Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Mười Một, 2019, 12:26:47 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 57119 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #120 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:34:19 PM »

Khác với Campuchia, quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Nhân dân cách mạng Lào gắn bó sâu nặng trên cơ sở kế thừa truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1). Trung ương Đảng hai nước thường xuyên hội đàm, trao đổi để vạch ra chiến lược hành động chung, phân công chỉ đạo đấu tranh. Nội dung và hình thức đoàn kết, liên minh hết sức phong phú, từ giúp nhau xây dựng thực lực cách mạng(2), liên minh chiến đấu, phối hợp chiến trường cho đến cùng mở các chiến dịch, trao đổi, học tập kinh nghiệm… Chủ trương nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Ủng hộ cách mạng Lào phải được coi là một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng của Đảng ta và nhân dân ta. Ủng hộ cách mạng Lào không những là nhiệm vụ quốc tế đối với nhân dân một nước láng giềng mà lại là một công tác có ý nghĩa trọng đại đối với sự nghiệp củng cố miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”(3). Ngày 9-7-1961, tại cuộc hội đàm giữa Trung ương Đảng hai nước, năm nguyên tắc hành động thống nhất đã được thông qua; đó là: cách mạng Lào do nhân dân Lào làm, do Đảng Nhân dân Lào lãnh đạo; quan hệ hai đảng bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, chủ quyền, không can thiệp nội bộ, chống tư tưởng dân tộc nước lớn, chống dân tộc hẹp hòi, chống bao biện làm thay, chống tư tưởng ỷ lại, chống tư tưởng hành động không có lợi cho đoàn kết nhất trí giữa hai đảng và tinh thần hữu nghị giữa hai dân tộc; hai đảng cùng giúp nhau, cùng học kinh nghiệm nhau; Đảng Nhân dân Lào trực tiếp quan hệ với các đảng cộng sản và các đảng công nhân trên thế giới, nếu cần thiết và có đề nghị của Trung ương Đảng Nhân dân Lào thì Trung ương Đảng Lao động Việt Nam góp ý kiến giúp đỡ việc đó; trong quan hệ giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào, hai đảng nhất trí: vì lợi ích cách mạng Lào cho nên cần thiết tranh thủ Phuma và lực lượng tiến bộ để cô lập và đánh bại đế quốc Mỹ và tay sai(4). Trong cuộc hội đàm tiếp theo (20-1-1962), Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tái khẳng định rõ: về nguyên tắc, Lào cần gì, sức Việt Nam làm được đến đâu thì sẵn sàng làm đến đó. Đây là nhiệm vụ quốc tế, nhưng không thể làm thay. Giúp xây dựng lực lượng cơ bản như đào tạo cán bộ, xây dựng quân đội, xây dựng căn cứ địa. Phương hướng giúp đỡ của Việt Nam: “Phải nhằm làm cho bạn càng ngày càng mạnh và trong một thời gian ngắn nữa có thể tự lực điều khiển mọi công việc. Về xây dựng lực lượng và chỉ huy tác chiến, ta chỉ phải giúp đỡ về cố vấn và chi viện về binh lực trong trường hợp địch gây chiến tranh quy mô lớn có cả binh lực các nước khác tham chiến”(5). Mặc dù cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam gặp nhiều khó khăn nhưng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào, chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam là: “Kiên quyết huy động thêm khả năng, đẩy mạnh hơn nữa công tác giúp đỡ cách mạng Lào, nhằm giúp Đảng Lào phát triển lực lượng và phong trào đấu tranh mọi mặt nhanh đều mạnh, sẵn sàng đối phó với tình hình, đặc biệt đón thời cơ giành thắng lợi mỗi khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam kết thúc thắng lợi”(6).

Không chỉ thường xuyên đoàn kết, phối hợp trong hành động chặt chẽ với Đảng Nhân dân Lào mà Việt Nam còn chủ động, kịp thời đề ra các sách lược ủng hộ đường lối hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc của Chính phủ Vương quốc Lào trong từng thời kỳ, nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía Chính phủ Vương quốc Lào. Bên cạnh đó, Việt Nam còn làm hết sức mình để có thể tranh thủ cả nhưng lực lượng trung lập khác ở Lào cùng đứng lên chống Mỹ. Chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam là “phải hết sức phân biệt đối xử với từng phe phái, chống bọn thân Mỹ, đoàn kết những cá nhân và bộ phận trong nhân dân và Chính phủ Vương quốc, không đoàn kết được thì trung lập, chỉ chống bọn thân Mỹ ra mặt”(7). Ngày 23-4-1955, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ nhà vua Lào sẽ phát triển và điều hòa mọi mối giao thiệp láng giềng hữu hảo với nhau để thắt chặt quan hệ láng giềng giữa hai nước với nhau căn cứ vào cơ sở năm nguyên tắc trong bản thỏa hiệp Trung - Ấn ngày 29-4-1954”(8).


(1) Tại cuộc hội đàm giữa đại diện Trung ương Đảng hai nước Việt Nam - Lào ngày 9-7-1961 đã thống nhất quan điểm: “Cách mạng hai nước càng phát triển, càng thắt chặt quan hệ đã có trong lịch sử. Có sự lãnh đạo chung, quan hệ không tách rời. Tình hình Lào phát triển, ý thức dân tộc này càng nảy nở nếu không biến chuyển kịp thì không phù hợp. Đường lối nhất trí, bàn về quan hệ hai đảng và chế độ làm việc, đồng thời trao đổi tình hình đột xuất ở Xiêng Khoảng và vấn đề Chính phủ liên hiệp Lào và quan hệ hai đảng hoàn toàn bình đẳng”. Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, tờ 5N, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, VL-369.
(2) Sau ngày Hiệp định Giơnevơ ký kết, trước tình hình sự nghiệp cách mạng Lào gặp nhiều khó khăn, trên cơ sở thỏa thuận giữa hai đảng, ngày 6-7-1959, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập Ban công tác Lào của Trung ương (gọi gắt là CP 31) do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Trưởng ban, có nhiệm vụ giúp Trung ương nghiên cứu giúp Lào. Ngày 15-7-1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra quyết định thành lập Đoàn ủy Đoàn công tác miền Tây (sau lấy phiên hiệu là Đoàn 959) do đồng chí Lê Trưởng làm Bí thư. Đồng thời, Bộ Chính trị quyết định điều động đồng chí Chu Huy Mân và Đào Việt Hưng là phái viên của Trung ương Đảng Việt Nam. Về quân sự, Việt Nam thành lập Đoàn 100 sang giúp bạn.
(3) Báo cáo của Bộ Chính trị trước Ban Chấp hành Trung ương ngày 10-4-1964, Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 29N, VL-369.
(4) Biên bản hội đàm hai đảng Việt Nam và Lào ngày 9-1-1961, Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 8N-9N, VL-369.
(5), (6) Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 19N - 35, VL-369.
(7) Bên bản Hội nghị Bộ Chính trị về tình hình Lào gần đây và chủ trương của ta, Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 30, VL-369.
(8) Tuyên bố chung Việt Nam - Lào ngày 23-4-1955, Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 42, VL-369. Về năm nguyên tắc trong bản thỏa hiệp Trung Quốc - Ấn Độ: tôn trọng chủ quyền; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; đối xử bình đẳng; chung sống hòa bình.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #121 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:37:37 PM »

Quán triệt chủ trương, đường lối, chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ, quân và dân Việt Nam đã nỗ lực làm hết sức mình để giúp đỡ, duy trì và phát triển tình đoàn kết, liên minh chiến đấu với quân và dân các bộ tộc Lào suốt những năm cùng chung chiến hào chống Mỹ, cứu nước, giúp cho sự nghiệp cách mạng của bạn đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân và dân hai nước việt - Lào là hoàn toàn trong sáng, thủy chung và bền vững, đem lại hiệu quả cao cho cả hai bên, cũng như đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài về sau. Theo thống kê của các cơ quan chức năng của Việt Nam thì số lượng cán bộ, chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam sang giúp cách mạng Lào qua từng giai đoạn như sau: từ năm 1955 đến năm 1957 là 849 người, trong đó có 318 chuyên gia quân sự và 531 cán bộ dân, chính; từ năm 1959 đến năm 1960, Việt Nam thành lập Ban công tác Lào và Đoàn 959 với quân số gần 100 người sang giúp bạn; từ năm 1961 đến năm 1964, thời điểm cao nhất, các lực lượng Việt Nam trên đất bạn là 14.599 người; từ năm 1966 đến năm 1968, thời điểm cao nhất, các lực lượng Việt Nam trên đất Lào có 26.936 người, trong đó, chuyên gia quân sự 1.513 người, chuyên gia chính trị 503 người, chuyên gia kinh tế - văn hóa 2.100 người, lao động giản đơn 820 người, quân tình nguyện và bộ đội chủ lực 22.000 người; từ năm 1969 đến năm 1972, thời điểm cao nhất, quân số Việt Nam có 51.135 người, trong đó, chuyên gia quân sự có 1.300 người, chuyên gia chính trị có 614 người, chuyên gia kinh tế - văn hóa có 3.355 người, lao động giản đơn có 8.920 người, quân tình nguyện và bộ đội chủ lực 36.946 người; từ năm 1973 đến năm 1974, thời điểm cao nhất, quân số Việt Nam có 42.894 người, trong đó chuyên gia quân sự 1.100 người, chuyên gia chính trị 641 người, chuyên gia kinh tế - văn hóa 1.285 người, công nhân và lao động giản đơn 17.808 người, quân tình nguyện và bộ đội chủ lực 22.000 người; năm 1975, các lực lượng Việt Nam tại Lào có khoảng 30.000 người. Về viện trợ vật chất, từ năm 1961 đến năm 1964, tổng trị giá viện trợ của Việt Nam cho Lào là 48.908.000 đồng; từ năm 1965 đến năm 1968, trị giá 67.560.000 đồng, từ năm 1969 đến năm 1972, ước tính 162.721.000 đồng; trong hai năm 1973 - 1974, ước tính 149.596.000 đồng; năm 1975 là 71.125.404 đồng. Tổng lượng vật chất quy tiền từ năm 1960 đến năm 1975 Việt Nam viện trợ cho Lào là 523.791.907 đồng(1).

Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù có lúc thăng trầm nhưng nhìn chung, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước trên bán đảo Đông dương hình thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã tiếp tục được củng cố, bồi đắp và phát triển trong suốt những năm tháng chiến tranh khốc liệt chống đế quốc Mỹ xâm lược vì mục tiêu hòa bình, độc lập, tự do cho quốc gia dân tộc. Liên minh chiến đấu này được duy trì lâu dài, bền vững, trong điều kiện kẻ thù tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại, nội bộ có nhiều diễn biến phức tạp (trong quan hệ với Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia(2)) nhưng về cơ bản, Việt Nam vẫn giữ vai trò chủ đạo nòng cốt của mình trong liên minh để dẫn dắt liên minh ba nước vượt qua mọi khó khăn trở ngại, gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau đánh bại từng bước, tiến lên đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu và thủ đoạn thâm độc của kẻ thù xâm lược, giành thắng lợi vẻ vang cho cả ba dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia anh em.

Bên cạnh các hình thức, nội dung đoàn kết, liên minh giữa Việt Nam với Campuchia, Việt Nam với Lào, Việt Nam còn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong liên minh ba nước qua hình thức tổ chức các hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương để kêu gọi đoàn kết, tập hợp lực lượng, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, góp phần triệt để phân hóa, cô lập kẻ thù, cùng phối hợp chặt chẽ với quân và dân hai nước trong đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao. Hoạt động tiêu biểu đầu tiên về liên minh đoàn kết, chống mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là việc Việt Nam chủ động nêu sáng kiến họp hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương nhằm khẳng định và nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Sáng kiến này đã được các bên hoan nghênh, ủng hộ và chính thức được triệu tập họp từ ngày 1 đến ngày 9-3-1965, tại Phnôm Pênh - Thủ đô của Vương quốc Campuchia. Hội nghị đã ra nghị quyết cực lực lên án đế quốc Mỹ cấu kết với các chính quyền tay sai bản xứ, chà đạp lên Hiệp định Giơnevơ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, can thiệp vũ trang thô bạo vào Lào, tấn công khiêu khích và gây sức ép đối với Campuchia. Hội nghị nhấn mạnh, nhân dân ba nước Đông Dương cần phải tăng cường, củng cố hơn nữa khối đoàn kết thống nhất nhằm hướng tới mục tiêu chung là đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược vì hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc mình. Tháng 3-1970, đế quốc Mỹ chỉ đạo thế lực tay sai làm đảo chính, xóa bỏ nền trung lập của Campuchia, đưa Campuchia vào quỹ đạo chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ. Trước âm mưu và hành động đó của đối phương, ngày 25-4-1970, tại một địa điểm gần biên giới ba nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc, những người đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia đã họp Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương(3). Hội nghị ra tuyên bố chung khẳng định tình đoàn kết keo sơn gắn bó thủy chung giữa ba dân tộc trong bối cảnh tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, đồng thời biểu dương sức mạnh đoàn kết chiến đấu và mở ra triển vọng to lớn để chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai(4). Ngày 5-6-1970, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyến bố: Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương thể hiện quyết tâm không gì lay chuyển nổi của gần 50 triệu nhân dân Đông Dương quyết chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai. Xuất phát từ nguyên tắc giải phóng và bảo vệ đất nước là sự nghiệp của nhân dân mỗi nước, nhân dân Việt Nam, Khmer và Lào đã long trọng cam kết ra sức giúp nhau theo yêu cầu của mỗi bên và trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Về kết quả hội nghị, Trung ương Đảng đánh giá: “Hội nghị cấp cao nhân dân Đông dương vừa qua là một thắng lợi của nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào. Đây là thắng lợi chưa từng có trong sự nghiệp đoàn kết đấu tranh của nhân dân ba nước. Nó sẽ thúc đẩy hơn nữa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước ở mỗi nước, và thúc đẩy sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau càng chặt chẽ hơn nữa giữa ba dân tộc Đông Dương”(5). Về phần mình, Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân Việt Nam xác định ngay từ đầu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Việt Nam phải giúp đỡ nhân dân Lào và Campuchia đào tạo cán bộ, củng cố và mở rộng mặt trận thống nhất đòi lập lại hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba dân tộc”, kiên quyết “đoàn kết chặt chẽ với nhân dân hai nước Campuchia và Lào, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, sát cánh chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai bán nước”(6).


(1) Thống kê lực lượng về sức người và vật chất mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã chi viện cho cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Tư liệu về quan hệ ba nước Đông Dương, Tlđd, tờ 07 - 20, VL-369.
(2) Đối với tập đoàn Pôn Pốt, Việt Nam đã có nhiều biện pháp hạn chế những mặt tiêu cực của họ vì lợi ích chung của hai dân tộc, tập trung chống Mỹ nhưng mặt khác ta lại không nhìn nhận và đánh giá hết được bản chất xấu xa của tập đoàn này nên mất cảnh giác, để chúng gây nhiều hậu quả tai hại đối với sự nghiệp cách mạng chung ba nước.
(3) Đoàn đại biểu nhân dân Campuchia do N. Xihanúc - Quốc trưởng, Chủ tịch Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu nhân dân Lào do Hoàng thân Xuphanuvông - Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu nhân dân Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn.
(4) Bản tuyên bố chung nhấn mạnh: “Hội nghị nhận định rằng hiện nay tình hình thuận lợi hơn bao giờ hết cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương. Chưa bao giờ đế quốc Mỹ xâm lược lại thất bại, suy yếu, gặp nhiều khó khăn và bị cô lập cao độ như ngày nay. Nhân dân các nước Đông Dương có chính nghĩa, có đường lối đúng, có quyết tâm sắt đá, có khối đoàn kết không gì phá nổi và chưa bao giờ có lực lượng hùng hậu và có sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới như ngày nay. Hội nghị tin tưởng vững chắc rằng nhân dân ba nước Đông Dương đang trên đà chiến thắng, sẽ phát huy thế chủ động, thế tiến công, kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu trên mọi mặt và nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn”. Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao của nhân dân Đông Dương. Dẫn theo Thắng lợi to lớn của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương. Nxb. Ngoại văn, Bắc Kinh, 1970, tr.12.
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.208, 212.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #122 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:38:53 PM »

Song song với hình thức cùng tổ chức các hội nghị thể hiện mạnh mẽ ý chí tinh thần và quyết tâm chiến đấu không gì lay chuyển nổi chống lại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, dưới sự lãnh đạo của các đảng, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia đã thường xuyên phối hợp sát cánh cùng nhau chiến đấu, tạo thế chiến lược tiến công chung, rộng khắp trên các chiến trường ba nước, từng bước đánh bại các kế hoạch và biện pháp chiến lược, tiến lên đánh đổ hoàn toàn ách thống trị ngoại bang, giành hòa bình, độc lập, tự do cho mỗi dân tộc. Chủ trương đoàn kết, liên minh chiến đấu này của ba đảng Việt Nam, Lào, Campuchia xuất phát từ quan điểm thống nhất đánh giá và xác định Đông Dương là một chiến trường. Trong đó, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, còn miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường lại vừa là hậu phương lớn của các chiến trường ba nước Đông Dương - nơi nguồn cội phát huy sức mạnh đoàn kết, liên minh, tạo thế chiến lược chung cho cả ba chiến trường tác chiến. Mỗi thắng lợi hay thất bại trên chiến trường chính đều có tác động mạnh mẽ tới thắng lợi hay thất bại các chiến trường phối hợp. Chủ trương chiến lược đó là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo và ngày càng phát huy tác dụng to lớn trong việc thực hiện sự đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của ba dân tộc phát triển tới mức độ cao, phản ánh đúng quy luật chiến tranh. Do vậy, trong liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, quân và dân Việt Nam trên chiến trường chính giữ vai trò nòng cốt chủ đạo, thực hiện cho được Đông Dương là một chiến trường lớn; lấy đó là phương hướng để chỉ đạo xây dựng thực lực cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang, lãnh đạo và chỉ đạo điều hành cuộc chiến tranh; đúng như đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từng khẳng định: “Cả ba nước ở Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất… Sự chỉ đạo chiến lược của ta là nhằm cuối cùng giành thắng lợi cho cách mạng của các nước Đông Dương, nhưng phải nhận rõ miền Nam là chiến trường quyết định cho phong trào giải phóng dân tộc toàn Đông Dương. Bởi miền Nam Việt Nam là nơi tập trung lực lượng lớn quân Mỹ và lực lượng tay sai đắc lực nhất của chúng. Vì vậy để giành thắng lợi to lớn cho cách mạng trên cả ba nước Đông Dương, chúng ta phải đánh cho quân Mỹ rút khỏi miền Nam, đánh cho quân ngụy miền Nam phải sụp đổ”(1).

Trên cơ sở chủ trương nhất quán, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và nhân dân Việt Nam đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đánh bại các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ ngay trên chiến trường chính Việt Nam, đồng thời đáp ứng cao nhất những yêu cầu của các nước bạn, cùng phối hợp chặt chẽ với quân và dân hai nước Lào, Campuchia liên tiếp mở các chiến dịch tiến công và phản công, buộc Mỹ phải phân tán lực lượng chống đỡ trên cả ba chiến trường. Từ đó, từng bước hình thành thế chiến lược tiến công chung cho cả ba nước, đánh bại từng bước kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn, tiến lên đánh bại hoàn toàn đối phương trên bán đảo Đông Dương.

Trong cuộc đụng đầu lịch sử với nhân dân ba nước Đông Dương, đế quốc Mỹ cũng xem Đông Dương là một chiến trường lớn, trong đó, Việt Nam là chủ trương chính, là trở ngại lớn nhất cản trở con đường xâm lược của chúng. Vì thế, Mỹ đã tập trung hơn 70% tổng số lính binh chủng lục quân, 60% tổng số lính thủy đánh bộ và quân các nước đồng minh của Mỹ, 60% lực lượng không quân, 40% các loại tàu sân bay, tàu chiến cùng với một khối lượng bom, đạn, chất độc hóa học khổng lồ, hòng đè bẹp Việt Nam trong khoảng thời gian ngắn. Đè bẹp được đối thủ chính ở Đông Dương là Việt Nam thì chúng sẽ dễ dàng khuất phục, thôn tính được hai nước còn lại. Nhưng, những toan tính và nỗ lực tối đa của đế quốc Mỹ đã không thể khuất phục được ý chí chiến đấu của quân và dân Việt Nam. Sau ba lần buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh, đế quốc Mỹ vẫn bị đánh bại trên chiến trường chính miền Nam Việt Nam, liên tiếp bị đẩy lùi trên chiến trường hai nước Lào và Campuchia. Sau khi bước vào Nhà trắng thay Giônxơn làm Tổng thống, Níchxơn tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Với những tinh toán thâm hiểm, Níchxơn quyết định sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng nòng cốt, phối hợp với quân phản động Lào, Campuchia mở rộng chiến tranh sang Campuchia, mở cuộc hành quân quy mô lớn đánh vào khu vực đường 9 - Nam Lào, nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến; triệt phá tận gốc các cơ sở căn cứ hậu cần; chặt, cắt tuyến vận chuyển chiến lược quân sự cho chiến trường ba nước Đông Dương. Nhưng chúng đã vấp phải sự giáng trả quyết liệt của quân và dân ba nước, dẫn tới những thất bại thảm hại.

Từ thực tế diễn biến cuộc chiến tranh, chúng ta thấy mỗi một thắng lợi bước ngoặt của quân và dân Việt Nam trên chiến trường chính đều tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh cách mạng của quân và dân hai nước Lào, Campuchia. Trong những năm 1954 - 1959, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn không chỉ gây ra nhiều khó khăn và tổn thất cho cách mạng miền Nam Việt Nam mà chúng còn tìm mọi cách thủ tiêu những thành quả cách mạng của Lào, bao vây tiến công hai tiểu đoàn Pathét Lào, phá hoại Chính phủ liên hiệp Lào, đồng thời ép Chính phủ Vương quốc Campuchia từ bỏ con đường trung lập, thiết lập liên minh chống cộng với chính quyền Sài Gòn. Nhưng phong trào Đồng khởi ở miền Nam Việt Nam nổ ra và giành thắng lợi to lớn, đưa cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng; đồng thời, theo yêu cầu của Đảng và nhân dân Lào, quân tình nguyện Việt Nam đã kịp thời sang sát cánh cùng chiến đấu với quân và dân các bộ tộc Lào giành nhiều thắng lợi, thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào bước sang một giai đoạn mới. Bên cạnh đó, Chính phủ Vương quốc Campuchia do Xihanúc đứng đầu, cũng dần nhận ra dã tâm xâm lược của Mỹ và chính thức đặt quan hệ với Mặt trận dân tộc giải phóng Nam Việt Nam, coi Mặt trận như một người bạn chân thành, tin cậy(2).


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.228.
(2) Ngày 20-6-1967, đại diện thường trực của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Phnôm Pênh được nâng cấp thành cơ quan đại sứ quán. Ngày 22-6-1967, cơ quan đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập tại Phnôm Pênh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #123 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:39:23 PM »

Khi chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam đứng trước nguy cơ thất bại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đứng bên bờ vực sụp đổ hoàn toàn bởi những thắng lợi quân sự liên tiếp của quân và dân miền Nam Việt Nam như: Ấp Bắc, Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, Sông Bé… thì đồng thời, trên chiến trường Lào, liên quân Việt - Lào cũng đẩy mạnh tiến công Mỹ giành thắng lợi lớn ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nậm Thà, đường số 8, đường số 9, đường số 12…, mở rộng và nối liền vùng giải phóng Lào ở Xavanakhẹt với các căn cứ kháng chiến miền tây Quảng Bình và Quảng Nam của Việt Nam, mở ra một cục diện mới cho cách mạng Lào. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến vận tải quân sự chiến lược - đường Hồ Chí Minh lật cánh từ đông sang tây Trường Sơn, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chi viện nhân lực, vật lực cho các chiến trường. Thắng lợi của các chiến dịch do liên quân Lào - Việt tiến hành không chỉ là những đòn đánh quyết định làm thất bại cuộc chiến tranh đặc biệt, rồi “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của bạn, mà còn góp phần hỗ trợ đắc lực, tạo ra những thời cơ thuận lợi cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam và Campuchia.

Tiếp sau chiến tranh đặc biệt là những thất bại liên tiếp của đế quốc Mỹ trong chiến lược chiến tranh cục bộ, và nỗ lực cao nhất qua việc triển khai những cuộc phản công chiến lược quy mô lớn (quân chiến đấu Mỹ đóng vai trò chủ yếu trên chiến trường), hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường miền Nam Việt Nam trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967; trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân và hải quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đẩy Mỹ vào ngõ cụt, buộc chúng phải từng bước xuống thang chiến tranh, thực hiện phi Mỹ hóa, rồi Việt Nam hóa chiến tranh, dùng người châu Á đánh người châu Á. Lâm vào thế cùng đường, bí lối, buộc phải xuống thang chiến tranh, nhưng Mỹ vẫn chủ trương xuống thang trên thế mạnh bằng việc mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt ở Lào, đánh chiếm Cánh Đồng Chum; sử dụng hơn 10 vạn quân Việt Nam Cộng hòa làm lực lượng xung kích xâm lược Campuchia (4-1970), mở các cuộc hành quân Chenla 1 (6-1970), Toàn thắng (2-1971), Chenla 2 (8-1971)… ở Campuchia hòng dẹp bỏ vùng “đất thánh Việt cộng” - trở ngại lớn nhất cho việc thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Ngay từ đầu cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ đã âm mưu nắm Chính phủ Xihanúc, ép Campuchia từ bỏ đường lối trung lập, nhưng ý đồ đó không thành công, buộc chúng phải tính tới việc lật đổ Xihanúc, dựng lên một chính quyền tay sai, tạo hành lang pháp lý cho việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào Campuchia, phối hợp với bọn này cùng tiến công Việt Nam từ phía sau lưng; triệt phá các cơ sở tiếp tế hậu cần; cô lập cách mạng miền Nam với bên ngoài; đồng thời, tiến công tiêu diệt các lực lượng cách mạng Campuchia, tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Tuy nhiên, sau khi đảo chính lật đổ được Xihanúc, Mỹ vẫn không thực hiện được mục đích đề ra. Chính phủ Lon Non do Mỹ dựng lên, không bao lâu đã đứng trước đứng trước nguy cơ sụp đổ, buộc Mỹ phải bị động đưa quân sang cứ nguy; đồng thời phải trực tiếp triển khai kế hoạch đánh phá hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam Việt Nam (mà theo tính toán của Mỹ là quân Lon Non phải làm), tiêu diệt cơ quan đầu não, đánh bật các lực lượng kháng chiến ra khỏi vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu. Nhưng các cuộc hành quân quy mô lớn của đối phương (tổng binh lực lúc cao nhất lên tới 92 tiểu đoàn, chiếm gần 1/4 tổng số bộ binh và thiết giáp của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa), bắt đầu từ ngày 30-4-1970, nhằm càn quét, đánh phá vùng dọc biên giới thuộc chính tỉnh Campuchia giáp Việt Nam đã bị liên quân Việt Nam - Campuchia đánh bại. Những thắng lợi có tính chiến lược này của liên quân chiến đấu Việt Nam - Campuchia đã mở ra cục diện mới cho cách mạng Campuchia phát triển, đánh bại một bước quan trọng chiến lược chiến tranh của Mỹ Campuchia. Mặt khác, nó cũng tạo thế chiến lược thuận lợi cho các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam và Lào tiến hành những cuộc tiến công chiến lược lớn, tiến tới tổng tiến công giành thắng lợi hoàn toàn.

Như vậy, thực tế đánh Mỹ đã minh chứng rằng chiến trường ba nước Đông Dương là một thể gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau. Thắng lợi trên chiến trường chính Việt Nam đã đẩy đế quốc Mỹ vào bước đường cùng, buộc chúng phải tìm lối thoát ra khỏi cuộc chiến tranh bằng cách mở những chiến dịch quân sự lớn trên lãnh thổ Campuchia và Lào nhưng đây lại chính là những hành động sai lầm nghêm trọng trong tính toán chiến lược của chúng. Nắm vững thế chủ động chiến trường, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; quân và dân Lào thực hiện thắng lợi các chiến dịch Nậm Bạc (1968); quân và dân Campuchia đánh bại cuộc hành quân Chenla 1 (6-1970), Chenla 2 (8-1971) đã giáng cho Mỹ và những đội quân tay sai của chúng những đòn chí tử. Những thắng lợi quân sự to lớn này đã tạo thêm thanh tế, mở rộng ảnh hưởng của lực lượng cách mạng và địa bàn kháng chiến ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia; nối thông chiến trường các nước với hậu phương chiến lược miền Bắc Việt Nam; mở rộng căn cứ địa, hành lang vận chuyển liên hoàn giữa các chiến trường; tạo thế, tạo đà vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước phát triển mạnh mẽ.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:44:49 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #124 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:41:27 PM »


Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng chiến lược của hậu phương miền Bắc Việt Nam đối với sự phát triển của sự nghiệp cách mạng ba nước Đông Dương, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai các nước đã không từ bất cứ âm mưu và thủ đoạn thâm hiểm nào hòng ngăn chặn cho được, cắt đứt tận gốc mọi sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho các chiến trường, bóp nghẹt, làm tàn lụi sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và nhân dân ba nước Đông Dương. Hàng triệu tấn bom, đạn từ máy bay dội xuống, trên 80 vạn quả đạn pháo từ bờ nam sông Bến Hải và các hạm đội ngoài biển khơi bắn vào, trên hai vạn quả thủy lôi phong tỏa hệ thống cửa sông, cảng biển nhưng đế quốc Mỹ đã không thể khuất phục được ý chí chiến đấu kiên cường của quân và dân Việt Nam anh hùng, không thể nào ngăn chặn được từng đoàn người, đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm hành quân trên các nẻo đường Trường Sơn ra tiền tuyến đánh Mỹ, thắng Mỹ vì khát vọng cao cả hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Nếu như năm 1964, khi Mỹ mở đầu chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khối lượng hàng hóa vận chuyển lưu hông trên miền Bắc chưa đến 1,5 triệu tấn thì đến năm 1968 - năm cuối của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, đã tăng lên 2,5 triệu tấn. Nhân dân miền Bắc đã huy động trên 200 triệu lượt người vào công cuộc chống chiến tranh phá hoại và chi viện chiến trường. Sức mạnh của hậu phương miền Bắc Việt Nam đã được chuyển tới các chiến trường bằng hệ thống đường vận tải chiến lược, chiến dịch Trường Sơn. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh khởi nguồn từ miền Bắc Việt Nam chạy xuyên ba nước Đông Dương đã trở thành con đường huyết mạch, thành trận địa”mở đường mà đi, đánh địch mà tiến” chi viện cho tiền tuyến; trở thành biểu tương thiêng liên cao cả, sự gắn bó chặt chẽ giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và trên một chiến trường thống nhất.

Suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để tạo và phát triển thế chiến lược tiến công đối phương trên cả chiến trường ba nước, Đảng và nhân dân Việt Nam quyết tâm xây dựng, củng cố, bảo vệ và không ngừng phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn bất chấp sự chặn phá khốc liệt của kẻ thù. Nó thực sự trở thành tuyến đường huyết mạch cơ bản, trực tiếp chi viện và gắn kết các chiến trường ba nước Đông Dương, nối liền hậu phương chiến lược miền Bắc với các hướng chiến lược quan trọng của miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia bằng hệ thống đường, hệ thống kho tàng, căn cứ vận chuyển. Ở đó vừa có bộ đội Việt Nam, vừa có bộ đội bạn liên minh chiến đấu bảo vệ, giữ vững đất, vùng trời cho hệ thống giao thông được thông suốt trong chiến tranh. Không có tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - căn cứ địa dựa lưng vững chắc của ba nước thì khó bảo đảm được sự chi viện, hỗ trợ lẫn nhau trong đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trong điều kiện chiến trường xa nhau, lại bị đối phương tìm mọi cách chia cắt, cô lập, quy mô chiến tranh ngày càng gia tăng khốc liệt. để duy trì và bảo vệ vững chắc tuyến huyết mạch giao thông trọng yếu này, quân và dân Việt Nam đã chủ động phối hợp với quân và dân các nước bạn tổ chức hàng loạt chiến dịch quân sự lớn giải phóng một khu vực hành lang khá rộng phía tây Trường Sơn bao gồm Mường Phin, Bản Đông (1960 - 1961), đường số 12, từ Mụ Giạ đến đường số 9 (1962 - 1963), Pha Lan - Đồng Hến (1964 - 1965), Atôpơ, cao nguyên Bôlôven, Saravan (1970, 1971, 1972)…

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chiến tranh đúng đắn của các đảng, dựa trên thế bố trí chiến lược chung hợp lý, thực lực cách mạng từng bước được xây dựng và phát triển, lại được hậu phương miền Bắc Việt Nam hậu thuẫn, cổ vũ, động viên kịp thời, lực lượng vũ trang đã phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với lực lượng vũ trang hai nước Lào, Campuchia từng bước đánh bại các kế hoạch chiến lược của đối phương, buộc chúng phải phân tán, dàn mỏng lực lượng đối phó, tiến lên thực hành tổng tiến công chiến lược đánh bại hoàn toàn đối phương. Hình thức đoàn kết, liên minh chiến đấu ấy hết sức linh hoạt, sáng tạo và đa dạng, từ đấu tranh mở rộng các vùng giải phóng, bảo vệ căn cứ kháng chiến, bảo vệ các cơ sở hậu cần và thực lực cách mạng, bảo vệ hành lang tuyến vận chuyển, đến tổng tiến công chiến lược giành thắng lợi quyết định… Quá trình này không ngừng phát triển từ thấp đến cao, có tác động thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên thắng lợi chung; lúc đầu theo yêu cầu chiến thuật, từng bước tiến lên theo yêu cầu một hướng tiến công hoặc một chiến dịch lớn.

Sau phong trào Đồng khởi (1960) ở miền Nam giành thắng lợi, cách mạng miền Nam Việt Nam chuyển từ khởi nghĩa vũ trang từng phần thành chiến tranh cách mạng. Các hoạt động vũ trang của ta và bạn còn bị hạn chế bởi khuôn khổ những tính toán cân nhắc của Trung ương Đảng Việt Nam về khả năng kiềm chế của ta và mức độ phản ứng từ phía Mỹ để kịp thời đề ra những quyết sách chỉ đạo phương thức, quy mô đấu tranh vũ trang thích hợp bảo đảm giành thắng lợi. Tháng 5-1962, lực lượng vũ trang Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang Lào mở chiến dịch Nậm Thà thắng lợi, giải phóng cả một vùng rộng lớn ở Thượng Lào, nối liền các tỉnh thuộc vùng giải phóng trước đây, tiếp giáp với biên giới Thái Lan và Mianma đã cho phép Trung ương Đảng Việt Nam rút ra những đánh giá sát, đúng hơn về ý đồ xâm lược của Mỹ đối với toàn bộ Đông Dương để có phương châm chỉ đạo đúng đắn, phù hợp tình hình. Cũng từ năm 1962 trở đi, sự phối hợp chiến đấu trên chiến trường của lực lượng vũ trang hai nước Việt - Lào ngày càng khăng khít hơn, theo một kế hoạch chung, theo từng đợt hoạt động.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #125 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:45:58 PM »

Sau năm 1965, theo thỏa thuận giữa hai Đảng, Chính phủ Việt Nam và Lào, Việt Nam tiếp tục tăng cường các đơn vị tình nguyện và chuyên gia quân sự giúp nước bạn. Đó là các Đoàn 463 ở Sầm Nưa, Đoàn 565, Đoàn 968 ở Hạ Lào, các Đoàn 335, 766, 866, 31 ở Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Đoàn Công binh 217, Đoàn không quân 919, Đoàn pháo binh và các đơn vị bảo đảm khác(1)… Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân các bộ tộc Lào cùng các đơn vị chủ lực từ Việt Nam sang mở các chiến dịch lớn đánh bại các cuộc hành quân của đối phương như Cù Kiệt, Thànôngkiệt, Xảmxỏn, Xỏnxay 1, Xỏnxay 2, Cănnhakiệt, Măngkon, Xỉnhđăng, tiêu diệt các căn cứ phỉ ở Thượng Lào…, lần lượt đập tan các binh đoàn cơ động của quân phái hữu, quân Thái Lan.

Khi đế quốc Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa liều lĩnh mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương (1970) thì sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã có bước phát triển mới. Với vai trò nòng cốt, lực lượng vũ trang Việt Nam tiếp tục mở rộng liên minh với lực lượng vũ trang Pathét Lào đẩy mạnh các hoạt động tác chiến ở vùng Trung và Hạ Lào, cùng thực hiện thắng lợi chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn có sự phối hợp của quân phản động Lào tại khu vực đường 9 - Nam Lào. Khi hơn 10 vạn quân viễn chinh Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa tràn qua biên giới, tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam kịp thời họp phân tích, đánh giá tình hình: “Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất” và khẳng định quyết tâm của quân và dân Việt Nam: “đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mệnh của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta”(2).

Thực hiện quyết tâm đó, lực lượng vũ trang miền Nam đã cùng với các lực lượng kháng chiến Campuchia mở cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến, cơ sở hậu cần, địa bàn đứng chân của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và căn cứ bạn trên đất Campuchia: giải phóng hoàn toàn năm tỉnh đông bắc Campuchia với hơn bốn triệu dân, cùng phần lớn vùng nông thôn, rừng núi…

Những thắng lợi về quân sự của quân và dân ba nước Đông Dương trong các Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1-1971), Chiến dịch Đông bắc Campuchia (5-1971), Chiến dịch Đường 6 - Campuchia (12-1971), Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (4-1972), Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (11-1972)… đã góp phần thúc đẩy tình thế và cùng với các đòn tiến công và nổi dậy của quân và dân Nam Bộ, Tây Nguyên trên chiến trường chính Việt Nam, làm cho đối phương thất bại từng bước tiến tới thất bại hoàn toàn.

Do những thất bại nặng nề, liên tiếp về quân sự trên chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là tại chiến trường chính Việt Nam, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari (27-1-1973), cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấp nhận để chính quyền tay sai ký Hiệp định Viêng Chăn (21-2-1973) về lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc lần thứ ba ở Lào. Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến không ngừng phát triển và nhanh chóng giành được ưu thế quân sự trên chiến trường, giải phóng được hơn hai phần ba đất đai gồm hầu hết các vùng nông thôn và thị trấn, thị xã. Thế và lực của cách mạng ba nước Đông Dương ngày càng phát triển. Các vùng giải phóng ba nước được nối liền và mở rộng, hình thành thế liên hoàn vững chắc, tạo điều kiện để lực lượng vũ trang ba nước tiếp tục phát huy sức mạnh, cùng đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và bè lũ tay sai đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Ngày 17-4-1975, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 30-4-1975, với thắng lợi triệt để của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Hòa chung với thắng lợi của quân và dân hai nước Việt Nam, Campuchia, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng Lào cũng tiến hành thắng lợi ba đòn tiến công chiến lược giải phóng cả nước. Ngày 2-12-1975, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào ra đời. đến đây, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia kết thúc thắng lợi.

Về phía hai nước Lào và Campuchia, tinh thần đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ với quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng rất quan trọng. Nó đã góp phần làm thất bại hoàn toàn mọi âm mưu và thủ đoạn hòng bao vây, cô lập, tiêu diệt cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động khác. Các đợt hoạt động quân sự trên chiến trường ba nước đều có sự tính toán, cân nhắc tới hiệu quả của sự tác động liên thông giữa chiến trường chính miền Nam với các chiến trường phối hợp ở Lào và Campuchia nhằm mục đích co kéo, phân tán, dàn mỏng quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang miền Nam đẩy mạnh hoạt động tiế công tiêu diệt đối phương từng bước giành thắng lợi tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

*
*   *

Như vậy, liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một tất yếu khách quan, có ý thức, có tổ chức, có sự thống nhất cao về chiến lược, sách lược và sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ, dựa trên cơ sở tinh thần quốc tế chân chính: được kế thừa và phát huy mạnh mẽ góp phần đưa sự nghiệp cách mạng mỗi nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách đến ngày giành thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi và sự trưởng thành của khối đoàn kết, liên minh chiến đấu vĩ đại giữa quân và dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia do Việt Nam làm nòng cốt bắt nguồn từ sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và những người lãnh đạo kháng chiến Campuchia; sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, đoàn kết nhất trí chung sức, chung lòng của quân và dân ba nước trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung… Nhờ có đoàn kết, liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương liên tục được duy trì, củng cố và không ngừng phát triển mà nhân dân các bộ tộc Lào đã xóa bỏ được ách thống trị của Mỹ và chính quyền tay sai, giành quyền làm chủ, vĩnh viễn xóa đi chế độ quân chủ; nhân dân Campuchia đã đập tan chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và chính quyền Lon Non, giành độc lập dân tộc; nhân dân Việt Nam đã gắn liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam và hai nước bạn, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đảng Lao động Việt Nam nhận định: “Thắng lợi của chúng ta cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, của mối quan hệ đặc biệt đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ thù chung của ba dân tộc”(3).

Truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu của quân và dân ba nước Đông Dương trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc nói chung và trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng đã để lại những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu, đó là: phát huy sức mạnh đoàn kết liên minh, tạo thế chiến lược tiến công chung ở cả ba chiến trường, trong đó miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường vừa là hậu phương lớn của chiến trường ba nước Đông Dương, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bài học và kinh nghiệm lịch sử về đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa các đảng, chính phủ và nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, không chỉ là để vinh danh cho thắng lợi huy hoàng của các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia trong thế kỷ XX, mà quan trọng hơn là làm sao để bài học và kinh nghiệm này sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả tốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ở mỗi quốc gia hiện này và tương lai, đó là việc rất cần thiết và luôn đặt ra cấp bách.


(1) Lực lượng quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục tăng cường trên chiến trường Lào, từ 6.000 năm 1963 lên 10.000 năm 1965, 13.000 năm 1966, 19.000 năm 1967, và đến năm 1970 lên hơn 20.000 quân. Ngoài lực lượng tình nguyện tại chỗ, các đơn vị chủ lực như Sư đoàn 316, 312, 320 Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được điều sang phối hợp với quân và dân Lào mở các chiến dịch lớn khi chiến trường Lào yêu cầu.
(2) Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân ủy Trung ương, ngày 30-4-1970.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.475.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #126 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:47:47 PM »

KẾT LUẬN

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, ngang nhiên dựng lên Chính phủ Việt Nam Cộng hòa; đồng thời, bộ máy quân sự gồm quân đội và cảnh sát được gấp rút xây dựng bởi tiền của, vũ khí, trang bị quân sự của Mỹ. Như vậy, cuộc tổng tuyển cử để bầu ra một chính phủ thống nhất cho nước Việt Nam thống nhất theo quy định của Hiệp định Giơnevơ không thực hiện được.

Để làm “trong sạch” địa bàn, bảo đảm an ninh cho “quốc gia” Việt Nam Cộng hòa, bên cạnh việc quân sự hóa chính quyền các cấp, dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành liên tiếp các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” trên khắp miền Nam Việt Nam. Với phương châm “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sử dụng các hình thức truy bức, tầm nã, khủng bố, tra tấn và hành quyết thời trung cổ đối với cán bộ, đảng viên và người yêu nước miền Nam, Mỹ - Diệm hy vọng sẽ dập tắt được phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định, thống nhất nước nhà của nhân dân ta. Chúng từng bước leo thang, tiến hành các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ rồi Việt Nam hóa chiến tranh ở miền Nam. Bên cạnh đó, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn liên tiếp tổ chức những toán gián điệp, biệt kích xâm nhập qua đường biển, đường không và vượt biên từ Lào sang để hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân miền Bắc. Và cao hơn nữa là sử dụng không quân và hải quân đánh phá hủy diệt các cơ sở chính trị, kinh tế, dân cư miền Bắc để đỡ đòn mỗi khi bị thảm bại trên chiến trường chính miền Nam. Như vậy, Mỹ đã biến miền Nam thành nơi thử nghiệm chính sách thực dân kiểu mới, bấp chấp đạo lý và luật pháp quốc tế; quyết tiêu diệt cách mạng Việt Nam, biến Việt Nam - trước tiên là Nam Việt Nam thành thuộc địa, căn cứ quân sự để Mỹ thực hiện mưu đồ ngăn chặn cách mạng xã hội chủ nghĩa tràn xuống Đông Nam Á, răn đe phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Như vậy, đế quốc Mỹ đã buộc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải một lần nữa cầm súng chiến đấu, giành lại độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Đây cũng chính là sự tiếp tục nhiệm vụ đấu tranh để bảo vệ thành quả cách mạng và giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân.

Kế thừa những thành quả và kinh nghiệm xương máu từ chín năm chống thực dân Pháp, với sức mạnh vật chất và tinh thần không ngừng được củng cố và phát triển, đội ngũ cán bộ đông đảo, từng được rèn luyện và thử thách qua chiến đấu gian khổ, hy sinh, lại có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, toàn thể dân tộc Việt Nam đồng lòng, vững tin bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với quân xâm lược Mỹ. Trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất rất to lớn, kịp thời và hiệu quả của nhân dân thế giới, mà trước hết là chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây chính là những thuận lợi rất cơ bản cho thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Tuy nhiên, cuộc đụng đầu này diễn ra hết sức quyết liệt. Vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Mỹ. Còn với Mỹ, vì tham vọng làm bá chủ thế giới và những lợi ích lâu dài ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chúng không từ bỏ bất kỳ dã tâm, thủ đoạn, vũ khí và phương tiện chiến tranh nào để khuất phục cho được nhân dân ta. Bản chất ngoan cố và hiếu chiến cộng với tiềm lực kinh tế và quân sự đứng đầu các nước đế quốc, sẵn sàng chấp nhận “cuộc chơi” thua keo này bày keo khác, giới cầm quyền Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng ác liệt hơn về cường độ và quy mô, kéo dài về thời gian.

Cũng như các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc trong lịch sử, cuộc đụng đầu lịch sử này, mức độ chênh lệch về sức mạnh quân sự (vũ khí, phương tiện chiến tranh) của Mỹ vượt trội hơn ta gấp nhiều lần. Đây là yếu tố rất quan trọng, trực tiếp chi phối đến quá trình điều hành kháng chiến của Đảng Lao động Việt Nam, từ việc nhận định đánh giá tình hình, xác định chủ trương, đường lối đến thái độ và biện pháp ứng phó với các âm mưu, thủ đoạn và tình huống nảy sinh trong chiến tranh. Mặt khác, cũng chính từ kinh nghiệm trong lịch sử, mà trực tiếp nhất là kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, chúng ta khẳng định rằng: chính với học thuyết “vũ khí luận” - có trong tay khối lượng vũ khí khổng lồ và hiện đại nhất thế giới, giới cầm quyền Nhà Trắng tuyệt đối tin tưởng thắng lợi trong cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, mà chúng không tính đến yếu tố thời đại, yếu tố chính nghĩa, phi nghĩa của cuộc chiến; và hơn nữa là sức mạnh vô địch tiềm tàng cả về vật chất và tinh thần của một dân tộc đã trường tốn hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Đây là điểm yếu chí mạng mà đế quốc Mỹ không thể nhận ra được trong cuộc chiến với người Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #127 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:48:50 PM »

Nhận thức sâu sắc được những điểm mạnh, yếu của chính mình và đối phương, trong quá trình hoạch định đường hướng kháng chiến, Đảng Lao động Việt Nam tránh được những khuynh hướng hoặc khiếp sợ vũ lực, không dám đánh Mỹ, hoặc ngược lại, cứ liều lĩnh đánh Mỹ dù chưa biết kết quả sẽ thế nào, mà là chủ động, linh hoạt kết hợp thế và lực, tạo nên sức mạnh ưu thế vượt trội hơn đối phương trong những thời điểm hoặc khu vực chiến trường nhất định để thực hiện được mục đích đặt ra.

Tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ trong hoàn cảnh đất nước còn bị tạm thời chia cắt làm hai miền, do vậy, chúng ta phải đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hậu phương miền Bắc, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Hai chiến lược đó có quan hệ mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau, nhằm thực hiện mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là hoàn thành độc lập dân tộc và dân chủ trong cả nước. Đây là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống ngoại xâm, chứa đựng cả tính chất giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Để có một hậu phương chiến lược - nhân tố thường xuyên quyết định trong quá trình thực hành kháng chiến, Đảng Lao động Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân triệt để tận dụng các điều khoản có tính pháp lý của Hiệp định Giơnevơ để đấu tranh với Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chủ động kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, nhằm kiềm chế và thắng Mỹ ở miền Nam, ngăn chặn không để chúng thực hiện ý đồ “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến” bằng lục quân.

Những năm tháng tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tình đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân Việt Nam, Lào và Campuchia, được Đảng Cộng sản Đông Dương tạo dựng, được thử thách và khẳng định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, càng được củng cố và gắn bó keo sơn, trở thành một chiến trường cùng dựa vào nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau để chiến đấu, chiến thắng kẻ thù chung, giành lại độc lập, tự do cho mỗi dân tộc. Cùng với tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, son sắt của nhân dân ba nước Đông Dương, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn được sự đồng tình ủng hộ to lớn và rộng khắp của nhân loại tiến bộ trên khắp các châu lục, không kể là các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa hay các nước tư bản chủ nghĩa; thậm chí cả nhân dân tiến bộ Mỹ, được gắn liền với ba dòng thác cách mạng đang bùng lên mạnh mẽ lúc bấy giờ. Hành động xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam và Đông Dương đã từng ngày, từng giờ bị nhân dân các nước phản đối mạnh mẽ, rộng khắp dưới những hình thức cụ thể khác nhau, kể cả ở chính Thủ đô Oasinhtơn của nước Mỹ. đặc biệt, cũng trong thời gian nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ, ngay trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế đang diễn ra những bất đồng nhất định, song hầu như nó không ảnh hưởng gì lớn đối với sự giúp đỡ cả vật chất và tinh thần cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân các nước Đông Dương anh em. Và, chính sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ cả tinh thần và vật chất chí nghĩa, chí tình đó đã trở thành một trong những bộ phận cấu thành sức mạnh tổng hợp vô địch để nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân Đông Dương nói chung chiến thắng quân xâm lược Mỹ.

Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc huy động tổng lực sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam, sức mạnh của khối liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào - Campuchia và sức mạnh của thời đại, nên mặc dù trong suốt 21 năm thực hiện cuộc xâm lược thực dân mới ở Việt Nam, với hàng trăm tỷ đôla ngân sách viện trợ quân sự cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, từng đưa hơn nửa triệu quân viễn chinh sang trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam, trút xuống cả hai miền Nam - Bắc nước ta hàng triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học, huy động một đội ngũ các nhà khoa học, các nhà hoạch định chiến tranh, và cả những nhà chỉ huy quân đội ưu tú nhất của nước Mỹ thời bấy giờ, nhưng cuối cùng Mỹ vẫn không thể khuất phục được dân tộc Việt Nam, phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán rồi ký Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh khỏi Việt Nam. Quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa - công cụ bạo lực để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã nhanh chóng bị đánh bại, miền Nam được giải phóng. Như vậy, cuộc đụng đầu lịch sử giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam là cuộc đọ sức giữa một bên lấy vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại để đạt mục đích xâm lược và một bên là dựa vào quần chúng cách mạng có giác ngộ chính trị cao, được tổ chức chặt chẽ, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sử dụng sáng tạo vũ khí thô sơ, tự tạo với vũ khí hiện đại, đánh đổ từng bộ phận, giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn đã kết thúc, mà phần thắng cuối cùng thuộc về nhân dân Việt Nam. Đây thực sự là minh chứng sống động để thêm một lần nữa khẳng định rằng: sức mạnh vũ khí, kỹ thuật và phương tiện chiến tranh của các nước đế quốc dù có tối tân đến mấy cũng không thể khuất phục được tinh thần quật cường của một dân tộc có bản lĩnh và trí tuệ, biết đánh và biết thắng quân thù để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của mình.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #128 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:49:43 PM »

Kết cục thắng bại của cuộc đối đầu lịch sử giữa Mỹ và dân tộc Việt Nam đã rõ ràng. Tuy niên, cách luận giải nguyên nhân cụ thể - nhất là về thất bại của phía Mỹ có những khác nhau nhất định, nhưng về cơ bản, thống nhất ở những điểm có tính chiến lược.

Theo quan điểm của ta, thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam là do những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ là cuộc chiến tranh phi nghĩa, chống lại một quốc gia - dân tộc có chủ quyền và đi ngược lại xu thế thời đại. Do vậy, Mỹ phải tìm đủ mọi thủ đoạn để bưng bít sự thật, lừa dối dư luận, tạo ra những chứng cứ và thông tin sai lạc để phục vụ cho mục đích của mình; đồng thời, triệt để sử dụng sức mạnh quân sự, khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại để bù đắp vào chỗ yếu căn bản về chính trị do tính phi nghĩa của hành động xâm lược gây ra. Ngoan cố theo đuổi mục đích đặt ra, trong quá trình tiến hành chiến tranh, Mỹ liên tục leo thang bằng cách thay đổi các chiến lược chiến tranh. Và mỗi lần thay đổi, bên cạnh những mâu thuẫn vốn có chưa giải quyết xong lại xuất hiện thêm những mâu thuẫn mới trầm trọng hơn. Đó là chưa kể tới hành động để khắc phục những mâu thuẫn lại thường đi ngược lại mục đích đặt ra cho cuộc chiến tranh và những luận điệu bịp bợm bị bóc trần. Vậy là, để gỡ thế bí này, chính Mỹ lại tạo ra cho mình một thế bí khác trầm trọng và khó giải quyết hơn.

Thứ hai, Mỹ là đế quốc trẻ, nhưng đã nhanh chóng giàu lên từ hai cuộc chiến tranh thế giới thông qua lợi nhuận kếch xù từ việc bán vũ khí và phương tiện chiến tranh. Vả lại, chiến tranh đã không diễn ra trên đất Mỹ, mà bằng nhiều chiêu thức khác nhau, người Mỹ còn thu hút được một số lượng lớn những nhà khoa học hàng đầu thế giới từ nhiều quốc gia thuộc những châu lục khác nhau đến làm việc, bởi vậy, Mỹ đã trở thành siêu cường cả về quân sự và kinh tế thế giới. Chính ưu thế này cùng với luận thuyết quân sự tư sản đã đẩy “căn bệnh” chủ quan khinh địch của Mỹ đến tột đỉnh. Mỹ luôn cho mình là vô địch, các nước khác dù bất cứ ở thể chế chính trị nào cũng đều thua kém xa mình. Do vậy, Mỹ chủ trương sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế làm phương tiện duy nhất để khống chế, kiểm soát và giải quyết mọi tình huống trong chiến tranh, buộc đối phương phải nhanh chóng khuất phục. Song, trên thực tế không phải như tính toán của người Mỹ. Bởi, trong quá trình chiến tranh, cả hai bên đối địch đều cố gắng tìm mọi chác nhằm áp đặt ý chí của mình, buộc phái bên kia phải tuân theo. Và, khi một bên nào đó ra sức kiểm soát các sự kiện thì đồng thời ở mức độ nhất định, chính họ cũng bị các sự kiện kiểm soát bởi tác động của đối phương. Vậy là, càng chủ quan khinh địch, đánh giá thiếu chính xác về tình hình thì tất yếu sẽ càng bị nhiều sự kiện kiểm soát, do đó càng lâm sâu vào tình trạng bị động, bất ngờ và đi đến thảm bại.

Thứ ba, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã không nhận thức và đánh giá đúng đối tượng tác chiến của mình - đó là một dân tộc có bề dày truyền thống yêu nước, đoàn kết chống ngoại xâm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Kế thừa truyền thống, bản lĩnh và ý chí bất khuất của tổ tiên, trong thời đại Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo của một đảng chân chính, lấy lý luận Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, dân tộc đó lại vừa đánh bại thực dân Pháp (đại diện tiêu biểu của củ nghĩa thực dân cũ), làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, từ đó đúc rút nhiều kinh nghiệm quý báu về đấu tranh cách mạng và tiến hành chiến tranh giải phóng. Dây chính là bước khởi đầu, là điều kiện thuận lợi để dân tộc Việt Nam tiếp tục phát huy, phát triển sức mạnh của mình lên đỉnh cao mới, mà chính người Mỹ chưa nhận thức được.

Vào tham chiến ở Việt Nam, quân Mỹ và đồng minh của Mỹ phải chiến đấu với cả một dân tộc có ý chí thống nhất, được tổ chức và vũ trang phù hợp với khả năng thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, dám đánh, biết đánh và biết thắng theo đường lối chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao, chứ không phải chỉ đơn thuần tác chiến với quân đội thường trực. Chính thế trận chiến tranh nhân dân và cách đánh kết hợp du kích với chính quy của quân và dân Việt Nam đã làm đảo lộn cả học thuyết và các quan điểm quân sự của Mỹ. Người lính Mỹ được huấn luyện chính quy nhưng đã bị đối phương buộc phải đánh theo cách đánh hoàn toàn khác, chưa từng được học bao giờ; do vậy, các sự kiện của chiến tranh do họ gây ra không sao kiểm soát được. Mặc dù trên thực tế, quân Mỹ đã gây cho đối phương những khó khăn và tổn thất khá lớn, chiếm giữ được phần lớn đô thị và những địa bàn chiến lược trọng yếu, song về chỉ đạo chiến tranh vẫn tỏ ra luẩn quẩn, chiến lược bị động, chiến thuật cứng nhắc. Nhiều đơn vị quân binh chủng thiện chiến bị sử dụng không đúng chức năng và sở trường: lính thủy đánh bộ đưa lên địa bàn rừng núi, máy bay chiến lược B.52 phải chuyển sang làm nhiệm vụ chiến thuật… nên hiệu quả tác chiến thấp, thương vong tăng cao, tinh thần và ý chí chiến đấu của quân sĩ giảm sút nghiêm trọng. Tất thảy những sai lầm có tính chiến lược và chiến thuật trên đã làm cho Mỹ không có cách gì cứu vãn được tình thế sa lầy và buộc phải tìm cách rút quân về nước, từ bỏ ý chí xâm lược Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #129 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2014, 08:50:35 PM »

Bị thảm bại tại Việt Nam, giới nghiên cứu, các nhà hoạch định chiến lược quân sự và nhất là những tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp đã từng trực tiếp tham chiến ở chiến trường Nam Việt Nam đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu để cố lý giải nguyên nhân. Điển hình nhất trong số này chính là R.S. Mắc Namara - Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, một người từng nhiều năm trực tiếp điều hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ông đã đưa ra 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của Mỹ ở Việt Nam, trong đó có những điểm cơ bản được chỉ ra là:

“Chúng đã đánh giá sai các ý định địa - chính trị của đối phương (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng được Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ) và chúng ta đã thổi phồng những nguy cơ đối với nước Mỹ trước những hành động của họ.

Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng) đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó.

Những đánh giá sai lầm của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng, và về nhân cách, thói quen của các nhà lãnh đạo. Chúng ta có thể có những sai lầm tương tự đối với Liên Xô trong những cuộc đối đầu như Béclin, Cuba và Trung Đông chẳng hạn, nếu chúng ta không có những lời khuyên của Tômmy Thômsơn, Chíp Bolơn và Gioócgiơ Kennan. Các nhà ngoại giao lâu năm này đã dành hàng chục năm để nghiên cứu đất nước, con người và các nhà lãnh đạo Liên Xô, tại sao họ lại hành động như vậy và họ sẽ phản ứng với hành động của chúng ta như thế nào. Những lời khuyên của họ rõ ràng là vô giá trong quá trình hình thành các đánh giá và quyết định của chúng ta. Không có đối tác nào ở Đông Nam Á để các quan chức cấp cao tham khảo ý kiến khi đưa ra những quyết định về Việt Nam.

Khi đó chúng ta không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự kỹ thuật cao và hiện đại, lực lượng quân sự và học thuyết quân sự trong khi đối đầu với những phong trào nhân dân được thúc đẩy cao và không bình thường. Chúng ta cũng đã không điều chỉnh được chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ chinh phục trái tim và khối óc của người dân thuộc một nền văn hóa hoàn toàn khác” .

Cũng chính ông Mắc Namara đã kết luận rằng: “Tóm lại, đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức độ nào đó, chúng có liên quan với nhau: thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần hoặc tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành một mớ bòng bong.

Khi chỉ ra những sai lầm này, chúng ta có thể viết lên bài học Việt Nam và giúp chúng ta có thể áp dụng chúng trong thế giới sau chiến tranh lạnh”2.

Trái ngược với người Mỹ, nguyên nhân thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử này chính là tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam - một chính đảng đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tập hợp được sức mạnh, ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn dân: dám đánh, biết đánh và biết thắng quân xâm lược Mỹ. Đây còn chính là thành quả của đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Đường lối đó thể hiện trong sự nhạy bén phát hiện, nắm bắt và giải quyết kịp thời, đúng đắn những vấn đề cơ bản nhất của chiến tranh. Trên cơ sở phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu cơ bản của đối phương, thuận lợi và khó khăn của ta trong mỗi giai đoạn chiến lược, với tinh thần cách mạng tiến công, Đảng Lao động Việt Nam đề ra các yêu cầu, biện pháp tác chiến thích hợp đánh bại từng chiến lược chiến tranh và các biện pháp chiến thuật chủ yếu tiến tới đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của Mỹ.

Đường lối của Đảng thấm sâu vào lòng dân đã chuyển hóa thành hành động cách mạng của quần chúng thông qua việc thực hiện một cách mưu trí, sáng tạo các nhiệm vụ mà Đảng và chính quyền cách mạng giao phó trên cả mặt trận chiến đấu và sản xuất, ở cả tiền tuyến cũng như hậu phương. Để bảo đảm thành công vững chắc cho việc thực hiện các chủ trương, chính sách đó, nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần toàn dân và toàn quân được huy động, tổ chức và sử dụng một cách hết sức chặt chẽ và hiệu quả. Đồng thời đây cũng là cơ sở thực tế để đánh giá, bổ sung và hoàn chỉnh đường lối và sự chỉ đạo thực hiện của hệ thống tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Cũng từ thực tế chiến đấu và lao động sản xuất, chính những người chiến sĩ trên mặt trận, những người nông dân và công nhân trên đồng ruộng và nhà máy, xí nghiệp đã đúc kết nên những khẩu hiệu hành động, mà nội dung của nó phản ánh sâu sắc ý chí, phương châm, nguyên tắc đấu tranh của mỗi lực lượng, mỗi thành phần xã hội trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đó là: “Bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Nhằm thẳng quân thù bắn”, “Vững tay cày, chắc tay súng”, “Vững tay búa, chắc tay súng”, “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”… Những hệ thống địa đạo xuyên sâu trong lòng đất, những hầm chữ A, hầm bí mật vừa là nơi tránh bom pháo, nơi trú quân, cứu chữa thương binh, những vũ khí tự tạo như hầm chông, bẫy đá, mang cung, các cách đánh du kích thiên biến vạn hóa, đặc công, biệt động xuất quỷ nhập thần đều xuất phát từ thực tế chiến đấu của quần chúng cách mạng ở cơ sở mà ra trong quá trình thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Đi cùng với tiến trình của cuộc kháng chiến, đường lối đó dần phát triển đến đỉnh cao, nghệ thuật quân sự và cách đánh độc đáo của quân và dân ta đạt được hiệu quả lớn đã phản ánh rõ trí tuệ và tài thao lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng kết hợp chặt chẽ với tính năng động, sáng tạo của nhân dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM