Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Chín, 2020, 12:24:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mở rừng (Tiểu thuyết - Lê Lựu)  (Đọc 47319 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:01:34 pm »

MỞ RỪNG

Tác giả: Lê Lựu

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN HÀ NỘI - 1999


(Do không biết trên http://vhdn.vn/ có cuốn này nên tự tay hoi_ls số hóa được một phần cuốn này theo bản in của Nxb Thanh niên - 1999, kể từ Chương Ba trở đi hoi_ls sẽ tiếp tục post theo bản của http://vhdn.vn theo bản in của Nxb Thanh niên - 1977).







Vài nét về Tác giả, Tác phẩm


Lê Lựu Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1942.

Quê quán: xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Nhập ngũ sớm, từng làm phóng viên Quân khu Ba, phóng viên mặt trận tại chiến trường 559. Đã theo học trường bồi dưỡng viết văn tại Quảng Bá (của Hội Nhà văn), làm biên tập viên, Trưởng ban văn xuôi rồi Thư ký toà soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội. Hiện đang làm Giám đốc Trung tâm Văn hoá Doanh nhân Việt Nam.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Người cầm súng (truyện ngắn, 1970); Phía mặt trời (truyện ngắn, 1972; Đánh trận núi con Chuột (truyện dài thiếu nhi, 1976); Mở rừng (tiểu thuyết, 1977); Phía sau anh (tiểu thuyết, 1980); Ranh giới (tiểu thuyết, 1977); Campuchia một câu hỏi lớn (truyện ngắn, 1979); Đồng bằng chiến sĩ (truyện ký, 1980); Thời xa vắng (tiểu thuyết, 1986); Mặt trận của người lính (truyện ngắn, 1986); Một thời lầm lỗi (bút ký, 1988); Trở lại nước Mỹ (bút ký, 1989); Đại tá không biết đùa (tiểu thuyết 1990); Chuyện làng Cuội (tiểu thuyết, 1993); Sóng ở đáy sông (tiểu thuyết, 1994); Hai nhà (tiểu thuyết, 2000).

Giải thưởng văn học: Giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ (1967-1968) với truyện ngắn Người cầm súng. Giải A Hội Nhà văn Việt Nam (1984) với tiểu thuyết Thời xa vắng. Giải nhất cuộc thi do Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Văn hoá tổ chức 1970-1971 với truyện vừa Người về đồng cói.

Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I năm 2001.

"Mở rừng" là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Lê Lựu, viết trong những năm 1972- 1973, những năm tháng ác liệt của Trường Sơn. Qua mỗi trang sách như cảm thấy mình đang sống cũng họ những ngày tháng ấy, đi cùng những chuyến xe trong đêm pháo sáng rực trời đến mức viết được cả thư, những trận bom suốt ngày đêm không khi nào dứt.. Những nhân vật của cuốn tiểu thuyết, mỗi người một tính cách, một số phận nhưng cùng chung một chí hướng sống trong tình yêu thương nhau, bề ngoài khắc khổ, ồn ã, bên trong sâu lắng và ấm áp.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tác phẩm “Mở rừng”.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Giêng, 2014, 10:49:40 am gửi bởi hoi_ls » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #1 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:06:25 pm »

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng
Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay


(Phạm Tiến Duật)



Chương Một

1

Tháng Tám. Đang mưa rừng, mưa li bì dai dẳng như người lên cơn sốt, tràn ngập một cảm giác đất rừng này toàn nước. Trông những cây lim uy nghi, cây bông tầu rắn trắng những tưởng vục cái mũ sắt vào đấy là đầy mũ nước. Tiếng bom, tiếng máy bay bị dìm dưới nước, còn tiếng hai con chim “anh em” tan loãng mà suốt đêm gọi nhau vẫn tha thiết: “Đắp tát!” - “Ta đi”, “Đắp tát” - “Ta đi”... Nhưng vẫn một trời nước mung lung và hàng trăm đêm đôi chim nọ còn kiên nhẫn tìm nhau đi “Đắp tát”.

Năm ngoái thượng tá Nguyễn Quang Văn thức trọn một đêm mưa, sáng ra ông bảo: “Mùa này, là cái bào thai đẻ ra các dũng sĩ mùa khô đấy các cậu ạ”.

Mùa mưa năm nay, ông rời Bộ tư lệnh mặt trận xuống binh trạm 120 trực tiếp làm chính ủy. Ông ra đi từ rừng, vòng xuống đồng bằng để lại vào rừng. Đứng ở đồng bằng nhìn về rừng, nơi sẽ đến thấy còn mãi xa trong mây mù phía biên kia biên giới. Hai chiến sĩ cùng đi với ông: cậu Vũ lái xe, còn cần vụ tên là Chí Thú. Đã ba đêm rồi chiếc xe con mở cửa ở phía sau vẫn chưa qua được phà Rồng. Cũng như mọi chiều, hôm nay ba “cha con”, ba khuôn mặt cùng ngóng đợi những nỗi phỏng đoán vu vơ và những ý nghĩ hình như khác nhau, nên cả ba đều lặng lẽ từ nơi giấu xe ra bến. Hết đoạn đường nhựa, ba người tõe ra như kiểu dàn đội hình, mặt quay về núi, cả ba đều lầm lẫm đi xuống lợi nước.

Vòm trời nung sủi ùng ục những thỏi kim loại trắng loa lóa, nhọn hoắt chao lạng. Tiếng nổ của bom, tiếng đất vỡ ra, tiếng những cột nước đổ, rất ít phút mảng trời xanh và nước cũng xanh được liền lại; mà chỗ ba người đứng lặng quá, lặng lẽ đến nỗi tiếng thở dài của Chí Thú “Con người nhiều lo toan” đứng cách hai, ba mét chính ủy cũng nghe thấy. Ông ngẩng mặt, tránh cái nhìn làm cậu ta lúng túng, khuôn mặt đăm đăm của ông như áp lại với núi. Ở mãi xa kia chỉ thấy trắng mù. Đỉnh Phù Lã, đỉnh Cô Hà cao vọt đến tận trời đều bị nước ngầm Ông Thao dâng lên làm ngập hay sao mà chỉ toàn thấy nước. cả khối nước mòng mọng phía ấy như đã đổ oà ra quanh người khiến khuôn mặt tròn của ông se lại và đôi mắt hơi khép mờ mờ. Khuất sau những đỉnh núi kia, cách Trường Sơn Tây hơn một trăm cây số là nơi trung đoàn 60 công binh đang bắt đầu chiến dịch mở đường. Đảng ủy trung đoàn thấp thỏm liệu mỗi chiến sĩ của họ có được ăn hai lạng gạo một ngày hay không? Điện khẩn cấp của các chiến trường B2, B5, chiến trường Y, chiến trường H cần gạo, đạn và hàng trăm thứ khác. Hầu hết các bức điện đều yêu cầu cho biết ngay thời gian và kết quả. Tiễn ông xuống bờ suối, cả chính ủy và tư lệnh trưởng đều hỏi: “Liệu có quá sức nó không anh?” Lúc ấy, ông chưa dám trả lời rằng giữa mùa mưa trầy trụt này binh trạm 120 lại phải vận chuyển lượng hàng bằng hai mùa khô vừa qua là quá sức lắm lắm. Nhưng cũng không thể nói là không làm được, khi biết đấy là những đòi hỏi tối thiểu của đời sống, của công việc mà hàng vạn chiến sĩ đang ngóng chờ ở Bộ tư lệnh và Bộ tư lệnh chờ sự cố gắng đột xuất của binh trạm “thép”, cái mắt xích của tuyến đường này. Bao nhiêu lo toan, bao nhiêu dự định siết chặt vào ý nghĩ của ông. Ông vẫn đi hơi cúi và chậm trên các mỏm đá lô xô ở lợi nước.

Cách ông vài chục mét anh lái xe sẵn tính hài hước và lanh lợi đang mỉm cười thú vị. Anh ta bằng lòng với mình rằng đã nhận ra toàn bộ những dáng dấp và tính nết của người chính ủy mới quen. Đó là một người “đẹp lão”, hơi lùn, hai nhánh lông mày to chườm cả xuống mí mắt. Tóc ông còn xanh, nhưng chòm râu lúc chưa cạo lại thấy lốm đốm những sợi úa nỏ. Lớp da mặt xám phệu xuống và vành môi hằn thâm một vệt như sơn mà phía trong đó lại đỏ hồng, chứng tỏ “cụ” đã nhiều năm ở với rừng. Rõ ràng “cụ” phải là người nhân hậu mà chắc. Nhưng, như thế có phải đơn điệu về cá tính không nhỉ? Anh vội vàng ngoảnh đi, khi bắt gặp cái nhìn âu yếm của chính ủy. Dù đã từng mang tiếng ngang bướng không thèm nghe ai khen, chê một người thứ ba khi mình chưa được chứng kiến, đến lúc này anh lại chấp nhận những điều Chí Thú “thuyết trình” trong hai buổi tối về những đức độ của chính ủy một cách dễ dãi.

Ba người vẫn lặng lẽ đi toẽ ra và ba ý nghĩ không hề ăn nhập với nhau.

Lúc chính ủy lo lắng về cái binh trạm 120, về những đòi hỏi nặng nề trong mùa mưa thì cậu cận vụ của ông cũng đôi mắt mơ màng, cũng khuôn mặt đăm đăm đau khổ nhìn vào dãy núi ngập nước mà nghĩ rằng: “Đã ba ngày nay, chính ủy chỉ ăn mỗi bữa một bát cơm vì thiếu rau, mà ông lại không ăn được cá hộp. Đêm nay chưa được qua phà, ngày mai phải nhờ ông Vũ “tán” cô cửa hàng đổi hộp cá lấy rau muống hoặc rau lang vậy. Rau hiếm lắm, nhưng mồm mép ông ấy chắc là tán được. Chỉ trông thấy lính Trường Sơn vẫn đẹp trai thế, các cô đã tít mắt rồi, làm gì chả đổi được vài nắm rau. Nhưng cái tính của ông Vũ chán bỏ mẹ. Ăn uống thì “xung phong” mạnh mẽ, mà ngại “vật chất tầm thường”. Xấu hổ quái gì chuyện đó kia chứ. Thôi được, ông chỉ cần đi với tôi, cười nói lúng liếng hộ tôi, còn tôi sẽ mang hộp cá đi, đem rau về, ông không phải đụng đậy gì vào nó cả. Chỉ ở đây tôi mới phải nhờ ông, còn vào rừng a, dứt khoát tôi có măng, măng ninh, măng gói giò với thịt hộp, tôi cũng có vô số rau, thả cửa mà hái rau. Bỗng khuôn mặt non nớt của cậu động đậy, hai khoé môi nhành ra và đôi mắt lim dim, cậu ta cười, cười trong bụng và khắp người rộn rực. Cậu vẫn nhìn, cái nhìn như sắp sửa bật ra lời thầm thì với rừng. Chao ơi, đằng sau lớp mây mù kia sẽ ra rau, hàng trăm thứ rau như đang hiện lên cái màu xanh óng ánh trong đôi mắt, hàng trăm thứ rau như đang xông lên lừng mũi, đang chua, đang đắng ngăm ngăm ở đầu lưỡi, đang mát ngây ngất ở tận đáy ruột, ừ, cái anh lá nhội phải thái nhỏ xào thịt hộp, lá chân ếch xanh như mạ vò nấu canh bảo đảm thơm không kém gì ốc nhồi nấu chuối có tí xương sông. Anh đơn buốt luộc làm dưa, còn thân với lá già sắc cho thủ trưởng uống giải nhiệt, giải độc và chữa bệnh kiết lỵ. Rồi rau rớn, cần trời, chua bò và đùng đình... chỉ sợ thủ trưởng không có sức mà ăn rau trừ.

Những ý nghĩ miên man làm cho nước chân răng cậu tứa ra từ lúc nào, cậu vội nuốt đánh ực. Vừa lúc, Vũ đi đến gần bên, cậu tưởng bạn cũng đang háo hức với những bát rau rừng liền quay sang vừa cười vừa nói:

- Đố anh biết trong rừng có những loại nấm nào ăn được?

Vũ cúi đầu, đi thẫn thờ trên mặt đường. Hai bờ ngầm hẳn trắng băng rồi. Nếu tháo dây cua-roa, dùng máy húc kéo qua được, thì đường xe con vào binh trạm cũng chẳng còn nữa. Chà, mưa rừng! Giá hôm nọ “vác” thằng đầu tời đi lại yên chuyện.

Thú hỏi xong đứng ngây người rồi ngước mắt nhìn theo Vũ. Cái nhìn bực bội của cậu cận vụ như cắm vào gáy người lái xe khiến anh ta giật mình nhớ ra điều gì, quay lại:

- Cậu hỏi mình hả? Gì?

- Vâng. Nhưng mà... Thôi để lúc khác.

Như vừa dứt ra khỏi trò chơi hứng thú, vừa bị mắng mỏ trước đám đông, khuôn mặt cận vụ hẫng ra thuồn thuột. Cậu đứng tần ngần một lúc, rồi đến gần chính ủy giục:

- Về thôi, thủ trưởng ơi.

- Ờ... ờ... Hình như có thuyền vận tải của binh trạm nào đấy, cậu ạ.

- Ôi dà, thuyền của dân công hỏa tuyến thuộc binh trạm 160 đấy mà. Nó đánh dọc sông, xăm nơi giấu phà xong sẽ đánh bến và mặt đường đấy, không đứng dậy được nữa.

Dù hai mắt vẫn còn luyến tiếc nhìn mấy chiếc thuyền ken lá ngụy trang từ phía thượng lưu trôi qua bến, chân ông vẫn bước ngoan ngoãn theo người cận vụ.

Hai người: một cao, một thấp, một già, một trẻ bước đi cạnh nhau khi cùng im lặng nghiêm chỉnh, khi cùng cười nói với nét mặt rạng rỡ bình đẳng như nhau và khen chê nhau thẳng thừng. Chỉ khác là, chính ủy nói thì nhỏ, dịu, còn cận vụ bao giờ cũng nói to và khi nói đến khuyết điểm của ông nét mặt cậu nghiêm lại, cau có.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:08:11 pm »

Đi khỏi đoạn đường mới đổ đá lổng chổng, chính ủy hỏi:

- Mình phê bình cậu mấy việc nhá.

- Vâng, thủ trưởng nói, nếu đúng tôi nhận.

- Thứ nhất, hôm nay mượn dao của gia đình, để mở hộp cá, rồi không trả người ta ngay. Khi các cậu đi tắm, bà cụ tìm mãi cứ cuống cả lên.

- Vâng, đúng tôi có khuyết điểm là lúc ấy nóng quá, tôi đi giặt quần áo ngay để đến tối đi còn kịp khô.

- Thứ hai, cái cổ áo của cậu giặt chưa được sạch. Chú ý phải vắt nước cho kỹ và lúc phơi phải lộn ra.

- Còn gì nữa không, thủ trưởng?

- Thế thôi!

- Thế thì đúng cả. Ngày mai tôi sửa chữa được ngay. Bây giờ, tôi phê bình thủ trưởng nhá.

Chính ủy mỉm cười gật đầu, còn nét mặt Thú vẫn nghiêm chỉnh.

- Tôi phê bình thủ trưởng không lo xa gì cả. Tình hình này biết đâu lại phải nằm đây hàng nửa tháng nữa. Chiến tranh ai lường trước được sự bất trắc.

Chính ủy gật gù cười hà hà. Nét mặt cậu cận vụ vẫn trịnh trọng:

- Tôi nói thật đấy.

- Nhất trí.

- Khi về đến binh trạm đã chắc có đầy đủ ngay mọi thứ đấy à?

- Cậu lại định nói món thuốc lá chứ gì?

- Tôi đã dự trù đâu vào đấy rồi, thủ trưởng không hiểu cứ phá của tôi. Gặp lính lái xe cũng gọi vào uống trà, hút thuốc, thấy thanh niên xung phong cũng chia thuốc cho họ, thế lúc làm việc thủ trưởng lấy gì hút?

- Trong lúc anh em họ khó khăn, mình lại có.

- Thế thủ trưởng cho tôi là kiệt à?

- Hơi cứng nhắc thôi.

- Không phải là cứng nhắc, nhưng lính lái xe thì hàng núi thuốc họ đốt cũng hết. Thủ trưởng có biết không, họ vừa mới ở hậu phương vào, trong ca-bin anh nào chẳng có vài ba tút thuốc?

Đang đà nói, thấy chính ủy gật đầu ra hiệu cho Vũ, lái xe ở phía trước đợi cùng đi, Thú im lặng và nét mặt cậu tươi tỉnh ngay. Thú biết rằng mình có thể nhận xét phê bình thủ trưởng một cách thoải mái, nhưng đã có người thứ ba ở cạnh, bao giờ cậu cũng giữ ý, mọi cử chỉ đều tỏ rõ cậu là một chiến sĩ có kỷ luật, có nền nếp. Cái đó phần do cách sống từ nhỏ, phần khác, từ khi đi với chính ủy, ông đã uốn nắn cậu từ cách bê chén nước mời người già, lúc đến nhà dân lựa chỗ nào ngồi cho đúng và khi đang nhai cơm, húp canh thì nhất thiết không được cười nói lóa tóa...

Vũ đang đứng khom người, cúi mặt vào cửa hầm nói chuyện với người ở trạm giao thông. Gọi là trạm cho đúng quy cách của ngành đường sá, thực ra chỉ có chiếc hầm chữ A ở rìa cỏ và đoạn nứa chắn đường gác hai đầu lên những chiếc cọc dựng chéo gạc gầu ở hai bên. Ban ngày thường chỉ có một người nằm đọc sách và trả lời vặt những câu hỏi của lính lái xe bao giờ cũng nóng bỏng sự cần thiết, tưởng không được giải quyết thì sẽ vỡ lở hết mọi kế hoạch của mặt trận.

Chính ủy đến gần Vũ.

- Triển vọng thế nào, anh?

- Báo cáo thủ trưởng, xe ta lại xuống hàng thứ hai mươi vì mới có ba xe con của Tổng cục có ba vạch đỏ đến.

- Liệu đêm nay... - Chính ủy chưa nói hết, Vũ đã quay vào hỏi người ở trạm:

- Đêm nay có sang được không, đồng chí?

Người ngồi trong hầm vẫn cắm mặt xuống quyển sách:

- Cái này chúng tôi chưa trả lời được, đồng chí nhá.

Anh ta vẫn đọc. Khoảng năm bảy dòng gì đấy chắc không nỡ buông một câu lững lờ ấy, anh ngẩng mặt, hơi cười nhìn đám người đang sấn lại trước miệng hầm và ném vào anh ta, phía căn hầm ẩm những cái nhìn bực bội.

- Cứ như mọi tối, xe các đồng chí có thể qua được, đề phòng tình huống là bom lại liên tiếp trúng tim đường, trúng phà như cách đây năm đêm thì có thể chậm lại. Tối các đồng chí cứ cho xe tiếp cận trạm theo đúng thứ tự đã đăng ký. Chúng tôi ở đây cốt phục vụ để các đồng chí thông suốt. Các đồng chí trắc trở thì chúng tôi sung sướng nỗi gì.

Nghe cái giọng khu Ba ấy sao lúc này lại dễ thương thế. Lập tức bốn năm giọng khác vỗ về, vờn rỡn quanh người gác trạm:

- Thế mới đỡ “căng cáp” đấy “đồng hương” ạ.

- Phải nói, bọn tôi đi đã nhiều, chưa đâu ác liệt và khổ bằng các “đồng hương” chốt ở phà Rồng này.

- Các “đồng hương” cứ chắc phà, chắc đến như mọi khi là cánh lái chúng tôi an tâm đấy.

Anh chàng ở trạm giao thông đỏ bừng mặt, dù đó là những lời phỉnh nịnh bông lơn, anh vẫn ngượng ngùng sung sướng. Giọng anh ta bỗng nghẹn hẳn:

- Vâng, các anh thông cảm, bọn tôi có nhiều khuyết điểm. Anh nào có thuốc lào cho tôi xin một điếu.

Thế là những chàng trai trẻ phía ngoài chui tọt vào căn hầm chật ẩm, ồ ạt hòa với nhau quanh chiếc điếu cày và những anh lái xe vốn tính hào phóng ném vào đầu giường “đồng hương” những phong thuốc lào “Thống nhất” mới vê một vài điếu.

Chính ủy vẫn đi quanh quẩn ở riềm cỏ cạnh mép đường nhựa. Ông rút chiếc đồng hồ có ô lịch từ túi áo ngực đứng nhìn nó đăm đăm. Mười bốn tháng Tám rồi. Đáng nhẽ ngày hôm nay đã họp đảng ủy binh trạm, đã lập xong chân hàng ở phía bắc ngầm Ông Thao, thế mà vẫn tắc nghẽn ở đây. Hai chiến sĩ của ông đứng cạnh hầm cũng hào hứng bởi niềm vui phóng khoáng quanh mình, nhưng nỗi mong đợi lớn quá, lấn át niềm hy vọng phấp phỏng khiến cả hai, không ai góp một tiếng cười trong vòng khói um ấy.

Chính ủy đi gần lại nói với cả hai người:

- Nếu đêm nay vẫn chưa qua được có thể mình sẽ “cuốc bộ” sang trước xem có xe nào thì nhờ vậy, các cậu thấy thế nào?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:15:31 pm »

2


Thú đưa chính ủy sang sông từ sáng sớm. Lúc bấy giờ lửa vẫn cháy, cháy suốt đêm ở bến phà, cháy vào cả các làng giấu xe ở ven đường. Vũ và Thú thay nhau bám đường. Đến ba giờ sáng mới qua được bảy xe thì cháy ba. Bọn F4 và pháo ngoài biển canh ráo riết, cơ chừng này vài ba đêm nữa cũng không thể sang được bên kia. Chính ủy ngồi dựa ở vách hầm chống tay xuống hai bên sườn như chực nhổm dậy, nhưng chưa dứt ra được cái ý nghĩ đang làm cho khuôn mặt của ông lệch đi nên lại thôi. Năm lần Thú bấm đèn chui vào hầm, vẫn thấy chính ủy ngồi nguyên như thế, không hề nhúc nhích.

Nhưng đêm nay Thú không dám càu nhàu giục ông đi ngủ như mọi khi. Vũ vừa ở bến phà về, Thú bấm vào tay anh và chui ra khỏi hầm trước. Mấy ngày sống gần nhau hai người đã có thể gọi là đôi bạn thân. Vũ hăm bốn, Thú hai mươi tuổi, nhưng tính Vũ lại bông lơn giễu cợt nên cũng coi như còn trẻ, trẻ hơn Thú là khác. Thú ham làm. Vũ thích nghỉ ngơi, “lý luận”, tìm trong cuộc sống quanh mình những điều hài hước, châm biếm, bất cứ câu chuyện tẻ nhạt nào qua anh cũng trở nên hài hước. Đấy là điều quan trọng, mỗi người đều cần ở nhau sự bù đắp. Chẳng hạn Thú luôn sao nhãng những gì cần cho riêng mình, nhưng lại chăm chút cho người khác hết lòng, nhiều khi trịnh trọng một cách quá đáng. Còn Vũ, theo Thú thì đấy là con người hiểu biết đến tận cùng tất cả mọi chuyện ở đời này, đụng đến bất cứ cái gì anh cũng kể được khiến Thú cũng phải há mồm ra tuồng như những câu chuyện ấy rót thẳng vào miệng chứ không phải cậu nghe bằng tai. Ngay hôm đầu tiên cậu đã tuyên bố với Vũ: “Anh cứ kể chuyện đi, mọi việc tôi làm tất. Anh “lý thuyết”, tôi “thực hành”.

Vũ đến cạnh Thú. Phải im lặng chờ một lúc mới thấy cậu ta thì thầm:

- Tôi thấy việc này không thể coi thường được đâu.

Đã đoán biết điều cậu ta định nói nhưng Vũ vẫn tỏ ra quan trọng hỏi giọng thì thào:

- Gì thế?

- Thủ trưởng thức suốt đêm thế này căng thẳng quá. Không khéo ốm mất.

- Ừ, mình cũng thấy “ông cụ” hốc hác đi.

- Có phải như chúng mình mà nằm xuống một mình mình đâu. Đằng này thủ trưởng nằm xuống là kế hoạch của cả mùa mưa, cả mùa khô của binh trạm 120 hỏng hết, tuyến này đình trệ hết. Binh trạm “thép” có phải ai cũng xuống làm chính ủy được đâu.

Vũ suýt phì cười, nhưng nén lại được, anh gật đầu đồng tình:

- Ừ! Đúng quá

Thú nhích sát vào người anh, ghé mồm mình vào vành tai Vũ:

- Trên Bộ tư lệnh tín nhiệm thủ trưởng lắm đấy.

- Có biết, mình biết.

- Đợt này trên đưa thủ trưởng xuống đây không phải là thường đâu.

- Quan trọng chứ.

- Nên tôi bàn với anh, ta giải quyết thế này.

- Thế nào, nói đi!

- Tối qua thủ trưởng bảo sẽ sang sông một mình. Tôi thấy...

- Thì cậu định đi với “cụ” chứ gì?

- Vâng!

- Có thế cũng phải ngập ngừng.

- Anh thấy thế nào?

Vũ hơi ngửa mặt băn khoăn. Từ đầu câu chuyện đến giờ anh vẫn đùa cợt trêu Thú, đến chuyện này anh phải nghĩ ngợi thật sự. Thú hỏi:
- Để anh ở bên này một mình nhỡ có chuyện gì…

- Không phải “lo bò trắng răng” thế. Lính lái xe chúng tớ có bị quăng chìm xuống biển tớ cũng lập được một hợp tác ngư nghiệp ở đấy tớ sống. Lo là lo “cụ” không để cậu đi cùng vì sợ mình ở một mình. Thôi được, mình sẽ nói là: nếu thủ trưởng để cậu Thú bên này sẽ rất vướng cho tôi. Lính lái xe chúng tôi rất ghét có người ngồi bên cạnh, thủ trưởng thì không phải, mà phụ lái thì mù tịt. Nếu không, xin thủ trưởng ở lại đây chờ tôi đưa thủ trưởng qua, chứ thủ trưởng để tôi với cậu ấy ở đây cãi nhau vặt không chịu được đâu. Mấy hôm nay có thủ trưởng tôi nén nhiều, không có là đã vặc nhau rồi đấy. Cậu cứ yên trí, thể nào tớ cũng tìm cách để “cụ” đồng ý cho cậu đi theo. Cận vụ mà rời khỏi thủ trưởng thì làm sao gọi là cận vụ được. Đúng không? Thôi, không phải thì thầm gì nữa. Mặc tớ, cậu cứ chuẩn bị phương án qua sông đi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:17:30 pm »

*
*   *

Hai người vòng ra đến bến đò, trời đã hẩng sáng. Dòng sông đang bốc hơi mờ mờ như thở, còn cụm tre đầu xóm ven lợi nước vẫn đẫm sương, bóng nó ngả sẫm vào mặt sóng im lặng trông như một vết chàm. Ban ngày nắng. Chao ôi, nắng Quảng Bình, cái nắng khô rang của gió tây lúc nào cũng đùng đùng như cháy nhà. Suốt ngày ngồi trong buồng đóng kín cửa vẫn thấy sàn sạt cát ở miệng. Đêm đến, sức nóng vỡ ra từ bom, từ chùm chùm đại bác làm cho con người lúc nào cũng chực nhao lên, nhao ra khỏi cái vòm trời bụi bậm khô cháy. Chỉ những buổi sáng, mỗi làng xóm ven đường, ven sông như thế này mới được mươi lăm phút yên tĩnh để tỉnh lại, ngửa mặt uống lấy làn gió mơn man từ biển thổi vào, uống lấy làn không khí tinh khiết thấy ngọt ở cổ họng tưởng như cái gì đó có thể nhai ra, nuốt được, cứ muốn ngửa mặt hóp hớp mãi vào cổ họng, vào lòng mình những buổi sáng ở Quảng Bình.

Bến chỉ có một chiếc thuyền nhỏ, hai đầu nhọn như đầu đạn. Những cuộn dây điện thoại đen, xanh xếp ngăn nắp ở thuyền. Một lát sau, từ trong xóm ven sông, nói đúng hơn, từ một ngôi nhà lợp nửa ngói, nửa tranh, bốn mái loe như úp xuống mặt đất, có một cô gái mặc quân phục gọn, thanh thoát gánh tiếp dây ra thuyền. Mới gặp, dù khó tính là bao cũng muốn dùng dằng tìm cách bắt chuyện để có cớ được nhìn cô. Cô đặt gánh dây xuống và hỏi han tự nhiên:

- Thủ trưởng và đồng chí cũng sang sông chứ ạ.

- Vâng... ở... đây là thuyền bộ đội phải không, đồng chí? - Thú đỏ mặt, cậu dùng chữ “đồng chí” để tỏ ra mình cũng lớn rồi, nhưng cô ta hơi mỉm cười lắc đầu: “không”, cử chỉ đó muốn nói với Thú rằng: cậu chỉ đáng tuổi em tôi thôi. Thú hơi cúi nhìn lưót qua khuôn mặt của chị ta, có một cái gì làm cho Thú cảm thấy mình bị say gió, như ớn lạnh ở khắp người. Chị ta vừa xếp dây lên thuyền vừa giải thích:

- Thuyền của dân. Để bà con tranh thủ lao động, tôi mượn tự chở. Con gái khu Ba chèo thuyền có khó khăn lắm đâu. “Thôi đúng rồi, chị ta rồi” Thú định kêu: “Chị Thanh An”, nhưng cậu phải ghìm lại sự đột ngột này. Mãi đến khi ngồi trên thuyền Thú vẫn tự hỏi: “Tại sao, tại sao lại thế này?” Liệu có phải chị ta thật không? Chị ấy là diễn viên văn công của một thành phố. Cách đây đã bốn năm, khi Thú còn là một học sinh lớp Bảy, lần đầu tiên phố huyện được xem hát giao hưởng, hợp xướng. Từ hai ba giò chiều, người ở các xã cơm đùm, cơm mắm lũ lượt kéo nhau đi xem và suốt buổi chiều những anh trong ban trật tự với nét mặt hãnh diện xăng xái hò thét đến khản đặc cổ họng vẫn không rời chiếc mi-crô mà không tài nào dẹp được cái khối người khổng lồ từ mọi ngả ùn ùn kéo đến như nêm lại. Nhưng chỉ nghe vài ba bài hát, đám người xem cứ vỡ ra, tở dần ra. Thú “lai” mẹ đi xem được nửa chừng, bà theo đám người quay ra lẩm bẩm: Chỉ được cái nước phấn son, chứ hát xướng lộn xà, lộn xộn, người trước người sau, không bằng ở xóm nó hát. Ôi dào, kém xa, kém xa cái tích “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài” ngoài ngãi bồi họ diễn.

Nhờ được người đưa mẹ về và nhân lúc bãi xem vãn, Thú len lên sát sân khấu, thập thò dưới chân anh nhạc trưởng để xem chị thổi kèn. Cái kèn kiểu kèn đám ma, chỉ khác là miệng không loe và thân đắp bạc sần sùi trắng. Có lúc cả dàn nhạc im bặt để một mình chị thổi cho các cô gái múa. Chao ôi, cái kèn nhỏ mà sao tiếng nó lại bồi hồi mênh mang đến thế. Tiếng nó rộng như cánh đồng làng Thú, cánh đồng mỗi buổi chiều sương xuống mờ trắng trên các mái nhà, mờ trắng cả lũy tre quanh làng, chỉ còn hơi khói nồng nồng thơm, cái mùi thơm rất ấm của khói bếp, của những đống cỏ gấu, cỏ gà cháy dở và tiếng chuông nhà thờ làng Trung Kết luồn dưới lớp sương ẩm ướt đến chỗ Thú thường cột thừng con trâu sứt ở gốc tre cụt. Hai mắt Thú lim dim như mê man trong tiếng kèn rào rạt lúc sương suống. Mãi khi tiếng trống, tiếng kèn đồng ầm ầm rung lên, cậu mói như tỉnh ra. Buổi diễn hết, nhân lúc lộn xộn, Thú đánh liều xán lại hỏi:

- Cái này gọi là kèn gì hả chị?

Cũng đôi mắt tươi cười, thông minh như bây giờ, cũng cái gật đầu trìu mến như bây giờ, chị trả lời Thú như dỗ dành một đứa em:

- Cái này gọi là ô-boa.

Thú tần ngần đưa bàn tay sờ khắp lượt cái kèn, hỏi:

- Sao lại gọi là ô-boa ạ?

Chị hơi mỉm cười, hai mắt nhắm lại một chút, giọng vẫn sẽ sàng:

- Biết nói thế nào để em hiểu nhỉ? Người ta đặt cho nó một cái tên như: ghi-ta, an-tô chẳng hạn. À thế này: Ô-boa của tiếng Pháp nó cũng đại loại như cái sáo của nước mình, tức là về một loại sáo đấy mà. Có hiểu không?

Dù không biết đầu đũa ra sao, Thú cũng trả lời: “Em hiểu rồi”.

Lúc này chính ủy vẫn ngồi theo hướng mũi thuyền đi, lặng lẽ theo đuổi công việc gì đó. Thú ngồi phía dưới ngẩn ngơ chắp nối những dòng kỷ niệm. Cô gái đứng trên tấm ván ở đuôi thuyền, chân trái bước lên, người hơi nhô về phía trước, hai tay bẩy chèo nhẹ nhàng. Chốc chốc, cô lại đưa tay gạt những sợi tóc xòa xuống má, để lộ ra đôi mắt to, vẫn đôi mắt thông minh và cái nhìn lúc nào cũng như đang cười.

Ngày ấy chị đã có đứa con gái do bà mẹ đẻ đi theo bế cháu kia mà? Người ta bảo, anh nhạc trưởng chính là chồng chị. Tại sao chị ấy lại đi làm lính đường dây ở đây nhỉ? Hay là em gái chị ta. Có thể lắm. Chị ấy năm nay phải đến hăm lăm hăm sáu còn gì. Chị này mới khoảng hăm mốt, còn gọn ghẽ trẻ trung lắm. Thú hơi quay lại ngước nhìn lên. Cậu bỗng chột dạ bắt gặp hai đuôi mắt của chị ta hơi nheo lại như đang cười. Cậu không kìm giữ được nữa liền từ từ quay hẳn người lại.

- Đồng chí ở đơn vị nào?

Chị ta nhìn thẳng vào mắt Thú, vẫn cái nhìn như cười và nói: “Cậu cứ cố làm ra vẻ mình là người lớn đấy phải không”? Chị nhìn lên phía trước, nói với vẻ mặt cố làm ra tỉnh lạnh:

- Về nguyên tắc mà lộ bí mật quân sự là sai. Nhưng nhìn đồng chí tôi chắc là cũng chân thật. Nói nhé: tôi ở tổng đài ba nghìn, ở tuyến trong ra đây công tác.

- À, ba nghìn ạ.

- Ừ, có quen ai ở đấy không?

- Không, nhưng thỉnh thoảng vẫn gọi xin ba nghìn. Chị về đây lâu chưa?

- Cũng mới thôi.

- Xin lỗi chị, tôi hỏi cái này nhá.

Chị gật đầu.

- Có phải chị là Thanh An, trước ở văn công không ạ?

Chị hơi chau mặt lại, nhưng lại gật đầu như thói quen.

- Tôi là Thanh An, sao đồng chí lại biết?

- Chị có nhớ lần nào về Khoái Châu, Hải Hưng biểu diễn không?

- Có!

- Chị có nhớ lần ấy cậu bé hỏi chị về kèn ô-boa, rồi sau đó chạy đi gọi bác sĩ cấp cứu cháu bị cảm không?

Thanh An nhìn trừng trừng vào Thú, nhìn mãi rồi nước mắt từ từ dâng lên. Chị reo khẽ:

- Có. Có nhớ. Tôi nhớ ra rồi. Thì ra đồng chí đấy ư? Đúng rồi, trời ơi, tôi nhớ ra rồi. Thế bây giờ ở đâu?

Chị cũng mừng rỡ không kém Thú. Suýt nữa chị chạy xuống khoang. Chợt nhìn về phía mũi thuyền, chị ghìm giọng nói nhỏ lại để chính ủy đang mải mê nghĩ ngợi chuyện gì đó, không biết có một cuộc gặp gỡ bất ngờ của hai người.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:21:59 pm »

3

Cha Vũ là một ông giáo người trắng nhỏ, giọng nói cũng nhỏ nhẹ như phụ nữ. Ông thường mặc chiếc quần xanh rộng thùng thình, chiếc áo sơ-mi màu cỏ bao giờ cũng cho vào trong quần một cách trịnh trọng. Sáng sáng, ông đội chiếc mũ lá, cắp cặp da nâu đi trên con đường rải đá dăm sang phía bên kia và đi dưới những cây dừa, cây nhãn cạnh những chiếc ghế đá đầy bã mía và vỏ chuối. Đi vòng quanh cái hồ mà người thị xã hãnh diện gọi là “Hồ hạnh phúc”, rồi mới đến trường. Dù sớm hay muộn, no hay đói, cả lúc đi và về ông cũng đều ung dung tươi tỉnh, về nhà, ông bỏ mũ, sửa sang lại quần áo, rồi nằm đọc sách và lắng nghe người vợ sai vặt “Cậu mày rửa rau cho em chưa?”. Ông từ tốn đặt quyển sách ngay ngắn trên mặt tủ đi xuống bếp. Rửa rau xong, ông lên nhà cầm sách đọc. Có khi đang tìm chỗ đọc tiếp lại nghe: “Cậu mày lấy cho em ít nước mắm nhá”. Ông đặt sách ngay ngắn ở chỗ cũ, vào buồng tìm trong đống chai lọ lục cục để lấy ra thứ bà vợ cần. Ngoài ra, ông còn hai thú vui không mệt mỏi là tối nào cũng làm ngựa, làm trâu, làm voi cho những đứa trẻ cưỡi đi cày, đi chơi, đi đánh giặc Mỹ xâm lược. “Lên rừng, xuống biển” chán rồi, nó lại bắt ông làm con mèo, con chim, làm gà gáy, làm chuột chí để chúng cười như nắc nẻ. Đến khi đứa trên lưng ông, đứa gối vào lòng, đứa nằm một nửa người trên giường, nửa thõng xuống dưới ngáy khò khè tứ phía mới coi như kết thúc trò chơi. Nhưng nếu tối thứ bảy đứa em gái lớn của Vũ học ở Đại học Sư phạm về, ăn cơm xong thể nào bà mẹ cũng gợi ý: “Bảo cậu mày hát đi”. Thế là con bé lại nũng nịu: “Cậu ơi, cậu hát bài “Bao chiến sĩ anh hùng đi” - “Ừ, cậu hát vậy” - Ông hắng giọng cất lên cái tiếng khê đắng ở cổ làm hai mẹ con bà giáo giãy lên đành đạch vừa lau nước mắt vừa gào: “Thôi, thôi”. Nhưng không, nét mặt ông vẫn trịnh trọng hát cho đến hết mới thôi. Còn nguồn vui thứ hai, bây giờ chỉ còn là nỗi thèm khát, ước muốn trong ông. Đấy là cái thú chơi hoa phong lan. Nhưng phải là loại tai châu, còn các loại khác đẹp bằng mấy ông cũng dửng dưng. Ông thèm ngắm phong lan tai châu đến nỗi một lần nghe nói có lan tai châu ở một nhà cách mười lăm cây số, ông cũng lần mò đến xem bằng được và khi trở về cứ ngẩn ngơ như người mất cắp, ba bốn ngày sau vẫn còn nuối tiếc.

Vũ là con thứ hai, nhưng về trai anh lớn nhất. Với một người cha như thế anh có thể làm theo ý mình một cách tùy thích. Năm 1965, anh tốt nghiệp trường sư phạm “mười cộng một”. Chán nghề dạy học, anh bỏ về phải bồi thường tiền ăn học. Cuối năm ấy anh thi Bách khoa. Không hiểu sao lại gọi đi học nghề rừng. Được hai năm, nhà trường đưa đi Mộc Châu thực tập. Bà mẹ kêu khóc không cho đến nơi “rừng thiêng, nước độc”. Lần này, anh phải ra tòa để bồi thường cho nhà trường sáu trăm ba nhăm đồng. Anh đi lang thang viết truyện ngắn và làm thơ. Có ông anh họ làm biên tập ở một tờ báo dẫn anh đến giới thiệu với một nhà văn già đang viết tiểu thuyết lịch sử ở vùng quê hương mình. Anh đi theo nhà văn ấy bốn tháng bằng cách đến gần quê ông kéo xe bò chở cát thuê, đến tối ngồi viết truyện và xin ý nhà văn. Đã viết hàng chục truyện, anh mới đánh liều đến đọc cho nhà văn nghe. Đọc xong, anh hỏi: “Bác xem tạng cháu có viết văn được không ạ?” Nhà văn lấy hai ngón tay kẹp vào chòm râu vuốt vuốt và mủm mỉm cười. Ngồi mãi như thế, ông mới nói. Lúc ông nói bỗng khuôn mặt trở nên đau khổ, khó khăn như rút những chữ đó từ trong ruột ra: “Tôi, tôi rất lạ lùng. Tôi, tôi không hiểu tại sao cậu lấy cái sự văn chương làm nghề. Cái nghề này có nghiêm túc lắm, mà cậu lại viết lông bông, đây là sự lông bông không có mảy may một tí chứng cớ nào để bảo cậu dùng cái... cái mớ chữ, cái đống chữ, cái đụn chữ, cái vựa chữ, cái... cái đồ tầm bậy này sinh sống được”. Cậu nghe xong, lau mồ hôi rồi vội vàng bỏ về quê ngay đêm đó, không kịp lấy mười hai đồng tiền những chuyến xe bò chở cát thuê trong ngày, về nhà đã thấy mẹ và em gái lớn đang sụt sùi khóc về sự lang bạt của anh. Riêng bố, vẫn ngồi trịnh trọng đọc sách và rót nước mời anh uống. Sáng hôm sau, anh gói quần áo chào bố mẹ ra đi. Bà mẹ níu tay anh lại hỏi: “Mày định đi đâu nữa hở con, Vũ?”. “Con đi bộ đội”. Nước mắt rưng rưng, Anh nhìn mẹ: “Con sẽ làm lại từ đầu, mẹ ạ”. Mẹ hết nỗi hốt hoảng, nhưng phải cắn răng nén tiếng khóc mấy lần mới nói được: “Mẹ mừng vì con đã nghĩ ra. Con đi như thế có nơi rèn đúc, mẹ chỉ sợ bom đạn nó ác liệt, mới lại chỗ kỷ luật sắt của người ta con không chịu nổi”.

Bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, hờn, tủi đều được khơi dậy lắp vào những ngày giờ nhàn rỗi, ngóng đợi qua núi, qua phà. Ba năm rồi ngang dọc khắp tuyến đường Trường Sơn đã biết bao nhiêu lần chờ đợi. Lâu dần thành quen. Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, giống như ta kiểm điểm đánh giá lại mình. Đêm nay, anh lại trở về rừng sau mười ba ngày đêm nằm chờ phà Rồng. Kỳ này hẳn binh trạm trưởng “thả” cho. Nếu không, anh sẽ nghĩ cách tranh thủ chính ủy “viện trợ”. Bằng cách nào anh cũng về với anh em, về với anh Trường. Chắc anh ấy mong lắm rồi đấy. Có mình, anh ấy cũng vui. Về thôi, ở cơ quan chóng già người mà không thích hợp với mình tí nào.

Chuyến phà thứ ba cập bến. Xe Vũ xuống sau cùng. Cách mép nước chừng mười mét, bỗng dưng thấy một vùng tối đặc; không còn nhận ra tim đường. Anh nháy pha. Lập tức hàng loạt tiếng gào thét, nhiếc mắng. Anh vội vàng tắt đèn và cho xe trôi từ từ theo tay cô gái làm hiệu. Xuống lòng phà, xe phanh chững, anh chưa kịp nhao người qua khung cửa đã nghe tiếng quát nhọn như cái đinh đóng vào tai:

- Sao ngu thế, có biết đây là đâu không?

Vũ giật bắn người. Mải chữa khóa điện, nếu không tay anh sẽ vung ra theo một bản năng tự vệ và cái đà ấy nắm tay sẽ vung vào mặt cô gái. Chính cô quát xong mới sực nhớ ra mình đã quá lời! Hai tay cô bíu vào thành cửa để đu người lên, vội vàng buông ra, nhảy xuống sàn phà, đứng nhìn anh chờ một phản ứng. Vũ lặng lẽ mở cửa. Cô gái từ từ lùi ra. Anh đi tới. Cô bước, giật lùi. Nhịp chân hai người đều dè dặt, thận trọng như nhau. Khi cô đang chọn tư thế để chống trả sự phũ phàng của anh lái xe, thì qua ánh đèn dù sắp tắt anh thoáng thấy cô bé trẻ và đẹp quá, anh không đủ sức để bực bội nữa. Anh tiến gần sát người cô. Cô bé chống một tay xuống thành phà, tay kia thu thu trong lòng. Vũ nói rất nhẹ như hai người yêu nhau đang thì thầm:

- Lúc nãy bật pha là anh có khuyết điểm. Nhưng em nóng quá đấy.

Nói xong miệng anh hơi cười nhìn chằm chằm vào mặt cô gái. Hai vành môi cô vênh lên, mắt lườòm anh qua một khoảng tối mờ mờ, rồi quay đi.

Tại sao trông vành môi dày và khuôn mặt ấy quen quá. Vũ đi dấn lên:

- Tôi hỏi nhá, có phải cô là con thủ trưởng Văn không?

- Văn nào?

- Nguyễn Quang Văn, thủ trưởng đi xe tôi.

Cô gái vẫn quay đi, buông một câu lạnh nhạt:

- Không!

Dù mồm mép bạo dạn, xô bồ bao nhiêu, lúc này anh cũng cảm thấy mình có phần hấp tấp. Ngẩn ngơ một lúc, anh thấy tiêng tiếc, vẫn có cái gì đó còn nghi ngờ muốn dò hỏi thêm. Cô gái đã len lên trên chiếc xe đầu tiên, chuẩn bị cho phà cập bến.

Khi xe lên ngang chỗ cô đứng, Vũ quay mật ra chào:

- Anh đi nhá. - Nói xong, anh nhấn ga, xe rú máy chồm lên.

Cô gái hỏi với:

- Khi nào anh lại quay ra đây?

Tiếng nói của cô chìm sau tiếng máy, anh nghe không rõ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:27:00 pm »

Chương Hai

1

Lúc ấy vào khoảng ba giờ chiều, binh trạm trưởng từ chỉ huy tiền phương báo cho chính ủy Quang Văn biết: “Đài Hà Nội vừa đưa tin sáng nay cơn bão số năm đổ bộ vào đất liền từ Quảng Bình đến Đà Nẵng”.

Trưa nay chính ủy để đài cho cậu Thú nghe và ông cũng chưa nhận được thông báo của Bộ tư lệnh.

- Theo kinh nghiệm của anh ở đây lâu thì, tác động của bão đối với khu vực binh trạm ta như thế nào?

- Anh Quang Văn đâu? Thế này anh à: Như anh đã biết bão tiến triển trong vùng biển Đông dù tới địa phận nước ta hay không thì cả hai phía Đông và Tây Trường Sơn đều bị chịu ảnh hưởng lớn. Vùng liên hoàn trọng điểm của chúng ta ở phía tây cách khá xa biển, nhưng cũng sẽ mưa lớn, gây ra lụt, anh à.

- Tình hình hàng qua trọng điểm đêm mới rồi thế nào, anh?

- Mới lập xong chân hàng ở ngầm Ông Thao như kế hoạch. “Thằng” xê ba vượt qua an toàn, còn “thằng” xê hai, hai đêm nay bị nó chặn và trơn lầy không co kéo được, ỳ ạch mãi chưa qua, tui ngán lắm rồi.

- Thằng xê ba khá đấy, anh động viên nó phát huy. Tôi cho bên chính trị làm thông báo biểu dương.

- Thông báo chi anh! Thằng Trường rất bậy, nó “phản ứng” tui, nếu không chừ tui có trăm xe qua rồi. Tui hết muốn mần việc với nó.

- Sao? Lại chuyện gì nữa? Cậu ấy làm hỏng kế hoạch à? Anh trao đổi xem nào.

- Để sáng mai tui về. Chừ anh chờ tui xem thằng xê hai có cách nào qua được không?

Chính ủy đặt ống nói xuống. Những âm thanh ầm ầm vang lên ở tứ phía, nghe dữ dội nhưng phải đến ba bốn phút sau mới thấy mưa. Cả khối nước đổ xuống ầm ầm, nhìn ra cửa lán chỉ thấy một màu trắng tưởng không còn cây rừng nữa và trong chốc lát, con suối dưới chân đồi phồng lên sôi sục trông nó như bị cắt ra từng khúc ném đi cuồn cuộn, gân guốc. Chỉ những chỗ mỏm núi đầu thác tóe ra những tia nước trắng lởm chởm còn cả con suối sục lên màu đỏ ối của đất sườn đồi. Chính ủy vẫn nhìn ra cửa lán, hai mắt ông như nhòa đi, tất cả mọi dự định nghiêm túc của binh trạm đều hỏng rồi sao? Hàng mấy ngàn con người đang mở đường khẩn cấp sẽ chết đói hay sao? Bên tai ông chỉ còn nghe tiếng rì rào, ù ù, rồi ình ình rung chuyển giống như những tràng bom B.52 vỡ ra từ lòng đất. Đến chập tối, tất cả những nhà thùng của binh trạm bị ngập nước từ một mét trở lên. Võng của chính ủy và Thú treo cạnh nhau trên xà nhà. Chiếc máy điện thoại trong lòng võng của ông réo chuông liên hồi và ông quát lên, dằn từng tiếng tưởng đến đứt võng mà vẫn có khi phải nhắc bảy tám lần một câu nói. Thú đề nghị chuyển máy sang võng mình để truyền lệnh, nhận báo cáo thay ông, nhưng chính ủy không nghe. Cậu nằm lặng đi, tiếng mưa, tiếng suối ầm ầm chuyển động làm cậu thổn thức. Phần lo chính ủy vất vả, phần lo bố mẹ xoay xở thế nào trong đêm mưa bão này. Liệu bố có chằng dây xung quanh và buộc liếp lại cho mẹ, hay lại dỗi bỏ sang nhà khác. Những năm ở nhà, Thú cùng mẹ chằng néo chống đỡ, mỗi cơn bão giật xong, cậu cởi trần lao xuống bếp, ra chuồng gà, chuồng bò xem có gẫy đổ cái gì không. Những tầu chuối trong vườn gãy tướp và những cây có buồng gãy ngang chừng gục xuống ngổn ngang ở lối ra cổng sau, phải dọn hàng ngày mới quang lối. Còn rặng tre ở trước cửa thì xác xơ, lá xanh rụng láp ráp đầy sân và những đọt măng gãy ra từng khúc vàng lổ đổ khắp nơi bọn trẻ nhặt về tha hồ thái kho tép. Ngày mai, ngày kia bão tan, nếu ở nhà nhất định vác nơm ra đồng cùng bọn trẻ choai choai bâu kín lại ở những cống chụp, vồ cá từ trong các ao tràn ra, hoặc men theo bờ những ruộng lúa chỉ còn loáng thoáng những ngọn phất phơ để đơm cá đàn. Những ngày bé, thấy trò ấy thích, nhớn lên nhìn cảnh ruộng lúa đang ngập lụt đổ gãy quấn quýt vào nhau nghe xót ruột không sao yên được. Mưa bão quê mình lần nào cũng thấy phũ phàng làm đổ gẫy giập nát. Còn ở đây khác. Hình như mưa bão là những cái ống tuôn nước ở trên trời xuống, chứ cây cối không hề suy suyển gì. Có lẽ, vì mưa bão nhiều quá, cây nào gẫy đã gẫy rồi. Những cây còn lại phần vì dày đặc chen chúc tựa vào nhau, phần khác nó quen chịu đập phá, mỗi năm lại chắc thêm ra một ít, nên đài báo bão đến cấp mười hai, mười ba, cây cối vẫn đứng y nguyên. Bão qua, vẫn thấy rừng tươi tĩnh, sạch sẽ và lúc nắng trông óng ánh, nắng rừng là thứ nắng xanh, xanh chứ không như nắng vàng ở quê. Thú nghĩ ngợi miên man, ngủ lúc nào cậu không để ý. Lúc tỉnh mắt ra, nghe thủ trưởng gọi tên Trường như quát lên bực bội. Quát mãi cũng vẫn không bắt được liên lạc. Ông ngả mình xuống võng trút một hơi thở dài. Đợi ông nằm một lúc lâu, Thú mới hỏi:

- Có phải anh Trường ngày trước thủ trưởng kể với tôi không thủ trưởng?

- Trường ấy đấy. Nhưng... - Ông định nói gì đó nhưng lại thôi. Nhổm dậy quay máy và ông lại gào lên trong tiếng mưa vẫn ầm ã đầy rừng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:28:40 pm »

*
*   *

Buổi sáng trời vẫn mưa như dốc nước từ ống ra. Nhà giao ban nước rút nhanh hơn cả, nhưng vẫn ngập trên đầu gối. Đó là một ngôi nhà giống như tất cả mọi ngôi nhà khác dọc Trường Sơn trong những năm này. Trên mái và xung quanh lợp tạm bằng giấy dầu hoặc ni-lông xé ở các bì đã ăn hết gạo. Nhà sang trọng lợp bằng lá cọ, lá mây, xung quanh thưng gỗ và nện đất sỏi dày hàng nửa thước. Dù công phu hay xuềnh xoàng, các ngôi nhà đều nằm chìm trong lòng đất, phần vách phía trên là những ô cửa sổ và những chiếc “buồng” con khoét vào vách đất buông tấm ni-lông phía ngoài. Những “buồng” đó chứa đựng toàn bộ gia tài của mỗi người lính trong gian lán. Nhà nào cũng có cửa ra vào bằng một hào sâu lút đầu người hoặc hai căn hầm kiểu chữ A nối từ lòng nhà ra ngoài. Một kiểu nhà khác nằm chìm vào lòng đất. Phía mái bằng ấy họ gọi là “sân thượng”, lính ta có thể ngồi hóng mát, pha cà-phê vào những buổi chiều yên tĩnh ở trên “sân thượng” ấy. Ngôi nhà giao ban của binh trạm thuộc “sân thượng” nhưng nó ở gần đỉnh núi, nước rút nhanh hơn. Các sĩ quan đến giao ban phần lớn mặc quần đùi, đi ủng và choàng xắc-cốt qua người. Vào đến cửa, họ tìm chỗ treo mũ, áo mưa, rồi lần lần bước lên những tấm gỗ đóng trên hai đầu cọc mọi khi vẫn làm bàn viết. Tất cả đều đứng hoặc ngồi thu lu ở mặt bàn. Đến khi chính ủy và binh trạm trưởng vào - cả hai cùng lội thùng nhà ngập nước chấm thắt lưng tiến sát tấm bản đồ phủ kín một đầu hồi - không ai bảo ai, các trợ lý đều từ từ thả chân xuống nước mặc dù, chính ủy khuyên: “Các cậu cứ ngồi trên ấy, chúng mình đã ướt sẵn. Không tội gì lại đi ngâm mình thế này”. Nước trong thùng nhà bị khuấy ngầu lên sủi xèo xèo, dần dần lắng im và rút để lại những ngấn vàng cạch ở ngang người. Với công việc đã thành lệ, không đợi ai nhắc, anh sĩ quan tác chiến dù tuổi dưới ba mươi nhưng nét mặt đã nghiêm chỉnh, có vẻ lạnh lùng, đứng dậy đọc luôn những con số đã ghi chính xác theo thứ tự ở sổ tay, không cần nói mở đầu:

- Về địch: trong ngày hôm qua số vụ đánh phá miền Bắc có giảm. Lý do: trời bão. Tổng số phi vụ 85 lần chiếc. Hoạt động chủ yếu ở các nơi: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Thái, Hải Hưng, Lào Cai, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh. Riêng Hải Phòng chúng đánh vào một chợ sơ tán làm chết bảy người, bị thương hai mươi lăm người.

Chính ủy dừng bút, bỏ kính hỏi:

- Chợ nào?

- Báo cáo không rõ! - Anh ta băn khoăn vì sực nhớ ra quê chính ủy ở đấy mà anh quên không hỏi tên chợ bị oanh tạc.

Chính ủy giục:

- Thôi, tiếp đi.

- Về địch ở các “bê”, Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan và khu vực Thái Bình Dương nói chung như ngày hôm qua, không có hoạt động gì thay đổi lớn. Riêng ở Lào, chúng đang tập trung quân ở quân khu Ba tại Khăm Muội, Xa-va-na-khẹt khoảng tám mươi tiểu đoàn. Chưa rõ hướng hoạt động. Phán đoán: chúng sẽ nống ra các trục đường ngăn chặn việc tiếp vận của Quân giải phóng Lào. Địch trên tuyến ta như ngày hôm kia. Địch thuộc binh trạm - anh liếc mắt nhìn. Mọi người vẫn cúi ghi mải miết. Anh trực ban đọc chậm lại: - địch trinh sát khu vực binh trạm: 27 lần chiếc gồm có: 5 OV10, 3 F2B, 17 RF4. So với ngày hôm kia giảm bớt 25 lần chiếc. Lý do: Chúng biết bão lụt nước các ngầm lên to ta chưa có biện pháp khắc phục. Riêng B.52 tăng mười hai lần phi vụ tại các điểm: lúc 07h15’ chín B.52 đánh ngầm Cô Kiều. 9h05 đánh ngầm Tào Lao, số lượng hai tốp. 11h25' cũng có hai tốp đánh ngầm Ông Thao. 13h15’ hai tốp đánh cao điểm Cô Hà. 17h45, một tốp đánh xuống ngầm Cà-Phê. Đặc biệt là pháo sáng, OV10 và thằng F4 “canh” suốt đêm ở đỉnh Phù Lã.

- Nước! Tình hình nước xem nào?

Hết phần trực ban tác chiến, chính ủy quay sang phía trực ban công binh. Đó là một sĩ quan to, nặng nề, giọng ồm ồm. Anh ta cho biết đến 06 giờ sáng nay hầu hết các ngầm đều trên tám mét, lưu tốc mạnh, các phà cấp cứu đều bị nước đánh vỡ hoặc trôi đi. Hai ngầm Ông Thao và Lương Khô lên tới trên mười ba mét. Tóm lại, không phương tiện nào qua các ngầm được. Phương hướng khắc phục: trên mới bổ sung cho một tiểu đoàn thanh niên xung phong chiều nay sẽ đến. Tiểu đoàn này cùng với tiểu đoàn hai công binh của binh trạm củng cố mặt đường chờ nước rút.

- Anh quên mùa mưa ở phía tây đến tháng Mười Hai kia à? Mà chờ đến bao giờ nước các ngầm mói xuống mét hai trong mùa mưa này? Ảo tưởng. Anh xem có biện pháp gì nữa không?

Anh sĩ quan công binh đứng ngây ra bởi không thể có cách nào khác nữa. Ai ngờ đâu lại cả một trung đoàn mở đường đột xuất vào mùa mưa như thế này. Không khí trong gian nhà hầm ắng hẳn đi. Ngoài trời mưa vẫn ào ào và những con suối đang vật vã.

- Vận chuyển thôi. Thôi, không phải báo cáo nữa anh ạ. - Chính ủy nói rồi quay sang binh trạm trưởng. - Ở “tiền phương” có gì khác không anh?

Từ lúc vào, binh trạm trưởng vẫn nhìn cắm vào tấm bản đồ, lúc này khuôn mặt gầy xám trông màu da rắn như màu cây gụ mới ngẩng lên nói, nhưng hình như không ăn nhập câu hỏi vào chính ủy:

- “Thằng” xê Ba hôm qua nằm bên này Phù Lã rồi. Cha, thằng Trường hại tui, anh à.

Cả gian hầm lênh láng nước không hề có một gợn sóng. Biết mình than vãn không đúng lúc, anh quay sang phía chính ủy nói nhỏ giọng đầy vẻ lo lắng và xúc động:

- Trước lúc về đây tui gặp cậu trợ lý trung đoàn 60. Bên ấy ăn xuống lạng rưỡi một ngày từ hai hôm nay rồi, anh à.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:33:04 pm »

2

Khi chỉ còn lại hai người trong nhà giao ban, đáng lẽ chính ủy sẽ hỏi cậu Trường: “Có chuyện gì thế, anh?” Điều này ông đã nghĩ từ tối hôm qua, khi binh trạm trưởng gọi điện cho ông. Nhưng ông lại hỏi:

- Anh định sử dụng các đơn vị xe như thế nào?

- Gùi hết, anh à. Hiện tại cả liên hoàn trọng điểm của ta hai mươi lăm ki-lô-mét đều bị thằng địch bám riết. Hơn nữa mưa lầy lội xe đi cả đêm không đầy ba cây số, tôi cho chuẩn bị gùi cả.

- Nếu không bị đánh sạt ta-luy âm ở đỉnh Phù Lã thì “thằng” xê Ba nó đi được đấy chứ.

- Mấy hôm rồi, chừ thì hết nói giỏi. Nhưng căn bản thằng cha Trường ngang, nó làm mất thời cơ, anh à. Chà, hồi mới bổ sung về, tui thấy có triển vọng, hết sức bồi dưỡng, không ngờ thằng cha bảo thủ, ngang. Nó làm hỏng cái xê ba của tui mất thôi.

- Hiện tại, các kế hoạch cung chuyến của nó vẫn tốt, phải không?

- Cũng nhờ có thằng cha Tuy, thằng ni linh hoạt, tổ chức khéo.

- Quốc Tuy, họa sĩ, phải không?

- Đó. Thằng cha họa thiệt tài. Kỳ này tui định báo các anh cho thằng cha ni mần chính trị viên, khả năng lắm.

“Ừ, khó hiểu đây! Vừa mới chiều qua ban cán bộ đề nghị ông cho chuyển cậu Tuy về làm đại đội phó, vì làm chính trị phó không thích hợp, bây giờ anh Lan lại có ý định đưa lên làm chính vị viên trưởng. Còn cậu Trường, con người ông hết sức tôn trọng, thương và khuyến khích những suy nghĩ của cậu ta, thì anh ấy lại bực bội nhiều chuyện”. Ông như sực tỉnh hỏi binh trạm trưởng:

- Hồi ấy anh chưa gặp cậu Trường nhỉ?

- Chưa ạ!

- Cậu ta là quân khí của tiểu đoàn bộ, - ông toan nói thêm: chính hôm anh làm lộ bí mật, bọn thám báo quây bắt anh, cậu ta đã nổ súng, sau đó lại nhận kỷ luật vì đã làm lộ đường hành quân đấy. Nhưng ông nhớ là Lan không biết chuyện đó.

- Hồi ấy qua Ho đến cây số ba thì anh bị thương phải về tuyến sau điều trị, không nhớ cậu ta. Lính gùi thồ đầu tiên của tiểu đoàn mình đấy.

- Tui có nghe nói, nhưng thằng cha hồi ni biến chất ra răng, khó chịu quá chừng.

- Tôi chưa gặp lại. Tính cậu ấy nó vẫn bướng và thẳng, ngày xưa tôi rất quý nó.

- Chừ khác xa rồi, anh à. Các ban nó kêu quá.

Chắc rằng cậu ta có chuyện gì làm phật lòng, chứ anh ấy có thù ghét, bực bội ai được lâu bao giờ.

- Anh xem việc bố trí có chi thay đổi không?

- Như đã bàn, bằng mọi giá đưa được hàng cấp cứu qua trọng điểm, anh đã bố trí cho đi gùi cả, cứ tiến hành, ta vừa làm vừa rút kinh nghiệm xem cụ thể ra sao đã, anh ạ.

- Tui cùng nghĩ rứa.

*
*    *

Buổi ấy, hai người ngồi riêng với nhau lâu nhất kể từ hôm chính ủy về binh trạm. Sau công việc chất chưởng phải nghĩ, đến những lúc như thế này, cả bốn con mắt đều dại đi mà vẫn chưa thể gọi là vợi nhẹ. Chà, thằng Trình Nhật nhà anh nó khá quá hè. Học nước ngoài giỏi như thế đâu có phải dễ. Binh trạm trưởng nghĩ thèm khát cái hạnh phúc của cậu con trai chính ủy, nhưng chính ủy lại đang tủi hổ vì nó, thất vọng vì nó đã vác được cái bằng phó tiến sĩ và máy khâu, đĩa hát về nước. Vì thế, ông càng thương, càng đau nỗi thương đau của binh trạm trưởng. “Chà, hỏi thằng Hùng chi anh, tui có biết mạ con nó sống chết ra răng”. Anh ấy nói, rồi rơm rớm nước mắt y hệt mười năm trước đây, cái ngày anh trung đội trưởng của đại đội hai bộc toạc hễ gặp được ông, hồi ấy là chính trị viên tiểu đoàn là than vãn, sụt sùi vì thương vợ nhớ con.
 
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4374



« Trả lời #9 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2014, 04:35:11 pm »

*
*          *

Giữa vùng cát trắng và những bãi cỏ tranh khô quánh như sắp bốc lửa nổi lên vòm cây cao cổ thụ um tùm xanh, đó là vùng chiến khu Cùa quê anh. Ra đi vào buổi sáng, đến sông Cam Lộ đang mùa nước lũ, anh bó quần áo bơi qua, theo bộ đội hoạt động ở Hướng Hóa, Lao Bảo. Suốt bốn năm trời, anh chỉ biết tin mẹ qua thư của người con gái ấy. Có ai giữ một lá thư hàng chục năm? Nhưng anh, anh cất lá thư đầu tiên ấy ở túi áo ngực, đã bao nhiêu chiếc áo quân phục bạc rách mà bức thư vẫn còn lành nằm trong tờ giấy bóng màu xanh đã hai mươi năm rồi. Người ta chê anh vụng, ít nói, con gái khó gần. Nhưng anh thì anh bảo: “Tui không biết xắn quả tim tui làm nhiều ngăn để chứa những tình cảm khác nhau”. Và trong mối tình ấy, cho đến bây giờ anh vẫn còn run lẩy bẩy mỗi khi giở lá thư ra trước mặt người khác. “Răng tui lại ghi thư cho anh. Vì thương mạ. Ui chao, tui nói mạ anh đó. Mạ anh bảo thương anh vất vả, hiền. Tui thì tui biết anh nỏ có hiền mô. Anh mần phụ trách nạt tới bọn tui, chừ tui vô du kích rồi, anh về bọn tui thu súng không cho vô làng. Đùa cho vui, anh hè. Tụi “nó” vẫn nhớ anh, thương anh nhiều, không kể hết. Nhưng anh răng mà biết. Anh tệ lắm! Hôm anh gói quần áo ra đi, “nó” theo anh ra tận bờ sông Cam Lộ đó. Trông anh bơi giữa dòng nước chảy, “nó” khóc hoài hết cả hơi, khô cả nước mắt. Nhưng nước mắt chỉ thấm vào cát không chảy qua bờ bên tê, nên anh cứ đi miết đi hoài. Tới bờ cát, anh té, rồi lại xuống sông rửa mặt, nỏ thèm ngoảnh lại. Chết cha, tui nói bờ hơ chi lạ quá hè. Mạ anh bảo anh biên thư về cho mạ. Có thương ai nói cho mạ vui, mạ đỡ buồn, đỡ nhớ. Khi mô về nhớ đưa chị nớ về anh hè. Hẳn chị ta phải trắng xinh như người trên tỉnh ấy chớ. Thôi, chả đùa làm anh ít vui. Chào anh thi đua giết giặc, chờ ngày tổng phản công anh về”.

Kháng chiến chín năm kết thúc, anh được nghỉ phép mười ngày. Mười ngày nghỉ để chuẩn bị tập kết và cưới vợ. Ở với nhau được hai ngày, anh chia tay vợ lúc phiên chợ Cùa đang đông. Lòng khao khát ngờ nghệch khiến anh hỏi vợ một câu, bây giờ nghĩ lại còn thấy nóng ran cả mặt: “Đã có chi khác khác chưa, em?” Chị vợ nhìn anh, cái nhìn vừa oán giận, trách móc, vừa bừng cháy một tình thương khiến ngọn lửa từ đôi mắt ấy chườm vào mặt anh một sức nóng dữ dội, anh thấy khô cháy ở cổ họng, muốn dang hai tay ôm choàng lấy vợ. Nhưng hồi còi tập trung đã réo lên. Cũng như bất cứ người chiến sĩ nào ra đi năm ấy, anh giơ hai ngón tay hẹn hò, hai ngón tay chờ đợi, giơ lên.

Và người vợ vẫn nhìn anh, nhìn mãi bằng đôi mắt mở to không hề chớp. Hai năm sau, một người chị họ trốn khỏi vòng kìm kẹp ra Bắc cho biết vợ anh đã đẻ con trai: Thằng Hùng. Trừ cái tai cong cong và cái miệng cười chim chím giống mẹ, còn cái chi cũng giống bố. Anh hỏi người chị: “Tóc nó xoăn không?” - “Xoăn tít” - “Mũi cũng to?” - “To” - “Tóc mai dài chớ?” - “Như hệt mi đó” - “Mắt nó nhìn?” - “Cũng cau có đau khổ như mi”. Trời, anh có thằng con trai. Được một thằng con trai thiệt rồi. Thằng Hùng, cái tên anh và mạ nó cùng đặt chung cho nó. Chừ là thằng Hùng được một năm, hai tháng mười sáu ngày rồi. Rứa là nó đẹp trai, đẹp khoẻ mạnh và thanh tú. Cái miệng cười chim chím giống mẹ, cái mắt nó đừng nhìn cau có như mình, mà lành dịu, sâu kín như mạ nó thì hoàn hảo hết chỗ nói. Như ri cũng được. Ngày nào nó cũng nhìn mạ nó, rồi cũng giống mạ. Và mạ nó nhìn con cũng như nhìn thấy ba nó.

Rồi anh xin nghỉ phép mười lăm ngày đi báo cho tất cả bạn bè biết anh đã có con. Con trai! Thằng Hùng! Nó giống anh mọi phương diện. Còn cái miệng cười chỉ có mạ hắn mới cho hắn được. Từ đó gặp bất cứ đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, chỉ cần người đó có con là anh sán lại hỏi chuyện. Nào trẻ con đã được năm rưỡi thì biết làm gì? Nào một năm bảy tháng hai mươi sáu ngày đã biết gọi ba, mạ chưa? Một năm chín tháng mọc được mấy răng? Khi ho gà chữa thuốc chi? Răng gọi là đi tướt? Bị sài giật là răng? Liệu thằng Hùng có bị sài giật không? Người ta bảo nghiến răng và đái dầm ăn dái lợn sẽ khỏi, liệu mạ nó có biết đường tìm dái lợn cho con ăn khi nó bị nghiến răng không? Chơi với những đứa trẻ, anh lân la chuyện trò và reo lên sung sướng: “A cháu bằng tuổi thằng Hùng nhà chú”, hoặc “Rứa là cháu kém anh Hùng ba tháng”. Hoặc: “Thằng Hùng cũng bằng ni cháu được mấy răng rồi? Tám răng à? Thằng Hùng cũng rứa”. Nhớ con bao nhiêu anh thương yêu vợ bấy nhiêu. Anh cám ơn chị, người đã đẻ ra niềm hạnh phúc lớn lao trong anh. Nhưng có cách chi, bằng cách chi đây để biết tin tức mạ con nó? Những lúc ngồi thừ ra, anh lại rút ví lấy ảnh hai vợ chồng ngắm ngắm cái miệng, cái tai cong cong của mạ nó, cái tóc xoăn xoăn, cái mắt cau có buồn, của anh. Chắp những nét đó lại, anh hình dung thằng Hùng đang nấp sau tấm ảnh của hai người. Anh bắt đầu vẽ. Vẽ giấu giếm vụng trộm, vẽ mãi không hiện lên cái miệng rụt rè, cái mắt cau có... Anh phải ghi chữ chú thích ở cạnh. Anh đưa cho bạn bè thân thiết xem và bảo đó là tấm hình thằng Hùng.

Ngày mang tấm hình thằng Hùng ra đi đầy khát vọng ấy là cuối năm 1959. Những người mở đường đầu tiên trong tiểu đoàn do Nguyễn Quang Văn làm chính trị viên, kiêm tiểu đoàn trưởng đều đi hàng một, hơi cúi, người nhao về phía trước, súng và đạn, tài liệu tuyệt mật và thuốc cấp cứu gùi sau lưng. Người đi trước cầm chiếc gậy tõe thành hai nhánh gạt lẹ làng để lá rừng khỏi rách rồi đặt bước chân vào đúng chỗ ấy. Người thứ hai bước theo và người cuối cùng đi giật lùi, cũng cầm gậy gạt lại, san đều lớp lá người đi trước đã lật lên. Đội hình đi: một tiểu đội. Mỗi trung đội đi riêng một đường. Lan là trung đội phó thuộc đại đội một. Trung đội anh đi cạnh tiểu đoàn bộ. Những ngày hành quân hàng một ấy né tránh cả tiếng chim kêu, “Tránh dân, giấu địch đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhiệm vụ”. Giữa rừng, anh nhận được tin vợ bị bắt vì cưỡng lại không lấy thằng ác ôn. Còn thằng Hùng không biết ở đâu: sống hay chết? Lúc ấy trời chạng vạng tối, cái tối âm u của rừng. Anh đang ngồi trên một tảng đá xám để thở và giở cơm vắt ra ăn. Một người quen theo “đường dây thông nhất” đi ra cho anh bay tin. Anh lè miếng cơm cắn giở ra khỏi miệng, nhìn chằm chằm vào người đó. Nhìn mà không thấy gì, anh ngồi chết lặng hồi lâu, nắm cơm rơi phịch, anh vục dậy rút con dao đi rừng. Vừa chạy chém vào cây hai bên anh vừa la hét: “Ai đi mở toang ra mà đi, răng mà lén lút. Nó giết hết rồi. Giết hết rồi. Việc chi phải lén lút. Đất đây, rừng đây phá ra, mở lấy đường mà đi. Tự mình mở lấy lối mà đi, các đồng chí ơi, anh em ơi. Nó giết hết bà con mình rồi, giết hết rồi”.

Lúc ấy những loạt súng tiểu liên nổ ầm ầm ở vách đá phía núi bên kia suối. Bọn thám báo đang lùng dấu chân của đoàn người mở rừng đầu tiên liền bâu lại nơi tiếng súng. Đêm đó chúng đốt rừng, “đường dây” đứt. Cậu Trường đã nhận là mình nổ súng trước khi có tiếng la hét và chịu nhận kỷ luật. Hơn một năm sau chuyện mới vỡ ra, cậu ta đề nghị không phải thay đổi gì những kết luận trước đây vì cậu rất thương anh. Khi nghe anh la hét từ tiếng đầu tiên, cậu chắc chắn đã bị lộ, vội vàng xách súng chạy lên núi bắn để kéo bọn địch quây lại phía mình, rồi tìm cách thoát khỏi vòng vây của chúng. Sau buổi đó anh Lan đi điều trị ngay, rồi chuyển qua đơn vị khác. Hẳn đến bây giờ anh cũng chưa biết chuyện rõ ràng hồi đó.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM