Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Ba, 2020, 09:02:13 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân  (Đọc 49549 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #30 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2015, 08:30:04 PM »

Liệt sỹ
TRẦN VĂN KỲ (1915-1968)

Họ và tên: Trần Văn Kỳ
Bí danh: Trần Sơn Hùng, Hoàng Sâm.
Ngày tháng năm sinh: 1915.
Quê quán: Lệ Sơn - Tuyên Hoá - Quảng Bình
Dân tộc: Kinh


Mùa đông năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Đây là một đội quân hoạt động theo phương châm chính trị trọng hơn quân sự; vừa xây dựng cơ sở, phát triển phong trào cách mạng, vừa tác chiến theo kiểu du kích, cơ động, bí mật, bất ngờ “lai vô ảnh, khứ vô tung”... Chỉ huy một đội quân như thế phải là một người từng lăn lộn với phong trào cách mạng của quần chúng; phải là người đã từng giỏi đánh du kích; tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Người đó chính là Hoàng Sâm.


Hoàng Sâm tên thật là Trần Vàn Kỳ, sinh ra trong một gia đình nóng dân nghèo ở xã Lệ Sơn, huvện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Mùa xuân 1927, cậu bé Trần Văn Kỳ, lúc này mới 12 tuổi, đã phải rời bỏ làng quê nghèo xơ xác phiêu bạt sang Xiêm (Thái Lan). Tại đây, Kỳ được tổ chức cách mạng của Việt kiều kết nạp vào Đội thiếu niên tiền phong và nhận vào học ở trường học sinh Việt kiều.


Năm 1928, cơ hội lớn đến với Trần Văn Kỳ khi Nguyễn Ái Quốc về Xiêm hoạt động với bí danh Thầu Chín. Trần Văn Kỳ được Thầu Chín giác ngộ và được chọn làm liên lạc trong suốt thời gian Người hoạt động ở Xiêm.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan sang Trung Quốc chuẩn bị hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam để thành lập Đảng Cộng sản, Trần Văn Kỳ vẫn tiếp tục ở lại Thái Lan vừa học tập, vừa tích cực hoạt động.


Năm 1933, Trần Văn Kỳ được kết nạp vào Đoàn thanh niên Cộng sản và ngay trong năm đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách in ấn phát hành truyền đơn.

Năm 1934, ông bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc tra tấn, hỏi cung.

Sau gần một năm giam giữ, vì không có bằng chứng cụ thể nên Trần Văn Kỳ được lãnh sự Pháp trả lại cho nhà cầm quyền Thái Lan. Ngay sau đó bị trục xuất, ông tìm đường sang Trung Quốc.

Sang đến Quảng Tây, Trần Văn Kỳ bắt liên lạc được với cơ sở và qua Phùng Chí Kiên, ông được tổ chức tạo điều kiện cho đi học tiếng Trung Quốc. Mùa xuân năm 1937, Trần Văn Kỳ được tổ chức phái về nước hoạt động ở Cao Bằng, nhưng vì không có thẻ thuế thân nên bị chính quyền thực dân Pháp ở đây bắt giam 6 tháng. Ra tù, ông cùng một vài đồng chí khác lại được Đảng cử sang Trung Quốc tham gia “Điền Kiềm Quê Biên khu du kích đội” - một tổ chức kháng Nhật của Đảng Cộng sản Trung Quổc, hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc ba tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu.


Giữa năm 1940, Trần Văn Kỳ quyết định sang Tĩnh Tây để tìm bắt liên lạc với cấp trên. Tại đây, ông đã theo học quân sự ở trường Trương Bội Công - do một tên tay sai của Tưởng Giới Thạch đứng ra tổ chức nhằm chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Trong thời gian ở Tĩnh Tây, Trần Văn Kỳ đã được gặp lại Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) và được Người đặt cho bí danh là Hoàng Sâm. Cũng tại đây, lần đầu tiên Hoàng Sâm được gặp, làm quen với người đồng chí - đồng hương Dương Hoài Nam (tức Võ Nguyên Giáp).


Sau lần gặp gỡ quan trọng này, Hoàng Sâm cùng với 40 cán bộ khác của Cao Bằng quyết định từ bỏ trường Trương Bội Công, trở về nước hoạt động. Cuối năm 1940, Hoàng Sâm tham dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập một Mặt trận dân tộc, dân chủ rộng rãi. Lớp học này do chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp. Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh tổ chức và trực tiếp giảng dạy.


Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó (Cao Bằng). Tháng 5-1941. Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 8 tại Khuổi Nậm. Hoàng Sâm được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tổ chức đường dây qua Lạng Sơn đê đón các đại biểu về dự hội nghị quan trọng này. Cuối năm 1941, Đội du kích Pác Bó được thành lập. Đội gồm 12 người, Hoàng Sâm được cử làm Đội phó. Nhiệm vụ của Đội du kích Pác Bó là vừa làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vừa xây dựng cơ sở cách mạng, tiễu trừ nạn thổ phỉ ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc địa bàn tỉnh Cao Bằng.


Từ giữa năm 1942, Hoàng Sâm được giao làm Đội trưởng đội vũ trang Cao Bằng, thay Lê Thiết Hùng.

Thời kỳ này, ở vùng biên giới Việt - Trung, nạn thổ phỉ hoành hành dữ dội. Dẹp được bọn này là một vấn đề nan giải. Chúng sống ngoài vòng pháp luật, ngang tàng theo kiểu “giang hồ, anh hùng hảo hán”; nhưng ngược lại chúng lại rất kiểng nể những người can đảm, dũng cảm và tài ba.


Trần Sơn Hùng (bí danh của Hoàng Sâm hồi ấy) là một người nổi tiếng trong vùng với sự gan dạ, biệt tài phi ngựa không cần yên cương, bắn súng ngắn cả hai tay. Bọn trùm phỉ khét tiếng như Voòng A Sáng, Voòng A Sình, Lý Xìu... nghe danh “ông Trần” đều phải kiềng nể. Để thu phục và hoà hoãn với các toán thổ phỉ, Hoàng Sâm đã không quản nguy hiểm vào tận sào huyệt của chúng thi bắn súng, cưỡi ngựa, ném lựu đạn, bắn cung; thậm chí thi cả uống rượu với các tên trùm phỉ.


Những hoạt động khôn khéo, kiên quyết, dũng cảm của Hoàng Sâm và các đồng chí khác trong đội du kích Pác Bó, cùng với tài năng quân sự và uy tín cá nhân của ông, đã hạn chế được sự phá phách, lộng hành của các toán phỉ, tạo điều kiện cho các hội Cứu quốc của Việt Minh ở vùng Lục Khu phát triển.


Tháng 7-1943, trước tình hình phong trào cách mạng phát triển rất mạnh và lan rộng xuống vùng xuôi: nhiều tổ xung phong Nam tiến ra đời. Đội du kích Cao Bằng phân tán mỗi người đi một hướng. Hoàng Sâm được giao nhiệm vụ tổ chức Đội bảo vệ các tổ xung phong Nam tiến.


Ngày 22-12-1944. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, Cựu đội trưởng Đội du kích Pác Bó - Hoàng Sâm được lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp chọn làm Đội trưởng, rồi Đại đội trưởng - khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành đại đội...

Hoàng Sâm đã trực tiếp chỉ huy các trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu và Nà Ngần lần hai.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Hoàng Sâm chỉ huy Đội tiến xuống giải phóng Ngân Sơn; sau đó tiếp tục tiến xuống Chợ Rã.

Cuối tháng 3-1945, Hoàng Sâm cùng với Đàm Quang Trung chỉ huy đơn vị đánh quân Nhật tại vùng Phủ Thông.
Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, Hoàng Sâm tham gia xây dựng và bảo vệ Khu giải phóng Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà; chỉ huy đánh quân Nhật ở Thái Nguyên, Bắc Kạn...


Sau trận thắng quân Nhật ở Thái Nguyên, Hoàng Sâm đưa đơn vị về Vĩnh Yên tiêu diệt bọn Quốc dân đảng phản động Đỗ Đình Đạo. Dẹp được bọn này, ông tiếp tục đưa đơn vị về Sơn Tây bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ ở khu vực tây - tây bắc Hà Nội. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Hoàng Sâm lại được giao những trọng trách nặng nề: Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây tiến. Khu trưởng Khu 2 rồi sau đó là Khu trưởng Khu 3. Tại chiến trường Tây Bắc xa xôi, một lần nữa tên tuổi của Hoàng Sâm lại được người ta nhắc đến nhiều bởi nghệ thuật cầm quân sắc sảo trong trận dốc Đẹt; bởi những cuộc đấu trí, đấu mưu mà Liên khu trưởng quân Tàu Tưởng phải “tâm phục, khẩu phục” biếu không 300 khẩu súng... Có rất nhiều câu chuyện sự thật một trăm phần trăm nhưng thoạt nghe tưởng như là huyền thoại về tài năng quân sự, về bản lĩnh của tướng quân Hoàng Sâm được bộ đội Tây tiến và bà con các dân tộc Tây Bắc khâm phục, truyền tụng.


Năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội ta, Hoàng Sâm được phong Thiếu tướng.

Năm 1951, Hoàng Sâm được rút về làm phái viên của Bộ đi tham gia chiến dịch với các Đại đoàn 312, 304.

Năm 1953, Hoàng Sâm làm Đại đoàn trưởng 304, Chỉ huy trưởng Mặt trận Trung Lào.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hoàng Sâm về chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông; rồi làm Đại đoàn trưởng 320, chỉ huy tiếp quản Hải Phòng.

Cuối năm 1955, Hoàng Sâm được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn rồi sau đó tiếp tục đảm đương các cương vị: Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3. Năm 1962, Hoàng Sâm được cử sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào với bí danh là Chăn-đi. Ông đã được các đồng chí lãnh đạo nước bạn hết sức tin cậy và kính trọng. Vừa mới về nước chưa được bao lâu thì Hoàng Sâm lại được cử vào làm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên - Huế - một chiến trường cực kỳ nóng bỏng và ác liệt.


Tháng 12-1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã hy sinh tại chiến trường Bình - Trị - Thiên. Ông ra đi ở tuổi 53 khi mà tài năng quân sự đang ở vào độ chín và tiếp tục toả sáng.

Hoàng Sâm là người học trò luôn được Bác Hồ tin cậy và quý trọng. Trước khi chia tay Hoàng Sâm lên đường vào Trị- Thiên. Bác đã dành thời gian động viên và căn dặn rất kỹ như đối với người thân trong gia đình. Hoàng Sâm là một vị tướng tài ba. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng ví ông như một Trapaép của Liên Xô.

Thiếu tướng Hoàng Sâm là Đại biểu Quốc hội các khoá II và III. Ông đã được tặng thưởng:
- Huân chương Hồ Chí Minh;
- Huân chương Quân công hạng Nhất;
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất;
- Huân chương Chiến công hạng Nhất;
- Huân chương Chiến thắng;
- Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #31 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2015, 08:32:02 PM »

DƯƠNG MẠC THẠCH (1915 -1979)

Họ và tên: Dương Mạc Cam
Tên thường gọi: Dương Mạc Thạch
Bí danh: Xích Thắng
Ngày tháng năm sinh: 5-8-1915
Quê quán: Bản Thơm Phát, Gia Bằng (nay là xã Minh Tâm), Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Dân tộc: Tày.


Dương Mạc Thạch là người đảng viên Cộng sản đầu tiên, Bí thư chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Nguyên Bình. Có lẽ do được thừa hưởng cái “gien” của bố mẹ, nên ông đã mang trong mình hoài bão làm cách mạng từ rất sớm.


Lúc bấy giờ, gia đình Dương Mạc Thạch thuộc diện khá giả ở Gia Bằng, chính vì vậy mà mới 8 tuổi đầu, ông đã được cha mẹ cho đi học chữ Nho và học đến lớp nhất tiếng Pháp. Đây chính là nền tảng để sau này trong hành trang hoạt động cách mạng của mình. Dương Mạc Thạch đã tích luỹ được một vốn liếng kiến thức tương đối khá. Được xếp vào lớp “trí thức cách mạng”: vì thế mà khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân thành lập. Dương Mạc Thạch được chọn làm Chính trị viên của Đội.


Ngay từ những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, Dương Mạc Thạch đã tích cực vận động học sinh tham gia phong trào bãi khoá chống tên chủ Pháp bớt xén quyền lợi của học sinh. Nhận thấy đây là một con người dũng cảm, nhanh nhẹn, có hoài bão và chí hướng, đồng chí Hồng Lĩnh (về sau là Bí thư huyện ủy Hoà An) đã giác ngộ Dương Mạc Thạch đi theo cách mạng.


Ngày 15-6-1934, Dương Mạc Thạch chính thức tham gia hoạt động cách mạng và chỉ hai tháng sau đó ông đã được kết nạp vào Đảng.

Trong những năm 1934-1940, Dương Mạc Thạch lăn lộn với phong trào ở Nguyên Bình. Ông trở thành người cán bộ nằm vùng dày dạn kinh nghiệm, giác ngộ được nhiều người đi theo cách mạng, tích cực vận động, tổ chức quyên góp tiền ủng hộ chính trị phạm, ủng hộ các tờ báo tiến bộ, vận động tổ chức quần chúng tham gia đấu tranh nhân dịp đoàn Mặt trận bình dân Pháp, do Gôđa dẫn đầu lên Cao Bằng; gương mẫu tuyên truyền vận động nhân dân bài trừ mê tín dị đoan, tập tục lạc hậu ở địa phương; tham gia Hội tương tế, Hội truyền bá chữ quốc ngữ. Ông cũng là một trong những hạt nhân lãnh đạo tiêu biểu trong việc thành lập hai chi bộ Đảng đầu tiên ở Nguyên Bình.


Năm 1940, Dương Mạc Thạch là Ủy viên Ban chấp hành lâm thời Tỉnh ủy Cao Bằng.

Vốn là một cán bộ am hiểu địa bàn, nắm chắc phong trào cách mạng, lại là người có uy tín ở địa phương, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc, chính vì vậy mà trong suốt một thời gian dài kể từ sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (1941) cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945. Dương Mạc Thạch được tổ chức phân công chủ yếu bám trụ hoạt động ở vùng Nguyên Bình và vùng giáp ranh với Bắc Kạn. Tại những vùng này, ông đã kiên trì xây dựng và phát triển cơ sở, vận động được nhiều đồng bào Tày - Nùng - Mông - Dao vào Hội Cứu quốc; tổ chức Mặt trận Việt Minh ở các xã, tổng; cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp “Nam tiến” xuống vùng Bắc Kạn phát triển phong trào, tổ chức các đội tự vệ. Thời kỳ này. Dương Mạc Thạch là Tỉnh ủy viên Cao - Bắc - Lạng và là một đốỉ tượng săn lùng gắt gao của địch. Tháng 2- 1944, trên đường Nam tiến xuống Bắc Kạn, đến núi Phia Bioóc gặp địch khủng bố gắt gao, Dương Mạc Thạch buộc phải ở lại hoạt động tại các xã phía bắc Ngân Sơn. Tại đây, đã hai lần ông thoát chết trong gang tấc, do bọn phản động chỉ điểm và bị địch phục kích. Khi vợ ông - bà Nông Thị Yêm sinh đứa con gái đầu lòng, kẻ địch tìm mọi cách dụ dỗ, tra khảo tung tích của chồng nhưng bà vẫn một mực trả lời “đứa con đó là do đi với trai, còn chồng đi buôn muối biệt tích, không biết..”


Ngày 22-12-1944, tại buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Dương Mạc Thạch được cử làm Chính trị viên của Đội. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, ông đã cùng với Đội trưởng Hoàng Sâm chỉ huy Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân làm nên chiến thắng ngay từ trận đầu và nhanh chóng phát triển lên thành nhiều trung đội rồi thành đại đội. Buổi đầu, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân gặp khó khăn về tài chính (ngày thành lập, Đội chỉ được cấp 50 đồng bạc Đông Dương), Chính trị viên Dương Mạc Thạch đã đứng ra lo giải quyết vấn đề này. Ngoài việc vận động một số người quyên góp ủng hộ, ông đã bàn bạc và vận động gia đình mình ủng hộ Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân 500 đồng - một số tiền rất lớn trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.


Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, Dương Mạc Thạch cùng với Bắc Hợp đã đưa Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân về đóng ở Lũng Dẻ (quê của hai ông) để củng cố, bổ sung thêm một số lực lượng mới từ Trung Quốc về, trước khi hành quân lên Bảo Lạc đánh đồn Đồng Mu.


Đầu năm 1945, khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã phát triển thành nhiều đại đội, Dương Mạc Thạch trực tiếp chỉ huy một đại đội hoạt động dọc đường 3b, vừa vũ trang tuyên truyền, vừa chặn đánh quân Nhật trong một số trận như Nà Phặc, Hà Hiệu, đèo Giàng, hỗ trợ du kích phá kho thóc ỏ Bạch Thông, Na Rì. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, ông cùng đơn vị tham gia giải phóng thị xã Bắc Kạn; thành lập chính quyển cách mạng ở các huyện Chợ Rã, Bạch Thông... Từ năm 1945 đến 1948, Dương Mạc Thạch hoạt động chủ yếu ở Bắc Kạn và đã có thời kỳ làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Bắc Kạn. Trong thời gian này, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng, cùng vối các cộng sự của mình triển khai tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược khi chúng nhảy dù xuống Bắc Kạn và dẹp tan các nhóm Quốc dân đảng phản động, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tháng 6-1948, Dương Mạc Thạch được điều về Bộ Tổng tư lệnh làm Đặc phái viên các tỉnh miền núi và đầu năm 1949 được bổ nhiệm làm Trưởng phòng quốc dân miển núi của Liên khu 1.

Năm 1950, Dương Mạc Thạch được cử sang học tập ở Trường chính trị Hà Nam - Trung Quốc. Cuối năm 1951 về nước, ông được bổ sung vào Tỉnh ủy Yên Bái phụ trách nông nghiệp; sau đó mấy tháng lại được Trung ương điều lên Hà Giang. Gần 20 năm gắn bó với vùng cao Hà Giang, Dương Mạc Thạch đã trải qua các chức vụ: Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, Phó bí thư Tỉnh ủy.


Năm 1970, Dương Mạc Thạch được điều về làm Bí thư Đảng ủy trường Đại học nông nghiệp 3 Bắc Thái. Cuộc đời của ông cũng trải qua nhiều bước thăng trầm. Sau hơn 40 năm hoạt động trên nhiều cương vị và ở nhiều vùng quê khác nhau, tháng 8-1978, Dương Mạc Thạch được nghỉ hưu, trở về sống những tháng ngày còn lại tại quê hương Cao Bằng. Chưa đầy một năm sau, ông vĩnh viễn ra đi sau một cơn tai biến.


Có thể nói, Dương Mạc Thạch là một trong số những người khá “trọn vẹn” về đời tư, gia đình. Vợ ông là Nông Thị Yêm, năm nay 89 tuổi, cũng là lão thành cách mạng. Ba người con ông đều nối được nghiệp bó và đều thành đạt, một trong số đó có đồng chí Dương Mạc Thăng - Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng hiện nay.

Dương Mạc Thạch đã được Nhà nước tặng thưởng:
- Huân chương Hồ Chí Minh;
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất.

Thân phụ của ông là cụ Dương Mạc Tân cũng được tặng Bằng có công với nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #32 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2015, 08:34:27 PM »

NGÔ QUỐC BÌNH (1915 -1986)

Họ và tên: Ngô Quốc Bình
Bí danh: Hoàng Văn Xiêm, Hoàng Văn Thái
Ngày tháng năm sinh: 1915
Quê quán: Tây An, Tiền Hải, Thái Bình
Trú quán: Hà Nội
Dân tộc: Kinh


Trong quyết định thành lập đội quân chủ lực đầu tiên - Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp là "chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực"1 (Hồ Chí Minh - Toàn tập. tập 3, Nxb Sự thật, H. 1983. tr. 337). Hoàng Văn Thái là một trong số những cán bộ xuất sắc của Cứu quốc quân được chọn đầu tiên. Ngay từ ngày đầu thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Hoàng Vãn Thái đã tham gia Ban chỉ huy và Chi bộ Đảng đầu tiên của Đội. Vốn là một cán bộ dày dạn kinh nghiệm, từng lăn lộn với phong trào cách mạng ở Tiên Hải; từng được trau dồi kiến thức quân sự dưới mái trường Hoàng Phố do đó Hoàng Văn Thái đã có nhiều đề xuất hay; có nhiều sáng kiến quan trọng chuẩn bị cho buổi lễ ra mắt của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân tại khu rừng Trần Hưng Đạo chiều ngày 22-12-1944. Vai trò của ông đặc biệt nổi bật trong việc nghiên cứu kế hoạch tác chiến, chuẩn bị và tiến hành hai trận đầu ra quân thắng lợi của Đội. Khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành đại đội, Hoàng Văn Thái được phân công phụ trách công tác tình báo và kế hoạch tác chiến.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân yêu nước ở vùng lúa Thái Bình, mới 13 tuổi đầu, cậu bé Bình phải bỏ nhà đi làm thuê kiếm sống. Năm 18 tuổi, Bình đã là công nhân mỏ than Hòn Gai; sau đó phiêu dạt lên mỏ thiếc Tĩnh Túc - Cao Bằng. Những năm tháng làm phu mỏ tuy không giúp được Bình thoát khỏi sự đói nghèo, nhưng bù lại, ông đã được giác ngộ cách mạng qua phong trào đấu tranh của những người thợ mỏ.


Năm 1936, trước nỗi nhớ quê hương da diết, Ngô Quốc Bình trở lại Tiền Hải hoạt động trong phong trào Mặt trận dân chủ; tham gia Hội tương tê ái hữu, tham gia các cuộc đấu tranh chống bắt phu, chống thuế; tuyên truyền, tổ chức cơ sở quần chúng cách mạng ở một sô" xã.


Tháng 5-1938, Ngô Quốc Bình được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 9-1940, ông bị đế quốc Pháp bắt giam nhưng sau đó đã trốn thoát và rút vào hoạt động bí mật ở vùng Bắc Giang với cái tên mới: Hoàng Văn Thái.


Đầu năm 1941, Hoàng Văn Thái được giao nhiệm vụ tham gia chỉ huy Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Tháng 6 năm đó, khi thực dân Pháp huy động 4.000 quân bất ngờ tiến công khu căn cứ Bắc Sơn hòng chụp bắt các đồng chí lãnh đạo Đảng và tiêu diệt Cứu quốc quân, thì Hoàng Văn Thái đã chỉ huy một tiểu đội chọc thủng vòng vây, rút lên biên giới Việt - Trung an toàn.


Tháng 9-1941, Hoàng Văn Thái được Đảng cử đi học quân sự ở Trường Hoàng Phố - Trung Quốc và đến tháng 10-1944 thì về nước tham gia tổ chức Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần giành thắng lợi, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân kéo về Lũng Dẻ để bổ sung lực lượng; sau đó lên đánh đồn Đồng Mu. Hoàng Văn Thái không đi theo Đội mà ở lại Hoa Thám theo lệnh đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức trinh sát các đồn Kéo Lẻng và Bằng Khẩu, chuẩn bị kế hoạch cho Đội sau khi đánh Đồng Mu trở về, ăn Tết xong, sẽ tập kích hai đồn này.


Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Hoàng Văn Thái cùng một bộ phận của Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân tiến xuốhg hoạt động ở vùng Chợ Đồn (Bắc Kạn). Ngày 25-6-1945, Trường Quân chính kháng Nhật khai giảng khoá đầu tiên tại Tân Trào, Hoàng Văn Thái cùng với Thanh Phong được giao nhiệm vụ tổ chức và phụ trách lớp học quan trọng này. Trong Tổng khởi nghĩa, ông chỉ huy cướp chính quyền ỏ Lục An Châu và phối hợp cướp chính quyền ở Tuyên Quang.


Cách mạng tháng Tám thành công, Hoàng Văn Thái được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức cơ quan Bộ Tông tham mưu. Tháng 10-1945, ông được cử giữ chức Tổng tham mưu trương, Ủy viên Quân ủy Hội, Ủy viên Ban quân sự của Trung ương Đảng.

Năm 1948, Hoàng Văn Thái được phong quân hàm Thiếu tướng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, Hoàng Văn Thái đã cùng cơ quan Bộ Tổng tham mưu triển khai công tác giúp trên chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung, xây dựng cơ quan trưởng thành về mọi mặt. Ông đã trực tiếp làm Tham mưu trưởng và là Đảng ủy viên mặt trận các chiến dịch lớn như: Biên Giới, Trung Du, Đường 18, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ.


Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, Hoàng Văn Thái đã tích cực chỉ đạo huấn luyện bộ đội, góp phần thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân chính quy và hiện đại, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh. Ông còn được bổ nhiệm kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao Trung ương.

Tháng 9-1958, Hoàng Văn Thái được phong quân hàm Trung tướng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tháng 2-1966, Hoàng Văn Thái nhận nhiệm vụ vào truyền đạt Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng cho chiến trường miền Nam, sau đó được chỉ định làm quyền Bí thư Khu ủy Khu 5, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5.


Tháng 10-1967, ông được lệnh vào Nam Bộ giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục, Phó bí thư Quân ủy Miền, Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền. Tại đây, ông đã cùng các đồng chí trong Trung ương Cục, Quân ủy Miền và Bộ chỉ huy Miền lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Chen La 1, Chen La 2, Nguyễn Huệ... giành thắng lợi to lớn.


Sau Hiệp định Pari (1973), ông trở lại cơ quan Bộ Tổng tham mưu với cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất phụ trách tác chiến và chi viện chiến trường. Năm 1974, Hoàng Văn Thái được phong quân hàm Thượng tướng.


Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Hoàng Văn Thái được phân công chỉ đạo công tác tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử quân sự và tham gia chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Với đức độ, tài năng tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao, ông đã được Thường vụ Quân ủy Trung ương phân công phụ trách công tác cán bộ và công tác nhà trường. Năm 1980, ông được phong quân hàm Đại tướng. Ngày 2-7-1986, Hoàng Văn Thái đã qua đời tại Hà Nội sau một cơn đau tim đột ngột.


Hoàng Văn Thái là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá III đến khoá V: Ủy viên thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương; Đại biểu Quốc hội khoá VII.

Do những công hiến xuất sắc của mình. Hoàng Văn Thái đã được tặng thưởng:
- Huân chương Hồ Chí Minh;
- Hai Huân chương Quân công (hạng Nhất và hạng Nhì);
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất;
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất;
- Ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba);
- Ba Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba);
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất;
- Huy chương Quân kỳ quyết thắng;
- Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
Ông còn được quân đội một số nước anh em tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:50:34 PM »

HOÀNG THẾ HẬU (1922 -1969)

Họ và tên: Hoàng Thế Hậu
Ngày tháng năm sinh: 1922
Quê quán: Đào Ngạn - Hà Quảng - Cao Bằng
Dân tộc: Tày.


Đầu năm 1940, Thế Hậu được giác ngộ đi làm cách mạng. Thời kỳ đó, vùng biên giới giáp với Quảng Tây (Trung Quốc) là đất hoành hành của các toán thổ phỉ; chính vì vậy mà Thế Hậu đã cùng các đồng đội của mình, bên cạnh việc lo xây dựng lực lượng, phải tập trung tiễu phỉ để bảo yệ nhân dân, bảo vệ vùng căn cứ ở Hà Quảng.


Trong những năm 1941-1943, Thế Hậu theo học tại trường quân sự Liễu Châu (Quảng Tây - Trung Quốc).
Ngày 22-12-1944, Thế Hậu được chọn dự lễ tuyên thệ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Ông tham gia 2 trận đánh đầu tiên của Đội là Phai Khắt và Nà Ngần.


Tháng 4-1945, Thế Hậu được giao phụ trách một tổ giao thông quân đội làm nhiệm vụ khắc phục đường sá từ căn cứ Lam Sơn (Hoà An - Cao Bằng) qua các xã phía nam Nguyên Bình xuống Ngân Sơn, Hà Hiệu.

Năm 1958, Thế Hậu được điều về làm Chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội Hà Giang.

Năm 1963, ông được điều về Bộ tư lệnh Công binh, phụ trách Z3, rồi làm Phó Chủ nhiệm chính trị Khu bí mật Chợ Đồn.

Năm 1964, ông được bổ nhiệm làm Chính ủy Trung đoàn 289, Bộ tư lệnh Công binh, quân hàm trung tá.

Ngày 9-9-1969, Thế Hậu qua đời do một tai nạn trong khi đi săn.

Ông đã được tặng thưởng:   
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì;
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba;
- Bằng Có công với nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:52:22 PM »

BẾ BẰNG (1920...)

Họ và tên: Bế Bằng
Bí danh: Bế Kim Anh
Ngày tháng năm sinh: 19-7-1920
Quê quán: Dẻ Đoóng - Hồng Việt - Hoà An - Cao Bằng
Trú quán: Phường Hợp Giang - thị xã Cao Bằng
Dân tộc: Tày.


Cũng giống như hai người “đồng hương” quê ở xã Hồng Việt là Thu Sơn và Kế Hoạch, Bế Bằng tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1937, ông đã là một trong những hạt nhân tích cực của phong trào chống bắt phu, sưu cao thuế nặng. Chính vì vậy mà ông đã bị thực dân Pháp bắt và bỏ tù 3 tháng. Ra tù, Bế Bằng phải rút vào bí mật với bí danh là Bế Kim Anh để tiếp tục hoạt động. Năm 1941, ông được tổ chức đưa sang học tập tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Đầu năm 1944, về nước, Bế Kim Anh được chọn vào “Tiểu đội cận vệ đặc biệt” làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương.


Ngày 22-12-1944, ông được tổ chức giới thiệu tham gia Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Sau các trận Phai Khắt, Nà Ngần và Đồng Mu, Bế Kim Anh theo nhóm “Nam tiến” xuống Bắc Giang xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông trở lại Việt Bắc hoạt động, sau đó đi “Tây tiến”. Trong kháng chiến chống Pháp, Bế Kim Anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 71 Trung đoàn 148, chiến đấu ở vùng Tạ Khoa, Cò Nòi... Giữa năm 1953, sau đợt chỉnh quân chính trị, do mắc phải một số khuyết điểm trong quá trình thực hiện chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" nên Bế Kim Anh đã rời khỏi quân ngũ. Sau đó một thời gian, ông về công tác tại Phòng Lao động thị xã Cao Bằng.


Năm 1964, Bế Kim Anh về nghỉ hưu tại Nà Phặc - Ngân Sơn. Năm 1989, nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm lại Cao Bằng, Bế Kim Anh đã gặp và đề đạt nguyện vọng muôn được trở về quê sinh sống. Sau đó, ông đã được toại nguyện và được chính quyền tỉnh Cao Bằng cấp một căn hộ tại khu tập thể Nước Giáp, phường Hợp Giang, thị xã Cao Bằng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:53:15 PM »

NÔNG VĂN BÁT (1923 -1990)

Họ và tên: Nông Văn Bát (tự Tịch)
Tên thường gọi: Đàm Quốc Chủng, Đàm Tịch.
Ngày tháng năm sinh: 1923
Quê quán: Bình Long - Hoà An - Cao Bằng
Trú quán: 71 ngõ Thổ Quan - phố Khâm Thiên - Đống Đa - Hà Nội
Dân tộc: Tày.


Năm 1938, Đàm Quốc Chủng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào thanh niên phản đế ở châu Hoà An. Giữa năm 1940, ông được cử đi học quân sự ở Liễu Châu - Trung Quốc. Đầu năm 1944, ông về nước tham gia vào đội vũ trang của châu Hoà An. Tại đây, ông đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc khôi phục và duy trì hoạt động của các Hội cứu quốc địa phương.


Ngày 22-12-1944, Đàm Quốc Chủng là một trong số những đội viên Đội vũ trang châu Hoà An được chọn vào Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày thành lập Đội, ông là Tiểu đội trưởng. Sau hai trận tập kích các đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân trở về Lũng Dẻ và phát triển thành một đại đội. Lúc này, Đàm Quốc Chủng làm Trùng đội trưởng Trung đội 2 của Đại đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.


Sau khi đánh Đồng Mu trở về, Đàm Quổc Chủng phụ trách một mũi tiến xuông Bắc Kạn. Thái Nguyên... làm công tác vũ trang tuyên truyền và tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám tại đây. Trên đường tiến quân từ Thái Nguyên về Hà Nội, khi qua Từ Sơn, Đàm Quốc Chủng lại được giao chỉ huy một đại đội tiến sang Vĩnh Yên đánh Quốc dân đảng và bọn phản động Đỗ Đình Đạo. Sau đó, ông về Hà Nội hoạt động một thời gian và xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Quý.


Đầu năm 1946, Đàm Quốc Chủng được kết nạp vào Đảng và tháng 4 năm đó được điều vào làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 77 (Thanh Hoá); cuối năm 1948, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 115.

Tháng 1-1950, Đàm Quốc Chủng được bổ nhiệm làm Trưởng ban Thanh tra Khu 10.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) Trung đoàn 148 - lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu Tây Bắc nhận nhiệm vụ tiếp quản, giải quyết hậu quả chiến trường; tiễu phỉ để xây dựng vá bảo vệ chính quyền cách mạng ở khu vực Lai Châu - Điện Biên. Theo sự phân công của trên, Đàm Quốc Chủng về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148. Trong gần 4 năm (1954-1958) trên cương vị mới, Đàm Quốc Chủng đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Trung đoàn 148 ở vùng biên giới Tây Bắc xa xôi và đầy khó khăn thử thách.


Tháng 3-1958, thực hiện chương trình điều chỉnh kế hoạch xây dựng quân đội trong tình hình mới, một số đơn vị của Trung đoàn 148 chuyển sang làm kinh tế; một số cán bộ chỉ huy của Trung đoàn có sự thay đổi công tác, Đàm Quốc Chủng được điều về làm Hiệu trưởng Trường văn hoá A3 - Tây Bắc.


Năm 1974, Đàm Quốc Chủng được phong quân hàm đại tá và được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc, sau đó là Tham mưu phó Quân khu 1.

Tháng 1-1983, ông được nghỉ hưu và trước khi nghỉ là Phó trưởng Ban thanh tra Quân khu 1.

Ngày 22 tháng 11 năm 1990, Đàm Quốc Chủng qua đời tại phường Thổ Quan - quận Đống Đa - Hà Nội sau một thời gian bị bệnh phổi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:54:52 PM »

BẾ VĂN BỒN (1915 -1987)

Họ và tên: Bế Văn Bồn
Bí danh: Bế Văn Sắt, Hồng Quân, Mậu
Ngày tháng năm sinh: 10-10-1915
Quê quán: Đức Long - Hoà An - Cao Bằng
Trú quán: bản Mỏ sắt - Dân Chủ - Hoà An - Cao Bằng
Dân tộc: Tày.


Bế Văn Bồn sinh ra và lớn lên ở thôn Đa Sỹ, xã Đức Long nhưng sau khi lấy vợ, ông về làm rể tại bản Mỏ Sắt, xã Dân Chủ và bắt đầu con đường hoạt động cách mạng từ đây. Ông lấy đến hai người vợ nhưng đều không có con. Vợ cả đã mất từ lâu, vợ hai bỏ về quê ngoại ở Tuyên Quang; chỉ còn lại người cháu nuôi duy nhất đang thờ phụng hương khói cho ông. Vì vậy, những thông tin về quá trình hoạt động của Bế Văn Bồn để lại quá ít ỏi.


Không ai nhớ Bế Văn Bồn tham gia hoạt động cách mạng từ năm nào, nhiều nhân chứng chỉ biết đến cái tên Bế Văn Sắt bắt đầu từ khi phong trào thí điểm Việt Minh ở Hoà An phát triển rầm rộ. Khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, Bế Văn sắt là một trong số những đội viên xuất sắc của đội vũ trang Hoà An được chọn vào Đội. Sau 2 trận Phai Khắt, Nà Ngần, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành đại đội, lúc này Bế Văn sắt được giao làm Trung đội phó một trong bốn trung đội của Đại đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.


Đầu năm 1945, quân địch tiến hành cuộc khủng bố trắng ác liệt, Bế Văn sắt tham gia vào đội trừng trị Việt gian phản động tại các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã.

Trước ngày Nhật đảo chính Pháp, với bí danh là Mậu, ông chỉ huy một tổ xuống các xã phía bắc Ngân Sơn giúp các đội vũ trang thoát ly ở đây trừng trị bọn phản động và xây dựng phong trào.

Ngày 20-3-1945, Bế Văn Sắt cùng với Mai Trung Lâm được đồng chí Võ Nguyên Giáp phái đi tiền trạm xuống châu Chợ Rã. Tại đây, ông đã có nhiều buổi gặp gỡ, quan trọng với tổng lý, thông sứ, giám binh Chợ Rã.

Tháng 6-1945, Bế Văn Sắt cùng với Mông Phúc Thơ về Tân Trào dự Trường Quân chính (khoá II).

Trong Cách mạng tháng Tám 1945, Bế Văn sắt tham gia Tổng khởi nghĩa ở Vĩnh Yên. Tháng 2-1946, ông chỉ huy một đại đội Vệ quốc đoàn của tỉnh Vĩnh Yên đi "Tây tiến". Một tháng sau đó, khi Trung đoàn Sơn La được thành lập, Bế Văn Sắt làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90. Trên đường tiến lên Lai Châu, ông đã chỉ huy xuất sắc đơn vị tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở đồn Tuần Giáo, mở đường cho Trung đoàn 148 tiến lên Điện Biên, Lai Châu.


Cuối tháng 4-1947, do phạm phải một số khuyết điểm trong thực hiện chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" nên Bế Văn Sắt thôi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 để đi nhận nhiệm vụ mới. Năm 1958, Bế Văn Sắt được phong quân hàm đại uý, sau đó chuyên ngành về Ban Kiến thiết thủy lợi tỉnh Cao Bằng. Năm 1966, ông về hưu và mất ngày 2-7-1987 tại xã Dân Chủ - Hoà An - Cao Bằng.

Bế Văn Sắt đã được tặng thưởng:
- Huy chương Kháng chiến hạng Nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:55:50 PM »

TÔ VĂN CẮM (1922)

Họ và tên: Tô Văn Cắm
Bí danh: Tô Tiến Lực, Tô Đình Lực
Ngày tháng năm sinh: 1922;
Quê quán: bản Um - Tam Kim 3 Nguyên Bình - Cao Bằng
Trú quán: Thị trấn Đạ Tẻh - Lâm Đồng
Dân tộc: Tày.


Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), phong trào Việt Minh ở Cao Bằng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, ba châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình đã trở thành “châu Việt Minh hoàn toàn”. Trong bối cảnh đó, cuối năm 1941, Tô Văn cắm quyết định đi theo cách mạng. Mùa xuân năm 1942, Tô Văn Cắm cùng với Thanh Uy (một cán bộ phong trào của Đề Thám) xuống xã Thượng Ân tuyên truyền, vận động được hơn chục người tham gia vào Hội nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc.


Tháng 2-1944, Tô Văn Cắm cùng với một số cán bộ địa phương theo học một lớp quân chính (Khoá III) do đồng chí Lê Thiết Hùng phụ trách, mở tại rừng Lũng Chí thuộc xã Tam Lộng. Khi khoá học này kết thúc cũng là lúc làn sóng khủng bố trắng của quân địch dâng cao. Hàng trăm thanh niên ưu tú của Cao Bằng phải lánh vào rừng, tổ chức các đội vũ trang thoát ly chống khủng bố. Riêng bản Um-quê của Tô Tiến Lực (lúc này đã đổi thành bí danh) có tới 3 người nằm trong số này là: Tô Tiến Lực, Tô Đình Tuy và Nguyễn Văn Trần. Trong những năm từ 1941-1944, chàng thanh niên lỳ lợm và có chút ngang ngạnh này không được đi đây, đi đó như một số cán bộ Việt Minh khác mà chỉ ở lại lặn lội với phong trào địa phương. Chính vì vậy mà khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ra đời ở khu rừng Trần Hưng Đạo, ngay từ đầu, ông đã được lọt vào tầm ngắm của các cấp lãnh đạo, chỉ huy khi duyệt danh sách Đội. Mặc dầu chưa được trải qua một trường quân sự bài bản nào và cũng chưa trải qua trận đánh nào, nhưng bù lại, Tô Văn cắm là người thông thạo địa hình, am hiểu địch tình, lại có kinh nghiệm vận động quần chúng. Cùng với Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Đặng Tuần Quý, Nông Văn Xương (tức bé Hồng)..., Tô Văn Cắm đã tích cực vận động bà con dân bản đóng góp sức người, sức của cho thành công của buổi lễ ra mắt Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân cũng như trong 2 trận đầu ra quân đánh đồn Phai Khắt và Nà Ngần.


Sau khi cùng Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân lên đánh đồn Đồng Mu trở về, Tiến Lực hoạt động vũ trang tuyên truyền ở vùng cao hai huyện Nguyên Bình, Ngân Sơn.

Ngày 23-9-1945, tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp vang lên ở Nam Bộ. Phong trào “Nam tiến” phát triển mạnh khắp các địa phương ở Bắc và Trung Bộ. Theo tiếng gọi “sơn hà nguy biến”, nhiều đoàn quân Nam tiến đã hăm hở lên đường chi viện cho Nam Bộ. Cả ba anh em Tô Tiến Lực đều có mặt trong những đoàn quân đó. Vào đến Nam Bộ mới được một thời gian ngắn thì giữa năm 1946, trong một trận chống càn. Tô Tiến Lực bị thương nặng phải quay trở ra Bắc và sau đó được giải ngũ về địa phương.


Sau sự kiện quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn (7-10- 1947), Tô Tiến Lực quay trở lại Quân đội. Trong chiến dịch Biên Giới thu đông năm 1950, trên cương vị Trung đội trưởng phòng không, ông tham gia đánh đồn Đông Khê lần thứ hai. Trong trận này, Tô Tiến Lực bị thương và chính vết thương này đã buộc ông sớm phải chia tay với binh nghiệp lúc tuổi đời còn rất trẻ và tràn đầy ước mơ, trở về với bản Um, với rừng Trần Hưng Đạo, nơi đã từng gắn bó với ông biết bao kỷ niệm.


Tháng 7-1992, đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, Tô Tiến Lực vẫn quyết định bứt ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, tìm đường vào xây dựng kinh tế mới ở cao nguyên Lâm Đồng.

Hiện nay, ông đang sống cùng gia đình tại thôn 8, thị trấn Đạ Tẻh, Lâm Đồng.

Tô Tiến Lực đã được tặng thưởng:
- Huân chương Chiến thắng hạng Ba.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:56:56 PM »

NGUYỄN VĂN CÀNG (1919 -1998)

Họ và tên: Nguyễn Văn Càng
Bí danh: Thu Sơn
Ngày tháng năm sinh: 19-11-1919
Quê quán: Hồng Việt - Hoà An Cao Bằng
Trú quán: Đức Long - Hoà An Cao Bằng
Dân tộc: Tày.


Năm 1936, Thu Sơn bắt đầu tham gia phong trào Thanh niên phản đế và làm liên lạc cho các cán bộ hoạt động cách mạng tại địa phương.

Giữa năm 1941, ông được kết nạp vào Đảng và được tổ chức cử đi học ở Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Tháng 10-1944, ông trở về nước và tham gia vào công tác chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Sau khi dự lễ tuyên thệ thành lập Đội (22-12-1944), Thu Sơn được giao làm Tiểu đội trưởng. Với tầm vóc cao to, dáng vẻ oai phong, có “chiếc mũi lõ” giống Tây, hơn nữa lại có vốn tiếng Pháp tương đối khá, vì vậy trong trận đánh đồn Phai Khát. Tiểu đội trưởng Thu Sơn nhập vai “đội xếp", mượn tiếng đón “quan châu” để tập hợp binh lính trong đồn, tạo điều kiện cho anh em trong Đội hạ đồn chỉ trong vòng 30 phút.

Sau đó, Thu Sơn tiếp tục tham gia cả hai trận Nà Ngần và Đồng Mu.

Tháng 4-1945, Thu Sơn chỉ huy một trung đội hoạt động trên tuyến đường Chợ Đồn - thị xã Bắc Kạn. Ngày 19-8, chính ông là người đã tiếp xúc với đại diện chỉ huy quân Nhật tại sân bay Bắc Kạn để thương lượng chuẩn bị cho cuộc đàm phán giữa bộ chỉ huy quân Nhật và lãnh đạo đoàn thế Việt Minh.

Trong Cách mạng tháng Tám, Thu Sơn là một trong những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đầu tiên vào giải phóng tỉnh lỵ Bắc Kạn, giành chính quyền ngày 21-8-1945.

Ngày 23-9-1945, tiếng súng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bùng nổ; cả nước lắng nghe lời kêu gọi “sơn hà nguy biến”. Đầu tháng 10, Thu Sơn được đồng chí Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ xuống Nam Định nắm tình hình, chuẩn bị tổ chức các đội quân Nam tiến.


Một ngày chớm đông, tiết trơi bắt đầu se lạnh, trên sân ga Đồng Giao. Chi đội trưởng Thu Sơn xúc động nhận từ tay đồng chí Hoàng Sâm - Khu bộ trưởng Khu 2, người Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ngày nào, thanh kiếm và lá cờ Tổ quốc. Thay mặt Chi đội, Thu Sơn hứa với Khu bộ trưởng và đại biểu hai tỉnh Nam Định, Ninh Bình rằng Chi đội Nam tiến của ông kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tại chiến trường.
Trên suốt chặng đường hành quân từ ga Đồng Giao vào tới Nha Trang, Thu Sơn là chồ dựa tin cậy của anh em cán bộ và chiến sỹ trong Chi đội. Vốn tiếng Tàu vào loại khá và bản lĩnh vững vàng của người chỉ huy đã giúp ông và Chi đội vượt qua được nhiều trở ngại, thậm chí cả hiểm nguy do quân Tưởng gây ra trên đường hành quân vào Nam.


Cuối tháng 10-1945, Chi đội của Thu Sơn vừa "chân ướt, chán ráo" vào đến Ninh Hoà thì lập tức được giao nhiệm vụ tăng cường cho Mặt trận Nha Trang đánh quân Pháp vừa mới nống ra ngày 22-10-1945.

Đang “lạ nước, lạ cái” nhưng Thu Sơn đã nhanh chóng nắm tình hình, chỉ huy Chi đội phân tán thành từng nhóm nhỏ, bám sát địch, tổ chức tập kích, phục kích, chia cắt, tiêu diệt được nhiều sinh lực của chúng.

Sau gần ba tháng quần nhau với quân Pháp ở Mặt trận Nha Trang, đầu năm 1946, Thu Sơn cùng Chi đội được lệnh rút ra Phú Yên để củng cố lực lượng.

Hiệp định Sơ bộ 6-3 (năm 1946) được ký kết, Chi đội của Thu Sơn giải tán, một số đi học tại Trường Lục quân Quảng Ngãi, một số làm nòng cốt tăng cường cho các đơn vị bạn. Riêng Chi đội trưởng Thu Sơn được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 79 Phú Yên vừa mới thành lập.


Một thời gian sau đó, ông được điều lên làm Phân khu trưởng Bắc Tây Nguyên. Tại đây, Thu Sơn bị thương nặng, thêm vào đó là bị bệnh sốt rét hành hạ thường xuyên nên sức khoẻ giảm sút nhanh chóng.

Đầu năm 1950, Thu Sơn được trên cho ra Bắc dưỡng bệnh, sau đó trở về quê hương làm Tỉnh đội trưởng Cao Bằng.

Năm 1953, ông lại được điều sang làm Tỉnh đội trưởng Tuyên Quang, rồi năm 1958 làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh kiêm Tỉnh đội trưởng. Trong đợt phong quân hàm năm 1958, Thu Sơn được nhận cấp trung tá.

Tháng 2-1962, Thu Sơn chuyển về làm Chánh án Toà án nhân dân Khu tự trị Việt Bắc và liên tục công tác ở đây gần 10 năm.

Dù trên cương vị công tác nào thì tính khí Thu Sơn vẫn thế: bộc trực, thẳng thắn, làm việc hết mình, “dám làm, dám chịu” và biết bảo vệ cái đúng đến cùng... Có thể vì thế mà đầu năm 1971, phần do vết thương tái phát, phần vì một lý do khách quan khác, Thu Sơn kiên quyết xin nghỉ hưu, mặc dù lúc đó ông mới 52 tuổi.

Ngày 10-4-1998, do tuổi cao sức yếu, Thu Sơn qua đời tại quê nhà, xã Đức Long, huyện Hoà An, Cao Bằng.

Thu Sơn đã được Nhà nước tặng thưởng:
- Huân chương Độc lập hạng Nhỉ;
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất;
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 233



« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2015, 08:58:36 PM »

NGUYỄN VĂN CƠ (1920 -1997)

Họ và tên: Nguyễn Văn Cơ
Bí danh: Đức Cường
Ngày tháng năm sinh: 1920
Quê quán: Đề Thám - Hoà An - Cao Bằng
Trú quán: Ninh An - Ninh Hoà – Khánh Hoà
Dân tộc: Kinh.


Cuối tháng 8-1997, chính quyền và nhân dân xã Ninh An (Ninh Hoà, Khánh Hoà) thương tiếc tiễn đưa một người Đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân về nơi yên nghỉ cuối cùng tại quê hương thứ hai của ông - xã Ninh An - huyện Ninh Hoà. Sinh ra và lớn lên ở Hoà An - Cao Bằng nhưng 50 năm có lẻ, Đức Cường đã gắn bó máu thịt với vùng đất Nam Trung Bộ này. Thật nghiệt ngã làm sao, người Đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ấy, sau hàng chục năm sống “mai danh, ẩn tích” lại đột ngột ra đi khi vừa mới được bước chân vào ngôi nhà tình nghĩa mà Tỉnh ủy ủy ban nhân dán tỉnh Khánh Hoà xây tặng chưa được bao lâu. Nghe tin ông mất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội đã gửi điện chia buồn và tiên vào phúng viếng hương hồn ông.


Trong những năm 1936-1939, phong trào quần chúng đòi quyền tự do dân chủ, dân sinh nổ ra khắp nơi trong tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là tại các châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Lo sợ phong trào đang có xu hướng lan rộng đó, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp khủng bố. Đầu năm 1938, sau khi được giác ngộ và tôi luyện trong phong trào ở địa phương và để tránh bị địch bắt, Nguyễn Văn Cơ quyết định rời xã Đề Thám đi thoát ly hoạt động cách mạng. Năm 1940, ông được tổ chức chọn và cử sang Trung Quốc học tập.


Năm 1943, Nguyễn Văn Cơ trở về nước hoạt động với tên bí danh là Đức Cường. Tháng 12-1944, Đức Cường được chọn tham dự lễ tuyên thệ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, sau đó ông tham gia cả 3 trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần và Đồng Mu. Ngày 23-9-1945, quân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Chỉ một tháng sau, Đức Cường đã có mặt trong đội hình Chi đội Thu Sơn lên đường Nam tiến.


Cuối tháng 10-1945, đoàn tàu chở Chi đội Thu Sơn vào đến Quảng Ngãi và dừng chân nghỉ lại 3 ngày. Tại đây, anh em trong Chi đội được tham quan, gặp gỡ thân mật và giao lưu với đại biểu các tổ chức, đoàn thể ở địa phương. Chính trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, Đức Cường đã kịp làm thân với một cô gái đất Quảng (về sau cô gái đó chính là người bạn đời của ông; ông cưới vợ năm 1950 và có 8 người con). Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng giữ chức Đại đội trưởng Đại đội bảo vệ của Quân khu 5. Hòa bình lập lại, do bị bệnh thấp khớp nặng và nặng tai, không thể đi tập kết ra Bắc, Đức Cường được tổ chức cho xuất ngũ về với gia đình ở làng Thanh Sơn, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. Một thời gian sau, cả gia đình chuyển vào Ninh An - Ninh Hoà sinh sống. Trong kháng chiến chống Mỹ, có thời gian (1963-1965) ông làm cán bộ xã đội Ninh An. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng khá lâu, khi sức khoẻ hồi phục, Đức Cường mới có dịp trở về thăm quê ở xã Đê Thám, Hoà An, Cao Bằng. Mãi tới lúc này người ta mới biết ông là một trong 34 người có mặt trong buổi lễ tuyên thệ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân vẫn còn sống. Đức Cường gắn bó với chiến trường Nam Trung Bộ từ ngày Nam tiến cho đến khi đất nước thống nhất. Người con trai cả của ông cũng đã anh dũng hy sinh tại mảnh đất này 4 tháng trước ngày toàn thắng (30-4-1975). Khi phát hiện ra Đức Cường là đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã xây tặng ông ngôi nhà tình nghĩa rộng 50 m2 khang trang, đẹp đẽ trên mảnh đất 100m2. Nhưng hưởng niềm vui đó chưa được bao lâu thì tháng 8 năm 1997 Đức Cường đã đột ngột ra đi sau một cơn tai biến mạch máu não.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM