Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Tám, 2019, 04:50:27 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 9  (Đọc 55733 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 10:03:12 PM »

Trên cơ sở phân tích toàn diện tình hình ta và đối phương, Trung ương Đảng quyết định “đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng kinh nghiệm để giành thắng lợi quyết định”(1), nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược. 1- Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thể triển khai được âm mưu chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam; 2- Đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.

Hội nghị cũng lường định sự phức tạp, khốc liệt của cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới: Đó sẽ là “một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp”(2) “là một quá trình ta liên tục tiến công, truy kích, tiêu diệt và đánh đổ địch cả về quân sự và chính trị”(3). Đây là một đòn giáng mạnh vào lực lượng quân sự của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vì thế, chắc chắn đối phương sẽ phản kích ác liệt để giành giật và chiếm lại những vị trí chiến lược quan trọng đã mất. Do vậy, trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa, chúng ta phải “kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và phối hợp với tiến công ngoại giao”(4), trong đó, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau, trợ lực lẫn nhau và thúc đẩy toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Hội nghị cũng lưu ý rằng, “cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn bộ cuộc chiến tranh”(5). Vì vậy, tất cả những cuộc công kích và khởi nghĩa ở các vùng khác trên chiến trường miền Nam đều có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các thành thị và trợ lực đầy đủ cho các cuộc công kích và khởi nghĩa ở các thành thị lớn. Cần nắm vững nguyên tắc cơ bản là: “Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị đến mức cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh liệt vào những hướng chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công, nhằm đúng vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, giành cho kỳ được thắng lợi ở những nơi quyết định, phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản kích của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất”(6). Hội nghị đã dự kiến ba khả năng phát triển của tình hình:

Thứ nhất, ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các đô thị lớn. Đế quốc Mỹ bị thất bại đến mức không còn gượng dậy được, ý chí xâm lược của chúng bị đè bẹp, phải chịu thua, buộc chúng phải thương lượng và phải kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

Thứ hai, ta tuy giành được thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng đối phương tập trung và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ được những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn - Gia Định, dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta.

Thứ ba, Mỹ động viên và tăng thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, sang Campuchia và Lào, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.

Trong ba khả năng đó, hội nghị nhấn mạnh đến khả năng thứ nhất, cần tập trung mọi nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng để giành thắng lợi theo khả năng này; đồng thời, sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai và cảnh giác, đề phòng để chủ động đối phó với khả năng thứ ba, mặc dù khả năng này ít xảy ra.

Nhận định đúng tình hình này, đưa ra chủ trương chiến lược táo bạo, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của hội nghị, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) đã diễn ra và giành thắng lợi hết sức to lớn, góp phần quyết định làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) của quân và dân ta ở miền Nam đã gây chấn động, làm bàng hoàng nước Mỹ, tạo ra bước ngoặt lớn buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh.

Choáng váng trước đòn tiến công chiến lược của quân và dân ta, chính quyền Mỹ hiểu ra rằng không thể thắng nổi một dân tộc có tầm cao văn hóa, giàu trí tuệ, đẩy bản lĩnh, gan góc chiến đấu vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, bước vào Nhà Trắng (1-1969), Níchxơn đề ra học thuyết và chiến lược quân sự toàn cầu mới “răn đe thực tế” thay thế cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản. Đối với cuộc chiến ở Việt Nam, Mỹ chuyển từ phi Mỹ hóa chiến tranh sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh mà thực chất là “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam” với sự chi viện hỏa lực, hậu cần của Mỹ nhằm tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam. Từ năm 1969, đế quốc Mỹ tiến hành bước phiêu lưu quân sự mới, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, bến Đông Dương thành một chiến trường. Đồng thời, chúng tiến hành những chiến dịch ngoại giao xảo quyệt: thỏa hiệp với các nước lớn là Trung Quốc, Liên Xô để gây sức ép và cô lập cách mạng Việt Nam. Đứng trước những thử thách nghiêm trọng của tình hình, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, triệu người như một, kiên quyết tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh phản công và tiến công đối phương, từng bước khôi phục vùng giải phóng, khôi phục phong trào cả ở ba vùng chiến lược, sát cánh cùng quân, dân Lào và quân, dân Campuchia anh em đánh thắng các bước phiêu lưu quân sự mới của địch. Ở miền Bắc, sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom đánh phá, quân, dân ta đã nỗ lực cao độ, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, củng cố miền Bắc về mọi mặt, tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, chi viện mạnh mẽ cho cách mạng miền Nam và các nước Đông Dương anh em.


(1), (2), (3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.50, 51, 52, 51.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.51.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.55.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 10:07:22 PM »

Trong những năm 1969 - 1972, chúng ta đã giành được những chiến thắng to lớn, toàn diện (Cánh Đồng Chum, Đường 9 - Nam Lào, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn chiến trường miền Nam...). Ở miền Bắc, mặc dù đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và hải quân, đánh phá miền Bắc ở mức độ khốc liệt, kể cả đánh thẳng vào Thủ đô Hà Nội và phong tỏa cảng Hải Phòng, nhưng những cố gắng cao độ của không quân, hải quân Mỹ, đặc biệt là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng đã bị đập tan. Những thắng lợi đó đã buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; chấm dứt mọi sự dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấp nhận lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam vẫn ở nguyên tại miền Nam... Hiệp định Pari là cột mốc đánh dấu bước ngoặt căn bản cho cách mạng Việt Nam, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước sang giai đoạn phát triển mới.

Sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, những tháng đầu năm 1973, địch đẩy mạnh tiến công lấn chiếm vùng giải phóng. Trong khi đó, ở nhiều địa phương và một số đơn vị, do tin tưởng vào khả năng hòa bình, không lường hết âm mưu và thủ đoạn của đối phương, nên lơ là mất cảnh giác. Trên thực tế, đối phương đã tiến công lấn chiếm được nhiều địa bàn, chiếm giữ được một số trục đường giao thông huyết mạch có ý nghĩa chiến lược. Trước tình hình mới, tháng 10-1973, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 được triệu tập. Tại hội nghị quan trọng này, các vấn đề lớn, có tính cấp thiết đã được đặt ra thảo luận nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển.

Hội nghị khẳng định: cuộc kháng chiến đã “trở thành cuộc đọ sức điển hình, thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mang tính chất thời đại rất sâu sắc(1). Hội nghị cũng chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới - một giai đoạn rất vẻ vang của dân tộc, “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”(2).

Hội nghị chỉ rõ: “Chính sách cơ bản của đế quốc Mỹ ở Việt Nam vẫn là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta”(3). Để thực hiện mục tiêu đó, đế quốc Mỹ tiếp tục hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tăng cường lực lượng, dùng bạo lực phản cách mạng để duy trì ách thống trị. Đồng thời, Mỹ sẽ triệt để lợi dụng xu thế hòa hoãn trên thế giới, lợi dụng mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa, sử dụng mọi thủ đoạn ngoại giao, kinh tế và chính sách cân bằng lực lượng giữa các nước lớn để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở phân tích âm mưu, hành động của đối phương, đánh giá lực lượng so sánh giữa đối phương và ta, lường định diễn biến của tình hình chiến trường trong nước và trên thế giới, hội nghị khẳng định: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạtđể đưa cách mạng miền Nam tiến lên”(4).

Về so sánh lực lượng giữa ta và đối phương, Hội nghị phân tích:

Về phía đối phương, chính quyền Sài Gòn có những mặt yếu rất cơ bản về chính trị mà chỗ mạnh tạm thời về quân sự của chúng không thể bù đắp được. Quá trình phát triển của tình hình đối phương ở miền Nam là quá trình đi xuống. Mỹ và chính quyền Sài Gòn không thể khắc phục được những mâu thuẫn sâu sắc và trầm trọng trong chế độ thực dân mới.

Về phía ta, tuy có một vài điểm yếu, lực lượng vũ trang của ta phát triển chưa cân đối giữa ba thứ quân, các mũi tấn công chính trị, quân sự, binh vận ở nhiều nơi chưa đủ mạnh, hữu khuynh trong chủ trương đối phó với địch trên những bước chuyển lớn của tình hình...), nhưng “thế và lực của cách mạng miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ năm 1954 đến nay”(5) trên cả phương diện chính trị lẫn quân sự.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao, nhiệm vụ của miền Bắc là tiếp tục làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam và tích cực đấu tranh để Hiệp định Pari về Việt Nam được thi hành nghiêm chỉnh. Hội nghị tiếp tục đẩy mạnh cần tăng cường đoàn kết giữa nhân dân ba nước Đông Dương; đồng thời, tăng cường đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và đoàn kết các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc.

Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương là hội nghị quan trọng nhất kết từ sau Hiệp định Pari. Trên cơ sở tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau 18 năm, một mặt, hội nghị rút ra những kinh nghiệm chủ yếu cho cách mạng miền Nam; mặt khác, đề ra chủ trương biện pháp cơ bản để đưa cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến lên giai đoạn mới - giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Trong vòng một năm (4.1973 - 5.1974), kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được soạn thảo, chỉnh lý, bổ sung qua nhiều lần. Đó là cả một quá trình nắm bắt kịp thời mọi diễn biến chiến trường, trong nước và trên thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc chiến tranh; là quá trình bàn bạc, tính toán, cân nhắc, chọn lựa các giải pháp giữa cơ quan chỉ đạo chiến lược với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Trong suốt quá trình đó, nhiều vấn đề lớn đặt ra yêu cầu phải được phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện: “Làm thế nào để tạo được thời cơ? Cần làm gì để chớp thời cơ không được để lỡ? Hướng chiến lược là đâu? Đánh như thế nào để tiêu diệt được chiến đoàn và sư đoàn quân ngụy?... Khả năng can thiệp của Mỹ nếu ta đánh lớn?”(6)... Sau nhiều cuộc trao đổi, thảo luận, bản dự thảo kế hoạch chiến lược với tên gọi Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam sau vài ba năm làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam, mang số 133/TG1, hoàn thành vào ngày 16-5-1974.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.213.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.226, 227, 232.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.232.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr.229.
(6) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.109.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2014, 10:09:49 PM »

Theo dõi sát sao tình hình chiến trường, Bộ Chính trị tiếp tục ra những quyết định quan trọng về giải phóng miền Nam. Tháng 9-194, Bộ Chính trị họp và nhận định: “Nhìn chung, ta đã chuyển lên tấn công, ngày càng giành được quyền chủ động”; “Thế và lực của ta phát triển vững chắc, mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đã xuất hiện tấn công và nổi dậy từng phần ở nông thôn; ta đang ở thế thắng, thế đi lên(1). Bộ Chính trị quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, “phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”(2) với kế hoạch chiến lược gồm hai bước: Bước 1 (1975): tranh thủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh đối phương trên phạm vi lớn toàn miền Nam; Bước 2, (1976): thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đây là một quyết định rất dũng cảm, có thể nói là táo bạo, là kết quả trí tuệ tập thể Bộ Chính trị, là kết quả của những suy nghĩ đã nung nấu từ lâu, của sự cân nhắc chín chắn xuất phát từ kinh nghiêm được tích lũy qua mấy mươi năm chiến đấu, xuất phát từ thực tiễn cách mạng trên chiến trường, từ lực lượng so sánh trong nước và trên thế giới.

Thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc bước vào giai đoạn chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô cũng lớn hơn, nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ.

Sau chiến thắng Phước Long - chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước suy sụp mới của quân đội Việt Nam Cộng hòa, Hội nghị Bộ Chính trị đợt 2 (18-12-1974) thông qua kế hoạch kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong hai năm 1975 - 1976. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, Bộ Chính trị còn dự kiến phương án nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lập tức triển khai kế hoạch chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1975. Bám sát diễn biến và dự đoán chính xác xu thế chuyển động của tình hình chiến trường, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp và quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Tiếp đó, tại phiên họp ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975 và đến ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975. Những quyết định đó dựa trên thế tiến công như vũ bão và thắng lợi dồn dập của ta từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột (10-3-1975), chiến dịch Tây Nguyên, Trị - Thiên và Khu V, giải phóng ven biển miền Trung. Quân đội Việt Nam Cộng hòa tan rã từng mảng, hoang mang và hỗn loạn, lâm vào thế thất bại hoàn toàn không thể cứu vãn nổi. Ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn - Gia Định bắt đầu và kết thúc thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975. Ngày 2-5-1975, toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo (trừ Hoàng Sa) được giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm của nhân dân ta đã toàn thắng.

*
*   *

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả hợp thành của những nhân tố cơ bản tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, trong đó, đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo mà Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ra và chỉ đạo thực hiện, có tính quyết định. Quá trình Đảng đề ra và thực hiên đường lối chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh trong từng giai đoạn của cuộc kháng chiến đều xuất phát từ mục tiêu chiến lược nhất quán là vì nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Quá trình đó luôn chịu sự tác động của những nhân tố trong nước, trong khu vực và trên tường quốc tế, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Trung thành vô hạn với Tổ quốc, với nhân dân; kiên định lập trường cách mạng, trên cơ sở lường định đúng chuyển biến của tình hình, đánh giá dúng âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù cũng như đánh giá đúng tương quan lực lượng so sánh đôi bên với quan điểm cách mạng và khoa học, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ những đường hướng cơ bản đầu tiên, đường lối kháng chiến của Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn chỉnh, hình thành giải pháp tối ưu, là nhân tố quyết định sự phát triển của cuộc kháng chiến, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của kẻ thù xâm lược. Nói một cách khái quát, đó là thắng lợi của chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng trong mối tương quan biện chứng giữa hai chiến lược cách mạng; đó là thắng lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nghĩa vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả, trong sáng; thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình, của bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr.370, 185.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:29:35 PM »

Chương 39

PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC,
KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI

I - SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC ĐƯỢC PHÁT HUY LÊN TẦM CAO MỚI

1. Truyền thống yêu nước - cội nguồn sức mạnh dân tộc

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ, thời nào cũng vậy, sức mạnh dân tộc luôn là nguồn nội lực quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của các cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, sức mạnh dân tộc chỉ được khơi dậy, phát huy khi có đường lối kháng chiến đúng đắn do lực lượng lãnh đạo kháng chiến đề ra. Với ý nghĩa đó, sức mạnh của dân tộc có thể được hiểu như là điều kiện “cần” và đường lối kháng chiến đúng đắn như là điều kiện “đủ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Lao động Việt Nam đề xướng đã đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đường lối chống xâm lược, thống nhất đất nước. Chính vì có đường lối chiến lược đúng đắn, phù hợp, nên Đảng đã tổ chức, động viên được sức mạnh toàn dân và nâng sức mạnh ấy lên tầm cao mới, với lượng mới, chất mới và với những biểu hiện hết sức sáng tạo, phong phú.

Ngược dòng lịch sử, có thể thấy rằng sức mạnh dân tộc Việt Nam được tạo dựng, hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, được biểu hiện bằng truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất, quật cường trong đấu tranh chống ngoại xâm.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, trước những đòi hỏi chế ngự thiên nhiên, duy trì và bảo vệ cuộc sống cộng đồng, các tộc người Việt đã liên kết lại thành cộng đồng lớn và đó là cơ sở cho việc hình thành nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Sự cố kết ban đầu mang tính đơn lẻ, giữa làng này với làng khác (tục kết chạ), phát triển dần thành tình cảm rộng lớn - yêu nước, thương nòi.

Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc hơn 1.000 năm, tinh thần yêu nước của người Việt vẫn được hun đúc trước nhiều thủ đoạn thâm độc của thế lực đô hộ (đồng hóa văn hóa và nhân chủng - chính sách đồng văn, đồng chủng). Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn (Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương), Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), Phùng Hưng, Ngô Quyền tiêu biểu cho tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí đấu tranh quật cường của người Việt. Trong thời kỳ này, tinh thần yêu nước đã tạo ra sức mạnh to lớn, nhấn chìm dã tâm thâm độc của thế lực phong kiến phương Bắc, đồng thời là biểu hiện sinh động cho ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc, và đó chính là cơ sở để hình thành truyền thống yêu nước.

Bước vào kỷ nguyên Đại Việt (thế kỷ X), truyền thống yêu nước đã được phát huy mạnh mẽ: ý chí độc lập, tự cường được nhân lên gấp bội.

Sau thắng lợi oanh liệt của nhân dân ta chống quân Nam Hán (938), nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập, phát triển với những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa- giáo dục. Trong quá trình xây dựng đất nước, các triều đại phong kiến Việt Nam phải tổ chức nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược: nhà Tiền Lê (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược lần thứ nhất (981); nhà Lý đánh thắng quân xâm lược Tống lần thứ hai (1077); nhà Trần ba lần đánh thắng quân Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288); nhà Hồ thất bại trước quân Minh xâm lược (1407); Lê Lợi tổ chức kháng chiến chống xâm lược Minh giành thắng lợi (1418 - 1427); Quang Trung đại phá quân Thanh (1789); nhà Nguyễn thất bại trước quân xâm lược Pháp (giữa thế kỷ XIX). Qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm dưới các triều đại phong kiến, một đặc điểm dễ nhận thấy, triều đại nào biết chăm lo sức dân, tổ chức động viên được sức mạnh của toàn dân cho công cuộc cứu nước thì triều đại đó chống ngoại xâm thắng lợi; ngược lại, triều đại nào không thu phục được nhân tâm, khả năng tổ chức, điều hành đất nước kém cỏi khiến lòng dân ly tán, thì cuộc kháng chiến chống xâm lược do triều đại ấy tiến hành trước sau đều thất bại, và nhân dân phải chịu cảnh nô lệ,, nước mất, nhà tan. Chính vì vậy, các cuộc kháng chiến chống xâm lược chỉ có thể giành được thắng lợi khi và chỉ khi:

- Quan quân triều đình và nhân dân hợp thành một khối thống nhất, luôn nêu cao quyết tâm giữ vững nền độc lập, có nhà nước tập quyền mạnh, có thiết chế xã hội chặt chẽ, có quân đội được tổ chức tốt và một nền văn hóa mang bản sắc riêng biệt, thì dù thế lực xâm lược mạnh đến đâu cũng khó lòng đánh bại được ý chí, quyết tâm kháng chiến.

- Tinh thần đoàn kết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bộc lộ thành hành động tự giác trên nền tảng của lòng yêu nước thẳm sâu trong tâm hồn mỗi người dân, của mọi người dân và của mọi thành phần dân tộc.

- Lòng tự hào dân tộc, biết ơn các thế hệ đi trước trở thành ý thức thường trực trong các thế hệ người dân đất Việt.

- Ý thức vì dân tộc, vì nghĩa lớn của giai cấp thống trị tiến bộ được bộc lộ thành yêu nước gắn với thương dân - mang yếu tố nhân dân.

Các nhân tố nói trên là biểu hiện rõ nét của truyền thống yêu nước; của tinh thần đoàn kết gắn với ý thức sâu sắc về quốc gia - dân tộc (nhiệm vụ cứu nước là của toàn dân - kháng chiến toàn dân, toàn diện), của lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã được hun đúc trong trường kỳ lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Đó chính là nền tảng tinh thần để mỗi thế hệ người Việt Nam chăm lo, bồi đắp, phát huy.

Với nền tảng của lòng yêu nước, của truyền thống đấu tranh quật cường thấm sâu vào tận máu thịt, nhân dân ta dưới ngọn cờ đoàn kết của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đã phát huy sức mạnh chưa từng có của lòng yêu nước, khối đoàn kết thống nhất muôn người như một, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc, quyết chiến, quyết thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc vĩ đại.

Như vậy là, trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước trong những điều kiện vô cùng khốc liệt, dân tộc ta đã sớm hình thành ý thức, tinh thần tự lực, tự cường, luôn dựa vào bản thân mình là chính. Đây là một truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần làm nên nguồn cội của sức mạnh Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quan điểm của Đảng là luôn luôn phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, và tinh thần sáng tạo của toàn thể dân tộc, đồng thời tranh thủ được ngày càng rộng rãi sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân loại tiến bộ và bạn bè quốc tế, nhất là chính phủ và nhân dân các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Việc giải phóng dân tộc luôn luôn là việc của bản thân ta”(1), và “Không nên[ỷ lại vào ai hết. Tự do, hạnh phúc của dân ta phải tự dân ta vun trồng lấy”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(3), phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, kháng chiến khó khăn, gian khổ, là sự thử thách đối với tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường của dân tộc. Hơn bao giờ hết, phải tự lực cánh sinh, phải dựa vào sức mình, dựa vào sức mạnh nội lực là chính, chủ động ứng phó với mọi biến đổi của tình hình.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr.44.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr.570.
(3) Hồ Chí Minh: [/i]Toàn tập[/i], Sđd, t.6, tr522.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:30:57 PM »

2. Hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ, cứu nước

Từ lúc nắm giữ ngọn cờ cách mạng Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu suốt quan điểm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; đoàn kết dân tộc là khâu then chốt đưa đến thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, bằng các hình thức tổ chức mặt trận như: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thích hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và kháng chiến trong từng giai đoạn cụ thể, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân tộc] Việt Nam, đứng lên tổng khởi nghĩa, giành lại độc lập, tự do vào tháng 8-1945, rồi 9 năm sau, lập nên chiến công lừng lẫy Điện Biên năm 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thành quả to lớn đó, một mặt biểu hiện thành công trong chiến lược đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt khấc, nó mang lại nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn, đặc biệt, khi nhân dân ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới do Mỹ tiến hành.

Ngay từ khi khởi sự cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong điều kiện đất nước bị chia làm hai miền, Trung ương Đảng sóm xác định cách mạng Việt Nam thực hiện cùng lúc hai chiến lược cách mạng. Hai chiến lược - hai nhiệm vụ cùng chung mục tiêu hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trên cơ sở hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng đồng thời xác định vai trò, vị trí của từng miền trong quá trình thực hiện mục tiêu chung, từ đó đề ra chủ trương, đường lối, sách lược phù hợp nhằm đoàn kết toàn dân, tổ chức toàn dân vào mặt trận chống Mỹ, cứu nước.

Tổ chức và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong những điều kiện mới - nửa nước hòa bình và nửa nước có chiến tranh, Đảng nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn của quá trình ấy.

Thuận lợi cơ bản là miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và chính quyền nhân dân được tổ chức, củng cố vững chắc từ trung ương tới cơ sở, nhân dân miền Bắc nêu cao tinh thần đoàn kết xung quanh Đảng và Bác Hồ, ra sức thi đua xây dựng cuộc sống mới và phấn đấu cho hòa bình, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, miền Bắc bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp với bao bộn bề khó khăn. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, lạc hậu. Đó là hậu quả do Pháp để lại hơn 80 năm đô hộ và 9 năm quay lại xâm lược nước ta (1945 - 1954). Do vậy, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên miền Bắc là phải khôi phục lại sản xuất, ổn định xã hội.

Trên miền Bắc những tháng năm đầu sau giải phóng, cuộc cải cách ruộng đất tiếp diễn (đợt 2 và 3), đưa lại tư liệu sản xuất chính cho một bộ phận lớn nông dân. Cuộc cải cách ruộng đất đem lại quyền lợi thiết thực và niềm phấn khỏi cho nông dân, nhưng quá trình thực hiện, Đảng đã mắc phải sai lầm trong phương pháp tiến hành. Kịp thời phát hiện sai lầm, Đảng đã tự phê bình nghiêm khắc, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận sai lầm trước toàn Đảng, toàn dân(1).

Những năm đầu xây dựng miền Bắc trong hòa bình cũng chính là quãng thời gian Đảng, Nhà nước Việt Nam xây dựng, củng cố bộ máy tổ chức, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị từ trung ương đến các địa phương. Sự ổn định về chính trị là điều kiện tiên quyết để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung sức cho nhiệm vụ thiêng liêng - đấu tranh thống nhất nước nhà.

Sức mạnh chính trị được thể hiện qua hệ thống chính trị với sự lãnh đao tập trung thống nhất của Đảng và hoạt động hiệu quả của Nhà nước, vì đây là những nhân tố có liên quan tới đường lối chính trị, xây dựng lực lượng chính trị, tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc. Đảng có vai trò quyết định trong quá trình tập hợp, phát huy hiệu lực của khối đại đoàn kết toàn dân, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng cơ bản. Hiệu lực hoạt động của các tổ chức này gắn liền với quá trình xây dựng, phát huy tính ưu việt của chế độ mới, với việc phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mọi chính sách, chế độ, quy định của Đảng và Nhà nước đều phải thực hiện trên cơ sở vận động, giáo dục để trở thành hoạt động tự giác của đông đảo quần chúng. Mặt trận, các đoàn thể vừa là nơi tập hợp, vừa nơi quần chúng thực hiện quyền làm chủ của mình.


(1) Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.219.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:33:04 PM »

Trong những điều kiện đó, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã xác định: “Cuộc đấu tranh để thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh rất gian khổ và phức tạp. Ta chủ trương thực hiện thống nhất dần từng bước, nhưng cần nhận rõ rằng mỗi bước là một quá trình đấu tranh gay go. Muốn giành thắng lợi, cần phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, từ Bắc đến Nam, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập, phân hóa Mỹ - Pháp, phân hóa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp, cô lập đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ ngoan cố, khắc phục mọi trở lực trong nước và ngoài nước. Do đó, trên cơ sở thỏa mãn yêu cầu cơ bản của nhân dân lao động và đảm bảo độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn của nước nhà, ta cần chiếu cố một cách thích đáng đến quyền lợi của các tầng lớn trên ở miền Nam, quyền lợi của Pháp, của bọn thân Pháp sau khi thống nhất, và ngay cả quyền lợi của những phần tử tuy hiện nay thân Mỹ, nhưng sau này tán thành hòa bình, thống nhất(1).

Trên cơ sở chủ trương lập Mặt trận dân tộc thống nhất, hội nghị thông qua bản Dự thảo Cương lĩnh của Mặt trận. Hội nghị nêu rõ: “Sau khi bản dự thảo đã chính thức thành Cương lĩnh chung của Mặt trận, nó sẽ là cơ sở tập họp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, giành thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(2).

“Bản cương lĩnh chung thể hiện rõ rệt lập trường của ta đối với vấn đề thống nhất Tổ quốc. Nó xuất phát từ thực tế khách quan của nước ta lúc này: nước ta tạm thời chia làm hai miền. Nó dựa trên phương châm chung của nước ta là củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam. Một mặt, nó không hạn chế ta trong công tác củng cố miền Bắc, hoàn thành cải cách ruộng đất, đẩy mạnh việc khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện những cải cách dân chủ cần thiết, củng cố quốc phòng, v.v. Nó chẳng những không hạ thấp yêu cầu cơ bản của nhân dân miền Nam và hạn chế nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, mà còn cung cấp cho nhân dân miền Nam cũng như nhân dân toàn quốc một vũ khí để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Mặt khác, nó chiếu cố thích đáng đến quyền lợi của mọi tầng lớp ở miền Nam và làm cho tầng lớp trên ở miền Nam thấy rằng sau khi nước nhà thống nhất, họ vẫn có quyền lợi và địa vị nhất định của họ. Như thế ta sẽ tranh thủ được sự đồng tình của nhiều tầng lớp trong cả nước, cô lập được đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ, bọn chia rẽ, bọn ngoan cố và làm thất bại mọi kế hoạch thâm độc của chúng.

Về mặt quốc tế, bản cương lĩnh chung sẽ giúp ta không những tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ tích cực của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, mà còn có thể tranh thủ được sự đồng tình của chính phủ một số nước, cô lập đế quốc Mỹ, tranh thủ được những điều kiện thuận lợi ở ngoài nước cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Trung ương kêu gọi toàn Đảng phấn dấu cho bản cương lĩnh chung được phổ biến rộng khắp, để tập hợp nhân dân toàn quốc xung quanh Hồ Chủ tịch và Đảng đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ”(3).

Để thực hiện thống nhất nước nhà, phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân toàn quốc đấu tranh kiên quyết, bền bỉ và khôn khéo, phá tan mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, đòi đương cục miền Nam phải hiệp thương với Chính phủ Việt Nam, tiến tới thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng nhất định sẽ tìm mọi cách ngăn cản và phá hoại sự nghiệp thống nhất nước ta. Nhưng nếu trên cơ sở miền Bắc được củng cố, ta tập hợp được các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cả nước, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, thì nhất định ta sẽ giành được thắng lợi. Cần triệu tập Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất để thông qua Cương lĩnh và Điều lệ mới của Mặt trận. Sau đại hội, cần tuyên truyền sâu rộng Cương lĩnh của Mặt trận làm cho nó thật sự trở thành cương lĩnh chung của toàn dân, do đó mà thiết thực củng cố đoàn kết giữa các tầng lớn nhân dân, đẩy mạnh mọi công tác trước mắt.


(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.573-574.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.574-575.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:36:11 PM »

“Ở miền Bắc, cần động viên quần chúng nhân dân kết hợp cuộc đấu tranh đòi mở hội nghị hiệp thương, tiến tới thống nhất nước nhà, với mọi công tác củng cố miền Bắc, làm cho mọi người đều lấy thành tích lao động và công tác trước mắt mà ủng hộ bản cương linh chung một cách tích cực.

Ở miền Nam, cần vận động quần chúng nhân dân dùng những hình thức đấu tranh thích hợp đòi thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương và tổng tuyển cử, đòi đảm bảo an ninh, trật tự và sinh mệnh, tài sản của nhân dân, đòi các quyền tự do dân chủ, chống khủng bố, chống báo thù những người trước đây đã tham gia kháng chiến, phản đối Mỹ lôi kéo miền Nam Việt Nam vào khối liên minh quân sự của Mỹ, v.v. Các cuộc đấu tranh đó phải theo đúng phương châm có lý, có lợi, có mức, tránh bộc lộ lực lượng. Kết hợp phong tào đấu tranh của quần chúng với những hoạt động và đấu tranh của ta ở Ủy ban liên hợp đình chiến và Ủy ban quốc tế. Trong quá trình đấu tranh của quần chúng ở miền Nam, dần dần phải hình thành một Mặt trận rộng rãi tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đòi thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc.

Đối với ngoài nước, cần ra sức tuyên truyền tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ tích cực của nhân dân Pháp, nhân dân và chính phủ các nước Đông Nam Á và nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới với bản cương lĩnh chung của ta”(1).

Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8, từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955, tại Hà Nội, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc được triệu tập. Tham dự Đại hội có 361(2) đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo, các hội nghề nghiệp, đại biểu lực lượng vũ trang và kiều bào ở nước ngoài. Đại hội ra quyết nghị thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở kế thừa tổ chức của Mặt trận Liên Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thông qua Tuyên ngôn, Cương lĩnh(2) và Điều lệ mới, bầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 98 vị thuộc đủ các chính đảng, đoàn thể nhân dân, tôn giáo, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn của Đại hội nêu rõ: “Tha thiết kêu gọi các tầng lớp nhân dân, kêu gọi mọi người Việt Nam không phân biệt gái trai, già trẻ, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, khuynh hướng chính trị và tín ngưỡng tôn giáo, không phân biệt trước đây đã từng về phe nào nhưng ngày nay tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ hãy siết chặt hàng ngũ trong Mặt trận để cùng nhau thực hiện bản Cương lĩnh của Mặt trận”(4).

Tại phiên bế mạc của Đại hội (10-9-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến, trong đó nhấn mạnh:Cương lĩnh này là một cương lĩnh đại đoàn kết... Ai cũng phải nhận thấy rằng: Cương lĩnh của Mặt trận rất vững chắc, rất rộng rãi và rất thiết thực.

Phân tích tính chất thiết thực, rộng rãi, vững chắc của Cương lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi tất yếu của chính sách Mặt trận: “Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: Mặt trận Tổ quốc sẽ làm trọn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(5).

Sự kiện thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và công bố cương lĩnh đã có ảnh hưởng chính trị rộng lớn, đánh mạnh vào âm mưu chia rẽ của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, đoàn kết thêm nhiều tầng lớp xã hội ở cả hai miền, đồng thời tranh thủ những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Những tiền đó đó cho phép chúng ta thực hiện chủ trương của Đảng, hình thành một mặt trận rộng rãi nhằm tập hợp, lôi kéo mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ở miền Nam.

Ở miền Nam, từ đầu năm 1959 đến cuối năm 1960, dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 154 và với tinh thần chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của các đảng bộ miền Nam, phong trào Đồng khởi của nhân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, đồng thời, tạo ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng cách mạng cả về quân sự và chính trị. Phong trào nổi dậy mạnh mẽ, rộng khắp của nhân dân ta đã đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào thời kỳ khủng hoảng triền miên. Trên đà phát triển của cách mạng miền Nam, ngày 20-12-1960, tại chiến khu C (vùng giải phóng Đông Nam Bộ thuộc xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh), Xứ ủy Nam Bộ trực tiếp chỉ đạo Đại hội đại biểu các giai cấp, các đảng phái, các tôn giáo, các giới toàn miền Nam… Qua quá trình thảo luận tình hình miền Nam và bước phát triển mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đa số đại biểu thống nhất nhận định: lúc này cách mạng miền Nam đã hội đủ các điều kiện thuận lợi để tổ chức một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi theo chủ trương của Đảng. Trên tinh thần đó, Đại hội quyết định thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và bầu ra Ủy ban Trung ương của Mặt trận gồm những nhân vật tiêu biểu có khả năng tập hợp khối đoàn kết toàn dân dưới ngọn cờ của Mặt trận, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - một trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam lúc này đang bị đối phương giám giữ tại Phú Yên, làm Chủ tịch.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.576.
(2) 361 đại biểu gồm: 117 đại biểu chưa từng tham gia Mặt trận Liên Việt, 56 đại biểu thay mặt nhân dân miền Nam, 60 đại biểu các tôn giáo, 8 đại biểu kiều bào ở nước ngoài.
(3) Cương lĩnh gồm 10 điều: hoàn thành độc lập dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà; xây dựng chế độ dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất, cải cách ruộng đất, thi hành chính sách xã hội hợp lý; phát triển văn hóa - giáo dục; củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập và đoàn kết quốc tế.
(4) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.97.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.68.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:38:30 PM »

Tuyên ngôn của Mặt trận nêu rõ: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ, thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Mặt trận cũng đề ra Chương trình hoạt động gồm 10 điểm(1), trong đó nêu rõ nhiệm vụ cơ bản, xuyên suốt của cách mạng miền Nam là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ…

Tuyên ngôn và Chương trình của Mặt trận khẳng định nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và nêu rõ đường lối đoàn kết toàn dân, cô lập cao độ đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của chúng.

Ra đời giữa lúc cách mạng miền Nam phát triển với thế chiến lược tiến công mạnh mẽ, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, lực lượng vũ trang được củng cố, xây dựng, trưởng thành nhanh chóng, chỗ dựa hậu phương lớn miền Bắc không ngừng lớn mạnh, chính quyền Ngô Đình Diệm khủng hoảng ngày càng sâu sắc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát triển nhanh chóng, lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia. Mặt trận tập hợp được các tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo, tổ chức quần chúng tham gia ngày càng rộng rãi: Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng, Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, Hội Nhà giáo yêu nước, Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam, Hội những người kính Chúa yêu nước, Hội lúc hóa Phật tử, Đảng xã hội cấp tiến... Mặt trận cũng sớm được các lực lượng tiến bộ, chính phủ nhiều nước toàn thế giới đồng tình, ủng hộ.

Đánh giá về sự kiện thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và tổ chức là một lực lượng tất thắng. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo Mỹ - Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có “Mặt trận dân tộc giải phóng” với chương trình hoạt động thiết thực và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(2).

Có thể nói, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời chính là ngọn cờ tập hợp lực lượng yêu nước ở miền Nam và là tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở miền Nam.

Trong khi chủ trương xây dựng một mặt trận riêng cho miền Nam, Đảng luôn nhấn mạnh: tuy là riêng cho miền Nam, không nằm trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng phải cùng thực hiện mục tiêu chung với Mặt trận Tổ quốc là nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, do Đảng lãnh đạo. Đây là chủ trương hết sức sáng tạo và linh hoạt về tổ chức xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng Lao động Việt Nam trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngay từ khi mới được thành lập, Mặt trận luôn khẳng định: Sức mạnh đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là đại đoàn kết dân tộc. Vì thế, Mặt trận thực hiện nhất quán chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp trong nhân dân, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tiến bộ, không phân biệt xu hướng chính trị, để cùng nhau chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, giành lại quyền dân tộc thiêng liêng và xây dựng lại Tổ quốc. Để tập trung tối đa, đông đảo và rộng rãi mọi lực lượng dưới ngọn cờ của Mặt trận, Mặt trận đưa ra chính sách: Đối với lực lượng nào, vì lẽ này hay lẽ khác, không tham gia Mặt trận, có thể liên hiệp hành động chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai của chúng.

Mặt trận ra lời kêu gọi: “Tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy siết chặt hàng ngũ chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng, đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm”(3); kêu gọi đồng bào miền Nam hãy kề vai sát cánh cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng khối đoàn kết các dân tộc Đông Dương và tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của nhân dân thế giới, chống Mỹ và tay sai, giành lấy độc lập, dân chủ, hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ. Đặc biệt, Mặt trận khẳng định thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước đồng tình ủng hộ và giúp dỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Như vậy, không chỉ tập hợp lực lượng ở miền Nam, Mặt trận còn là cầu nối và tham gia tích cực quá trình vận động, tập hợp lực lượng tiến bộ, hòa bình trên thế giới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Để tập hợp và động viên rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, Mặt trận nhanh chóng xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức từ trung ương đến các khu, tỉnh, quận, xã với mục đích tổ chức và lãnh đạo các tầng lớp quần chúng vào phong trào đấu tranh cách mạng. Sau khi ra đời không lâu, phạm vi và ảnh hưởng hoạt động của Mặt trận ngày càng mở rộng. Mặt trận đã tổ chức lãnh đạo nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và làm công tác binh vận cả nông thôn và thành thị, mở rộng vùng giải phóng Mặt trận đã đưa ra một chủ trương rất sáng suốt là thành lập một chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ rộng rãi ở miền Nam đặt mục tiêu thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc - một mục tiêu chân chính, có sự lan tỏa và quy tụ mọi tầng lớp, không ngừng tăng cường sức mạnh của Mặt trận, của khối đại đoàn kết toàn dân.


(1) Chương trình hoạt động của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, gồm 10 điểm: Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của xâm lược Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên minh, dân tộc, dân chủ, thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi, tiến bộ; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, cải thiện dân sinh; thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng; xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc, dân chủ; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân; thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều và kiều bào; thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập; lập quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc; chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới.
(2) Hồ Chí Minh: Về Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.92.
(3) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Sđd, tr.126.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:41:17 PM »

Nhằm tạo điều kiện đoàn kết rộng rãi nhất, sẵn sàng bắt tay với tất cả những ai, dù chưa tán thành Cương lĩnh của Mặt trận, nhưng tán thành chống Mỹ, cứu nước, Mặt trận công bố Bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp(1) (1962). Với bốn chủ trương này, lực lượng của Mặt trận trở nên đông đảo hơn bao giờ hết. Khi Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam, mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc (1965), Mặt trận công bố Cương lĩnh - ngọn cờ đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam, với mục tiêu mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ, thu hút rộng rãi hơn nữa những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập, cô lập triệt để Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đảng đã chủ trương: “Thành lập một mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng”(2).

Mặt trận thứ hai chính là Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Ra đời vào tháng 4-1968 khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân giành thắng lợi vang dội, Liên minh thực hiện mục tiêu đoàn kết và tranh thủ thêm một số tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị và một số người có xu hướng chính trị hòa bình, trung lập, nhưng chưa tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Đó rõ ràng “là một thắng lợi rực rỡ của lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân đoàn kết chống Mỹ, cứu nước”(3). Liên minh sát cánh cùng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam làm cho khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam ngày càng mở rộng, lực lượng cách mạng ngày càng đông đảo, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tồn tại và phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng, là người đại điện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam.

Mặt trận đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam qua một quá trình rèn luyện, phát triển và trưởng thành đã trở nên vững chắc và rộng rãi hơn bao giờ hết. Mặt trận đã “tập hợp đông đảo các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ đại diện cho mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo, dân tộc và các tầng lớp nhân dân ta”(4). Như vậy, lực lượng của Mặt trận bao gồm đủ mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi dân tộc, tôn giáo. Hàng chục vạn kiều bào ta ở nước ngoài tuy sống xa Tổ quốc vẫn hướng về Mặt trận, hướng về ngọn cờ cứu nước. Mặt trận thực sự là người đại diện chân chính, duy nhất cho nhân dân miền Nam, có uy tín và ảnh hưởng quốc tế ngày càng lớn. Với lực lượng đông đảo, Mặt trận ngày càng được củng cố vững chắc, thực sự lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam.

Mặt trận đã kiểm soát được một vùng giải phóng rộng lớn bàn đạp tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam đã dẫn đến sự hình thành những vùng giải phóng rộng lớn từ bờ nam sông Bến Hải đến tận mũi Cà Mau, tạo một thế đứng mạnh mẽ cho quân và dân ta đánh địch khắp mọi nơi. Năm 1962, vùng giải phóng có 5 triệu dân, năm 1963 có 7 triệu dân, năm 1964 có 9 triệu dân, năm 1965 có 10 triệu dân, đến năm 1967 thì vùng giải phóng “chiếm 4/5 đất đai với 2/3 dân số miền Nam”(5). Trong vùng giải phóng, Mặt trận có đủ tư cách là một chính phủ, Mặt trận kiểm soát được nhiều dân ở nông thôn hơn chế độ Việt Nam Công hòa và có uy tín rộng lớn ở các thành thị. Đến năm 1968, Mặt trận đã kiểm soát 11 triệu dân trong số 14 triệu dân ở miền Nam Việt Nam. Ở các vùng giải phóng, nhân dân thực sự được sống tự do, được làm chủ cuộc đời mình. Đồng bào ở vùng giải phóng đã hăng hái đóng góp nhân tài, vật lực cho kháng chiến chống Mỹ. Khả năng tiềm tàng về chính trị, vật chất và tinh thần của cách mạng miền Nam trong vùng giải phóng là một nhân tố then chốt quan trọng đóng góp phần không nhỏ cho thắng lợi của các phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang. Vùng giải phóng thực sự là hậu phương vững chắc của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Có thể thấy, Mặt trận không chỉ làm chủ một vùng giải phóng rộng lớn, mà còn biến vùng giải phóng thành căn cứ cách mạng - hậu phương tại chỗ vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là một trong những kết quả to lớn, có ý nghĩa chiến lược của cách mạng miền Nam.

Mặt trận đoàn kết toàn dân chống Mỹ ở miền Nam không chỉ có lực lượng chính trị rộng lớn được tổ chức khoa học, mà còn có lực lượng vũ trang giải phóng với ba thứ quân.

Không thể nào đánh bại được quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa với hàng triệu tên, được vũ trang đủ loại vũ khí tối tân, hiện đại nhất, nếu không có một lực lượng cách mạng hùng hậu bao gồm các lực lượng vũ trang nhân dân có tổ chức thống nhất và chặt chẽ, các lực lượng chính trị của hàng triệu quần chúng được giác ngộ. Thực tiễn cách mạng miền Nam trước khi Mặt trận ra đời đã cho thấy rằng, chỉ có trên cơ sở của một phong trào chính trị rộng rãi và một lực lượng vũ trang hùng hậu, cách mạng mới có thể thắng lợi.

Trên thực tế, nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, tinh thần đoàn kết vì lợi ích tối cao của dân tộc, đảng đã xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, của Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng. Xây dựng và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất trên hai miền đất nước là một thành công điển hình của Đảng về tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc để tổ chức, huy động lực lượng toàn dân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và trở thành một trong những nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với việc hình thành hai chiến lược cách mạng, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức hai hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện nhiệm vụ đoàn kết những người yêu nước Việt Nam trên hai miền Nam Bắc. Tuy tên gọi, tổ chức, cương lĩnh, chương trình hành động có khác nhau nhưng về cơ bản đều thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân vào mặt trận chống Mỹ, cứu nước.


(1) Bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đề ra tháng 7-1962:
- Chính phủ Mỹ phải đình chỉ chính sách và hành vi xâm lược vũ trang vào miền Nam Việt Nam.
- Các phái hữu đình chỉ chiên tranh, lập lại hòa bình.
- Tổ chức tổng tuyển cử tự do để bầu Quốc hội.
- Thi hành chính sách hòa bình, trung lập.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.60.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.448.
(4) Năm năm chiến đấu anh dũng thắng lợi vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr.40.
(5) Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1968, tr.59.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2014, 08:43:51 PM »

3. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong quá trình kháng chiến

Ngày 27-3-1964, tại Hà Nội, diễn ra một sự kiện quan trọng - dấu mốc biểu hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết và thống nhất hành động của toàn thể nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đó là Hội nghị Chính trị đặc biệt - được ví như là Hội nghị Diên Hồng trong thời đại Hồ Chí Minh. Các đại biểu của hội nghị gồm các bậc lão thành cách mạng, nhân sĩ yêu nước, đại diện cho các ngành, các giới, đại biểu cho những người Việt Nam ở nước ngoài... đã nhất trí, đồng lòng khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Những làn sóng thi đua mạnh mẽ, mang lại hiệu quả thiết thực được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam động viên, tổ chức. Với rất nhiều tên gọi khác nhau, các phong trào thi đua yêu nước phong phú, sôi nổi diễn ra rộng khắp, động viên và quy tụ lực lượng đông đảo trên nhiều lĩnh vực, ở mọi lứa tuổi và ngành nghề. Nắm bắt, chỉ đạo những phong trào ấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã làm tròn sứ mệnh của mình, thực sự phát huy được sức mạnh của nhân dân, của dân tộc, phát huy vai trò quyết định của miền Bắc đối với công cuộc giải phóng miền Nam.

Trên miền Bắc, các phong trào thi đua yêu nước trong các ngành, các giới, các tổ chức đoàn thể có sức lôi cuốn, tập hợp lực lượng mau chóng, mạnh mẽ phục vụ công cuộc xây dựng, củng cố hậu phương, tổ chức hoạt động chi viện và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vùng trời, vùng biển.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước. Yêu nước thì phải thi đua”, đồng thời tiếp nối tinh thần “thi đua ái quốc”(1) những năm kháng chiến chống Pháp, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn Đảng, toàn quân ta đã vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt của lửa đạn chiến tranh, tích cực tham gia lao động sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu với khí thế thi đua sôi nổi chưa từng có. Như tiếng kèn xung trận, các phong trào thi đua lôi cuốn, thúc giục mọi người từ hậu phương đến tiền tuyến cũng ra sức “chống Mỹ, cứu nước”.

Những năm tháng “cả nước ra trận”, đâu đâu cũng bắt gặp các khẩu hiệu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tay cày tay súng, tay búa tay súng”… Các khẩu hiệu đó đã biến thành những hành động cách mạng thiết thực và được biểu hiện bằng cao trào thi đua có tính chất quần chúng rộng rãi: Sóng Duyên Hải trong công nghiệp, Gió Đại Phong trong nông nghiệp, Ba nhất trong quân đội, Trống Bắc Lý trong giáo dục...

Từ giữa năm 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranh, đưa quân chiến đấu vào chiến trường miền Nam, mở rộng đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân cũng là lúc quân và dân hậu phương phải tập trung mọi nguồn lực để vừa trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, vừa làm tròn nhiệm vụ hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cả nước. Kể từ đây, chống Mỹ, cứu nước “là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”(2).

Trong chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn đảm đương một cách xuất sắc vai trò của hậu phương lớn. “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Với các kế hoạch kinh tế - văn hóa: 1955 - 1957, 1958 - 1960, 1961 - 1965, miền Bắc tiếp tục đạt được những thành tích đáng tự hào. Từ đầu năm 1965, cả nước bước vào chiến tranh. Ngay trong chiến tranh, miền Bắc vừa chiến đấu, vừa xây dựng, luôn luôn tăng cường tiềm lực về mọi mặt, để có đủ sức người, sức của chi viện cho miền Nam, đưa kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Càng về sau, vào những giai đoạn quyết liệt của cuộc chiến tranh, nền kinh tế của miền Bắc ngày càng được xây dựng và phát triển. Cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng và trên đà phát triển. Nền kinh tế trong nước đã có thể cung cấp phần quan trọng cho nhu cầu phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và nhu cầu cầu quốc phòng. Khi cần thiết, chúng ta có thể động viên nhanh chóng nhân tài, vật lực cho chiến trường miền Nam.

Tình thế mới của cuộc kháng chiến làm nảy nở thêm những nhân tố thi đua. Bên cạnh các ngọn cờ thi đua Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Trống Bắc Lỹ, Ba nhất, xuất hiện thêm các phong trào cách mạng sục sôi: Ba sẵn sáng, Năm xung phong của tuổi trẻ và Ba đảm đang của phụ nữ.

Ba sẵn sàng (sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng nhập ngũ; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến) ban đầu là phong trào thi đua do Ban Chấp hành Thành đoàn Hà Nội phát động vào ngày 9 -8-1964 - bốn ngày sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” do Mỹ dựng lên nhằm tạo cớ cho việc huy động không quân, hải quân đánh phá miền Bắc. Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào Ba sẵn sàng của tuổi trẻ Thủ đô đã thu hút được 26 vạn thanh niên tham gia. Những nội dung thi đua thiết thực của phong trào Ba sẵn sàng đã đáp ứng được nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ hậu phương là được dâng hiến sức trẻ cho sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược Mỹ. Phong trào Ba sẵn sàng đã được tuổi trẻ của nhiều địa phương trên miền Bắc hưởng ứng, tham gia, tiêu biểu là Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An... Sau một tháng phát động đã có một triệu rưỡi đoàn viên thanh niên đăng ký Ba sẵn sàng. Đặc biệt, Sơn La - tỉnh miền núi Tây Bắc, đó có 40 nghìn đoàn viên thanh niên dăng ký, trong đó có 19 nghìn thanh niên đăng ký tình nguyên gia nhập quân đội...


(1) Ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn quân, toàn dân, trên mọi mặt trận với mục tiêu là động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước vượt mọi khó khăn gian khổ để không chỉ chiến thắng giặc đói, giặc dốt, mà còn chiến thắng cả những hủ tục lạc hậu để xây dựng đời sống mới, để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.434.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Chín, 2014, 06:39:27 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM