng tôi có bốn người : Đặng Vũ Hiệp, Chu Tự Di, Nguyễn Xuân Long ( lúc đó là thư ký cho ông Hiệp, sau này là Thiếu tướng, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị ) và tôi. Lần lượt kiểm điểm từng người. Bắt đầu là ông Hiệp, tiếp đến là anh Di, anh Long và sau cùng là tôi. Khi tôi tự kiểm điểm xong, các đảng viên đóng góp ý kiến. Ông Hiệp đóng góp cho tôi, đại ý là:  Sau một vài ý kiến biểu dương về nhiệt tình trách nhiệm, khả năng công tác và phẩm chất của tôi, ông nói rằng, từ ngày ông về nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến nay, tính ra đã hơn 13 năm, trong điều hành chưa lúc nào cán bộ cấp dưới ở cơ quan có ý kiến trái với ý kiến của ông. Thế nhưng gần đây, khi trao đổi một vài việc cụ thể, thấy tôi có ý kiến khác. Theo ông, như thế là tốt, là thẳng thắn, cần phát huy. Ông  thích tuýp cán bộ cấp dưới có phương pháp tư duy độc lập và dám nói thẳng. Ý kiến trái chiều, có tính phản biện, nhiều khi làm cho quyết định của cấp trên chính xác hơn. Cấp trên, bất cứ là ai, cần phải biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới, nhất là những ý kiến khác với ý kiến của mình. Nếu không, sẽ bị huyễn hoặc bởi những lời tán dương của cấp dưới. Nghe ý kiến thuận chiều lâu ngày tạo thành thói quen, rồi từ đó ngộ nhận ở khả năng của mình, từng bước dẫn đến sai lầm mà không biết.
Kiểm điểm xong, tôi phát biểu ý kiến cám ơn. Trên đường về Phòng làm việc, anh Di nói với tôi:
- Việc góp ý của ông Hiệp đối với cậu hôm nay là thể hiện sự chân thành thẳng thắn, cậu cần phát huy những mặt mạnh, đồng thời cần chú ý  phương pháp công tác cần phải cẩn trọng hơn.
Tôi cho rằng, những điều tâm sự của  của anh Di đối với tôi là chân tình, là hoàn toàn đúng. Thực ra, tôi thuộc loại người trực tính, nghĩ sao nói vậy, lại đang còn trẻ, kinh nghiệm cuộc sống, nhất là kinh nghiệm ở cơ quan còn ít.
Phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, kinh nghiệm và  phong cách làm việc của cán bộ Phòng Kế hoạch Tổng hợp cũng như tập thể cán bộ, nhân viên Văn phòng Tổng cục Chính trị  thời kỳ đó đã cho tôi những bài học rất quí giá, bổ ích. Nhiều năm sau này, nhất là khi đã là cán bộ chủ trì đơn vị, tôi vẫn coi đó như những chuẩn mực.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #47 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:45:52 PM »

Chương sáu: Trở lại  Cục Chính sách trên cương vị mới


Sau bốn năm công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị, ngày 22 tháng 2 năm 1992, tôi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng Cục Chính sách. Tôi được biết trước đó, vào tháng 7 năm 1991, nhân chuẩn bị kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sỹ, Cục Chính sách phối hợp với Tạp chí Văn nghệ quân đội viết bài phỏng vấn anh Lê Tiến, Cục trưởng nhằm quảng bá thông tin về những kết quả đạt được trong hoạt động công tác chính sách và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu cũng như trong tổ chức thực hiện chính sách. Bài đăng ở số tháng 7-1991 của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Khi còn công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị, tôi đã đọc kỹ nội dung bài báo. Theo cá nhân tôi, bài báo về cơ bản là đúng, phản ánh khách quan, trung thực đời sống bộ đội và tình hình công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Nhưng tôi được biết, hình như có một vài chi tiết nhạy cảm, gây phản ứng trong một số cán bộ. Có ý kiến gay gắt phản ánh lên Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Thủ trưởng Bộ và Tổng cục yêu cầu Cục Chính sách phải kiểm điểm về trách nhiệm phát ngôn của Cục trưởng và một số anh em liên quan. Mãi đến bây giờ sau hàng chục năm, tôi vẫn phân vân. Thứ nhất, động cơ đưa tin là tốt, nội dung đưa tin không có gì sai phạm lớn; Thứ hai là, nếu có điều gì sai, thì anh Lê Tiến không phải là người chịu hoàn toàn. Thế mà, lợi bất cập hại. Việc phát ngôn trên báo chí hay phát biểu trên bục hội nghị mà không kiểm soát được chỉ cần sơ sẩy một chút là điều không hay sẽ xảy ra. Một thời gian ngắn sau đó, anh Lê Tiến có ý kiến về kết luận của trên và anh chính thức xin nghỉ hưu. Khi anh Lê Tiến xin nghỉ, cấp trên có lựa chọn xem xét một số phương án nhân sự, trong đó có tôi. Là cán bộ cũ của Cục Chính sách, nên tôi được cấp trên đưa về làm Cục phó và là nguồn kế cận Cục trưởng.  

Ngày giao nhiệm vụ cho tôi, mà thực ra là giao nhiệm vụ cho tập thể Cục Chính sách, anh Lê Khả Phiêu, lúc đó là Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm TCCT nói đại ý rằng : Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc, các Nghị quyết của Trung ương, trong thời gian tới, Nhà nước tiến hành cải cách sửa đổi toàn bộ hệ thống chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các chính sách xã hội. Những chính sách đó đều có tác động trực tiếp đến  quân đội và hậu phương quân đội. Theo chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương -  Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, theo tiến trình chung của Nhà nước, trong Bộ Quốc phòng cũng phải xúc tiến việc nghiên cứu đề nghị các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, như: Chính sách đối với quân đội trước yêu cầu xây dựng chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể hơn là, chính sách, chế độ đối với bộ đội làm nhiệm vụ ở những địa bàn khó khăn gian khổ, biên giới, hải đảo; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng công tác trong các thành phần chuyên môn kỹ thuật trọng yếu của lực lượng không quân, hải quân,…Chính sách bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng. Chính sách đối với hậu phương quân đội trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu tập trung giải quyết những tồn đọng về chính sách ( thương binh, liệt sỹ, mất tin, mất tích, mộ liệt sỹ, khen thưởng,…) sau mấy chục năm chiến tranh với khối lượng lớn, tính chất càng về sau càng khó khăn, phức tạp, bức xúc. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi Cục Chính sách phải là cơ quan tham mưu đắc lực cho Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng trong việc nghiên cứu và phối hợp nghiên cứu đề nghị chính sách cũng như chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện những chính sách đã được ban hành. Cục Chính sách là cơ quan trung tâm giúp Bộ Quốc phòng trong việc phối hợp nghiên cứu chính sách với Bộ Lao động Thương binh Xã hội và các bộ, ngành khác ở Trung ương.
Tham dự buổi giao nhiệm vụ cho tôi còn có Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị; anh Phạm Lam, Cục phó Cục Chính sách, Bí thư Đảng ủy Cục Chính sách và anh Phạm Văn Lê, Trưởng phòng Cán bộ Tổng cục Chính trị.
Sau khi anh giao nhiệm vụ và căn dặn tôi một số điều cần chú ý trong lãnh đạo chỉ huy khi về lại Cục Chính sách, anh Lê Khả Phiêu hỏi tôi có ý kiến gì không. Tôi không đề đạt gì, chỉ cảm ơn và hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trên giao, mong Thủ trưởng Tổng cục Chính trị và Bộ Quốc phòng cũng như các cơ quan hữu quan tạo điều kiện giúp đỡ, phối hợp trong quá trình triển khai nhiệm vụ.
Về cương vị công tác thì giữa anh Lê Khả Phiêu với tôi là một khoảng cách rất lớn. Nhưng về phương diện tình cảm cá nhân với nhau thì anh rất chân thành gần gũi – kể cả sau này anh là Tổng Bí thư BCHTW Đảng. Tôi biết anh Phiêu từ nhiều năm trước. Hồi chiến đấu ở Lào thì mới nghe tên chứ chưa gặp. Tôi tiếp xúc và được làm việc với anh Phiêu hồi ở chiến trường Trị Thiên. Sau kết thúc chiến dịch Tết Mậu Thân, khi đang là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 9,  anh Phiêu được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân khu. Tôi làm trợ lý thanh niên Trung đoàn 8 nên có một số lần lên dự tập huấn, hội nghị ở Quân khu đã được nghe anh giảng bài trong tập huấn hoặc chủ trì trong hội nghị. Hồi tôi công tác trong Tổ đại diện Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia thì dưới quyền lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của  anh Phiêu lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó Tư lệnh về Chính trị. Khi anh Phiêu làm Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì tôi công tác ở Phòng Kế hoạch Tổng hợp Văn phòng Tổng cục Chính trị.
Tôi nhận nhiệm vụ trong tâm trạng vừa phấn khởi vừa lo lắng. Phấn khởi vì được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ. Lo lắng vì hình dung ra khối lượng công việc quá lớn, lại  hệ trọng, đều là cấp thiết, phải làm sao phấn đấu hoàn thành được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới.  
Tổ chức biên chế của Cục Chính sách lúc này gồm: Thủ trưởng Cục có anh Lê Tiến, Cục trưởng; anh Phạm Lam, Cục phó. Anh Lê Tiến nguyên là Cục phó Cục Cán bộ được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Chính sách thay anh Doãn Sửu từ tháng 8 năm 1988. Anh Phạm Lam nguyên Trưởng phòng Khen thưởng được bổ nhiệm Cục phó từ tháng 7 năm 1991. Tháng 7-1992, anh Lê Tiến nghỉ chờ hưu theo chế độ, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao cho tôi đảm nhiệm Quyền Cục trưởng. Đến tháng 12-1993, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định bổ nhiệm tôi giữ chức Cục trưởng.
 Tổ chức, biên chế của Cục lúc bấy giờ là:
  Phòng Nghiên cứu Tổng hợp do anh Đỗ Quang Bích làm Trưởng phòng. Cán bộ trong phòng là các anh, chị:  Đinh Mạnh Toan, Lê Sĩ Toàn, Lê Minh Khuê, Hàn Đức Chiến, Đỗ Quốc Công, Nguyễn Bá Bồng, Hồ Thủy, Hồ Ngọc Vận, Trần Minh, sau đó có thêm Đặng Việt Tiến được điều động từ Học viện Chính trị về.
  Phòng Thương binh - Liệt sĩ do anh Đỗ Minh Nguyệt làm Trưởng phòng, anh Nguyễn Tuấn Năng làm Phó phòng. Cán bộ trong Phòng là các anh, chị: Hoàng Đức Cân, Phan Mạnh Hùng, Lê Quang, Ngô Hữu Quyền, sau đó có thêm Hoàng Thị Dung.
Phòng Hậu phương do anh Đinh Công Cử làm Trưởng phòng. Cán bộ trong  Phòng là các anh, chị: Vũ Thược, Nguyễn Xuân Duyệt, Trần Hữu Đạt, Lê Thúy Vân, Nguyễn Thị Huê.
Phòng Khen thưởng do anh Nguyễn Văn Tinh làm Trưởng phòng. Cán bộ  trong Phòng là các anh: Lê Thế Hải, Lê Đại Hiệp, Lê Kim Ánh, Phạm Văn Bần, Ngô Mạnh Đề, Vũ Minh Tiến, Trần Tiến và chị Nguyễn Thị Sâm. Sau đó anh Lê Thế Hải được bổ nhiệm Trưởng phòng thay anh Nguyễn Văn Tinh nghỉ hưu, cán bộ Phòng được bổ sung thêm Tạ Đình Đại và Phạm Văn Chung ở Học viện Chính trị về.
 Ban Hành chính do anh Nguyễn Văn Hoãn làm Trưởng ban. Cán bộ, nhân viên trong Ban là: Đỗ thị Hòa, Trần Thị Vui, Nguyễn Thi Luân. Sau này bổ sung thêm Phạm Vinh Trí làm trợ lý tài chính.
Anh Nguyễn Hữu Quyền đã thôi giữ chức vụ Cục phó từ tháng 1 năm 1992 để chuyên trách công tác tổng kết. Anh Nguyễn Đức Chiêm  thôi giũ chức Trưởng phòng Khen thưởng, chuyển sang phụ trách biên soạn Anh hùng lực lượng vũ trang trong mục từ Nhân vật quân sự của Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam.
          Như mọi cán bộ đến nhận nhiệm vụ ở đơn vị mới, việc đầu tiên là tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ, tổ chức biên chế, tình hình nhân sự, chế độ công tác, tình hình chung của toàn ngành…Là cán bộ cũ, sau bốn năm trở lại, vẫn những gương mặt thân quen, những cán bộ đã cộng tác với nhau nhiều năm trước, tình hình nhân sự, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế, qui chế công tác của Cục Chính sách không có gì thay đổi lớn. Vì vậy,  tôi tập trung vào nắm công tác chuyên môn, nắm lại thực trạng công tác chính sách, cả nội dung và kết quả tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị;  nghiên cứu các văn bản chính sách mới ban hành và tình hình hoạt động của hệ  thống chính sách toàn quân. Chính sách là một lĩnh vực không thể chung chung, trừu tượng mà là những vấn đề cụ thể, thiết thực, đo đếm được, lại thường xuyên có sự phát triển, cho nên việc tìm hiểu nghiên cứu phải thật sự nghiêm túc, chính xác.
Sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu toàn bộ hệ thống tài liệu về nội dung chính sách, chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội và các nội dung chính sách, chế độ khác có liên quan; nghiên cứu các loại báo cáo của các đơn vị, địa phương cũng như tổng hợp ý kiến đề đạt, phản ánh của các cấp, các cơ quan, các ngành, cho tôi thấy được một bức tranh toàn cảnh về thực trạng chính sách, chế độ đối với quân đội, hậu phương quân đội của thời kỳ đó. Bước đầu tôi nhận thấy rằng, sau hơn 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cùng với cơ chế và các chính sách kinh tế-xã hội, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, so với trước, đã có sự đổi mới về nội dung và tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả tốt.
Giữa tháng 4 năm 1992, tôi tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị do anh Lê Khả Phiêu dẫn đầu đi thăm Trường Sa. Đây là chuyến công tác đầu tiên của tôi trên cương vị Cục phó Cục Chính sách.
Trước khi bắt đầu thực thi một nhiệm vụ, tôi có một phương pháp đã thành thói quen là dành thời gian nghiên cứu tìm hiểu trước tình hình đặc điểm nơi sẽ tới, những việc phải làm và những điều cần chuẩn bị.
Về Trường Sa, đây là một quần đảo lớn, gồm trên 100 đảo, bãi đá ngầm, bãi san hô,…nằm rải rác trên một vùng biển rộng cách Cam Ranh- Khánh Hòa khoảng gần 500 cây số về hướng đông nam. Từ tây sang đông dài khoảng 650 km, từ bắc xuống nam khoảng 620 km. Tổng diện tích phần nổi của các đảo là 10 km2. Độ cao trung bình các đảo là 3- 5 m. Bao quanh các đảo là một vành đai san hô. Đây là một vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt. Do lịch sử để lại, quần đảo Trường Sa là một vùng chồng lấn của nhiều quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Bru-nei, Malaysia, Philippines. Mỗi nước tuyên bố chủ quyền một khu vực. Từ năm 1968, khi phát hiện dầu mỏ với một trữ lượng rất lớn, đồng thời nhận ra vị trí chiến lược có ý nghĩa về chính trị, kinh tế, quân sự, dẫn đến tình hình tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa càng thêm căng thẳng, quyết liệt.
Việt Nam đã khẳng định chủ quyền ở Trường Sa từ rất sớm. Từ xa xưa ông cha chúng ta bằng những con thuyền nhỏ vượt trùng dương bão tố ra đây, đã hiện diện và tuyên bố chủ quyền ở khu vực này. Đầu thế kỷ thứ 17, nhà bác học Lê Quí Đôn (1726-1784) đã viết về Trường Sa và Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong cuốn Phủ biên tạp lục.
Từ ngày 14 tháng 4 năm 1975 đến 29 tháng 4 năm 1975, đồng thời với việc giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong đất liền, lực lượng vũ trang ta đã tấn công giải phóng từ tay quân ngụy Sài Gòn 6 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa . Bao gồm : giải phóng Song Tử Tây (ngày 14 ngày 4 tháng 4 năm 1975), Sơn Ca (25 tháng 4 năm 1975), Nam Yết, Sinh Tồn , An Bang (28 tháng 4 năm 1975), Trường Sa (29 tháng 4 năm 1975). Sau đó chúng ta đã chiếm giữ 21 đảo lớn nhỏ. Trong đó Trường Sa là đảo lớn nhất với chiều dài là 750 mét, chiều rộng là 400 mét, cao 2 mét, khi triều lên. Đến năm 1982, Nhà nước ta quyết định thành lập đơn vị hành chính huyện Trường Sa thuộc tỉnh Phú Khánh ( nay thuộc tỉnh Khánh Hòa ).
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là : Kiên quyết khẳng định chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa. Đây là nhiệm vụ lâu dài, toàn diện, phức tạp, đấu tranh trên nhiều lĩnh vực: pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quân sự, nhằm giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #48 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:47:11 PM »

 Hàng năm, Bộ Quốc phòng thường tổ chức các đoàn cán bộ ra thăm Trường Sa. Nhằm góp phần chăm sóc động viên cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị hải quân đang ngày đêm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, từ nhiều năm, các ngành các cấp và các địa phương đã có phong trào “Cả nước hướng về Trường Sa thân yêu”. Phong trào đó có ý nghĩa rất lớn cả về tinh thần và vật chất, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ nơi đầu sóng, ngọn gió.
Thành phần Đoàn cán bộ Tổng cục Chính trị đi thăm và làm việc ở Trường Sa hồi đó còn có : Anh Nguyễn Xuân Hòe, Cục trưởng Cục Tổ chức; anh Trần Danh Bích, Cục phó Cục Cán bộ; anh Đào Ngô Minh, Cục phó Cục Tuyên huấn; anh Phan Khắc Hải, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân; anh Nguyễn Ngọc Cầm, Phó Văn phòng Tổng cục Chính trị, cùng mấy anh cán bộ Văn phòng Tổng cục Chính trị. Cùng đi với Đoàn, có anh Nguyễn Văn Khoái, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân; anh Trần Văn Cảnh, Phó chỉ trưởng về chính trị Vùng 4 Hải quân; anh Bạ , Phó lữ đoàn trưởng về chính trị Lữ đoàn 146. Mục đích chuyến đi là thăm và làm việc với lãnh đạo, chỉ huy cùng cán bộ, chiến sĩ đang công tác trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Qua đó, nắm tình hình đời sống sinh hoạt, tình hình triển khai và kết quả hoàn thành nhiệm vụ, tình hình và kết quả công tác đảng, công tác chính trị. Theo phạm vi chức năng, các cơ quan có trách nhệm chỉ đạo, hướng dẫn đơn vị giải quyết một số vấn đề vướng mắc nổi cộm, đồng thời tổng hợp các ý kiến đề đạt. Ý kiến gì thuộc phạm vi quyền hạn của mình thì trực tiếp có ý kiến giải quyết tại chỗ. Những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của cấp trên thì tổng hợp nghiên cứu đề đạt.
Đúng 6 giờ 30 phút ngày 12 tháng 4 năm 1992, tầu Titan mang số hiệu HQ 957 kéo một hồi còi dài tạm biệt Quân cảng thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hành trình ra Trường Sa. Kế hoạch đặt ra là, với tốc độ bình quân 10 hải lý /giờ, điểm đến đầu tiên của Đoàn chúng tôi là đảo Phúc Nguyên. Từ Phúc Nguyên lần lượt đi Quế Đường, Huyền Trân, Đá Lát, Trường Sa Đông, Đá Tây, Trường Sa. Tổng số là 7 đảo. Từ Trường Sa tầu sẽ trở về đất liền, cập quân cảng Cam Ranh vào ngày 22-4-1992.
Những nơi chúng tôi đặt chân đến, cán bộ chiến sĩ thuộc các đơn vị canh giữ đảo tay bắt mặt mừng đón tiếp trong niềm hân hoan phấn khởi. Chúng tôi gặp gỡ những người lính tóc đỏ quạch, da đen cháy, người chắc nịch rắn rỏi, với giọng nói, tiếng cười hồn nhiên sảng khoái. Anh em cho chúng tôi biết cụ thể về tình hình đơn vị, nhiệm vụ được giao, đời sống vật chất, tinh thần trên đảo, chế độ tiêu chuẩn được hưởng, hoàn cảnh gia đình và  những đề đạt nguyện vọng. Những lời nói mộc mạc chân thành thẳng thắn được phát ra từ những cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm sát cánh bên nhau, vượt qua mọi thử thách, sẵn sàng hy sinh, kiên cường, kiên quyết, kiên trì phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nơi quần đảo bão tố. Dù đã ở Trường Sơn ngót 10 năm trong chiến tranh chống Mỹ nếm trải nhiều khó khăn gian khổ, nhưng khi ra đây tôi nhận thấy rằng, anh em hoạt động ở Trường Sa còn có những điều vất vả hơn.
13 giờ 45 phút ngày 19 tháng 4 năm 1992, Đoàn cán bộ làm việc với Ban chỉ huy đảo Trường Sa. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đơn vị và các cơ quan, anh Lê Khả Phiêu kết luận. Mở đầu, anh Phiêu nhận xét : Đơn vị có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ, tạo được cơ sở vật chất nhất định, cơ sở hạ tầng,…từ đó tạo điều kiện để tiếp tục hoàn chỉnh thêm từng bước. Cán bộ, chiến sĩ có  trách nhiệm cao trong lao động, cường độ vất vả trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Đơn vị đã chủ động tích cực thực hiện các kế hoạch do trên xác định. Từng bước xây dựng được nền nếp trên nhiều mặt. Đã có nhiều cố gắng trong việc tăng gia góp phần cải thiện đời sống bộ đội. Có cố gắng trong việc bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật. Tư tưởng bộ đội ổn định, thể hiện rõ trong việc quán triệt nhiệm vụ, xác định chủ quyền, xác định đối tượng tác chiến. Sinh hoạt Đảng, Đoàn được giữ vững. Làm tốt công tác phát triển đảng, chú ý đến chất lượng. Có phong trào thi đua sôi nổi. Biết khai thác các phương tiện công tác chính trị. Đoàn kết nội bộ và các đơn vị phối thuộc tốt. Tóm lại, đã tạo được sức mạnh để giữ vững chủ quyền, tạo được lực lượng chiến đấu tại chỗ. Tuy nhiên, đó mới chỉ là kết quả bước đầu. Bước đầu của tất cả các cấp. Với cả nước cũng là bước đầu. Yêu cầu nhận thức nhiệm vụ phải sâu hơn. Giữ vững độc lập chủ quyền ở Trường Sa có ý nghĩa chính trị, quân sự, kinh tế, cả trước mắt và lâu dài. Sự hiện diện của lực lượng vũ trang ở đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Phải giữ vững về quân sự để từ đó phát triển kinh tế. Kinh tế, quân sự, đối ngoại phối hợp chặt chẽ với nhau vì một mục tiêu chung là giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Sứ mệnh lịch sử này, Tổ quốc và nhân dân giao phó lực lượng vũ trang chúng ta.
Khi về đến quân cảng Cam Ranh, 14 giờ ngày 21 tháng 4 năm  1992, Đoàn tổ chưc họp đánh giá tình hình chung ở những nơi đã đến thăm và rút kinh nghiệm cho chuyến đi thăm Trường Sa. Chuyến công tác Trường Sa đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Sau khi nghe phản ánh của đơn vị, kết hợp với việc thâm nhập trực tiếp nắm tình hình ở đảo, Đoàn đã có những ý kiến chỉ đạo hướng dẫn kịp thời về công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, về tổ chức cán bộ, về bảo đảm đời sống vật chất tinh thần, nghiên cứu tiếp tục hoàn chỉnh nội dung và phương thức thực hiện chế độ, chính sách đối với bộ đội Trường Sa. Nội dung chính sách đối với bộ đội Trường Sa qua nhiều lần bổ sung sửa đổi đã từng bước hoàn thiện theo hướng thực hiện chế độ luân lưu cán bộ, thời gian phục vụ có hạn định; thực hiện các chế độ ưu đãi về tiền lương,  phụ cấp, bảo hiểm xã hội,…Các chính sách đó có ý nghĩa tích cực bảo đảm công bằng, góp phần cùng với công tác tư tưởng và công tác tổ chức, động viên khuyến khích cán bộ yên tâm phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ.

Đầu năm 1992, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện đề án cải cách chế độ tiền lương do ông Nguyễn Trọng Xuyên, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng ban, tôi được chỉ định là Ủy viên. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Đảng ủy Quân sự Trung ương – Bộ Quốc phòng nghiên cứu, xây dựng đề án chính sách tiền lương, chính sách đối với người có công và chính sách bảo hiểm xã hội phù hợp với tổ chức và hoạt đọng đặc thù của quân đội.
Để tham khảo kinh nghiệm của quân đội một số nước trong việc nghiên cứu chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ bảo hiểm xã hội đối với quân nhân, chính sách đối với gia đình quân nhân tại ngũ, Bộ Quốc phòng quyết định cử một Đoàn cán bộ sang nghiên cứu tại Bộ Quốc phòng các nước Inđônêxia, Ấn Độ, Thái Lan trong một thời gian ngắn.
Thành phần của Đoàn gồm có Anh Lê Khoa,Trung tướng, Cục trưởng Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng (Trưởng đoàn), anh Trần Đức Long, Thiếu tướng, Cục phó Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị, tôi, và hai anh cán bộ Cục Tài chính là Nguyễn Anh Hoàng, Võ Văn Phương. Đây cũng là các thành viên trong Ban chỉ đạo nghiên cứu chính sách của Bộ Quốc phòng.
Đoàn chúng tôi có năm người nhưng với hai độ tuổi. Anh Lê Khoa và anh Trần Đức Long là lớp cán bộ từ thời chống Pháp. Tôi , anh Hoàng và anh Phương thuộc lớp sau.
Anh Lê Khoa là một người có đức độ thanh liêm, có năng lực giỏi, đặc biệt là trí nhớ rất tốt. Anh không là cán bộ tài chính đơn thuần mà là cán bộ lãnh đạo trên lĩnh vực tài chính. Nói cách khác, anh nhìn tài chính dưới con mắt của người lãnh đạo. Trong làm việc anh rất nghiêm khắc, trong sinh hoạt anh rất thân tình. Giữa chúng tôi với anh có một khoảng cách lớn về tuổi tác và sự cống hiến, từng trải. Nhưng trong cư xử anh rất chan hòa, vui vẻ. Là trưởng đoàn, anh Khoa chịu trách nhiệm chủ trì trong quan hệ giao tiếp đối ngoại và làm việc với bạn. Theo thủ tục đối ngoại, nhiều lúc anh Khoa phải lặp đi lặp lại một cách giới thiệu khi giao tiếp với nhiều cơ quan bạn trong cùng một ngày. Đối với từng cơ quan tiếp xúc một lần thì không sao. Nhưng đối với chúng tôi nghe mãi thấy buồn cười. Mỗi lần anh Khoa chuẩn bị giới thiệu là chúng tôi phải tập trung thật nghiêm túc.
Là người làm công tác cán bộ lâu năm, lại có kinh nghiệm trong công tác đối ngoại quân sự, nhiều năm công tác ở Liên Xô (cũ), anh Trần Đức Long đã  hướng dẫn cho chúng tôi từ những việc nhỏ đến việc lớn. Anh Long là người có tín nhiệm cao. Anh rất cẩn trọng trong công việc và rất chu đáo trong tình cảm. Tôi nhớ, hồi đó, trước khi đi công tác, tôi mới ở viện ra, sức khỏe không được tốt. Nhiều lúc trên đường đi, anh Long giúp đỡ tôi nhiều việc. Tôi cảm động lắm.
Anh Nguyễn Anh Hoàng là Tiến sĩ về kinh tế, đã từng học ở Ấn Độ. Vừa giỏi tiếng Anh, vừa thạo nghiệp vụ tài chính kinh tế, nên trong suốt quá trình nghiên cứu học hỏi ở các nước, anh Hoàng đóng vai trò phiên dịch rất hiệu quả.
 Anh Võ Văn Phương là cán bộ trẻ nhất trong Đoàn. Phương tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân được điều vào bộ đội; lúc đó giữ chức Trưởng phòng Chính sách Cục Tài chính- Bộ Quốc phòng. Là đồng hương huyện Nghi Lộc, chúng tôi thân quí nhau từ lâu rồi.
Đối với tôi, trừ việc đi chiến đấu, công tác ở Lào, Cămpuchia trong những năm chiến tranh, đây là lần đầu tiên được cử đi ra nước ngoài theo con đường ngoại giao. Theo chức trách của mình, tôi cố gắng tranh thủ nghiên cứu tìm hiểu các chế độ, chính sách của quân đội bạn.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #49 vào lúc: 07 Tháng Một, 2015, 01:47:52 PM »

Ở cả ba nước chúng tôi đến, khi tiếp đón cũng như khi làm việc, phía bạn từ các vị tướng, các vị chỉ huy đến các chuyên gia, nhân viên đều rất nồng hậu, thân thiện và tôn trọng bộ đội Việt Nam. Những người được phân công làm việc đã thuyết trình vừa có tính khái quát cao vừa rất cụ thể, tỉ mỉ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy là:
Về chính sách, chế độ trong quân đội Inđônêxia : Trong hệ thống lương được chia làm 2 phần : lương cơ bản và phụ cấp. Lương cơ bản tính theo cấp bậc quân hàm từ Binh nhì đến Đại tướng có 15 bậc. Trong mỗi bậc lại có nhiều mức thể hiện thâm niên phục vụ trong quân đội. Phục vụ lâu năm trong quân đội nếu không có khả năng và nhu cầu đề bạt lên bậc quân hàm cao hơn, thì lương phát triển theo chiều ngang. Lương cơ bản của quân nhân cao hơn lương cơ bản của công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngàng nghề.  Trong quân đội Inđônêxia, có nhiều khoản khoản phụ cấp ngoài lương là : Phụ cấp gia đình hay còn gọi là Phụ cấp phụ thuộc ( bao gồm phụ cấp cho vợ bằng 10 % lương cơ bản ; phụ cấp cho con bằng 7 % lương cơ bản, tối đa là 3 con ); Phụ cấp chức vụ: được thực hiện đối với những người giữ chức vụ chỉ huy của một tổ chức nào đó hoặc đối với người có chức vụ đặc biệt. Khoản phụ cấp này không phụ thuộc vào quân hàm mà được định ra bằng một mức tiền tuyệt đối ổn định cho từng chức vụ trong bảng lương; Phụ cấp đặc biệt : áp dụng cho những người có học vị, học hàm; Phụ cấp nữ quân nhân; Phụ cấp tai nạn trong khi thi hành công vụ; Phụ cấp do cấm mở phòng mạch tư đối với bác sĩ quân y; Phụ cấp đối với người đã đến tuổi nghỉ hưu mà quân đội giữ lại tiếp tục phục vụ; Phụ cấp chi tiêu công vụ hoặc di chuyển; Phụ cấp tàu thuyền; Phụ cấp kỹ xảo; Phụ cấp thực phẩm; Phụ cấp học nghề; Phụ cấp về lương thực cho vợ, con quân nhân (thực chất là được cấp gạo hàng tháng); Phụ cấp xa gia đình. Ngoài các khoản phụ cấp, quân nhân còn được hưởng các khoản thù lao như : thù lao cho công vụ, thù lao nghiên cứu, thù lao về dạy học,…Nhà nước qui định những khoản trừ lương bắt buộc để tính vào bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo đảm về nhà ở. Quân đội thực hiên trả lương qua máy tính điện tử.  Ngoài tiền lương, hàng tháng, quân nhân được bảo đảm ăn không phải trả tiền, gồm cung cấp lương thực ( 18kg/người) và tiền ăn theo khẩu phần; được bảo đảm quân trang (gồm quân phục chiến đấu, quân phục thường dùng và quân phục ngày lễ). Gia đình quân nhân được chăm sóc về sức khỏe, về lương thực (10 kg/ người/tháng), được mua nhà trả góp qua hệ thống Bảo hiểm quân đội.  Khi quân nhân xuất ngũ, thì : nếu có 20 năm tuổi quân trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí; nếu phục vụ tại ngũ dưới 20 năm thì được trợ cấp một lần,  theo cách cứ mỗi năm phục vụ được hưởng một tháng lương cuối cùng. Điều kiện nghỉ hưu của sĩ quan là có 20 năm phục vụ tại ngũ trở lên và có 55 tuổi đời trở lên. Hạ sĩ quan có 42 tuổi đời trở lên được nghỉ hưu. Cơ quan Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý và chi trả lương hưu cho quân nhân, công nhân viên quốc phòng. Quân nhân bị thương tật trong chiến đấu hoặc trong công vụ, khi chuyển ra ngoài quân đội, cùng với lương hưu còn được hưởng trợ cấp tùy theo mức độ nặng nhẹ và số năm phục vụ tại ngũ. Quân nhân chết do chiến đấu hay công vụ, thì gia đình được hưởng tiền phúng điếu, tiền mai táng ; cha mẹ, vợ  (nếu chưa tái giá), con được hưởng trợ cấp.  Mức trợ cấp được tính là lấy số năm phục vụ của quân nhân nhân với 2,5% tổng số tiên  lương được hưởng tháng cuối cùng . Người thân là bố , mẹ, vợ thì được hưởng đến khi chết, con thì được hưởng đến năm 21 tuổi. Sĩ quan được mua nhà trả góp, ngay từ đầu trả 10%, sau đó trả hàng tháng và phải trả xong trong vòng 15 năm.
Về chính sách, chế độ trong quân đội Ấn Độ : Theo giới thiệu của các cơ quan hữu quan của Bộ Quốc phòng Ấn Độ thì hệ thống lương của quân đội Ấn Độ được bố trí theo cấp bậc quân hàm từ Thiếu úy đến Đại tướng. Hạ sĩ quan binh sĩ được chia theo ba loại và năm hạng để trả lương. Loại là tính theo thời gian phục vụ dài hay ngắn. Hạng là căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ cao hay thấp. Chế độ phụ cấp được áp dụng cho mọi quân nhân, bao gồm nhiều loại: phụ cấp hải quân; phụ cấp cho lính dù; phụ cấp cho người phục vụ nhảy dù; phụ cấp cho thợ lặn, phụ cấp cho những người phục vụ ở những vùng khó khăn gian khổ và đặc biệt (chiến trường), vùng cao đặc biệt (quanh năm nước đóng băng), phụ cấp ở những vùng hẻo lánh, thung lũng, đồi núi và thành phố đắt đỏ; phụ cấp đi lại và nghỉ phép; phụ cấp về giặt quân phục và giữ các trang bị; phụ cấp về nuôi con (tối đa là 3 con),; phụ cấp ở nhà trọ, khách sạn; phụ cấp đi nước ngoài; phụ cấp về ăn (lương thực thực phẩm, thực chất là mọi quân nhân ăn không phải trả tiền)… Những khoản phụ cấp chỉ áp dụng cho sĩ quan là: Phụ cấp kỹ thuật đặc biệt; Phụ cấp không được hành nghề tư nhân (như bác sĩ quân y không được mở phòng mạch tư,…); Phụ cấp cho phi công; Phụ cấp xa gia đình. Những khoản phụ cấp chỉ áp dụng cho hạ sĩ quan-binh sĩ là: Phụ cấp mang gia đình đi theo; Phụ cấp cắt tóc, giặt là; Phụ cấp về mai táng; Phụ cấp công trình ; Phụ cấp cho những người phục vụ trên máy bay; Phụ cấp cho những người giữ chức vụ của sĩ quan. Tính chung lại, thu nhập của quân nhân bằng 2,5 lần thu nhập của dân sự có cùng trình độ đào tạo. Thủ tục trả lương trong quân đội Ấn Độ là: Mỗi sĩ quan được cấp một phiếu trong đó có đầy đủ các chỉ số đăng ký ở Trung tâm tính toán ở gần Bombay, bảo đảm chính xác. Cuối tháng trung tâm tính toàn thông báo cho ngân hàng nơi sĩ quan đóng quân. Hàng tháng sĩ quan đến ngân hàng lĩnh lương sau khi đã khấu trừ các phần chi phí (thuê nhà ở, thuê xe,…). Đối với những sĩ quan đóng quân ở những nơi xa các ngân hàng, thì cơ quan tài chính của đơn vị đảm nhiệm việc đến ngân hàng lĩnh về để cấp. Đối với hạ sĩ quan – binh sĩ do cơ quan tài chính của đơn vị cấp phát. Mức lương chính của quân nhân cao hơn công nhân viên chức Nhà nước. Ngoài ra còn có các khoản phụ cấp và ăn không phải trả tiền. Điều kiện nghỉ hưu có hai yếu tố: năm phục vụ và tuổi đời. Mọi người có 20 năm phục vụ trở lên mà đủ tuổi nghỉ hưu theo qui định đối với từng bậc quân hàm (Thiếu tá, Trung tá : 50 tuổi; Đại tá : 52 tuổi; Chuẩn tướng : 54 tuổi; …Đại tướng : 60 tuổi). Hạ sĩ quan có từ 20 năm phục vụ tại ngũ trở lên và có 45 tuổi đời trở lên cũng được nghỉ hưu. Về lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xãc hội có 3 loại cơ bản: Lương hưu; Trợ cấp thương tật; Trợ cấp tiền tuất. Ngoài ra còn có chế độ trợ cấp một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng. Và các chế độ trợ cấp bảo đảm khi ốm đau, tai nạn. Quân nhân nghỉ hưu được thông báo trước 1 năm để lập hồ sơ. Các tư liệu của quân nhân được đơn vị gửi về Cơ quan Bảo hiểm xã hội thuộc Bộ Quốc phòng để tính toán và lập hồ sơ. Sau đó gửi cho quân nhân một sổ lĩnh lương hưu ở ngân hàng hoặc bưu điện. Tương tự, khi quân nhân đang phục vụ tại ngũ mà chết, cũng do Cơ quan Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng tính toán và lập hồ sơ chi trả trợ cấp tiền tuất. Lương hưu của quân nhân được tính tỷ lệ trên lương cơ bản và số năm phục vụ tại ngũ. Người vừa là hưu trí vừa là thương binh thì được hưởng cả hai khoản. Người nghỉ hưu mà chết thì gia đình được tiếp tục hưởng lương hưu trong một thời gian nhất định.

 Về chế độ, chính sách trong quân đội Thái Lan:  Hệ thống tiền lương tính theo cấp bậc quân hàm thống nhất áp dụng cho toàn bộ sĩ quan trong hải, lục, không quân. Ngoài ra, các đối tượng lao động đặc biệt hơn thì có các khoản phụ cấp tăng thêm , như phi công, nhảy dù, rà phá mìn, phá vật cản dưới nước, hoạt động xa bờ, hoạt động ở biên giới, hải đảo, vùng có chiến sự,…Các khoản phụ cấp này được tính tỷ lệ trên nền lương chính. Mức tiền lương đối với quân nhân trong quân đội Thái Lan thực hiện như tiền lương dân sự có cùng trình độ. Ngoài ra có các khoản ưu đãi khác. Sĩ quan và người hưởng lương trong quân đội đều phải nộp tiền ăn. Mọi quân nhân khi ốm đau đi điều trị ở bệnh viện được hưởng 100% tiền lương, phụ cấp. Điều kiện nghỉ hưu là đủ 60 tuổi áp dụng cho tất cả các cấp. Khi nghỉ hưu quân nhân có quyền lựa chọn nhận trọn một lần cả gói hoặc nhận hàng tháng. Nếu nhận một lần cả gói thì lấy số năm phục vụ tại ngũ nhân với tháng lương cuối cùng hiện hưởng. Nhận lương hưu hàng tháng thì lấy tháng lương cuối cùng nhân với số năm phục vụ tại ngũ rồi chia cho 50 (50 là thâm niên tối đa trong quân đội Thái). Quân nhân chết trong chiến đấu thì thân nhân được hưởng hai khoản một lần và hàng tháng. Cách tính trợ cấp tuất hàng tháng như cách tính đối với người nghỉ hưu. Quân nhân chết do ốm đau, tai nạn thông thường thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần, không có trợ cấp hàng tháng. Cách tính trợ cấp tuất một lần  như cách tính lương hưu một cục trọn gói. Quân dự bị khi tập trung được bảo đảm ăn và trợ cấp con, không có lương. Sĩ quan được mua nhà trả góp.

Các chế độ, chính sách đối với quân đội các nước trên đây, cùng với tài liệu một số nước khác do Tùy viên quân sự của ta chuyển về, có giá trị giúp Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng tham khảo trong quá trình nghiên cứu xây dựng các chế độ, chính sách tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội đối với quân đội.
Thực hiện quan điểm, nguyên tắc đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, và các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội về phương hướng biện pháp giải quyết chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội; thực hiện ý kiến chỉ đạo của trên, Ban Chỉ đạo đã nghiên cứu xây dựng đề án báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng xem xét trình lên Chính phủ ban hành Nghị định về chế độ tiền lương, phụ cấp đối với quân đội và Nghị định về chế độ bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan binh sĩ trong lực lượng vũ trang.
 Chính sách tiền lương, phụ cấp là nội dung chính của chính sách đối với lực lượng phục vụ tại ngũ. Từ năm 1992 trở về trước, trong một thời gian khá dài, chế độ tiền lương đối với quân đội thực hiện theo thang, bảng lương của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề, đồng thời được hưởng phụ cấp thâm niên và phụ cấp ưu đãi 20% (phần mềm). Từ năm 1993 trở đi, cùng với quá trình đổi mới chính sách kinh tế xã hội; để phù hợp với tính chất đặc thù của quân đội; quán triệt và thực hiện phương hướng mục tiêu về chính sách xã hội đã được xác định trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội,  Nghị định của Chính phủ đã qui định hệ thống bảng lương riêng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, tách ra khỏi hệ thống thang, bảng lương của công nhân viên chức Nhà nước. Tiền lương của sĩ quan gồm : lương chính được bố trí theo cấp bậc quân hàm, với tỷ lệ ưu đãi được xác định chung bằng 1,8 lần so với tiền lương của công nhân viên chức có cùng trình độ. Ngoài ra, quân nhân còn được hưởng phụ cấp thâm niên tính theo thời gian phục vụ tại ngũ cứ mỗi năm được 1 % lương chính và không hạn chế mức tối đa ( trước đây hạn chế mức tối đa phụ cấp thâm niên là 25% tính trên lương chính ). Tiền lương của quân nhân chuyên nghiệp được xây dựng tương ứng theo ba trình độ đào tạo : sơ cấp, trung cấp, cao cấp và phân ra theo nhóm (gồm 9 nhóm, 94 bậc), tỷ lệ ưu đãi chung là 1,7 lần so với công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề. Công nhân viên chức quốc phòng thực hiện chế độ tiền lương theo thang, bảng lương của công nhân viên chức Nhà nước có cùng ngành nghề, trình độ đào tạo. Ngoài ra, được hưởng khoản phụ cấp quốc phòng – an ninh với 2 mức 30% và 50%, nhưng chỉ tính là phần mềm, không được tính để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng được hưởng các chế độ phụ cấp: thâm niên, chức vụ, trách nhiệm, khu vực,…theo qui định của Nhà nước. Ngoài ra, để bảo đảm công bằng trong chính sách đãi ngộ,  quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng làm nhiệm vụ ở những ngành nghề kỹ thuật trọng yếu, những lĩnh vực đặc thù và trên những vùng có nhiều khó khăn gian khổ, còn được hưởng các khoản phụ cấp đặc thù  như: chế độ phụ cấp đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp phục vụ trên tàu thuộc Quân chủng Hải quân; phụ cấp và một số chế độ chính sách đối với phi công, các thành viên của tổ bay thuộc Quân chủng Không quân; phụ cấp và một số chế độ khác đối với quân nhân làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo xa; quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng công tác ở các ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,...Các chế độ phụ cấp đặc thù đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội; góp phần động viên khuyến khích quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng hoàn thành nhiệm vụ. Nghiên cứu xây dựng đề đạt cấp trên theo thẩm quyền ban hành các chế độ đặc thù trong quân đội là trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong và ngoài quân đội, trong đó Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị giữ vai trò chủ trì phối hợp.
Đối với hạ sĩ quan - binh sĩ, cùng với chế độ ăn được bảo đảm theo định lượng, phu cấp tiêu vặt được cải thiện hơn so với trước. Khi phục vụ từ tháng 25 trở đi, hạ sĩ quan binh sĩ được hưởng thêm mức 200% phụ cấp quân hàm cơ bản; từ tháng 37 trở đi, còn được hưởng thêm 50% mức phụ cấp quân hàm của mỗi cấp.
Chế độ tiền lương, phụ cấp đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan binh sĩ thực hiện từ năm 1993 đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang. Đời sống của cán bộ, chiến sĩ được cải thiện một bước, hậu phương gia đình cán bộ ổn định hơn, góp phần tạo tâm lý phấn khởi cho người đang phục vụ tại ngũ cũng như động viên thanh nhiên hăng hái tham gia xây dựng quân đội.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM