Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Chín, 2019, 04:22:13 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 56102 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2014, 07:10:33 PM »

Nghị quyết cũng chỉ rõ rằng, đó là hai mâu thuẫn mang tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau và tác động mạnh mẽ lẫn nhau. Những mâu thuẫn này thể hiện sự đối kháng gay gắt giữa một bên là lực lượng của dân tộc Việt Nam mong muốn hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và một bên là thế lực đế quốc, tay sai gây chiến và chia cắt đất nước ta; đồng thời, thể hiện sự đối kháng gay gắt giữa lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ trên thế giới với thế lực đế quốc hiếu chiến, xâm lược do đế quốc Mỹ cầm đầu ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Căn cứ vào phân tích trên đây, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định rằng, hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, có hai nhiệm vụ chiến lược: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, nhằm phương hướng chung là giữ hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”(1), trong đó, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà, còn tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam là nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, là giải phóng nhân dân miền Nam, đồng thời cũng là vì yêu cầu của cách mạng cả nước là phải tích cực chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - cơ sở vững chắc của công cuộc thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó chính là “quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, giữa sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà và cuộc đấu tranh cách mạng đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam”(2).

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng miền Nam, Nghị quyết 15 đã xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng miền Nam. Nghị quyết khẳng định: Miền Nam dưới ách thống trị của Mỹ - chính quyền Ngô Đình Diệm là một chế độ cực kỳ phản động và tàn bạo, cho nên ngoài con đường đấu tranh cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến. Như vậy, Nghị quyết 15 chủ trương lấy sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân; khẳng định cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ về ta.

Nghị quyết 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, đã chỉ ra một cách toàn diện con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Nghị quyết 15 ra đời với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, làm xoay chuyển tình thế và mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên. Nghị quyết đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đồng bào miền Nam, là ngọn cờ tập hợp đông đảo nhân dân miền Nam đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành quyền làm chủ. Với nghị quyết 15, cách mạng miền Nam đã có một bước chuyển căn bản về chất. Dưới ánh sáng của nghị quyết, ngọn lửa cách mạng âm ỉ suốt nhiều năm đã bùng lên thành cuộc Đồng khởi trên quy mô rộng lớn, tạo nên một bước chuyển mới có tính chất nhảy vọt của cách mạng miền Nam. Từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, đồng bào ta đã dùng bạo lực cách mạng bất ngờ tiến công dồn dập và mãnh liệt vào khâu yếu nhất của đối phương là vùng rừng núi miền Trung Trung Bộ. Đặc biệt, làn sóng nổi dậy đồng loạt nhanh chóng lan rộng và dâng cao ở các tỉnh Nam Bộ. Nhân dân vùng lên diệt ác ôn, chính quyền Sài Gòn cùng bộ máy kìm kẹp ở thôn, xã, làm chủ được nhiều khu vực ở rừng núi và nông thôn nằm sâu phía sau lưng đối phương. Đồng bào ở những nơi đó nô nức thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang chống lại các cuộc phản kích của đối phương, tạo nên một hình thức căn cứ địa, có nơi hình thành thế liên hoàn bao gồm các vùng giải phóng và vùng du kích. Phong trào đấu tranh chính trị bền bỉ từ những năm trước được phong trào Đồng khởi cổ vũ càng trở nên mạnh mẽ: năm 1960, có hơn 10 triệu lượt người và năm 1961 đã lên tới 33 triệu lượt người tham gia các cuộc đấu tranh. Trong cao trào cách mạng, ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới - thời kỳ cách mạng miền Nam chuyển hẳn sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp và liên tục. Phong trào Đồng khởi thực chất là những cuộc khởi nghĩa từng phần của nhân dân để giành quyền làm chủ ở từng địa phương thuộc vùng nông thôn miền núi và đồng bằng, đã giáng cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn một đòn nặng, đẩy chúng vào một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng và triền miên. Đến đây, âm mưu của đế quốc Mỹ muốn nhanh chóng “bình định” miền Nam bằng quốc sách “tố cộng, diệt cộng” đã bị thất bại.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.62.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr.62.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2014, 07:12:26 PM »

Tháng 1-1961, G. Kennơđi lên thay Đ. Aixenhao làm Tổng thống Mỹ đã tuyên bố: sẽ trả bất cứ giá nào, đương đầu với bất cứ khó khăn nào để giữ bằng được miền Nam Việt Nam. Ỷ vào sức mạnh quân sự, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tăng cường can thiệp vũ trang, lấy miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm cho cái gọi là chiến trang đặc biệt, một bộ phận quan trọng của chiến lược “phản ứng linh hoạt” - chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ trong những năm 60 của thế kỷ XX. Có thể nói, cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đã phát động ở miền Nam nước ta là cuộc phản công lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước sự ngang nhiên, trắng trợn đó của đế quốc Mỹ, trước khả năng chiến tranh lan rộng và ngày càng trở nên khốc liệt, nhiệm vụ cấp bách lúc này đặt ra cho cách mạng Việt Nam, cho bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam là phải nhanh chóng hoàn thiện đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm định hướng, chỉ đạo cách mạng Việt Nam tiến lên hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành độc lập, tự do, hòa bình một cách thực sự.

Tựu trung lại, trong những năm 1954 - 1959, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đến khi phong trào Đồng khởi bùng nổ và lan rộng mạnh mẽ, Đảng Lao Động Việt Nam đã bám sát tình hình thực tiễn, những diễn biến, sự vận động nội tại của phong trào cách mạng Việt nam và trên thế giới, phân tích âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, phân tích so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, để đưa ra những quyết sách lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện vừa có những thuận lợi cơ bản, song cũng có những thách thức, khó khăn vô cùng to lớn. Trong từng bước đi lên của cách mạng, Đảng đã kịp thời xác định những vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến thành bại của cách mạng, đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng chiến lược và sách lược cho cách mạng cả nước, cũng như cách mạng từng miền. Đó là mục tiêu bất di, bất dịch thực hiện hòa bình, dân chủ, độc lập, tự do trong cả nước. Trong chiến lược chung ấy, thực hiện củng cố miền Bắc thành nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà được coi là nhiệm vụ quan trọng, phải thực hiện đồng thời với nhiệm vụ đánh đổ Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đó đồng thời cũng là những nhận thức quan trọng được Đảng đúc rút qua quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn những năm tháng đấu tranh gian khổ và hy sinh xương máu 1954 - 1959, trở thành cơ sở để Đảng hoạch định đường lối cứu nước độc lập, tự chủ, nhằm hoàn thành mục tiêu thiêng liêng của dân tộc: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bước sang năm 1960, về căn bản, miền Bắc nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, giải phóng và thực hiện các quyền dân chủ về ruộng đất cho người nông dân; tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 - 1957), đẩy mạnh thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958 - 1960). Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh đã hoàn thành. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trên đà phát triển, sự nghiệp giáo dục, văn hóa phát triển mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Thắng lợi của sự nghiệp củng cố miền Bắc là nguồn động viên to lớn để nhân dân miền Bắc bước vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Ở miền Nam, dưới ánh sáng Nghị quyết 15 (5-1959), một phong trào Đồng khởi mạnh mẽ bùng dậy. Sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi, đặc biệt là sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ngày càng phát triển. Nhân dân cả nước một lòng phấn đấu và dưới sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới.

Bước vào Nhà trắng, Tổng thống Đảng Dân chủ G. Kennơđi thay đổi chiến lược toàn cầu từ “trả đũa ồ ạt” sang “phản ứng linh hoạt”. Đầu những năm 60 củ thế kỷ XX, để đối phó với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, Mỹ đưa thêm lực lượng đặc biệt vào Việt Nam, tăng cường viện trợ quân sự. Từ năm 1961, Mỹ đã lập Bộ chỉ huy viện trợ quân sự (MACV); ngày 15-5-1962, Mỹ đưa quân vào Thái Lan. Số quân của Mỹ ở miền Nam nươc ta đã tăng dần từ 3.000 tên vào tháng 12-1960 lên 23.000 tên vào tháng 12-1964(1). Dùng lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa với cố vấn và vũ khí hiện đại. chúng tiến hành càn quét, bình định, dồn dân hòng tiêu diệt Quân giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, trên chiến trường miền Nam, đấu tranh vũ trang ngày càng phát triển nhanh chóng, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, đẩy đế quốc Mỹ và chế độ tay sai vào thế bị động, lúng túng, khủng hoảng triền miên.

Trước những chuyển biến của tình hình, đồng thời, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã xác định nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta là: “tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới”(2). Đại hội chỉ rõ: hiện nay, do đế quốc Mỹ xâm chiếm miền Nam, nước ta đang tạm thời bị chia làm hai miền. Miền Bắc hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn đang bị chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến thống trị. Tình hình ấy đã hình thành ở nước ta hai khu vực có chế độ chính trị và xã hội khác nhau; đồng thời, cũng quy định cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có hai nhiệm vụ thuộc hai chiến lược khác nhau: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.


(1) Xem Quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, tr.17.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.512.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2014, 07:15:11 PM »

Một vấn đề mang tính nguyên tắc được Đại hội III chỉ rõ là muốn bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi tới đích cuối cùng, giành được thắng lợi hoàn toàn, “chúng ta phải nhận rõ bản chất của nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền”(1). Đại hội III xác định: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội chính là đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội miền Bắc trên bước đường phát triển, đồng thời cũng đáp ứng nguyện vọng thiết tha của bản thân giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc. Hơn nữa, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là yêu cầu cấp bách của xu thế phát triển cách mạng ở miền Bắc, mà còn là yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong cả nước. Chỉ có đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới có thể củng cố và phát triển những thắng lợi cách mạng đã giành được, làm cho miền Bắc vững mạnh về mọi mặt, trở thành nền tảng, gốc rễ, căn cứ địa cách mạng của cả nước, thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam. Miền Bắc còn là cơ sở để Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hành, mở rộng quan hệ đối ngoại, nhằm tranh thủ rộng rãi sự đoàn kết, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Ngoài ra, miền Bắc với chế độ xã hội ưu việt với một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa dân tộc và hiện đại, một nền an ninh - quốc phòng không ngừng lớn mạnh là niềm cổ vũ mạnh mẽ đồng bào ta ở miền Nam, là sức mạnh tập hợp tất cả những người yêu nước, tiến bộ vì một tương lai tươi sáng của dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. “Phương châm của chúng ta trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam(2). Còn tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam tức là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong xã hội miền Nam. Đó là mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với bọn đế quốc xâm lược, trước hết là đế quốc Mỹ, cùng bè lũ tay sai và mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam, trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Những mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt, bởi vì chính quyền độc tài phát xít miền Nam dưới sự bảo trợ của đế quốc Mỹ đang hằng ngày, hằng giờ áp bức, bóc lột, khủng bố, tàn sát nhân dân miền Nam. Để bảo vệ sinh mạng và quyền lợi thiết thân của mình, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đánh đổ chế độ độc tài phát xít của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, hoàn toàn giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Không chỉ nắm rõ, nắm vững bản chất nhiệm vụ cách mạng từng miền để có biện pháp, cách thức thực hiện đúng đắn, hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng, vấn đề “đồng thời phải nắm vững quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng ở hai miền trong quá trình phát triển của cách mạng”(3) là hết sức cần thiết. Bởi vì, hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai, song nhiệm vụ trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng, thì việc xác định đúng đắn vị trí và trách nhiệm của cách mạng mỗi miền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thắng lợi của cách mạng chung cả nước. Chỉ có xác định đúng đắn vị trí cách mạng mỗi miền, chúng ta mới có một quan điểm toàn diện về nội dung và nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay, mới có chủ trương, phương châm, kế hoạch, biện pháp đúng đắn để tiến hành thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề, Đại hội III chỉ rõ rằng, hai nhiệm vụ này có mối “quan hệ mất thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển”(4). Về vai trò, vị trí của mỗi nhiệm vụ chiến lược, Đại hội III khẳng định: “Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta(5), còn cách mạng miền Nam có “tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”(6).

Đại hội cũng xác định cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, lâu dài, gian khổ, phức tạp và là cuộc đấu tranh chính nghĩa, là một bộ phận tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hòa bình thế giới. Cuộc đấu tranh ấy, một mặt được phong trào chung trên thế giới cổ vũ và giúp đỡ, mặt khác, cũng góp phần thúc đẩy phong trào chung, vì thế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, góp phần tích cực đấu tranh bảo vệ và củng cố hòa bình thế giới.

Một cách tổng quát, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng là một sự kiện chính trị quan trọng, là đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đại diện cho ý chí của toàn Đảng, toàn dân, Đại hội đã phân tích đặc điểm, tình hình và yêu cầu cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối chống Mỹ, cứu nước độc lập, tự chủ. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực hiện thắng lợi đường lối và những nhiệm vụ cách mạng do Đại hội thông qua là trách nhiệm, yêu cầu sống còn trong giai đoạn cách mạng mới; đồng thời cũng là hoàn thành nhiệm vụ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã làm hết sức mình để đạt được mục tiêu độc lập, hòa bình, thống nhất mà không xảy ra chiến tranh. Song, đế quốc Mỹ đã thông qua bộ máy chính quyền tay sai ở miền Nam, dùng mọi biện pháp, thủ đoạn nham hiểm, để lập đổ, đàn áp, gây chiến tranh một phía, từ giấu mặt đến công khai gây chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Chính quyền tay sai ở miền Nam được Mỹ nuôi dưỡng, hỗ trợ, ngang nhiên hô hào “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”. Như vậy, nhân dân Việt Nam trước sau như một muốn sống trong hòa bình để xây dựng đất nước, nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dùng chiến tranh để chống lại nguyện vọng độc lập, hòa bình, thống nhất Tổ quốc của cả dân tộc, đánh phá dã man phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam. Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực chống đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, đồng thời góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu cách mạng của thời đại. Việc đế quốc Mỹ chọn Việt Nam - một địa bàn chiến lược ở châu Á - Thái Bình Dương làm nơi áp dụng chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt”, chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới, gây chiến tranh quy mô lớn đã thách thức ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của nhân dân ta. Trong điều kiện đó, đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được xác định tại Đại hội III của Đảng thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, phản ánh ý chí, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kiên trì thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.505.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.507
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.505
(4), (5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.512, 510, 511
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:41:35 PM »

II - QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI

Sau Đại hội lần thứ III của Đảng, đất nước bước vào giai đoạn triển khai và thực hiện Nghị quyết của Đại hội, thực hiện đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cuối năm 1960, ở miền Nam Việt Nam, phong trào cách mạng phát triển mạnh, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài. Đứng trước tình hình đó, ỷ vào sức mạnh của một siêu cường, đồng thời tin tưởng ở chiến lược “phản ứng linh hoạt”, đế quốc Mỹ quyết định chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến, đè bẹp phong trào cách mạng miền Nam với lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa do Mỹ trang bị, huấn luyện và cố vấn Mỹ chỉ huy. Tiến hành chiến tranh đặc biệt, Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho miền Nam Việt Nam, tăng cường, mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của quân đội Việt Nam Cộng hòa; lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa; đồng thời, triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược với mục tiêu cơ bản “bình định” xong miền Nam Việt Nam trong 18 tháng. Ngày 8-2-1962, phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được chuyển thành Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV). Dưới quyền chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ không ngừng tăng lên. Ngoài số có vấn và các đơn vị yểm trợ chiến đấu Mỹ kể trên, Mỹ còn đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí thiết bị chiến tranh, tăng thêm viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế cho quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1961 trở đi, số viện trợ quân sự bắt đầu vượt viện trợ kinh tế, chứng tỏ trong việc thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, biện pháp quân sự được Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ưu tiên hàng đầu. Với sự tăng cường viện trợ của Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng phát triển về số lượng, tăng cường về trang bị vũ khí, cải tiến về biên chế, tổ chức, hệ thống chỉ huy, công tác huấn luyện.

Trước những chuyển biến của tình hình, ngày 24-1-1961, Bộ Chính rị ra chỉ thị Về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, chỉ rõ những mâu thuẫn và sự bất lực của chính quyền Ngô Đình Diệm, khẳng định rằng: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu”(1). Chỉ thị xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt lúc này của cách mạng miền Nam là:

1 – “Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn”(2).

2 – “Tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam”(3).

Đặc biệt, lúc này tương quan lực lượng đã thay đổi, nên Bộ Chính trị quyết định chuyển từ phương châm “đấu tranh chính trị là chủ yếu, đấu tranh quân sự là để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị” sang phương châm “đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”(4). Do lực lượng so sánh giữa ta và đối phương ở từng vùng có khác nhau, nên Bộ Chính trị chỉ rõ phải quán triệt, nắm vững phương châm công tác ba vùng, vận dụng phương châm đó phải thích hợp với đặc điểm, yêu cầu, so sánh lực lượng ở từng vùng.

Như vậy, Chỉ thị ngày 24-1-1961 của bộ Chính trị là sự củ thể hóa và phát triển các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III trong điều kiện mới, đề ra phương hướng đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên ba vùng chiến lược.

Đồng thời với bước chuyển biến trên đây, để đáp ứng đòi hỏi của tình hình về nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Trung ương Đảng chủ trương cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cách mạng miền Nam. Tháng 1-1961, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 3, quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Đây là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương gồm một số đồng chí ủy viên Trung ương được Ban Chấp hành Trung ương cử ra và ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác Đảng ở miền Nam. Tiếp đó, để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung thống nhất đối với lực lượng vũ trang, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và chỉ thị của Tổng Quân ủy, ngày 15-2-1961, các lực lượng vũ trang cách mạng được thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Hệ thống chỉ đạo, chỉ huy quân sự từ Miền đến xã từng bước được củng cố. Cùng với việc tăng cường hệ thống tổ chức, trong những năm 1961 - 1962, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, với tinh thần nỗ lực và sự cố gắng cao độ của toàn Đảng, toàn dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam nhanh chóng được xây dựng. Đến cuối năm 1961, bộ đội chủ lực thuộc các quân khu đã xây dựng được 11 tiểu đoàn; bộ đội địa phương tỉnh, huyện có khoảng 24.500 cán bộ, chiến sĩ; du kích, tự vệ có khoảng 100.000 người. Tháng 7-1961, Trung ương Cục quyết định thành lập trung đoàn chủ lực Miền mang mật danh Q761. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển quan trọng của lực lượng chủ lực Quân giải phóng trong năm đầu đối phó với chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Song song với sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam, công cuộc xây dựng miền Bắc, thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965) thu được những kết quả quan trọng. Chỉ trong một thời gian ngắn, “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”(5). Đây là những điều kiện căn bản cho nhân dân ta củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam, chống lại những kế hoạch bình định miền Nam đẫm máu, khốc liệt. Các chiến thắng vang dội trên chiến trường miền Nam (chiến thắng Phước Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu…) phản ánh thế và lực của chúng ta đang đi lên. Sau một năm tiến hành chiến tranh cách mạng, quân và dân miền Nam đã khắc phục khó khăn, vượt qua những thử thách ác liệt, tiến hành đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị trên cả ba vùng chiến lược, từng bước đưa phong trào cách mạng phát triển. Trong năm 1961, bằng tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, quân, dân ta đánh đòn phủ đầu vào kế hoạch Xtalây - Taylo, làm cho Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm bị động về chiến lược.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 153.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 159.
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22. tr. 159, 158
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.224.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:45:33 PM »

Đứng trước tình thế mới, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa tăng cường càn quét đánh phá, dồn dân vào ấp chiến lược. Nhằm đánh bại âm mưu của đối phương, ta đẩy mạnh đấu tranh quân sự chống đối phương càn quét, thúc đẩy phong trào nổi dậy của quần chúng phá tan bộ máy kìm kẹp của đối phương, phá vỡ từng mảng ấp chiến lược ở một số vùng nông thôn đồng bằng và miền núi. Song song với đấu tranh quân sự, chính trị, cuộc đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp chiến lược của quân và dân các địa phương miền Nam cũng diễn ra quyết liệt. Năm 1961 và năm 1962, đối phương chẳng những không thực hiện được mục tiêu đánh bại chiến tranh du kích, tiêu diệt chủ lực của ta, mà ngược lại, lực lượng vũ trang của ta không ngừng lớn mạnh; mục tiêu dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lược phải rút xuống còn 7.000 ấp vào giữa năm 1962 và cho đến cuối năm 1962, chỉ lập được 3.900 ấp. Đây là một trong những thấp bại nặng nề của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Trước diễn biến của tình hình chiến trường, tháng 2 và 12-1962, Bộ Chính trị đã họp và nhận định: “Phong trào cách mạng miền Nam đã tiến lên từng bước vững chắc và đến nay đã giành được những thắng lợi to lớn có tính chất chiến lược”(1), dồn Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm vào thế lúng túng bị động. Để cứu vãn tình hình, “Mỹ đã nắm quyền chỉ huy quân sự ở miền Nam, đưa một số lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia chiến tranh và tạo ra một hình thế chiến tranh thực sự giữa đế quốc Mỹ và tay sai với nhân dân miền Nam”(2). Tạo ra một cục diện chiến tranh thực sự với quy mô khá lớn ở miền Nam Việt Nam và là một sự kiện hết sức nghiêm trọng trong tình hình thế giới hiện nay. Tuy nhiên, sự can thiệp ngày càng sâu hơn của Mỹ vào miền Nam Việt Nam không làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng giữa ta và đối phương. Sự can thiệp ấy chẳng những không ngăn chặn được phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam ngày càng phát triển, “mà trái lại càng làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ ngày càng sâu sắc thêm, làm cho tinh thần dân tộc chống đế quốc Mỹ của nhân dân, ngày càng phát triển mạnh mẽ thêm” (3). Dù có nhiều âm mưu và thủ đoạn mới, đối phương vẫn không thực hiện được kế hoạch Xtalây - Taylo nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam trong 18 tháng, mà còn bị thiệt hại nhiều hơn năm trước. Nhìn toàn cục, “sự can thiệp vũ trang của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam mang tính chất phòng ngự, nhằm ngăn chặn bước tiến của phong trào cách mạng và củng cố lại phòng tuyến của chúng ở Đông Nam Á sau khi chúng phải lui một bước ở Lào”(4). Sự chuyển hướng chiến lược này đồng thời cũng phản ánh ba sự thất bại to lớn của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam: 1 - Sự thất bại bước đầu về mặt chiến lược; 2- Sự thất bại bước đầu về mặt chiến thuật và kỹ thuật; 3- Sự thất bại lớn về chính trị.

Bộ Chính trị chủ trương hoạt động của ta là tiếp tục giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, đưa chiến tranh vũ trang phát triển lên song song với đấu tranh chính trị; nắm vững phương châm hoạt động ở ba vùng một cách linh hoạt, sáng tạo, tiến công đối phương trên cả ba vùng chiến lược, đánh đối phương bằng ba mũi giáp công, phát động một phong trào đấu tranh chính trị và quân sự rộng khắp, liên tục tiến công làm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực đối phương. Dựa trên tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam, so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, Bộ Chính trị xác định phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Trường kỳ đấu tranh bằng cả quân sự và chính trị, giữ vững và phát triển phong trào, giành thắng lợi từng phần, đẩy lùi địch từng bước, phát triển và che giấu lực lượng, chuẩn bị điều kiện, tranh thủ thời cơ để tiến lên giành những thắng lợi quyết định, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà(5). Nhiệm vụ cơ bản sắp tới của cách mạng miền Nam là: “hết sức mở rộng lực lượng quân sự và chính trị, phát động du kích chiến tranh rộng khắp tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bại kế hoạch lập ấp chiến lược của địch, trước mắt làm thất bại kế hoạch tấn công của địch trong năm 1963, giữ vững và phát triển lực lượng của ta, mở rộng vùng căn cứ và vùng giải phóng”(6). Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một đế quốc mạnh, tàn bạo và thâm độc; trong quá trình đó, xuất hiện trạng thái giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh này, nhân dân miền Nam phải dựa vào sức mình là chính, tự lực cánh sinh cao độ, song, “đồng thời phải có sự giúp đỡ tích cực của miền Bắc và sự ủng hộ ngày càng nhiều của phe xã hội chủ nghĩa cũng như của phong trào giải phóng dân tộc và của các lực lượng hòa bình dân chủ khác trên thế giới(7). Trong tình hình lực lượng so sánh giữa ta và đối phương ngày càng biến đổi có lợi cho ta, Bộ Chính trị cho rằng, có thể xuất hiện nhiều khả năng. Trong bất kỳ trường hợp nào, ta cũng phải thắng đối phương. Nhưng ta phải thắng đối phương từng bước, phải có từng giai đoạn quá độ trên bước đường tiến tới chiến thắng hoàn toàn. Như vậy, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 2 và tháng 12-1962 đã chỉ ra những phương hướng cơ bản cho việc chỉ đạo cách mạng miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên trong năm 1963 và lường định sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta phải trải qua một quá trình đánh thắng đối phương từng bước trước khi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.143, 144.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.145-146.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.812-813.
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.821, 822
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.23, tr.819.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:50:49 PM »

Từ nghị quyết Bộ Chính trị, nhờ hình thức, phương thức đấu tranh thích hợp, đúng đắn, tinh thần và sự nỗ lực cao độ của quân, dân miền Nam, năm 1963 đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng miền Nam, bắt đầu bằng thắng lợi vang dội Ấp Bắc (1-1963). Đánh giá về thắng lợi này, đồng chí Lê Duẩn viết: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được”(1). Sau chiến thắng Ấp Bắc vang[dội, khắp các chiến trường và các địa phương miền Nam, phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” phát triển mạnh mẽ, trong đó, sự kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa đòn tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng đã phá banh một số lớn ấp chiến lược. Chỉ trong năm 1963, quân dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu một lực lượng khá lớn của đối phương (7,8 vạn tên); bắn rơi, phá hủy, phá hỏng một số lượng lớn vũ khí, khí tài của đối phương, đồng thời phá banh, phá rã 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược, giải phóng hàng nghìn thôn ấp với gần chín triệu dân. Chương trình bình định của đối phương, xương sống của chiến tranh đặc biệt, về cơ bản đã bị ta đánh bại. Thắng lợi của cách mạng miền Nam trong năm 1963 đã đẩy chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa vào thế suy yếu toàn diện, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ đang từng bước bị phá sản. Trong khi đó, chính sách tôn giáo bất bình đẳng của chính quyền Diệm - Nhu đã làm bùng nổ cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chính quyền Diệm, góp phần đẩy chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào cơn khủng hoảng, tình hình miền Nam ngày càng mất ổn định một cách nghiêm trọng. Trước tình hình căng thẳng có nguy cơ làm sụp đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ bắt đầu xem xét vai trò của anh em Diệm - Nhu, thực hiện chính sách “thay ngựa giữa đường”, lật đổ chính quyền Diệm (11-1963). Ngày 22-11-1963, Tổng thống Mỹ Kennơđi, người quyết định tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam và Đông Dương cũng bị ám sát. Ngay sau khi Kennơđi bị ám sát, Phó Tổng thống Giônxơn lên thay, quyết định tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam. Nhận được sự viện trợ ồ ạt từ Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa khẩn trương vạch kế hoạch, tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược, cố gắng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Song, mọi cố gắng của đối phương đều bị quân và dân miền Nam kết hợp ba mũi đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận trên khắp ba vùng chiến lược đánh trả, gây cho chúng những thiệt hại nghiêm trọng. Trong khi đó, tình hình thế giới tiếp tục chuyển biến, tác động tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung đang trở nên ngầy càng gay gắt(2).

Tình hình mới đặt ra những yêu cầu đỏi hỏi Đảng Lao động Việt Nam phải có những đối sách mới trong quan hệ với quốc tế và đẩy mạnh phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam. Vì vậy, tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thông qua hai nghị quyết quan trọng: Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta và Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi ở miền Nam.

Về tình hình cách mạng miền Nam, hội nghị phân tích kỹ càng mặt mạnh, mặt yếu của cả ta và đối phương, đánh giá cao sự nỗ lực của quân, dân miền Nam anh hùng, đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng và bất khuất của dân tộc, sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú, làm nên những thắng lợi to lớn. Nhân dân miền Nam đã chứng tỏ khả năng chiến thắng Mỹ trong bất kể hoàn cảnh nào, nhất định có đủ nghị lực, tài năng, lực lượng và chí kiên nhẫn để đánh bại mọi mưu mô, kế hoạch của đế quốc Mỹ, làm cho chúng sa lầy, tiến thoái lưỡng nan và cuối cùng đành chịu thất bại vả rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Về âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, hội nghị nhận đinh: “Khả năng thứ nhất: Mỹ tham gia với mức độ như hiện nay, hoặc hơn một chút; Khả năng thứ hai: Mỹ tham gia mạnh hơn, đưa quân vào gấp mấy lần hoặc cả quân Mỹ và quân đội của khối xâm lược Đông - Nam Á cùng can thiệp vào”(3). Hội nghị cũng dự kiến khả năng cách mạng miền Nam phải thông qua một bước quá độ với những hình thức và phương pháp đấu tranh phức tạp mới đạt được thắng lợi hoàn toàn. Trong những điều kiện đó, hội nghị chủ trương: “Đưa cách mạng miền Nam phát triển theo hướng giành thắng lợi từng phần, đẩy lui địch từng bước, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa để đi đến toàn thắng”(4). Quá trình tiến tới tổng công kích và tổng khởi nghĩa cũng là một quá trình tổng công kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giằng co và phức tạp, đánh lui địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi toàn bộ. Vì thế, hội nghị chỉ rõ: “Phương châm chiến lược chung của cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính; về phương châm đấu tranh thì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt tùy theo từng vùng và từng thời kỳ khác nhau”(5). Xác định rõ vị trí, vai trò của đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, hội nghị cho rằng: “Đấu tranh chính trị đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định”, “Đấu tranh vũ trang cũng đóng một vai trò rất cơ bản và rất quyết định”, nhưng “đóng vai trò quyết định trực tiếp”(6). Phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang không phải chỉ áp dụng tạm thời mà phải áp dụng lâu dài, được vận dụng ở cả ba vùng khác nhau (vùng rừng núi, vùng đồng bằng nông thôn và vùng đô thị và phải được thực hiện một cách linh hoạt, tùy theo từng vùng và từng thời kỳ khác nhau; đồng thời, “phải phối hợp đánh địch bằng ba mũi: đánh địch bằng chính trị, đánh địch bằng quân sự và đánh địch bằng binh vận(7). Đồng thời, hội nghị cũng chỉ rõ yêu cầu, phương hướng lãnh đạo. Trong bất kỳ trường hợp nào, phải kiên quyết loại trừ mọi thái độ lừng chừng, muốn dừng lại ở bước quá độ, phải có quyết tâm động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành cho được thắng lợi tối đa.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra, tranh thủ giành thắng lợi ở mức cao nhất, không những Đảng bộ và nhân dân miền Nam phải cố gắng vượt bậc mà nhân dân miền Bắc cũng phải nỗ lực rất cao. Hội nghị khẳng định “Vị trí của hai miền trong sự nghiệp cách mạng của cả nước do Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra vẫn không thay đổi, nhưng đã đến lúc miền Bắc phải tăng cường chi viện cho miền Nam hơn nữa; miền Bắc phải phát huy hơn nữa vai trò căn cứ địa cách mạng toàn quốc của mình”(8); và “do sự chi viện đó mà cũng cần phải có sự điều chỉnh và kế hoạch xây dựng một Bắc một cách thích đáng”(9).


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.69
(2) Từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa Liên Xô, Trung Quốc bộc lộ công khai, ngày càng gay gắt, làm nảy sinh “chủ nghĩa biệt phái” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tình trạng bè phái đó “biểu hiện ở chỗ khi xảy ra bất đồng ý kiến trong phong trào cộng sản quốc tế, một số người ở một số đảng đã kéo bè kéo cánh để công kích và cô lập đảng anh em và những người mácxít - lêninnít có ý kiến khác mình, gây nên bất hòa nghiêm trọng và tạo ra nguy cơ chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế; biến sự bất đồng ý kiến giữa các đảng trong phe xã hội chủ nghĩa thành sự xích mích trong quan hệ nhà nước, gây bè phái trong các đảng anh em, vận động quần chúng để cô lập đảng anh em và nước anh em kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin”. - Theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.773-774
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.820.
(4), (5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.823, 827, 830-831.
(7), (8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.836, 860, 861.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tám, 2014, 10:10:31 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:52:22 PM »

Trong Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, Hội nghị Trung ương đã phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung và tính chất của thời đại, chỉ ra rằng, so sánh lực lượng trên thế giới ngày càng thay đổi có lợi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương và nhiệm vụ quốc tế của Đảng: Góp phần khôi phục và tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế; tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh; tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa; ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai ở miền Nam nhằm góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới(1).

Một cách tổng quát, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1963) đã phân tích một cách thấu đáo tình hình, chỉ ra con đường chiến thắng đối phương. Đó là con đường chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; vận dụng linh hoạt phương châm hoạt động ở ba vùng, đánh địch bằng ba mũi chính trị, quân sự và binh vận. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, tiếp nối truyền thống và phát huy kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp trong những điều kiện mới, với một trình độ cao hơn, phong phú hơn. Với nội dung thiết thực, kịp thời, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 đã bổ sung, hoàn chỉnh một bước đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Hội nghị Trung ương 15 (khóa II), Đại hội III và các nghị quyết của Bộ Chính trị tiếp sau đó đề ra; cụ thể hóa những nhiệm vụ mà cách mạng miền Nam phải tiến hành để đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương đánh dấu bước trưởng thành về lý luận của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9, Đảng nhận định rằng; Thất bại liên tiếp ở miền Nam và Lào, Mỹ và bè lũ tay sai lúng túng và nhất định sẽ điên cuồng đối phó, trước sau gì cũng sẽ tập kích bằng đường biển và đường không vào miền Bắc nước ta; do vậy, miền Bắc cần tăng cường sẵn sàng chiến đấu. Ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm động viên ý chí, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta trên miền Bắc, chuẩn bị cho miền Bắc đương đầu có hiệu quả với những thách thức mới. Ở miền Nam, quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 và các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, việc xây dựng quân chủ lực, xây dựng căn cứ địa - chỗ đứng chân được đẩy mạnh. Năm 1964, trên chiến trường miền Nam đã xây dựng được hai khối chủ lực cơ động với hệ thống căn cứ địa liên hoàn. Quân, dân miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, làm chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta. Tại nông thôn đồng bằng, với sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân nổi dậy phá tan từng mảng hệ thống ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở nhiều mức độ khác nhau. Cùng lúc, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân cùng với những trận đánh táo bạo của đặc công và biệt động ở vùng đô thị càng đẩy đối phương vào thế rối ren. Chương trình bình định của Mỹ - xương sống của cuộc chiến tranh đặc biệt, về cơ bản bị thất bại trên nhiều bình diện, trong đó kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara bị đổ vỡ, đã làm cho tình hình chính trị, quân sự vào những tháng cuối năm 1964 có bước chuyển biến mới có lợi cho cách mạng. Lực lượng chính trị, quân sự của ta phá triển lớn mạnh hơn trước, đặc biệt là khối chủ lực cơ động đã đủ sức tạo ra những quả đấm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

Thất bại và thua đau trên chiến trường miền Nam, Mỹ dựng lên cái gọi là “sự kiện Vinh Bắc Bộ”, và ngay sau đó, sử dụng không quân mở cuộc tiến công miền Bắc Việt Nam (5-8-1964), Đồng thời, Chính phủ Mỹ trình Quốc hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” mở đường cho nỗ lực quân sự mới của Mỹ ở Việt Nam. Trong khí đó, ở Lào, Mỹ tăng cường chiến tranh đặc biệt nhằm cắt đứt chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam, củng cố vị trí Mỹ và phái hữu ở Lào, cô lập cách mạng miền Nam. Song âm mưu của Mỹ ở Lào cũng từng bước bị phá sản. Trong năm 1964, địch chẳng những không đạt được mục tiêu đề ra, ngược lại, chúng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng lượng cách mạng miền Nam và sự đánh trả quyết liệt của quân, dân miền Bắc. Chiến thắng Bình Giã (12-1964), An Lão (12-1964) đánh dấu bước phát triển mới của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Quyền chủ động chiến lược của cách mạng được củng cố và phát huy mạnh mẽ trên khắp ba vùng chiến lược. Với chiến thắng Bình Giã, An Lão, quân và dân miền Nam đã đánh bại về cơ bản chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Nhận định về bước phát triển của chiến trường miền Nam được mở ra bởi chiến thắng Bình Giã, An Lão, đồng chí Lê Duẩn viết: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được, đến trận Bình Giã, thì Mỹ thấy sẽ thua ta trong chiến tranh đặc biệt”(2). Trong năm 1964, quân và dân ta mở miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị trên cả ba vùng chiến lược, giáng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa những đòn nặng nề, phá rã, phá banh 3.659 ấp chiến lược; mở rộng vùng giải phóng, vùng làm chủ trên 2/3 đất đai toàn miền và với 10 triệu dân, làm thất bại về cơ bản “quốc sách” ấp chiến lược của đối phương. Chiến tranh nhân dân miền Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, vững chắc; mọi nỗ lực của Mỹ trong chiến tranh đặc biệt bị phá sản về căn bản. Ở miền Bắc, với tinh thần cảnh giác cao, các lực lượng phòng không, không quân và nhân dân ta đã giáng trả thích đáng sự xâm phạm của quân địch trên bầu trời, tăng cường lực lượng phòng không, không quân, tích cực bảo vệ các thành phố trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định...


(1) Chủ trương và nhiệm vụ quốc tế mà Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra thể hiện sự độc lập, tự chủ và bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trước những nảy sinh phức tạp trong quan hệ quốc tế. Nhà sử học Ilya V. Gaiduk trong cuốn sách Liên bang Xôviết và chiến tranh Việt Nam, đã viết: “Khi cuộc ganh đua giữa Mátxcơva và Bắc Kinh trở nên quyết liệt, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam đã có đủ khả năng khai thác sự mâu thuẫn giữa hai ủng hộ viên cộng sản hùng mạnh và mong muốn giành được một chỗ đứng ở Đông Dương của họ. Khôn khéo vận động giữa Trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị, trong khi càng ngày càng phụ thuộc hơn vào các nguồn viện trợ vạt chất của các đồng minh”. Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xôviết và chiến tranh Việt Nam, Ivan R. Dee Publisher Chicago, 1996, Tổng cục V - Bội Nội vụ sao lục, tháng 1-1998, tr.72.
(2) Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Chinh trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.185.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:55:10 PM »

Từ năm 1964 đến những tháng đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam phát triển mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược, chiến tranh đặc biệt mà Mỹ triển khai thực hiện ở miền Nam Việt Nam ngày càng bị thất bại nghiêm trọng. Thắng lợi của quân, dân ta trên hai miền Nam, Bắc đẩy chính quyền Việt Nam Cộng hòa lún sâu vào khủng hoảng, mâu thuẫn nội bộ bộ lộ gay gắt, các cuộc đảo chính và âm mưu đảo chính gạt bỏ lẫn nhau, tranh giành quyền lực diễn ra liên tục. Đầu năm 1965, chúng ta đẩy mạnh tiến công đối phương trên khắp các chiến trường. Đối phó lại, Mỹ mở rộng hoạt động không quân, ném bom bắn phá miền Bắc, đưa những đơn vị chiến đấu đầu tiên vào miền Nam.

Trong điều kiện chiến tranh đang lan rộng ra cả nước, trước diễn biến mới của tình hình trong nước cũng như quốc tế, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp (3-1965) ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt, quyết định chuyển toàn bộ miền Bắc từ thời bình sang thời chiến trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức, kinh tế, tài chính, quốc phòng và đối ngoại; đảm bảo cho miền Bắc có đầy đủ sức mạnh đánh thắng không quân, hải quân Mỹ; duy trì và giữ vững sản xuất, tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 11, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tiếp tục leo thang trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Từ mùa hè năm 1965, quân Mỹ và quân đội một số nước đồng minh của Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ. Tháng 7-1965, Tổng thống Mỹ Giônxơn chấp thuận kế hoạch “tìm và diệt” của Đại tướng Oétmolen - Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam. Theo đó, Mỹ sẽ hoàn tất các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh cục bộ trong vòng hai năm hoặc hai năm sáu tháng. Thế nhưng ngay từ đầu, quân và dân trên cả hai miền Nam, Bắc đã nêu cao quyết tâm, giữ vững quyền chủ động chiến trường, mở các cuộc tiến công quân Mỹ ở miền Nam và giáng trả mạnh mẽ không quân hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc. Tháng 12-1965, từ thực tiễn chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền và trên cơ sở đánh giá có liên quan, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa III) khai mạc dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ mới cho cách mạng hai miền.

Hội nghị cho rằng, trước việc Mỹ đưa quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc, vấn đề lớn đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải đánh giá đúng lực lượng và khả năng của kẻ địch; đồng thời đánh giá đúng lực lượng và khả năng to lớn của nhân dân ta trên cả hai miền. Với tầm nhìn chiến lược, phân tích, đánh giá đúng lực lượng so sánh những mặt mạnh tạm thời và những chỗ yếu cơ bản của đối phương, những hạn chế tạm thời và những thế mạnh cơ bản của ta, hội nghị chỉ rõ: “Ngày nay mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch(1). Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”(2).

Trong tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền, để thực hiện nhiệm vụ chung đó, Trung ương Đảng chỉ rõ cần phải thấu suốt những vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn mối quan hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam; Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ cách mạng của cả nước ta, vì miền Bắc là căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước; đánh bại đế quốc Mỹ trên chiến trường chính ở miền Nam không chỉ là nhằm giải phóng miền Nam, mà còn là biện pháp tích cực nhất để bảo vệ miền Bắc, tiến lên thống nhất nước nhà.

Thứ hai, nắm vững phương châm chiến lược chung của chúng ta trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ, cứu nước là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, song “cần phải cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam(3).

Thứ ba, kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công: trong đó, “đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng”(4), nhưng phải được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, để thu được kết quả lớn nhất.

Thứ tư, đối với quốc tế, trên cơ sở dựa vào sức mình là chính, cần kết hợp tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.633
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.634
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.637-638.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.633.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 09:58:05 PM »

Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Bắc: “Miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam”(1). Miền Bắc “vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, động viên sức người, sức của tăng cường chi viện miền Nam, ra sức giúp đỡ cách mạng Lào, đồng thời tích cực chuẩn bị đánh thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước ta”(2). Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc sang thời chiến để phù hợp với tình hình đối phương đánh phá; đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Cùng với việc chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường quốc phòng của miền Bắc, cần phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.

Trung ương Đảng cũng nhận mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác đấu tranh ngoại giao, nhằm làm rõ chính sách và hành động xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Đảng chỉ rõ: “Căn cứ vào yêu cầu nói trên, cần phải tùy theo thái độ chính trị của chính phủ và nhân dân từng nước, từng khu vực mà miền Bắc và miền Nam đề ra yêu cầu giúp đỡ và ủng hộ tích cực”(3).

Với việc phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, khẳng định thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ, vạch rõ nhiệm vụ cụ thể của cách mạng hai miền, động viên quân đội và nhân dân cả nước giữ vững chiến lược tiến công, nêu cao ý chí tự lực tự cường và ra sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, Hội nghị lần thứ 11 và 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và 12 là kết tinh giữa thực tiễn sáng tạo của quần chúng với trí tuệ của Đảng, trở thành văn kiện lịch sử củng cố lòng tin, chỉ đạo quân và dân ta ở hai miền Nam - Bắc vững bước vượt qua gian lao, thử thách để tiến lên thắng lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go với kẻ thù có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Việc Mỹ ồ ạt đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam và sử dụng không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc tuy đã phần nào cứu vãn được sự sụp đổ và tan rã nhanh chóng của chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa, song, quân Mỹ không thể ngăn chặn được sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, không tránh được các đòn tiến công như vũ bão của Quân giải phóng và không thể giành được quyền chủ động chiến trường như mục tiêu đề ra. Điều đó chững tỏ rằng, dù quân Mỹ vào miền Nam, nhưng chúng không thể đảo ngược được chiều hướng thua của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cả quân Mỹ lẫn quân đội Việt Nam Cộng hòa đều bị mắc kẹt trong thế trận chiến tranh nhân dân của chúng ta, chúng luôn bị động về chiến lược, lúng túng về chiến thuật đối phó.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố, tiếp tục tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh, hòng đánh mạnh, thắng nhanh về mặt quân sự; đồng thời, tăng cường những thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, nhưng lại đòi Việt Nam thương lượng không điều kiện. Lúc này, một mặt, Đảng nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam, đập lại mọi luận điệu hòa bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của Mỹ; mặt khác, Đảng cũng tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm. Đến đầu năm 1967, những thắng lợi của nhân dân ta ở trên cả hai miền đất nước đã tạo ra những khả năng mới để đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ, cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ. Vì thế, Bộ Chính trị quyết định mở mặt trận ngoại giao, vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1967) được tổ chức để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công đố phương, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Sau khi phân tích tình hình trên chiến trường, Hội nghị nhận định năm 1967 - 1968, đặc biệt là năm 1967, cuộc chiến đấu giữa ta và đối phương sẽ diễn ra rất gay go, quyết liệt. Âm mưu của Mỹ là cố gắng giành thắng lợi quân sự, tạo thế vững vàng làm hậu thuẫn cho một giải pháp chính trị để kết thúc chiến tranh có lợi cho chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để khi cần - tức là khi chưa đạt được giải pháp chính trị có lợi, thì kéo dài chiến tranh. Lúc này, quyết tâm chiến lược của ta là trên cơ sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, “động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cố gắng cao độ, đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước”(4). Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, phải tiếp tục phát huy những thắng lợi đã giành được, ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam. Đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt trận đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa.


(1), (2), (3) 5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.108, 643-644, 117.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8829


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 10:00:06 PM »

Về mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, nghị quyết chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”(1). Hội nghị cũng cho rằng, trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và đối phương, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh đấu tranh trên chiến trường, mà còn giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động.

Hội nghị cho rằng, thời gian qua, chúng ta chưa có thời cơ vận dụng sách lược vừa đánh, vừa đàm, vì phía Mỹ còn cho rằng đưa quân chiến đấu Mỹ ồ ạt tham chiến ở miền Nam thì có thể giành được thắng lợi. Trải qua gần hai năm đương đầu với quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, với không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc, thực tế chứng minh bây giờ chúng ta tiến công địch về ngoại giao là đúng lúc, vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh. Mục đích cuộc tiến công ngoại giao lúc này là phát huy tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thế tất thắng của ta, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, tiến bộ trên thế giới; từ đó, lập một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược. Để thực hiện những mục tiêu ngoại giao quan trọng nêu tên, phải nắm vững phương châm ngoại giao: “Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta; Chủ động tiến công địch; Giữ vững tính độc lập; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em”(2). Kiên định nguyên tắc “kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, chúng ta cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo. Khẳng định vai trò to lớn của đấu tranh ngoại giao, hội nghị cũng đồng thời khẳng định một vấn đề có tính mấu chốt: “Thắng lợi trên chiến trường là quyết định, cho nên, trong bất cứ trường hợp nào, dù đế quốc Mỹ ngừng ném bom hoặc không ngừng ném bom miền Bắc, chúng cũng phải kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam và đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc(3).

Hội nghị tính đến hai khả năng trong tiến công ngoại giao; 1- Nếu Mỹ buộc phải chấm dứt ném bom và các hành động chiến tranh khác thì ta có thể nói chuyện với chúng; 2- Nếu Mỹ ngoan cố không chịu ngừng ném bom thì chúng sẽ lộ rõ bộ mặt hiến chiến và những thủ đoạn hòa bình giả hiệu trước dư luận thế giới trong khi chúng ta lại có cơ hội nêu cao ngọn cờ độc lập, hòa bình và do đó cuộc đấu tranh ngoại giao của ta sẽ giành được thắng lợi về chính trị. Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta cũng phải giữ vững thế chủ động tiến công đối phương.

Hội nghị thảo luận về sự khác nhau trong đường lối đấu tranh ngoại giao của ta và các nước anh em, khẳng định tính độc lập, tự chủ trong việc thực hiện đường lối của mình và quyết tâm đóng góp sức mình cho sự thống nhất trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 là cương lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Tinh thần cơ bản nhất của hội nghị được thể hiện trong nghị quyết là đường lối độc lập, tự chủ và sự chủ động, tích cực tiến công địch về ngoại giao. Lần đầu tiên trong một văn kiện chính thức, Đảng coi đấu tranh ngoại giao là một mặt trận. Điều đó không chỉ được thể hiện ở câu chữ mà còn ở từng nội dung của đường lối, chủ trương, phương châm, nhiệm vụ và những biện pháp thể hiện trong nghị quyết của hội nghị. Vì vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 được coi là hội nghị mở đầu mặt trận ngoại giao chống Mỹ, cứu nước.

Đến cuối năm 1967, cách mạng miền Nam đã giành được thắng lợi quan trọng cả về chính trị, quân sự. Quân và dân ta vẫn giữ vững và phát huy mạnh mẽ thế chủ động trên chiến trường. Về phía Mỹ, đưa chiến tranh cục bộ trong phạm vi miền Nam đến đỉnh cao, chúng đã bị tổn thất nặng nề về quân sự và chính trị, chiến lược và chiến thuật. Trên cơ sở phân tích tình hình mọi mặt có liên quan và theo dõi sát diễn biến thực tế chiến trường, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho đối phương đã xuất hiện. Tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp và quyết định mở cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa nhằm giáng một đòn sấm sét vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Hội nghị của Bộ Chính trị đã được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1968) thông qua và trở thành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là nghị quyết cố vũ tinh thần và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Nhận định về những chuyển biến của tình hình từ giữa năm 1965 đến đầu năm 1968, hội nghị cho rằng: Đế quốc Mỹ đã thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược chiến tranh cục bộ. Chúng đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến thuật, phải chuyển sang thực hiện chiến lược hai gọng kìm, nhằm “vừa tìm diệt, vừa bình định”, để đề phòng ta đánh lớn ngay trong mùa mưa năm 1967, nhưng đó là “sự chuyển hướng từ thế phản công chiến lược sang thế bị động phòng ngự về chiến lược; đó cũng là một bước thụt lùi về chiến lược của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam”(4), thể hiện một thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đưa những cố gắng chiến tranh ở Việt Nam lên mức cao nhất, đế quốc Mỹ vẫn rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược, còn “chúng ta đã thắng lợi cả về chiến lược lẫn chiến thuật và thế lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử chiến tranh giải phóng của ta. Chúng ta đang nắm quyền chủ động trên toàn bộ chiến trường”(5). Về tổng thể, so sánh lực lượng có lợi cho ta, con đối với Mỹ, một thất bại về quân sự đối với Mỹ lúc này sẽ có tác động mạnh đến tình hình chính trị nước Mỹ, vì đây là năm bầu cử Tổng thống Mỹ (11-1968). Các phe phái ở Mỹ đang bận rộn dồn sức vận động cho ứng cử viên tổng thống của đảng mình. Ra tranh cử chức Tổng thống Mỹ lần này, các ứng cử viên đều lấy việc “chấm dứt chiến tranh Việt Nam” là một trong những vấn đề chính để vận động tranh cử.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174, 176
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.42, 48-49.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM