Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 04:56:38 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 55542 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:12:11 AM »

Không chỉ đáp ứng lực lượng trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường, mà lực lượng phục vụ chiến đấu cũng chính từ hậu phương cung cấp. Đây là thành phần có vai trò cực kỳ quan trọng, đảm trách việc vận chuyển, chăm sóc thương binh, tải đạn, bảo đảm giao thông... nếu thiếu nó bộ đội khó có thể giành thắng lợi trên chiến trường.

Trong chiến tranh, việc thắng hay bại tất nhiên là phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chính trị và tinh thần. Lênin từng nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh thì thắng lợi, nói cho cùng, là tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin tưởng rằng chiến tranh mà họ tiến hành là chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh thân mình vì hạnh phúc của anh em mình, làm cho tinh thần của binh sĩ lên cao và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”(1). Chiến tranh là sự hiểm nguy, khốc liệt, là đổ máu, hy sinh; ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên vô cùng mỏng manh...; bởi vậy, đòi hỏi người chiến sĩ phải có ý chí và bản lĩnh rất vững vàng. Yếu tố tinh thần sẽ tác động trực tiếp đến kỹ năng chiến đấu của người lính tăng lên hoặc giảm xuống và do đó ảnh hưởng đến thành quả tác chiến trên chiến trường. Như vậy, chính trị và tinh thần thực sự là nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của quân đội, và nguồn sức mạnh này được cung cấp bởi chính hậu phương - nơi sinh ra và lớn lên của người lính. Hậu phương đối với người lính là gia đình, là quê hương, là Tổ quốc. Chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, quê hương và gia đình là nghĩa vụ thiêng liêng, mục đích cao cả của người lính, và cũng chính từ nơi đây đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người lính quên mình xông pha chiến đấu lập công.

Nguồn sức mạnh của hậu phương đối với quân đội trước nhất chính là tình thương yêu của quần chúng nhân dân dành cho người lính ngoài mặt trận. Đây là loại tình cảm cao quý và vô cùng đặc biệt; bởi từ tình thương đó mà nhân dân hết lòng chi viện sức người, sức của cho quân đội, cho tiền tuyến. Điều đó chứng tỏ rằng “quân đội đó sẽ có một hậu phương cực kỳ vững chắc, quân đội đó là vô địch”(2).

Nguồn sức mạnh của hậu phương có ý nghĩa chiến lược như vậy, nên trong quá trình chiến tranh, đối phương cũng thường tìm mọi thủ đoạn, cách thức đánh vào hậu phương, nhằm không chỉ đơn thuần là phá hoại về cơ sở vật chất, mà đặc biệt là gây hoang mang dao động về tinh thần đối với người dân, dần dần làm phai nhạt ý chí, làm rạn vỡ sự đoàn kết, thống nhất, thậm chí là làm giảm lòng tin của quần chúng. Điều đó sẽ ngay lập tức gây tác động trực tiếp đến sức chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến trường.

Như vậy, có hậu phương vững mạnh tức là có nguồn cung cấp sức người, sức của dồi dào cho tiền tuyến; có nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ cho người lính chiến đấu trên chiến trường. Ngược lại, nếu hậu phương không vững chắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội. Thực tế lịch sử chiến tranh đã chứng minh rằng: “một quân đội không có hậu phương vững chắc thì quân đội ấy là cái gì? Chẳng là cái gì cả. Những đội quân lớn nhất, được trang bị tốt nhất, đều đã bị tan rã và biến thành tro bụi, vì không có hậu phương vững chắc, không có sự đồng tình và ủng hộ của hậu phương, của nhân dân lao động”(3).

Thấm nhuần sâu sắc luận điểm hậu phương - nhân tố cơ bản thường xuyên quyết định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn thường xuyên coi trọng việc xây dựng hậu phương chiến lược, mà buổi sơ khai ban đầu là những cơ sở cách mạng trong nhân dân. Chính bởi vậy, dù địch tiến hành khủng bố gắt gao, các tổ chức đảng vẫn tồn tại, trụ vững trong lòng dân, không ngừng phát triển về mọi mặt và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được những thắng lợi quan trọng.

Để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, đầu năm 1941, Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân và xây dựng nơi đây thành căn cứ địa cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: Căn cứ Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên, với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ. Theo đó, cùng với thời gian, từ Cao Bằng, căn cứ địa được mở rộng ra Bắc Sơn, Đình Cả, Tân Trào rồi phát triển thành khu giải phóng rộng lớn bao gồm nhiều tỉnh Việt Bắc. Tại đây, lực lượng chính trị và vũ trang được xây dựng, những yếu tố của một nhà nước dân chủ nhân dân được hình thành. Và cũng chính từ đây, Đảng và Quốc dân đại hội đã quyết định nhiều vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, là nơi phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Bên cạnh căn cứ địa chiến lược Việt Bắc, hệ thống căn cứ địa cũng khẩn trương được xây dựng ở hầu khắp các khu, tỉnh trên khắp cả nước. Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần làm nên thắng lợi nhanh chóng của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trên phạm vi toàn quốc.

Tháng 12-1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta đã có một hậu phương trải rộng khắp cả nước ở Bắc và Trung Bộ là các khu du kích, các vùng giải phóng của Khu 3, Khu 4, Khu 5...; ở Nam Bộ là các chiến khu - căn cứ hậu phương kháng chiến: chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu (Đông Nam Bộ), chiến khu Đồng Tháp Mười, U Minh (Tây Nam Bộ); và đặc biệt, căn cứ địa chiến lược Việt Bắc vẫn là Thủ đô kháng chiến của cả nước. Từ đây, nguồn nhân lực, vật lực - nhân tố quyết định của mọi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, được căn cứ - hậu phương trên toàn quốc cung cấp đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đặc biệt nhất là chỉ với lực lượng của bốn đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo và 22.126 tấn gạo, 992 tấn thịt, 800 tấn rau, 268 tấn muối, 62,7 tấn đường, 917 tấn thực phẩm khác, thêm vào đó là 261.541 dân công, 20.000 xe đạp thổ, 917 ngựa thồ và hàng ngàn thuyền mảng...(4) (lượng vật chất này chủ yếu là từ các vùng căn cứ - hậu phương Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Thanh Hóa) được huy động cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, để đánh đòn chiến lược quyết định, đuổi quân xâm lược Pháp ra khỏi bờ cõi quốc gia là thêm một minh chứng sống động nữa khẳng định quy luật “thực túc binh cường” - nhân tố đảm bảo bằng vàng cho thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh, chỉ có được khi căn cứ - hậu phưng được thường xuyên xây dựng, củng cố một cách vững chắc. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những thành tựu, lý luận và kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn xây dựng hậu phương trong Cách mạng Tháng Tám 1945, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, thực sự là cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng căn cứ - hậu phương chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.


(1) V.I. Lênin và J. Stalin: Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1966, tr.24.
(2) J. Stalin: Sức mạnh của quân đội ta, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nôi, 1975, tr.38.
(3) J. Stalin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1965, t.11, tr.33, 34.
(4) Tổng cục Hậu cần; Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, t.1, tr.290.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:17:41 AM »

2. Xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh toàn diện - điều kiện tiên quyết của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Với thắng lợi Điện Biên Phủ, chúng ta đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh. Theo hiệp định, nước ta tạm thời chia làm hai miền, vĩ tuyến 17 là giới tuyến và sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cứ thống nhất đất nước. Song, với mưu đồ xâm lược Việt Nam, giới cầm quyền Mỹ tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ (Mỹ không ký vào văn bản hiệp định), nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn dựng lên cái gọi là chính quyền Việt Nam Cộng hòa, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự trọng yếu ở khu vực Đông Nam Á, nhằm ngăn chặn và tiến công chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc đang trào dâng trên thế giới.

Như vậy, trên thực tế tại hai miền Nam, Bắc nước ta lúc này tồn tại hai thể chế chính trị - xã hội khác nhau; đồng thời đây cũng là sự đối đầu giữa lực lượng cách mạng với lực lượng phản cách mạng, giữa phong trào giải phóng dân tộc với chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm chú ý của thế giới và nhiệm vụ cách mạng mới cũng đặt ra hết sức khó khăn, nặng nề. Đó là miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện sản lượng công nghiệp (1954) chỉ chiếm 15% tổng sản lượng kinh tế quốc dân. Hầu hết nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, cầu cống, đường sắt... bị quân Pháp phá hủy trước khi rút khỏi miền Bắc. Nông nghiệp giữ vai trò chính, nhưng kỹ thuật canh tác vốn lạc hậu, vì chiến tranh nên đã có 143 ngàn hécta đất canh tác bị bỏ hoang, thêm vào đó là hàng chục ngàn hécta nữa không trồng cấy do gần 1 triệu người Công giáo di cư vào Nam bỏ lại đã đẩy nền kinh tế miền Bắc vào tình trạng cực kỳ nghiêm trọng. Mặt khác, các hủ tục, tệ nạn xã hội của chế độ cũ để lại rất trầm trọng; bộ phận lớn dân số đủ mọi lứa tuổi bị mù chữ, nhiều căn bệnh xã hội chưa có khả năng thanh toán, loại trừ do hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu(1). Tất thảy thực trạng trên là một thách thức hết sức nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương chiến lược cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tại miền Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, tập đoàn cầm quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên vi phạm Hiệp định Giơnevơ, tổ chức tổng tuyển cử riêng rẽ, lập quốc hội, biến miền Nam thành một quốc gia riêng, đồng thời, khẩn trương bắt lính, xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hòa, với ngân sách, vũ khí, phương tiện quân sự của Mỹ và trực tiếp do các chuyên gia, cố vấn quân sự Mỹ huân luyện, chỉ huy. Cùng với thời gian, nhiều căn cứ quân sự, hải cảng, kho tàng, căn cứ huấn luyện... nhanh chóng được đầu tư xây dựng trên khắp miền Nam.

Đơn phương tiến hành cuộc chiến tranh chống lại nhân dân miền Nam, bằng chính sách “tố cộng, diệt cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng quân đội, cảnh sát mở liên tiếp các cuộc hành quân càn quét, nhằm thanh sát địa bàn, truy sát bắt bớ, thẳng tay chém giết, tù đày những đảng viên cộng sản, người kháng chiến cũ. Hệ thống nhà tù, chuồng cọp, trại cải huấn... của Mỹ - Diệm mọc lên khắp thành thị và nông thôn miền Nam. Máu của các giới đồng bào yêu nước vẫn tiếp tục đổ trên các địa phương từ Quảng Trị, Thừa thiên đến mũi Cà Mau, trên khắp các đường phố đô thị miền Nam và cả ở thành phố Sài Gòn - Gia Định. Cách mạng miền Nam phải từng ngày, từng giờ đối mặt với thử thách cam go và thảm khốc.

Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trụ cột giữ vai trò là chỗ dựa tin cậy và vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta (tuy có những bất đồng nhất định). Phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, phong trào công nhân và nông dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đang phát triển mạnh mẽ và sâu rộng trở thành hậu thuẫn rất quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta.

Nhận thức sâu sắc tình hình cách mạng trong nước và quốc tế liên quan, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào(2); muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, thực hiện độc lập dân chủ “điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”; và “Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa vững chắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất”(3). Mỹ là đế quốc hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế, quân sự hàng đầu thế giới; để đánh bại chúng, không có con đường nào khác là phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, mà như Lênin đã nói là phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc - hậu phương đó chính là miền Bắc xã hội chủ nghĩa. “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt”(4). “Củng cố miền Bác phải luôn luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời... Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”(5). “Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước... Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta(6). Và “Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai. Song hai nhiệm vụ đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng(7).


(1)  Năm 1955, tổng dân số miền Bắc có hơn 13 triệu, nhưng chỉ có 78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.796 y sĩ và y tá.
(2) Hồ Chính Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.314.
(3), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr. 577.
(4) Hồ Chính Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.67.
(6), (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr. 509-510, 508.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:06 AM »

Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa - xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc, trước hết phải nhanh chóng ổn định tình hình chính trị và xã hội vốn đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là những vùng do đối phương kiểm soát nhiều năm, đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục các tầng lớp nhân dân kiên quyết chống lại những âm mưu và luận điện phá hoại của kẻ địch. Thực hiện Điều 21 của Hiệp định Giơnevơ, nhân dân ta đã đấu tranh buộc Pháp nghiêm chỉnh thi hành việc trao trả tù binh và thường dân bị giam giữ trong chiến tranh(1). Đặc biệt, ta đã tổ chức tiếp quản các khu vực quân Pháp rút đi, nhanh chóng thiết lập và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân các cấp trên toàn miền Bắc; từng bước ổn định đời sống cho các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, nhân dân các địa phương tổ chức đón tiếp hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Đây chính là nguồn nhân lực chiến lược để Đảng Lao động Việt Nam bồi dưỡng và đào tạo thành đội ngũ cán bộ cốt cán trực tiếp chuẩn bị cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với củng cố chính trị và xã hội, công cuộc cải tạo nền kinh tế miền Bắc từ hình thức sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất; từ nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, kỹ thuật lạc hậu, tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa... khẩn trương được tiến hành. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng là điều kiện thuận lợi để toàn Đảng, toàn dân ta hoàn thành việc cải cách ruộng đất, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại trong nhiều thế kỷ(2), 810.000 héc ta ruộng đất và nhiều trâu bò cày kéo và nông cụ sản xuất được chia cho 2.104.000 hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, những vùng đất hoang hóa nhanh chóng được khai phá đưa vào trồng cấy. Dù vậy, trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng mắc phải sai lầm về phương pháp tiến hành. Trong thư gửi đồng bào nông thôn và cán bô ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng chúng ta đã mắc những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng. “Chúng ta cần phải phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm”; “Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch. Việc gì sửa được ngay thì phải làm ngay. Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm”(3). Việc làm này không chỉ mang lại quyền lợi thiết thực - thỏa niềm mơ ước ước bao đời của người nông dân, mà còn góp phần khôi phục và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với cách mạng. Và, sản lượng lương thực ở miền bắc năm 1956 đã đạt 4 triệu tấn (1939 chỉ là 2 triệu tấn).

Đi đôi với nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích mở rộng; các cơ sở công nghiệp còn lại khẩn trương được khôi phục và nâng dần quy mô sản xuất. Các tổ đổi công, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng được thành lập. Đặc biệt, những cơ sở công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân được tập trung xây dựng và đi vào sản xuất đạt hiệu quả cao. Đến năm 1956, ta đã khôi phục được 29 xí nghiệp cũ, xây dựng thêm 55 xí nghiệp mới; hệ thống giao thông thủy bộ và đường sắt cơ bản được khôi phục. Kinh tế quốc doanh đã nắm chắc phần lớn các ngành then chốt và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Bên cạnh đó, các ngành giáo dục, y tế và văn hóa có bước phát triển mới và thu được những thành tựu bước đầu. Về giáo dục, nạn mù chữ đã cơ bản được thanh toán, hệ thống giáo dục phổ thông với chương trình 10 năm được xác lập, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp từng bước phát triển(4) cả về số lượng, chất lượng và phạm vi ngành nghề. Về y tế, các cơ sở khám chữa bệnh được khẩn trương củng cố và phát triển(5), phong trào vệ sinh dịch tễ được tăng cường, các bệnh truyền nhiễm, bệnh xã hội dần được đẩy lùi. Về văn hóa - xã hội, phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, phim ảnh, sách báo... hoạt động sôi nổi và rộng khắp thành thị và nông thôn đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi từng bước tàn dư hủ bại của chế độ phong kiến thực dân còn tồn tại trong nhân dân.

Như vậy, chỉ sau ba năm khôi phục kinh tế, thu nhập quốc dân đã đạt rồi vượt mức so với thời kỳ trước chiến tranh. Đời sống của nhân dân miền Bắc đi vào ổn định. Đây thực sự là bước chuẩn bị đầu tiên cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương miền Bắc, tạo hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Tiếp đà thắng lợi của những năm đầu khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960). Với nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”(6), Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã họp, ra Nghị quyết 14 về phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong 3 năm (1958 - 1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh; Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp và Nghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, để định hướng chỉ đạo cụ thể đối với các cấp, các ngành, địa phương trên toàn miền Bắc.


(1) Ta đã trao trả cho Pháp 6.800 tù binh Âu - Phi, 2.360 tù binh người Việt. Đổi lại, phía Pháp đã trao trả cho ta 7.350 tù binh, 18.350 tù chính trị và 37.900 thường dân bị giam giữ.
(2) Đến tháng 7-1956, đợt 5 cải cách ruộng đất đã kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi, với kết quả là: chia 344.000 hécta ruộng đất cho nông dân, hoàn thành việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và tàn dư chế độ phong kiến ở miền Bắc.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.236
(4) Năm học 1956 - 1957, toàn miền Bắc có 606.000 học sinh mầm non, 925.000 học sinh phổ thông, 7.783 học sinh trung học chuyên nghiệp, 3.664 sinh viên đại học.
(5) Năm 1967, miền Bắc đã có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá với tổng số 19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh và 5.130 ban phòng bệnh.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.2.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:23:55 AM »

Thắng lợi của kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957) thực sự là nguồn lực thúc đẩy toàn dân nỗ lực hết mình trong việc thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960). Kết quả là, nếu giữa năm 1958, ở nông thôn miền Bắc, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đạt 41% và có 134 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đến giữa năm 1959, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đã lên tới 70% (gồm 246.965 tổ) và 7.000 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (chiếm 8% tổng số nông hộ), trong đó có 119 hợp tác xã bậc cao, thì đến hết năm 1960 đã có 84,8% tổng số hô nông dân miền Bắc gia nhập hợp tác xã, với 41.000 hợp tác xã, trong đó có 4.346 hợp tác xã bậc cao (chiếm 12% tổng số hợp tác xã), tập trung được 76% tổng diện tích đất đai canh tác. Cơ cấu cây trồng và vật nuôi phát triển có kế hoạch hợp lý, các thành tựu khoa học - kỹ thuật được áp dụng, công cụ lao động được cải tiến… đã tạo ra mức tăng trưởng hằng năm đạt 5,6%. Với thành quả này, nông nghiệp đã góp phần quan trọng để phát triển công nghiệp chế biển nông sản - thực phẩm, xuất khẩu và cải thiện đời sống nhân dân. Ngoài ra, với nghề cá có 520 hợp tác xã (chiếm 77,2%), nghề muối có 269 hợp tác xã (chiếm 85%). Điều quan trọng là, với hình thức hợp tác xã nông nghiệp được thành lập, không chỉ tạo thuận lợi để áp dụng các biện pháp khoa học, cải tiến kỹ thuật sản xuất, khắc phục khó khăn về thiên tai, tư liệu sản xuất… mà, chính đây là nơi gắn kết quan hệ cộng đồng, làng xóm trong lao động sản xuất và đời sống thường nhật ngày thêm chặt chẽ, nhân cách sống “mình vì mọi người và mọi người vì mình” được phát huy đến đỉnh cao - một vấn đề có tính quyết định để động viên nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương chiến lược của cả nước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách cải tạo hòa bình. Bởi, chúng ta đã có nhà nước dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên nền tảng liên minh công - nông vững chắc, có lực lượng kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo. Giai cấp tư sản miền Bắc rất nhỏ, yếu, số lượng ít và chỉ thuộc loại vừa và nhỏ, vốn là “bạn đồng minh” của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; sau hòa bình lập lại, đại bộ phận tán thành Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tán thành chế độ mới và chấp nhận chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương pháp hòa bình. Điểm mấu chốt về kinh tế trong chính sách cải tạo hòa bình công thương nghiệp tư bản tư doanh là chuộc lại tư liệu sản xuất và trả dần tiền chuộc cho nhà tư sản. Song cùng với nó là sắp xếp công ăn việc làm cho họ trong nhà máy, xí nghiệp; từng bước cải tạo họ thành người lao động. Xí nghiệp tư bản tư doanh cải tạo theo hình thức công tư hợp doanh hoặc xí nghiệp hợp tác (chủ yếu là công tư hợp doanh). Công nhân là những người trực tiếp tham gia cải tạo người tư sản với nguyên tắc: đoàn kết - đấu tranh - đoàn kết.

Với đường lối, chủ trương, chính sách hợp lý, thuận lòng người trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, nên đến cuối năm 1960, 100% số cơ sở công thương nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác. Gần một vạn công nhân được giải phóng khỏi ách áp bức của tư bản, 1.533 tư sản được cải tạo thành người lao động, gần 90% tổng số thợ thủ công thuộc diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp vừa và nhỏ, hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp; đồng thời, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ và kinh doanh thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang lao động sản xuất.

Cùng với kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanh có bước phát triển mạnh mẽ; nông trường quốc doanh từ 16 nông trường (1957) đã phát triển lên 59 nông trường (1960). Đến năm 1960, công nghiệp quốc doanh chiếm 89,9% tổng giá trị sản lượng công nghiệp; vận tải quốc doanh chiếm 79,7% tổng khối lượng vận tải hàng hóa; thương nghiệp quốc doanh chiếm 49,5%. Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm năm 1960 so với 1957 tăng 60,4%. Công nghiệp địa phương có bước phát triển vượt bậc, năm 1960 tăng gấp 10 lần so với năm 1957.

Đến đây, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hình thức toàn dân và tập thể, cùng với nó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thu nhập quốc dân tính theo đầu người năm 1960 tăng gấp đôi so với năm 1955, sức mua của xã hội tăng 70%. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động được nâng cao một bước.

Cùng với thành tựu về cải tạo và phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế qua 3 năm (1958 - 1960) cũng thu được kết quả rất đáng tự hào. Về giáo dục và đào tạo; so với năm 1957, năm 1960, số học sinh phổ thông tăng gấp 2 lần, học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 4 lần, sinh viên đại học tăng 4 lần. Riêng niên học 1960 - 1961, miền Bắc có 1.900.000 học sinh phổ thông, 30.700 học sinh trung cấp chuyên nghiệp, 13.800 sinh viên đại học. Về văn hóa: năm 1960 đã xuất bản 27.500.000 cuốn sách, 68.000.000 tờ báo và tạp chí, 101 bộ phim, phát triển được 190 đội chiếu bóng, 54 đoàn nghệ thuật sân khấu, 2.965 nhà văn hóa, 211 trạm truyền thanh... Về y tế: năm 1960 có 203 bệnh viện và trạm y tế; các bệnh truyền nhiễm và bệnh xã hội cơ bản được thanh toán...
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:26:26 AM »

Đặc biệt, đối với nhiệm vụ quân sự, ngay từ tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã xác định: “Bất cứ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang, đều là sai lầm nguy hiểm... Cho nên tăng cường Quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và của toàn thể nhân dân ta”(1).

Để bảo vệ thành quả cách mạng ở miền Bắc và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam đánh Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam được đầu tư xây dựng theo hướng từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Các binh chủng và quân chủng được thành lập. Quân số được duy trì ở mức độ thích hợp, vũ khí và trang bị kỹ thuật được tăng cường, được huấn luyện một cách bài bản và được bố trí theo phương án phòng thủ chiến lược quốc gia. Đối với quân thường trực, số lượng được tinh giảm. Một số đơn vị được chuyển sang xây dựng các nông trường làm kinh tế tại những địa bàn chiến lược trọng điểm - thực hiện nhiệm vụ kết hợp làm kinh tế với quốc phòng. Đặc biệt tháng 3-1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật nghĩa vụ quân sự, nhằm chủ động chuẩn bị trực tiếp lực lượng hậu bị cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. 330.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Nam, Lào và Campuchia tập kết ra miền Bắc và các đại đoàn chủ lực, lực lượng vũ trang liên khu, tỉnh được nhanh chóng chấn chỉnh, biên chế thành các sư đoàn, trung đoàn bộ binh. Các đơn vị phòng thủ bờ biển, biên phòng, bảo vệ giới tuyến được thành lập. Các đơn vị binh chủng, viện quân y, hệ thống cơ xưởng và kho tàng được biên chế, bố trí, sắp xếp theo phương án phòng thủ miền Bắc.

Thực hiện nhiệm vụ 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại (Hội nghị Trung ương 12 thông qua), tổng quân số bộ đội thường trực giảm xuống còn 160.000, biên chế thành 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn và 12 trung đoàn độc lập và một số đơn vị binh chủng khác. Cơ cấu tổ chức và biên chế được điều chỉnh căn bản, từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối, đến năm 1960, tỷ lệ bộ binh và binh chủng kỹ thuật đã tương xứng với nhau; 51%/49%. Vũ khí, trang bị (nhất là hỏa lực và sức cơ động) từng bước được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đặc biệt hơn, 37.250 cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật từ cấp trung đội trở lên hoặc được bổ túc, hoặc được đào tạo chính quy tại các trường quân sự trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, hệ thống điều lệnh, điều lệ được khẩn trương biên soạn và đưa vào vận dụng trong toàn quân, nhằm đưa bộ đội vào nền nếp chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng chiến đấu cho quân đội. Việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp, nội dung sát thực, phương pháp luôn được cải tiến phù hợp. Qua thực tế huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ chiến thuật và chỉ huy của cán bộ được nâng cao. Phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn được dự tính và từng bước triển khai huấn luyện.

Được xác định là nhân tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội, công tác đảng - công tác chính trị luôn được các cấp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị toàn quân thường xuyên đặc biệt coi trọng. Bắt đầu từ năm 1957, đại hội đảng bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên được tiến hành thường xuyên theo nhiệm kỳ. Tháng 1-1958, Hội nghị chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân đã họp, bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ và nội dung công tác đảng, công tác chính trị; chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị toàn quân. Thêm vào đó, theo chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, các đơn vị toàn quân đã mở nhiều đợt nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xuyên quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia các cuộc vận động lớn, nhằm “rèn luyện lập trường quan điểm giai cấp vô sản cho đảng viên”, “xây dựng chi bộ vững mạnh”... Thông qua những việc làm thực tế này đã lôi cuốn, thúc giục toàn thể cán bộ, đảng viên nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được gia. Cũng từ đây, hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên đã nỗ lực phấn đấu gia nhập Đảng. Và đến năm 1960, tỷ lệ đảng viên trong toàn quân đã chiếm gần 40% tổng quân số. Đây thực sự là nhân cốt của sức mạnh để bảo vệ hậu phương miền Bắc và để sẵn sàng chi viện miền Nam đánh Mỹ xâm lược.

Những bước tiến toàn diện, vững chắc của hậu phương miền Bắc hơn 5 năm đầu sau hòa bình lập lại đã góp phần quan trọng, tạo thế vững chắc cho Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở rộng quan hệ quốc tế. Các đoàn đại biểu đảng và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia dân chủ đến thăm và hội đàm với Đảng và Chính phủ Việt Nam; ngược lại, nhiều đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Việt Nam đi thăm và hội đàm với lãnh đạo các nước trong khu vực và trên thế giới đã tạo sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau ngày thêm sâu sắc hơn. Cũng từ đây, nhân dân Việt Nam nhận được sự đồng tình và giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia khác dành cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

Những thành tựu giành được cả trong đối nội và đối ngoại của những năm đầu tiên này đã góp phần làm cho hậu phương miền Bắc ngày càng ổn định vững chắc. Khẳng định giá trị vô địch của hậu phương miền Bắc, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (9-1960) chỉ rõ: “Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam, mà còn làm cho lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi cả nước ta càng nghiêng về phía cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành thắng lợi cuối cùng”(2). Báo cáo còn nhấn mạnh; “Tích cực đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì có thể tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi”(3). Theo đó, miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng mới - với nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), tăng cường chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.305-306.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.509, 510.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:27:51 AM »

Tuy đã giành được những kết quả to lớn và đúc rút được nhiều kinh nghiệm xương máu trong 5 năm đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng khi triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc thực sự còn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Đó là quan hệ sản xuất mới vừa mới được xác lập, trình độ sản xuất còn lạc hậu, nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp và bấp bênh; công nghiệp nhỏ bé và lạc hậu, thiếu những ngành mũi nhọn, chưa đáp ứng được nhu cầu về tư liệu sản xuất… đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và công nhân lành nghề số lượng ít ỏi, không đồng bộ; trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của một bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên còn hạn chế. Chính do vậy, Đảng và nhân dân miền Bắc xác định: tiến hành xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải song song với tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng Lao động Việt Nam tập trung lãnh đạo việc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật và coi đây là nhân tố quyết định nhất trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển sức sản xuất và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, mở mang kinh tế quốc doanh - lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và giúp đỡ các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, cải tiến công cụ sản xuất,. Cải tạo quan hệ sản xuất là một khâu quan trọng, cần phải giải quyết dứt điểm việc đưa quần chúng lao động vào các hợp tác xã, chuyển hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao, tăng cường công tác củng cố và quản lý các hợp tác xã cho phù hợp với yêu cầu phát triển của sức sản xuất. Đồng thời với phát triển nông nghiệp và công nghiệp, Đảng Lao động Việt Nam còn chủ trương thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cùng với ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện và công nghiệp nhẹ; xây dựng cơ cấu công nghiệp hiện đại với các ngành công nghiệp điện lực, gang thép, chế tạo cơ khí… tạo tiền đề cho việc đổi mới kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. Với đặc thù kinh tế truyền thống của ta, phải dựa vào nông nghiệp mà tiến lên, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực là chủ yếu. Phát triển nông nghiệp để tạo chỗ dựa cho việc thực hiện từng bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp nặng, nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương có rồi, phải có biện pháp làm tốt, chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp - kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quốc tế phải ba phần; và muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, toàn Đảng, toàn dân tiến hành đợt chỉnh huấn mùa Xuân 1961 - đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, nhằm xây dựng nên hình tượng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có nhận thức sâu sắc quan điểm: tất cả phục vụ sản xuất, cần kiệm xây dựng đất nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở tiên quyết cho việc thực hiện thắng lợi nghĩa vụ của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Riêng với công tác xây dựng Đảng, Trung ương đề ra chủ trương cải tiến công tác giáo dục lý luận và chính trị (3-1962) và mở cuộc vận động “xây dựng chi bộ và đảng bộ bốn tốt (6-1962), nhằm bồi dưỡng tư tưởng vô sản, chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tiếp tục xóa bỏ tàn tích của tư tưởng phong kiến, xây dựng ý thức làm chủ nhà nước và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, quan điểm phục vụ sản xuất, cần kiệm, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, nâng cao hiểu biết cho toàn Đảng về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, quản lý, tiến hành kiện toàn tổ chức và cải tiến lề lối làm việc từ trung ương đến cơ sở… Từ đây, nhận thức của đảng viên và các cấp bộ đảng về đặc điểm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tính chất khó khăn và lâu dài của nó, quan hệ máu thịt của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sự nghiệp chống Mỹ ở miền Nam đã được nâng lên một bước. Tiếp đó, Tổng Công đoàn Việt Nam phát động phong trào thi đua phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa trong tất cả các bộ ngành toàn miền Bắc. Đó là, trong nông nghiệp, có phong trào “Thi đua học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”; trong công nghiệp có phát triển “học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải”; trong quân đội có phong trào thi đua “Ba nhất”; trong ngành giáo dục có phong trào thi đua “Hai tốt”… Đặc biệt hơn, từ đây hàng ngàn đội thanh niên xung kích ra đời, thu hút hàng triệu thanh niên ưu tú, hăng hái tiến quân vào mặt trận khoa học - kỹ thuật, giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào xung phong tình nguyện phấn đấu vượt kế hoạch 5 năm. Kết quả cụ thể là:

Về nông nghiệp, tổng sản lượng lương thực đạt 5,8 triệu tấn (tăng 8,8% so với năm 1960), khai hoang thêm 30 vạn hécta đất canh tác của năm 1961 tạo đà, miền Bắc bước vào thực hiện cuộc vận động do Bộ Chính trị (11-1960) và Nghị quyết Hội nghị quản lý hợp tác xã của Ban Bí thư Trung ương (12-1961) về “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”. Sau kết quả và những kinh nghiệm rút ra từ đợt thí điểm cải tiến công tác quản lý tại 1.052 hợp tác xã và đưa 33,7% hợp tác xã lên bậc cao vào năm 1962, toàn miền Bắc đã triển khai đại trà cuộc vận động và nhanh chóng thu được những kết quả tốt. Đến năm 1965, số hội nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp đã lên tới 88,8%, trong đó hợp tác xã bậc cao đạt 71,7%. Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng với giai cấp nông dân tập thể đã hình thành và không ngừng lớn mạnh; sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân ngày càng cao. Đây chính là động lực thúc đẩy nông nghiệp có những bước chuyển về chất: tổng sản lượng nông nghiệp hằng năm tăng 4,1%, năm 1965 có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân năm đạt từ 5 tấn/hécta gieo trồng trở lên. Song hành với những thành quả đạt được, khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã cũng tăng nhanh. Đến năm 1965, đã có 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm và 32 đội máy cày, kéo được xây dựng, 33 công trình thủy lợi lớn, 1.500 công trình vừa và nhỏ được khôi phục và xây dựng bảo đảm việc chủ động tưới tiêu cho hơn 500.000 hécta canh tác. Như vậy, nông nghiệp miền Bắc đã từ lạc hậu, độc canh, năng suất thấp, mang tính tự cấp, tự túc dần trở thành nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện và có tỷ suất hàng hóa từng bước được nâng lên. Nông nghiệp đã góp phần giải quyết được phần lớn nhu cầu lương thực cho nhân dân, đáp ứng một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Tuy nhiên, về trình độ quản lý, cơ sở vật chất, nhất là công cụ sản xuất… vẫn chưa tương xứng với yêu cầu, vẫn cần phải tiếp tục đầu tư nâng cấp và phát triển.

Đối với công nghiệp, bên cạnh việc cải tiến, nâng cấp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ thành cơ sở sản xuất một phần tư liệu sản xuất và những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân; những khu công nghiệp mới được khẩn trương đầu tư xây dựng như: gang thép Thái Nguyên, nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, sứ Hải Dương, pin Văn Điển, dệt 8-3 và dệt kim Đông Xuân… Dù vậy, công nghiệp chưa thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đặt ra của nền kinh tế cũng như đời sống của nhân dân.

Để khắc phục tình trạng này, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (4-1962) bàn việc xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai: “Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, lấy công nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”. Tiếp đó, Bộ Chính trị phát động cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” trong ngành công nghiệp (7-1963). Với đường hướng, chủ trương, biện pháp kịp thời, sát thực; biết khích lệ tinh thần quần chúng đúng lúc đã tạo nên một “cú hích” mạnh đối với ngành công nghiệp miền Bắc để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành mũi nhọn như: điện lực, cơ khí. Luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng... Do vậy, năm 1965, công suất điện năng miền Bắc đã tăng gấp 10 lần so với năm 1955; cơ khí tăng 30% năm. Cũng đến năm 1965, miền Bắc đã xây dựng 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 1965, toàn miền Bắc đã có 650.000 cán bộ và công nhân công nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó có 2.615 người có trình độ đại học, 11.603 người có trình độ trung cấp. Và kết quả là, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 1.248 triệu đồng (1960) lên 2.365 triệu đồng (1965).
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:35:40 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:31:27 AM »

Thành quả quan trọng nhất của công nghiệp trong 5 năm (1961 - 1965) chính là trực tiếp phục vụ hiệu quả cho nông nghiệp trong các khâu thủy lợi, nông cụ, thiết bị kỹ thuật nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu… Cụ thể, tư liệu sản xuất cho nông nghiệp đã tăng trung bình 25% năm, so với năm 1960, năm 1965, cải tiến tăng 3,7 lần, bơm thuốc trừ sâu tăng 4,5 lần, máy bơm nước tăng 10 lần, điện tăng 7,5 lần, phân hóa học tăng 2,8 lần, thuốc trừ sâu tăng 8,1 lần… Đây là yếu tố quan trọng để các hợp tác xã mở rộng quy mô, cải tiến quản lý, tiếp tục xây dựng và cải tiến cơ sở vật chất - kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thâm canh tăng năng suất cây trồng theo hướng toàn diện, vững chắc.

Đời sống vật chất được cải thiện đã tạo cho ngành giáo dục và đào tạo có điều kiện phát triển tốt. Hầu hết các xã vùng đồng bằng và nhiều xã miền núi có trường phổ thông cấp 1 và cấp 2, huyện có trường cấp 3. So với năm 1960 thì năm 1965, số trường phổ thông các cấp tăng từ 7.066 lên 10.294, số lượng học sinh từ 1.889.600 lên 2.934.900, trong đó, học sinh cấp 3 tăng từ 26.000 lên 78.000; về đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp, từ 9 trường đại học với 8.100 sinh viên lên 18 trường với 34.000 sinh viên và hàng chục trường trung cấp chuyên nghiệp với hơn 6 vạn học sinh. Đến năm 1965, trong tổng dân số 16 triệu người miền Bắc đã có tới 4,5 triệu người đi học.

Cùng với giáo dục và đào tạo, hệ thống mạng lưới y tế được hình thành từ thành thị đến nông thôn. Cũng đến năm 1965, 70% số huyện đã có bệnh viện, 90% số xã ở đồng bằng, 70% số xã miền núi có bệnh xá, với tổng số 1.525 bác sĩ, 8.043 y sĩ… Bên cạnh đó, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; mỗi năm có khoảng 2.000 đầu sách được xuất bản, số thư viện năm 1965 tăng 3 lần so với 1960. Năm 1965, miền Bắc đã có hơn 100 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và phim ảnh…

Đối với nhiệm vụ chiến lược xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân - công cụ bạo lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào và Campuchia anh em, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đẩy mạnh phát triển cả về lượng lẫn về chất tất cả các thành phần lực lượng. Ngoài những đơn vị từ miền Nam tập kết được tổ chức thành các lữ đoàn bộ binh, được trang bị hỏa lực mạnh, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật bài bản, sẵn sàng trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu khi có lệnh; năm 1963, số quân thường trực miền Bắc có khoảng 173.500 cán bộ, chiến sĩ (chiếm khoảng 1% dân số); gồm các sư đoàn binh chủng hợp thành của Bộ được biên chế đầy đủ về quân số, trang bị, vũ khí, được đào luyện cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật, có thể lực tốt và khả năng chịu đựng gian khổ, sẵn sàng lên đường vào Nam chiến đấu; đồng thời một số các khung sư đoàn thời bình được chuẩn bị chu đáo (khung cán bộ và quân rút gọn), khi có lệnh là bổ sung đủ quân số, vũ khí, trang bị là lên đường được ngay. Cũng năm 1965, bộ đội địa phương được xây dựng lại với quân số 4,6 vạn người. Bên cạnh đó là 1,4 triệu dân quân, tự vệ (với 1/5 quân số được trang bị vũ khí) và 1,2 triệu quân dự bị, trong đó có 18 vạn thuộc dự bị loại 1 được quản lý chặt chẽ theo kiểu “ngụ binh ư nông” truyền thống, sẵn sàng chấp hành lệnh động viên để tăng cường cho quân thường trực khi cần thiết.

Mặt khác, tháng 10-1962, lực lượng phòng không và không quân được hợp nhất lại và tổ chức thành quần chúng Phòng không - Không quân, với biên chế 12 trung đoàn, 17 tiểu đoàn; mạng lưới rađa cảnh giới phòng không được triển khai rộng khắp, hệ thống sân bay được phục hồi, đầu tư nâng cấp và xây dựng mới… Lực lượng hải quân xây dựng 4 tiểu đoàn tàu làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm. Lực lượng phòng thủ bờ biển tổ chức thành những đơn vị binh chủng hợp thành, chốt giữ tại các trọng điểm. Đồng thời, theo địa bàn lãnh tổ các quân khu được thành lập, Bộ tư lệnh quân khu là cơ quan quân sự cao nhất chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quân sự - quốc phòng trên địa bàn quân khu.

Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ hậu phương miền Bắc và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam, để tạo thế “sâu rễ, bền gốc”, Đảng và Chính phủ thường xuyên triển khai nhiều biện pháp chiến lược để không ngừng củng cố nền quốc phòng toàn dân ngày thêm vững chắc.

Xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh của nền quốc phòng miền Bắc là sức mạnh của quần chúng nhân dân có giác ngộ về chính trị và được tổ chức chặt chẽ, nên chủ trương nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam là thường xuyên chăm lo giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng cho tất cả các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh thiếu niên. Nhà trường các cấp gắn chặt chức năng giáo dục kiến thức với bồi đắp lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu chế độ, sống có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia dân tộc cho các thế hệ học sinh, sinh viện. Đồng thời, nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động lớn gắn liền với sinh hoạt chính trị để tuyên truyền chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước thường xuyên được tổ chức nên sự đồng thuận về chính trị, tinh thần trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ngày càng được củng cố vững chắc. Nhờ vậy, toàn dân đã tích cực đóng góp sức người sức của cho việc xây dựng những công trình quân sự, hệ thống phòng thủ bờ biển, giới tuyến và mạng lưới giao thông chiến lược phục vụ kinh tế và quốc phòng.

Cũng nhằm củng cố nền quốc phòng, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết được xây dựng trên những địa bàn chiến lược có ý nghĩa chính trị, kinh tế và quân sự. Đây chính là chủ trương chiến lược kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông lâm trường đã trở thành nơi đóng quân, điểm dừng chân bổ sung vũ khí, lương thực của các đơn vị chủ lực trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Bên cạnh đó, trên toàn miền Bắc, hệ thống đường giao thông liên xã, liên huyện, liên tỉnh không ngừng được tu bổ và mở mới, nhằm không chỉ phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mà còn đảm bảo cho việc vận chuyển nhân lực, vật lực chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ. đặc biệt, dù cho kinh tế sau khi hòa bình lập lại còn rất khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự ưu tiên ngân sách cho chi tiêu quốc phòng, bảo đảm chế độ lương ưu đãi đối với những người có công: 36.916 thương binh, hàng chục ngàn gia đình liên sĩ, hàng vạn bệnh binh, đồng thời công tác hậu phương quân đội luôn được các cấp, các ngành, các địa phương chăm lo tận tình chu đáo… Những chính sách cụ thể, thiết thực, kịp thời này đã thực sự làm cho mọi người tin yêu nhau, tin yêu Đảng và Chính phủ, chung sức, chung lòng xây dựng, bảo vệ miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam.

Như vậy, với sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn dân, miền Bắc đã thực hiện thắng lợi hai kế hoạch chiến lược mở đầu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho một hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thật đúng như đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong mười năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”. “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng vững mạnh(1). Đây chính là cơ sở vững chắc để toàn Đảng và toàn dân ta tiếp tục củng cố và nâng cao sức mạnh chiến đấu, quyết tâm đánh bại quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.


(1) Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, t.II, tr.15.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:06:48 AM »

3. Tiếp tục xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa - sự bảo đảm thường xuyên sức người, sức của từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam

Tiến hành cuộc xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam, ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh, giới chức quân sự Mỹ đã toan tính và sử dụng những biện pháp cứng rắn, nhằm ngăn chặn “từ gốc” nguồn sống của phong trào cách mạng miền Nam - đó chính là hậu phương chiến lược miền Bắc. Hành động của chúng “chủ yếu là bằng biện pháp quân sự và ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh trên chiến trường chính miền Nam”(1). Đối phương tiến hành chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo ra miền Bắc để móc nối với bọn phản động, gián điệp nằm vùng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Chính cơ quan tình báo Mỹ (CIA) đã chỉ đạo bọn phản động bí mật phá hoại cơ sở máy móc, thiết bị ở các xí nghiệp, hầm mỏ…; dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư vào Nam ngay từ khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết; phao tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; kích động các phần tử chống đối sử dụng con bài tôn giáo, tín ngưỡng nổi dậy gây bạo loạn… Và theo thời gian, cường độ và quy mô phá hoại của đối phương tăng dần; trong đó, cuộc tuần tiễu DESOTO của Hạm đội 7 Mỹ dọc theo bờ biển miền Bắc Việt Nam và dàn dựng kế hoạch 34A là những hành động trực tiếp tạo cớ, để rồi “có được” sự kiện ngày 5-8-1964, 65 máy bay Mỹ chính thức mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn và ác liệt đối với miền Bắc nước ta.

Với mục tiêu chiến lược được xác định là bẻ gãy ý chí kháng chiến, hủy hoại tiềm lực về mọi mặt của miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, đồng thời với việc đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã tập trung sức mạnh không quân và hải quân tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại 1965 - 1968 và 1972(2) vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc nước ta. Đây chính là một trong những biện pháp chiến lược có tính quyết định nhằm đỡ đòn và góp phần “cải thiện” tình thế của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở chiến trường Nam Việt Nam.

Sớm dự kiến được âm mưu, nắm bắt kịp thời hành động của Mỹ, toàn Đảng, toàn dân miền Bắc thống nhất quan điểm: xây dựng và bảo vệ miền Bắc là sự nghiệp của toàn dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân phải luôn được toàn thể các tầng lớp nhân dân đồng thuận. Chính bởi vậy, khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhân dân ta đã nhanh chóng chuyển toàn bộ hoạt động xã hội từ thời bình sang thời chiến - vừa chiến đấu vừa đẩy mạnh công cuộc xây dựng hậu phương. Đặc biệt, đầu năm 1964, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được tiến hành để bàn định kế hoạch sơ tán nhân dân và các cơ sở kinh tế ra khỏi những trọng điểm đánh phá của địch, triển khai hệ thống phòng không ba thứ quân tác chiến với không quân Mỹ. Tiếp đến tháng 6-1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị, nêu rõ: phương châm đối phó cơ bản của ta đối với không quân Mỹ là: “kết hợp mọi biện pháp đánh địch và biện pháp phòng tránh; lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt, kết hợp với việc phát động một phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi thứ súng của bộ binh và các lực lượng dân quân tự vệ”(3). Theo đó, quân và dân miền Bắc khẩn trương bắt tay làm công tác chuẩn bị về mọi phương tiện. Lực lượng vũ trang các cấp toàn miền Bắc gấp rút chấn chỉnh tổ chức, biên chế, tăng cường quân số, vũ khí và trang bị, tích cực hoàn thiện phương án tác chiến theo chức năng và nhiệm vụ phân công. Cụ thể, Quân chung Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án tác chiến và triển khai lực lượng theo hướng ưu tiên tập trung cho những mục tiêu trọng yếu. Quân chủng Hải quân tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương đứng chân ở vùng biển Quân khu 4, tăng cường độ tuần tiễu dọc bờ biển. Các binh chủng khác cũng nhanh chóng xây dựng phương án tác chiến của mình. Các địa phương tiến hành huấn luyện, tập dượt các phương án chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phân tán tài sản và sơ tán nhân dân… Riêng đối với vùng giới tuyến, ven biển và biên giới phía tây, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân được phổ biến kế hoạch phóng chống thâm nhập, chống bom, pháo địch; còn bộ đội chủ lực ém sẵn trong nội địa, sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có lệnh.

Với sự chuẩn bị như vậy, nên quân và dân miền Bắc đã phát hiện kịp thời và chủ động đánh thắng ngay từ trận đầu ngày 5-8-1964, bắn rơi 8 máy bay và bắt giặc lái Mỹ. Bài học và kinh nghiệm của trận thắng ngày 5-8-1964 nhanh chóng được tổng kết và phổ biến cho lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc học tập, vận dụng vào thực tiễn chiến đấu. Và cũng từ thời điểm này, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc gia tăng nhanh chóng cả về quy mô và cường độ.


(1)  Bộ Giải phóng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.144.
(2) Qua hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, bom đạn Mỹ đã tàn phá nặng nề 4.000/5.708 xã, 28/30 thành phố, thị xã, thị trấn, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và nhiều công trình giao thông, thủy lợi, xí nghiệp, nhà máy và cơ sở kinh tế chủ chốt của miền Bắc; gây thương vong cho hàng trăm nghìn người dân…
(3) Những sự kiện Lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, tr.209-210.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:09:34 AM »

Để định hướng cho quân và dân miền Bắc đối phó với âm mưu và hành động mới của địch, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra các Nghị quyết 11 (3-1965) và 12 (12-1965), chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến. Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ của miền Bắc hiện nay vừa là sản xuất, vừa là chiến đấu. Sản xuất phải phục vụ chiến đấu và chiến đấu phải nhằm bản vệ sản xuất”(1); bảo đảm cho miền Bắc tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đủ sức mạnh đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Thực hiện nhiệm vụ nặng nề này, từ tư tưởng đến tổ chức, hành động cụ thể của mỗi người ở các cấp, các ngành đều có sự chuyển biến về chất.

Lề lối làm việc của các cơ quan Đảng và Nhà nước từ trung ương đến địa phương đều được chấn chỉnh. Cán bộ, công nhân viên ở các bộ, ngành được cơ cấu, sắp xếp phù hợp với nhiệm vụ chuyển hướng nền kinh tế. Một bộ phận cán bộ được động viên vào phục vụ trong lực lượng vũ trang và mặt trận giao thông vận tải. Các cơ quan đảng, nhà nước, trường học, nhà máy, xí nghiệp… nhanh chóng được sơ tán, phân tán khỏi thành phố, thị xã và các trọng điểm đánh phá của đối phương. Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước như: phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tay búa, tay súng”, “Tay cày, tay súng”… được dấy lên với khí thế sôi nổi, mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chỉ với phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng” và phong trào “Phụ nữ ba đảm đảng” đã thu hút hàng chục triệu người tham gia. Mặt trận Tổ quốc không ngừng được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng: đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội mẹ chiến sĩ… phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân và thành phần xã hội tham gia, có tác dụng thiết thực trong việc tập hợp, động viên quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua trong sản xuất, chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương, động viên tư tưởng những người cầm súng chiến đấu trên chiến trường. Sự chuyển hướng kịp thời về tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương là cơ sở, tiền đề cho việc chuyển hướng kinh tế miền Bắc trong điều kiện có chiến tranh.

Về kinh tế nông nghiệp, hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là với vùng trung du và miền núi, nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân. Theo chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các địa phương phân bổ lại lực lượng lao động, dành số vốn thích đáng để đầu tư cho trồng trọt và chăn nuôi. Do vậy, tuy hàng triệu trai trẻ phải lên đường đi cứu nước, nhưng sản xuất nông nghiệp miền Bắc vẫn không ngừng được củng cố và phát triển về mọi mặt. Số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từ 84,7% (1964) tăng lên 94,5% (1968) và thành phần kinh tế tập thể trong nông nghiệp chiếm 94,4%; từ năm 1965 đến năm 1968, có thêm 60 công trình thủy nông quy mô lớn, hàng trăm công trình quy mô vừa với hệ thống kênh, mương tưới tiêu trải rộng khắp ruộng đồng các địa phương; sản lượng lương thực và chăn nuôi hằng năm duy trì xấp xỉ bằng năm 1964. Riêng về năng suất cây lương thực, đến năm 1967 đã có hơn 30 huyện, 2.551 hợp tác xã dạt 5 tấn/hécta gieo trồng (năm 1964 chỉ có 5 huyện và một số hợp tác xã đạt thành tích trên)(2).

Về công nghiệp và thủ công nghiệp, sau khi khẩn trương sơ tán, phân tán đến những địa điểm tương đối an toàn, các nhà máy, xí nghiệp nhanh chóng ổn định mọi mặt và đi vào sản xuất. Trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại, Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, tập trung xây dựng những xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ để sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp và hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân các địa phương. Theo đó, trong những năm 1965 - 1967, số vốn đầu tư vào khu vực này tăng gấp 33 lần so với 3 năm trước đó. Hơn 600 cơ sở công nghiệp quốc doanh địa phương được bổ sung thiết bị, hoặc xây dựng mới(3). Kết quả của sự chuyển hướng cơ cấu sản xuất này là: với cơ khí, giá trị sản lượng toàn ngành (cả trung ương và địa phương) năm 1967 tăng 40% so với năm1964. Rất nhiều sản phẩm của ngành cơ khí đã đáp ứng rất kịp thời và hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải. Với ngành điện, mặc dù không quân Mỹ tập trung đánh phá dữ dội các nhà máy điện, nhưng nhờ sự chủ động xây dựng các công trình điện dự phòng, tăng cường trang bị các máy phát điện cho các xí nghiệp, công nhân ngành điện kiên cường bám nhà máy, xí nghiệp, nên nguồn điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt vẫn được bảo đảm. Ngành khai thác than vẫn giữ được sản lượng khai thác, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Các mỏ than địa phương được mở rộng và tăng cường thiết bị, máy móc, nâng công suất khai thác gấp ba lần so với trước chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, các ngành tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương đều tập trung nỗ lực phục vụ yêu cầu củng cố và phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân, phục vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường.


(1) Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Sđd, t.II, tr.28.
(2) TS. Nguyễn Xuân Tú: Hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.124.
(3) Nếu năm 1965 mới có 1.132 xí nghiệp (gồm 200 xí nghiệp trung ương và 927 xí nghiệp địa phương), thì đến năm 1869 đã phát triển lên 1.352 xí nghiệp (gồm 277 xí nghiệp trung ương và 1.075 xí nghiệp địa phương); bên cạnh đó, số hợp tác xã thủ công tăng từ 817 lên 1.028.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2014, 06:11:08 AM »

Cùng với chuyển hướng nền kinh tế, sự nghiệp giáo dục và văn hóa cũng vượt qua thử thách khốc liệt của chiến tranh phá hoại để tiếp tục vươn lên giành những thành tựu hết sức to lớn. Hàng vạn lớp học với hàng chục vạn học sinh các cấp được khẩn trương sơ tán ra khỏi những trọng điểm đánh phá của địch để tiếp tục học tập. Cùng với cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, số lượng học sinh và sinh viên và các trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp không ngừng gia tăng mỗi năm(1) (tỷ lệ thuận với gia tăng dân số và chính sách giáo dục ưu việt của Đảng và Nhà nước). Chương trình giáo dục và đào tạo được cải tiến cho phù hợp với tình hình mới. Việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, lòng yêu que hương đất nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa cho các thế hệ học sinh, sinh viên và thanh thiếu niên được đặc biệt chú trọng, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ củ đủ tri thức, nhân cách, có giác ngộ sâu sắc về lý tưởng trước khi bước vào cuộc sống xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng lên đường vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ xâm lược. Đặc biệt, để đáp ứng trực tiếp theo yêu cầu của kháng chiến, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, phân khoa Đại học Kỹ thuật quân sự - tiền thân của Trường Đại học Bách Kỹ thuật quân sự (Hiện nay là Học viện Kỹ thuật quân sự) được thành lập. Đồng thời với đào tạo ở trong nước, nhiều thanh niên ưu tú miên Bắc có vinh dự được cử đi đào tạo tại các trường đại học kỹ thuật và học viện kỹ thuật quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Từ đây, một bộ phận quan trọng kỹ sư thuộc các chuyên ngành kỹ thuật quân sự được bổ sung cho chiến trường miền Nam. Chính đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật này đã góp công lớn trong việc nghiên cứu đối phó hiệu quả với các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân của Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và khai thác, sử dụng những vũ khí, phương tiện thu được của Mỹ để đánh Mỹ. Đây chính là bài học rất độc đáo chỉ có được từ chiến lược xây dựng hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công tác văn hóa văn nghệ có bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, góp phần phục vụ trực tiếp cho đời sống, sản xuất và chiến đấu của nhân dân. Từ năm 1965 đến năm 1968, số sách xuất bản từ 22 triệu bản lên 30 triệu bản; số lượng thư viện từ 77 (1964) lên 176 (1967), đáp ứng cho hàng vạn bạn đọc hằng năm. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện sinh động hình tượng con người Việt Nam hăng say sáng tạo trong lao động sản xuất, anh hùng trong chiến đấu, thủy chung, trong sáng trong tình yêu, tình bạn, tình đồng chí anh em… Mặt khác, nhiều tác phẩm văn học nước ngoài đặc sắc cũng được lựa chọn dịch và xuất bản để giới thiệu cho bạn đọc ở cả hậu phương miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam; ngược lại, nhiều tác phẩm văn học của ta cũng được quảng báo cho bạn bè quốc tế. Qua đó giúp bạn bè quốc tế ngày càng hiểu thêm đất nước, con người Việt Nam, hiểu rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và đồng tình, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và chiến đấu giải phóng đất nước của ta. Đồng thời với các đoàn, đội văn nghệ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp không ngừng tăng theo mỗi năm, phong trào văn nghệ quần chúng cũng diễn ra sôi nổi và đều khắp ở các địa phương, đơn vị dân, chính, đảng và lực lượng vũ trang, góp phần động viên tinh thần, tạo thêm niềm lạc quan, hăng say lao động sản xuất và chiến đấu cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Chủ động chuyển mình cùng đất nước, ngành y tế khẩn trương tăng cường trang thiết bị, dụng cụ, thuốc men và phát triển nhanh mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh từ trung ương đến địa phương. Nếu năm 1964, toàn miền Bắc có 457 bệnh viện, 7 viện điều dưỡng và 5.289 trạm y tế xã phường, thì đến năm 1968 đã phát triển lên 981 bệnh viện, 50 viện điều dưỡng và 6.043 trạm y tế xã phường. Riêng đối với đội ngũ cán bộ y tế, đến năm 1967, toàn miền Bắc có 6 vạn bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ sinh và 9.435 dược sĩ đại học và trung cấp. Chính các cơ sở y tế và đội ngũ cán bộ y tế này là nhân cốt cho công tác cấp cứu phòng chống chiến tranh phá hoại trên khắp các địa bàn, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ.

Đặc biệt nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 5-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh động viên cục bộ, huy động một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan và quân dự bị vào phục vụ trong các đơn vị lực lượng vũ trang. Tiếp đó, ngày 25-5-1965, Người ký tiếp sắc lệnh sửa đổi Luật nghĩa vụ quân sự, kéo dài thời gian phục vụ đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ tại ngũ. Với tình cảm và trách nhiệm máu thịt với non sông, đất nước và quân lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ sau thời gian ngắn, toàn miền Bắc đã có 68.874 thanh niên nhập ngũ hoặc tái ngũ vào phục vụ trong quân đội. Chỉ tính khối chủ lực, từ 195.000 người đến năm 1965 tăng lên 400.000 người vào cuối năm 1965, trong đó lực lượng quân binh chủng, nhất là Quân chủng Phòng không - Không quân tăng gấp 3 lần so với năm 1964; bộ đội địa phương lên 28.000 người; riêng dân quân, tự vệ từ 1,4 triệu người lên 2 triệu người (tổng số dân quân, tự vệ năm 1964 chiếm 8% đến năm 1965 lên tới 10% dân số miền Bắc). Đây không chỉ là lực lượng nòng cốt của phòng trào phòng không nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ trị an xã hội, mà còn là đội quân xung kích trong lao động sản xuất và xây dựng ở các địa bàn cơ sở, đồng thời cũng là đội quân dự bị sẵn sàng bổ sung cho chiến trường khi cần thiết. Đặc biệt nhất là vào năm 1965, lực lượng phòng không và phòng thủ bờ biển ba thứ quân miền Bắc có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng(2), vũ khí, khí tài kỹ thuật không ngừng được bổ sung và hiện đại hóa.


(1) Trên toàn miền Bắc, nếu niên học 1964 - 1965, có 4.500.000 học sinh, với 9.285 trường phổ thông, có 29.800 sinh viên, với 16 trường đại học và 42.000 học sinh trung học chuyên nghiệp, thì đến niên học 1967 - 1968, đã phát triển lên tới 6.000.000 học sinh, với 11.497 trường phổ thông các loại; 58.200 sinh viên, với 35 trường đại học và 118.500 học sinh trung học chuyên nghiệp. Riêng về giáo dục phổ thông, hai phần ba trên tổng số 6.000 xã toàn miền Bắc có trường phổ thông cấp 1, hầu hết các huyện có trường phổ thông cấp III.
(2) Để đối phó với chiến tranh phá hoại của Mỹ, chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng phòng không miền Bắc đã có bước đột phá cả về số lượng và chất lượng: từ 15 trung đoàn, 14 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn không quân, 2 trung đoàn rađa... (1964), phát triển lên 33 trung đoàn, 66 tiểu đoàn pháo khòng không, 10 trung đoàn tên lửa, 2 trung đoàn không quân, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn rađa (1965); đến năm 1966, các sư đoàn phòng không hỗn hợp - binh đoàn chiến thuật cơ bản của Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập...; bên cạnh đó là hàng nghìn tiểu đoàn, đại đội pháo và súng máy phòng không bộ đội địa phương và hơn 2.000 đơn vị trực chiến phòng không của dân quân tự vệ làng xã, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được tổ chức thành mạng lưới phòng không khá hoàn chỉnh, gồm cả tầm cao, tầm trung và tầm thấp, bảo đảm tác chiến hiệu quả với các thủ đoạn chiến thuật đánh phá của không quân Mỹ. Cũng đến năm 1972, lực lượng phòng thủ bờ biển đã có 12 trung đoàn, 1 tiểu đoàn và 4 đại đội của bộ đội chủ lực; 500 đơn vị pháo binh của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ (tăng gấp 17 lần so với năm 1964).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM