Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 11:15:23 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 55722 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:38:40 PM »

Nhờ vận dụng tốt phương thức đấu tranh quân sự, chính trị phù hợp với đặc điểm và so sánh lực lượng trên từng vùng chiến lược, quân và dân ta ở miền Nam giữ vững được thế tiến công cách mạng liên tục, buộc đối phương phải phân tán lực lượng trên nhiều hướng chiến lược. Mỗi khi sức mạnh bị phân tán, lực lượng bị co kéo, dàn mỏng, thì quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa càng đánh càng thua và suy yếu. Ta giữ vững được quyền chủ động chiến trường, chủ động về chiến dịch, chiến đấu. Do đó, lực lượng quân sự, chính trị của ta càng đánh càng trưởng thành cả về lực lượng, ý chí quyết tâm và kinh nghiệm. Có điều đặc biệt là đế quốc Mỹ ngoan cố leo thang chiến tranh với quy mô ngày càng rộng, cường độ ngày thêm ác liệt, thì phong trào nhân dân thế giới càng ủng hộ Việt Nam, không chỉ vì cuộc chiến đấu của Việt Nam chính nghĩa, mà còn trong quá trình đấu tranh, nhân dân ta đã sáng tạo ra phương châm đánh Mỹ bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược đã kiêm chế Mỹ, không cho chiến tranh lan rộng thành chiến tranh thế giới, khiến họ yên tâm được sống trong hòa bình.

Quán triệt phương châm đánh đối phương bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược, quân và dân ta ở miền Nam không chỉ áp dụng phương châm này trong hoạt động chiến đấu riêng từng vùng, mà là trên phạm vị toàn miền Nam. Sự kết hợp đó đã đem lại hiệu quả cao cho các chiến dịch, các đợt hoạt động quân sự của ta. Năm 1964, ở Nam Bộ ta mở chiến dịch tiến công Bình Giã. Chiến dịch diễn ra trên bốn tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Thuận. Phối hợp với cuộc tiến công của lực lượng ba thứ quân, lực lượng chính trị của quần chúng trong bốn tỉnh đấu tranh chính trị yêu cầu đối phương không bắn pháo, càn quét vào các xóm làng, gây thương vong cho dân, phá hoại mùa màng, khiến cho đối phương lúng túng trong việc xử lý các tình huống, tạo điều kiện cho bộ đội tiến công giành thắng lợi. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân nổi dậy phá từng mảng ấp chiến lược dọc tỉnh lộ 2, vùng đất đỏ, Long Thành, Nhơn Trạch, quận Hoài Đức, nối căn cứ Hát Dịch với chiến khu Đ. Cuối tháng 5-1965, Quân khu 5 mở chiến dịch tây Sơn Tịnh, tiến công cứ điểm Gò Cao (Ba Gia). Tiếng súng tiến công của Trung đoàn 1 và đặc công vừa dứt, các đảng bộ địa phương huy động hàng ngàn quần chúng kéo vào thị xã Quảng Ngãi đấu tranh chính trị với đối phương, đòi chồng con và bồi thường cho những binh sĩ bị thiệt mạng, gây xáo động toàn thị xã. Nhân cơ hội này, nhân dân các huyện Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành… nổi dậy phá hơn 100 ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 27 xã với 20 vạn dân. Kết quả này chứng tỏ hiệu quả to lớn của sự kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp đánh đối phương của ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ.

Chiến tranh đặc biệt thất bại, đế quốc Mỹ đưa quân chiến đấu và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam và chính thức triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ. Theo điều lệnh tác chiến của quân đội Mỹ, lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ là quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của chúng. Lực lượng Mỹ sung sức, hung hăng, lại giàu bom đạn, tiền của, nên chúng đánh phá miền Nam rất ác liệt. Một câu hỏi đặt ra là đối với quân Mỹ ngôn ngữ bất đồng, tâm lý, phong tục cũng khác, phương pháp đấu tranh chính trị - một trong hai thành phần bạo lực cơ bản của cách mạng miền Nam có còn thực hiện được nữa không? Đảng Lao động Việt Nam cho rằng: quân Mỹ vào miền Nam tiến hành chiến tranh, nhưng chúng phải dựa vào chính quyền Việt Nam Cộng hòa, phải tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới, nghĩa là chúng phải “mỵ dân” và “lừa bịp” nhân dân miền Nam, nhân dân Mỹ và thế giới, chúng phải giấu mặt, trá hình. Đây là điểm yếu chí mạng của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ:

- Quân Mỹ vào miền Nam càng đông, càng mở rộng phạm vi chiếm đóng, tăng cường hành quân “tìm diệt”, dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm, rải chất độc phát quang…, thì chúng càng làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ, càng làm tăng thêm lòng căm thù của đồng bào ta đối với chúng.

- Tuy Mỹ đẩy mạnh chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng chúng vẫn phải theo đuổi thực hiện chính sách thực dân kiểu mới. Nhưng nhân dân ta có trình độ giác ngộ chính trị cao, dạn dày kinh nghiệm đấu tranh, sẽ không bị chúng lừa bịp, mà còn biết cách khoét sâu những nhược điểm về chính trị của Mỹ, vạch trần những thủ đoạn xảo trá của chủ nghĩa thực dân mới. Qua đó đẩy mạnh đấu tranh chính trị và tập hợp quần chúng về phía cách mạng.

- Quân Mỹ vào miền Nam càng đông, làm cho giới chức cầm đầu quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thêm mâu thuẫn với nhau sâu sắc, kinh tế - tài chính thêm thâm hụt, đời sống nhân dân vùng chúng kiểm soát thêm khó khăn. Điều đó càng thúc đẩy quần chúng nổi dậy chống lại chúng ngày càng quyết liệt thêm.

- Quân Mỹ vào miền Nam với mục đích dựng đỡ quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đánh bại lực lượng cách mạng, bình định miền Nam, nhưng chính quân Mỹ bị thua trong các cuộc hành quân tiêu diệt, thương vong ngày càng cao, phải sớm rút vào phòng ngự chiến lược, do đó mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng tăng, quân đội Việt Nam Cộng hòa mất lòng tin vào quân chiến đấu Mỹ, tinh thần hoang mang(1). Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam vẫn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với nghệ thuật của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.151, 152.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:40:33 PM »

Quân Mỹ vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ, nhiệm vụ của nó là hành quân “tìm diệt” lực lượng vũ trang, chính trị của cách mạng, bắn giết nhân dân, hỗ trợ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa làm nhiệm vụ bình định. Tuy nhiên, để mỵ dân, một bộ phận quân Mỹ đã đích thân xuống các làng xã, thôn bản “ba cùng” với dân, cắt tóc cho trẻ em, làm vệ sinh môi trường, kết hợp với tuyên truyền “chính sách của Mỹ giúp đỡ Chính phủ Việt Nam Cộng hòa”, nói xấu cách mạng, vu cáo miền Bắc xâm lược miền Nam, v.v. Đây thực sự là một trong những thủ đoạn rất nham hiểm thuộc lĩnh vực chiến tranh tâm lý xảo quyệt của đế quốc Mỹ. Dù vậy, nhân dân miền Nam từ người Kinh đến người Thượng đã trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, có tinh thần yên nước và giác ngộ cách mạng rất cao, họ đã lật tẩy những điều giả dối mà quân Mỹ tuyên truyền; đồng thời giải thích cho chúng rõ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Bằng mọi cách nhân dân tìm cách tiếp xúc với quân Mỹ và rải truyền đơn (tất nhiên là truyền đơn phải viết bằng tiếng Anh) kêu gọi chúng không được bắn giết nhân dân, vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cuộc đấu tranh chính trị được nhân dân ta tiến hành bằng nhiều phương pháp một cách kiên trì và liên tục, như “mưa dầm thấm lâu” dần dần nhiều lính và sĩ quan Mỹ đã nhận ra lẽ phải. Kết hợp với đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta chủ động tiến công quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa ở cả trong căn cứ cũng như những lúc chúng tiến hành càn quét, gây cho chúng những thiệt hại lớn về sinh lực và vũ khí, phương tiện chính trị, từ đó góp phần làm cho tinh thần, ý chí của binh sĩ Mỹ ngày thêm sa sút, hoảng loạn. Nhiều lính Mỹ tự đặt ra câu hỏi: Quân “Việt cộng” chiến đấu vì cái gì mà họ kiên cường như vậy? Còn quân Mỹ chiến đấu vì cái gì, mục đích không rõ ràng và càng không như Chính phủ Mỹ và sĩ quan tâm lý chí chiến của chúng tuyên truyền. Dần theo thời gian, nhiều binh sĩ Mỹ nhận ra là Chính phủ Mỹ đã lừa dối họ; họ chiến đấu không vì cái gì cả, hành động của binh lĩnh Mỹ ở miền Nam là phi nghĩa, vô nhân đạo. Cảnh lính Mỹ thần sắc mỏi mệt ủ rũ, thậm chí ôm mặt khóc rưng rức khi thực hiện nhiệm vụ canh gác căn cứ trong rừng sâu thẳm ở miền Nam Việt Nam diễn ra ngày càng nhiều. Khi bị chỉ huy đốc thúc đi hành quân, nhiều lính Mỹ chĩa súng bắn lên trời hoặc tìm cách lui về phía sau. Ở trong căn cứ, thời gian giữa các cuộc hành quân, nhiều binh sĩ Mỹ sa vào hút sách, cờ bạc, hoặc cầu nguyện sớm được kết thúc thời hạn quân địch “phục vụ” ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Binh sĩ chống lệnh sĩ quan, thoái thác nhiệm vụ chiến đấu ngày càng đông và trở thành phong trào. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ công bố thì chỉ tính trong 3 năm (1968 - 1970) số vụ lính Mỹ đào, rã ngũ lên tới 161 - 165 vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, trong các đơn vị quân đội Mỹ tham chiến ở miền Nam Việt Nam có tới 788 vụ lính bắt giết sĩ quan. Có thể thấy rằng đây là một hiện tượng tất yếu diễn ra trong một đội quân đi xâm lược, chiến đấu không có lý tượng bị tác động mạnh bởi tinh thần đấu tranh ngoan cường, bền bỉ và không quản gian khổ, hy sinh của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đó là ý nghĩa thực tiễn của nghệ thuật đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chính phương châm đấu tranh cách mạng này và nghệ thuật sử dụng nó đã góp phần quan trọng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ.

Sau khi quân Mỹ rút khỏi miền Nam, phương châm đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận kết hợp trên ba vùng chiến lược của ta vẫn tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả cao. Lúc này vùng bị đối phương chiếm đóng đã bị thu hẹp nhiều so với vùng giải phóng. Đây là một thuận lợi để nghệ thuật đấu tranh kết hợp quân sự, chính trị, binh vận phát triển. Những năm cuối của cuộc kháng chiến, ngoài những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn của bộ đội chủ lực cơ động như các chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, Đường 14 - Phước Long…, trên những hướng chiến lược nhất định, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 còn mở chiến dịch tổng hợp bắc Bình Định, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 mở chiến dịch tổng hợp trên địa bàn năm tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, Gò Công, Bến Tre. Trong các chiến dịch này có hai sư đoàn chủ lực (Sư đoàn 3 và Sư đoàn 5) cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân sáu tỉnh tham gia. Một cuộc chiến tranh nhân dân diễn ra rộng khắp, đồng thời, trên một không gian rộng. Với nghệ thuật đánh địch bằng “hai chân, ba mũi” trên cả ba vùng chiến lược, ở Bình Định, ta đã phá tan 20 khu dồn, 40 ấp chiến lược, kêu gọi được 6 trung đội cộng hòa, 2 tiểu đội bảo an, dân phản chiến, ly khai, ở Quân khu 8 ta bức địch rút khỏi 376 đồn, bốt, đánh thiệt hại 2 chi khu, giải phóng 27 xã, 240 ấp chiến lược… Kết quả đó chứng tỏ hiệu quả to lớn của nghệ thuật đánh địch bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện Việt Nam trong thời đại đối phương dùng vũ khí công nghệ cao. Đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị luôn luôn được kết hợp chặt chẽ đã tác động lẫn nhau, hỗ trợ nhau đã góp phần không ngừng nâng cao hiệu lực của các cuộc tiến công, hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, lực lượng chính trị của ta ở miền Nam Việt Nam. Rõ ràng “Sự kết hợp hai mặt đấu tranh đó trở thành quy luật giành thắng lợi của chiến tranh cách mạng miền Nam”(1).


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd. tr.16.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:42:06 PM »

5. Nghệ thuật tiến công và nổi dậy, nổ dậy và tiến công để tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam với đế quốc Mỹ ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, thực chất là cuộc chiến tranh giành dân, đồng thời là cuộc chiến tranh ý thức hệ vô sản và tư sản. Đối với đế quốc Mỹ, đó là cuộc chiến tranh xâm lược, nhằm chiếm đóng Nam Việt Nam, lập căn cứ quân sự “chống cộng sản”, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và “cộng sản” Liên Xô, Trung Quốc bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, chuẩn bị điều kiện xâm chiếm miền Bắc Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nghĩa là cuộc chiến tranh cách mạng giành lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau mà đế quốc Mỹ đã chiếm đóng trái phép, giải phóng nhân dân khỏi xiềng xích nô lệ. Bằng các biện pháp quân sự mạnh, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa - công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu là tổng thống đều rắp tâm đánh phá quyết liệt phong trào cách mạng miền Nam, đàn áp dã man những người yêu nước, chiếm đất đai, xây dựng căn cứ quân sự, lập khu dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược, dồn dân vào đó để khống chế, kìm kẹp, biến những nơi này thành những trại giam trá hình khổng lồ. để giải phóng miền Nam, nhân dân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với phương pháp cách mạng đánh đối phương bằng hai lực lượng (quân sự, chính trị), ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du, tự vệ) trên ba vùng chiến lược (miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị); đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công để tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch. Đây là những cặp phạm trù của nghệ thuật đấu tranh của chiến lược chiến tranh nhân dân “thời đánh Mỹ, diệt ngụy”, nó quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, tạo những điều kiện để ta phát triển tiến công diệt đối phương và làm chủ đất đai, dân cư. Tiến công quân sự đóng vai trò quyết định tiêu diệt lực lượng quân sự, chính trị của đối phương và phá hủy cơ sở vật chất, phương tiện chiến tranh của chúng, hỗ trợ tích cực cho nhân dân đấu tranh chính trị, phá thế kìm kẹp của đối phương. Đòn tiến công quân sự của ta càng mạnh mẽ, thắng lợi càng lớn, thì hiệu quả bảo vệ dân, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân càng cao, hạ uy thế của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đấu tranh mở rộng vùng làm chủ. Ngược lại, nhân dân ta giữ vững và mở rộng quyền làm chủ, cách mạng sẽ có thêm lực lượng về nhân tài, vật lực, có địa bàn để lực lượng vũ trang, chính trị đứng chân xây dựng, phát triển thế tiến công địch, thu hẹp vùng chiếm đóng của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1960, lực lượng vũ trang cách mạng tiến công căn cứ Tua Hai (Tây Ninh), tiêu diệt 500 tên địch, gây nỗi kinh hoàng cho binh sĩ quân đội và giới chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đòn tiến công này đã khơi ngòi cho nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một (Bình Dương), Long An, Bà Rịa… nổi dậy xóa bỏ chính quyền cơ sở của đối phương, giành quyền làm chủ, đồng thời kích thích và hỗ trợ cho quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tiến hành Đồng khởi đợt 2 giành thắng lợi (trước cuộc tiến công Tua Hai 8 ngày, nhân dân Bến Tre và các tỉnh miền Trung và miền Tây Nam Bộ đã tổ chức Đồng khởi đợt 1 thành công, giành quyền làm chủ một vùng đất rộng lớn ở nông thôn đồng bằng). Chính từ thực tế Đồng khởi đã đúc kết nên phương pháp cách mạng tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch. Khi toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta luôn áp dụng phương pháp này để diệt địch và mở rộng quyền làm chủ, nó đã trở thành một trong những nét tiêu biểu của nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân. Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam ra đời trước Đồng khởi, số lượng không nhiều, tổ chức biên chế đại đội, tổ, đội, nhiều nơi có tiểu đoàn, qua chiến đấu đã phát triển thành lực lượng vũ trang ba thứ quân, mang tên lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, mà Quân giải phóng là nòng cốt. Nhưng do thời gian đầu, đối sánh lực lượng trên chiến trường ta vẫn yếu hơn đối phương nên mặc dù lực lượng vũ trang giải phóng chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, sáng tạo,… nhưng chưa đủ sức hỗ trợ cho nhân dân giữ vững quyền làm chủ ở tất cả các vùng mà ta đã giải phóng được trong phong trào Đồng khởi. Ở miền Tây Nam Bộ, trong Đồng khởi. ta làm chủ 2.543 ấp, nhưng sau đó bị đối phương tái chiếm 1.023 ấp; ở Trung Nam Bộ, ta làm chủ 73 xã, đối phương chiếm lại 10 xã. Vùng làm chủ của nhân dân bị thu hẹp, cơ sở cách mạng, cán bộ, đảng viên phải phân tán sang các vùng khác hoạt động. Vùng đồng bằng Khu 5, ta chỉ còn giữ được 904 thôn trong tổng số 3.829 thôn, lực lượng vũ trang địa phương yếu, thiếu kinh nghiệm, bị tổn thất trong chống địch càn quét, nên địch dồn dân, lập các khu tập trung dễ dàng. Nhiều địa phương miền Nam tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận còn rời rạc, không ăn ý nhau, nên chưa tạo được sức mạnh hỗ trợ cho bộ đội chủ lực bám trụ địa bàn, tiến công địch để nhân dân củng cố vùng làm chủ. Nhiều vùng bộ đội chủ lực về giải phóng và sau đó rút đi nơi khác, lực lượng vũ trang địa phương không giữ được, lập tức bị đối phương líp lại, kìm kẹp quần chúng nghiệt ngã hơn. Vả lại, khi đó bộ đội chủ lực còn nhỏ yếu, trang bị vũ khí, kỹ thuật thông thường nên đòn tiến công của chủ lực chưa hỗ trợ được cho phong trào đấu tranh chính trị để giữ vững quyền làm chủ của quần chúng. Chỉ sau trận thắng Ấp Bắc (2-1-1963) và phong trào Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công được phát động thì đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận mới kết hợp được tương đối chặt chẽ. Bộ đội chủ lực được tăng cường về số lượng và trang bị từ miền Bắc vào, dân quân, du kích, tự vệ phát triển. Những trận đánh tiêu diệt từng đơn vị, đồn bốt của đối phương trong các chiến dịch tiến công, các đợt hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang giải phóng đã làm cho quân đội Việt Nam Cộng hòa giảm sút ý chí, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân nổi dậy phá ấp, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng. Tiêu biểu cho việc thực hiện nghệ thuật tiêu diệt đối phương để giành quyền làm chủ là những chiến dịch tiến công Bình Giã, Dương Liễu - Đèo Nhông - An Lão. Cuộc tiến công của bộ đội chủ lực Quân giải phóng đã hỗ trợ tích cực cho lực lượng vũ trang các địa phương cùng nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số vùng có điều kiện, đồng thời phá lỏng kiềm ở những vùng khác của nông thôn đồng bằng; còn ở vùng rừng núi nhân dân các dân tộc phá khu dồn, bung dân ra lập làng mới về với cách mạng. Để giữ vững quyền làm chủ của mình, nhân dân miền Nam về nhiều huyện, tỉnh đồng bằng xây dựng vùng làm chủ thành những làng, xã chiến đấu và phát triển lực lượng vũ trang địa phương nhưng chưa nhiều, chưa mạnh, song đã đánh địch càn quét có kết quả, tạo điều kiện cho chủ lực tiêu diệt địch. Sự kết hợp giữa tiến công tiêu diệt đối phương và nổi dậy giành quyền làm chủ đã tạo cho cách mạng miền Nam một sức mạnh mới, củng cố và mở rộng vùng giải phóng liên hoàn, tiêu diệt được những đơn vị lớn của đối phương và những cứ điểm, cụm cứ điểm của chúng. Trong chiến tranh đặc biệt, mặc dù nghệ thuật chiến tranh nhân dân tiến công tiêu diệt đối phương kết hợp giữ vững quyền làm chủ của nhân dân phát triển tiến bộ vượt bậc so với thời kỳ đầu chiến tranh, nhưng so với yêu cầu thì phong trào đấu tranh quân sự, chính trị giữa các khu, tỉnh phát triển không đều, nhiều nơi còn lúng túng về vận dụng phương pháp đấu tranh dẫn đến mất đất, mất dân. Để khắc phục tình trạng này, Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ sáng tạo ra Phương châm ba bám: cán bộ, đảng viên bám dân để lãnh đạo; dân bám đất, bám làng xã để chiến đấu, sản xuất; du kích bám địch để đánh. Còn ở khu 5, Đảng bộ và nhân dân lại sáng tạo ra Phương châm bốn bám: đảng viên, cán bộ bám dân; cấp trên bám cấp dưới; dân bám đất; du kích bám địch. Đây là phương châm được đúc kết từ thực tiễn đấu tranh cam go, quyết liệt của đảng viên, cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân ta ở miền Nam chống địch càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược, khu dồn. Các phương châm đấu tranh này mang tính khoa học và cách mạng cao, nó không chỉ có giá trị chiến thuật, mà còn có ý nghĩa chiến lược và thực tiễn to lớn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:44:57 PM »

Khi chiến lược chiến tranh đặc biệt bị phá sản, đế quốc Mỹ nhanh chóng đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam. Quân Mỹ vào miền Nam tham chiến nhằm giữ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa không bị tan rã và nâng đỡ chính quyền Việt Nam Cộng hòa khỏi sụp đổ - tức là giữ chỗ dựa trực tiếp để quân Mỹ mở các cuộc phản công giành lại quyền chủ động, tiến tới tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, chiếm lại những vùng đã mất, bình định miền Nam. Quân Mỹ vào miền Nam, tính chất cuộc chiến tranh đã thay đổi - vừa “cục bộ” vừa “đặc biệt”. Tính chất “cục bộ” ngày càng tăng lên đồng thời với số lượng quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ gia tăng ở miền Nam, nhưng tính chất “đặc biệt” vẫn còn hiện hữu, bởi nó gắn liền với chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Để đối phó với đối tượng tác chiến mới, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điện chỉ đạo cho quân và dân ta ở miền Nam: “nhất thiết phải giành và giữ thế chủ động chiến trường, luôn luôn tiến công cho mạnh, đồng thời tự vệ cho tốt, không ngừng mở rộng quyền làm chủ rừng núi, nông thôn, đồng bằng, tiến tới làm chủ một số vùng chung quanh thành thị và trong thành thị”(1). Tiếp đó, ngày 27-4-1965, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho các chiến trường miền Nam: Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực, có những đợt hoạt động về chiến dịch cùng một lúc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng ở từng khu vực, đẩy mạnh quá trình sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn… để chuẩn bị điều kiện đối phó và quyết thắng địch nếu chúng mở rộng thành chiến tranh cục bộ. Thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn và chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy Khu 5 đã động viên quân và dân khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, kiên quyết thực hiện phương châm “ba bám”, “bốn bám”, tăng cường các cuộc tiến công tiêu diệt đối phương, cố gắng đánh bại quân đội Việt Nam Cộng hòa, làm mất chỗ dựa để tiến hành chiến tranh của Mỹ, đồng thời tích cực xây dựng vùng giải phóng thành những làng, xã chiến đấu liên hoàn, sẵn sàng đón đánh quân Mỹ. Trên tinh thần đó, ta mở cuộc tiến công Hè Thu 1965 trên toàn miền Nam.Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ tiến công địch trong thị xã Phước Long và chi khu quân sự Phước Bình (11-5). Phía Mỹ thú nhận “Việt cộng đã chiếm được thị xã và khu cố vấn Mỹ, gây thương vong nặng nề”, “cơn bão đã nổi lên thật sự”(2). Cùng với Nam Bộ, ngày 26-5-1965, Quân giải phóng mặt trận Tây Nguyên tiêu diệt cứ điểm Pôcô và Trại lực lượng đặc biệt Tumơrông (Kon Tum); ngày 31-5, mở trận tiến công tiêu diệt quận lỵ Lệ Thanh (Gia Lai). Ở Khu 5, Trung đoàn 1 chủ lực quân khu tiến công cứ điểm Gò Cao (Ba Gia) lần thứ nhất. Ngày 7-6, Sư đoàn 3 (Sao Vàng) trở lại địa bàn huyện Sơn Tịnh, tiến công cứ điểm Gò Cao lần thứ hai và đánh quân tiếp viện. Đồng thời với đòn tiến công tiêu diệt quân đội Việt Nam Cộng hòa, lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam chủ động mở loạt trận đánh phủ đầu quân viễn chinh Mỹ ở Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me, Bầu Bàng, Dầu Tiếng; gây cho chúng những thiệt hại đầu tiên - đặc biệt trong trận chiến ở Thung lũng Ia Đrăng, quân ta tiêu diệt và đánh thiệt hại hai tiểu đoàn kỵ bị bay Mỹ (Tiểu đoàn 1 và 2). Đây là tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt đầu tiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ngày 9-6, Quân giải phóng Đông Nam Bộ mở chiến dịch tiến công quân địch ở Đồng Xoài… Những đòn tiến công quân sự mạnh mẽ này đã tạo điều kiện cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nổi dậy phá rã 1.500 ấp chiến lược, khu dồn, hàng triệu quần chúng giành được quyền làm chủ. Ở miền Đông Nam Bộ, ta tạo thêm được một số căn cứ lõm ở Hóc Môn, Gò Vấp, Dĩ An, Thủ Đức…, hình thành vành đai du kích quanh Sài Gòn - Gia Định. Ở Khu 5, ta giải phóng hoàn toàn 123 xã, đưa 1 triệu 500 ngàn dân lên làm chủ vững chắc, v.v. Nhờ đòn tiến công quân sự mạnh, tiêu diệt nhiều cứ điểm, quận lỵ, đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng như quân Mỹ trong Hè - Thu 1965 đã hỗ trợ cho nhân dân giữ vững quyền làm chủ, xây dựng thành những làng xã chiến đấu vững chắc, đủ sức chống lại các cuộc càn quét quy mô đại đội, tiểu đoàn địch. Bên cạnh làng xã chiến đấu, nhân dân ta ở miền Nam còn sáng tạo xây dựng các vành đai du kích diệt Mỹ bao quanh các căn cứ Mỹ. Mỗi vành đai du kích du kích diệt Mỹ gồm một hệ thống từ 5 đến 10 xã liên hoàn(3). Dựa vào vành đai, lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội đặc công, trinh sát thường xuyên đánh nhỏ, lẻ vào căn cứ Mỹ, tiêu hao sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng. Làng xã chiến đấu và vành đai diệt Mỹ hợp thành một hệ thống vùng làm chủ liên hoàn vững chắc của nhân dân, nó góp phần rất quan trọng đưa cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao, tạo điều kiện cho ta phát huy cách đánh kết hợp hai phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược đạt hiệu quả ngày càng cao. Bị bao vây bởi các làng xã chiến đấu và những vành đai du kích, quân Mỹ cũng như quân Việt Nam Cộng hòa không thể tung hết lực lượng vào các cuộc hành quân “tìm diệt”, chúng phải để lại 1/3 quân số phòng giữ căn cứ. Số quân tham gia cuộc hành quân bị chiến tranh du kích của ta đánh chặn, tiêu hao, cắt đường tiếp tế, chúng phải để lại một bộ phận nữa đối phó với ta để bảo vệ hành lang cơ động và tiếp tế, không tập trung được lực lượng mạnh vào hướng chính và trận then chốt. Do đó, trong những thời điểm nhất định ở những điểm quyết chiến, so sánh lực lượng của đối phương không mạnh hơn ta. Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965 - 1966) và cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967), quân Mỹ bị chủ lực Quân giải phóng đánh tiêu diệt hàng ngàn tên, chúng phải chấm dứt các cuộc hành quân “tìm diệt” mà không đạt được mục đích hành quân đặt ra. Thừa thắng, mùa đông 1967, Quân giải phóng Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công Đắc Tô (Kon Tum) đánh thiệt hại nặng hai lữ đoàn Mỹ (Lữ đoàn 173 và Lữ đoàn 1 Sư đoàn 4) góp phần rất quan trọng buộc quân Mỹ từ chủ động tiến công phải lui vào phòng ngự chiến lược. Đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch của Quân giải phóng đã tạo điều kiện cho quân và dân Khu 8, Khu 9, Khu 7, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên nổi dậy giành và mở rộng các vùng làm chủ. Đến cuối năm 1967, vùng làm chủ của ta đã áp sát vào tận các vùng ven đô Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và nhiều thị xã, thị trấn khác trên toàn miền Nam, tạo nên một địa bàn quan trọng để lực lượng vũ trang ta ém quân, cất giấu lương thực, vũ khí, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Trong chiến tranh, có lực lượng đông, mạnh chưa đủ để giành thắng lợi trong tất cả các trận giao chiến, mà còn phải có nghệ thuật bố trí thế trận, sắp xếp và sử dụng lực lượng hợp lý trên các địa bàn, tạo thế trận liên hoàn, sâu hiểm, hỗ trợ nhau, làm cho ta luôn ở thế có lợi vừa có lực lượng tại chỗ mạnh, vừa có lực lượng cơ động mạnh và chủ động hơn địch. Ở thế có lợi thì sức một thành mười, sức mười thành trăm. Kết hợp tiến công tiêu diệt đối phương với giữ vững quyền làm chủ của nhân dân trong suốt hai mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1976, đã tạo cho cách mạng miền Nam nói chung, lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nói riêng thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, cài xen với địch. Nhờ nhân dân giữ vững được những vùng làm chủ rộng lớn, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng, củng cố ngày thêm vững chắc và sâu hiểm, các binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành, lực lượng đặc công, biệt động, pháo chuyên trách của Quân giải phóng được bố trí hợp lý trên các hướng tiến công và trụ vững ở vùng căn cứ và cả vùng ven đô. Thế trận này đã tạo cho cách mạng miền Nam một lợi thế rất lớn để quân và dân miền Nam chủ động mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đánh đồng loạt, đánh trúng vào 4/5 thành phố, 37/44 thị xã, thị trấn và hàng trăm căn cứ quân sự, sở chỉ huy của đối phương trên toàn miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy là đòn quyết định đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công tiêu diệt đối phương trên phạm vi rộng lớn của lực lượng vũ trang, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ đánh địch, trực tiếp hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy đều khắp, giải phóng thêm 1,6 triệu dân, 100 xã, 600 ấp chiến lược và khu dồn dân. Chương trình bình định của Mỹ bị thất bại nặng nề, tướng Uylơ - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ thừa nhận: “Trên một phạm vi rộng lớn, hiện nay, Việt cộng nắm quyền kiểm soát nông thôn"(4). Đây là thành quả to lớn của sự kết hợp tiến công tiêu diệt địch với giữ và giành quyền làm chủ của nhân dân. Có vùng làm chủ vững chắc, mặc dù sau đợt Tết Mậu Thân, thời cơ để tiếp tục mở cuộc tiến công không còn, nhưng ta vẫn tạo được yếu tố bí mật, bất ngờ, tiếp tục mở các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 vào các thành thị trên toàn miền Nam. Tuy ta có giành thêm được một số thắng lợi góp thêm áp lực buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngừng ném bom toàn miền Bắc Việt Nam, nhưng lực lượng quân sự, chính trị của ta bị tổn thất nặng nề, đối phương lập lại quyền kiểm soát của chúng ở nhiều vùng, lực lượng ta phải rút khỏi các đô thị, bộ phận lớn cơ sở bị vỡ. Dù vậy, bằng sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân ta, sang năm 1969, 1970, cách mạng miền Nam đã dần giành lại thế chiến trường, làm chủ 3/4 đất đai và 2/3 dân số miền Nam. Đó là điều kiện cơ bản để quân và dân ta ở miền Nam giữ vững quyền chủ động chiến lược, chủ động chiến trường, tiếp tục thực hiện nghệ thuật tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch trong suốt quá trình Mỹ xuống thang chiến tranh và thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd tr.147.
(2) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.88.
(3) Làng xã chiến đấu: Xã An Trường (tỉnh Trà Vinh); Long Tân, Long Điền, Đất Đỏ (tỉnh Bà Rịa); xã An Phú, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập Thượng (Củ Chi), xã A1, xã Bắc (An Khê - Plâyku); Khuê Ngọc Điền (Đắk Lắk), Đắk Uy (Kon Tum); xã Bình Hòa, làng Vạn Tường, Đức Phong (Quảng Ngãi), xã Anh Dũng, Hòa Hải (Quảng Nam).
Vành đai du kích diệt Mỹ: Đà Nẵng (Quảng Đà), Chu Lai (Quảng Nam); An Khê (Gia Lai), Đồng Dù còn gọi là Bắc Hà (Củ Chi), Rạch Kiến (Long An), Châu Thành (Tây Ninh), Bến Cát, Lái Thiêu (Bình Dương), Công Xanh, Lai Khê (Thủ Dầu Một), Đông Hà, Ái Tử (Quảng Trị), Đồng Lâm (Thừa Thiên), Bình Đức (Mỹ Tho), Núi Tô (An Giang)…
(4) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.II, tr.267.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:45:53 PM »

Năm 1971, được Mỹ chỉ đạo và yểm trợ bằng không quân, pháo binh, quân đội Việt Nam Cộng hòa huy động 3 sư đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến và 3 lữ đoàn tăng, thiết giáp, lính thủy đánh bộ, 17 tiểu đoàn pháo binh, mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào khu vực đường 9 - Nam Lào, nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, phá căn cứ hậu cần chiến lược của ta. Đây là đòn thử sức quân đội Việt Nam Cộng hòa - công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ. Nhưng kết cục, cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhanh chóng bị chủ lực Quân giải phóng miền Nam, có sự phối hợp của Quân giải phóng nhân dân Lào đánh bại. Sau đòn chí mạng này, quân đội Việt Nam Cộng hòa bắt đầu co vào phòng ngự bị động, đẩy Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ đến bờ vực của sự phá sản. Chính cố vấn Henri Kítxinhgiơ coi đây là cột mốc đánh dấu cuộc hành quân cuối cùng mà quân đội Mỹ còn tham gia ở Đông Dương, kể cả trong vai trò hỗ trợ đã thất bại.

Đòn tiến công mạnh mẽ của Quân giải phóng tiêu diệt một số lượng lớn quân địch ở đường 9 - Nam Lào, đường 7 - Đông Bắc Campuchia và Ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia ở tỉnh Kon Tum đã tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang các quân khu, tỉnh và huyện đẩy mạnh tiến công hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch, giành quyền làm chủ thêm nhiều vùng nông thôn đồng bằng, nhất là những vùng ven các đô thị. Có vùng giải phóng rộng, nối thông giữa các khu, tỉnh, thành từ rừng núi đến đồng bằng. Thế trận chiến tranh nhân dân được khôi phục và củng cố vững chắc. Các sư đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật của Quân giải phóng về đóng quân, hoạt động trên những địa bàn quan trọng này. Ở những vùng làm chủ, ta xây dựng hệ thống các cụm kho dự trữ chiến lược, chiến dịch, cất giấu vật chất cho cuộc kháng chiến. Giữ vững quyền làm chủ của nhân dân, chẳng những ta đã tạo ra một địa bàn đứng chân, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, mà còn tạo ra hai vùng kiểm soát giữa ta và đối phương song song tồn tại. Điều này về mặt chính trị làm cho Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa hết sức bối rối, vì chúng luôn luôn phủ nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát giữa ta và chúng đang tồn tại. Để giữ được quyền làm chủ, nhân dân ta ở miền Nam, phải chịu bao gian khổ, hy sinh bao xương máu, phải có “gan vàng dạ dắt” và trí tuệ thông minh, mưu lược mới trụ vững trên mảnh đất của mình. Cho nên, giữ vững quyền làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để giữ vững quyền làm chủ không chỉ là phương pháp cách mạng, mà còn là một trong những nghệ thuật đánh giặc của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nhờ có vùng làm chủ rộng, liên hoàn, từ sau chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, khối chủ lực cơ động Quân giải phóng có điều kiện mở những chiến dịch tiến công đánh tiêu diệt lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đó là các Chiến dịch Trị - Thiên, Chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh, Chiến dịch Bình Long - Phước Long (còn gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ)… Trong các chiến dịch này, ta tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22, Tiểu đoàn dù 11 và một lữ đoàn thủy quân lục chiến, hai liên đoàn biệt động, năm chiến đoàn bộ binh, hàng chục tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh, giải phóng tỉnh Quảng Trị, Đắc Tô - Tân Cảnh (Kon Tum), Lộc Ninh (Bình Long), v.v. Vùng làm chủ của ta không chỉ là những vùng xen kẽ với vùng địch mà là những vùng rộng lớn cả một tỉnh, một huyện hoặc nhiều huyện. Đó là kết quả của nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch. Tiêu diệt địch càng nhiều, càng lớn, thì vùng làm chủ càng rộng, ngược lại vùng làm chủ càng rộng thì nhân tài, vật lực cách mạng càng đông, càng mạnh, đánh tiêu diệt càng cao. Như vậy, tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch luôn luôn tỷ lệ thuận với nhau, nên nó luôn thúc đẩy, tác động lẫn nhau và hỗ trợ nhau để đạt hiệu quả chiến đấu và giành dân ngày càng cao trong quá trình kháng chiến. Trên nền tảng chiến tranh nhân dân đã có, những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến, nghệ thuật chiến tranh này tiếp tục được mở rộng và phát triển lên quy mô chiến dịch, chiến lược tạo điều kiện cho ta đánh tiêu diệt lớn đối phương, không ngừng củng cố, mở rộng vùng làm chủ ở miền núi và đồng bằng, một số vùng xung quanh đô thị và trong đô thị. Ở những vùng ta làm chủ, lực lượng quân sự, chính trị của quần chúng nhân dân được xây dựng, bố trí với số lượng thích hợp, bảo đảm giữ vững được những vùng giải phóng, tạo nên thế bao vây, chia cắt đối phương. Dựa trên thế trận này, năm 1974, khối chủ lực cơ động cua Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch tiến công Nông Sơn - Thượng Đức và Chiến dịch Đường 14 - Phước Long. Với Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, ta đã đánh bại lực lượng trù bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng một vùng rộng lớn phía tây Tam Kỳ, Đà Nẵng, tạo thêm cơ sở để Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu soạn thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm. Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, bộ đội chủ lực ta đánh chiếm thị xã Phước Long và đánh bại hoàn toàn những cuộc phản kích của quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng tỉnh Phước Long - một địa bàn chiến lược án ngữ cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn, chứng tỏ bộ đội giải phóng có khả năng đánh chiếm, làm chủ thành phố và quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa không có khả năng chiếm lại, đế quốc Mỹ cùng không có khả năng can thiệp trở lại bằng lục quân. Chiến thắng này là cơ sở để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, mở đầu là Chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 3-1975, ta giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, nhưng Mỹ và giới lãnh đạo chóp bu bu quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn nhận định rằng “Việt cộng” còn phải lo củng cố, không thể tiến công tiếp, nên chúng tập trung lập tuyến phòng thủ Phan Rang để ngăn chặn ta, chờ đến mùa mưa sẽ phản công, lấy lại những vùng đã mất. Song, đối phương không thể hiểu được vùng làm chủ của cách mạng bây giờ là cả dải đất miền Trung rộng lớn. Ở đó, lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị cùng quần chúng nhân dân sẽ bảo vệ trật tự an ninh, củng cố vùng mới giải phóng để lực lượng chủ lực binh chủng hợp thành “rảnh tay” thần tốc tiến vào mặt trận Sài Gòn - Gia Định. Nhờ đó, chỉ sau 10 ngày giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đã nổ súng đánh Xuân Lộc và sau 16 ngày, Quân đoàn 2 tiến công tuyến phòng thủ Phan Rang, giải phóng thị xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận và ngày 19-4, giải phóng thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thần tốc tiến vào Long Khánh phối hợp với Quân đoàn 4 đánh chiếm Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh. Chín ngày sau khi giải phóng Long Khánh, năm cánh quân của ta trên bốn hướng đồng loạt đánh chiếm năm mục tiêu quan trọng của địch trong nội đô Sài Gòn - Gia Định, bắt Tổng thống Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. Chiến tranh kết thúc nhanh chóng, Mỹ và một bộ phận quan trọng cấp cao chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa kinh hoàng, vội vã rút chạy khỏi Sài Gòn, còn nhân dân tiến bộ trên thế giới thì vui mừng, nhưng không tránh khỏi bàng hoàng vì xúc động, vui sướng trước một sự kiện lịch sử có tầm cỡ quốc tế đến nhanh như vậy, ngoài sức tưởng tượng của hàng triệu người. Thành công này một phần nhờ vào sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân kết hợp chặt chẽ giữa tiến công tiêu diệt để giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt đối phương trong trường kỳ kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Đây là “một quá trình đấu tranh chính trị và quân sự, quân sự và chính trị; khởi nghĩa của quần chúng và chiến tranh cách mạng; chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là quy luật không những trên chiến trường Việt Nam, mà cả toàn bộ trên chiến trường Đông Dương”(1).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.243.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:47:01 PM »

6. Nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao

Cuộc đấu tranh của đế quốc Mỹ chống nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, nghĩa là cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành, nhưng lấy chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa do chúng dựng lên làm chỗ dựa để lừa bịp thế giới. Cuộc đấu tranh của nhân dân yêu nước miền Nam đã làm lộ rõ nguyên hình chính quyền và quân đội Việt nam Cộng hòa là kẻ bán nước, đối lập với nhân dân. Cuộc Đồng khởi của nhân dân miền Nam đã bóc trần lớp sơn hào nhoáng của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ để lộ ra bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ, khiến cho nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới căm ghét. Để duy trì ách thống trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới, đế quốc Mỹ phải “giấu mặt, trá hình”, tiếp tục tiến hành các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh. Bởi vậy cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam không đơn thuần là cuộc đấu tranh quân sự, mà phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Đấu tranh quân sự là để tiêu diệt lực lượng quân sự, phương tiện chiến tranh của đối phương, đánh bại cuộc xâm lược của Mỹ, thực hiện mục đích chính trị đã đề ra là độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, hòa bình, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chính trị là để vạch mặt các thủ đoạn “giấu mặt, trá hình” của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, phơi trần trước toàn thế giới bộ mặt thật của đế quốc Mỹ là kẻ đi xâm lược, góp phần cùng đấu tranh quân sự thực hiện mục đích chính trị của cách mạng. Đồng thời qua đó, phân hóa kẻ thù, tập hợp lực lượng chống lại đế quốc Mỹ. để đạt mục tiêu của cách mạng, quân và dân miền Nam luôn luôn kiêm trì kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, để tạo sức mạnh đánh thắng từng bước các kế hoạch chiến lược và chiến đấu của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị là “nội dung mới, hình thức mới của chiến tranh cách mạng miền Nam, là biện pháp mới để đương đầu với kẻ địch rất mạnh và xảo quyệt”(1).

Cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam - cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - diễn ra khi thế giới đã chia thành hai phe: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; phong trao đấu tranh giành độc lập của nhân dân thế giới lên cao. Các cuộc chiến tranh xâm lược và chống xâm lược đều mang tính chất liên minh. Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng đã vận động 34 nước đồng minh, phụ thuộc Mỹ cung cấp hàng tiêu dùng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân đội Mỹ ở Việt Nam; đồng thời sử dụng lãnh thổ của các nước đồng minh như Nhật Bản, Philíppin, Thái Lan để lập căn cứ quân sự tiến công Việt Nam. Đặc biệt nhất là bằng tiền của mua chuộc, đế quốc Mỹ đã vận động năm nước đồng minh, gồm: Nam Triều Tiên, Philíppin, Thái Lan, Ôtxtrâylia, Niu Dilân đưa quân chiến đấu sang Việt Nam giúp Mỹ tiến hành chiến tranh. Đây là biểu hiện cụ thể tính chất liên minh của phe đế quốc chủ nghĩa. Để đánh bại chúng, quân và dân ta đã kiên trì và giữ vững chiến lược kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng. Trong khi quân và dân ta ở miền Nam tích cực đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị để tiêu diệt đối phương và giành quyền làm chủ, thì Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cử những đoàn đại biểu đi thăm hữu nghị các nước trong phong trào Không liên kết để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè và dư luận quốc tế. Thông qua các diễn đàn quốc tế như Hội nghị hòa bình thế giới, Hội nghị Công đoàn thế giới, Đại hội thanh niên thế giới, Hội nghị luật gia Á - Phi - Mỹ Latinh v,v. ta đã dần làm cho bạn bè quốc tế hiểu đúng, hiểu rõ bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Sự đồng tình, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ các nước xã hội chủ nghĩa lan dần ra các nước Á - Phi - Mỹ Latinh, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ và vào tận cả trong lòng nước Mỹ. Phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam của chính quyền Oasinhtơn bùng nổ ở 1.200 thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn nước Mỹ. Lực lượng tham gia xuống đường đấu tranh, ngoài các tầng lớp nhân dân Mỹ, còn có nhiều thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ trong lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ và hơn 30 vạn viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên cùng hàng trăm lính Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam trở về. Họ cầm cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đeo băng tang để phản đối chính quyền, đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, rút quân Mỹ về nước. Nhiều học giả Mỹ nhận xét: Chiến tranh Việt Nam đã làm tan nát quân đội Mỹ và là cuộc chiến tranh duy nhất Mỹ tham gia với một quân đội mạnh, rút ra với một quân đội yếu đi nhiều lần. Hệ quả đó dẫn đến “trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch từ 1964 đến 1974 có gần 17 triệu hoặc trên 60% đã trốn quân dịch. Các nước Á - Phi - Mỹ Latinh, qua việc tuyên truyền, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và quân đội Mỹ đối với nhân dân Việt Nam và giới thiệu cuộc chiến đấu kiên cường của quân, dân ta, từ việc họ lên án đế quốc Mỹ, đến công nhận vai trò Mặt trận dân tộc giải phóng, kết nạp Mặt trận làm thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế Á - Phi và Á - Phi - Mỹ Latinh dễ dàng, nhanh chóng. Khi quân và dân miền Nam đánh bại hai cuộc hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của quân Mỹ, nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti thì vai trò, uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam càng được đề cao trên các diễn đàn, hội nghị quốc tế. Chính quyền Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ngày càng bị cô lập, bị nhân dân thế giới, nhân dân Mỹ phản đối, lên án.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.57.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:49:15 PM »

Bị thất bại nặng nề trên mặt trận quân sự, đế quốc Mỹ tìm mọi cách tiếp xúc với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đề nghị thương lượng hòa bình. Thực chất hành động ngoại giao của Mỹ là để ngăn chặn miền Bắc chi viện cho miền Nam, hạn chế các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng, xoa dịu sự phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và thế giới. Đáp lại âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ, quân và dân ta ở miền Nam tăng cường mở các đợt hoạt động quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, tiến công vào quân Mỹ, quân Việt Nam Cộng hòa, gây cho địch thương vong nặng nề, phá rã từng mảng ấp chiến lược. Phối hợp chiến đấu với miền Nam, quân và dân miền Bắc đánh thắng các bước leo thang chiến tranh bằng không quân, hải quân của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái. Đồng thời với cuộc tiến công quân sự và đấu tranh chính trị, đánh địch trên cả hai miền Nam - Bắc, trên mặt trận ngoại giao, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra lập trường bốn điểm và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra tuyên bố năm điều đều nhằm làm rõ lập trường kiên định của ta giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam. Lập trường của ta chính nghĩa, rõ ràng, đầy thiện chí được thế giới đồng tình, ủng hộ. Tại Đan Mạch, từ ngày 20-11 đến ngày 1-12-1967, Tòa án quốc tế Béctơrăng Rútxen đã họp và kết luận: Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác xâm lược chống nước Việt Nam. Các chính phủ Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên là những nước đồng lõa đã phạm tội ác man rợ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Chính quyền Oasinhtơn rất lúng túng, bị động đối phó trước đòn tiến công của ta và sự lên án kết tội Mỹ của Tòa án quốc tế. Càng lúng túng bị động, Mỹ càng leo thang chiến tranh trong thế cùng quẫn. Đây là thời cơ thuận lợi để quân và dân ta cố gắng cao độ đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Trên tinh thần đó, đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đánh trúng vào hầu hết các mục tiêu quan trọng của đối phương trong các thành phố, thị xã, quận lỵ trên toàn miền Nam, làm thôi động toàn nước Mỹ. Bị đòn choáng váng, Tổng thống Níchxơn phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động không quân, hải quân chống Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước và tỏ ý sẵn sàng thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta đang đi vào bước ngoặt có lợi cho cách mạng. Đảng Lao động Việt Nam chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao và chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”(1). Mặc dù đế quốc Mỹ đã xuống thang chiến tranh, nhưng chúng vẫn ngoan cố, ngừng đánh phá miền Bắc từ bắc Thanh Hóa trở ra, còn phần đất Khu 4 vẫn tiếp tục sử dụng không quân đánh phá với cường độ hủy diệt. Ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: “Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện”(2). Đồng thời với tuyên bố của chính phủ, quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công tháng 5 và tháng 8, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã, căn cứ địch trên toàn miền Nam. Cũng trong tháng 5, Hội nghị Pari giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ bắt đầu, nhưng không kết quả. Chiến tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Ta đòi phía Mỹ phải chấm dứt toàn bộ và vô điều kiện ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống miền Bắc Việt Nam thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bắt đầu cuộc nói chuyện với Mỹ. Ngoan cố mãi, nhưng cuối cũng bị sức ép từ nhiều phía, bị thua trên chiến trường, ngày 31-10-1968, Tổng thống Mỹ L. Giônxơn mới tuyên bố chấm dứt hoàn toàn vô điều kiện ném bom miền Bắc và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari. Tướng Oétmolen bình luận sự kiện này rằng: Họ đã đạt được mục tiêu là làm cho phía Mỹ phải đơn phương xuống thang, ngừng ném bom, đình chỉ tăng quân và làm hỏng một chiến lược đánh mạnh; làm cho người Mỹ phải đến bàn hội nghị trong khi đó có nhiều người Mỹ cứ tưởng Chính phủ Mỹ đã bắt buộc đối phương đến hội nghị.

Ngày 25-1-1969, phiên họp bốn bên chính thức đầu tiên bắt đầu tại Pari. Đây là một trong những thời kỳ tiêu biểu của việc vận dụng nghệ thuật phối hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, thành công lớn của quân và dân ta, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ “vừa đánh vừa đàm”, tạo điều kiện và thời cơ mới để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Cuộc đấu tranh ngoại giao thời kỳ này chủ yếu là ở Hội nghị Pari. Ta biết những gì ta giành được trên bàn hội nghị sẽ trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường. Tháng 9-1970, ta đưa ra lập trường tám điểm, đòi Mỹ rút quân trước ngày 30-6-1971; gạt bỏ Thiệu - Kỳ - Khiêm; lập chính phủ liên hiệp ba thành phẩn, v.v. Để đối lại lập trường của ta, phía Mỹ đưa ra kế hoạch hòa bình năm điểm với nội dung chính ngừng bắn trên toàn Đông Dương và giữ nguyên trạng các vùng đóng quân của hai bên; thương lượng một lịch rút quân Mỹ; họp hội nghị hòa bình về Đông Dương… Cuộc đấu tranh giằng co qua lại nhiều phiên họp, nhưng không đi đến kết quả. Mỹ vẫn rút quân nhỏ giọt, giữ Thiệu và thúc quân đội Việt Nam Cộng hòa tăng cường hành quân đánh sang Campuchia và Lào. Đến khi Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch phản công quy mô lớn đánh bại quân đội Việt Nam Cộng hòa có Mỹ yểm trợ ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Ngã ba biên giới Kon Tum, thì Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt đầu xuống giọng. Khả năng ta buộc Mỹ đi đến giải pháp chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972 sẽ trở thành hiện thực. Kết hợp và hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao, Xuân - Hè 1972, quân và dân miền Nam mở chiến dịch tiến công lớn đánh Quảng Trị, Đắc Tô - Tân Cảnh, Lộc Ninh - chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và học thuyết Níchxơn đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Bị thua trên mặt trận quân sự, chính trị ở miền Nam, phía Mỹ mới thỏa thuận nội dung bản Dự thảo Hiệp định Pari do ta đưa ra ngày 8-10-1972 và hai bên thống nhất ngày ký Hiệp định chính thức vào ngày 31-10-1972. Nhưng rồi phía Mỹ lật lọng, nêu ra lý do khó khăn từ phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đề nghị ta sửa đổi một số điều khoản của bản dự thảo đã thỏa thuận, nhưng bị phái đoàn ta bác bỏ. Hội nghị Pari bế tắc. Ngày 18-12, Tổng thống Mỹ Níchxơn ra lệnh cho không quân dùng máy bay B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận, mang mật danh Lainơ Bếchcơ 2 để ép ta và làm “yên lòng” Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Quân dân miền Bắc vượt qua thử thách hy sinh khốc liệt, kiên quyết chiến đấu, đánh thắng cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi 34 chiếc B.52 (trong tổng số 81 máy bay các loại), bắt nhiều giặc lái. Phối hợp với miền Bắc, quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công đập vỡ các tuyến phòng ngự cơ bản của quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Bình Định, Đông Nam Bộ, hỗ trợ quần chúng các địa phương nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng hơn một triệu dân. Đòn tiến công quân sự, đấu tranh chính trị này đã hỗ trợ đắc lực cho phía đoàn ta giành thắng lợi quyết định tại Hội nghị Pari. Ngày 30-12-1972, Chính phủ Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom và chấm dứt mọi hành động quân sự khác chống Việt Nam Cộng hòa vô điều kiện và đề nghị ta nối lại cuộc hòa đàm Pari. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, với nội dung cơ bản của dự thảo ta đưa ra hồi tháng 10. Kết quả này là thành công lớn của quân và dân ta ở hai miền Nam - Bắc kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối, chiến lược chiến tranh nhân dân và phương pháp cách mạng đánh địch bằng hai lực lượng, ba thứ quân trên ba vùng chiến lược, trong đó đã kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn nghệthuật đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174.
(2) Báo Nhân dân, số ra ngày 4-4-1968.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:51:08 PM »

7. Chiến tranh nhân dân đất đối không - nghệ thuật tác chiến đường không sáng tạo, mưu lược của quân và dân miền Bắc

Khác với cuộc chiến tranh trên bộ mở miền Nam, cuộc chiến tranh ở miền Bắc là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đối phương, ta không thể dùng nghệ thuật đánh giặc trên bộ như ở miền Nam, mà phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối hải. Trong những năm miền Bắc hòa bình, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân đã chỉ đạo cho toàn quân, toàn dân tích cực xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó tập trung xây dựng lực lượng phòng không và phòng thủ bở biển vững mạnh toàn diện. Từ các đơn vị bộ binh, pháo phòng không, chủ yếu là pháo cao xạ, súng máy phòng không sau chiến thắng Điện Biên Phủ, phát triển thành Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Lục quân và các binh chủng Pháo binh, Cao xạ, Tên lửa, Không quân, Rađa, Thông tin, Công binh chính quy và tương đối hiện đại. Lực lượng phòng không và phòng thủ bở biển từ Móng Cái đến Vĩnh Linh gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ được xây dựng tương đối mạnh cả về tư tưởng, chính trị và trang bị vũ khí hiện đại. Đặc biệt, lực lượng không quân tiêm kích, tên lửa, pháo cao xạ, rađa phát triển mạnh đáp ứng kịp nhu cầu đối phó với đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đồng thời với xây dựng, phát triển lực lượng, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, đôn đốc xây dựng các khu vực phòng thủ nội địa, biên giới và hải đảo, trong đó xây dựng huyện thành những pháo đài chiến đấu đủ sức đánh thắng các cuộc tiến công của địch (gọi là pháo đài huyện). Hệ thống công sự, trận địa phòng thủ dọc bờ biển và hầm hảo để ẩn nấp, cơ động, chiến đấu ở làng, xã khắp miền Bắc được xây dựng, sẵn sàng đối phó kịp thời với những tình huống xảy ra. Lực lượng phòng không miền Bắc được bố trí thành thế trận liên hoàn, đủ các tầm hỏa lực, vừa bảo đảm đánh đối phương ở các độ cao khác nhau, đánh đối phương rộng khắp ở mọi nơi, vừa có lực lượng tập trung tác chiến quy mô chiến dịch phòng không bảo vệ các mục tiêu trọng điểm trên các tuyến giao thông quan trọng và những khu yếu địa quốc gia. Những lúc đối phương tăng cường đánh phá vào thành phố, thị xã, các nút giao thông quan trọng, kho tàng, tập trung tới 50% số đơn vị cao xạ, tên lửa và không quân để bảo vệ, nhưng các nơi khác vẫn bảo đảm đánh có hiệu quả. Hệ thống phòng không và phòng thủ bờ biển trên miền Bắc mạnh gồm Quần chúng Phòng không - Không quân, Quần chúng Hải quân, pháo bờ biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Lực lượng cao xạ từ chỗ có một trung đoàn pháo cao xạ 37mm phát triển lên 11 trung đoàn pháo cao xạ các cỡ từ 37mm đến 100mm. Ta bố trí 75% số đại đội pháo cao xạ cỡ 88mm và 100mm, 34% số đại đội pháo cao xạ 57mm bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng, 42% số đại đội pháo cao xạ 37mm miền Bắc hiện có được bố trí bảo vệ Thái Nguyên, Việt Trì, Nội Bài, Hòn Gai, Nam Định, Vinh. Hai trung đoàn pháo cao xạ 57mm dự bị của Quần chúng Phòng không - Không quân bố trí ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Lực lượng cao xạ của hải quân trên các tàu tuần tiễu ở các bến cảng, cửa sông, cùng lực lượng súng máy phòng không, súng trường của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ miền Bắc sẵn sàng chiến đấu phối hợp với chủ lực. Ngoài ra, các tiểu đoàn súng máy cao xạ 14,5mm, 20mm bốn nòng đặt trên xe bọc thép cơ động trên các trục đường giao thông, phối hợp với các trận địa pháo cố định. Về Binh chủng Rađa có 3 trung đoàn: Trung đoàn Rađa 291 bố trí cảnh giới bảo vệ yếu khu Hà Nội, Hải Phòng; Trung đoàn Rađa 290 bố trí cảnh giới, phục vụ cho các đơn vị hỏa lực bảo vệ thành phố Vinh và Quân khu 4; Trung đoàn Rađa 292 cảnh giới hướng Tây Bắc, nơi máy bay địch thường từ hướng tây bay vào nội địa ném bom. Lực lượng phòng không - không quân còn được mạng rađa cảnh giới của hải quân và những trạm quan sát của bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ phối hợp cảnh giới vùng trời, vùng biển, phát hiện địch, kịp thời báo động cho lực lượng phòng không - không quân. Bên cạnh lực lượng phòng không - không quân, hải quân, lực lượng pháo binh phòng thủ bờ biển của ta được bố trí: Quân khu 4 có Trung đoàn pháo chủ lực 164 và 3 trung đoàn pháo thuộc các sư đoàn 341, 325, 324 và 3 đại đội pháo 105mm nòng dài của hải quân. Quân khu 3 có Trung đoàn pháo binh 154 chủ lực quân khu, sẵn sàng cơ động dọc ven biển các tỉnh thuộc quân khu; tiểu đoàn pháo 85mm bố trí bờ biển Thanh Hóa. Noài ra, có Trung đoàn pháo 84 thuộc lực lượng dự bị của quân khu, sử dụng pháo 85mm nòng dài bố trí 6 trận địa trên bờ biển hai huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia (Thanh Hóa), nơi dự kiến trọng điểm hải quân địch gây tội ác. Vĩnh Linh có 2 đại đội pháo 85mm nòng dài và dân quân các xã được trang bị súng ĐKZ, cối. Quảng Bình có 5 đại đội pháo địa phương từ pháo 85mm đến 100mm và 6 đơn vị pháo dân quân Ngư Thủy, Đông Hải, Nhật Lệ, Lý Hòa; Hà Tĩnh có 5 đại đội pháo từ 85mm đến 105mm và 6 đơn vị pháo binh dân quân. Ngoài ra còn có các đại đội đánh nước của dân quân Vĩnh Linh, Quảng Đại, Quảng Cư, Quảng Trường, Nga Trường, Hải Thanh, Hoàng Thanh… bí mật đưa thuyền ra khơi phục kích tàu địch, dùng ĐKZ, thủ pháo, bộc phá đánh địch, phối hợp với pháo binh trên bờ. Mạng hỏa lực phòng thủ bờ biển mạnh đã bắn chìm 21 tàu biệt kích, 4 thủy phi cơ, bắn cháy 122 lần chiếc tàu biệt kích, tuần dương hạm, khu trục hạm khác của đối phương (tính từ ngày 5-8-1964 đến tháng 10-1968), bảo vệ vững chắc nội địa ven biển.

Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, bảo vệ miền Bắc là một bộ phận hợp thành chiến lược chiến tranh nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Song, phương pháp đấu tranh hai miền Nam - Bắc không giống nhau. Miền Nam đánh đối phương trên mặt đất. Miền Bắc đánh đối phương từ trên không và trên biển. Do đặc điểm cuộc chiến tranh phá hoại của đối phương, để bảo đảm an toàn cho người và cơ sở sản xuất, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương sơ tán triệt để người già, trẻ em, học sinh, sinh viên và các nhà máy, xưởng sản xuất ra khỏi thành phố, thị xã và những nơi trọng điểm địch đánh phá, về các vùng nông thôn ở trung du, miền núi tiếp tục học tập, công tác, sản xuất. Lực lượng thanh niên và lứa tuổi trung niên khỏe mạnh ở lại chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cùng với Công an nhân dân giữ trật tự an ninh. Quân và dân miền Bắc đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không và đất đối hải vô cùng oanh liệt, mưu trí đánh bại các bước leo thang chiến tranh của giặc Mỹ, bảo đảm giao thông, chi viện kịp thời sức người, sức của cho tiền tuyến. Trong tác chiến phòng không và phòng thủ bờ biển, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã sáng tạo ra phương pháp đánh giặc của chiến tranh nhân dân đất đối không và đất đối hải đạt hiệu quả cao và trở thành nghệ thuật tác chiến phòng không và phòng thủ bờ biển, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm nền nghệ thuật quân sự nước nhà:

1- Phương pháp tác chiến “nhằm thẳng quân thù bắn!”.


Đây vừa là phương pháp tác chiến phòng không, vừa là khẩu hiệu hành động của quân và dân miền Bắc “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đối phương rất xảo quyệt, để đánh các mục tiêu trong đất liền, chúng sử dụng[334] các loại máy bay quần đảo nghi binh và trinh sát các mục tiêu, làm những động tác giả để đánh lừa sự phán đoán của ta. Từng tốp máy bay phản lực bay thấp trên biển, dọc các triền sông, lợi dụng các khe núi và vật che khuất để tránh rađa phát hiện, rồi bất ngờ lao vào mục tiêu, bổ nhào, ném bom. Đối phương thường từ hướng tây bay vào công kích mục tiêu rồi thoát ra hướng đông để tránh rađa phát hiện. Vì vậy, việc bố trí các trận địa pháo phòng không, tên lửa sao cho thích hợp với mục tiêu bảo vệ và đón được các đường bay vào của máy bay địch là quá trình nghiên cứu công phu và khoa học. Các trận địa pháo cao xạ, tên lửa được bố trí ở thế có lợi, phát huy được hỏa lực tập trung, không phân tán, lại phải phối hợp được với các trận địa khác, các đơn vị phòng không xung quanh và rađa phát hiện sớm. Nếu bố trí trận địa mà khoảng cách giữa mục tiêu bảo vệ với trận địa phòng không xa nhau, lại không đúng hướng công kích của máy bay địch, chẳng những không hỗ trợ, chi viện được cho nhau giữa các khẩu đội, các trận địa để bảo đảm hỏa lực tập trung, mà còn bị bất ngờ hướng công kích của đối phương, dẫn đến hiệu quả chiến đấu thấp. Do vậy, bố trí, sắp xếp lực lượng hợp lý, bảo đảm tầm bao quát cảnh giới bầu trời, phát huy được các loại hỏa lực, bảo vệ tốt các mục tiêu là một khoa học và là nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân trong tác chiến phòng không, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang thực hiện khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù bắn!”. Khi máy bay địch bổ nhào xuống trận địa đối diện với người lính là lúc sự sống và cái chết cách nhau sợi tóc, thần kinh con người căng thẳng tột độ. Tình huống để “nhằm thẳng quân thù bắn” chỉ diễn ra trong tích tắc, đòi hỏi người chiến sĩ phòng không bảnh lĩnh chiến đấu thật vững vàng, kiên định, nhìn thẳng vào mục tiêu, bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán, nổ súng đúng thời cơ, đúng mục tiêu. Phương pháp tác chiến này đã đem lại hiệu quả cao, bắn rơi 4.181 máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại 1964 - 1973.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2014, 09:51:45 PM »

2- Kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến tập trung bảo vệ những khu vực trọng điểm với tác chiến cơ động phục kích đối phương trên các hướng, kết hợp giữa các binh chủng, đánh đối phương bằng nhiều tầng hỏa lực.

Trong những năm chống chiến tranh phá hoại, mặc dù lực lượng ta có hạn, nhưng ta đã biết bố trí lực lượng bảo vệ các mục tiêu điểm và diện hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa tập trung bảo vệ các khu yếu địa quốc gia với cơ động phục kích đối phương và chốt ở những nơi xung yếu, máy bay cường kích Mỹ bay qua. Nhờ đó, chẳng những ta tập trung được mật độ hỏa lực cao bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, mà còn có đủ hỏa lực bảo vệ những mục tiêu diện dọc các tuyến giao thông, bến cảng, kho tàng, cửa khẩu quan trọng, v.v. Không quân Mỹ chủ động đánh phá các mục tiêu do chúng lựa chọn với mọi thời gian, không gian, nhưng quân và dân miền Bắc không bất ngờ. Điển hình như, ngày 5-8-1864, không quân Mỹ huy động hơn 50 chiếc máy bay phản lực, bất ngờ đánh phá Cửa Hội (Vinh), cảng sông Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh). Mạng rađa cảnh giới của ta phát hiện kịp thời các tốp máy bay Mỹ trên các hướng, báo động cho lực lượng phòng không, hải quân và dân quân, tự vệ ta nổ súng, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Đây là minh chứng đầu tiên cho thành công của sự kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến tập trung với đóng chốt, cơ động phục kích, giữa các lực lượng phòng không, hải quân và dân quân tự vệ. Trong khi ta tập trung lực lượng bảo vệ những mục tiêu trọng điểm ngày đầu đối phương đánh phá, thì Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ do Đại đội trưởng Lê Hữu Mai và Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chỉ huy bố trí trận địa phục kích ở Cha Lo, miền tây Khu 4, bất ngờ bắn rơi 3 máy bay Mỹ trong trận chiến đấu (18-11-1964). Việc kết hợp tác chiến tập trung với cơ động, đóng chốt ở những nơi dự kiến địch sẽ bắn phá đã làm cho không quân Mỹ luôn bị bất ngờ, đi đến đâu cũng gặp hỏa lực của ta, nên tinh thần giặc lái Mỹ rất hoang mang.

3- Kết hợp chặt chẽ tác chiến phòng không của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ, giữa các quân, binh chủng Pháo cao xạ, Tên lửa, Không quân, Hải quân, đánh đối phương bằng nhiều tầng hỏa lực

Chiến tranh nhân dân đất đối không là loại hình tác chiến mới, toàn dân tham gia với lực lượng vũ trang ba thứ quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ đánh địch toàn diện. từ cảnh giới, trinh sát phát hiện máy bay của đối phương từ xa bằng mạng rađa hiện đại đến những trạm quan sát của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và nhân dân bằng các phương tiện thô sơ và mắt thường, đến trực tiếp chiến đấu bắn máy bay Mỹ, các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Bắc đều phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ. Mọi hành động của đối phương đều bị ta phát hiện sớm và đón đánh kịp thời. Nhân dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân miền Bắc, qua chiến đấu đã phát triển những trận chiến đấu phòng không thông thường lên thành nghệ thuật chiến dịch chiến tranh nhân dân đất đối không với mọi quy mô, biết thắng đối phương từng bước, buộc đối phương cũng phải leo thang chiến tranh từng bước. Đầu mùa hè 1965, không quân Mỹ tập trung đánh khu vực Hàm Rồng, Đò Lèn, Ghép (Thanh Hóa) và các mục tiêu giao thông từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An đến Thanh Hóa rất ác liệt. Các binh chủng Pháo cao xạ, Hải quân, Không quân Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với lưới lửa tầm thấp của dân quân Nam Ngạn, Yên Vực, Hoàng Long, Hoàng Lý… bắn rơi 57 máy bay Mỹ, bắt sống 3 giặc lái, trong đó Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích bắt rơi 4 chiếc F8 và F105. Ngày 24-4-1965, Binh chủng Tên lửa bắn rơi 1F4C, bắt sống tên giặc lái tại Hàm Rồng và nửa tháng sau, tên lửa ta diệt gọn cả tốp máy bay Mỹ vào đánh lén ban đêm ở Ninh Bình.

Chiến công nối tiếp chiến công, trận sau thắng to hơn trận trước. Điều này gần như quy luật, ta càng đánh càng có nhiều kinh nghiệm, bắt mục tiêu, lấy đường ngắm nhanh chóng, chính xác hơn. Mùa thu năm 1966 - thời kỳ cao điểm, không quân Mỹ tập trung đánh phá miền Bắc ác liệt của ngày lẫn đêm và chính trong những ngày này đế quốc Mỹ bị thiệt hại nặng nhất. Lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc đã bắn rơi 232 máy bay Mỹ, bắt nhiều giặc lái. Ngày 2-12-1966, quân và dân ta bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắt sống 7 giặc lái, đạt kỷ lục cao nhất về bắt sống phi công Mỹ trong một ngày. Điều này chứng tỏ hiệu quả to lớn của lưới lửa phòng không nhiều tầng của miền Bắc Việt Nam. Những tên phi công Mỹ mỗi khi đi đánh miền Bắc đều hoảng sợ khi phải qua các “tọa độ lửa” Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng, Vinh, Bến Thủy. Đặc biệt, cuộc chiến đấu 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng năm 1972 thể hiện nổi bật sự phát triển cao của nghệ thuật tác chiến chiến dịch phòng không đất đối không. Trong chiến dịch này, đối phương tập trung máy bay B.52 đánh liên tục từng đợt vào ban đêm, còn lực lượng không quân chiến thuật, không quân hải quân làm nhiệm vụ hộ tống B.52, chèn kích máy bay ta và chế áp các trận địa phòng không của ta, đồng thời đánh xen kẽ giữa hai đợt B.52, đánh bổ sung hòng làm cho lực lượng phòng không miền Bắc thiệt hại, rã rời, không phát huy được hỏa lực. Song, lực lượng phòng không nhân dân miền Bắc cảnh giác, không mắc mưu địch, đã tìm ra cách đánh chiến dịch hiệu quả nhất. Ta để dành tên lửa và không quân tập trung đánh máy bay B.52, còn lực lượng không quân chiến thuật Mỹ hộ tống B.52 do pháo cao xạ các cỡ và dân quân, tự vệ đảm trách. Sự phân công và phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không và tên lửa, không quân, đảm nhiệm đánh diệt từng mục tiêu cụ thể, làm cho pháo cao xạ các loại, tên lửa, không quân ta không bị cuốn vào các đánh của đối phương, mà chủ động, bình tĩnh chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Trong chiến dịch phòng không này, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B.52 (16 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Đây là con số kỷ lục về bắn rơi máy bay chiến lược B.52 Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ném bom và mọi hành động quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vô điều kiện và phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Chiến thắng oanh liệt 12 ngày đêm của chiến dịch phòng không tháng 12-1972 là bản anh hùng ca bất diệt của quân dân Việt Nam, đi vào lịch sử chiến tranh thế giới như một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX. Qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ, nhân dân ta đã sáng tạo ra cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không đạt đến đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam về mưu lược và phương pháp đánh địch trên không và trở thành nghệ thuật tác chiến phòng không nhân dân có một không hai trên thế giới.

*
*   *

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, để tồn tại và phát triển, nhân dân ta đã cố kết thành một khối thống nhất vững bền, ngoan cường, cần cù và nhẫn nại vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời không ngừng chống lại những cuộc xâm lăng của nước ngoài. Cuộc xâm lược này của các đế quốc cũng rất ác liệt, tàn bạo, tường chừng Việt Nam không thể đứng vững và đi lên. Song, vượt qua những thử thách cực kỳ cam go của chiến tranh, nhân dân Việt Nam bằng lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần dũng cảm và tài năng, trí tuệ của mình đã sáng tạo ra chiến tranh nhân dân kỳ diệu. Chiến tranh nhân dân Việt Nam xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước đến Hai Bà Trưng khởi nghiệp gây nền độc lập, tự chủ còn ở trình độ thấp, sức mạnh của toàn dân chưa được phát huy đầy đủ, nhưng nó đã tỏ rõ tính ưu việt của sức mạnh Việt Nam, không một kẻ thù nào địch nổi. Qua năm tháng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để giữ nền độc lập, nhân dân Việt Nam không ngừng tích lũy kinh nghiệm, bổ sung, phát triển chiến tranh nhân dân lên trình độ ngày càng cao và hoàn thiện. Đặc biệt, đến thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thì sức mạnh toàn dân tộc được phát huy cao độ, mọi sáng kiến về phương pháp đánh địch toàn diện “thiên biến vạn hóa” xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú, hiệu quả chiến đấu ngày càng cao, được đúc kết thành nghệ thuật đánh giặc của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện thần kỳ. Chẳng những ta đã kế thừa, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân truyền thống lên tầm cao mới, đánh thắng mọi kẻ thù trên bộ, mà còn sáng tạo cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Cuộc kháng chiến toàn dân của Việt Nam đã đánh bại tất cả bọn xâm lược thực dân cũ và mới, đem lại chiến thắng vinh quang cho nhân dân và dân tộc Việt Nam: Tổ quốc được độc lập, thống nhất, dân tộc được tự do, bình đẳng, sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho một nền hòa bình bền vững, xã hội công bằng và ấm no, hạnh phúc. Do đó, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam mang bản chất sáng ngời chính nghĩa và tinh thần nhân văn sâu sắc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2014, 06:08:05 AM »

Chương 41

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ
HẬU PHƯƠNG - CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG

I - KHÔNG NGỪNG XÂY DỰNG, CỦNG CỐ
VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

1. Hậu phương - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thực sự là một trang chói ngời nhất trên mọi phương diện. Chỉ xét riêng và cách thức tiến hành huy động nhân tài, vật lực - nhân tố quyết định để làm nên thắng lợi của kháng chiến, đã trở thành hình mẫu đặc sắc, nét nghệ thuật quân sự độc đáo trong tổ chức và điều hành kháng chiến của Đảng Cộng sản và sự sáng tạo, linh hoạt, nỗ lực hết mình của toàn dân tộc Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Và để đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng.

Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua; bởi vậy, bên nào tạo được sức mạnh áp đảo, bên đó sẽ chiến thắng. Để có sức mạnh chiến thắng trong chiến tranh, phải huy động sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố; trong đó, hậu phương là nhân tố cơ bản, thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Lênin từng khẳng định “muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”(1).

Hậu phương là “vùng lãnh thổ và dân cư của một bên tham chiến, không có, hoặc ít có chiến sự, tương đối an toàn và ổn định trong chiến tranh; nơi có điều kiện duy trì sinh hoạt về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa… và huy động các nguồn lực cho tiền tuyến, cùng với tiền tuyến tạo thành không gian chiến tranh”(2). Theo cấp độ, hậu phương chiến tranh được phân chia thành: hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ và các căn cứ du kích. Song, trên thực tế của chiến tranh giải phóng dân tộc, có những thời điểm tuy lực lượng cách mạng chưa có được một vùng lãnh thổ và dân cư để làm căn cứ, nhưng có một hậu phương vững chắc đó là lòng dân. Chính nhờ nhân dân đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng mà lực lượng cách mạng không ngừng phát triển, từng bước tiến công đối phương, giành đất, giành dân, tạo lập nên những căn cứ hậu phương cho chiến tranh.

Khẳng định vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh, J.Stalin chỉ ra rằng: “Không có một quân đội nào trên thế giới không có hậu phương vững chắc mà lại có thể chiến thắng được. Hậu phương có một tầm quan trọng bậc nhất đối với tiền tuyến. Chính là vì hậu phương, và chỉ có hậu phương mới cung cấp cho tiền tuyến chẳng những các yêu cầu đủ mọi mặt, mà còn cả binh sĩ, cả tình cảm lẫn tư tưởng nữa. Hậu phương không vững chắc, nhất định sẽ biến những đội quân ưu tú nhất và cố kết nhất thành một nhóm quần chúng không vững vàng và hèn yếu”(3).

Thật vậy, tất cả mọi nhu cầu thuộc về vật chất của quân đội và chiến tranh đều do hậu phương cung cấp. Quân đội là công cụ bạo lực của một quốc gia, với nhiệm vụ chủ yếu là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống quân xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nên quân đội không phải là lực lượng sản xuất ra của cải cho xã hội và nuôi sống họ. Đây là thành phần xã hội được nhà nước bao cấp toàn bộ. Theo cách luận giải của Ph. Ăngghen: Quân đội tuy không làm ra tiền, song lại tiêu tốn vô số tiền. Tiền ở đây chính là lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế...; tiền là súng đạn và các phương tiện, thiết bị kỹ thuật quân sự...; đó là chưa kể tới lương cho sĩ quan và phụ cấp cho hạ sĩ quan, chiến sĩ... Hết thảy những loại vật chất này đều phải do nhân dân, hậu phương cung cấp thông qua nhà nước. Thật đúng như Ph. Ăngghen từng khẳng định: không có một quân đội nào do thường dân tổ chức lại có thể tồn tại được trong thực tế, chừng nào nó chưa có một nguồn vật chất to lớn mà một quân đội chính quy hùng mạnh cần có. Tuy vậy, trong thời bình, trong một chừng mực nhất định, quân đội có tiến hành tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, phần nào đó giảm chi phí cho ngân sách nhà nước.

Công tác bảo đảm vật chất của hậu phương cho tiền tuyến nói chung, cho quân đội nói riêng rất quan trọng, bởi có cung cấp đủ cơ sở vật chất cho quân đội mới duy trì được lực lượng này. Đặc biệt hơn, trong điều kiện chiến tranh, công tác bảo đảm vật chất lại càng đóng vai trò quyết định hơn, vì đây chính là cơ sở tạo sức mạnh cho quân đội giành thắng lợi trên chiến trường.

Ở hậu phương, nhân dân đã không quản nắng mưa, nóng rét, ngày đêm lao động quên mình để làm ra lương thực, thực phẩm, của cải và mọi nhu cầu vật chất khác để cung cấp cho quân đội và chiến trường. Đó là nguồn sức mạnh, là nguyên nhân quan trọng của những thắng lợi trên chiến trường. Từ thực tế lãnh đạo đất nước Xôviết tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, J. Stalin đã khẳng định rằng: “Thắng lợi của Hồng quân không thể nảo có được nếu không có sự chi viện của nhân dân, không có tinh thần làm việc quên mình của những người Xôviết trong các nhà máy và công xưởng, trong các giếng than và các hầm mỏ, trong vận tải và nông nghiệp”(4). Vậy là, đã “có đủ lý do để nói rằng tinh thần lao động quên mình của những người Xôviết ở hậu phương sẽ được ghi vào lịch sử cùng với cuộc đấu tranh anh dũng của Hồng quân như là một chiến công chưa từng có của nhân dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc”(5).

Bên cạnh việc cung cấp về vật chất và tiền của, hậu phương còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực thường xuyên cho quân đội và chiến tranh. Để xây dựng và phát triển quân đội cần phải có con người, mà những con người này là con em của nhân dân từ hậu phương cung cấp. Tuy tiêu chí đánh giá một quân đội mạnh không đồng nhất với số lượng quân đông; song thực tế chiến tranh đã khẳng định rằng: nguồn nhân lực hùng hậu là vô cùng quan trọng. Chính V.I. Lênin đã chỉ ra rằng: Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực hơn..., thì người đó sẽ thu được thắng lợi; bởi chiến tranh sẽ đồng hành với thương vong, mất mát, nên phải có nguồn lực dự trữ từ hậu phương bổ sung kịp thời để quân đội luôn có đủ sức chiến đấu.

Mặt khác, hậu phương cũng chính là địa bàn đứng chân quan trọng của quân đội. Từ đây, những thanh niên ưu tú từ các thôn, xóm theo lệnh gọi nhập ngũ của nhà nước nhanh chóng tập trung lại ở một địa điểm thích hợp, rồi được biên chế vào đội ngũ, được huấn luyện chuyên môn, kỹ chiến thuật..., được giáo dục tinh thần yêu nước và bảo vệ Tổ quốc - những hành trang cần thiết nhất đảm bảo bản lĩnh và trí tuệ cho từng người lính trước khi ra trận. như vậy, hậu phương là xuất phát điểm đầu tiên của quân đội. Hơn nữa, trong quá trình chiến tranh, không phải khi nào trận nào cũng giành được chiến thắng; vì vậy, sau những trận không thành công, hoặc khi thực hiện kế hoạch tạm lui quân để bố sung lực lượng, vũ khí, thậm chí là huấn luyện bổ sung về kỹ chiến thuật... thì hậu phương - căn cứ địa vẫn là nơi đứng chân, che chở an toàn nhất của các đơn vị sau mỗi mùa chiến dịch.


(1) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.35, tr.497.
(2) Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự: Tử điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.453.
(3) J. Stalin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t.4, tr.369.
(4), (5) J. Stalin: Về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1965, tr.114, 115.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM