Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Ba, 2020, 08:08:29 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: ĐĂK TÔ ‘Lính nhà trời’ Mỹ trên cao nguyên trung phần Nam Việt Nam  (Đọc 86024 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2014, 09:23:16 AM »

7 giờ sáng ngày 23 tháng 6 năm 1967. Đại úy Willoughby bắt đầu cho Bravo tiến về  phía nam. Các bụi cây rậm rịt cứ như 1 mớ bòng bong, khiến tốc độ tiến quân mỗi giờ chỉ được vài mét. Việc di chuyển của Willoughby cũng bị cản trở thường xuyên bởi đạn từ những toán quân hậu vệ Bắc Việt bắn tới. Tuy bộ đội ko hạ được người nào, nhưng chắc chắn đã khiến Bravo phải chậm lại.

Đại úy Leonard chỉ định trung đội trưởng nhiều kinh nghiệm nhất của mình, là trung úy Bodine đi dẫn đầu khi tiến quân xuống cao điểm để tìm kiếm những người còn sống sót trong trận đánh tuyệt vọng của đại đội Alpha. Đến 8g00 thì Bodine đã sẵn sàng để di chuyển. Anh cho những lính giỏi nhất lên trước, rồi mới ra hiệu tiến xuống.

Lính của Bodine thận trọng di chuyển, cẩn thận kiểm tra từng vị trí có thể có phục kích. Bodine ko muốn bị bất ngờ. Anh đặc biệt trú tâm tới những bụi tre cao chót vót chắn ngang đường. “Coi chừng chỗ mấy cây tre đó” Anh nhiều lần nhắc nhở quân của mình. Bodine cũng rất e ngại đường sống núi phía tay phải. Nếu ở trên đó, lính Bắc Việt có thể thấy trung đội anh tiến quân rõ mồn một.

Không thấy gì xảy ra.

Khi tới gần hơn chỗ đại đội Alpha chiến đấu, họ bắt gặp nhiều tàn tích của trận đánh. Mũ sắt, ba lô, bi đông, hộp tiếp đạn, súng M16 nằm rải rác khắp khu vực. Tim Bodine thắt lại. Cạnh đường mòn chỗ nào anh cũng thấy có 1-2 xác lính nằm dúm dó.

Sau đó Bodine tới 1 nơi tương đối trống trải dài khoảng 20m giữa những cái cây to. Bodine nghĩ nơi này chính là chỗ lý tưởng để phục kích. Anh gọi điện đài cho Leonard. “Six, tôi muốn trinh sát bằng hỏa lực.”

Leonard đồng ý.

Bodine cho mấy tiểu đội dàn hàng ngang, mỗi người lính xả 1 băng đạn vào khu vực đó. Không trung rung chuyển bởi tiếng súng.
Khi đã bắn hết các băng đạn. Bodine nghe có ai đó hét lên: “Rawhide! Rawhide!”

1 lính dù bẩn thỉu nhô ra từ những cái cây bên kia khu đất trống. Người lính đã bị thương từ hôm trước và đang trốn quân Bắc Việt. Trong khi lính cứu thương cứu chữa, Bodine hỏi anh ta những người còn lại của đại đội Alpha ở đâu?

“Xuống dưới đường mòn chút nữa” chàng trai trẻ run run trả lời.

Bodine cho trung đội tiến tới. Mới được 1 quãng, anh phát hiện rất nhiều xác chết dưới các lùm cây. Bodine bỏ qua chỗ đó, di chuyển tới và thiết lập 1 tuyến phòng thủ. Rồi anh gọi điện đài bảo Leonard đến.

Ít phút sau đại úy Leonard dẫn phần còn lại của đại đội xuống.

Ko ai có thể cầm lòng trước cảnh tượng khủng khiếp này. Hàng chục, hàng chục xác lính Mỹ nằm chết đủ mọi tư thế kỳ quái. Hàng đàn ruồi nhặng bu đầy trên những cái xác trương phình và các vũng máu me. Mùi hôi thối từ những xác chết khiến nhiều lính dù của đại đội Charlie ko chịu nổi. Họ loạng choạng bước ra sau mấy cái cây để nôn mửa.
Cảnh tượng này khiến cho Harrison ko biết xử trí thế nào. Anh chưa hề dự tính được tính huống này sau 3 hôm hành quân. Ko thể chịu đựng nổi. Anh đã gắn bó với bọn họ kể từ hồi còn huấn luyện 5 năm trước. Harrison cố lờ đi cảnh tàn sát để có thể đi tìm 2 người bạn cùng khóa là Judd  và Hood. Anh đã tìm thấy bọn họ ít phút sau đó.
Máy bay trực thăng chở tới những túi đựng xác. Lính đại đội Charlie bắt đầu làm cái việc kinh khủng là cho thi thể đồng đội vào những cái túi vải màu xanh lá cây.

Có 3 thành viên của đại đội Alpha đã sống sót 1 cách kỳ diệu trong cuộc tàn sát. Một người là anh lính đã dùng tay trần thay nòng súng M60 mà Specialist Patterson đã chứng kiến. Một người khác bị bắn 3 phát vào sau lưng nhưng vẫn ko chết. Trung úy Harrison tìm thấy 1 người, đã bị lính Bắc Việt dùng rựa chặt đứt ngón tay mang nhẫn trong khi đang giả vờ chết. Sau khi quân Bắc Việt rút đi, anh này cố gắng gắn mẩu bị đứt vào tay bằng dải băng quấn quanh lựu đạn khói trong cơn mê sảng rồi nhét tay vào cái túi vải đựng bi đông.

Đại đội Bravo cuối cùng cũng đã đến nơi lúc 15g00. Họ ngay lập tức tiến vào dọn dẹp khu vực. Trung úy McDevitt đã được nghe tin về anh bạn Don Judd  của mình ít phút sau đó. Thật ko thể tin nổi, mới 2 tuần trước họ còn lên kế hoạch đi xả hơi cùng nhau, vậy mà sao Judd  lại có thể chết cơ chứ?

Tại Đắk Tô, đại úy Milton cũng đang phải làm công việc đau xót là xác định danh tính các xác chết. Với sự giúp sức của thượng sĩ Deeb và trung sĩ Nichols, những người quen biết lính trung đội 2, Milton phải mất tới 2 ngày mới nhận diện được hết quân của mình do thẻ bài bị xáo trộn.

Con số tổn thất của đại đội Alpha thật ghê gớm. Trong tổng số 137 lính vào ngày 22 tháng 6 năm 1967 của Alpha, có 76 người chết và 23 bị thương. Trong số tử trận, có 43 trường hợp là do bị bắn vào đầu từ khoảng cách gần.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #31 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2014, 09:13:12 AM »

Đại đội Bravo và Charlie cũng dành ra mấy ngày để tìm kiếm bằng chứng về tổn thất của bộ đội Bắc Việt. Trung đội của trung úy McDevitt, đại đội Bravo ko tìm thấy xác lính Bắc Việt nào cả. Ở 1 trung đội khác của đại đội Bravo, binh nhất Steven F. Varoli, 19 tuổi, người Deerfield Beach, Florida đã tham gia vào việc khai quật 1 số ngôi mộ chôn những cái xác còn mới của lính Bắc Việt. Quân của trung úy Bodine tìm được khoảng 1 chục xác bộ đội. Trung đội của Harrison tìm thêm được vài cái nữa. Kết quả là ko nhiều lắm so với thảm họa của đại đội Alpha.

Tướng Westmoreland, theo lệ thường của mình cứ sau mỗi trận đánh ác liệt, đã bay tới nói chuyện với những người sống sót. Tại Đắk Tô, ngày 23 tháng 6 năm 1967, ông đứng trên mui 1 chiếc xe jeep trước khoảng 2 chục thành viên còn lại của đại đội Alpha. Ông ra dấu cho các binh sĩ vây quanh mình. Trung sĩ Nichols nhìn quanh quất rồi nhận xét với 1 người bạn “Bọn ta chẳng còn lại mấy mống nhỉ?”

Westmoreland bắt đầu bài phát biểu bằng những lời ca ngợi những người lính dũng cảm sau đó nói : “Các anh đã gặp phải 1 đơn vị quân Bắc Việt hung hãn và đã quất vào đít chúng nó!”

Trung sĩ Nichols biết trách nhiệm của Westmoreland là phải nâng cao sỹ khí, nhưng nói kiểu đó thì thật là lố bịch. Đại đội Alpha mới là bị quất đít, chứ ko phải quân Bắc Việt. Nichols cúi xuống nói nhỏ với anh bạn “Cha này ‘nổ’ thiệt nhỉ?”

Westmoreland tiếp tục thao thao cổ vũ thêm ít phút nữa rồi mới đi hội đàm với các tướng Larsen, Peers, và Deane.

Dựa trên những chứng cứ thu thập được trên xác lính Bắc Việt, tình báo xác định rằng đại đội Alpha đã tao ngộ với 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 24 QĐND VN. Trung đoàn này được cho là tác nhân gây nên các cuộc đụng độ quanh Đắk Tô từ mấy tuần qua. Ắt hẳn là lúc đó họ đang đi ngang qua cao điểm 1338 để về Campuchia dưỡng quân. Điều đó giải thích lý do vì sao họ không ở lại chiến đấu sau khi đã nghiền nát đại đội Alpha.

MACV ko cho công bố trận đánh từ thứ 5 cho đến tận thứ 2 tuần sau. Điều thật khó tin là khi MACV giải thích sự chậm trễ của là do ko muốn quân địch biết được cuộc đụng độ đã kết thúc.

Trong thực tế, lữ đoàn 173 đã thổi phồng thông tin về số lượng xác quân địch. Thước đo cho những chiến tích của quân Mỹ ở miền nam VN chính là số lượng xác chết của đối phương. Vào năm 1967, việc này đã bị lạm dụng vì các cấp chỉ huy quân sự có thói quen nâng số thương vong địch để tăng uy tín đơn vị mình. Trong trường hợp của ‘Trận đánh trên sườn dốc’, như lính dù gọi, thì việc tính toán số lượng thương vong của địch đã làm những người còn sống bị sốc.

Trong thông cáo báo chí thì MACV nói đại đội Alpha đã tiêu diệt hơn 475 lính Bắc Việt. Báo cáo trận liệt của lữ đoàn 173 thì nêu số quân Bắc Việt bị giết là 513. Bản báo cáo công bố có 106 bộ đội chết qua đếm xác. Số 407 còn lại là do hỏa lực pháo binh mà tướng Deane đã gọi đến bắn xuống những tuyến đường địch có thể dùng để vận động, dù ko tìm thấy cái xác nào trong vùng đó.

Các binh sĩ trên cao điểm 1338 đã bị sốc khi nghe những con số đó. Căn cứ vào những thi thể họ trục lên từ những ngôi mộ lấp vội. Ước tính lạc quan nhất là số quân Bắc Việt bị giết dao động từ 50 đến 75.

Ngay cả tướng Larsen cũng ngạc nhiên về kết quà đếm xác cao như thế. Ông gọi cho đại tướng Westmoreland ở Sài Gòn yêu cầu khoan hãy công bố những số liệu đó. Westmoreland đã bảo Larsen rằng: “Quá muộn, đã gửi đi hết cả rồi.”

Mấy ngày sau đại đội Alpha được tái xây dựng lại, nó nhận hơn 100 người mới trong chưa đầy 1 tuần. Rồi sau đó lại phải quay ra chiến trường. Khi hành quân, các lính cựu trở nên rất thận trọng vì toàn đại đội giờ hầu hết đều là sĩ quan và lính mới. Trung sĩ Nichols cùng nhiều người khác đã tới thỉnh cầu đại úy Milton lập ra 1 tiểu đội xích hầu đặc biệt, trong đó có họ. Họ ko muốn trao mạng sống vào tay đám lính mới, Milton đã đồng ý. Vậy là tiểu đội chuyên để đi đầu đã trở thành hiện thực.

Ngày 9 tháng 7 năm 1963, đại đội Alpha, tiểu đoàn 2, trung đoàn 503 đang chuẩn bị đóng quân nghỉ đêm. Họ đang ở trên đỉnh 1 quả cao điểm lớn nhìn xuống thung lũng sông Dakrong, cách Đắk Tô khoảng 16km về phía tây nam. Vào lúc đại úy Milton gọi pháo binh bắn tới để lập bức tường phòng thủ bao quanh, thì sai sót đã xảy ra. 1 trái đạn 105mm hụt tầm rới xuống những ngọn cây trên đầu đại đội Alpha, mảnh đạn chụp xuống các binh sĩ làm 3 người chết, 6 bị thương.

Một trong những người bị thương chính là đại úy Milton. Anh bị mảnh pháo xuyên thủng bụng gây ra những thương tích nghiêm trọng, nên rốt cuộc quân đội đã buộc phải cho cho giải ngũ.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #32 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2014, 09:19:47 AM »

Qua đây ta có thể thấy 1 ví dụ về độ "chính xác, tin cậy" của những con số thống kê do 'đếm xác' của Mỹ trong chiến tranh VN...Tiếc là tài liệu của quân ta về trận đánh này hầu như ko thấy (kiểu như chiến lệ, hay biên bản tổng kết, báo cáo ...)...có bác nào tìm được ko ạ? Thanks.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Năm, 2014, 08:52:53 AM gửi bởi ngthi96 » Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2014, 08:52:21 AM »

Đêm đó tại Đắk Tô, đại úy Ken Smith đang ngồi cạnh đường băng để đợi máy bay bay về Biên Hòa. Vì đã có 1 thiếu tá tới tiểu đoàn 2 đảm nhận vị trí sĩ quan hành quân, Smith sẽ được đưa về hậu phương đảm nhiệm chức trưởng phòng hành chính của lữ đoàn bộ (brigade's administrative Headquarters Company).

Bỗng có 1 chiếc xe jeep phanh gấp ngay trước mặt Smith. Người lính lái xe mời Smith quay về sở chỉ huy tiểu đoàn ngay. Trung tá Partain báo cho anh biết việc bất hạnh xảy đến cho Milton. Sau đó Smith được lệnh lên máy bay trực thăng tới tiếp nhận quyền chỉ huy đại đội Alpha. Anh tuân lệnh.

Lục quân ko thể để cho việc 1 đại đội bị tổn thất nặng như đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 xảy ra mà ko có người chịu trách nhiệm. Búa rìu đã ko rơi xuống đầu các vị lữ đoàn trưởng hay tiểu đoàn trưởng, là những người đã đưa các đại đội của mình vào vùng nguy hiểm. Trong thực tế việc này rất là tế nhị nên đại tá Adamson đã đề nghị tướng Peers làm nhẹ trách nhiệm của tướng Deane đi. Búa rìu cũng ko chĩa vào đại úy Milton, người đã lùa quân vào miệng cọp. Thay vì thế, các thượng cấp lại dồn hết trách nhiệm lên đầu đại đội Charlie và chỉ huy của nó là đại úy Ron Leonard.

Partain cho rằng vào ngày 22 tháng 6, Leonard đã thiếu quyết đoán và cố tình tiến quân chậm trễ. Kết quả là ông ta bắt Leonard sẽ phải chịu trách nhiệm về tấn thảm kịch. Partain quyết định Leonard sẽ phải ra đi.

Cuối tháng 7, đại úy Leonard bị thuyên chuyển sang tiểu đoàn 4/503. Trung úy Harrison rất giận dữ khi thấy Leonard bị tước mất đại đội. Anh thấy việc này ko hề hợp lý và thiếu công bằng. Đi xa hơn anh đã lên giãi bày nỗi băn khoăn trực tiếp với trung tá Partain, 1 hành động chưa từng xảy ra đối với 1 trung úy. Cố gắng của anh ko có kết quả.

Cùng với Harrison, nhiều người khác cũng tỏ thái độ ngạc nhiên trước việc Leonard bị thay đi. Thượng sĩ nhất Rogiers cũng rất hoài nghi trước việc thuyên chuyển Leonard. Ngay cả thiếu tá Watson cũng nghĩ Leonard đã bị đối xử ko công bằng. Cả 2 người đều đã nhận thức được những khó khăn mà Leonard phải đối mặt hôm 22 tháng 6 sau khi tới thị sát khu vực. Trung tá Partain thì chưa bao giờ đến cao điểm 1338 nên ko thể nhận biết địa hình ở đó khó khăn đến mức nào.

Sau khi Leonard ra đi, là tới bước thanh trừng các sĩ quan nào của đại đội Charlie đã từng tham dự sự kiện ngày 22 tháng 6. Trung úy Harrison bị chuyển qua đại đội Alpha, trung úy Bodine sang đại đội Bravo, trung úy Kretso về tiểu đoàn làm việc.

Lúc đại úy Leonard đến sở chỉ huy tiểu đoàn 4/503, anh gặp trung tá James Johnson, người tiểu đoàn trưởng mới. Johnson đã hỏi Leonard về lý do chuyển sang tiểu đoàn mình. Leonard giải trình về tình cảnh. Trung tá Johnson đã tiến hành điều tra kín đáo sự kiện ngày 22 tháng 6. Rồi ông cũng bị thuyết phục rằng Leonard chính là “vật tế thần”. Ông giữ Leonard lại tiểu đoàn, đảm nhận vị trí sĩ quan tình báo (S-2).










   
 
Chương 5
Cao điểm 830






Với việc đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 bị tiêu diệt, tướng Westmoreland đã chuyển giao cho tướng Larsen những tiểu đoàn cơ động mà ông đã yêu cầu xin thêm. Ngày 23 tháng 6 năm 1967, tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 kỵ binh của lữ đoàn 1, sư đoàn 1 Kỵ binh bay tới Đắk Tô và đặt dưới quyền điều động của tướng Deane. Deane đưa tiểu đoàn 1, trung đoàn 12 xuống phía nam Đắk Tô 15km để tiến hành các cuộc hành quân tìm và diệt.

Hôm sau, chiến đoàn dù số 1 VNCH (ARVN 1st Airborne Task Force) và lữ đoàn 3, sư đoàn 1 kỵ binh bay Hoa Kỳ từ Sài Gòn và Bình Dương tới Kon Tum. Các đơn vị này được điều lên phía bắc và đông bắc Kon Tum và cũng để tiến hành các nhiệm vụ tìm diệt.

Deane tung các tiểu đoàn của mình sang phía tây và tây nam Đắk Tô khoảng 20km. Ông ta muốn lính dù truy lùng trung đoàn 24 bộ đội Bắc Việt nếu họ vẫn còn trong khu vực.

Ngày 4 tháng 7, tiểu đoàn 4, trung đoàn 503 của trung tá Lawrence Jackley thiết lập căn cứ pháo binh cho pháo đội B, tiểu đoàn 3, trung đoàn 319 pháo binh. Căn cứ pháo binh này đóng trên cao điểm 664, nằm cách phía tây và nam Đắk Tô 11km. Những đại đội súng trường sẽ luân phiên bảo vệ cho các pháo thủ.
Logged
Vanphuhh08b
Thành viên
*
Bài viết: 5



« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2014, 11:06:01 PM »

Đúng ra phần này người khác không được trả lời. Nhưng bác đã hỏi thì em xin trả lời bác những gì em biết. Vào năm 2007, em có thời gian sống tại đồi Sạc Ly có biết chút ít là năm đó ta có quy tập 14 mộ chiến sĩ ta hy sinh trong thời kỳ đó. Thật sự với các bác, lần đầu tiên em leo lên đồi mà người dân quanh đó gọi là đồi hai vú nhìn xuống mà thấy khiếp với những hố bom thẳng hàng tăm tắp kéo dài dường như vô tận. Đi vào các khe núi  càng rợn người với những tàn tích của chiến tranh dù chiến tranh đã đi qua rất lâu. Bom mìn còn hiện đầy trên các sườn đồi. Có cả các phuy chứa chất độc màu da cam.   
Logged

Con tàu ra khơi. Mình em ở lại
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #35 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2014, 09:11:43 AM »

Trung tá Jackley, 1 người cao ráo quê vùng Des Moines, Iowa, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1928. Ông tốt nghiệp West Point năm 1950. 4 năm sau đó ông có bằng nhảy dù rồi tham gia học tại trường Chiến tranh đặc biệt ở Fort Bragg. Trước khi sang nam VN tháng 8 năm 1966, ông làm 1 tiểu đoàn phó trong sư đoàn dù 82 tại căn cứ Fort Bragg. Jackley làm sĩ quan tham mưu của lực lượng dã chiến I ở Nha Trang trong 6 tháng rồi về tiếp nhận quyền chỉ huy tiểu đoàn 4/503 từ “Iron Mike” Healey vào tháng 2 năm 1967.

Jackley là 1 chỉ huy mạnh mẽ, nhiều sáng kiến. 1 trong số những thay đổi đầu tiên của tiểu đoàn là tạo ra đại đội chiến đấu thứ 4. Ông sử dụng các trung đội chống tăng và trinh sát tạo thành các hạt nhân của đại đội Dog. Sau đó ông yêu cầu 3 đại đội kia chuyển 1 số hạ sĩ quan và binh sĩ sang cho Dog và cảnh báo việc điều chuyển này ko phải để cho họ trốn việc hay trở thành bất mãn và gây rối. Tuy đại đội Dog ko bao giờ có nhiều hơn 65-70 lính, vì chỉ có 2 trung đội súng trường cơ hữu, nhưng nó cũng đã cung cấp thêm cho Jackley 1 đơn vị cơ động thứ 4 rất cần thiết.

Một sáng kiến nữa của Jackley được gọi là LZ commandos. Sau khi 1 số đại đội dưới quyền ông bị phục kích trong các chiến dịch Junction City và Junction City II ngay trên những bãi đáp đã được cho là ko có địch, Jackley đã đưa ra ý tưởng trên. Những LZ commandos, tất cả đều là lính tình nguyện, là những binh sĩ đầu tiên xuống bãi đáp. Với sự yểm trợ của các trực thăng vũ trang, lính LZ commandos sẽ quét sạch quân thù ra khỏi bãi đáp rồi mới gọi máy bay chở quân tới sau. Từ khi Jackley lập ra LZ commandos, ông ko còn bị mất lính do bị phục kích trên bãi đáp nữa.

Jackley được hậu thuẫn bởi 4 viên đại đội trưởng gan lì, dày dạn kinh nghiệm. 3 người trong số họ đã tốt nghiệp West Point. Đại úy Alan Phillips, 1 người cao ráo, tóc đen, 29 tuổi là con trai của 1 sĩ quan hải quân chuyên nghiệp. Anh tốt nghiệp West Point năm 1959 và chọn theo nghiệp bộ binh. Đại úy Phillips đã phục vụ kỳ hạn đầu tiên tại nam VN năm 1963 với vai trò cố vấn của 1 tiểu đoàn dù VNCH tại Biên Hòa. Tháng 11 năm 1966 anh trở lại VN làm chỉ huy trung đội viễn thám (LRRP) của lữ đoàn dù 173. Anh giữ vị trí này cho đến tháng 5 năm 1967 thì sang nắm quyền chỉ huy đại đội Alpha.

Đại đội trưởng đại đội Bravo là đại úy Daniel Severson, 25 tuổi. Đó là 1 người vai u thịt bắp, từng thi đấu điền kinh cho trường đại học Maine. Qua chương trình đào tạo sĩ quan dự bị mà Severson nhập ngũ. Ban đầu anh làm đại đội phó đại đội Charlie, tiểu đoàn 4/503 khi trung tá Healey đưa tiểu đoàn từ căn cứ Fort Campbell đến nam VN tháng 6 năm 1966. Khi qua làm đại đội phó của đại đội Bravo, Severson đã bị thương nặng trong khi giao tranh với VC gần Bến Cát ngày 16 tháng 1 năm 1967. Hôm đó anh chỉ huy 1 trung đội sau khi trung đội trưởng của nó bị thương trong 1 trận phục kích của VC. Severson dù rất đau đớn vẫn tấn công và tiêu diệt được 1 vị trí địch. Anh được tặng thưởng huân chương Distinguished Service Cross (loại huân chương anh dũng xếp thứ 2 chỉ sau huân chương danh dự. ND) của quân đội.

Khi kỳ hạn 1 năm phục vụ chấm dứt, Severson tình nguyện kéo dài thêm 6 tháng nữa. Anh cảm thấy mình đã có nhiều kinh nghiệm nên sẽ làm việc hiệu quả hơn sĩ quan mới. Với những lính mới trong đại đội do chính sách luân chuyển sau 1 năm của MACV, anh cho rằng sẽ rất liều lĩnh khi đưa họ vào chiến đấu dưới sự chỉ huy của sĩ quan chưa có kinh nghiệm.

Một số lính dưới quyền nghĩ rằng anh hơi liều lĩnh. Họ nhìn thấy đó là 1 người quyết liệt, dốc sức đạt mục tiêu bất chấp mọi trở ngại. Anh còn thích đánh cận chiến với đối phương.

Cả 2 chỉ huy của các đại đội Charlie và Dog đều tốt nghiệp West Point khóa 1965. Trung úy William J. Connolly và trung úy John M. (“Mike”) Deems tới làm trung đội trưởng trong tiểu đoàn 4/503 tháng 6 năm 1966. Khi kỳ hạn phục vụ của họ kết thúc, trung tá Jackley đã hứa sẽ cho họ chỉ huy đại đội nếu chịu kéo dài thêm thời gian phục vụ. Cơ hội được chỉ huy 1 đại đội súng trường đi chiến đấu chỉ 2 năm sau khi tốt nghiệp West Point là 1 cám dỗ lớn lao đối với những chàng trai 22 tuổi. Và họ đều đồng ý.

2 sĩ quan trẻ được cho về phép thăm nhà 30 ngày. Connolly về Boston còn Deems về Nevada. Khi trở lại nam VN cả 2 đã đến trình diện trung tá Jackley. 2 trung úy trẻ tuổi đã lo rằng Jackley có thể nuốt lời vì họ biết rằng trong lữ đoàn có đầy nhóc đại úy vẫn chưa được làm đại đội trưởng. Nhưng bất chấp sức ép từ lữ đoàn, trung tá Jackley vẫn giữ lời hứa. Cuộc gặp gỡ diễn ra ngắn ngủi và dễ chịu. “Connolly sẽ nhận Charlie và Deems lãnh Dog. Hãy làm cho tốt vào. Đừng làm tôi thất vọng. Giải tán.”

Connolly, là người nhã nhặn, điềm tĩnh với chất giọng Boston đặc sệt đã nhanh chóng được lính đại đội Charlie chấp nhận. Bằng nhiệt huyết và tài năng, anh nhanh chóng đưa Charlie thành 1 trong những đại đội khá nhất toàn lữ đoàn.

Deems, cũng giống như Connolly, được binh sĩ đánh giá là sĩ quan rất quan tâm, chăm lo cho lính. Anh ko bao giờ bắt họ làm những thứ bản thân anh ko làm được. Và xa hơn nữa, họ nghĩ nếu có ai dẫn dắt họ vượt qua 365 ngày mà vẫn an toàn thì người đó chính là Deems.

Sau khi để Bravo lại bảo vệ cho căn cứ pháo binh, các đại đội Alpha, Charlie, và Dog thiết lập chu vi phòng thủ tiểu đoàn cách vài km về phía nam. Họ dành 3 ngày sau đó tung ra các cuộc tuần tiễu trên phạm vi rộng, tổ chức tập trận bắn đạn thật để huấn luyện các thành viên mới.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #36 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2014, 08:40:34 AM »

Ngày 7 tháng 7, đại đội Charlie quay về làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ pháo binh để đại đội Bravo của đại úy Severson đi hành quân. Cũng trong hôm đó, tiểu đoàn nhận được nhiệm vụ cụ thể. Họ sẽ di chuyển về phía tây nam khoảng 2500 mét nhằm xác định vị trí rồi khóa chặt và tiến đánh 1 trung đoàn bộ đội Bắc Việt bị nghi ngờ là đang hoạt động gần đó.

Theo như đại úy Phillips được biết có nhiệm vụ này là do tình báo chặn dược tìn hiệu điện đài địch. Thông tin trên được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau đã được phân loại. Sau đó nó được phổ biến cho các sĩ quan tham mưu lữ đoàn để tiếp tục phân tích. Các thông in hữu ích sẽ được dùng để lên kế hoạch nhiệm vụ cụ thể hàng ngày cho các tiểu đoàn. Khi được giao 1 nhiệm vụ như thế, các sĩ quan tham mưu tiểu đoàn sẽ tiến hành chuẩn bị hoạt động. Sau đó lệnh lạc sẽ được chuyển xuống các đại đội có liên quan.

Đại úy Phillips cùng với mọi người trong đại đội, hay ở cấp thấp hơn nữa chưa bao giờ cảm thấy có đủ thông tin liên quan đến 1 nhiệm vụ cụ thể nào. Vào mỗi đêm, viên trung sĩ truyền tin sẽ được nhận 1 bức điện được mã hóa. Giải mã nó ,mới đọc được lệnh hành quân ngày hôm sau. Hiếm khi người ta nói cho họ biết lý do cụ thể vì sao phải đến 1 mục tiêu hay những thứ họ sẽ gặp khi tới đó. Điều này gây ra rất nhiều sự ức chế.

Vì đây là 1 động thái bất thường, trung tá Jackley báo cho các đại đội trưởng biết là sĩ quan phụ trách thành quân tiểu đoànn sẽ cùng đi với bọn họ. Thiếu tá Walter D. (“Doug”) Williams sẽ ko chỉ lập sở chỉ huy tiền phương mà còn đóng vai trò chỉ huy trên thực địa. Thiếu tá Williams là 1 sĩ quan dễ mến người Maryland, tốt nghiệp West Point khóa 1956. Mới đến nam VN và tiểu đoàn 4/503, Williams liền đề nghị trung tá Jackley cho đi hành quân cùng với 3 đại đội. Ông thấy trong cương vị sĩ quan hành quân của tiểu đoàn, việc tham gia vào 1 cuộc hành quân trên mặt đất sẽ mang lại nhiều trải nghiệm quí báu. Jackley miễn cưỡng đồng ý.

Thiếu tá Williams cùng 1 toán tùy tùng nhỏ được trực thăng đưa đến khu vực đóng quân của tiểu đoàn lúc 17g25 ngày 7 tháng 7. Ít phút sau có mấy trực thăng chở theo 11 lính CIDG từ trại biệt kích Đắk Tô bay tới. Trong cuộc hành quân này lính CIDG được sử dụng để tìm dấu vết và dẫn đường.

3 đại đội bắt đầu đi về hướng nam vào lúc 6g40 ngày 8 tháng 7. Hành trình ngày đầu tiên đi qua 1 thung lũng sông diễn ra tương đối dễ dàng. Những cao điểm phủ đầy cây cối rậm rịt quanh thung lũng khiến cho trung úy Robert Allen của đại đội Dog cảm thấy lo lắng. Là người thành phố Oklahoma, 21 tuổi, Allen mới tới đại đội Dog mấy tuần trước. Mặc dù anh đã đi hành quân vài lần quanh Pleiku, việc đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503 bị tập kích đã khiến anh trở nên cực kỳ thận trọng và cảnh giác. Anh luôn để mắt quan sát những cao điểm xung quanh. Allen tin chắc bộ đội Bắc Việt đang từ trên đó theo dõi bọn họ.

Ngày vất vả đầu tiên chỉ đi được hơn 1000m 1 chút – vậy đã là tốt nếu xét trên việc trời cứ mưa dầm dề khiến đường đi chở nên bùn lầy chơn trượt khiến cho 1 lính bị gãy chân và phải gọi trực thăng đến sơ tán. 3 đại đội thiết lập 1 chu vi phòng thủ cấp tiểu đoàn lúc 15g00. Những tổ cảnh giới được tung ra trong khi những người khác lo đào công sự.

Trong khu vực của đại đội Bravo, anh điện đài viên trung đội 2 đang cuống cuồng đào hố cá nhân của mình. Dù mặt đất sũng nước mưa, đám rễ cây ngầm rối rắm vẫn khiến công việc trở nên cực kỳ khó khăn. Specialist 4 Phillip Owens, người Arlington Heights, Illinois đến nam VN tháng 2 năm 1967, 3 tháng trước khi anh bước sang tuổi 19. Owens lúc đầu được đưa đến 1 trung đội súng trường, anh đã tỏ ra dũng cảm trong 1 trận đánh ác liệt tại chiến khu C ngày 7 tháng 4 năm 1967 khi ko đếm xỉa đến hỏa lực dày đặc của đối phương kéo trung đội trưởng của mình ra khỏi vùng nguy hiểm. Owens đã được thưởng huân chương vì hành động đó, ít lâu sau anh lãnh việc mang điện đài cho chỉ huy trung đội.

Owens khoái việc mang điện đài, dù cho nó nặng tới gần 12kg, vì qua nó anh có thể biết thêm 1 chút thông tin về những gì đang xảy ra. Trong khi đám lính thường cứ vất vả trèo đèo lội suối mà ko biết mình đang ở chỗ nào hay sẽ đi đâu thì những hiểu biết về cuộc hành quân đang diễn ra lại giúp Owens có thể hiểu vai trò của mình trong cuộc chiến này.

Khi Owens đã đào hố chiến đấu của mình sâu khoảng 1,2m dài 1,8m, anh có vẻ hài lòng và dừng lại. Anh để vài thứ đậy lên nó rồi đi tới chỗ trung đội trưởng của mình.

Chỉ huy trung đội 2 là trung úy Peyton Ligon, thành viên West Point khóa 1966. Sinh ra tại Pleasant Hill, Tennessee, và lớn lên ở Raleigh, North Carolina, Ligon đã hoàn tất khóa huấn luyện Ranger (biệt động quân.ND) và lấy bằng nhảy dù trước khi sang nam VN. Anh thuộc nhóm đông các thành viên của khóa 1966 đã đến đất nước này trong tháng 6. Ngày 23 tháng 6, anh tổ chức sinh nhật lần thứ 24 và được biên chế về lữ đoàn 173. Mặc dù mới tới đại đội Bravo mới được 2 tuần, Ligon được trung đội rất tôn trọng bởi phong thái điềm tĩnh, chuyên nghiệp của mình.

Mưa tiếp tục trút xuống đầu các “thiên binh” trong ngày thứ 2 của chuyến tuần tiễu. Từ khi 3 đại đội tiến sâu vào vùng rừng núi rậm rịt 3 tầng tán, mưa khiến cho họ rất dễ xẩy chân trượt ngã. Có khi phải dùng đến dây thừng để kéo lính dù lên những sườn núi dốc đứng. Rừng ẩm ướt sinh ra vô số muỗi và vắt. Mọi người đều đã cài kín cổ và tay áo nhưng đám ký sinh trùng vẫn chui vào da thịt lính dù. Chỉ có vài binh sĩ tốt số mới có thể giữ mình ko bị vắt cắn cho đến tận cuối ngày.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2014, 08:47:43 AM »

Thiếu tá Williams hầu hết mấy ngày qua đi hành quân cùng đại đội Bravo và Dog, trong khi đại đội Alpha đi đầu. Đại úy Phillips đang rất mệt mỏi sau 1 ngày cật lực đảm nhận vị trí dẫn đầu, nhưng thiếu tá Williams lại đến và muốn thảo luận về ngày hành quân kế tiếp. Phillips mời Williams ở lại dùng bữa tối bằng khẩu phần C (đồ hộp). Tuy 2 người chưa quen nhau nhưng họ đã có 1 cuộc trò chuyện vui vẻ suốt buổi tối ướt át trên đỉnh cao điểm. Phillips biết được Williams là bạn học của anh rể mình ở West Point. Họ cũng nói chuyện về kỳ hạn phục vụ của Williams trong dự án trao đổi sĩ quan với quân đội Ấn Độ. Tại đây ông đã học cách chiến đấu cơ động trên lưng voi. Khi sa đà vào chuyện voi, cả 2 viên sĩ quan đều muốn có được con thú nào đó để có thể thồ trang bị của cho mình.

Cuối cùng thiếu tá Williams đi về sở chỉ huy của đại úy Severson để ngủ. Đại úy Phillips kéo tấm poncho trùm kín tấm thân mệt mỏi của mình hy vọng có được giấc ngủ ngon rồi chìm vào giấc ngủ.

Ngày 10 tháng 7, ngay trước lúc các đại đội lên đường, thiếu tá Williams nhận được chỉ thị từ trung tá Jackley tiến đến mục tiêu 49. Không lý do nào được đưa ra dẫn đến việc thay đổi kế hoạch. Lính tiểu đoàn 4/503 chỉ đơn giản là đi tới đó. Đối với bọn họ, mục tiêu 49 chỉ là 1 chấm trên bản đồ cách chỗ họ nghỉ đêm khoảng 1000m về hướng tây bắc. Đại đội Bravo của đại úy Severson đảm trách vị trí dẫn đầu đoàn quân.

Hành trình cực nhọc ngày 10 tháng 7 tiếp tục diễn ra dưới mưa, nhưng diễn ra yên ổn. Trong lúc đại đội Bravo đang tiếp cận mục tiêu 49 từ phía đông nam, thì lúc khoảng 13g20 trung tá Jackley gọi điện đài cho thiếu tá Williams. Tình báo lữ đoàn (S-2) vừa chuyển đến tin tức mới nhất. Giờ họ lại cho rằng bộ đội Bắc Việt đang tiến tới cao điểm 830, cách khoảng 800m về hướng tây nam. Do đó Jackley muốn cả 3 đại đội tiến tới đó ngay bây giờ.

Thiếu tá Williams cho đoàn quân dừng lại để phổ biến lệnh mới. Ko ai có vẻ khó chịu trước thay đổi bất ngờ này. Để cho tiện, Williams lệnh cho 3 đại đội đằng sau quay, đảo ngược thứ tự hành quân. Đại đội Alpha sẽ đi đầu và Bravo đi khóa đuôi. Williams cùng tùy tùng đi trước đại đội Bravo và ngay sau đại đội Dog.

Trời vẫn mưa ko ngớt khi đoàn quân trực chỉ hướng tây nam. Bầu trời u ám khiến cho rừng già trở nên tối hơn. Cây rừng ken dày, rậm rịt cùng những bụi tre gai cao chót vót khiến tầm nhìn giảm xuống dưới 10m. Người lính đi cuối hàng trong trung đội hiếm khi thấy được người dẫn đầu.

Đến 15g30 thì đại úy Phillips bắt đầu nghĩ tới chỗ nghỉ qua đêm. Việc thiết lập chu vi phòng thủ cho 3 đại đội, phối hợp hỏa lực với nhau, đưa tất cả súng cối và các tổ cảnh giới vào vị trí trước khi trời tối phải mất từ 2 đến 3 giờ đồng hồ. Khoảng 18g30 trời sẽ tối, Phillips muốn khi đó mọi thứ đã vào vị trí rồi. Anh gọi cho Williams, trình bày ý kiến và Williams đã chấp thuận cho tìm nơi đóng quân qua đêm trên cao điểm 830.

Vào lúc này, đại đội Alpha bắt đầu leo lên sườn dốc phía đông bắc của cao điểm 830. Trung đội 1 dẫn đầu, theo sau là trung đội 2, rồi đại đội bộ của Phillips và đi cuối là trung đội 3. Ngay sau họ đại đội Dog của trung úy Deems, 1 trung đội của nó đang ở trong 1 yên ngựa thoai thoải, trong khi trung đội thứ nhì đang xuống dốc tây nam của 1 cao điểm nằm ngay phía đông bắc cao điểm 830. Hành quân sau họ là toán chỉ huy của thiếu tá Williams rồi đến đại đội Bravo.

Đại úy Phillips gọi điện bảo trung úy Daniel Jordan, trung đội trưởng trung đội 1, là người rất dễ mến, 23 tuổi, tốt nghiệp đại học Notre Dame, bắt đầu tìm kiếm chỗ đóng quân dã ngoại. Lát sau Jordan gọi về: “Six, tôi vừa đến 1 lối mòn. Có vẻ nó mới được sử dụng gần đây. Tôi nghĩ là mới đây thôi.”

Phillips trả lời từ cách đó 50m. “Cho các tiểu đội chuẩn bị chiến đấu. Từ từ tiến lên cao điểm. Thật cảnh giác.”

Jordan làm theo chỉ thị. Ít phút sau anh ra hiệu cho toàn trung đội tiến lên.

Ở phía sau, chỗ đại đội Bravo, đại úy Severson dừng lại chốc lát để xem bản đồ. “Chết tiệt!” Anh nhận xét với lính điện đài (RTO) và tiền sát viên (FO) của mình. “Chúng mình đến đây rồi. Thế lũ địch đâu? Lẽ ra chúng phải có đây chứ. Lại là tin vớ vẩn của S-2.”

Ngay lúc đó, vang lên tiếng súng máy và súng cá nhân bỗng rộ lên ầm ầm phía đại đội Alpha. Severson và binh sĩ vội nằm dán xuống đất.

Khi trung đội của trung úy Jordan vừa tới lưng chừng cao điểm 830, rừng cây trước mặt họ bỗng nổ tung bởi hỏa lực quân thù. Ít nhất phải có 2 trung liên cùng rất nhiều AK-47 xả đạn xuống dốc bắn về phía cái trung đội có 30 quân này. Jordan và binh sĩ lao đi tìm chỗ nấp. Ít giây sau họ đã dùng súng M16 và M60 nã đạn lên cao điểm bắn trả.

Đại úy Phillips quát om sòm trên điện đài. Anh bảo Jordan dùng hỏa lực để đưa trung đội tiến lên. Anh chỉ thị cho trung đội 2 dưới quyền trung úy David Alligood, vận động qua cánh trái tới chỗ có địa thế cao hơn để lợi dụng địa hình che chắn tiến tới đỉnh cao điểm 830, phía trên trung đội Jordan.

Dưới cơn mưa cành lá bị hỏa lực dữ dội của đối phương phạt đứt, Phillips cố gắng liên lạc điện đài với trung đội trưởng trung đội 3 của mình, là trung úy Warren Denny, nhưng ko thể. Anh quay sang cậu lính liên lạc, 1 tay “lính sữa” (cherry –lính mới ra ràng.ND”

“Quay lại chỗ trung úy Denny,” Phillips nói với chàng trai trẻ đang tỏ vẻ dao động “Bảo anh ta tiến sang phải, nói hắn phải giảm áp lực cho Jordan.”

Cậu binh nhì chạy đi. Mấy phút cậu ta quay lại nói: “Tôi ko tìm thấy trung úy Denny, thưa sếp.”

Phillips biết người lính này đang hoảng sợ nên có thể hắn chạy ko xa. Anh nghiêm khắc ra lệnh cho cậu lính trẻ thực hiện lại.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2014, 06:17:03 PM »

Trung úy Jordan ở phía trước đang rất tất bật. Dưới sự chỉ huy can đảm và táo bạo của anh, trung đội đã tiến lên được khoảng 10m trong khoảng cách 20m tới chỗ mấy cái hầm được ngụy trang kín đáo của quân Bắc Việt. Anh dũng cảm di chuyển từ chỗ người lính này qua chỗ người lính khác, thúc họ tiến lên. Noi theo gương can đảm của Jordan, họ cố thử, nhưng hỏa lực của đối phương quá mạnh nên chẳng mấy chốc họ lại bị ghìm chặt.

Trong khi đợi tin của trung úy Denny, đại úy Phillips cùng với thượng sĩ của mình là Owen Schroeder di chuyển tới chỗ đang có giao chiến, bố trí binh sĩ, hướng dẫn xạ kích và động viên khích lệ cho bọn họ.

Phillips bò tới chỗ 1 xạ thủ trung liên M60, người mà anh nghĩ đang bắn bừa bãi. Phillips nói: “Bắn chậm lại, anh lính, cậu đang lãng phí đạn đó.”

Tay xạ thủ đáp lời: “Chó chết!, thưa sếp. Tiếng súng mà anh nghe thấy là của chúng nó bắn tới đấy.”

Phillips nuốt nước bọt và bò sang chỗ khác. Ít phút sau anh kinh hãi khi chứng kiến 1 xạ thủ súng máy khác bị giết. Không hề do dự, xạ thủ số 2 liền đỡ lấy khẩu súng. Vài giây sau, anh ta cũng bị hạ. 1 lính súng trường bò tới chỗ khẩu súng, ngay sau đó khẩu M60 lại nã ào ào lên trên cao điểm. Phillips ko thể tin vào mắt cảnh tượng dũng cảm mà anh được chứng kiến. Anh vô cùng tự hào về những lính dù của mình.

Trong khi đó, trung úy Denny cũng đã bò đến. Phillips sai anh tiến sang phải để thử đánh vào sườn vị trí quân Bắc Việt. Chỗ đó rất là dốc, Phillips cảm thấy lính Bắc Việt đang quá bận tâm vào sự vận động của Jordan và Alligood nên ko thể nào phát hiện được Denny.

Denny vội vã cho quân chuẩn bị xuất kích rồi bắt đầu trèo lên. Mấy phút sau anh báo về cho Phillips rằng vừa bắt gặp nhiều căn hầm bỏ trống. 1 lính của Denny đã ném lựu đạn xuống 1 cái hầm mà anh ta nghĩ làm bằng bao cát. Cứt đái bẩn thỉu hôi thối văng khắp nơi chứng tỏ nó là 1 cái nhà xí của lính Bắc Việt.

Trong khi các trung đội của Phillips đang vận động. Trung đội 2 đi đầu trong đại đội Dog của trung úy Deems đã tới ngay sau đại đội Alpha chiếm lĩnh vị trí để yểm trợ hỏa lực. Deems đi phía trước trung đội 1, đang xuống được nửa dốc của ngọn cao điểm đằng sau thì đụng độ nổ ra. Anh và mọi người lập tức tổ chức chu vi phòng thủ. Đạn định bay viu víu qua những cây cối xung quanh họ, nhưng Deems nhận định chính xác đó là đạn cuối tầm của quân Bắc Việt đang bắn vào đại đội Alpha chứ ko phải là nhằm trực tiếp vào bọn họ.

Sau Deems 1 chút là trung úy Allen. Đây là lần đầu tiên nằm dưới làn đạn. Anh nằm dán xuống đất, kinh hoàng nghe tiếng súng nổ ầm ầm. Tiếng súng bắn của cả 2 phe nghe lớn hơn nhiều so với anh tưởng tượng. Súng nổ ầm ĩ điếc cả tai. Đạn địch bay véo véo trên đầu khiến cho ko ai có thể đứng dậy.

Rồi Allen bắt đầu trở nên điên máu. Anh đang nằm ở đây, trên lối mòn lầy lội, trong khi chỉ cách đó khoảng 100m nhiều binh lính đang phải chiến đấu để mong toàn mạng. Anh quay qua nói với tay trung đội phó: “Tôi muốn xông lên đó ngay bây giờ.”

Viên trung sĩ, 1 lính cũ đã gần hết kết thúc kỳ hạn phục vụ, bình tĩnh đáp: “Muốn cũng ko được đâu, sếp à.”

Không hề nản lòng trước lòi cảnh báo ấy, Allen đứng dậy và lao xuống lối mòn. Mới chạy được mấy mét thì đã bị vấp vào dây leo và ngã sóng xoài trên vũng bùn. Anh nghe thấy tiếng tay trung sĩ cười phía sau. Allen ngượng ngùng quay lại chỗ trung đội.

Giao tranh chỗ đại đội Alpha vẫn ko hề suy giảm, Allen bắt đầu lo ngại bộ đội Bắc Việt sẽ bao vây họ mất giống như đại đội Alpha của tiểu đoàn 2/503. Anh sốt ruột gọi điện báo cho Deems nỗi lo của mình nhiều lần. Rốt cục, Deems phải bảo anh cần tĩnh trí lại.

1 lính dù khác của Deems cũng đang trải qua lần chiến đấu đầu tiên của mình. Specialist 4 James R. (“Jake”) Duffy, 20 tuổi, người Scituate, Massachusetts đến nam VN tháng 5 năm 1967. Là lính súng cối, anh là điện đài viên cho 1 trong số những tiền sát viên súng cối 106,7 ly của tiểu đoàn. Tổ tiền sát viên này được luân chuyển giữa những đại đội chiến đấu khi cần thiết.

Khi trận đánh bắt đầu, Duffy nằm dán xuống đất phía sau tiền sát viên của mình. Nhiệm vụ của anh là gọi điện đài về cho các pháo thủ súng cối, tiền sát viên sẽ đọc số liệu hiệu chỉnh cho anh. Duffy quá sợ hãi nên ko thể thực hiện chức trách. Anh chưa bao giờ nghĩ việc đánh nhau lại đáng sợ tới vậy. Rốt cuộc thì tiền sát viên, 1 lính cũ điềm tĩnh, giật lấy điện đài của Duffy và tự mình gọi điện hiệu chỉnh. Duffy cứ nằm đó và tự hỏi làm cách nào để mình có thể tồn tại trong 10 tháng nữa đây?

Với 3 trung đội dưới quyền và 1 trung đội của đại độ Dog đang phải giao chiến kịch liệt với lính Bắc Việt nấp dưới hầm. Phillips đã gọi trực thăng vũ trang, và cả phi pháo tới yểm trợ. Vài phút sau đạn pháo đã rót ầm ầm xuống rừng cây trên cao điểm trước mặt đại đội Alpha.

Trực thăng vũ trang cũng nhanh chóng có mặt trên đầu. Nhưng chúng đã chứng tỏ sự vô dụng. Tán rừng dày đặc che kín mít khiến trực thăng bắn toàn trật lất.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #39 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2014, 10:17:12 AM »

Trung tá Jackley lúc đó cũng đang trong chiếc trực thăng chỉ huy bay phía trên. Tuy nhiên, việc nhờ ông hỗ trợ cũng chẳng thành công. Rừng quá dày nên ông ta chả thấy được gì cả. Và Phillips, dù nghe được tiếng trực thăng bay phía trên cũng ko thể nhìn thấy ông. Chốc chốc, Phillips lại báo cho ông biết tình hình nhưng do quá bận rộn nên chỉ có thể báo cáo qua loa chiếu lệ.

Khi nghe tiếng súng, đại úy Severson ngay lập tức lệnh cho đại đội lùi lại vài chục mét tới chỗ có thể dễ dàng phòng thủ hơn ở 1 mô đất nhô lên trên sườn cao điểm. Tiếng súng máy dữ dội của địch khiến Severson cũng đã nghĩ tới đại đội Alpha, tiểu đoàn 2/503. Anh ko muốn đại đội mình sẽ bị bao vây và chia cắt như họ từng bị. Trong khi đại độ Bravo tổ chức phòng ngự thì Severson theo dõi trận đánh qua điện đài. Mọi thứ đang rối tung lên nhưng Severson vẫn nhận định được đại đội Alpha đang bị kẹt vào 1 tình thế khó khăn.

Ít phút sau, thiếu tá Williams, vẫn đi cùng với đại đội Dog, gọi điện đài cho Severson. “Đưa đại đội của anh vòng sang phải. Tôi muốn anh tiến đánh cao điểm từ phía tây bắc. Bọn khốn đang tiến công Alpha từ chỗ đó và chúng ta cần phải bắt chúng câm họng.”

Trong khi Severson lên kế hoạch điều binh, những lời bàn tán về trận tấn công lan ra khắp đại đội. Hầu hết các thành viên của nó còn tương đối mới và đây là lần đụng trận đầu tiên của bọn họ. Họ bắt đầu hoảng sợ. Severson nhanh chóng trấn an đám lính. Sau đó anh nhận định rằng việc tiến quân lúc này là quá ư mạo hiểm khi ko có pháo binh yểm trợ, mà anh lại ko thể gọi pháo tới vì ko biết đích xác vị trí đại đội Alpha.

Ngay sau đó thiếu tá Williams cùng 2 lính điện đài và tổ tiền sát viên của mình bước vào chu vi phòng thủ của đại đội Bravo. “Tôi muốn anh di chuyển sang bên phải” Williams nói quả quyết.

“Tôi nghĩ đó ko phải là ý hay đâu, sếp.” Severson nói. Trước đó anh và Williams hay có bất đồng về chiến thuật và Severson có quan điểm khác hẳn Williams.

“Bọn khốn bảo vệ sườn rắn lắm” Severson tiếp tục “bên cạnh đó, hỏa lực nào yểm trợ cho ta?”

Williams thừa nhận mình ko thể liên lạc vô tuyến với Jackley. Có thể là do điện đài của Jackley bị trục trặc hoặc do địa hình hay trời mưa đã ngăn tín hiệu vô tuyến khiến nó ko nhận được và do đó sẽ ko có hỏa lực yểm trợ.

Nhưng Williams vẫn khăng khăng: “Nếu ta đánh ngay lúc này, chúng sẽ bị bất ngờ. Ta sẽ gọi hỏa lực sau.”

“Tôi muốn nói chuyện với Six” Severson đáp.

Severson cũng ko gặp may khi cố liên lạc với Jackley. Hai người tranh cãi thêm vài phút nữa, rối Williams hỏi: “Sợ hả, đại úy?”

“Vậy anh sẽ ở đâu?” Severson hỏi sấc.

“Tôi sẽ đi ngay cạnh anh.”

“Ok. Vậy thì đi.”

Severson kêu 3 trung đội rồi bắt đầu di chuyển vội vã sang phải. Anh cho viên thượng sĩ nhất cùng với trung đội thứ 4 ở lại để thiết lập 1 bãi đáp. Thượng sĩ trung đội phó, Lawrence Okendo nhanh chóng bố trí lính vào vị trí phòng ngự trong khi anh cùng những người còn lại dùng dao rựa chặt cây.

Thượng sĩ Okendo là 1 quân nhân hay gây gổ đã tham gia 3 cuộc chiến tranh. Ông là thành viên duy nhất của lữ 173 đã từng chiến đấu trong trung đoàn dù 503 hồi thế chiến II. Sinh năm 1922 tại Hawaii, Okendo trải qua 1 tuổi thơ dữ dội, khi ra vào rất nhiều trường giáo dưỡng trước khi 1 vị thẩm phán bắt ông phải lự chọn giữa việc ở tù hoặc đi lính. Và Okendo đã chọn nhập ngũ.

Với bản tính lỳ lợm nên Okendo tình nguyện vào lính dù. Ông gia nhập trung đoàn 503 đúng lúc nó tiến hành nhảy dù xuống New Guinea. Ông đã chiến đấu trong nhiều chiến dịch ở đó mà ko bị thương tích gì. Nhưng đến Noemfoor thì lại ko may mắn như vậy. Ông đã phải nằm viện nhiều tháng để chữa trị các vết thương. Sau đó Okendo gia nhập sư đoàn 7 bộ binh trong chiến dịch khốc liệt trên đảo Okinawa. Ông tiếp tục chinh chiến ở Triều Tiên trong trung đoàn dù 187 danh tiếng do đại tá William C. Westmoreland chỉ huy, và sau đó là sư đoàn 7 bộ binh. Tháng 5 năm 1967, ông gia nhập đại đội Bravo tiểu đoàn 4/503.

Trong khi trung đội của Okendo làm bãi đáp, đạn bắn tỉa của bộ đội Bắc Việt liên tục bay veo véo trên đầu họ. Phần lớn đạn bắn trúng những cây tre quanh đó gây nên những tiếng động lớn. Một viên đạn bắn trúng bàn tay phải 1 lính dù làm anh này bị thương nhẹ. 1 lính khác bị thương ở cánh tay vì bị rựa chém phải. Okendo cùng Specialist 5 Jackson, lính cứu thương của trung đội, đã băng bó cho họ.

Thượng sĩ Okendo cùng với 1 lính khác bỗng nghe thấy có tiếng động trong rừng cây trước mặt họ. Vì ko thể nhìn xuyên qua đám cây rừng rậm rạp nên họ đã không bắn vì nghĩ là đó có thể là lính của Severson quay về báo tin. Rồi từ đám cây nhô ra 1 lính CIDG thuộc đại đội Alpha lưng cõng 1 lính Mỹ bị thương, tay ôm 6 khẩu súng M16. Okendo nhanh chóng tới đỡ cho anh lính. Specialist Jackson bắt đầu cứu chữa thương binh trong khi người lính Thượng biến lại vào trong rừng tới chỗ những người bị thương vong khác của Phillips.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM