Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:40:34 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 56955 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2014, 08:15:38 PM »

5. Kháng chiến chống Mỹ là một cuộc chiến tranh mang tính thời đại sâu sắc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động lớn. Đó là sự lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa - nhân tố quyết định sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và xã hội loài người. Đó là thời kỳ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì tiến bộ, hòa bình thế giới dâng cao mạnh mẽ. Chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ ngày càng lâm vào khủng hoảng và thoái trào, tìm mọi cách chống đỡ quyết liệt, hòng ngăn chặn và đẩy lùi phong trào cách mạng thế giới, thực hiện mưu đồ xâm lược và làm bá chủ trong tình thế so sánh lực lượng cách mạng và phản cách mạng đang phát triển không có lợi cho chúng.

Thực hiện sự mệnh lịch sử là tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở khu vực Đông Nam Á, đang trong quá trình tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam thực sự trở thành ngọn cờ tiên phong của phong trào cách mạng thế giới, ngọn cờ dẫn đầu phong trào đấu tranh vì độc lập và giải phóng dân tộc, vì an ninh chủ nghĩa xã hội, vì tiến bộ, hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Do vậy mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sớm trở thành điểm nóng, nơi tập trung các mâu thuẫn, các lực lượng tiến bộ và phản tiến bộ, thu hút sự quan tâm chú ý của cộng đồng quốc tế; đồng thời, có những tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình thế giới, vượt ra khỏi khuôn khổ của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thông thường, mang tầm vóc và tính chất thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX.

Để đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và những ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang ngày càng lan rộng, các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu ra sức tập trung lực lượng, nghĩ ra trăm phương ngàn kế, quyết tâm thực hiện ngăn chặn, đàn áp, chống phá, đẩy lùi trên phạm vi từng trọng điểm, từng khu vực nóng và toàn thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, uy tín và ảnh hưởng của Việt nam đối với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là đối với phong trào giải phóng dân tộc lên cao khiến cho Mỹ hết sức lo ngại. Mỹ sợ rằng, thắng lợi của cách mạng Việt Nam sẽ thúc đẩy và đưa đến những thắng lợi dây chuyền khác; tạo ra sự sụp đổ từng mảng dẫn đến sụp đổ hoàn toàn nền thống trị thực dân kiểu mới. Vì thế, Mỹ đã nỗ lực cao độ, huy động mọi nguồn lực, kể cả từ phía các nước đồng minh đánh Việt Nam, chẳng những hòng đặt ách thống trị thực dân kiểu mới đối với nhân dân Việt Nam mà còn góp phần răn đe, đẩy lùi phong trào cách mạng của nhân dân các nước khu vực Đông Nam Á. Mỹ đã thực hiện nhiều âm mưu và thủ đoạn thâm độc xảo quyệt nhằm chia rẽ, kiềm chế, phá hoại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào Không liên kết; hạn chế sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam.

Đương đầu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới do đế quốc Mỹ gây ra, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã nỗ lực vượt bậc, kiên cường thắng Mỹ từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một kỷ nguyên mới vô cùng sôi động; là một cống hiến lớn lao vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới, tăng cường sức mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân các nước đang đấu tranh giành độc lập, tự do trên toàn thế giới. Giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc, Đảng Lao động Việt Nam đã giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chủ nghĩa tư bản trong thời đại mới; sáng tỏ chân lý - một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết và quyết tâm một lòng dưới sự lãnh đạo của một đảng chân chính, có đường lối đúng đắn sáng tạo thì nhất định sẽ thắng lợi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:40:05 PM »

II - ĐẶC ĐIỂM

1. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc - Nam, thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, do một đảng thống nhất lãnh đạo

Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh là mục tiêu to lớn và nguyên vọng tha thiết, lâu đời của nhân dân Việt Nam. Vì mục tiêu đó, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta kiên cường đấu tranh, làm nên thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Nhưng, đất nước ta vẫn chưa hoàn toàn có hòa bình, độc lập và thống nhất. Toàn dân ta phải tiếp tục cuộc chiến đấu 21 năm chống Mỹ - một đế quốc giàu mạnh về mọi phương diện, thừa dịp thực dân Pháp thua nặng để can thiếp trắng trợn vào Việt Nam, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Từ tình hình so sánh lực lượng thay đổi bất lợi trên đây khiến cho Đảng và Chính phủ Việt Nam buộc phải chấp nhận giải pháp Giơnevơ (1954) nhằm lập lại hòa bình ở Đông Dương vì không thể một mình tiếp tục cuộc chiến đấu, nhất là phải sớm trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ.

Giải pháp Giơnevơ là một biểu hiện cụ thể có tính quy luật của trường hợp một nước nhỏ như nước ta, phải thường xuyên đương đầu với những tên đế quốc xâm lược hùng mạnh, trong bối cảnh các quan hệ quốc tế diễn ra cực kỳ phức tạp (ngay trong quan hệ giữa các nước đồng minh của cách mạng với nhau), khiến cho cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của nhân dân ta phải trải qua những bước quanh co, lâu dài, gian khổ, giành thắng lợi từng bước để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đó cũng là một vấn đề mang tính quy luật của cách mạng.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước và từ xu thế vận động của cách mạng thế giới từ sau năm 1954, khi nước ta còn tạm thời bị chai cắt làm hai miền, Trung ương Đảng đã xác định Cách mạng ở mỗi miền Nam, Bắc Việt Nam thuộc hai chiến lược khác nhau là cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, hai chiến lược cách mạng đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng.

Xét trên toàn cục, từ sau năm 1954, miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có chính quyền và trở thành căn cứ địa chung của sự nghiệp cách mạng cả nước. Miền Bắc càng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng cả nước nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung, cho việc củng cố hòa bình, an ninh thế giới và hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vì vậy, không chỉ nhằm xây dựng đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc mà còn đặt nền móng để xây dựng một đời sống mới, tự do, hạnh phúc trên cả nước trong tương lại.

Tích cực đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là tạo điều kiện cho cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi to lớn, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng cả nước tiến lên, sử dụng các nguồn lực của bản thân cách mạng Việt Nam, kết hợp với sự hậu thuẫn của lực lượng cách mạng xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới để đánh thắng kẻ thù, thực hiện thống nhất Tổ quốc, xây dựng một nước Việt nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu màu.

Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ có tính chất quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Từ những chủ trương đúng đắn đó, ngay từ đầu, Đảng Lao động Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tích cực đưa miền Bắc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thành các kế hoạch khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957), cải tạo và từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1958 - 1960), hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965).

Trong suốt 10 năm đầu (1954 - 1964), Đảng Lao động Việt Nam đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa công cuộc xây dựng miền Bắc với nhiệm vụ giải phóng miền Nam, tập trung sức vào củng cố và xây dựng, làm cho miền Bắc trở thành chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong khi đề ra chính sách cải tạo vì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng chẳng những căn cứ vào tình miền Bắc, mà còn căn cứ cả vào tình hình miền Nam. Cũng như thế, khi đề ra chính sách và phương pháp cách mạng miền Nam, Đảng không chỉ căn cứ vào tình hình miền Nam, mà còn căn cứ cả vào tình hình miền Bắc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:42:15 PM »

Về tư tưởng chỉ đạo, Trung ương Đảng sớm khẳng định: Cách mạng miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ trá hình thông qua chính quyền Sài Gòn, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Mối quan hệ cách mạng hai miền là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Người nhạc trưởng vĩ đại, người lãnh đạo thống nhất và tuyệt đối để phối hợp các mối quan hệ ấy là Đảng Lao động Việt Nam(1).

Trong thực tế lịch sử, khi công cuộc kiến thiết miền Bắc thu được nhiều thắng lợi, một động lực mới của cách mạng đã được tạo ra. Miền Bắc được xây dựng với tốc độ nhanh là do kết quả của việc vận dụng đúng đắn nhiều quy luật kinh tế và chính trị, sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, phản ánh tính ưu việt của mối quan hệ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, miền Bắc không chỉ mạnh ở lý tưởng mà còn mạnh ở chế độ xã hội.

Miền Bắc mạnh và đứng vững trước cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ càng khiến cho quân và dân ta ở miền Nam tin tưởng; đồng thời càng có điều kiện để chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng ở hai nước Lào và Campuchia. Ngược lại, cách mạng miền Nam càng giành được thắng lợi, càng tạo điều kiện để bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng Lao động Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng trên cả hai miền Nam, Bắc.

Ngay trong những năm còn phải tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm nhận ra mưu đồ xâm lược của đế quốc Mỹ đối với nước ta và khẳng định: đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Tháng 9-1954, khi đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa cố tình phá hoại Hiệp định Giơnevơ, Trung ương Đảng đã xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới và chủ trương lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đòi củng cố hòa bình, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ. Tháng 10-1954, Trung ương Đảng quyết định lập lại Xứ ủy Nam Bộ. Các khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta ở miền Nam đã anh dũng chống lại sự khủng bố, đàn áp của quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chống chính sách “tố cộng, diệt cộng”, chống cướp đất, đuổi nhà của chúng, bảo vệ và xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng căn cứ địa, xây dựng và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực nghiên cứu, tìm ra con đường đấu tranh thích hợp để hạn chế tổn thất của ta, đưa cách mạng miền Nam vững bước tiến lên.

Tháng 6-1956, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về việc củng cố lực lượng vũ trang, bán vũ trang, xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng ở miền Nam và kết hợp giữa đấu tranh chính trị với vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định để đối phó với kẻ thù. Nghị quyết vạch rõ: Tuy hình thức đấu tranh của ta hiện nay là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định.

Tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, lúc này là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam(*), dự kiến nâng cao các hình thức bạo lực cách mạng nhưng do điều kiện thực tế chi phối, dự định này mới chỉ được thực hiện ở mức độ hạn chế.

Trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp lúc đó, khi một số đảng cộng sản trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa anh em tìm mọi cách ngăn trở cuộc đấu tranh thống nhất hai miền của nhân dân ta, nhưng với lập trường độc lập, tự chủ và kiên định, dựa trên cơ sở những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn đấu tranh chống Mỹ hơn bốn năm đầu đầy hy sinh gian khổ của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam đã tập trung công sức và trí tuệ, vạch đường chỉ lối, đưa ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn, sáng tạo và sát hợp với tình hình, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta vững bước vượt qua mọi thử thách khó khăn, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


(1) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr. 589, 784-785
(*) Sau khi có Nghị quyết 15 thì gọi là Đề cương cách mạng niềm Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:44:05 PM »

Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng, mối quan hệ hai chiến lược cách mạng ở hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, ra nghị quyết về cách mạng miền Nam - Nghị quyết 15.

Nghị quyết 15 phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng trong tình thế đã chín muồi, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của đông đảo cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam, trở thành động lực thúc đẩy nhân dân miền Nam anh dũng đứng lên làm cuộc Đồng khởi vào cuối năm 1959 và đầu năm 1960, làm xoay chuyển tình thế, tạo bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục. Nó thực sự là “một đòn bất ngờ giáng vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ”(1).

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam đẩy mạnh cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, đẩy bộ máy chính quyền các cấp và quân đội Việt Nam Cộng hòa vào tình trạng khủng hoảng triền miên, không có lối thoát.

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên của cách mạng miền Nam.

Từ sau Đồng khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965), chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) và Việt Nam hóa chiến tranh (1969 - 1973) của đế quốc Mỹ.

Sát cánh chiến đấu cùng quân và dân miền Nam, quân và dân miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương chiến lược của mình, thực hiện tốt khẩu hiệu do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, tích cực cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến.

Tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: “Trải qua hơn 10 năm thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh(2).

Biết rõ mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng miền Bắc và cách mạng miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc đối với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và việc chống phá miền Bắc chủ yếu bằng hành động quân sự của đế quốc Mỹ ngày càng trở nên ác liệt và song hành với những diễn biến tác chiến trên chiến trường chính miền Nam Việt Nam.

Sau những thủ đoạn dùng gián điệp, biệt kích trong thời gian đầu không có hiệu quả, đế quốc Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa chuyển sang khiêu khích, nã pháo vào các hải đảo và một số vùng bờ biền miền Bắc, bắt ngư dân, dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” (5-8-1964) rồi từng bước leo thang chiến tranh, dùng không quân và hải quân ồ ạt đánh phá miền Bắc với quy mô lớn trên phạm vi toàn miền Bác kể từ đầu năm 1965.

Phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của Mỹ, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân kịp thời chuyển nhanh toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc trong điều kiện chiến tranh.

Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng Lao động Việt Nam thường xuyên giáo dục tư tưởng chính trị cho nhân dân, củng cố khối đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế, thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia, nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, Trung ương Đảng quyết định cử thêm nhiều cán bộ cao cấp của Đảng vào bổ sung cho chiến trường miền Nam, đồng thời xác định nhiệm vụ cụ thể cho nhân dân và các lực lượng vũ trang miền Bắc là phải vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa tích cực hơn nữa việc “động viên sức người, sức của chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam… ra sức chuẩn bị để đánh bại quân địch trong trường hợp chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước”(3).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.113.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.632.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.635.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:44:34 PM »

Dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân trên cả hai miền Nam - Bắc đã dấy lên nhiều phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu, giết giặc lập công với phương châm toàn dân đánh giặc, toàn dân làm công tác quốc phòng, nhanh chóng phát triển các lực lượng vũ trang nhân dân.

Những chiến thắng vang dội trên mặt trận quân sự của quân và dân hai miền Nam - Bắc nước ta đã buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố “ném bom hạn chế” miền Bắc, rồi phải thừa nhận chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phải chấp nhận việc ngồi vào bàn đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari (1-11-1968); cuối cùng phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Ngày 29-3-1973, đơn vị cuối cùng của quân viễn chinh Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện của quân đội nước ngoài trên đất nước ta. Song điều quan trọng nhất là quân viễn chinh Mỹ và quân đội các nước đồng minh của Mỹ phải cuốn cờ ra đi, còn Quân đội nhân dân Việt Nam (mà Mỹ thường gọi là quân đội Bắc Việt) vẫn ở lại hợp pháp tại miền Nam Việt Nam. Điều này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng cả về thế và lực có lợi cho quân và dân ta trong việc “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Về pháp lý, Mỹ buộc phải rút quân viễn chinh ra khỏi miền Nam Việt Nam theo các điều khoản của Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn để lại đội ngũ cố vấn quân sự khoác áo dân sự và tiếp tục viện trợ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa, vì trước sau Mỹ vẫn rắp tâm phá hoại công cuộc thống nhất đất nước Việt Nam. Do vậy, cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại âm mưu xâm lược hiểm độc của Mỹ, vì vậy vẫn phải tiếp tục dưới hình thức mới.

Để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, tháng 7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 21, xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam sau Hiệp định Pari là: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trước mắt phải đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao... buộc đối phương phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên phản công để giành thắng lợi hoàn toàn. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã giáng trả đích đáng những hành động quân sự hiếu chiến của quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giành lại nhiều vùng đất bị đối phương lấn chiếm, thu hẹp vùng kiểm soát của chúng, đẩy chúng dần vào thế phòng ngự bị động.

Những diễn biến trên chiến trường miền Nam cuối năm 1974 là cơ sở để Trung ương Đảng khẳng định những điều kiện cho việc giải phóng miền Nam đang chín muồi.

Căn cứ vào diễn biến tình hình trước những mưu mô tìm cách tìm cách ngăn cản nhân dân Việt Nam đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế, vào tháng 10-1974 và tháng 1-1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tiến hành nhiều hội nghị quan trọng, có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp tại các chiến trường miền Nam. Thông qua việc phân tích, đánh giá thấu đáo tình hình đối phương và ta, nhất là diễn biến tác chiến thực tế trên chiến trường, từ các hội nghị này, một quyết định lịch sử được hình thành. Nội dung quyết định nêu rõ phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện lực lượng so sánh trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương công tác chuẩn bị để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Bộ Chính trị còn dự kiến: Cả năm 1975 là thời cơ, nhưng nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975, đồng thời khẳng định tổng công kích có ý nghĩa quyết định, phải đi trước một bước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân và dân ta ở miền Nam đã diễn ra trong vòng gần hai tháng (từ ngày 4-3 đến ngày 2-5-1975) qua ba đòn tiến công chiến lược lớn là Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn - Gia Định (Chiến dịch Hồ Chí Minh).

Sau thắng lợi quyết định ở Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3), Huế - Đà Nẵng 9từ ngày 21-3 đến ngày 29-3), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam” từ đó đi đến quyết định “Phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước mùa mưa” (trước 5-1975).

Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định và sau lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch diễn ra từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975 và đã giành toàn thắng.

Sau khi Sài Gòn được giải phóng, các lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh còn lại ở miền Nam đã thừa thắng xông lên, tiến công và nổi dậy theo phương thức “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”. Đến ngày 2-5-1975, Châu Đốc - tỉnh cuối cùng ở miền Nam đã được giải phóng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn thể dân tộc Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi, non sông đất nước thu về một mối.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:45:59 PM »

2. Phải đương đầu chống lại kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), miền Bắc nước ta được giải phóng nhưng miền Nam còn tạm thời phải sống dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam), cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chưa giành được thắng lợi trọn vẹn, dân tộc ta lại phải tiếp tục chiến đấu để thực hiện ước vọng cháy bỏng: độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia. Nhưng đương đầu với đế quốc Mỹ và để thắng được Mỹ rõ ràng không phải là điều đơn giản.

Là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, dân số cả nước chỉ bằng 1/6 dân số nước Mỹ; giá trị tổng sản phẩm hằng năm (của miền Bắc) chỉ bằng 1/1.000 của nước Mỹ; lực lượng so sánh về quân sự giữa ta và Mỹ, nhất là trong những năm đầu chiến tranh hết sức chênh lệch: lực lượng vũ trang tập trung của ta ít hơn đối phương nhiều lần, lại yếu hơn về trang bị vật chất - kỹ thuật, đặc biệt về vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh… đây quả là một thử thách hết sức cam go đối với quân và dân ta.

Trong khi đó, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ đã trở thành một nước tư bản hùng mạnh nhất thế giới, cả về kinh tế và quân sự. Thông qua chiến lược toàn cầu, Mỹ tập trung sức mạnh tài chính, vũ khí, kỹ thuật, phương tiện chiến tranh và quyết tâm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới của mình bằng sức mạnh quân sự, trong đó chiến trường Việt Nam được xác định là tâm điểm, là nơi thử nghiệm chiến lược toàn cầu phản cách mạng đầy tham vọng của đế quốc Mỹ.

Trong thời gian gây chiến ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã đưa những nhà chính trị được coi là lỗi lạc, những tướng lĩnh được xếp vào hạng tài ba, những nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm để điều hành cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn phải kể đến hàng trăm viện khoa học, hàng ngàn trung tâm nghiên cứu về chiến tranh, một bộ máy khổng lô các phương tiện thông tin truyền thông với hàng ngàn đài phát thanh, truyền thanh, mỗi tuần phát 1 triều giờ suốt 24/24 tiếng/ngày, tung ra một lượng thông tin xuyên tạc tràn ngập khắp hành tinh, lung lạc cả thế giới, hòng làm lay chuyển ý chí chống Mỹ của nhân dân ta và đánh lừa dư luận quốc tế.

Chiến trường Việt Nam vì thế đã trở thành nơi thử nghiệm các loại hinh chiến tranh trong chiến lược toàn cầu, đồng thời là nơi thử nghiệm các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, các thành tựu khoa học - kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã động viên tới mức cao nhất các lực lượng vật chất, các phương tiện và vũ khí hiện đại (trừ vũ khí nguyên tử), các trang thiết bị, phương tiện quân sự và nghệ thuật tác chiến để chống lại quân ta.

“Với cuồng vọng nghiền nát lực lượng cách mạng ở miền Nam và “đẩy lùi miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, đế quốc Mỹ đã tung vào nước ta một đội quân viễn chinh hơn 60 vạn tên gồm quân Mỹ và quân các nước chư hầu của Mỹ làm nòng cốt cho hơn một triệu quân ngụy (…). Ngoài ra, chúng còn dùng những phát minh khoa học, kỹ thuật mới nhất để gây vô vàn tội ác hủy diệt đối với nhân dân ta”(1).

Trong tình hình so sánh lực lượng như vậy, nên ta phải thực hiện chiến lược đánh lâu dài, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều về lực lượng vũ trang tập trung, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy yếu chống mạnh về vật chất kỹ thuật.

Đây là một thử thách cam go, quyết liệt chưa từng có, đòi hỏi Đảng và toàn thể nhân dân ta phải có quyết tâm rất cao, có bản lĩnh vững vàng, có trí thông minh, tài sáng tạo, có khoa học và nghệ thuật quân sự phát triển vượt bậc mới có thể chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.483.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:47:11 PM »

3. Đây là cuộc đọ sức sinh tử, hai bên vừa đánh, vừa thăm dò, tìm hiểu lẫn nhau

Tìm hiểu đối tượng tác chiến là việc làm rất cần thiết của bất cứ bên nào trong mỗi cuộc chiến tranh. Cũng vì vậy, khi thực hiện mưu đồ xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã phải vừa đánh, vừa thăm dò, vừa thí điểm từng bước các chiến lược chiến tranh của chúng.

Những chiến lược chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở nước ta không đơn thuần chỉ để thực hiện các mục tiêu xâm lược của chúng, mà còn nhằm vào những mưu đồ to lớn hơn, của cả phe đế quốc do Mỹ cầm đầu, nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và sự phát triển mau chóng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, răn đe phong trào đấu tranh của công nhân đang dâng cao trong các nước tư bản chủ nghĩa lúc đó.

Với việc tự nhận vai trò “lãnh đạo” của mình trong cái gọi là “bảo vệ thế giới tự do”, ngay từ khi Pháp bị sa lầy trong chiến tranh Đông Dương, một mặt đế quốc Mỹ ra tay giúp Pháp, mặt khác cũng tính sẵn một phương kế thay thế Pháp độc chiếm Đông Dương.

Sau khi thực dân Pháp thảm bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (7-1954), đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp và từ đó biến nước ta thành nơi thí điểm các chiến lược, chiến thuật của Mỹ, hòng đánh bại cách mạng Việt Nam và rút kinh nghiệm để đối phó với phong trào cách mạng ở những nước khác.

Âm mưu cơ bản của Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước ta, lập phòng tuyến ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Việt Nam, vì vậy trở thành mảnh đất thử thách sức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền ở Nhà Trắng và Lầu Năm Góc từng công khai thừa nhận. Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Mỹ muốn chứng tỏ rằng lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Tuy nhiên, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia có chủ quyền, nhân dân có bề dày truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, chiến trường lại nằm xa nước Mỹ tới hàng vạn dặm như Việt Nam, thì mưu đồ của đế quốc Mỹ không dễ gì mà thực hiện được, nhất là trong bối cảnh quốc tế vào những năm 50 của thế kỷ XX được coi là hoàn toàn bất lợi đối với Mỹ. Vì vậy, trong quá trình tiến hành chiến tranh, đế quốc Mỹ vừa đánh vừa thăm dò, vừa đánh vừa thí nghiệm các chiến lược, chiến thuật chiến tranh mới và thực hành leo thang từng bước.

Trên phạm vi thế giới, sau khi thất bại trong chiến lược “trả đũa ồ ạt” dựa vào vũ khí hạt nhân, từ đầu những năm 60 thế kỷ XX, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hành chiến lược “phản ứng linh hoạt”, chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các lực lượng xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ở những vùng có chọn lựa, mà Việt Nam là điểm nóng bỏng nhất theo quan điểm chiến lược của Mỹ.

Trên quy mô khu vực, sau chiến lược “chiến tranh đơn phương” (1954 - 1960), Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965) rồi chiến lược chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) để chống lại nhân dân ta. Đến khi bị quân và dân Việt Nam đánh đòn quyết định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) - một đòn tiến công làm “rung chuyển nước Mỹ”, “chấn động cả thế giới”, Mỹ phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với Việt Nam ở Pari, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam. Từ năm 1969, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh hòng cứu vãn sự thất bại và giành ưu thế trong cuộc đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Pari.

Tuy nhiên, sau những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta qua các cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở đường 9 - Nam Lào (từ ngày 30-1 đến ngày 23-3-1971); Toàn thắng 1-71 ở Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia (từ ngày 4-2 đến ngày 31-5-1971); Quang Trung 4 ở Bắc Tây Nguyên - khu vực ngã ba biên giới (từ ngày 27-2 đến ngày 16-4-1971), nhất là cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam (từ tháng 3 đến tháng 6-1972) và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ hai của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (từ ngày 6-4-1972 đến ngày 15-1-1973)..., chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ bị phá sản hoàn toàn; buộc chúng phải tuyên bố Mỹ hóa trở lại cuộc chiến tranh.

Ngày 14-12-1972, đế quốc Mỹ tuyên bố ngừng ném bom đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, rồi bất ngờ mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972), nhằm cố giành một thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải ký một hiệp định có lợi cho Mỹ. Rút cục, cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B.52 bị thất bại thảm hại, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15-1-1973) và ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Trước mưu đồ đen tối và những thủ đoạn chiến tranh nham hiểm, tàn bạo của đế quốc Mỹ, nhân dân ta, được sự ủng hộ to lớn của lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới đã luôn luôn nêu cao bản lĩnh, ý chí quyết tâm đánh giặc và thắng giặc, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc.

Đối mặt với một kẻ thù có tiềm lực về kinh tế và quân sự như đế quốc Mỹ, mỗi lần chúng tung ra những chiến lược chiến tranh mới, với những thủ đoạn tác chiến và các loại vũ khí mới, hiện đại đã gây cho ta không ít khó khăn, đã có nhiều lúc khiến chúng ta phải trăn trở, nhất là về tư tưởng và tâm lý. Nhưng cuối cùng, chúng ta đã vượt qua. Bằng quyết tâm cao và bằng sự dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, vừa đánh vừa thăm dò, rút kinh nghiệm, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của kẻ thù; thông qua thực tiễn chiến đấu và những diễn biến thực tế trong cuộc đọ sức trên chiến trường, chúng ta đã tổng kết, đúc rút ra được những kết luận quan trọng, từng bước phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm, tiến lên đánh bại kẻ thù.

Hành động một cách nhất quán theo quan điểm tích cực, hợp lý, đó chính là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đúng như Trung ương Đảng đã tổng kết tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV: “trong một cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ vừa đánh vừa dò, vừa đánh vừa thí nghiệm các chiến lược, chiến thuật của chúng, một cuộc chiến tranh leo thang từng bước, không có tiền lệ trong lịch sử, thì việc hiểu địch, hiểu ta là một quá trình nhận thức ngày càng sâu hơn, sát hơn, rõ ràng hơn, chắc chắn hơn thông qua thực tế chiến đấu và những diễn biến cụ thể của cuộc đọ sức trên chiến trường. Trên cơ sở phương hướng chiến lược đúng, hãy làm đi rồi thực tiễn sẽ cho phép ta hiểu rõ sự vật hơn nữa”(1).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.489.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Tám, 2014, 10:24:46 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:48:52 PM »

4. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh có quy mô lớn, dài ngày và ác liệt nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ thực sự là một thử thách khốc liệt, phức tạp, kéo dài nhất giữa bạo lực cách mạng và phản cách mạng trên thế giới nửa sau thế kỷ XX. Đây là một cuộc chiến tranh có tính chất toàn diện, điển hình về các mặt, về quy mô to lớn, về tính chất cực kỳ hiểm độc. Suốt 21 năm (1954 - 1975), năm đời tổng thống Mỹ đã kế tiếp nhau vạch kế hoạch nhằm thực hiện mưu đồ: “tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác”(1).

Để thực hiện âm mưu trên đây, đế quốc Mỹ đã tung vào chiến trường Việt Nam một đội quân viễn chinh hơn 60 vạn tên, gồm quân Mỹ và quân thuộc năm quốc gia đồng minh của Mỹ (Nam Triều Tiên: 50.000, Thái Lan: 13.000, Ôxtrâylia: 7.000, Philíppin: 2.000, Niu Dilân: 600) làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Riêng với quân chiến đấu Mỹ, chúng đã huy động lúc cao nhất tới 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân. Nếu tính cả số quân đóng tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan, Philíppin… và trên Hạm đội 7 tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì số lượng lên tới hơn 80 vạn người. Và trong cả cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ đã huy động tới 6.600.000 lượt binh sĩ thay phiên nhau tham chiến, ném xuống chiến trường Đông Dương 7,8 triệu tấn bom, gấp hơn 3 lần số bom Mỹ sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai (2,1 triệu tấn); tiêu tốn 676 tỷ đôla (trong khi cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ chỉ tiêu tốn 54 tỷ đô la, Chiến tranh thế giới thứ hai cũng chỉ là 341 tỷ đôla). Đồng thời, chính quyền Mỹ còn huy động tới 22.000 xí nghiệp với gần 6 triệu công nhân công nghiệp, hơn 1/3 số nhà khoa học và 260 trường đại học tham gia vào việc nghiên cứu chiến lược chiến tranh, chế tạo, sản xuất các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh để phục vụ cho tác chiến trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương(2).

Có thể thây, cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam có tính chất toàn diện và điển hình về các mặt về quy mô to lớn, có tính chất dã man, hiểm độc. Riêng về quân sự, Mỹ đã sử dụng một lực lượng khổng lồ vào cuộc chiến tranh lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai; sử dụng tất cả các loại vũ khí, kĩ thuật hiện đại, trừ vũ khí nguyên tử; đã cử những tướng lĩnh và nhà chính khách ngoại giao tài giỏi vào trận. Mỹ đã không từ một thủ đoạn xảo quyệt, độc ác, dã man nào trong cuộc chiến tranh. Nhưng cuối cùng Mỹ đã phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận thất bại cay đắng của một siêu cường quốc từ trước thời điểm đó chỉ toàn chiến thắng.

Đương đầu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra, gần 30 triệu đồng bào và chiến sĩ cả nước, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí minh đứng đầu đã đoàn kết một lòng, nêu cao quyết tâm vì hòa bình, độc lập dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia chiến đấu chống Mỹ đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Hai mươi mốt năm ròng, đã có biết bao thế hệ con em đồng bào các dân tộc khắp mọi vùng, miền cả nước nối tiếp nhau ra trận, khắc sâu trong tâm khảm lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Cả nước rộn rã lên đường. Nhân tài, vật lực được huy động tới mức cao nhất cho chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Lớp này ngã xuống, lớp sau tiếp bước đứng dậy kiên cường, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Gần 2 triệu tấn vật chất các loại, hàng triệu lượt người của hậu phương miền Bắc được vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam chiến đấu, chiến thắng quân thù, 175.000 thanh niên xung phong miền Bắc ngày đêm có mặt phục vụ chiến đấu trên các trận tuyến. Để có được thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh ái quốc này, tính chung trong 30 năm (1945 - 1975), đã có 1.100.000 con em của dân tộc Việt Nam ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, 300.000 người mất tích trong chiến đấu, 2.000.000 người dân bị địch giết hại, 2.000.000 người khác bị tàn tật, 2000.000 người bị nhiễm chất độc da cam.

Cũng trong cuộc chiến đấu này, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ phía các nước xã hội chủ nghĩa - một cuộc chiến tranh chính nghĩa đã tập hợp được sự ủng hộ cực kỳ rộng rãi và mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới. Nhân loại tiến bộ đứng hẳn về phía nhân dân Việt Nam, dành cho Việt Nam những tình cảm sâu sắc, sự ủng hộ vật chất và tinh thần to lớn, biểu dương cuộc chiến đấu của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca trong thế kỷ XX. Các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam tổng cộng 2.362.682 tấn vật chất các loại, trị giá hơn 7 tỉ rúp và 1 tỉ đôla. Bên cạnh sự giúp đỡ về vật chất, trong những năm khói lửa chiến tranh khốc liệt diễn ra khắp hai miền đất nước, nhiều chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Hunggari..., và một số đơn vị bộ đội hậu cầu Trung Quốc và một bộ phận bộ đội không quân Triều Tiên đã từng sát cánh chiến đấu, lao động cùng với quân và dân Việt Nam trên các lĩnh vực. Nhiều đồng chí trong số đó đã để lại một phần thân thể hoặc anh dũng hy sinh trên đất nước Việt Nam vì nghĩa tình quốc tế vô sản. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam ghi nhận và biết ơn sâu sắc sự đóng góp và hy sinh cao quý đó.

Như vậy, cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc Việt Nam là một điển hình trên thế giới nửa cuối thế kỷ XX, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (20-7-1968): “Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất toàn thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn”(3).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.478-479.
(2) Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.489-508.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.373-374.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:50:04 PM »

III - TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Là cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và ác liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhân dân ta đã phải không ngừng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống hết kẻ thù xâm lược này đến kẻ thù xâm lược khác để bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Do những điều kiện địa lý, lịch sử, kinh tế chi phối, tác động, từ cuối thế kỷ III trước Công nguyên, nhân dân Lạc Việt của nước Văn Lang và nhân dân Tây Âu sống ở phía bắc nước Văn Lang đã phải đứng lên chống quân xâm lược Tần.

Từ đầu thế kỷ II trước Công nguyên, những người dân Việt - Âu Lạc lại đứng trước một thử thách lớn lao và lâu dài, chống lại sự xâm lược và đô hộ trong hơn một nghìn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc. Theo ghi chép có phần chưa thật đầy đủ của sử cũ, nhưng cũng đã cho thấy rằng, trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đã có 22 cuộc nổi dậy với quy mô lớn, trong đó có nhiều cuộc diễn ra trên phạm vi toàn quốc, tiêu biểu nhất là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40), Bà Triệu (248), Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (khoảng 776), Khúc Thừa Dụ (905)...

Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, khi đã giành được nền độc lập tự chủ, nhân dân ta lại tiếp tục phải đứng lên chống lại cuộc xâm lược của các đạo quân hùng mạnh như: Tống (thế kỷ X - XI), Mông - Nguyên (thế kỷ XIII), Minh (thế kỷ XV) và Xiêm, Thanh (thế kỷ XVIII).

Cuộc đấu tranh chống xâm lược và ách cai trì của thực dân Pháp, rồi Pháp - Nhật suốt từ năm 1858 đến năm 1945 của nhân dân ta (từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam) cuối cùng đã giành được thắng lợi. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945). Tuy nhiên, ngay sau đó, nhân dân ta lại phải bước vào cuộc kháng chiến gian khổ suốt chín năm (1945-1954) chống thực dân Pháp để bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Tất cả những thế lực ngoại xâm mà nhân dân ta đã từng phải đương đầu chống lại, đều là những đối thủ có sức mạnh vượt trội về quân sự, từng “làm mưa làm gió” ở nhiều quốc gia, châu lục, thậm chí còn chưa từng nếm mùi thất bại, từ các đế chế phong kiến phương Bắc thời cực thịnh (Tần, Hán, Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh) đến các đế quốc phương Tây (Pháp, Mỹ). Trong đó, đế quốc Mỹ là kẻ thù được xác định mạnh nhất, hung bạo nhất của thời đại. Chúng có tiềm lực kinh tế - quân sự lớn hơn ta rất nhiều lần. Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, vì vậy là thử thách lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam, đe dọa thủ tiêu hoàn toàn những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được, đưa dân tộc ta trở lại cuộc đời nô lệ dưới hình thức mới. Quân và dân Việt Nam chấp nhận cuộc thử thách này với tinh thần dũng cảm, không sợ Mỹ, dám đánh và quyết thắng Mỹ.

Việt Nam trở thành tâm điểm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mất Việt Nam, đế quốc Mỹ có thể bị mất nhiều nơi trên thế giới, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á, nơi Mỹ có nhiều lợi ích về chính trị, kinh tế và quân sự.

Đàn áp và đánh bại được Việt Nam, đế quốc Mỹ vừa đánh bại và răn đe được phong trào giải phóng dân tộc, đánh bại được chủ nghĩa xã hội ở khu vực, vừa củng cố được vị thế trong các nước đồng minh của Mỹ.

Việt Nam, vì thế trở thành nơi đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa độc lập dân tộc và ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa sức mạnh của bom đạn, sắt thép và bản lĩnh, ý chí con người.

Để thực hiện dã tâm xâm lược của mình, đế quốc Mỹ đã ném vào cuộc chiến tranh Việt Nam tiền bạc, vũ khí, kỹ thuật… nói chung là tất cả các nguồn lực mà Mỹ có thể sử dụng; phát huy đến mức tối đa sức mạnh của lục quân, không quân, hải quân; sử dụng những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, với chất lượng cao nhất (trừ vũ khí hạt nhân); tiêu phí một lượng ngân sách khổng lồ, nhiều hơn cả chi phí trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thực hành những chiến lược phản cách mạng hiểm độc nhất (4 chiến lược, qua 5 đời tổng thống, 8 lần đổi bộ trưởng quốc phòng, 4 lần đổi tướng tổng tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2014, 04:50:27 PM »

Phát huy truyền thống yêu nước và những kinh nghiệm được đúc kết qua các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của dân tộc, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kiên cường tiến công địch toàn diện, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt lần lượt đánh bại cả bốn chiến lược chiến tranh của Mỹ, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Vượt qua thời kỳ khó khăn từ năm 1954 đến năm 1959, dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 (5-1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công kể từ phong trào Đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960 trên toàn miền Nam, đánh bại chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ.

Cuối năm 1964, những cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra sau phong trào Đồng khởi, nhất là sau chiến thắng Ấp Bắc (1963), phát triển thành một cuộc chiến tranh cách mạng, vừa đấu tranh quân sự, vừa đấu tranh chính trị, kết hợp đánh địch trên địa bàn rừng núi và nông thôn đồng bằng, cùng với phong trào đấu tranh quyết liệt ở các đô thị trên khắp miền Nam đã đẩy chế độ phát xít Ngô Đình Diệm - công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ đến bờ vực sụp đổ và làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.

Để cứu vãn tình thế nguy cấp, năm 1965, đế quốc Mỹ tiếp tục leo thêm nấc thang mới - triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học so sánh giữa ta và đối tượng, các lợi thế của cách mạng Việt Nam, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên toàn dân mà nòng cốt là các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam tiếp tục giữ vững chiến lược tiến công, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc và ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất của nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em và chính cả nhân dân tiến bộ Mỹ, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc.

Tháng 1-1968, giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đang ở nấc thang cao nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị Trung ương lần thứ 14, đề ra chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên khắp miền Nam, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968 của quân và dân ta nổ ra và giành thắng lợi oanh liệt đã làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ, buộc chính quyền Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phá với đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari.

Dù vậy, với bản chất cực kỳ ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn chưa cách mạng chịu thất bại. từ năm 1969, chúng chuyển sang thực hiện học thuyết Níchxơn và triển khai chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, đồng thời tiến hành “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.

Mỹ đã sử dụng tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao rất xảo quyệt hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta nói riêng và nhân dân các nước Đông Dương nói chung.

Để chống lại chiến lược chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào, quân và dân Campuchia anh em chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi oanh liệt trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia (1971). Tiếp đó, Quân giải phóng miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên khắp chiến trường miền Nam, giáng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa những đòn chí tử, phá vỡ nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của chúng ở Trị - Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, làm thất bại một phần quan trọng chương trình bình định nông thôn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Trên miền Bắc, với tinh thần chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chúng ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công xuất sắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam và rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM