Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười, 2019, 11:08:39 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 56451 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:12:23 AM »

Như vậy, thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ được thiết lập thành hệ thống hoàn chỉnh bởi lực lượng phòng không và phòng thủ bờ biển gồm đủ ba thứ quân với hậu thuẫn vững chắc của toàn dân - nhân tố quyết định bảo đảm cho quân và dân miền Bắc phát huy tính sáng tạo trong cách đánh sử dụng hiệu quả những vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có trong biên chế để đánh thắng mọi thủ đoạn đánh phá, mọi thứ vũ khí, khí tài hiện đại của không quân và hải quân Mỹ.

Đồng thời với thế trận phòng không nhân dân, thế trận giao thông vận tải cũng được bảo đảm bởi các lực lượng công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân... không ngừng gia tăng vả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1965 đến năm 1968, về công bình, số trung đoàn tăng 1,2 lần, tiểu đoàn tăng 2 lần, đại đội tăng 16 lần; bên cạnh đó là hàng ngàn tổ đội công binh địa phương ở khắp miền Bắc, nhất là những địa bàn có những tuyến giao thông huyết mạch xuyên qua. Cùng với lực lượng, các phương tiện và thiết bị bảo đảm cho bắc cầu, vượt sông tăng 2,6 lần. Cũng khoảng thời gian trên, lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, các quân khu tăng từ 4 đến 5 lần. Đặc biệt, vào những thời điểm quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như các năm 1968, 1972, 1975, hầu như toàn bộ lực lượng và phương tiện vận tải của nhà nước và nhân dân được huy động phục vụ chiến trường. Thêm vào đó là khoảng 92.000 công lao động mỗi ngày (chiếm 10,5% tổng số nhân khẩu đang ở độ tuổi lao động miền Bắc - 8.692.100 người) phục vụ chiến đấu: tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự trận địa, cứu chữa và chăm sóc thương binh, bệnh binh... là những bằng chứng sống động phản ánh tinh thần chiến đấu quên mình vì sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của quân và dân ta trên hậu phương miền Bắc trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Với ý chí và nghị lực phi thường của cả dân tộc, nên dù cho chiến tranh ngày càng khốc liệt, tổn thất về người và vật chất ngày càng lớn nhưng miền Bắc vẫn trụ vững và ổn định, hoạt động sản xuất cơ bản được giữ vững, trong đó năng suất cây trồng, vật nuôi, kinh tế địa phương... có bước phát triển so với những năm trước chiến tranh phá hoại của Mỹ. Đời sống của nhân dân miền Bắc, kể cả ở tuyến lửa Quân khu 4 cơ bản không bị xáo trộn lớn. Những nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vẫn được đảm bảo. Tuy hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, nhất là cầu cống, bến phà, cảng sông biển... thường xuyên bị không quân và hải quân Mỹ tập trung đánh phá ác liệt, song chúng không thể ngăn được sức vận chuyển nhân lực, vật lực đáp ứng cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang ta ở cả miền Bắc, miền Nam cũng như sự giúp đỡ của cách mạng Lào và Campuchia anh em.

Ngay từ buổi đầu xâm lược Việt Nam, Mỹ đã xác định mục tiêu của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc là đánh quỵ tinh thần và ý chí kháng chiến của nhân dân ta. Song, chúng đã thua cuộc. Trong cả hai lần chống chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 4.181 máy bay tiêm kích, cường kích các loại hiện đại vào bậc nhất thời bấy giờ, kể cả pháo đài bay chiến lược B.52, bắn chìm, bắn cháy hàng trăm tàu chiến các loại. Với tổn thất nặng nề này, ý chí và nỗ lực chiến tranh của chính người Mỹ đã suy giảm nghiêm trọng, thậm chí cả với việc việc mở cuộc tập kích không quân chiến lược quy mô lớn vào Hà Nội - Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện mưu đồ đàm phán trên thế mạnh, rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự của giới lãnh đạo chóp bu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc không thực hiện được. Như vậy, “ném bom miền Bắc Việt Nam chẳng những không làm cho xương sống của Hà Nội mềm đi mà còn làm cho nó cứng thêm lên”(1).

Trên phương diện chiến lược, hành động đánh phá miền Bắc là một bộ phận quan trọng của chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Bởi vậy, chính việc đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân và hải quân - hai lực lượng chiến lược trọng yếu nhất của quân đội Mỹ, quân và dân ta không những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh của quân đội Mỹ, mà còn thực sự là đòn quân sự quan trọng cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh bại các chiến lược chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Đặc biệt hơn, với việc đánh bại cuộc tập kích không quân chiến lược của Mỹ vào cuối tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, quân và dân miền Bắc đã tạo nên một thắng lợi có tính quyết định để chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính cựu Ngoại trưởng Mỹ Đin Raxcơ (Dean Rusk) đã thú nhận; “Đúng là người Bắc Việt nam có thể đương đầu với mọi loại vũ khí có trong kho vũ khí của Mỹ, trừ vũ khí nguyên tử, khối lượng bom Mỹ ném xuống miền Bắc Việt Nam đã lớn gấp bảy lần khối lượng chất nổ ném trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thế mà họ đã chiến đấu trong suốt 30 năm không hề có dấu hiệu bỏ cuộc”(2).

Chiến thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, đồng thời ra sức xây dựng, củng cố và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế... tiếp tục làm cho đất nước và con người không ngừng đổi mới, hậu phương miền Bắc đã chứng tỏ được sức mạnh phi thường và bản lĩnh kiên định của mình. Đây là thành quả của khối đại đoàn kết toàn dân, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam - yếu tố nền tảng tiên quyết tạo nên sức mạnh bảo vệ miền Bắc và đảm bảo cho miền Bắc phát huy đầy đủ và thường xuyên vai trò quyết định của hậu phương chiến lược đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


(1) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.70.
(2) Hồi ức chiến tranh Việt Nam: Con trai cựu Ngoại trưởng Dean Rusk nói thay lời cha “Không thể đánh bại được một dân tộc như thế” - Quang Doãn (giới thiệu và biên dịch), Báo Quân đội nhân dân, số 17892, ngày 6-2-2011, tr.7.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:16:14 AM »

Trên cơ sở nền tảng chế độ mới được xây dựng trong một thập kỷ sau hòa bình (1954 -1964), tiếp tục được củng cố, phát triển và bảo vệ vững chắc trong một thập kỷ kế tiếp (1965 - 1975), đồng thời với việc thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thấu triệt tính chất chính nghĩa, mức độ quyết liệt, lâu dài, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò và trách nhiệm nặng nề, vinh quang của hập phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã củng cố được niềm tin và quyết tâm kháng chiến; huy động kịp thời và hiệu quả sức người, sức của phù hợp với thực tế của từng địa phương trong từng thời kỳ cụ thể đáp ứng cho kháng chiến.

Một trong những biện pháp chiến lược được tiến hành có tính chất xuyên suốt trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ trên hậu phương miền Bắc của Đảng và Nhà nước ta là chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, các ngành, các địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, nhất là hợp tác xã sản xuất nông nghiệp - thành phần sản xuất lớn nhất trong cơ cấu kinh tế đất nước. Đây là điểm mấu chốt để hậu phương miền Bắc chi viện sức người, sức của ngày càng cao cho tiền tuyến miền Nam. Đặc biệt để duy trì và ổn định đời sống cho toàn dân, cùng với thời gian, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện tốt nhiều chính sách về kinh tế, văn hóa - xã hội, về chế độ tiền lương, phân phối thu nhập, thuế nghĩa vụ...

Đối với cán bộ, công nhân viên chức thuộc biên chế nhà nước, bên cạnh chế độ lương còn được hưởng chính sách cung cấp lương thực, thực phẩm, chất đốt, nhu yếu phẩm theo định lượng xác định theo từng đối tượng cụ thể thông qua tem phiếu với mức giá thống nhất, rẻ và ổn định. Với bộ phận cư dân thành thị cũng được mua định lượng lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu theo quy định, với giá cả thống nhất và thấp hơn với thị thị trường tự do. Với nông dân nông thôn, hợp tác xác nông nghiệp thực hiện việc phân phối lương thực cho hộ gia đình xã viên thông qua công điểm, kết hợp với việc phân phối lương thực theo nhu cầu thiết yếu theo định mức suất ăn cho từng nhân khẩu (tính theo độ tuổi). Mặt khác, việc học hành, khám chữa bệnh cho cán bộ, công chức và nhân dân được Nhà nước bao cấp phần lớn kinh phí... Trong bối cảnh miền Bắc vừa phải tiến hành chống chiến tranh phá hoại khốc liệt của Mỹ vừa phải đáp ứng nhu cầu sức người, sức của ngày một tăng cho tiền tuyến miền Nam, thì những chính sách đảm bảo lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm thiết yếu cho các thành phần xã hội miền Bắc lúc bầy giờ thực sự là những quyết sách chiến lược kịp thời, rất cần thiết của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Các cấp bộ đảng, chính quyền, mặt trận và các tổ chức quần chúng từ thành thị đến nông thôn đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc thông qua những hành động cụ thể, thiết thực như: giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống, làm ăn hằng ngày, hoặc giữa những vùng ít bị đánh phá với những vùng trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ; rồi đến việc chăm sóc, giúp đỡ những gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội về mọi mặt đã trở thành việc làm thường nhật, tự nguyện đầy trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể xã hội và mỗi gia đình. Đó là chưa kể tới những chính sách của Đảng, Nhà nước và từng địa phương, bộ ngành với những đối tượng ưu tiến. Đây chính là nguyên nhân cắt nghĩa vì sao hầu hết nam giới từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến miền núi, từ người Kinh đến người Thượng đến tuổi trưởng thành đều hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ; đồng thời, toàn dân đã dốc lòng, dốc sức sản xuất và tiết kiệm để dồn của cải cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng quân thù. Theo tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ, số lượng nhân lực và khối lượng vật lực từ miền Bắc chi viện cho miền Nam không ngừng tăng lên theo từng năm, nhất là vào những thời điểm quyết định của cuộc chiến.

Về sức người, năm 1959, miền Bắc bắt đầu thực hiện nghĩa vụ chi viện cho miền Nam, với 542 cán bộ, chiến sĩ thì đến năm 1964 đã lên tới 17.475 người. Khi quân và dân ta ở miền Nam thực hiện những đòn tiến công chiến lược quyết định thì số lượng nhân lực huy động từ hậu phương miền Bắc tăng cường cho các hướng chiến trường ở miền Nam là 141.081 người (1968), 152.974 người (1972) và đến năm 1975 - năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng số người huy động cho quốc phòng chiếm 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc, trong đó 60 - 65% phục vụ trong lực lượng vũ trang. Chỉ 4 tháng đầu năm 1975, số lượng cán bộ, chiến sĩ được lệnh hành quân thần tốc vào miền Nam đã lên tới 110.000 người. Giai đoạn 1973 - 1975, 50% quân số chủ lực Quân giải phóng miền Nam là từ hậu phương miền Bắc tăng cường vào(1). “Đối với nhiều quan sát viên thế giới và ngay cả đối với những người Mỹ đã từng tham chiến, “Quân đội chính quy Bắc Việt Nam là những bộ binh tài giỏi nhất mà trước đây chưa từng thấy trên thế giới”. Chiến công của quân đội Bắc Việt Nam đánh thắng một siêu cường là một trong những sự kiện mang tính anh hùng ca trong lịch sử loài người; chiến công của họ là chiến công của cả một dân tộc, có sự đóng góp của otàn dân tộc. Trừ phi làm nổ tung họ ra khỏi mặt đất này, làm sao chúng ta có thể đánh bại được một dân tộc như thế!”(2). Đó là chưa kể hàng chục vạn người khác phục vụ trên các lĩnh vực vận tải, mở đường, đảm bảo giao thông và nhiều hoạt động khác cũng được huy động từ miền Bắc vào.

Bên cạnh nguồn nhân lực, phần lớn vũ khí, đạn, trang thiết bị quân sự, thuốc và dụng cụ y tế, đến lương thực, thực phẩm… đáp ứng cho nhu cầu tác chiến ở chiến trường miền Nam đều từ hậu phương miền Bắc chuyển vào (gồm cả những vũ khí, phương tiện, thiết bị quân sự của các nước viện trợ cho nhân dân ta đánh Mỹ xâm lược cũng được hậu phương miền Bắc tiếp nhận, nghiên cứu khai thác sử dụng, cải tiến cho phù hợp với cách đánh của ta rồi chuyển vào miền Nam) với khối lượng không ngừng tăng lên mỗi năm. Nếu như trong 5 năm đầu 1959 - 1964 mới chuyển vào Khu 5 được hơn 2.500 tấn, thì chỉ 7 tháng mùa khô 1967 - 1968 đã chuyển 63.024 tấn vật chất giao cho các chiến trường bảo đảm cho Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam Mậu Thân 1968; bảo đảm vật chất cho bộ đội hành quân đạt 31.054 tấn(3). Đến mùa khô 1971 - 1972, vận chuyển cho các chiến trường và bảo đảm hành quân là 64.785 tấn hàng, đạt 145% chỉ tiêu kế hoạch; mặt khác còn khai thác được 15.483 tấn từ Đông Bắc Campuchia(4). Trong hơn 2 năm chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, toàn tuyến 559 đã vận chuyển bàn giao cho các chiến trường 413.450 tấn vũ khí, hàng hóa các loại, trong đó có nhiều vũ khí hạng nặng như pháo cơ giới tầm xa, xe tăng… Tổng cộng trong 16 năm (1959 - 1975), tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển 1.349.060 tấn hàng hóa các loại (gồm cả số hàng giao cho các chiến trường, bảo đảm hành quân và sử dụng, vả cả tổn thất dọc đường)(5). Khi nói tới sự vận chuyển sức mạnh của hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam chúng ta không thể không nhắc đến đường Hồ Chí Minh trên biển - tuyến vận tải quân sự chiến lược từng được ghi nhận như một huyền thoại. Với khối lượng vũ khí và hàng hóa quân sự vận chuyển từ tháng 10-1962 đến tháng 3-1975 là 97.596 tấn và khoảng 300 cán bộ chi viện cho chiến trường; và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, vận chuyển được 8.721 tấn vũ khí và 17.475 cán bộ, chiến sĩ hành quân thần tốc vào giải phóng miền Nam(6), nếu chỉ đơn thuần về số lượng thì không lớn; nhưng số vũ khí này được chuyển đến những khu vực chiến trường mà đường Hồ Chí Minh trên bộ chưa vươn tới được (chiến trường Nam Bộ, ven biển Khu 5). Như vậy, đường Hồ Chí Minh trên biển thực sự là một hình ảnh sống động nữa phản ánh bản lĩnh, ý chí và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Theo số liệu thống kê của tổng kết 30 chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc: trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% nhiên liệu, 65% thuốc và dụng cụ y tế, 85% phương tiện vận tải đáp ứng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là được huy động từ miền Bắc, khẳng định vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc đã và sẽ là bài học lịch sử quý giá và thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng bảo vệ Tổ quốc hôm nay và ngày mai.


(1) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.174.
(2) Hồi ức chiến tranh Việt Nam: Con trai cựu Ngoại trưởng Dean Rusk nói thay lời cha “Không thể đánh bại được một dân tộc như thế”, Quang Doãn (giới thiệu và biên dịch), Tlđd, tr.7.
(3), (4) Xem Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.287, 497.
(5) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.318.
(6) Xem Quân chủng Hải quân: Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 - 2011), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.556.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:19:51 AM »

II - XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ
CĂN CỨ CÁCH MẠNG MIỀN NAM - NHÂN TỐ TRỰC TIẾP BẢO ĐẢM
THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với việc xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động Việt Nam còn chăm lo xây dựng và mở rộng những căn cứ, vùng giải phóng ngay tại chiến trường. Đó là hậu phương tại chỗ có tác dụng rất lớn trong việc duy trì và phát triển chiến tranh nhân dân địa phương, tạo thế đứng chân vững chắc cho các lực lượng cách mạng, chuẩn bị thời cơ cho những đòn đánh lớn của bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương khi thời cơ đến.

1. Xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ

Ở miền Nam, sau Hiệp định Giơnevơ, các lực lượng vũ trang tập kết ra Bắc, các vùng tự do, căn cứ kháng chiến trở thành những vùng bị chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Các cơ sở cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều cán bộ kháng chiến, gia đình cách mạng bị địch trả thù, khủng bố.

Trước tình hình đó, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết chỉ rõ: “Cần củng cố các lực lượng vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa”(1). Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền tổ chức sản xuất để tự túc và tự vệ. Do điều kiện liên lạc rất khó khăn, nghị quyết không được truyền đạt tới khắp các địa phương miền Nam, nhưng trước sự khủng bố của đối phương, một số địa phương đã tổ chức lại lực lượng vũ trang tự vệ, xây dựng căn cứ địa cách mạng(2). Từ giữa năm 1958, các “làng rừng” ở U Minh, các căn cứ kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp (như chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười, Rừng Sác...) với các “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”, “làng độc lập”, “túi dân tản cư”, các “khu bất hợp pháp”, “trại bí mật” ở vùng rừng núi Liên khu 5 được tổ chức, xây dựng lại thành các căn cứ chiến đấu, căn cứ địa cách mạng.

Sở dĩ những căn cứ chiến đấu, căn cứ địa cách mạng được phục hồi, xây dựng một cách nhanh chóng như vậy là bởi nhân dân miền Nam luôn tin yêu Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Tình cảm đó không những không một thế lực nào, không một thủ đoạn nào dù tàn bạo và thâm độc đến đâu có thể dập xóa mà còn luôn luôn được bồi đắp, trở thành nhân tố cốt lõi, thành nền móng cho việc xây dựng, mở rộng hậu phương tại chỗ trong chiến tranh cách mạng miền Nam(3).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm và lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam nói chung, mỗi người dân miền Nam - thành đồng Tổ quốc nói riêng, được phát huy cao độ. Chính lòng yêu nước, thương nòi, căm thù giặc đã làm dấy lên quyết tâm không đội trời chung với giặc, không hợp tác với giặc. Những người thoát ly đã rút vào rừng núi, bưng biền khôi phục, xây dựng các căn cứ để chiến đấu lâu dài với đối phương. Những người ở lại âm thầm ủng hộ cách mạng, xây dựng các cơ sở cách mạng, các căn cứ “lõm” nuôi giấu cán bộ và tàng trữ vũ khí, quân trang, quân dụng. Nhân dân tìm mọi cách ủng hộ về vật chất, thậm chí cho con em mình mang cả tiền bạc, vũ khí ra vùng căn cứ để tham gia cách mạng.

Hậu phương tại chỗ miền Nam được xây dựng khi mà hậu phương chiến lược miền Bắc xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc. Hậu phương lớn miền Bắc không chỉ cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam mà còn là chỗ dựa tinh thần cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Miền Bắc đã dành những hạt gạo thơm ngon nhất, gửi những người con ưu tú nhất cho miền Nam. Trong khó khăn, gian khổ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam vẫn trông về miền Bắc - một chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ, công bằng, tốt đẹp đang trở thành hiện thực “mà nuôi chí bền”(4). Sự chi viện to lớn, toàn diện, liên tục về vật chất và tinh thần ấy đã tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam ngày càng phát triển, vùng giải phóng không ngừng mở rộng.

Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, ở miền Nam, ngoài lực lượng tập kết ra Bắc, chúng ta đã sắp xếp, bố trí lực lượng ở lại và tiến hành cất giấu vũ khí, với tinh thần “ra đi là hắng lợi, ở lại là vinh quang”. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm được bố trí ở lại là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh đòi địch thi hành hiệp định. Ở nhiều địa phương (Bạc Liêu, Rạch Giá, Vĩnh Long, Long An, Sóc Trăng, Kiến Tường...), việc cất giấu vũ khí(5), muối và một số vật chất cần thiết cho hoạt động sau này được bí mật xúc tiến. Ngoài vật chất, vũ khí, một số thợ cơ khí, công nhân quân giới được bố trí ở lại để có thể nhanh chóng tổ chức lực lượng sửa chữa, chế tạo các loại vũ khí thô sơ. Dù số lượng không nhiều và phân bố rải rác nhưng vũ khí, lực lượng để lại theo kế hoạch “ém người chôn súng” là một trong những điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến ban đầu.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr.228.
(2) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.216.
(3) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.182.
(4) Mượn ý thơ trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu: “Ở đâu đau đớn giống nòi. Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”.
(5) Xem Nguyễn Đông Tảo: Những mẩu chuyện về chôn súng đào súng, Thông tin Lịch sử quân sự, số 7-1991, tr.22-23.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:21:10 AM »

Bên cạnh đó, ngay sau hiệp định Giơnevơ, Xứ ủy Nam bộ và Khu ủy Khu 5 đã chỉ đạo việc mở các “đường giao liên bí mật”, thành lập các Ban miền Tây, Ban căn cứ để duy trì sự liên hệ về mặt tổ chức đảng giữa các vùng nhằm xây dựng các địa bàn đứng chân của lực lượng cách mạng. Nhờ chủ trương đó, ở nhiều địa phương, sự liên hệ giữa các cơ sở đảng vẫn được duy trì. Đường giao liên bí mật hình thành và ngày càng phát triển tạo điều kiện cho việc xây dựng tuyến hành lang, hệ thống căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền rừng núi và vùng giáp ranh những năm 1955 - 1956. Ở Khu 5, đến cuối năm 1955, đường dây liên lạc bắt đầu hình thành từ Bắc vào Nam, qua Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum..., vào tận các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Ở Nam Bộ, các tuyến liên lạc cũng được thiết lập, kết nối giữa các vùng rừng núi, đồng bằng và các đô thị.

Từ cuối năm 1956, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập các đội vũ trang tuyên truyền để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Ủy viên quân sự Xứ ủy Nam Bộ, đã từ U Minh về miền Đông để chỉ đạo việc xây dựng căn cứ địa và tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung. Từ năm 1967 trở đi, các đơn vị vũ trang tập trung xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm của Xứ ủy, các tỉnh và lực lượng du kích mật của các địa phương.

Cùng với quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang tập trung, yêu cầu xây dựng, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ thành hậu phương tại chỗ cho lực lượng cách mạng, cho các đơn vị vũ trang được đặt ra và giải quyết.

Đầu năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập khu căn cứ miền Đông trên cơ sở các căn cứ đã có từ thời kháng chiến chống Pháp, gồm hai khu: Khu A (Đông Bắc) là chiến khu Đ cũ được mở rộng ra Bình Long, Phước Long, Quảng Đức giáp biên giới Việt Nam - Campuchia và mở rộng lên phía bắc, tới tận ranh giới miền Trung; Khu B (Tây Bắc) là chiến khu Dương Minh Châu (bắc Tây Ninh) mở rộng lên sát biên giới Việt Nam - Campuchia, chuẩn bị địa bàn đứng chân cho Xứ ủy và nhiều cơ quan trọng yếu của cách mạng miền Nam; được gọi là căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc miền Đông Nam Bộ. Khu căn cứ này nằm ở vị trí đầu mối giao thông chiến lược từ miền Bắc vào Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tiện liên lạc với các quân khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định. Các đội tự vệ, du kích của các cơ quan trong căn cứ được thành lập, trở thành lực lượng tại chỗ phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động ở ngoài căn cứ, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Giữa năm 1958, Liên khu ủy Khu 5 họp hội nghị mở rộng quyết định xây dựng miền tây các tỉnh đồng bằng và khu vực Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng, gọi là căn cứ Tây Nguyên và Tây Trung Bộ. Hội nghị quyết định tổ chức lực lượng vũ trang và bán vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ và nhân dân. Sau hội nghị, việc xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng được xúc tiến mạnh mẽ. Các đơn vị vũ trang tập trung, các đội tự vệ và du kích mật đẩy mạnh hoạt động diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn vùng căn cứ và khu vực tiếp giáp với vùng đối phương kiểm soát. Các dân tộc Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông, canh phòng. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, các đội tự vệ vũ trang còn tổ chức sản xuất để tự túc lương thực, thực phẩm và có một phần dự trữ. Các đội nông binh được thành lập ở nhiều địa phương, tiêu biểu nhất là ở Quảng Ngãi. Ngoài chức năng làm nòng cốt trong việc bảo vệ và sản xuất ở các vùng căn cứ, các đội nông binh còn tổ chức tiếp nhận một số lương thực, thuốc men, muối được bí mật chuyển từ vùng đồng bằng lên, đồng thời tiến hành tích trữ gạo, muối, thuốc men… Các ban tự quản và ban cám sự được thành lập ở Gia Lai, Kon Tum, tây Quảng Ngãi nhằm quản lý mọi mặt vùng căn cứ, vùng làm chủ.

Đến cuối năm 1958, bên cạnh một số căn cứ có từ thời chống Pháp tiếp tục được duy trì, củng cố sau Hiệp định Giơnevơ, nhiều vùng căn cứ mới xuất hiện dọc những miền rừng núi nối với nhau bằng các đường dây liên lạc bí mật. Các vùng căn cứ này được thiết lập ở các tỉnh Tây Nguyên, miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5, khu vực Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, tạo thành thế đứng mới của cách mạng miền Nam.

Ở các vùng căn cứ, việc tăng gia sản xuất được tiến hành khẩn trương và tích cực để có thể tự túc được lương thực. Nhiều trại nông binh đã được thành lập rải rác khắp các vùng căn cứ để sản xuất tự túc và xây dựng, mở rộng căn cứ vững chắc. Nhân dân tích cực sản xuất để có lương thực ủng hộ cách mạng, hoặc tham gia phát rẫy trữ lúa cho cách mạng(1), đã giải quyết một phần khó khăn cho công cuộc kháng chiến cứu nước.


(1) Đồng bào các dân tộc thiểu số gọi là “rẫy cách mạng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:21:57 AM »

Từ khi có Nghị quyết 15 soi đường, các đơn vị vũ trang tăng cường các hoạt động diệt ác, phá tề, trừ gian, tiến công, bao vây, bức rút đồn bốt địch; hỗ trợ cho quần chúng đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở đồng bằng và rừng núi miền Nam: 800 xã trong số 1.202 xã ở Nam Bộ, 3.200 thôn, bản ở Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5. Tại đây, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của bọn phản động chia cho dân nghèo, tổ chức lực lượng tự vệ, vũ trang, vận động nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, tham gia bảo vệ vùng giải phóng.

Sau năm 1959, cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng và được củng cố vững chắc trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị.

Căn cứ địa, vùng giải phóng phát triển thành hậu phương gắn liền với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, xây dựng chế độ mới, là nơi tiếp nhận sự chi viện từ miền Bắc, đứng chân xây dựng lực lượng cách mạng, bàn đạp tiến công của lực lượng vũ trang, giành thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam(1). Trong suốt quá trình này, tùy điều kiện và tình hình cụ thể, quân và dân các địa phương miền Nam đã vận dụng nhiều biện pháp, sáng tạo nhiều hình thức, kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ của các lực lượng cách mạng miền Nam.

Xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị - quân sự là nhiệm vụ hàng đầu vì sự tồn tại và phát triển của các khu căn cứ, vùng giải phóng, địa bàn chiến lược...

Ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ, chúng ta thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, du kích, bộ đội địa phương làm nòng cốt cho toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu; xây dựng làng chiến đấu vừa sản xuất, vừa sẵn sàng đánh đối phương kịp thời, hiệu quả bằng mọi vũ khí sẵn có, bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ cho nhau; đồng thời, chăm lo xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh là những nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho hậu phương tại chỗ không ngừng mở rộng và phát huy vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến.

Năm 1960, toàn miền Nam có khoảng 12.000 bộ đội địa phương và 10.000 dân quân, du kích cùng hàng chục vạn dân quân tự vệ. Lực lượng này tiếp tục được tăng cường trong quá trình mở rộng vùng giải phóng. Đến năm 1965, ở miền Nam đã có 68.000 bộ đội địa phương và 137.000 dân quân du kích. Đây là lực lượng chính yếu cho việc phát động toàn dân tham gia phong trào đấu tranh chống phá âm mưu bình định của địch mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thất bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ

Bên cạnh dân quân, du kích, bộ đội địa phương, lực lượng chính trị của quần chúng được chú trọng phát triển. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh sự tương hỗ giữa nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, xây dựng cơ sở cách mạng với việc bảo vệ hậu phương tại chỗ. Khi nào và ở đâu, nhiệm vụ này được chú trọng thực hiện tốt thì khi ấy và ở đó, hậu phương tại chỗ được bảo vệ và mở rộng, thế trận chiến tranh được củng cố và phát triển.

Nòng cốt của lực lượng chính trị ở khắp miền Nam là những tổ chức chính trị của quần chúng do các cấp ủy đảng ở cơ sở lãnh đạo. Các tổ chức chính trị của quần chúng (Hội Nông dân giải phóng, Hội Lao động giải phóng, Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng, Hội Nhà giáo yêu nước…) tập hợp nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính và động viên mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và chính quyền, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Bên cạnh đó, ở một vài tỉnh miền Đông, Tỉnh ủy thành lập Ban Dân tộc thiểu số nhằm tập hợp lực lượng chính trị là đồng bào dân tộc, vận động đồng bào các dân tộc tham gia hoạt động cách mạng, làm cơ sở để lập thêm những căn cứ mới.

Ở nông thôn đồng bằng vùng đối phương chiếm, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta bền bỉ thực hiện “ba bám”, “bốn bám” tập hợp các tầng lớp nhân dân đấu tranh chính trị với đối phương thông qua các hoạt động có ý nghĩa thiết thực với quần chúng như đấu tranh chóng đối phương tịch thu ruộng đất xây căn cứ quân sự, bắn phá, cào ủi xóm làng, ruộng vườn, gom dân vào các trại tập trung, bắt lính, buộc đối phương phải bồi thường thiệt hại về tài sản và tính mạng cho nhân dân; tiến tới vận động thanh niên trốn lính, che giấu, bảo vệ lính trốn; rồi bao vây, bức rút đồn bốt đối phương. Qua đấu tranh, sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân vùng đối phương kiểm soát được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong các vùng bị đối phương chiếm đóng.


(1) Xem Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.218.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:22:31 AM »

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bảo đảm sức mạnh của hậu phương tại chỗ là việc xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh. Hệ thống chính quyền ở các vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm đều được các cấp ủy đảng chăm lo xây dựng và củng cố. Trong việc tổ chức lực lượng dân quân, du kích, bộ đội địa phương, xây dựng làng chiến đấu, thành lập các thành công chính trị của quần chúng… đều có vai trò to lớn của chính quyền cách mạng các cấp.

Trong quá trình Đồng khởi, ở nhiều khu vực đồng bằng và miền núi miền Nam, các cấp ủy nhân dân tự quản của xã, ấp được hình thành thay thế cho bộ máy chính quyền Sài Gòn bị tan rã hoặc bỏ chạy. Những ủy ban này đã tổ chức nhân dân diệt trừ các ổ nhóm phản động, các phần tử tay sai của đối phương còn sót lại, làm trong sạch địa bàn; ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; đồng thời chuẩn bị điều kiện sẵn sàng đối phó với những cuộc càn quét, đánh phá của đối phương. Tuy nhiên, ủy ban nhân dân tự quản chỉ là hình thức chính quyền cách mạng sơ khai, mới ở cấp cơ sở và chưa thành một hệ thống. Từ khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960), ủy ban mặt trận được thành lập ở các địa phương,. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức tuyển cử bầu ra ủy ban nhân dân cách mạng các cấp. Tháng 6-1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Từ đó, hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở được củng cố, kiện toàn. Hệ thống chính quyền đó đã phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn trong việc vận động và tổ chức quần chúng tích cực tham gia nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ.

Ở các địa bàn trọng điểm, một bộ phận chỉ đạo gồm đại diện các cấp ủy đảng, cán bộ chính trị, quân sự được lập ra để chỉ đạo nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận nhằm tạo nên sức mạnh phá rã các tổ chức kìm kẹp của đối phương, giành quyền làm chủ trên từng vùng, từng mảng, từng khu vực ngày càng rộng lớn, xây dựng các vùng này thành căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng liên hoàn, thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng miền Nam.

Đồng thời với việc xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, nhân dân hầu khắp các địa phương miền Nam đã xây dựng hệ thống làng, xã, ấp chiến đấu vững chắc, liên hoàn. Làng chiến đấu là làng, xã được xây dựng và chuẩn bị mọi mặt để nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương vừa sinh sống, sản xuất, vừa bám trụ đánh đối phương và đấu tranh chống đối phương kịp thời, hiệu quả bằng mọi loại vũ khí sẵn có. Kế thừa những kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làng chiến đấu được xây dựng vững mạnh toàn diện: tổ chức đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể nhân dân được tổ chức và giáo dục chu đáo; thế trận, công sự, vật cản và các cơ sở vật chất khác được chuẩn bị trước và trong quá trình chống đối phương. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa được bố trí, tổ chức phù hợp với điều kiện địa hình và phương án chiến đấu cụ thể từng địa phương, từng thời điểm, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng, tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ cho nhau. Làng chiến đấu đã phát huy tốt vai trò cơ sở của chiến tranh nhân dân. Làng chiến đấu tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải kể đến như làng chiến đấu: Sơn Mỹ, Hòa Bình, Phổ Minh (Quảng Ngãi), Hòa Hải, Anh Dũng (Quảng Nam - Đà Nẵng), Long Tân, Long Điền, Đất Đỏ (Bà Rịa), Đắc Uy (Kon Tum), An Trường (Trà Vinh)... Quân và dân ta trong các làng chiến đấu đã xây dựng hệ thống canh phòng, các bãi mìn, bãi chông, địa đạo, hầm trú ẩn và cất giấu lương thực, công sự chiến đấu, hệ thống hào giao thông nối liền các xóm, thôn. Bằng vũ khí thô sơ, vũ khi thu được của đối phương, lực lượng du kích và nhân dân địa phương đã bẻ gẫy nhiều cuộc càn của đối phương. Đây thực sự là những pháo đài vững chắc chống phá có hiệu quả các cuộc hành quân càn quét và bình định của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tại các vùng tranh chấp, vùng nằm sâu trong hậu phương, địa bàn xung yếu uy hiếp mạnh các mục tiêu chiến lược của Mỹ, ngoài hệ thống công sự, trận địa, quân và dân ta còn xây dựng hầm bí mật, đào địa đạo để ém giấu lực lượng, tài sản, chống các cuộc càn quét của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ở những nơi thường xuyên bị đối phương đánh phá như Củ Chi, Bến Cát, Vĩnh Linh và những làng mạc xung quanh căn cứ quân sự Mỹ, quân và dân ta đã đào hệ thống địa đạo sâu trong lòng đất với nhiều tầng, nhiều lớp kiên cố, tổ chức các tuyến giao thông, giao liên bí mật liên kết các làng xã giải phóng với nhau, hình thành các tuyến trước, tuyến sau, bố trí lực lượng quân sự, chính trị phù hợp trên từng tuyến, tạo thành thế trận vững chắc bảo vệ vùng giải phóng. Dựa vào địa đạo để ém giấu quân, công sự và trận địa chiến đấu đã bố trí sẵn, quân và dân ta ở vùng Tam giác sắt (Củ Chi - Bến Cát - Trảng Bàng) đã kiên cường bám trụ, khôn khéo luồn lách, giáng cho cả quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa lẫn quân viễn chinh Mỹ những đón đích đáng, làm thất bại những cuộc hành quân tìm diệt và bình định của chúng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:00 AM »

Ngay sau khi các căn cứ quân sự của Mỹ mọc lên, một hình thức tiến công kiểu mới của chiến tranh nhân dân ra đời, đó là các vành đai diệt Mỹ. có thể nói, ở đâu có quân Mỹ đóng, ở đó có vành đai diệt Mỹ. Đó là hệ thống các ấp, xã chiến đấu liên hoàn bao quanh, áp sát các căn cứ quân sự Mỹ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt đối phương. Nó kế thừa và phát triển lên một trình độ mới của làng, xã chiến đấu và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương từng có từ thời kháng chiến chống Pháp. Vành đai diệt Mỹ xuất hiện ở Đà Nẵng (4-1965), tiếp đến ở Chu Lai, An Khê, Đồng Dù, Rạch Kiến, Bình Đức, Bến Cát... Ngoài các trận địa nổi (công sự kết hợp với vật cản...), có nơi còn có hệ thống trận địa ngàm trong lòng đất. Tùy tình hình và điều kiện của từng địa phương, vành đai diệt Mỹ được tổ chức thành nhiều tầng, nhiều lớp. Dựa vào vành đai diệt Mỹ, nhân dân và du kích trong vành đai kiên cường bám trụ, tiến hành đánh đối phương bằng ba mũi giáp công, vận dụng nhiều cách đánh (bắn tỉa, phục kích, tập kích). Các vành đai diệt Mỹ đã thực sự tạo sức mạnh kìm giữ, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động Mỹ, đánh Mỹ dài ngày, tiêu hao, tiêu diệt đối phương và giữ vững quyền làm chủ, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thời cơ và địa bàn thuận lợi cho các đơn vị bộ đội chủ lực thực hiện các trận đánh lớn vào sâu trong các căn cứ của đối phương. Đây là một phương thức đánh đối phương độc đáo, thể hiện tư tưởng làm chủ và tiến công, một điển hình của thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam và hình thức toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống Mỹ ở các địa phương miền Nam.

Tại vùng rừng núi và khu vực giáp ranh, nơi đứng chân của bộ độ chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến, địa bàn tập kết lực lượng và vật chất chi viện từ hậu phương chiến lược miền Bắc vào, bên cạnh việc bố phòng, ngụy trang, phòng gian, tuần tra canh gác..., quân và dân ta đã tích cực và chủ động tiến công đối phương, bẻ gãy các cuộc hành quân của chúng đánh lên các vùng căn cứ để bảo vệ vững chắc các căn cứ, kho tàng, mạng đường sá và khu vực tập kết lực lượng. Để bảo vệ căn cứ đầu não B2, tạo thế chiến tranh nhân dân ở chiến khu Dương Minh Châu - một địa bàn hầu như không có dân, từ giữa năm 1966, Bộ chỉ huy Miền đã triển khai xây dựng thế trận phòng thủ căn cứ theo phương châm chiến đấu tại chỗ bằng lực lượng tại chỗ, khắc phục tình trạng ít dân bằng cách tổ chức các đôi tự vệ, du kích của cơ quan trong căn cứ (cán bộ, nhân viên cơ quan dân, chính, đảng, bộ đội ở các đơn vị bảo vệ, vận tải, cơ sở kho tàng, bệnh viện, xưởng sửa chữa... được biên chế thành từng tiểu đội, trung đội du kích, đại đội, tiểu đoàn địa phương huyện); đồng thời, trên cơ sở vị trí đóng quân của các cơ quan, đơn vị mà tổ chức ra các “huyện”, “xã”, “cụm” chiến đấu (gồm 6 “huyện” khu vực dân, chính, đảng và 7 “huyện” khu vực Bộ Chỉ huy Miền), được trang bị đầy đủ vũ khí, đạn dược, nhất là súng chống tăng B40 và súng máy cao xạ 12,7mm mới từ hậu phương miền Bắc chuyển vào, có hệ thống tổ chức chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ, hình thành lực lượng tại chỗ bao gồm du kích cơ quan và bộ đội địa phương bám trụ đánh Mỹ tại chỗ bảo vệ căn cứ và cơ động trong phạm vi đóng quân (huyện) đánh tiêu hao sinh lực đối phương, chia cắt chúng, phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động ở ngoài căn cứ hình thành trên thực tế ba thứ quân và được bố trí thành thế trận liên hoàn, có chiều sâu, bảo đảm thế kiềm, thế cắt và tấn vững chắc, chi viện và hỗ trợ cho nhau thuận lợi, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn như hành quân Áttơnborơ (14-9 – 25-11-1966), hành quân Gianxơn Xiti (22-2 – 15-4-1967)...

Trong các thành thị và vùng bị đối phương tạm chiếm, chúng ta ra sức xây dựng các tổ chức bí mật, cơ sở ngầm, căn cứ lõm... Để chiếm được cảm tình của các tầng lớp thị dân, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và các thành viên của mình không ngừng tuyên truyền, giáo dục quần chúng về đường lối, chủ trương cách mạng của ta, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, lên án những tội ác, âm mưu phản cách mạng của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Để mở rộng Mặt trận, chúng ta dựa vào những tổ chức nghiệp đoàn, tôn giáo, chính trị và các đảng phái đối lập với chính quyền Sài Gòn; từ đó, các cán bộ, đảng viên hoạt động ở thành thị tập hợp, tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng trong các ngành, các giới, không ngừng củng cố và mở rộng cơ sở chính trị bí mật tạo thành những căn cứ lõm ngay trong lòng đối phương. Những căn cứ lõm này là nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo và của cơ sở hậu cần. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, “lõm căn cứ” Đá Mặn ở sát sân bay Nước Mặn của lính thủy đánh bộ Mỹ, có chi bộ hợp pháp lãnh đạo, có đủ hầm bí mật cất giấu cán bộ. Các lõm căn cứ chỉ huy, bảo đảm cho các vành đai diệt Mỹ như Chu Lai, Củ Chi, Bình Đức... đều ở gần các căn cứ lớn của Mỹ. Đây thực sự là một chiêu thức biến hậu cứ an toàn của Mỹ thành hậu phương tại chỗ của ta. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Ở ngay trong các đô thị lớn, thậm chí cả ở Sài Gòn - Gia Định, cũng tồn tại những cơ sở cách mạng. Bề ngoài có vỏ bọc làm ăn hợp pháp, nhưng thực chất là cơ sở đứng chân của lãnh đạo, chỉ huy, là nơi giấu cán bộ, giấu quân, là nơi chuẩn bị và dữ trữ vũ khí đạn dược cho các trận đánh trong thành phố, lại làm cả nhiệm vụ khai thác một số lượng quan trọng vật chất, kỹ thuật cấp thiết cho khách chiến điển hình như hãng xe đạp Nam Long, hãng sơn Bạch Tuyết... Nếu không dựa vào những cơ sở này, chúng ta khó có thể xây dựng được lực lượng chiến đấu tại chỗ và không thể bảo đảm hậu cần cho các trận đánh trong nội đô, mà chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn và nhiều thành phố, thị xã trên khắp miền Nam là những minh chứng sinh động.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:56 AM »

Bên cạnh đó, chúng ta tìm cách thâm nhập vào các tổ chức chính trị, tôn giáo, cơ quan, đoàn thể của đối phương, vận động và giác ngộ một số nhân viên thuộc các công sở của chính quyền và một số binh lính sĩ quan quân đội Sài Gòn, qua đó, gây dựng cơ sở cách mạng ngay trong lòng các tổ chức của đối phương, tạo nên lõm chính trị, ổ an toàn cho các cán bộ, đảng viên bám sát địa bàn, thu thập tin tức, bắt mạch kịp thời các động thái chính trị, quân sự của đối phương, từ đó có biện pháp tổ chức tập hợp quần chúng đấu tranh công khai và bán công khai kịp thời và hiệu quả đối với kẻ thù.

Song song với nhiệm vụ xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị - quân sự thì xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ vững mạnh về kinh tế cũng là nhiệm vụ quan trọng được các cấp ủy đảng và chính quyền thường xuyên thực hiện.

Thông qua các tổ chức chính trị của quần chúng, các cấp ủy đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân đấu tranh chính trị với Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa; đấu tranh chống chiếm ruột đất lập căn cứ quân sự, kiên quyết bám đất, giữ làng, không cho chúng phá hoại mùa màng, phá hoại kinh tế, buộc đối phương bồi thường những thiệt hại mà chúng gây ra; chống gom dân vào các khu tập trung, phá thế kìm kẹp, bỏ khu tập trung, bung về làng cũ sản xuất; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chống bình định, lấn chiếm. Phong trào quần chúng bung ra ngày càng nhiều góp phần phục hồi sản xuất, lấp dần vào các khu trắng, tạo điều kiện xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ.

Ở các vùng giải phóng, vùng ven, vùng tranh chấp, quân và dân ta đã kết hợp nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu, sản xuất để chiến đấu và chiến đấu để bảo vệ sản xuất, bảo vệ xóm làng. Chính quyền cách mạng tổ chức lực lượng tuần tra, canh phòng để bảo vệ xóm làng, bảo vệ sản xuất. Có những nơi nhân dân đào công sự, hầm hào, địa đạo ngay trên cánh đồng để có thể chiến đấu ngay trong lúc sản xuất.

Song song với cuộc đấu tranh chống đối phương phá hoại kinh tế, bảo vệ sản xuất, quân và dân vùng giải phóng, vùng căn cứ thường xuyên chú trọng tăng gia sản xuất. Thực tế những năm đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam cho thấy, nếu chỉ dựa vào nguồn chi viện từ hậu phương miền Bắc, mà coi nhẹ nhiệm vụ sản xuất tự túc thì mỗi khi bị đối phương ngăn chặn quyết liệt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn hay các vùng căn cứ, vùng giải phóng bị thu hẹp, đời sống quân và dân ở đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vả lại, tuy hậu cần đã đề ra tiêu chuẩn ăn, nhưng không phải lúc nào cũng có để mua, mà có mua được chưa chắc đã vận chuyển được về sử dụng(1). Việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất đã là đáp án thích hợp nhất cho bài toán “lấy gì ra nuôi quân đánh giặc” trong những thời điểm tình thế cách mạng cam go nhất, chẳng hạn như giai đoạn 1968 - 1970 trên các chiến trường miền Nam.

Với khẩu hiệu “Sản xuất như đánh giặc”, hầu hết cán bộ, chiến sĩ Quân khu 5 đều thực hiện “ngày sản xuất, đêm chiến đấu và công tác”, “ngày sản xuất làm ăn, tối hoạt động”. Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào trồng 5 triệu gốc sắn. Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định dành 10% quân số làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất, hình thành nên hệ thống nương rẫy dọc hai bờ sông Pôcô, Sa Thầy, khu vực các trục đường 14, 19... Quân khu miền Đông Nam Bộ dành ba đại đội (C140, C116 và C108) quân số mỗi đại đội hơn 100 người sản xuất lương thực - thực phẩm từ bắc suối Mã Đà, suối Vắt qua lộ Út đến suối Ràng. Các đơn vị vũ trang ở chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu thường xuyên tổ chức trồng tỉa cây lương thực, săn bắn thú rừng, đánh bắt cá, tôm, hái lượm rau củ quả trong rừng để cải thiện đời sống cho bộ đội. Việc tăng gia sản xuất chủ yếu là trồng trọt theo lối đa canh kết hợp với chăn nuôi. Cây - con chủ yếu là mì (sắn), lúa, bắp, khoai, rau sanh, các loại đậu, gà, lợn (heo). Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, ta còn xây dựng các cơ sở chế biến lương khô, xay xát và tổ chức các đôi khai thác nguồn lợi tự nhiên (chủ yếu là lâm thổ sản).

Bên cạnh việc tăng gia sản xuất tự túc lương thực - thực phẩm, sản xuất vũ khí thô sơ, thuốc men, ta còn tổ chức huy động thu mua lương thực vừa bảo đảm thường xuyên vừa có lượng dự trữ. Chẳng hạn năm 1957, khu căn cứ Bắc Tây Ninh đã dự trữ được 4.000 giạ lúa, năm 1960, khu vực Trà Vông đã dự trữ được hàng vạn giạ lúa.

Có thể nói, cùng với thu mua vật chất, việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất trong các vùng giải phóng, vùng căn cứ không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế và hậu cần tại chỗ mà còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng, củng cố hậu phương tại chỗ về mặt quân sự, chính trị. Bởi vì những khó khăn về kinh tế, đời sống sẽ tác động đến các mặt quân sự, chính trị, tư tưởng. Điều đó sẽ là cái cớ cho đối phương lợi dụng và tăng cường chiến tranh tâm lý nhằm lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam.

Tại những vùng vừa giành được quyền làm chủ, những vùng căn cứ và vùng giải phóng, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, chính quyền cách mạng thực hiện chia ruột đất cho nông dân, xóa bỏ các thứ tô do chính quyền Sài Gòn đặt ra trước đó; động viên, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, cổ vũ họ trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của đối phương, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Tính đến năm 1965, chính quyền cách mạng đã chia 2,1 triệu ha ruộng đất cho nông dân. Đến năm 1968, nông dân miền Nam lại được chia hàng vạn hécta ruộng đất. Việc ruộng đất về tay nông dân là sự xác lập quyền làm chủ của người nông dân trong các vùng giải phóng đối với loại tư liệu sản xuất cơ bản đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi kinh tế của người lao động với chế độ chính trị - xã hội mới hình thành ở vùng giải phóng.


(1) Xem Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử hậu cần Quân khu 7 (1945 - 2000), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.298.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:24:19 AM »

Các tổ vần công, đổi công - một hình thức giúp đỡ tương trợ nhau trong sản xuất và cuộc sống ra đời từ cuộc kháng chiến chống Pháp, được duy trì và phát triển trong kháng chiến chống Mỹ. trong các tổ vần công, đổi công, các tổ viên luân phiên làm công tác cảnh giới để những người còn lại cày cấy, thu hoạch kịp thời vụ, lần lượt hỗ trợ nhau làm công sự chống bom, pháo, giúp nhau cất giấu trâu bò, dụng cụ, lương thực mỗi lần đối phương càn quét… Hình thức này làm tăng tinh thần cố kết cộng đồng, tăng năng suất lao động, là chỗ dựa nửa hợp pháp cho cán bộ, đảng viên ta hoạt động. Ngoài ra, các thành viên trong tổ còn động viên nhau trong cuộc sống hằng ngày, trong việc đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, cho việc xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ.

Xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về văn hóa - giáo dục cũng là nhiệm vụ quan trọng được các cấp ủy đảng và chính quyền quan tâm, chú trọng.

Cùng với sự phát triển của cách mạng, sự ra đời của các tổ chức văn hóa giải phóng như Hội Văn học - Nghệ thuật giải phóng, Hội Nhà báo giải phóng, Nhà xuất bản giải phóng, Đài Phát thanh giải phóng, Xưởng phim giải phóng, các đội văn công chuyên và không chuyên, với đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, của Mặt trận, xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần ở các vùng giải phóng. Đặc biệt sự ra đời của Thông tấn xã giải phóng (9-1960) đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ, tập hợp lực lượng yêu nước từ vĩ tuyến 17, qua miền Trung, Tây Nguyên vào tận mũi Cà Mau.

Chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ.. đã vận động nhân dân tham gia bài trừ văn hóa thực dân, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng đời sống văn hóa mới.

Nhằm đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức, đạo đức, sức khỏe, lòng yêu quê hương, đất nước, căm thù giặc, góp phần vào cuộc đấu tranh chống văn hóa - giáo dục nô dịch của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, góp phần nâng cao trình độ chính trị, văn hóa cho cán bộ các ngành, các cấp thuộc khối quân - dân - chính, đảng và nhân dân vùng giải phóng, ngành giáo dục giải phóng được thành lập. Được sự chi viện của miền Bắc, ngành giáo dục giải phóng nhanh chóng phát triển vươn lên đáp ứng yêu cầu “giải phóng tới đâu, mở đường tới đấy”. Đến năm 1966, trên các vùng giải phóng toàn miền Nam đã có gần 6.000 trường trung học phổ thông với 500.000 học sinh. Năm 1967, các trường sư phạm giải phóng đào tạo giáo viên cấp I, cấp II được thành lập. Bên cạnh giáo dục phổ thông, phong trào bổ túc văn hóa đã bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa cho hàng trăm nghìn cán bộ các cấp của mặt trận, của chính quyền cách mạng và đoàn thể quần chúng. Không chỉ ở vùng giải phóng, vùng căn cứ, ngành giáo dục giải phóng cũng đã mở rộng ảnh hưởng vào các trường học ở các vùng tranh chấp. Tại đây, cán bộ giáo dục giải phóng khắc phục gian khổ, không quản hy sinh đã bám trụ địa bàn, mở lớp học cho con em nhân dân lao động.

Từ sau Đồng khởi, mạng lưới y tế phát triển mạnh mẽ ở cả vùng giải phóng, vùng giáp ranh và vùng tranh chấp. Cùng với hệ thống bệnh viện, các cơ sở nghiên cứ, cơ sở bào chế..., các ban y tế giải phóng của các khu, tỉnh, huyện, xã lần lượt được thành lập, tạo thành mạng lưới y tế điều trị, khám chữa bệnh rộng khắp. Ngay tại chiến khu Đ, Ban quân dân y được thành lập, do một liên tỉnh ủy viên làm trưởng ban, có nhiệm vụ tổ chức các cơ sở quân dân y các tỉnh trên địa bàn miền Đông. Mạng lưới này ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và tham gia cứu chữa thương bệnh binh từ tuyến trước chuyển về. Bên cạnh số cán bộ y tế từ miền Bắc vào (từ năm 1961 đến năm 1975 có 1.641 người), ngành y tế giải phóng đã thành lập hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp y, dược, mở các lớp chuyên tu, bổ túc; đào tạo được đội ngũ những người thầy thuốc và nhân viên y tế tận tụy trong công việc, có năng lực chuyên môn vững vàng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc kháng chiến, của các vùng giải phóng ngày càng rộng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhờ các chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo, Đảng đã động viên và phát huy được sức mạnh của lòng yêu nước, ý thức dân tộc, truyền thống đoàn kết, bất khuất trong mỗi người dân miền Nam, biến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ thực sự thành sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dựa trên sự giác ngộ của quần chúng nhân dân. Hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam không chỉ được xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc mà còn ngày càng được mở rộng và củng cố trên khắp ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức đa dạng, ngày càng phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2014, 09:43:12 PM »

2. Phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, việc xây dựng hậu phương tại chỗ rộng khắp là yêu cầu có tính chất chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam, nhằm khai thác, động viên, phát huy cao độ mọi tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường, bảo đảm cho lực lượng tại chỗ thực hiện bám trụ, đánh đối phương liên tục và lâu dài; khắc phục khó khăn về giao thông vận tải trong điều kiện địa thế đất nước dài và hẹp, chiến trường dễ bị chia cắt.

Trước hết, hậu phương tại chỗ là nguồn trực tiếp cung cấp sức người, sức của cho các chiến trường. Vùng làm chủ, vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh, toàn diện và ngày càng mở rộng đã tạo điều kiện cho việc huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến, thực hiện hậu cần tại chỗ. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân, chúng ta đã phát huy mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của nhân dân vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, dù ở vùng giải phóng, vùng tranh chấp hay vùng bị đối phương kiểm soát; phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam từ em nhỏ đến cụ già đều tự nguyện tham gia, ủng hộ cách mạng bằng nhiều hành động như: liên lạc, dẫn đường, vận chuyển vũ khí, nuôi giấu cán bộ, đấu tranh chính trị chống đối phương phá hoại nhà cửa, mùa màng... Hàng triệu lượt người được huy động phục vụ chiến đấu. hàng chục vạn thanh niên nam nữ đã gia nhập lực lượng vũ trang ba thứ quân. Từ đô thị và nông thôn bị đối phương tạm chiếm, nhiều người đã tìm đến với cơ sở cách mạng hoặc vùng giải phóng, vùng căn cứ gia nhập lực lượng vũ trang. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, nhiều quần chúng đã “vô cứ, ra bưng” nuôi ý chí, đợi thời cơ về giải phóng quê hương. Không chỉ có nông dân, công nhân, tiểu thương, nhiều nhân sĩ, trí thức đã rời Sài Gòn và các thành phố khác của miền Nam vào căn cứ, như bác sĩ Phùng Văn Cung(1), giáo sư Nguyễn Ngọc Thưởng, nhà soạn kịch Trần Hữu Trang...

Khoảng 15 năm (1960 - 1975), hậu phương tại chỗ đã đảm bảo 22,5% nhu cầu vật chất của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam. Nếu tính cả số chiến lợi phẩm thu được và số lương thực, thực phẩm do bộ đội tập trung sản xuất thì trong 21 năm chiến tranh, hậu cần tại chỗ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của các chiến trường. Tỷ lệ 35% đó có ý nghĩa to lớn trong điều kiện Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên sử dụng các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, phá hoại và bao vây kinh tế đối với vùng giải phóng, đánh phá kho tàng, căn cứ, dự trữ chiến lược của ta. Đặc biệt, tỷ lệ 35% mà hậu cần tại chỗ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường càng trở nên quan trọng vào những thời điểm sự chi viện từ miền Bắc gặp khó khăn và nguồn thu mua từ thị trường Campuchia gặp trắc trở(2).

Trong những năm chiến tranh, mặc dù đối phương kiểm soát chặt chẽ, cộng với sự càn quét và đánh phá liên tục ruộng vườn, cơ sở sản xuất nhằm hạn chế sự đóng góp, giúp đỡ của nhân dân đối với cách mạng, nhưng dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân vùng nông thôn bị đối phương chiếm và dựa vào các cơ sở cách mạng ở đô thị, các thành công hậu cần của ta đã tổ chức thu mua và vận chuyển được một số thuốc chữa bệnh và vật chất thiết yếu khác. Các má, các chị mua từng cân muối, đôi đèn, viên thuốc rồi chuyển lên căn cứ. Khi được cán bộ cách mạng vận động, nhân dân vùng giải phóng sẵn sàng tiếp tế gạo, muối chuyển vào căn cứ cho lực lượng vũ trang. Nhân dân mang xe thồ, xuồng ghe, xe bò, xe trâu vận tải hàng hóa cho bộ đội. Ở chiến khu Dương Minh Châu, bộ đội đi đến đâu cũng được đồng bào thương yêu như ruột thịt. Có những gia đình nuôi cả tiểu đội trong nhà, nấu cơm cho ăn hàng tháng trời, nhà này hết gạo lại giao cho nhà khác nuôi(3).

Để động viên nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, phục vụ các chiến dịch tiến công của bộ đội, tổ chức hậu cần của ta được thành lập, bao gồm hậu cần Miền, hậu cần quân khu, hậu cần các địa phương và hậu cần nhân dân, đã bám trụ lại vùng giáp ranh, vùng tranh chấp, vươn sâu vào vùng bị đối phương kiểm soát, tới tận vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của và vùng đô thị để khai thác nguồn hậu cần ngay trong hậu cần chiến lược của địch. Một số cán bộ được giao nhiệm vụ giả danh các nhà tư sản(4) thu mua lương thực, thuốc men, vũ khí, trang bị, xăng dầu và các hàng hóa nhu yếu phẩm khác từ vùng địch tạm chiếm để cung cấp cho các lực lượng ta ở chiến khu. Từ năm 1969, trước những khó khăn của cách mạng miền Nam, chúng ta đã mở rộng phạm vi hoạt động hậu cần sang Campuchia. Do đó, ta đã tạo được nguồn vật chất rất quan trọng, đủ đảm bảo nhu cầu cho các đơn vị vũ trang đang đứng chân trên đất Campuchia, đồng thời chi viện cho các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ và chi viện một phần quan trọng ra chiến trường Tây Nguyên.

Hậu phương tại chỗ là cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng trong mọi tình huống chiến tranh; là địa bàn đứng chân vững chắc và bàn đạp tiến công của các binh đoàn. Giai đoạn 1954 - 1959, được sự đùm bọc, che chở, nuôi giấu của nhân dân nên cán bộ, đảng viên nằm vùng mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng vẫn duy trì được lực lượng. Bên cạnh đó, tại vùng rừng núi, bưng biền, một số căn cứ kháng chiến cũ được duy trì, một số khác mới hình thành là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang, bán vũ trang; là bàn đạp thực hiện một số hoạt động tiến công quân sự vào chi khu, đồn bốt của đối phương. Sau Đồng khởi, vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn được mở ra tạo điều kiện cho việc xây dựng lực lượng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Thời điểm cách mạng miền Nam gặp những khó khăn, thử thách nặng nề như những năm 1969-1970 vai trò của hậu phương tại chỗ càng trở nên quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt và những biện pháp tàn bạo của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cơ sở cách mạng ở đô thị, vùn giải phóng rộng lớn và các căn cứ du kích ở đồng bằng bị thu hẹp. Mất chỗ đứng chân và bàn đạp tiến công ở vùng ven và đồng bằng, bộ đội ta phải lui dần về căn cứ rừng núi dọc miền biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia. Tại đây, quân dân vùng căn cứ phải trải qua những tháng ngày đầy gian khổ, thiếu thốn, khó khăn. Dù vậy, một lần nữa, dựa vào căn cứ rừng núi, dựa vào sự che chở, đùm bọc của nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân khắc phục khó khăn, vừa đẩy mạnh sản xuất tự túc, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ rừng núi, vừa bám đất, vừa bám dân, bám địch ở đồng bằng; từng bước khôi phục vùng làm chủ, vùng giải phóng, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược. Nhờ đó, cách mạng miền Nam vượt qua thời kỳ đầy thử thách, tiếp tục phát triển.

Giai đoạn trước, trong và sau các trận đánh của các lực lượng vũ trang đều gắn liền với vai trò của hậu phương tại chỗ. Đối với lực lượng vũ trang, các căn cứ, vùng giải phóng là điểm đứng chân, nơi xuất và và địa bàn củng cố lực lượng. Trong chiến dịch Bình Giã (2-12-1964 – 3-1-1965), chiến khu Đ vừa bảo đảm hậu cần cho bộ đội tập trung huấn luyện vừa chuẩn bị hậu cần cho bộ đội hành quân đến chiến trường. Mục tiêu đặt ra đối với mỗi chiến dịch hành quân đến vị trí tập kết lực lượng chiến dịch phải còn đủ 5 ngày gạo để giảm bớt khó khăn cho hậu cần chiến dịch.


(1) Ngày 18-10-1960, ông đã cùng vợ và hai con gái từ bỏ hết gia sản và chức vụ trong bộ máy của chính quyền Việt nam Cộng hòa để đi theo cách mạng.
(2) Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Sđd, tr.222.
(3) Xem Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử hậu cần Quân khu 7 (1945 - 2000), Sđd, tr.298.
(4) Ví như nhà tư sản Nguyễn Đức Phương “nhập vai ông chủ lớn” trên đất Lào và Campuchia trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xem Nguyễn Đức Phương: Trong vai ông chủ lớn, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 và 3-1986.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM