Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Sáu, 2024, 03:13:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa  (Đọc 15346 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 03:11:11 pm »

MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
(SÁCH THAM KHẢO)



NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Hà Nội - 1998

Người dịch: Nguyễn Hồng Thao

Hiệu đính: Lưu Văn Lợi
              Lê Minh Nghĩa

Người số hóa : Việt kiều _cứu quốc quân

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2014, 09:00:40 am gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #1 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 03:14:09 pm »

MỤC LỤC                                                                                          Trang

 
 
CÁC Dữ KIỆN CHUNG LIÊN QUAN ĐÊN CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯƠNG SA
•   Các dữ kiện địa lý
-   Khái quát
-   Quần đảo Hoàng Sa
-   Quần đảo Trường Sa
•   Vấn đề pháp lý
-   Loại lãnh thô và xác định tranh chấp
-   Các quy phạm của pháp luật quốc tế được áp
dụng để giải quyết tranh chấp
•   Đại sự ký
-   Trưóc thời kỳ thuộc địa
-   Thời kỳ xâm chiếm thuộc địa của Pháp cho tói
cuối chiến tranh thế giói thứ hai
-   Thời ký sau chiến tranh thế giói thứ hai

-   Chương II                                                                                     53
VIỆC THỤ ĐẮC DANH NGHĨA BAN ĐẦU
•   Các quy phạm của luật pháp quốc tế về thụ đắc
lãnh thô cho đến nửa cuối của thế kỷ XIX
-   Tính vật chất của các sữ việc
-   Yếu tố chủ tâm
•   Hiểu biết hay phát hiện
Tình hình hai quần đảo trưóc thế kỷ XVIII
-   Các tài liệu do người Trung Quốc đưa ra
-   Các tài liệu do người Việt Nam đưa ra
•    Việc khẳng định chủ quyền (thế kỷ XVIII-XIX)
-   Các tài liệu Việt Nam thế kỷ XVIII và XIX
-   Việc hình thành một quyền đối với các đảo và
phạm vi của nó
-   Sự thể hiện có thể có của các quyền mang tính
cạnh tranh

- Chương III                                                                                    83
SỰ TIẾN TRIỂN TIẾP THEO CỦA DANH NGHĨA
•    Hiệp ưóc Pháp - Trung, ngày 26-6-1887
•    Luật áp dụng trong thời kỳ sau 1884
-   Các quy tắc liên quan tói chủ quyền trên một
lãnh thô cuối thế kỷ XIX và sau đó
-   Khái niệm về thừa kế nhà nưóc hay chính phủ và
các hậu quả của nó
-   Nguyên tắc cấm thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực
-   Khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấp
•   Số phận các quần đảo trong thời kỳ thuộc địa
-   Từ thời kỳ của thực dân Pháp tại Đông Dương
cho tói chiến tranh thế giói thứ hai
-   Cuối thời kỳ thuộc địa (sau Chiến tranh thế giói
thứ hai)
•   Thời kỳ sau giai đoạn thuộc địa
-   Thời kỳ đất nưóc Việt Nam bị chia cắt (1956-
1975)
-   Sự trở lại của một nưóc Việt Nam thống nhất sau
chiến thắng năm 1975

-   Chương IV                                                                                   136
CÁC KET LUẬN VÀ CÁC cơ SỞ GIẢI QUYÊT TRANH CHẤP
•   Thực chất các quyền đối với các quần đảo
-   Trường hợp quần đảo Hoàng Sa
-   Trường hợp quần đảo Trường Sa
•   Các triển vọng giải quyết
-   Thư mục   
-   Các phụ lục
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #2 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 03:16:00 pm »

LỜI NHÀ XUẢT BẢN

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ở Biển Đông là lãnh thô thiêng liêng của Việt Nam. Nhà nưóc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã chiếm hữu và thực
thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục và hoà bình; phù hợp với luật pháp và thực tiên quốc tế; được nhiều quốc gia, tổ chức và học giả nổi tiếng trên thế giói thừa nhận, ủng hộ.

Một trong những học giả nổi tiếng, bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở trường đại học Paris- VII - Denis Diderot,nguyên Chủ tịch hội luật gia dân chủ Pháp, hiện là Chủ tịch Hội Luật gia châu Âu, đã viết cuốn sách nhan đề:
"Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Cuốn sách đã được nhà xuất bản L/Harmattan Paris (Pháp) công bố vào tháng 3-1996. Cuốn sách là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và độc lập của một học giả nưóc ngoài. Trong đó, dưói góc độ luật gia quốc tế, tác giả đã phân tích lập luận của các bên liên quan đến cuộc tranh chấp hai quần đảo và đưa ra những giải pháp cho vấn đề tranh chấp phức tạp này dựa vào cơ chế giải quyềt tranh chấp luật quốc tế và đặc biệt là Công ưóc của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982.

Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được sự cộng tác nhiệt tình của Ban Biên giới của Chính phủ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia trân trọng giới thiệu bản dịch tiếng Việt cuốn:

Chủ quyền trên hai quấn đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bản dịch đã cố gắng chuyển dịch một cách chính xác ý kiến, lập luận của tác giả: những chô cần chú thích theo sự giải thích của người dịch, người dịch cũng đã ghi chú để bạn đọc không nhầm lân với chú thích của tác giả cuốn sách.
Người dịch và Nhà xuất bản đã làm việc hết sức nghiêm túc và cẩn thận nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi còn có những thiếu sót, rất mong bạn đọc góp ý kiến để đi đến một bản dịch hoàn hảo hơn.

Tháng 11 năm 1997

NHA XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Bảy, 2014, 04:38:17 pm gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #3 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 03:46:14 pm »

LỜI NÓI ĐẦU

Không gian biển ở Đông Nam châu Á, do Trung Quốc và đảo Hải Nam bao bọc ở phía Bắc, Việt Nam ở phía Tây, Malaixia và Brunây ở phía Nam, Philippin ở phía Đông và Đài Loan ở Đông Bắc, được các nhà địa lý gọi theo truyền thống là biển Nam Trung Hoa, ngày nay người Việt Nam gọi là Biển Đông, có một số quần đảo cằn côi nằm rải rác.Trong số đó, hai quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía
Bắc và Trường Sa (Spratleys) ở phía Nam hiện nay chế độ pháp lý chưa được xác định rõ, vì nhiều nưóc đang tranh chấp chủ quyền đối với chúng[1]

Nhưng ở đây liệu có chất liệu cho một cuốn sách không? Phải chăng những đột biến địa chất làm lộ ra trên mặt nưóc các hạt bụi thể rắn này, không chỉ làm khuấy đảo sự bình yên của môi trường lỏng, dựng đứng lên những hiểm họa cho các nhà hàng hải? Hắn là khi thay đổi tỷ lệ giữa đất và nưóc, chúng đóng một vai trò trong việc hình thành các hiện tượng khí tượng đặc thù trong vùng nhiệt đói này và là những vị trí ưu tiên quan trắc việc hình thành các cơn bão.


Trên thực tế, các thuỷ thủ quan tâm tói hai quần đảo này để tìm cách tránh chúng; các nhà khí tượng suy ngâm về tác động của chúng trong các hiện tượng nhiêu loạn lớn của trời và biển, người ta hiểu được điều đó. Nhưng sự quan tâm của các luật gia tói các hòn đảo chỉ có chuột, rùa biển và các cơn bão, nơi một phần trong năm nóng cháy da cháy thịt, chỉ có thể hiểu được nếu ta nêu được cái giá chiến lược và kinh tế phi thường của các vùng đất này trong địa lý chính trị mới đây nhất.

Được các nhà hàng hải đường dài biết đến từ lâu đời vì họ thường tìm cách tránh chúng, để không bị nguy hiểm, được thăm viếng vài tháng trong năm bởi các thuỷ thủ tài giỏi và các ngư dân của những lục địa kế cận tói đây trú ngụ để đánh cá và thu lượm theo mùa, các nơi không người ở này trưóc thế kỷ XX không khơi dậy bất kỳ sự thèm muốn nào khác ngoài tham vọng của các hoàng đế An Nam,những người đã tô chức một cách hợp lý việc đánh cá và thu lượm hoá vật từ các tàu đắm ở đây. Những gì thu lượm tại Hoàng Sa được miêu tả trong các biên niên sử, có hệ thống và chính xác hơn so với Trường Sa, và nó chưa bao giờ gây ra những cạnh tranh có tính chinh phục. Như vậy, do không có tranh chấp, vấn đề chủ quyền trên các đảo nhỏ này không phải là một vấn đề cho tói đầu thế kỷ XX.Những đảo lộn do chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương gây ra trong vùng, rồi cuộc chiến tranh thế giói thứ hai kể cả ở châu Á, hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam và cuộc Cách mạng Trung Quốc không thể không gây nên sự quan tâm tói các vùng đất nổi này.

Thực dân Pháp đã lên tiếng muộn nhưng dứt khoát,nhất là khi Nhật Bản sắp bưóc vào chiến tranh và dự tính chiếm miền này làm điểm tựa. Mưu toan của Nhật Bản
làm phát sinh những yêu sách đầu tiên của Trung Quốc vào thế kỷ XX cũng như hành động chiếm hữu của Pháp,đã tắt ngấm cùng thất bại của họ trong chiến tranh, nhưng đã để lại đằng sau nó những thèm muốn nhiều bề.
Nưóc Việt Nam phi thực dân hoá, một thời gian dài bị thương tổn và suy yếu, không có khả năng ngăn chặn các cuộc chiếm hữu khác, mặc dù không bao giờ ngừng đòi lại các quyền cũ của mình. Việc chiếm hữu thô bạo nhất là của Trung Quốc.Được tiến hành theo hai giai đoạn đối với Hoàng Sa, ngày nay nó thể hiện như một việc đã rồi mặc dù lúc nào cũng bị tranh cãi. Vói Trường Sa, nó đã được phát động năm 1988, nhưng trưóc đó đã có những nưóc khác tranh chấp với Việt Nam về quần đảo rộng lớn này. Các sự kiện cho thấy một cách hùng hồn tham vọng không thể  dập tắt của Trung Quốc trong khu vực, nhưng cũng cho thấy cả sự bền bỉ của Việt Nam trong việc nhắc lại mộtdanh nghĩa tiền thuộc địa, và quyết tâm của các bên tham gia khác muốn có mặt vào thời điểm giải quyết vấn đề này, nhưng trong lúc này thời điểm đó còn bị đẩy lui.Việc cai trị của các chúa An Nam trên các đảo đã bị gián đoạn vào giữa thế kỷ XIX khi nưóc Pháp nhảy vào cuộc.

Pháp chỉ quan tâm đến các đảo nhỏ và tìm hiểu về các quyền trưóc đây một cách muộn màng. Sự im lặng của Pháp đã có lợi cho việc thể hiện yêu sách của Trung Quốc. Hoàn cảnh sẽ cho phép họ chuyển sang hành động. Năm 1956, nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa bị người Trung Quốc chiếm đóng, có thể nói là lét lút nhân lúc quân đội viên chinh Pháp rút khỏi khu vực, Hải quân Nam Việt Nam lúc này còn giữ phần phía Tây. Nhưng gã khổng lồ Trung Quốc, trong lịch sử nhiều thế kỷ của mình đã xen kẽ các thời kỳ bành trướng ra biển và co cụm về lục địa. Rõ ràng là các tham vọng trên biển của họ, nguôi đi trong suốt thế kỷ XIX và vào đầu thế kỷ XX, ngày nay đã bưóc vào một thời kỳ tích cực mới. Năm 1970, vào lúc chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam đến giai đoạn tột đỉnh, Hải quân của Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa đã tiến hành một số hoạt động trên nhóm Amphitrite (An Vĩnh), bộ phận phía Đông quần đảo  Hoàng Sa, nhưng một cách ít kín đáo hơn so với các lần trưóc. Các cơ sở hạ tầng quân sự đã được xây cất vào năm 1971. Trên đảo Phú Lâm đã đào thêm một cảng mới.Đó là bưóc mở đầu cho việc bành trướng sự kiểm soát của Trung Quốc trong Biển Đông. Vào tháng 1 năm 1974, một hạm đội gôm 8 tàu chiến Trung Quốc mở cuộc chiến chống các tàu Nam Việt Nam và sau một cuộc hải chiến ngắn và dữ dội, đã chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Toàn bộ quần đảo lúc này rơi vào tay Trung Quốc. Việc kiểm soát lãnh thô của Trung Quốc đã dịch chuyển khoảng 250 km về phía Nam. Kế hoạch đã rõ và các hoàn cảnh đã được khai thác khôn khéo.

 Hà Nội lúc đó có một kẻ thù trực diện là Hoa Kỳ và hai đồng minh mà họ phải giữ một thế cân bằng không ổn định là Trung Quốc và Liên Xô. Nhưng, mộtmặt Bắc Kinh đã bắt đầu từ năm 1972 một việc xích lại gần Hoa Kỳ ngay trong khi nưóc này đang tăng cường ném bom Việt Nam, mặt khác các quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh không ngừng xấu đi. Do đó, sựủng hộ của Trung Quốc cho người "em nhỏ" là Việt Nam đang oằn mình dưói bom đạn đã trải qua các cuộc khủng hoảng và đầy ẩn ý. Ý tưởng chắc chắn khiến nhà cầm quyền Trung Quốc băn khoăn nhiều là một chiến thắng của Hà Nội dẫn họ đến việc thay thế quân đội Sài Gòn trên các đảo này, trong khi đó sự có mặt của Hải quân XôViết đang không ngừng phát triển ở Thái Bình Dương có thể sẽ nhanh chóng đưa đến sự có mặt của Liên Xô ở quần đảo Hoàng Sa, và gây cho Trung Quốc sự lo ngại bị bao vây [2] .

Đầu năm 1974, trong các lo ngại đó, chưa có gì xảy ra.Đối thủ duy nhất trên các đảo đó là Chính phủ Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ không bảo vệ họ trên điểm này. Chínhphủ Trung Quốc đã chiếm được một vị trí địa - chiến lược quan yếu mà chẳng tốn kém bao nhiêu qua các sự kiện vũ trang tháng 1 năm 1974. Bị đánh bại về quân sự trên một mặt trận cục bộ, trong khi một thất bại mang tính chất khác đang xuất hiện ở phía trưóc, Chính phủ Nam Việt Nam phản đối cũng như Chính phủ Cách mạng lâm thời. Còn Chính phủ Hà Nội thì bị đặt trong một tình thế khó xử nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. Hà Nội không thể trực diện chống lại việc đã rồi đó, một việc được thực hiện chống lại một chính phủ khác của Việt Nam và liên quan đến phần phía Nam mà Hà Nội không có thẩm quyền. Phải tìm cách không tán thành. Điều đó tạo ra một lập truờng không rõ ràng mà Trung Quốc bây giờ còn tìm cách tận dụng. Việc chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc tiến hành năm 1974 được tiếp tục trong những năm sau bằng việc tăng cường đáng kể các cơ sở hạ tầng, việc quản lý hành chính và việc đưa dân đến ở. Công việc này tăng nhanh từ năm 1977-1978: xây dựng một sân bay ở Phú Lâm và lập một đường bay với các chuyến bay hai tuần một lần từ năm 1980, năm 1979 mở rộng cảng ở Phú Lâm xây dựng từ 1971, năm 1982 cấp kinh phí xây dựng các hải đăng, bố trí một cảng mới ở đảo Tri Tôn, cực Nam của quần đảo Hoàng Sa.

Nhưng đối với Trung Quốc, nuốt trôi các đảo đó chỉ là món khai vị. Bên cạnh các tham vọng địa chiến lược và chính trị còn có các thèm muốn kinh tế. Xa hơn về phía Nam, một quần đảo khác rộng hơn rất nhiều và còn ít hiếu khách hơn, nằm rải rác trên mặt đại dương. Cũng vào lúc này, luật quốc tế đã xác định rằng các quyền trên mặt đất đem lại các quyền trên tài nguyên biển tiếp giáp với các bờ biển. Đánh cá và dầu khí là hai chuyện được thua có tính quyết định đối với một nưóc lón phải nuôi, đồng thời phát triển một số dân chiếm gần một phần tư
dân số toàn thế giói.

Trong lịch sử Trung Quốc không có một căn cứ nào chứng minh một chính phủ của nưóc này cho đến giữa thế kỷ XX đã từng tiến hành hành động quyền lực đối với quần đảo Trường Sa, những mảnh đất nằm rải rác trên 160.000 km2 trên bề mặt đại dương. Nhưng điều đó có hề gì! Trung Quốc đã viện dân những quyền lịch sử nhắm chuẩn bị cơ sở cho việc tiến hành kiểm soát tại chô.


Tuy nhiên, so với Hoàng Sa thì Trường Sa xa lục địa Trung Quốc hơn nhiều nên không thể nuốt trôi dễ dàng.Các đảo đó đã từng nằm trong khu vực quản lý trên biển của các hoàng đế An Nam trưóc khi thực dân đến, và thực dân Pháp đã không biết đến nhiều hơn và sóm hơn so với Hoàng Sa. Nhưng việc Trung Quốc hoàn toàn không có yêu sách gì đã khiến cho Chính phủ Pháp tự do hành động hơn trong việc chiếm đóng chúng và khắng định trưóc thế giói chủ quyền của mình ngay khi điều đó trở thành một cuộc tranh chấp trưóc sự đe dọa ngày càng
lón của Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giói thứ hai, mọi dục vọng đồng loạt thức dậy. Trung Hoa dân quốc,Philippin và gần đây hơn là Brunây và Malaixia bám lấy
nưóc này một đảo san hô, nưóc kia một mỏm đá hay một bãi cát để khắng định các quyền mà môi nưóc nới rộng ra là có giá trị đối với toàn bộ quần đảo.

ứng cử viên nghiêm chỉnh nhất giành danh nghĩa trên các đảo này về cả căn cứ lịch sử cô xưa của họ lân cơ chế pháp lý về thừa kế các quyền đã được thực dân khắng định, đúng là Việt Nam. Nam Việt Nam đến năm 1975 rồi nưóc Việt Nam tái thống nhất sau đó đã xác định sự có mặt rộng rãi nhất có thể có bằng cách chiếm đóng một số đảo nhỏ. Từ năm 1988, những cuộc tranh chấp giữa các nưóc nhỏ và trung bình ở Đông Nam Á,những nưóc không có những hạm đội quốc gia mạnh, đã hoàn toàn bị rối loạn vì việc Trung quốc cụ thể hoá các  tham vọng của họ cho đến lúc đó mới chỉ bằng lời nói.Giống như một con mèo lón vươn mình trong cuộc tranh chấp giữa những con chuột nhắt, vào thời điểm nói trênTrung Quốc đã bắt đầu thực hiện phần thứ hai kế hoạch của họ, phần khó nhất, là kiểm soát toàn bộ vùng biển nằm ở sườn phía Nam của mình.



---------------
1 . Xem bản đồ Phụ lục 1.
2 .  . Vế các sự kiện này, xem Mawyn s. Samuels: Tranh chấp biên Nam Hải, New York và London, Methuen, 1982; John w. Garver: Trung Quốc náo động Nam Hải: Tương tác giữa các quỳên lợi quan liêu và quốc gia, The China Quarterly, 12-1992, số 132, tr. 999


Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 04:10:22 pm »

Chính phủ Bắc Kinh yêu sách một đường phân định ranh giới đến sát các vùng đất đối diện, biến biển được các nhà địa lý gọi là Nam Hải thành một vũng hồ quốc
gia mặc dù đó là một vùng qua đó luân chuyển 70% thương mại hàng hải của Nhật Bản. Điều đó trái ngược không những với Công ưóc của Liên hợp quốc về Luật biển ngày 10-12-1982 quy định việc vạch các ranh giới phân định trên cơ sở một giải pháp công bằng, mà cả đối với các văn bản của Trung Quốc về chiều rộng lãnh hải [2].

Cũng không sao. Trung Quốc là nưóc ký Công ưóc năm 1982 nhưng cho đến nay vẫn hoãn việc phê chuẩn [3].


Họ đã cho lưu hành một bản đồ trong đó nêu rất rõ yêu sách của Trung Quốc .[4]

Cụ thể, việc chuyển sang hành động đã xảy ra vàotháng 3 năm 1988. Trong một cuộc đụng độ hải quân ngắn và ác liệt giữa các tàu Trung Quốc và các tàu của
Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế các đội quân đồntrú đóng trên một số đảo, Việt Nam tổn thất hàng chụcngười. Một lần nữa việc tiến bưóc của Trung Quốc đãđược tính toán cẩn thận. Chiến tranh lạnh kết thúc là mộtviệc đã rồi; cả Hoa Kỳ lân Liên Xô, kết hợp với việc giảm chi phí quân sự của họ, đã bắt đầu giảm sự hiện diện ở Thái Bình Dương.

Lo ngại về các cuộc xung đột tiềm ẩn, Chính phủ Manila đã tìm cách để Hoa Kỳ đưa quần đảo Trường Sa vào khu vực phòng thủ chung, nhưng vô hiệu vì Hoa Kỳ
hoàn toàn không còn bận tâm đến việc dính líu vào mộtcuộc xung đột thuộc loại này bằng cách áp dụng một hiệp ước phòng thủ [5].

Vì không có chiếc "ô" đa phương nào đến lấp chỗ trống do việc chấm dứt sự cân bằng giữa hai siêu cường để lại, Trung Quốc càng cảm thấy dê dàng làm chủ vùngđất mà cuộc chiến tranh lạnh đã có một tiếng vang muộn màng giữ các nưóc nhỏ của khu vực lúc đó còn đối đầu nhau giữa các nưóc thuộc ASEAN và những nưóc thuộcĐông Dương cộng sản trưóc kia.

Từ sau sự kiện đó, các yêu sách của Trung Quốc đã bị kìm lại trong hành động (nhưng không về các ý đồ). Mặc dù từ đó Trung Quốc trong mọi dịp, lặp đi lặp lại rằng Trường Sa là "biên giới chiến lược" của tỉnh Hải Nam và tổ chức đều đặn các cuộc thao diên tại vùng này, các nhân tố địa lý và tài chính đã trì hoãn việc thực hiện các tham vọng của họ. Vì "biên giới chiến lược" đã vươn ra cách đất Trung Quốc trên 1.000 km, mà bản thân đất đó là đảo Hải Nam chứ không phải lục địa. Giao thông hàng hải ở đó rất nguy hiểm và quân đội Trung Quốc vân còn thiếu các phương tiện không quân và hải quân đảm bảo kiểm soát khoảng cách đó. Việc gia tăng rất nhiều ngân sách quân sự của Trung Quốc phục vụ hải quân từ năm 1989 cho thấy khá rõ ý đồ của họ trong tương lai là gì [6] .

Đối với một nưóc hết sức năng động, nhưng bị ảnh hưởng bởi những sự mất cân đối, đó là một nô lực đầu tư mang lại lợi nhuận không chắc chắn và chậm. Đưa chiến tranh đến vùng Trường Sa, bản thân nó là một cuộc phiêu lưu và những lợi ích rút ra từ các tài nguyên liên quan đến các thế hệ mai sau nhiều hơn là các thế hệ hiện nay đang nắm quyền lãnh đạo.

Hiện tại, dù còn cần phải hạn chế, các tham vọng của Trung Quốc không vì thế mà không bộc lộ một cách rõ ràng. Với danh nghĩa xây dựng một trạm quan trắc đại dương, ngay từ năm 1987, Trung Quốc đã tiến hành cáchoạt động thanh tra trong vùng. Đầu tiên là đá Chữ Thập(Fiery Cross) bị chiếm đóng, sau đó là một số đảo hay đá khác (đá Thám Hiểm, đá Châu Viên, đá Đông, đá Gạc Ma, đá Xubi, đá Lendao, đá Gaven. Đá Gaven - tênTrung Quốc là Nam Xun Jiao. Tác giả viết Nai Ioujiao -đá Nam - ND).

Những công trình quan trọng đã được tiến hành ở đó bắt đầu từ những vụ nô để đào kênh trong vành đai san hô và những công trình đắp đê để lập các hồ nưóc mặn.

Sự thể hiện các tham vọng đó của Trung Quốc trên quần đảo ảnh hưởng đến lập trường của các nưóc khác.Tâm quan trọng chính trị của việc Trung Quốc tiến lên
phía trưóc trong khi Hoa Kỳ và Nga giảm mạnh cam kết đối với khu vực, được đo bằng việc các nưóc Đông Nam Á nhanh chóng xích lại gần nhau. Việc xiết chặt các quan hệ thông qua nền kinh tế thị trường được bổ sung bằng một sự gắn bó tốt hơn trong khu vực với việc Việt Nam gia nhập ASEAN. Hậu quả quân sự là tăng cường sự có mặt của các nưóc trong quần đảo. Môi nưóc củng cố  trưóc hết cơ sở của việc chiếm đóng của mình bằng việc đổ bê tông, theo nghĩa đen, các nền có thể có, và bố trí ở đó những đội quân đồn trú quan trọng hơn.

Xen kẽ với các cuộc thao diên quân sự của các bên làviệc tiến hành các hoạt động quan trắc khoa học, nghiên cứu địa chất và thuỷ văn.


Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đá phụ sau khi đã lợi dụng những cơ hội ngoại giao để khẳng định với các nưóc láng giềng rằng giải pháp tốt nhất là
khai thác chung kèm theo việc đông cứng vấn đề chủquyền, về phần mình, Việt Nam mở rộng các vị trí, trong khi từng nưóc, theo khả năng của mình, tìm cách khắng định các quyền và tăng cường khả năng quân sự của họ.

Theo tinh thần đó vào tháng 2 năm 1995, Philippin đã phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng một đảo nhỏ mà Chính phủ Manila yêu sách Có lẽ Trung Quốc đã tiến
hành xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở đó, điều mà họ không phủ nhận.

Như vậy, các đảo nhỏ nói trên mà quảng đại quầnchúng không biết đến, chỉ sau vài năm đã trở thành một vùng bùng nô tiềm ẩn, nơi dần dần tích tụ mọi thành
phần cho một cuộc xung đột quan trọng. Đúng là chuyện được thua là rất lón, nhất là đối với Trường Sa.

Ba kiểu tham vọng hay tranh chấp được thể hiện về mặt pháp lý trong vấn đề phân định ranh giới biển và trong vấn đề danh nghĩa chủ quyền được coi là điều tiênquyết. Sự thèm khát tài nguyên, các cuộc cạnh tranh chiến lược và việc làm chủ đối với việc bảo vệ môitrường nằm ở trung tâm các cuộc tranh chấp đó.

Việc kiểm soát đánh cá, hay nói đúng hơn việc đánh cá không kiểm soát, là yếu tố chủ yếu đầu tiên. Điều đó rất dê hiểu nếu ta xem xét sức ép của dân số lên các vùng duyên hải của cả Trung Quốc, lân Việt Nam và Philippin (không kể Indonexia đứng ở phía sau).


Việc khai thác tài nguyên hải sản có tính quyết định đầu tiên. Nưóc nào cũng đòi các quyền đặc quyền và chỉ lo bảo vệ các loài nhằm hạn chế việc đánh bắt của các nưóc láng giềng.

Nhưng tham vọng còn dữ dội hơn đối với tài nguyên dầu khí. Theo các dữ kiện do Trung Quốc đưa ra, vùng Trường Sa có tiềm năng 25 tỷ mét khối khí tự nhiên và
105 tỷ thùng dầu lửa, thêm vào đó là 370.000 tấn phôtpho 2. Nằm hơi chếch về phía Bắc Trường Sa, khu vực các bãi ngầm James Shoal sẽ là một mỏ có trữ lượng 91 tỷ thùng dầu lửa

 
Chúng ta hiểu được niềm hy vọng mà một tài nguyên như vậy tạo ra đối với các nhà lãnh đạo có trách nhiệm về sự phát triển của các dân tộc trong khu vực.
Tiếp theo tiếng gót giày của Trung Quốc năm 1988, có một đặc nhượng năm 1992, theo đó Chính phủ Bắc Kinh thông qua Công ty dầu lửa ngoài khơi quốc gia Trung Quốc trao cho Công ty dầu lửa Mỹ Crestone (Denver -Colorado) một giấy phép thăm dò trên một diện tích9.700 hải lý vuông tại vùng Vạn An Bắc nằm giữa quần đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam.


Đó là đặc nhượng đầu tiên được trao ở vùng đó, cáccuộc đàm phán về vấn đề này đi kèm với một bài diễn văn của Trung Quốc theo đó Trung Quốc sẽ huy động
mọi phương tiện quân sự cần thiết để bảo vệ các hoạt động do công ty này tiến hành. Người ta đã hiểu, làmnhư vậy để làm yên lòng những người lãnh đạo crestone thì ít mà để gửi một lời cảnh cáo về phía Việt Nam thì nhiều. Các nhà lãnh đạo của nưóc này đúng là có lý do để lo ngại rằng Trung Quốc, qua bưóc tiến táo tợn này, sẽ giành được sự trung lập (thậm chí có thể là tích cực nữa?)
của Hoa Kỳ trong khu vực, vì từ nay các lợi ích lớn củatư nhân Mỹ được đặt dưói chiếc ô của Trung Quốc.


Lập trường của Trung Quốc có tính nhất quán theomột lôgich thiên triều khu vực. Bắc Kinh khắng định là,vì các lý do lịch sử, 80% biển Nam Trung Hoa thuộc chủ
quyền Trung Quốc. Và đặc nhượng của Trung Quốc choCrestone nhằm mục đích cụ thể hoá sự khắng định đó.

Cách bờ biển Việt Nam hơn 250 km một chút, và cáchđảo Hải Nam về phía Nam trên 1.000 km, vùng đặcnhượng mà người Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc - 21, và
người Việt Nam gọi là khu vực các bãi Phúc Tân, PhúcNguyên, Tư Chính, Huyền Trân, nằm trên thềm lục địamà Việt Nam yêu sách. Nhưng Việt Nam, không để chosự khiêu khích của Trung Quốc tiến hành mà không cóphản ứng, trong cùng thời gian đó đã khôi phục lại mộtthoả thuận ký với Mobil năm 1975 và thành lập một Tô hợp (Consortium) thăm dò bao gồm nhiều công ty của Nhật Bản, Một vùng có tên là Thanh Long nằm ở phíaTây vùng đặc nhượng của Crestone được thăm dò với danh nghĩa đó [7]  .


----------

  2. Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa, do Uỷ ban Thường vụ Đại hội đồng nhân dân thông qua ngày
25-2-1992, ấn định lãnh hải là 12 hải lý và nói rõ điều đó áp dụng cho
phần lục địa của Trung Quốc và cũng cho các đảo trong đó có các
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3.Trung Quốc đã phê chuâh Công ước ngày 15-5-1996 (ND)

4.   Xem các bản đồ số 2 và 2 bis.

5 .   Michael Bennett: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và việc áp dụng luật
quốc tê'trong cuộc tranh chấp về quần đảo Trường Sa, Stanford Journal of
International Là, 1991-1992, t. 28, tr. 425.

6. Michael Bennett, như trên, tr. 428.

7.  . Xem. F.E.E.R, ngày 30-6-1994: Courrier international ngày 25 đến
31-8-1994. số 199, Le Monde ngày 22-4-1994.



Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #5 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2014, 04:27:26 pm »

Gần đây, chính phủ Manila cũng gây ra những sự lo ngại mới và các lời phản đối khi Bộ Năng lượng của họ trao cho Vaalco Energy (Hoa Kỳ) một giấy phép thăm dò dầu lửa xung quanh các đảo Thị Tứ, Bình Nguyên, VĩnhViên, bộ phận phía Đông của Trường Sa. Một số người coi đó như một bưóc đi sai lầm [8] của nền ngoại giao Philippin vì nó trái với lập trường theo đó Manila ủng hộviệc thăm dò và khai thác chung tài nguyên dầu khí củakhu vực, sự kiện này làm sáng tỏ tính bùng nô của tình hình.

Năm 1994, chỉ có vài tạp chí thạo tin mới ghi nhận được một sự kiện có nhiều ý nghĩa đã xảy ra trong vùng các đặc nhượng dầu khí ở Tây Trường Sa. Tháng 4 năm đó, hải quân Việt Nam hình như đã ra lệnh cho một tầu Trung Quốc (làm nhiệm vụ nghiên cứu) ra khỏi vùng biển Việt Nam và hình như đơn vị Trung Quốc này (có lẽ vì có các nhà nghiên cứu nưóc ngoài có mặt trên tàu) đã chấp hành[9] .


Cũng như vậy, vân còn nằm trong bí mật một số sựkiện xảy ra năm 1991 giữa Philippin và Đài Loan về tranh chấp đánh cá trong quần đảo, vì Đài Loan giữ một đảonhỏ, đảo quan trọng nhất. Nhưng Cộng hoà nhân dânTrung Hoa trong trường hợp này, quên nôi oán thù đốivới nưóc Cộng hoà Trung Hoa "kia", đã ủng hộ yêu sách của Đài Loan và lấy đó làm lý do để mở rộng toàn bộ yêusách của mình.

Nhưng người ta tự hỏi, trưóc bao nhiêu rối loạn đó lại chẳng có một chút ánh sáng nào từ pháp luật đến hay sao?

Thực ra, tình hình càng dê bùng nô khi các mặt pháp lý có tính chất làm dịu tranh chấp vân còn đó từ lâu mà không có giải pháp nào.

Vì hiện nay, nhất là đối với Trường Sa, các căng thắng có liên quan trực tiếp tói tài nguyên nghề cá hay dầu mỏ nên một giải pháp nhất thiết phải đi qua việc phân định ranh giới biển trên toàn bộ vùng này được tất cả các bên chấp nhận.

Tuy nhiên, các tiêu chuẩn pháp lý liên quan đến các việc phân định ranh giới biển vân còn thiếu chính xác rất nhiều, cũng như còn thiếu hẳn cơ quan có quyền bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn đó. Môi nưóc, sau khi vạch các đường cơ sở thẳng để sửa lại hình dáng quá phức tạp của bờ biển nưóc mình, có các quyền có tính chất riêng biệt đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình với chiều rộng môi vùng là 12 hải lý, và đối với một vùng đặc quyền về kinh tế và một thềm lục địa mở ra khơi tói 200 hải lý hay đôi khi xa hơn nếu địa mạo các đáy biển cho thấy rằng nền đáy biển vượt quá chiều rộng đó.


Tuỳ theo các nưóc ở vị trí đối diện nhau hay bên cạnh nhau trên cùng lục địa, các nưóc đó phải cùng nhau tiến hành một sự phân định ranh giới đối diện hay bên cạnh.

Một khó khăn đầu tiên là ở tính không xác định tương đối còn khá lón về tiêu chuẩn luật thực định để phân chia các khoảng không gian giữa các nưóc có bờ biển tiếp giáp nhau hoặc đối diện nhau. Sau thời kỳ đầu, thời kỳ các Công ưóc Geneve 1958, người ta cho là có thể xem phương pháp cách đều là một quy tắc chung (phương pháp cách đều là vạch đường trung tuyến mà tất cả các điểm cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở từ đó đo chiều rộng lãnh hải của từng nưóc trong hai nưóc), cho dù thừa nhận rằng ở nơi này hay nơi khác các hoàn cảnh đặc biệt có thể sửa đổi đường đó. Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển (1974- 1982) đã là dịp để làm nổi bật đặc điểm cực kỳ khác nhau của các vị trí địa lý và sự cần thiết từ bỏ nguyên tắc hình học với những kết quả nhiều khi không công bằng.

Do đó, Công ưóc hiện nay là luật thực định, chẳng phải chỉ giữ lại đường trung tuyến cho lãnh hải có chiều rộng giới hạn đến 12 hải lý (điều 15) hay sao. Đối với các vùng biển khác cần phân chia, nó chỉ nói rằng các nưóc phải đi đến một giải pháp công bằng bằng con đuờng thoả thuận (điều 74 và 83). Khuôn khô đó vì quá mơ hồ nên có vẻ trống rông, dần dần trở nên chính xác hơn qua các giải pháp bằng án lệ hay trọng tài hay qua thực tiên điều ưóc của các nưóc. Hàng loạt các tiêu chuẩn được phối hợp, cân nhắc để đi đến việc vạch một đường nếu được các nưóc trong cuộc thừa nhận sẽ là ranh giới quyền lực của họ và sẽ chỉ ra các tài nguyên mà họ có thể sử dụng và những tài nguyên mà họ không có quyền tài
phán[10] .

Dù sao, vân tồn tại nhiều điều không chắc chắn. Khó khăn lớn nhất bao giờ cũng do sự có mặt của các đảo. Một khi quy chế các đảo được biết rõ theo quan điểm chủ quyền, thì chỉ còn khó khăn đối với việc phân định ranh giới. Lúc đó, tuỳ theo khoảng cách giữa đảo hay các đảo đó đối với lãnh thô của nưóc mà nó phụ thuộc, phải xem xét trưóc hết xem đó có phải là những đảo làm thay đổi việc vạch các đường cơ sở thẳng bằng cách sáp nhập vào lãnh thổ đó hay không. Nếu khoảng cách của chúng đến lục địa không cho phép làm việc đó, chúng sẽ được hưởng những không gian biển riêng. Tuy nhiên, tuỳ theo các đảo đó có thể hay không có thể để con người ở được, chúng sẽ là lý do để đưa ra một yêu sách đầy đủ (lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa) hay chỉ để đòi có lãnh hải.

Trong mọi trường hợp, các đảo phụ thuộc vào một nưóc làm thay đổi các điều kiện phân định ranh giới giữa nưóc đó và các nưóc làng giềng.

Tình hình sẽ phức tạp nếu không gian biển cần phân chia liên quan đến nhiều nưóc, nưóc thì tiếp giáp, nưóc thì đối diện. Mọi việc phân định ranh giới song phương lúc đó cần tính đến các quyền của các nưóc thứ ba nếu nưóc đó có cơ sở để muốn tham gia đàm phán. Cho đến nay Trung Quốc đã khưóc từ không chịu đi theo cách lập luận này. Họ chỉ chấp nhận các cuộc thảo luận song phương và tránh mọi cuộc tranh luận đa phương. Đúng là theo thứ chủ nghĩa song phương đó, tương quan về sức mạnh được đặt dưói một ánh sáng trần trụi. Loại tình hình này kèm theo việc quá tham lam trong ý đồ tiềm ẩn sẽ dân đến sự tê liệt các tình thế pháp lý, những chuyện ăn cưóp không kiểm soát về đánh cá gây nên nguy cơ làm mất đi một số loài và sự sốt ruột của những người khai thác dầu không muốn huy động những vốn đầu tư lớn vào khai thác ngoài khơi với nguy cơ nằm trong tầm bắn của pháo của hải quân hay không quân của một người láng giềng bất mãn.

Các cơ chế pháp lý không thể tự nó tháo gỡ bế tắc trong các cuộc đàm phán. Thực vậy, mặc dầu Công ưóc về Luật biển, với việc thành lập Toà án Luật biển, đã trù định một thủ tục pháp lý riêng cho việc giải quyết tất cả các cuộc xung đột do việc áp dụng Công ưóc gây ra, thủ tục đó chỉ liên quan đến các quốc gia thành viên và như vậy không thể áp đặt đối với những quốc gia không phê
chuẩn Công ưóc. Mặt khác, văn bản đó dứt khoát loại bỏ tất cả các vấn đề chủ quyền ra ngoài cách giải quyết các tranh chấp đó Do đó, rõ ràng vấn đề danh nghĩa đối với các vùng đất, nhất là đối với các cấu tạo đảo, dù nhỏ đến đâu về phương diện địa lý vẫn là một vấn đề tiên quyết có tính quyết định đòi hỏi một giải pháp pháp lý.

Việt Nam có thể sẵn sàng đưa vấn đề ra trưóc cơ quan tài phán thích hợp nhất để giải quyết loại tranh chấp này giữa các quốc gia, cụ thể là Toà án pháp lý quốc tế (thường gọi là Toà án quốc tế - ND). Trưóc đây Pháp đã hai lần, vào năm 1937 và 1947, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề ra Toà án pháp lý quốc tế hay trọng tài. Nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc đã làm ngơ trưóc các đề nghị đó

Nếu không có các đảo Trường Sa; đặc nhượng của Trung Quốc có thể coi như nằm trên thếm lục địa của Việt Nam. Nếu các đảo Trường Sa, ít nhất bộ phận phía Tây của quần đảo này được thừa nhận là của Việt Nam,vấn đề sẽ trở nên ít hồ nghi hơn. Nếu một bộ phận của Tây Trường Sa vừa được tuyên bố là của Trung Quốc và được luật quốc tế thừa nhận như vậy, lúc đó sẽ phải, trên cơ sở điều 121 của Công ưóc, quyết định xem các đảo nhỏ đó chỉ được hưởng một lãnh hải hay chúng mang lại quyền tài phán trên các vùng biển khác. Sẽ cần (tuỳ theo các vấn đề tế nhị này được giải quyết thế nào) phân định ranh giới các quyền của các bên. Nhưng lúc đó, trong việc phân định ranh giói, các quyền của Malaixia,Brunây, Đài Loan, Philippin sẽ tham gia vào.


Sẽ khó không tính đến việc một rãnh ngầm quan trọng (sâu trên 2.000 m) tách vùng các đặc nhượng ra khỏi quần đảo Trường Sa.

Xa hơn về phía Bắc, trong vùng quần đảo Hoàng Sa,việc phân định ranh giới chỉ liên quan đến hai nưóc là Việt Nam và Trung Quốc nhưng ở đấy quy chế quốc tế của quần đảo Hoàng Sa cũng là chiếc chìa khóa của việc phân định ranh giới đó.

Cuốn sách này muốn đóng góp vào việc làm sáng tỏ vấn đề tiên quyết nói trên. Vấn đề phân định ranh giới không được xem xét ở đây. Khi đã hội đủ các điều kiện để xem xét nó, nghĩa là khi vấn đề danh nghĩa chủ quyền của các đương sự đã được giải quyết, sẽ là lúc tính đến khó khăn riêng vừa nói. Nhưng quy chế lãnh thô của các đảo nói trên tự nó đãlà một vấn đề gai góc về pháp lý. Nhưng đây là một hay hai vấn đề, mỗi vấn đề cho một quần đảo?


Về mặt địa lý, đúng là có hai quần đảo theo nghĩa mà Công ưóc của Liên hợp quốc về Luật biển dành cho từ ngữ đó: người ta gọi "quần đảo" là một tổng thể các đảo, các vùng nưóc kề bên và các yếu tố tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức về thực chất tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử (điều 46).

Nếu môi quần đảo trong hai quần đảo đó đúng là tạo thành một thể thống nhất về địa lý, thì hai quần đảo cách xa nhau, không thể coi như chung một cấu tạo. Tuy nhiên trong các yêu sách quan trọng nhất, yêu sách của Trung Quốc và yêu sách của Việt Nam, hai quần đảo đó được đồng hoá với nhau. Do đó, chúng sẽ được xử lý qua cùng một cách phân tích và bằng cách đi theo những giai đoạn lập luận giống nhau, dù các kết luận liên quan đến chúng không hoàn toàn như nhau ở môi giai đoạn.

Người ta tìm cách làm sáng tỏ tất cả những gì luật quốc tế có thể đem lại để xác định các quyền của môi bên. Chúng ta cần khiêm tốn, mặc dầu nơi này nơi khác người ta đề cao giá trị của trật tự pháp lý thế giói mới, bởi vì nói cho đúng, luật gia chỉ có ít công cụ trong tay để có thể làm sáng tỏ loại vấn đề này.

Khi mà tính chủ quan của các quốc gia đuợc thổi phồng lên, vai trò của luật pháp là mở đường đi tói một chút khách quan. Nhưng trong luật quốc tế chung, không
có tiêu chuẩn cụ thể có thể áp dụng máy móc để chophép nói rằng: lãnh thô nào đó đúng là thuộc về mộtquốc gia nào đó. Hiến chương Liên hợp quốc đã đề ra một quy tắc cơ bản là tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹnđó. Nhưng muốn đánh tan hoài nghi (khi có hoài nghi),về phạm vi lãnh thô của một quốc gia vào thời điểmnưóc đó tham gia LHQ, người ta cần căn cứ vào các danhnghĩa như đã được xác định trong quá khứ.

Các quy tắc trong lĩnh vực này không phải bao giờ cũng giống nhau trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Các lãnh thô được nghiên cứu ở đây đòi hỏi vận dụng các luật của các thời điểm pha trộn trong những sự kiện rối ren không thể tưởng tượng được.

Trong chừng mực Trung Quốc và Việt Nam viện dẫn những danh nghĩa rất lâu đời, việc xem xét trưóc hết phải căn cứ vào sự vững chắc pháp lý của chúng. Trong
việc tìm kiếm tính khách quan, luật gia nghiên cứu, thẩm phán hoặc trọng tài phải chú ý đặc biệt đến vấn đề bằng chứng. Nhưng ông ta không được đề cập đến các tư liệu hay chuyện kể từ đời xưa và sử dụng chúng theo cách lập luận pháp lý mà ông có thể làm với các tài liệu hiện đại, vì cần tránh không để cho các khái niệm hiện đại tác động hồi tố một cách không thích đáng. Nếu làm như vậy, người ta sẽ đi đến việc xuyên tạc luật và vai trò của thời gian trong luật.


Nếu ta cần đi ngược dòng lịch sử thì chính là để tìm kiếm ở môi giai đoạn đâu là tình hình thực về những lãnh thô đó và ý nghĩa pháp lý của tình hình đó, căn cứ
vào các phạm trù pháp lý của thời điểm.

Muốn như vậy, ta phải nghiên cứu thời kỳ xa xưa và mối quan hệ mà ta gọi là phong kiến giữa Trung Quốc và An Nam, và phải luôn nhớ rằng Trung Quốc của Khổng giáo không biết đến khái niệm hiện đại về chủ quyền lãnh thổ; ta phải xem xét điều gì đã xẩy ra đối với các đảo thời kỳ thực dân Pháp, phải tìm hiểu các sự kiện xảy ra sau đó giữa những nưóc theo chủ nghĩa cộng sản, và không quên rằng trong tất cả các chuyện đó có những tranh chấp thuần tuý về quyền lực đã tìm cách lợi dụng nhiều hay ít thiện chí các lập luận pháp lý.

Luật, các quy định về quyền được hình thành với thời gian, nhưng cũng biến dạng theo thời gian. Vào thời điểm nào đó, một danh nghĩa được khắng định và củng
cố từ lâu, có thể được tuyên bố là hết giá trị vì quá lâu không được chú ý đến? Sự phối hợp nào của các cách ứng xử dân đến việc khắng định? Hay chểnh mảng? Và trong các cách ứng xử đâu là những cách có ý nghĩa khi có nhiều diên viên chia nhau các vai trò trên sân khấu lịch sử?

Ớ đây vấn đề nguồn là cơ bản. Vì cuộc tranh luận có tính vừa lịch sử và pháp lý, ta cần kết hợp các đòi hỏi riêng đối với các sử gia về tính xác thực của các nguồn,và các đòi hỏi bằng chứng của các luật gia làm cở sở cho các kết luận của họ.

Chắc chắn là việc rà soát các tài liệu lưu trữ của Pháp tạo nên tính chất độc đáo của công trình này so với nhiều công trình khác đã được công bố về vấn đề này .
Bằng cách dựa vào các tài liệu lưu trữ đó và cả các tài liệu pháp lý hiện có, tôi đã đề cập việc nghiên cứu quy chế của các quần đảo nói trên qua bốn chương của cuốn sách này, bao gồm: các dữ kiện chung liên quan đến chúng, việc thụ đắc danh nghĩa ban đầu, sự tiến triển về sau của danh nghĩa và cuối cùng là các triển vọng giải quyết.[11]


Bằng cách dựa vào các tài liệu lưu trữ đó và cả các tài liệu pháp lý hiện có, tôi đã đề cập việc nghiên cứu quy chế của các quần đảo nói trên qua bốn chương của cuốn sách này, bao gồm: các dữ kiện chung liên quan đến chúng, việc thụ đắc danh nghĩa ban đầu, sự tiến triển về sau của danh nghĩa và cuối cùng là các triển vọng giải quyết.







---------------


 8 . Trong F.E.E.R ngày 30-6-1994.

 9 . Trong F.E.E. R ngày 13-10-1994.

10.  . Xem M. Bedjaoui: Bí ẩn của các nguyên tắc công bằng trong luật
phân định ranh giới biển, Revista Española de derecho internacional,
Madrid 1990, tr. 387.

11   Xem tr. 153, danh mục sách.






 
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Bảy, 2014, 04:36:12 pm gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #6 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2014, 07:53:58 am »

                                               CHƯƠNG I

CÁC Dữ KIỆN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Để làm sáng tỏ vấn đề gai góc của luật pháp quốc tế về quyền lợi của các bên vừa được nêu lên cần phải tiến hành việc mô tả địa lý các lãnh thô này, chỉ ra các yếu tốcủa vấn đề pháp lý được đặt ra và vạch lại điểm chủ yếu của khung thời gian các sự kiện mà lập luận pháp lý có thể dựa vào.

CÁC Dữ KIỆN ĐỊA LÝ

Không phải tất cả các lãnh thô đảo ở biển Nam Trung Hoa đều liên quan tói những cuộc tranh cãi đang diên ra.Sự tranh cãi chỉ về hai quần đảo mà hiện nay hoàn toàncó thể xác định được trên các hải đồ. Như đã được nói rõ trong những nhận xét ban đầucủa công trình này các dữ kiện cụ thể về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được tập hợp ở đây sẽ được trình bày theo từng quần đảo riêng biệt.

Cân phải nói trưóc là có khó khăn rất lón trong việcxác định chính xác tất cả các yếu tố của các hình thể địa lý phức tạp này. Ngoài các đảo nhỏ chính, còn có rất nhiều các đá, bãi cát, đảo san hô, đá san hô ngầm đôi khi  quá nhỏ. Khoa địa lý gặp khó khăn do sự cùng tồn tạicủa nhiều hệ thống địa danh khác nhau. Thực vậy, cảmột mớ tên Trung Quốc, Philippin, Việt Nam, Pháp và Anh chồng chéo lên nhau, không có sự đối chiếu rõ ràng.

Sử dụng hệ thống địa danh nào không phải không có một ý nghĩa tượng trưng. Do vậy, ở đây sẽ sử dụng các tên tiếng Anh có ít nghi vấn hơn bởi vì nó không tương ứng với một yêu sách cụ thể nào.

Khái quát

Hai quần đảo này nằm trong số bốn nhóm đảo có đặc tính san hô, nằm rải rác trên biển Nam Trung Hoa  [12].

Hai quần đảo khác (Pratas và Maclesfield) không phải là đối tượng của sự tranh chấp chủ quyền.


Các quần đảo này nằm rải rác trên một vùng biển rộng lớn do lãnh thô các nưóc nằm xung quanh biển này bao bọc, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia, Brunei,
Philippin.

Các lãnh thô này không được hưởng những thềm lục địa rộng. Trung Quốc là một ngoại lệ và trong mức độ thấp hơn là Việt Nam, nhất là phía Tây - Nam.


Tuy nhiên, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ngoài thềm lục địa địa chất, ở trung tâm vùng biển này,nơi độ sâu đạt tói hơn 1.000 m ở gần Hoàng Sa, và khoảng 3.000 m ở Đông - Bắc Trường Sa.

Về phương diện pháp lý, các số liệu này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì không có một quốc gia láng giềng nào có thể đòi hỏi các quyền đối với các quần đảo này theo lýlẽ về sự phụ thuộc về địa hình của các quần đảo đối với thềm lục địa nào đó. Hơn nữa, luận cứ này không thích đáng về pháp lý, như chúng ta sẽ thấy trong các phântích sau này, bởi vì chủ quyền trên một cấu tạo đảo là độc lập với các mối liên hệ giữa cấu tạo này với đáy biển.


Từ phương diện địa chính trị hoặc địa chiến lược và do lợi ích của vùng biển này đối với hàng hải quốc tế, đã có một vài nhận xét nhấn mạnh tói tầm quan trọng của các đảo này.

Về phía Tây - Nam, biển Nam Trung Hoa thông với Ân Độ Dương qua eo biển Malacca và eo biển Singapore;về phía Đông - Bắc, biển này nối liền với Đông Hải: nó lại thông với biển Nhật Bản qua eo biển Triều Tiên.

Không cường quốc biển có tầm cỡ toàn cầu nào có thể thờ ơ với biển Nam Trung Hoa. Việc xem xét bản đồ chothấy toàn bộ tuyến đường biển quá cảnh qua biển này đề đi qua khoảng giữa hai quần đảo. Do đó, về phương diện này không cần thiết phải nhấn mạnh cũng thấy được tầm quan trọng của vấn đề chủ quyền, tức là quyền kiểm soátchiến lược các quần đảo này.

Cuối cùng, phải ghi nhận rằng đây là các đảo không có người ở. Diện tích các đảo quá nhỏ chưa bao giờ chophép phát triển đời sống con người. Theo truyền thống, các đảo này được dùng làm các điểm hô trợ cho các ngư dân theo mùa và ngoài trường hợp trên, chỉ có những người lính đồn trú, hay rất gần đây đối với Hoàng Sa,một cư dân có nguồn gốc hành chính được đưa đến đâycùng với những cố gắng rất to lón về cơ sở hạ tầng.


Quân đảo Hoàng Sa

Quần đảo nằm chủ yếu giữa vĩ độ 16° và 17° Bắc, kinh đô 111° và 113° Đông.

Nó được hợp thành từ hai nhóm chính: nhóm An Vĩnh (Amphitrite) và nhóm Nguyệt Thiềm (Croissant), khoảng cách giữa chúng khoảng 70 km [13] .

Thêm vào đó còn có một số đảo và đá nằm tách riêng.


Về phía Tây có nhóm Nguyệt Thiềm (còn gọi là nhómLưỡi Liềm - ND) gồm năm đảo chính: Hữu Nhật (Robert-0,32 km2) trên đó có dấu vết của một cầu tàu và một con kênh đào.

Đảo Quang Ánh (Money - 0,5 km2) nằm riệng biệt ở một nơi (cách khoảng 12 km), và xa hơn về phía Nam là đảo Tri Tôn. Môi đảo đều có vành đai san hô và các cửa của vành đai cho phép các tàu thuyền đáy nông vào tận bờ biển của đảo.

Về phía Đông có nhóm An Vĩnh, bao gồm: đảo Phú Lâm (Wood) [14] / đảo Đá (Rocheuse), đảo Nam, đảo Trung(Milieu), đảo Bắc (Nord), đảo Cây (Tree), và ở phía Đông là đảo Linh Côn (Linhcoln).

Đảo Phú lâm lớn nhất, dài không quá 4 km và rộng khoảng 2 hoặc 3 km.


Toàn bộ quần đảo, ngoài hai nhóm đảo nói trên, còn bao gôm hơn 30 đảo nhỏ, bãi cạn hoặc đá ngầm và chiếm khoảng 15.000 km2 bề mặt đại dương, điều đó nói lên tính chất cực kỳ nguy hiểm cho giao thông đường biển trong vùng biển này theo nhận xét của những người qua lại vùng này dựa trên số lượng xác tàu đắm.

 "Đó là những xác tàu đắm, chúng được dùng làm vật chuẩn để nhận biết nguy hiểm nhất là những nôi hơi có khả năng chịu đựng một thời gian lâu hơn nhờ trọng lượng của chúng và những nồi hơi đó được nhận thây từ rất xa nhờ thể tích của chúng và gây ra sự ngạc nhiên cho những người không am hiểu, họ không thể lý giải được ngay tính chất của những điểm nhô này trên các bãi đá ngầm "[15].


Về phương diện địa chất, các công trình khoa học thực hiện trong thời kỳ thuộc địa của Pháp do tàu hơi nưóc "De Lanessan" tiến hành và các kết quả của chúng được ghi nhận trong các bài viết được công bố của Tiến sĩ A. Krempf, Giám đốc Viện Hải dương học, cho thấy đáybiển nơi mọc lên các đá ngầm và các đảo nhỏ của quầnđảo Hoàng Sa có một độ sâu từ 40 đến 100 m và được bao phủ bởi một lóp vỏ san hô.

"Đó là một bề mặt mà đáng vẻ của nó bắt đâu có từ thời kỳ băng hà và nó được bao phủ bằng nước biển sau khi băng tanhoàn toàn, đã không ngừng tạo các điêu kiện thuận lợi nhấtcho sự phát triển san hô, nhờ ở xa tất cả các bờ biển. Hiện nay nó được bao phủ đông đêu bằng san hô sống, bằng cát, và bằng
sỏi san hô"
(Bài viết của Tiến sĩ Krempf).

Khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều. Thường xuyên có sương mù. Các đảo bị gió chà xát (gió lại sinh ra các dòngchảy, làm cản trở giao thông đường biển), và khu vực này thường xuyên có bão. Có cây cối trên tất cả các đảo:cây trên đất phostphorit, các loài cây khác, cỏ dại, bụi cây. Trên một số đảo có nguồn nuóc ngọt. Có vô số chim và rất nhiều rùa.

Các nguồn tài nguyên kinh tế có thể được phân thành ba nhóm:

-Nguồn tài nguyên tương lai, hiển nhiên là ở tiềmnăng về dầu lửa ngoài khơi. Người ta nói đây là một vùng hứa hẹn dù các dữ kiện chính xác về mối hy vọng
này chưa được công bố.

-Nguồn tài nguyên có từ lâu và vân còn được thèmkhát, và cũng đã từng là đối tượng khai thác - đó là cácmỏ phốt phát. Nó tôn tạo nền đất trên các đảo của quần đảo khá cao so với mực nưóc biển để cây cối trên đó phát triển được. Các mỏ này được tạo thành từ một chất đất gốc carbonate vôi (tính chất san hô). Đất này được phủ bằng các chất có gốc axit photphoric, do chim mang lại,
và các điều kiện khí hậu ẩm ưót đã cho phép nó biến đổi thành phốt phát. Tâng phốt phát có hàm lượng từ 23 đến 25% thậm chí 42%, có độ dày hơn một mét. Các xí nghiệp Nhật Bản đã khai thác phốt phát từ năm 1924 đến năm 1926 (và ở một số nơi, các mỏ đã bị cạn kiệt, ví dụ như ở đảo Hữu Nhật). Các thiệt hại có lẽ là đáng kể (cây cối bị chặt, thảm thực vật bị phá). Năm 1956, chính quyền Sài Gòn cho phép một nhà công nghiệp Việt Nam, ông Lê Văn Cang, khai thác phốt phát tại Hoàng Sa. Công ty phân bón Việt Nam tiến hành khai thác từ năm 1960 đến năm 1963. Các số liệu chi tiết cuối cùng có được trưóc khi Trung quốc kiểm soát quần đảo này là các tư liệu do kỹsư Trần Hữu Châu cung cấp (tháng 8 năm 1973) khi thựchiện chuyến công tác của các chuyên gia Nhật và Việt Nam, theo sáng kiến của chính quyền Sài Gòn Chuyến công tác này chỉ tiến hành trên nhóm đảo An Vĩnh (nhóm Nguyệt Thiềm bị Trung Quốc chiếm đóng từ 1956). Họ đã kết luận rằng sự tồn tại của trữ lượng phốt phát còn rất lón, nhưng các điều kiện khai thác phụ thuộc vào một cuộc khảo sát chính xác hơn trên các mâu được lấy về.

-   Nguồn tài nguyên thứ ba - có thể tái sinh (trừ phi bị khai thác không kiểm soát được dẫn tới sự biến mất cục bộ của một số loài) - đó là nguồn động vật biển. Đúng là nhiều hy vọng có ngọc trai từng làm náo động mạnh mẽ hồi trưóc Chiến tranh thế giói thứ hai dường như không tiến triển. Nghề cá kéo lưói (sản lượng lớn) dường như không có khả năng vì đáy biển nhiều san hô hôn độn và
gồ ghề. Ngược lại, nghề đánh bắt rùa biển đã từ lâu được cả những người đánh cá Trung Quốc từ một số cảng phía Nam đảo Hải Nam đến, và những người đánh cá Việt Nam tiến hành. Tuy nhiên, đó không phải là một hoạt động công nghiệp mà chỉ là hoạt động thủ công và thu  nhập không cho phép làm gì hơn là nuôi sống các gia đình ngư dân.

Từ khi Trung Quốc xâm chiếm bằng quân sự toàn bộ quần đảo và nhất là từ năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phần phía Tây của quần đảo (cụm
Nguyệt Thiềm), các hoạt động của Trung Quốc tăng mạnh trên toàn bộ quần đảo. Đảo Phú Lâm là đảo duy nhất có diện tích đủ để trở thành một điểm tựa thích hợp cho các cơ sở hạ tầng tốn kém, đã có một sân bay và một cảng mở rộng. Và một cảng nữa cũng đã được hải quân Trung Quốc xây dựng tại đảo Tri Tôn vào năm 1982  [16].






-------------------- 

12. Việc sử dụng tên gọi này đang được sử dụng một cách rộng rãi trong các
sách địa lý và hiện đang bị Việt Nam không thừa nhận, dĩ nhiên trong cuốn
sách này không có dụng ý đứng về phía các tham vọng của Trung Quốc
đối với vấn đề phân định.

13 . Xem bản đồ Phụ lục số 3.
14. Xem phụ lục 4, danh sách các đảo và đảo nhỏ.
15. P.A. Lapique: A propos des iles Paracels (Vê các đảo Hoàng Sa), 1929,
Les éditions d'Extême Asie, Saigon, tr.3.)
16  . Xem báo cáo các chuyến công cán này trong : Các quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa (Les archipels Hoang Sa et Truong Sa)



Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #7 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2014, 08:29:07 am »

Quân đảo Trường Sa

Nằm giữa biển Nam Trung Hoa, nhưng xa hơn quần đảo Hoàng Sa về phía Nam. Đó là một nền rộng lớn ngầm dưói biển, cách xa tất cả các lãnh thô lục địa hoặc
lãnh thổ đảo quan trọng bởi các đáy biển có độ sâu hàng nghìn mét.

Quần đảo không phải dễ xác định rõ ràng (còn khó hơn so với quần đảo Hoàng Sa) bởi vì khu vực này baogồm các đảo, đảo nhỏ, bãi cạn và đảo đá nằm cực kỳ rải rác. Người ta tính được hơn 100 đảo, đảo nhỏ, bãi cạn,đảo đá và diện tích toàn bộ quần đảo chiếm gần 160.000km  diện tích mặt nưóc (gấp hơn 10 lân diện tích khu vực quần đảo Hoàng Sa). Ranh giới Bắc của quần đảo là vĩ độ 12°. Ranh giới phía Đông là kinh độ 111°.


Các tài liệu và các hải đồ khác nhau cho thấy có 26 đảo hoặc đảo nhỏ chính, thêm vào đó là rất nhiều đá ngầm, bãi cát lón nhỏ khác nhau có tên gọi theo nhiều thứ tiếng[17 ]. Các yêu sách tương ứng sẽ được nghiên cứu và xem xét dưói đây. Ớ đây, chúng tôi chỉ ghi nhận rằng không phải tất cả các điểm đều bị chiếm đóng, Philippin, Malaysia, Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam chiếm đóng một số điểm. Quần đảo còn bao gôm bảy nhóm đảo đá nhô lên khỏi mặt nưóc khi thuỷ triều lên và được xác định trên bản đồ.



Các đảo thì nhỏ. Một số đảo hoàn toàn không có thựcvật và chỉ được bao phủ bằng cát và phân chim. Các đảo khác có một số bụi cây và một số nhóm cây dừa. Những người quan sát ghi nhận rằng các đảo này giống các quần đảo ở châu Đại Dương hơn là ở miển Đông Á.

Vào mùa khô khí hậu nóng như thiêu. Thường xuyêncó hai loại gió mùa. Khi đào giếng, có thể tìm thấy nưóc ngọt, có thể trồng cây hoa màu, tóm lại là các loại cây có thể chịu được độ mặn cao của đất. Báo cáo của đoàn thăm dò của Việt Nam năm 1973 cho biết rằng một số đảo nhung nhúc muỖi và chuột.

Nguồn tài nguyên về cá của toàn quần đảo có lẽ là đáng kể. Vị trí cách xa đất liền đã tạo ra các khó khăn khi khai thác với quy mô lón (các khó khăn đó thực ra không phải là không giải quyết được).

Các đảo này không có và không bao giờ có dân bản địa. Ngày nay, tất cả các quốc gia đưa ra yêu sách đều duy trì các trạm đồn trú trên các đảo nhỏ này hay đảo nhỏ khác. Người Pháp trong thời kỳ họ quản lý quần đảo (giữa hai cuộc chiến tranh thế giói) đã nhận thấy sự có mặt không thường xuyên của một số ngư dân từ đảo Hải Nam tói Cũng như quần đảo Hoàng Sa và do cùng lý do, các đảo Trường Sa chứa phân chim - đó là đối tượng của sự thèm khát và khai thác của Nhật Bản trưóc chiến tranh. Ngày nay, trữ lượng phốt phát ở đây được đánh
giá tói 370.000 tấn.

Những hứa hẹn về dầu lửa được đề cập đến trong báo chí quốc tế với một sự nhấn mạnh và dường như cómột nội dung rất thực tế. Theo nguồn Trung Quốc, vùng quần đảo Trường Sa có một trữ lượng 25 tỷ m3 khí và 105 tỷ thùng dầu[18] 

Các đảo nổi chính gồm: Cụm Song Tử gôm bốn đảo nhỏ: đá Bắc, đảo Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây và đá Nam trong đó có một đảo dài khoảng 1 km; Bãi Đinh Ba,một bãi cạn nửa nổi nửa chìm khoảng 14-11 km; Bãi Núi Cau, đảo Thị Tứ được tạo bởi hai đảo san hô mà đảo lón nhất có kích thưóc 1,5-1 km, tại đó có thực vật và nưóc ngọt; Đá Xubi là một rạng san hô: Đảo Loai Ta là một đảo
nhỏ dài 0,3 km nằm trong một bãi cạn lớn nửa nổi nửa chìm, cụm Nam Yết gôm hai đảo chính và ba đá ngầm,trong đó có đảo Ba Bình có kích thưóc 1- 0,4 km. Đó là đảo quan trọng nhất của quần đảo do có các giếng được người Nhật xây dựng và thực vật. Đảo Nam Yết dài 0,5 km. Đá Lớn (đá Thám hiểm lớn) là một đá ngầm có hình vành khuyên thường được các ngư dân trong vùng lui tói. Đá Chữ Thập là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm dài khoảng 26 km hình thành một hồ nửa kín trong đó có một số đá ngầm nhô cao. Cụm đảo Trường Sa gôm bốn bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Đảo Trường Sa là một đảo nhỏ dài 0,75 km, rộng 0,4 km. Ớ đây có nưóc ngọt và thực vật.Đây cũng là một kho phân chim và là nơi đẻ của rùa biển. Đảo An Bang được thực vật và phân chim che phủ.


Bãi Vũng Mây là một bãi quan trọng dài 56 km, rộng 24 km, mặc dù thông thường bãi không nổi. Cuối cùng, xa hơn về phía Nam và gần với bờ biển Malaixia, một tập hợp các bãi và đá ngầm dưói tên gọi bãi ngầm Tăng Mâu nổi tiếng về trữ lượng đáng kể dầu và khí.

Trung tâm quần đảo có một vùng nguy hiểm đến mức phần lớn tàu thuyền không dám mạo hiểm qua đây.Các quốc gia đang tranh cãi nhằm chiếm hữu các ụ nổi bé tí này đều đã đặt chân lên đảo này, hay đảo kia. Nhưng có rất ít phần nổi thuận lợi cho việc đặt các công trình.

Trên đảo Ba Bình (Itu - Aba), hải quân Đài Loan duy trì một trại đồn trú chừng 1.000 người. Việt Nam kiểm soát đảo Trường Sa làm thành một căn cứ chính trongquần đảo. Philippin có mặt tại đảo làm thành một căn cứ chính trong quần đảo. Philippin có mặt tại đảo Thị Tứ và đảo Loai Ta.

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tói quần đảo xa bờ biển của họ này muộn (1988 - 1989), buộc phải cụ thể hóa mưu tính của họ dựa trên các bãi không phải lúc nào cũng nổi khi thủy triều lên.

Do đó, đá Chữ Thập đã được chọn và được xây dựng lớn mặc dù mảnh đất cằn côi này chìm dưói nưóc tói 50 cm khi thủy triều lên mạnh. Câu bến, đường xá, nhà chứa máy bay lên thẳng đã được xây dựng sau khi các cấu tạo san hô này bị tấn công bởi thuốc nô và nền đất đã được nâng lên cao trên một bề mặt đủ rộng. Căn cứ vào các tài liệu có được, đây là sự phác thảo nhanh bức họa về các quần đảo đang bị tranh chấp và yêu sách mạnh mẽ bởi một số quốc gia.

 

VẤN ĐÊ PHÁP LÝ

Để làm sáng tỏ vấn đề về các danh nghĩa chủ quyềntrên hai quần đảo, điều cần thiết phải nêu ra đầu tiên là một loạt câu hỏi liên quan tói bản chất của lãnh thô đang tranh chấp và bản chất của việc tranh chấp đã phát triển về các lãnh thổ này, sau đó là xác định luật có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp này trên cơ sở thỏa đáng.

Loại lãnh thổ và xác định tranh chấp

Bản chất của các lãnh thô đang tranh chấp



Nói về bản chất của những lãnh thô này là mở ra hai câu hỏi:
a)   Trước tiên đây có phải là đất đai có thể chiêm hữu được không?

Câu hỏi càng trở nên thích đáng hơn với các quần đảo được tạo thành như chúng ta đã thấy, bởi vô vàn các bãi cạn, các đảo nhỏ, các đá mà trong số đó có một số đảo thật sự. Cân thiết phải đặt ra câu hỏi trên bởi vì cuộc sống của các đại dương và sự vận động địa chất làm xáo trộn vỏ trái đất dân tói những đảo lộn đột ngột hoặc dần dần. Những đảo lộn đó có thể kéo theo sự biến mất của một số lãnh thô mà cho đến lúc ấy vân nổi trên mặt nưóc.


Tuy nhiên, câu trả lời dường như không có gì nghi ngờ trong trường hợp quần đảo này cũng như quần đảo kia.

Khái niệm đất đai có thể chiếm hữu được đã từng được nêu trưóc Tòa án quốc tế trong vụ đảo Minquiers và Ecréhous[19] . Tham khảo học thuyết về đề tài này, dường như để có thể chiếm hữu được, thì một vùng đất đảo cần phải nổi trên mặt nưóc khi thủy triều lên với một bề mặt đủ đảm bảo cho con người có thể ở được trên thực tế.

Các tác giả khác còn bổ sung thêm vào đó là sự cần thiết phải thể hiện vùng đất đảo đó trên bản đồ địa lý[20] . Các  cuộc tranh luận tại Hội nghị lần thứ III của Liên hợp quốc về Luật biển đã nói lên tất cả sự phức tạp của vấn đề. Điều 121 của Công ưóc Montego Bay ngày 10-12-1982 có tính đến tiêu chuẩn địa chất "một vùng đất tự nhiên".

Như vậy các đảo nhân tạo bị loại bỏ. Ngược lại, bản chất của vùng đất nổi này không quan trọng: "Bùn cặn, san hô,cát, san hô tảng, mô đá ... tất cả đêu có thể tạo thành đảo'' .[21]


Tiêu chuẩn địa lý thủy văn, khi thủy triều lên vùng đất này vân ở trên mặt nưóc, cũng được thêm vào. Điều này phân biệt các đảo với các bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Nhưng khó khăn cũng chẳng bót đi trong việc biết được như thế nào là thủy triều lên cũng như có cần phải gộp vào đó cả các loại thủy triều đặc biệt hay không.
   

Môi một trong hai quần đảo ở đây đều bao gồm vô số các đảo cũng như các đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm san hô và đảo đá. Nếu đối với một số khu vực mép ngoài của các quần đảo này, vấn đề về tính chất có thể chiếm hữu được có thể đặt ra thì không có nghi ngờ gì về tính chất này đối với các đảo chính đã được xác định rõ ràng trên các hải đồ. Các khu vực mép ngoài được coi như những phần phụ của các đảo chính này.

Vì vậy đối tượng tranh chấp đúng là liên quan tói các vùng đất có thể chiếm hữu.

Tuy vậy bản chất của chúng mở ra một câu hỏi thứ hai:

b)   Các lãnh thổ này có phải là các lãnh thổ đem lại sự quy
thuộc các vùng biển rộng lớn cho quốc gia nắm giữ chủ quyền
hay không?


Đặt ra câu hỏi này là để tự hỏi xem điều 121, khoản 2 của Công ưóc Luật biển có khả năng áp dụng cho các đảo, đảo nhỏ và đảo đá đó không, nghĩa là tự hỏi xem
liệu việc chiếm hữu các quần đảo này có mở ra các đặc quyền đối với các tài nguyên sinh vật hoặc tài nguyên trong lòng đất đáy biển trong giới hạn 200 hải lý bao quanh các vùng đất này hay không? Lời văn của điều khoản này như sau:

" Với điêu kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tê'và thềm lục địa?"

Đây chính là tâm điểm của cuộc tranh chấp hiện tạitrên các quần đảo, mặc dù các bên chủ xưóng còn lưỡng lự xem nên chọn thái độ nào là tốt nhất cho lợi ích của họ.

Thật vậy, đằng sau chủ đề được xử lý ở đây mà người ta sẽ nắm chặt vấn đề danh nghĩa chủ quyền trên các lãnh thổ này, điều quyết định phải đạt được là sự kiểm soát các nguồn tài nguyên biển. Sự thèm muốn các lãnhthổ biển của các quốc gia lón dần theo tỷ lệ của vai trò nghề cá trong nền kinh tế của các dân tộc và tầm quan trọng của nguồn dầu khí và các nguồn tài nguyên khoáng sản có thể bị cạn kiệt trong một số ngành công nghiệp chủ chốt. Để phân bô các lợi ích này trên các vùng biển, luật quốc tế trù định việc phân định giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.


Nhưng, như đã từng nhấn mạnh, vấn đề chủ quyền là một điều kiện tiên quyết. Trưóc tiên cần phải xác định chính xác ai có danh nghĩa, để tiếp đó chỉ rõ họ có quyền gì đối với các vùng nưóc kế cận và việc phân định sẽ tiến hành giữa các quốc gia nào.

Các chiến lược đang ngập ngừng. Môi quốc gia có ý định chiếm hữu các vùng đất và được sự công nhận quốc tế cái mà họ coi như một danh nghĩa lâu đời. Trong giả định thuận lợi này, môi bên đều cố gắng thuyết phục tất cả các bên khác rằng tất cả các đảo đều ở được, điều này làm tăng thêm các bề mặt biển có thể rơi vào sự kiểm soát quốc gia.

Nhưng một khi đây là các yêu sách của người khác,sự giải thích thành ngữ "những đảo đá không thích hợp cho con người đên ở ” sẽ gây ra rất nhiều sự bắt bẻ nằm giảm bót số lượng các đảo nhỏ có thể kéo theo các quyền rộng lớn trên các vùng nưóc kế cận.

Trong khi chờ đợi lối thoát cho cuộc tranh chấp, chắc còn lâu mới có được do các lập trường bám giữ, một số bên không ngần ngại thay đổi thực tế ban đầu. Nhất là trong trường hợp ở Hoàng Sa, nơi từ khi giành được sự kiểm soát quần đảo này bằng quân sự, người Trung Quốc đã tiến hành các quy hoạch quy mô trên các đảo nhỏ này. Ớ nơi mà các nhà hàng hải và địa lý cho đến tận những năm tiếp sau đại chiến thế giói thứ hai, còn miêu tả như các vùng đất không ở được, chỉ có những ngư dân trú ngụ theo mùa, bị bão tố chà xát hay phải chịu đựng cái nóng như thiêu như đốt, nhưng với sự giúp đỡ lón lao của hậu cần quân đội đã mọc lên các công trình, cảng,sân bay, đường xá và công sự. Chúng đã làm mất đi nghĩa đầu tiên của cụm từ "thích hợp cho con người đên ở".


Các quốc gia chiếm cứ các đảo nhỏ ở quần đảo Trường Sa cũng đổ công sức rất nhiều theo hưóng đó.Điều này còn được cô vũ thêm bởi vì các khoản nói ở trên
của Công ưóc về Luật biển, thành quả của một sự thỏa hiệp phức tạp, vân để nguyên vẹn nhiều khó khăn: làm thế nào để có thể phân biệt một đảo với một đá? Và những điều kiện nào cho phép kết luận rằng việc con  người đến ở hoặc một đời sống kinh tế riêng là có thể có trên một đảo [22].


Đoạn cuối của điều 121 mở rộng đáng kể cho việc giải thích vì văn bản không nói đến “các đảo đá không người ở” mà là "các đảo đá không thích hợp cho con người đêh ở". Nếu tiêu chuẩn con người ở được là tiêu chuẩn có nưóc ngọt chẳng hạn thì trong quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa, các đảo chính có khả năng có nưóc ngọt. Nếu tiêu chuẩn là có thực vật, thì con người cũng tìm thấy thực vật trên các quần đảo này.

Khi đã có điều kiện trên thì lại mở ra điều kiện về khả năng có một đời sống kinh tế riêng. Nhưng ở đây một lần nữa sự thiếu chính xác là rất lón [23]. Đánh cá hay khai thác phân chim có thể là các yếu tố đủ để thỏa mãn điều kiện này không?

Điều 121, khoản 3 của Công ưóc Montego Bay cần phải được giải thích như thế nào để có được câu trả lời cho câu hỏi này.

Việc soạn thảo văn bản chỉ ra rằng các kỹ xảo đã bị loại trừ. Các đảo đá cần thích hợp cho con người đến ở,


điều này loại bỏ giả thiết trang bị cho chúng đạt đến mức chúng có thể phù hợp cho cuộc sống con người. Cũng như vậy, một đời sống kinh tế riêng được tính tói. Do đó, không thể tính đến các trường hợp các đảo được sử dụng như các điểm tựa cho các hoạt động triển khai trên các thực tế từ một lãnh thổ khác.

Tóm lại, các vùng đất nổi dù chúng có quá hẹp đi chăng nữa, phải có khả năng đảm bảo một cách tự nhiên cho một cộng đồng người tương đối ổn định [24].


---------------------
17 . Xem Phụ lục số 4, danh sách các đảo.

18 . Newsweek ngày 15-5-1978, "Các đảo giẢu có" và China Daily ngày 24-12-1989.

19.Tuyển tập các bản án, ý kiến tư vân và án lệnh của Tòa án quốc tế,
1953, tr. 49 và 53.

20.    Xem Gibert Gidel: "La mer territoriale et la zone contigue" (Lãnh hải
và vùng tiêp giáp). Tuyển tập các bài giảng của Viện Luật quốc tê'
1934 II q. 48, trang 137 - 138.

21.    Laurent Lucchini và Michel Voclekel: Luật biêh, t.I, Pedone, Paris,
1990, trang 331

22    về vấn đề này, xem J. R. V. Prescott: The maritime politic boundaries of
the world (Các đường biên giới chính trị thế giới), Menthuen, London, New
York, 1985, trang 72.

23    Xem chú giải ở trên

24   Xem Jon M. van Dyke và Dale L. Bennett: Island and the delimitation of
ocean space in the South China Sea (Các đào và việc hoạch định không
gian biển trong biển Nam Trung Hoa, ngày 13-3-1989. In ronéo, trang 41.

25   Xem Van Dyke et Bennett, Sdd Jeanette Greensfield cũng có ý kiến
tương tự trong: Thực tiễn Luật biển Trung Quốc, Clarendon Press,
Oxford, 1992, trang 164.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2014, 09:02:54 am gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #8 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2014, 08:56:44 am »

Ngay từ đầu hai quần đảo đang tranh chấp này có bản chất đó không? Chúng ta cần phải loại bỏ việc tính đến sự hiện diện của các đồn binh chỉ ở được đó nhờ vào hô trợ quân sự hoặc tính đến cư dân được duy trì do có các quy hoạch xây dựng và cơ sở hạ tầng tranh chấp hiển nhiên là nhằm mục tiêu làm thay đổi đối tượng tranh chấp. Vậy cần phải quay về trạng thái của các quần đảo như đã được các nhà hàng hải hoặc những ai đã qua lại đây từng miêu tả trưóc khi sự nảy sinh tranh chấp đưa đến những thay đổi.

Không nghi ngờ gì, phần lớn những hạt đất nổi này đều rơi vào phạm vi áp dụng của khoản 3, điều 121. Vài đảo nhỏ lớn hơn một chút còn có thể có tranh luận, nhất là đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa. Nếu yếu tố thích hợp cho con người đến trù định trong văn bản này chỉ tính theo mùa thì một số các đảo nhỏ này đã từng được biết trong những thời gian xa xưa việc ngư dân của nhiều nưóc láng giềng thường xuyên lui tói trong nhiều tháng vào mùa khí hậu tốt. Họ đã từng “sống" ở đó,nhưng không phải đó là nơi cư trú bình thường. Chưa bao giờ có thể có một đời sống kinh tế riêng ở đất này, nghĩa là một đời sống ít nhiều độc lập.

Vì thế, chúng ta nhận thấy rằng phần lớn các tác giả nói về vấn đề này đều kết luận các đảo này có khả năng có một lãnh hải nhưng không có quyền có một vùng đặc quyền về kinh tê [25.]

Để phát triển tiếp trên vấn đề chủ chốt, vấn đề hiệu lực của các danh nghĩa yêu sách, cần phải xác định bản chất chính xác của tranh chấp

Bản chất pháp lý của tranh chấp

Nhiều quốc gia có các lập trường không thể thỏa hiệp về các quần đảo này. Vậy thì nền tảng pháp lý các tham vọng của các chính phủ liên quan này là gì? Một trong số các quốc gia đó có được một danh nghĩa cao hơn so với nưóc khác hoặc các nưóc khác cần phải thừa nhận không?

Việt Nam khắng định là có chủ quyền lãnh thô về mặt nhà nưóc trên cả hai quần đảo do có danh nghĩa lâu đời và luôn luôn được duy trì. Xin nhắc lại rằng "chủ quyên,trong mối quan hệ giữa các quốc gia, tức là sự độc lập. Sự độc lập đối vói một phân trái đất là quyền thực hiện các chức năng nhà nước tại phần trái đất đó, loại trừ mọi quốc gia khác" [26].

Về quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã đưa ra một yêu sách có lợi cho mình để chống lại đòi hỏi này của Việt Nam. Họ đã hô trợ yêu sách bằng việc chiếm cứ
quân sự năm 1956 đối với một phần quần đảo và năm 1974 đối với phần còn lại, loại trừ sự có mặt của Việt Nam trưóc đây.


Luật quốc tế hiện đại (Hiến chương Liên hợp quốc,điều 2, khoản 4) cấm dùng vũ lực để chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Vì thế, một sự chiếm đóng
quân sự khi bị tố cáo như vậy sẽ không bao giờ và bằng bất kỳ cách nào có thể chuyển thành một danh nghĩa có giá trị và được công nhận ! [27]



Về quần đảo Trường Sa, vấn đề có khác. Nhưng yêu sách và những sự chiếm đóng của Philippin, của Đài Loan và gần đây của Malaixia và Trung Quốc (1988), kèm theo việc chiếm đóng quân sự một số đảo nhỏ sau những đụng độ dữ dội đã chống lại khẳng định chủ quyền của Chính phủ Việt nam (được thực hiện tiếp sau sự khắng định chủ quyền của Pháp) và sự kiểm soát của họ đối với các đảo chính trong quần đảo.

Những dữ kiện này của tình hình dân tói việc xem xét bản chất của tranh chấp là gì (điều này càng cần thiết). Về điểm này có hai giả thuyết cần được lần lượt xem xét.

Có phải chúng ta đang đứng trưóc một cuộc tranh chấp về thụ đắc chủ quyền trên một lãnh thô vô chủ? Hay là một cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia
đều có tham vọng giành một danh nghĩa chủ quyền?

Giả thuyết thứ nhất không thể được ghi nhận. Bởi vì tình hình được nghiên cứu ở đây cho thấy những đặc trưng phần nào tương tự như những đặc trưng của vụ
Minquiers và Ecrehous. "Hai bên cho rằng mỗi bên đêu có một đanh nghĩa cũ hoặc đanh nghĩa ban đâu đối với Minquiers và Ecrehous, danh nghĩa đó luôn luôn được bảo tồn mà không bao giờ mất đi. Do đó vấn đê hiện tại không có đặc trưng của một cuộc tranh chấp vê thụ đắc chủ quyền đối vói một lãnh thổ vô chủ (terra nullius)" . [28]

Trường hợp này có thể được áp dụng vào vụ các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa. Đây không còn và đã từ lâu không còn là vấn đề quy thuộc chủ quyền một vùng đất vô chủ cho một quốc gia mưu toan giành danh nghĩa ấy nữa. Việc giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa nhiều quốc gia đang hoặc đã chiếm đóng cùng những quần thể các vùng đất vào những thời kỳ rất khác nhau và với những danh nghĩa cũng rất khác nhau.

Sau khi đã xác định được bản chất cuộc tranh chấp,đến vấn đề : Luật nào sẽ có thể được áp dụng?

Các quy phạm của pháp luật quốc tế được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Chúng ta có thể nghiên cứu một xung đột như thế và có thể kết luận đòi hỏi của bên này chống đòi hỏi của bên kia là có căn cứ bằng bưóc đi pháp lý nào? Gạt bỏ một luận cứ vào chấp nhận một phương pháp có tính đến nhịp độ thời gian trong mối quan hệ với luật pháp là thích hợp.

Luận cứ và sự kế cận địa lý

Ớ đây, luận cứ này phải loại trừ ngay. Trong lịch sử của các yêu sách về chủ quyền đối với các lãnh thổ đảo, luận cứ về sự kế cận địa lý đã được quốc gia này hay quốc gia khác sử dụng nhiều lần (yêu sách của Arhentina về quần đảo Manvinat chẳng hạn). Tuy vậy, nó không bao giờ được công nhận như bộ phận cấu thành của một quy tắc luật quốc tế cho phép giải quyết xung đột có lợi cho một trong hai quốc gia mà lãnh thổ của quốc gia đó nằm gần những lãnh thô đảo đang tranh chấp hơn . [29]


Trong vụ đảo Palmas, trọng tài Max Huber đã xem xét rất kỹ luận cứ này. Lập luận của ông đáng được dẫn ra toàn văn:

"Cuôĩ cùng, cần xem xét danh nghĩa xuất phát từ sự kê'cận. Mặc đù các quốc gia đã bảo vệ, trong một sô'hoàn cảnh rằng các đảo tương đôĩ gần bờ của họ thuộc vê họ căn cứ vào vị trí địa lý của chúng, không thể chứng minh được rằng  có một quy tắc của luật quốc tế thực định quy định rằng các đảo nằm ngòai vùng lãnh hải thuộc vê một quốc gia chỉ vói một lý do là lãnh thổ của quốc gia đó tạo thành terrafirma của các đảo đó (lục địa gần nhất hay đảo lớn nằm gần nhất)/
Không phải chỉ vì dường như không có những tiên lệ đủ nhiêu và vói giá trị đủ chính xác để xác lập một quy tắc như vậy của luật quốc tế, mà là do nguyên tắc được viện ra bản thân nó có bản chất không rõ ràng và gây ra nhiêu tranh cãi đên  nỗi các chính phủ của cùng một quốc gia trong những hoàn cảnh khác
nhau đã đưa ra những ý kiêh trái ngược nhau vê cơ sở vững chắc của nó. Nguyên tắc kế cận, liên quan đên các đảo, có thể có giá trị khi thuộc các đảo vào quốc gia này mà không vào quốc gia khác, hoặc bằng một sự dàn xêp giữa các bên, hoặc bằng một quyết định không nhất thiết phải dựa trên luật, nhưng nên coi nguyên tắc này như một quy tắc xác lập ipso jure (đương nhiên theo luật) một phỏng sử về chủ quyền cho một quốc gia nào đó thì nguyên tắc này mâu thuẫn vói những gì đã trình bày liên quan đêh chủ quyền lãnh thổ và liên quan tới mối quan hệ cần thiết giữa quyền loại trừ các quốc gia khác khỏi một khu vực nào đó và nghĩa vụ thực hiện tại đó các hoạt động nhà nước. Nguyên tắc kế cận địa lý này cũng không thể được chấp nhận như một phương pháp pháp lý để giải quyết các vấn đê lãnh thổ; bởi vì nó thiên hoàn toàn tính chính xác và sẽ đưa lại, trong sự áp đụng nó, những kết quả độc đoán ".
[30]


Đi ngược lại thời kỳ trưóc chiến tranh thế giói thứ hai,lời phát biểu này không hề mất đi tính thời sự của nó. Trong trường hợp này, nó cho phép loại trừ ra khỏi
phạm vi lập luận một phương tiện không có tư cách pháp lý và chúng ta phải đồng ý với Louis Cavaré rằng:

"Không thể chấp nhận rằng tình trạng lân cận có thể dẫn đên việc tạo ra một "quyền đích thực" (đroit veritable) .[31]

Chẳng hạn, đối với nhóm đảo tên là Hoàng Sa, điểm gần nhất của nó về phía Việt Nam nằm cách Đà Nẵng 170 hải lý và các bờ biển Hải Nam 156 hải lý, hay những số liệu về khoảng cách điểm gần nhất của Trường Sa đối với bờ biển Việt Nam (Cam Ranh) là 250 hải lý trong khi cũng quần đảo này cách Hải Nam 522 hải lý, tất cả sự việc này không ảnh hưởng tói bản chất của quyền .[32]


Quyền đó phải được đánh giá căn cứ vào tiến trình của sự thụ đắc danh nghĩa và duy trì danh nghĩa, tiến trình đó được tạo thành bằng một cách khác chứ không đơn giản dựa trên những số liệu địa lý.

Vấn đế các quần đảo này có nằm trong vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia ven bờ này hay ven bờ khác của biển này là không xác đáng. Trong luật quốc tế, đây không phải là việc một đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia dân đến việc quy thuộc đảo này cho quốc gia này hoặc quốc gia kia, chính là danh nghĩa chủ quyền trên  một đảo một khi đã được xác định, sẽ kéo theo, trong một số điều kiện đã được xem xét ở trên, sự quy thuộc cho đảo này một vùng lãnh hải và có thể một vùng đặc quyền về kinh tế và như thế danh nghĩa được công nhận này sẽ có hiệu lực đối với ngay các dữ liệu của việc phân định.

Do hiệu lực của khối lục địa của họ, Trung Quốc cũng như Việt Nam đều có thể đòi hỏi, căn cứ vào các điều khoản của Công ưóc luật biển năm 1982, các quyền tói tận 200 hải lý và về phương diện đó Hoàng Sa nằm trong khu vực chồng lấn lên nhau, các quyền có thể có của hai quốc gia. Chính sự phân định giữa họ sẽ quyết định ranh giới biển của họ. Nhưng chủ yếu đối với các quần đảo không phải được chỉ đạo bởi sự phân định biển đặt quần đảo Hoàng Sa vào vùng kiểm soát của quốc gia này hoặc quốc gia khác trong số hai quốc gia. Trái lại, đây là một vấn đề tiên quyết và độc lập mà kết quả có những tác động đến việc phân định.

Ngược lại, xét từ quan điểm này, quần đảo Trường Sa ở vào một vị trí địa lý rất khác bởi vì nó nằm ngoài các vùng biển mà nưóc này và nưóc kia (Trung Quốc và Việt Nam) có thể yêu sách như thềm lục địa hoặc vùng đặc quyền về kinh tế. Trái lại, một số các đảo của quần đảo rộng lớn này còn nằm gần Malaysia hoặc Philipin hơn.

Các cơ chế của luật theo thời điểm (Droit intertemporel).

Trong luật quốc tế, các danh nghĩa thụ đắc một lãnh thô không có người ở được hình thành bằng cách nào? Các danh nghĩa đó được duy trì ra sao? Câu trả lời được đưa ra liên quan tói lập luận pháp lý tế nhị - gọi là luật theo thời điểm.

Luật này có nghĩa là đối chiếu các dữ kiện của hệ thống luật vào các thời kỳ khác nhau trong quá trình phát triển của nó với những dữ kiện cụ thể của hoàn
cảnh tạo nên cơ sở của việc tranh cãi.

Theo dòng lịch sử của hàng thế kỷ của các xã hội loài người và các lãnh thổ, hệ thống pháp luật đã phát triển.Các quy tắc làm căn cứ cho việc giành một danh nghĩa chủ quyền ở một thời kỳ nào đó đã bị biến đổi. Khi thừa nhận câu ngạn ngữ la tinh ubi societas, ibi jus (ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp), luật đã thích ứng với sự tiến triển của các xã hội và với các giá trị mà giá trị này phát triển.


Khi trở lại thời kỳ của các phát hiện lớn và chỉ đánh dấu những quãng ngắt lón (chúng ta tưởng là có ngắt, nhưng thật ra chúng lộ ra dần dần), thì có thể nhận ra ba thời điểm.


Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ mà trên các vùng đất gọi là vô chủ, phát hiện mang lại sự thụ đắc một danh nghĩa,với điều kiện nó phải được kèm theo một sự khắng định chủ quyền. Nhưng đặc điểm của thời kỳ này là chủ quyền quốc gia bao hàm cả quyền chinh phục. Thêm vào đó, học thuyết của các cường quốc đã coi là lãnh thổ vô chủ nhiều vùng đất có các dân tộc sinh sống nhưng họ không biết đến các dân tộc này và các dân tộc này có hệ thống tổ chức xã hội không phải kiểu phương Tây .[33]

Bằng cách quanh co đó và không đếm xỉa gì đến các dân tộc, người ta có thể tiết kiệm không dùng từ xâm chiếm mà nói đơn giản là phát hiện. Hệ thống pháp luật đầu tiên đó chỉ thay đổi dưói tác động của các tranh chấp giữa các cường quốc trong thế kỷ 19. Sự thay đổi của luật được kết tinh vào thời điểm hội nghị Berlin và trong các điều khoản chính xác của Định ưóc chung (1885). Hai quy tắc mới được các bên ký kết chấp nhận và có phạm vi áp dụng chủ yếu ở Châu Phi.

Đó là đòi hỏi phải có một sự chiếm hữu thật sự các vùng đất được coi là đã thụ đắc và phải có một thông báo về sự chiếm hữu thật sự cho các quốc gia khác.
Kể từ thời kỳ này, được tiếp sức bằng rất nhiều kết luận trọng tài hoặc phán quyết tòa án, luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đã được củng cố và khái quát hóa, đặc biệt là qua kết luận bậc thầy của trọng tài Max Huber trong vụ đảo Palmas.

Một cuộc xung đột về chủ quyền giữa hai quốc gia được giải quyết bằng việc xác nhận rằng một trong hai quốc gia có liên quan có danh nghĩa cao hơn danh nghĩa của quốc gia kia. Các hành vi tương ứng phải được thực hiện với danh nghĩa chủ quyền, và vì thế chúng không thể là hành vi của các tư nhân hành động vì lợi ích của mình. Sự khác biệt được xác lập giữa việc tạo ra một danh nghĩa trên lãnh thô và việc duy trì danh nghĩa đó liên tục. Các hiệu lực của một hành vi đã diên ra như đưa đến một danh nghĩa (chuyển nhượng, chinh phục, phát hiện hoặc chiếm giữ) cần phải được đánh giá trong khuôn khô pháp luật hiện hành vào thời điểm hành vi đó được thực hiện chứ không phải pháp luật hiện hành vào thời điểm xảy ra sự tranh cãi.



---------------------

26 Max Huber: Phân quyết đảo Palmas, ngày 4-4-1928. (Tạp chí Tổng
quan về Công pháp quốc tê), 1935, trang 163.

27  Xem Tulio Treves: "Tuyên bố của Liên hợp quốc về việc tăng cường
hiệu lực của nguyên tắc không sử dụng vũ lực", Niên giám Luật
quốc tế của Pháp, 1987, trang 379.

28    Vụ các đảo Minquiers và Ecrhous: Tòa án pháp lý quốc tế, Tuyền tập,
1953, trang 53.

29   Vụ đảo Pulama trên bờ biển Tây Phi (trọng tài Ulysses Grant ngày 21-4-1870 không được dùng làm tiền lệ. Ngoài việc cho đó là một trường hợp đặc biệt, trọng tài nhận xét rằng "đảo này kề sát lục địa và gần đến mức các động vật có thể đi qua khi thủy triều xuống thấp". Ớ đây sự kế cận về địa lý thể hiện trong các điều kiện đặc biệt đến nỗi các điều kiện đó là duy nhất.

30 Max Huber: Phán quyêỉ đảo Palmas, ngày 4-4-1928, tr. 182

31.Louis Carave: Công pháp quốc tê'thực định, Pédone 1962, Tr. 597.

32    Chúng ta thực sự ngạc nhiên về sự kiên trì của luận thuyết này ở
một số hiếm hoi các tác giả như Charles Rousseau: Tạp chí Tông
quan về công pháp quốc tế, 1972, Tr.835.

33 về vân đề này xem: "Terra Nullius", "Quỳên lịch sử và quỳên tự
quyết". Mohammed Bedjaoni, La Haye, 1975. Các phát biểu trước Tòa án quốc tế trong vụ Tây Xahara, 14-5, các ngày 14, 15, 16 và ngày 29-7-1975

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2014, 09:05:16 am gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 332



« Trả lời #9 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2014, 10:13:10 am »

Tuy nhiên, danh nghĩa ban đầu cần phải được tiếp  sức bởi việc thực hiện hòa bình và liên tục quyền lực của quốc gia triển khai trên lãnh thô đó. Và nếu danh nghĩa ban đầu đã có thể giành được mà không cần có sự triển khai quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ, sự duy trì danh nghĩa chỉ có thể có được do việc phổ cập sự thực thi quyền lực này. Tuy nhiên, người ta công nhận rằng đối với các vùng đất không có người ở, hẻo lánh thì biểu hiện của việc thực hiện quyền lực này có thể đơn giản hơn là trên các vùng đất mà văn minh phát triển hơn.

Cuối cùng sự công nhận hoặc chấp nhận của các quốc gia thứ ba không thể dùng làm cơ sở cho chính danh nghĩa đó, nhưng chúng là yếu tố củng cố quốc gia đã có được quyền lực [35].

Đó là khung pháp lý hoặc trạng thái của luật pháp cuối thế kỷ XIX cho tói nửa đầu của thế kỷ XX.

Một số yếu tố có tầm quan trọng cơ bản và đổi mới triệt để đã được đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc, bản Hiến chương đã đặt cơ sở cho một trật tự pháp lý quốc tế phổ cập. Quan tâm tói thực hiện mục tiêu gìn giữ hòa bình, các quốc gia sáng lập đã đưa vào một yếu tố cơ  bản. Nó là một sự thay đổi thật sự trong luật quốc tế, với việc cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thô của một quốc gia (điều 2, khoản 4). Chiến tranh chinh phục, nguồn của một chủ quyền mới trên một lãnh thổ, từ nay trở đi bị cấm. Sự chinh phục bằng vũ lực kéo theo một tình trạng chiếm đóng quân sự luôn luôn là trái phép và sự chiếm đóng quân sự này, trừ phi có một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, không thể tự chuyển thành quyền, dù có thời gian dài.


Nhưng Hiến chương Liên hợp quốc cũng chứa đựng một nguyên tắc khác là nguồn gốc gây ra sự đảo lộn đáng kể trong luật quốc tế, đó là nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết (điều 1, khoản 2). Tuy vậy, sự ghi nhận nguyên tắc này trong những gì làm cơ sở cho các mục đích của Liên hợp quốc ngay từ đầu tự nó đã không đủ để đạt được tất cả kết quả mong đợi. Phải đợi đến năm 1960 và sự khởi đầu của thập kỷ lón phi thực dân hóa thì luật trưóc mới bị xô đổ. Do đó, quyền của các dân tộc đạt được biểu hiện đầy đủ trong Tuyên bố về việc trao trả nền độc lập cho các nưóc và các dân tộc thuộc địa (Nghị quyết 1514, ngày 14-12-1960, của Đại hội Đồng Liên hợp quốc).

Người ta sẽ chú ý đặc biệt hơn tói đoạn 4 của Tuyên bố trong mối liên hệ với các nguyên tắc pháp lý tập hợp ở đây, bởi vì những nguyên tắc đó có ích cho việc làm sáng tỏ trường hợp này:

"Tất cả các hành động vũ trang và tất cả  các biện pháp trấn áp, bất kỳ là loại nào, nhằm chống lại các dân tộc bị lệ thuộc phải được châm đứt để cho phép các dân tộc đó thực hiện quyền có độc lập hoàn toàn của họ một cách hòa bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ sẽ được tôn trọng”.

Vế cuối cùng của câu có một tầm quan trọng quyết định. Nó lưu rằng bước chuyển tiếp khó khăn,thường được thực hiện trong những điều kiện chính trị rối loạn và hôn độn, của một dân tộc thuộc địa sang thành một dân tộc độc lập, không bao giờ được dẫn tói bất kỳ một sự tổn thương nào về lãnh thô của họ.



Cuối cùng, Hiến chương đã được củng cố, cụ thể hóa và phát triển vào năm 1970 bằng một nghị quyết đặc biệt mà đôi khi người ta so sánh nó với một sự đào sâu Hiến chương có tính chất thể chế. Đó là nghị quyết 2625, ngày 24-10-1970 [36].

Văn bản nhắc lại việc cấm sử dụng vũ lực như một phương tiện giải quyết các tranh chấp lãnh thô và mọi sự thụ đắc lãnh thô có được bằng sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp. Tuyên bố Manila ngày 15-11-1982 về việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế đã hoàn thiện cơ cấu trên  và xác định được các nguyên tắc phải được thay thế bạo lực trong tất cả các tình huống [37].


Đó là toàn bộ các quy tắc qua các thời kỳ nối tiếp đã trở thành cốt lõi của luật quốc tế thực định. Nhưng, những thay đổi không bao giờ xuất hiện đột ngột. Ngay điểm nổi bật nhất trong những thay đổi đó là việc cấm sử dụng vũ lực, đã được chuẩn bị từ các điều khoản, đúng là kém chính xác và kém triệt để hơn, của Hiến ưóc Hội quốc liên và của Hiệp ưóc Briand - Kellog.

Nhìn tổng thể, việc soạn thảo luật và sự tiến triển biến đổi của nó là những tiến trình chậm chạp, trong đó, bản thân phần tập quán cũng bị tiêm nhiêm từ bưóc tiến chậm chạp của tư duy, bao bọc lấy văn bản điều ưóc đã có (nếu có) và san bằng đi những góc cạnh nhất thời bằng cách lồng nó vào trong một khung cảnh ít xác định hơn.

Liên hệ với tiến triển lâu dài của các nguyên tắc pháp lý qua ba thời kỳ khác nhau khá rõ rệt để có thể xác định được, lịch sử hai quần đảo phải được xem xét trong mối quan hệ với lịch sử đầy sóng gió của Việt Nam và lịch sử có phần đơn điệu hơn nhưng cũng không kém phần phức tạp của Trung Quốc - những người cạnh tranh chủ yếu với Việt Nam về các mảnh đất này hiện nay.



Một trong những khó khăn chủ yếu của tài liệu này là ở sự cần thiết phải đặt hai nhịp điệu lịch sử hoàn toàn khác nhau trong mối tương quan với nhau.

Luật pháp đã biến đổi theo dòng lịch sử hàng thế kỷ, trong khi tiến triển xã hội dân dắt từng thời kỳ được coi như một thời kỳ mới sản sinh ra các quy phạm khác nhau mà sự thai nghén đã có thể nhận thấy ngay từ thời kỳ trưóc đó.

Ngay cả trong vài thời điểm xuất hiện, như những đột biến (1885 hoặc 1945), sự vận động của luật pháp được phát triển trong một sự liên tục nhất định.

Phải đặt rõ các rạn nứt quan trọng của lịch sử Việt Nam trên cái nền này.Chế độ bảo hộ đầu tiên của nưóc Pháp đặt lên quốc gia có chủ quyền này (mặc dù quốc gia này có mối quan hệ như chư hầu với Trung Quốc) là từ năm 1874, chế độ ảo hộ thật sự từ năm 1884. Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập từ ngày 2-9-1945. Quốc gia Việt Nam do Pháp thành lập trong khuôn khổ khối Liên hiệp pháp chính thức dựa trên các thỏa thuận ngày 8-3-1949. Tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến sự với nưóc Việt Nam dân chủ cộng hòa, nưóc Pháp đã ký các hiệp định mà kết quả thực tế là tạo ra hai nưóc Việt Nam. Sự tái thống nhất được diên ra vào năm 1975 sau các cuộc chiến tranh khác.




Như vậy, mặc dù có tinh thần độc lập mãnh liệt và huyền thoại, cả dân tộc Việt Nam vân bị phụ thuộc trong những thập kỷ dài của lịch sử của họ. Và, người chủ đích thực về chủ quyền (dân tộc) nhiều lúc bị rơi vào thế kẹt do những người đại diện (porte-paroles) khác nhau, những người mà trong từng trường hợp bị chịu đựng, bị phỉ nhổ, bị đánh bại hay được chấp nhận. Đó là còn chưa tính đến thời kỳ chia cắt đất nưóc có đại diện hai miền đối kháng nhau.

Cũng phải tính đến một số thời kỳ lịch sử của Trung Quốc. Đầu thế kỷ này, Chính phủ Quảng Đông không được Bắc Kinh và các quốc gia thứ ba công nhận. Từ năm
1949 có hai nưóc Trung Quốc, và tình trạng đó còn tồn tại cho đến ngày nay. về mặt hồ sơ pháp lý, hậu quả của tình trạng thực tế này là nặng nề. Vào đầu thế kỷ XIX, khi Hoàng Đế An Nam hành động với tư cách người có chủ quyền thì cái gọi là vị thế chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc chi phối thế nào đối với các hành động đó?

Trong khi mà nưóc Pháp, nưóc đã xâm lược Việt Nam bằng vũ lực nhưng không hiểu biết mấy lịch sử của dân tộc bị trị này, đã tỏ ra ngập ngừng và không chắc chắn, trong khi mà những người có trách nhiệm của chính quyền thuộc địa Pháp bị chia rẽ trên lập trường đối với các quần đảo, và trong khi mà nưóc Pháp chậm khắng định sự kế thừa các quyền của Việt Nam chống lại sự thèm khát của Trung Quốc vốn được tăng cường thêm nhiều do mối đe dọa của Nhật Bản trong khu vực, thì cácvăn thư ngoại giao và chính trị của Pháp có tác động thế nào, và cần phải đánh giá các văn thư đó ra sao?


Khi hai miền Bắc và Nam của Việt Nam nằm trong cảnh bị xâu xé bởi một cuộc chiến tranh mà trong đó một siêu cường vào bậc nhất của thế giói đã sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình và của một số nưóc khác, thì các hành động hoặc tuyên bố do bên này hoặc bên khác đưa ra và đôi khi trái ngược nhau sẽ có giá trị đến đâu?

Với một lịch sử từ lâu là hôn độn, nhiều xung đột và thậm chí bị thảm vong trong cả một giai đoạn dài ở khu vực này, thật khó mà tập trung được các tư liệu hông thể tranh cãi để làm chứng cứ và tài liệu, từ đó có thể xác định được quyền.

Đặc biệt khó khăn cho các bên yêu sách một danh nghĩa là phải chứng minh tính liên tục hoàn hảo của ý chí quốc gia trong việc thể hiện sự duy trì quyền. Điều đó là khó nhưng không có lẽ không phải là không thể làm được.



Đúng là một số tài liệu lưu trữ còn bị thiếu [38]. Tuy nhiên đó không phải là các tư liệu quyết định của hồ sơ.

Một vài sự kiện hoặc tuyên bố đã được giải thích trong bối cảnh chính trị mà chúng xảy ra. Như vậy, ở đây có chô cho một mức độ chủ quan. Nhưng không thể gạt bỏ được tính chủ quan cho dù áp dụng bất kỳ hệ thống pháp luật nào. Và, tính nghiêm khắc của các luật gia dân họ đi đến xây dựng tính khách quan.

Như vậy, ở đâu cần phải phân tích một số hồ sơ mà người ta có thể nói về nó như sau: “chỉ có hô sơ pháp lý về quần đảo Manvinat mói phức tạp hơn hô sơ pháp lý về quần đảo Hoàng Sa" . [39]

Người ta không thể bắt tay vào nghiên cứu mà không dựng, trưóc hết, một đại sự ký các sự kiện quan trọng.








--------------------------

35- Về các điểm này xem Kriangsak Kittichaisaree: "The law of the Sea and Maritime boundary delimitation in Southest Asia (Luật biển và việc phân định biên giới biển tại Đông Nam Á)"   Oxford University Press, 1988, tr. 140.   


36- Gọi là Tuyên bố về các nguyên tắc Luật pháp quốc tế liên quan tới các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các Quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc.

37-  Nghị quyết 3710 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

38- Điều này cần được đặt trong vấn đề tế nhị về thừa kế các kho lưu trữ trong
trường họp của các quốc gia ra đời từ thời kỳ phi thực dân hóa.

39-Hervé Couteau - Begarie: Địa chiến lược của Thái Bình Dương, Paris -
Economica 1987 tr.229.


Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM