Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Hai, 2020, 12:20:51 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc  (Đọc 48791 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2013, 08:49:41 AM »

Mục đích của ta là giam chân địch trong thành phố, còn chúng thì muốn mở rộng chiếm đóng ra các vùng nông thôn rộng lớn. Sự đối chọi mục đích ấy dẫn đến cuộc chiến đấu ở Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng và Liên khu 5 nói chung diễn ra quyết liệt ngay từ ngày đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Lực lượng vũ trang của ta còn non trẻ, trang bị thiếu thốn nhưng chiến đấu rất dũng cảm, dám xả thân để bảo vệ từng căn nhà, đoạn đường, gốc phố. Có những tiểu đội, anh em chiến đấu đến người cuối cùng. Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã sát cánh với lực lượng vũ trang thực hiện “vườn không nhà trống”, bất hợp tác với địch; đào hào, đắp ụ, xây dựng công sự, phá hoại cầu đường, vận chuyển, chăm sóc thương binh, phục vụ chiến đấu.

Tôi rất tự hào được chiến đấu trong đơn vị có truyền thống đánh giặc giỏi - Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn 93 Quảng Nam - Đà Nẵng. Đại đội trưởng Đại đội 9 có tên là Đệ, còn Tiểu đoàn trưởng tên như con gái: Thanh Hương; Chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Hoàng Giao. Trung đoàn làm nhiệm vụ tại tuyến phòng thủ từ bắc chùa Non Nước lên cầu Cẩm Lệ, cầu Đỏ, huyện Hòa Vang.

Tôi được phân về tiểu đội Liên - Trinh (liên lạc, trinh sát). Thấy tôi bé nhỏ, đồng chí tiểu đội trưởng phân công vào bộ phận liên lạc đại đội. Làm liên lạc được mấy ngày, tôi nằng nặc xin đi chiến đấu.

Một hôm, Đại đội trưởng gọi 3 chiến sĩ người Hòa Hải: anh Sanh, anh Hữu và tôi lên giao nhiệm vụ. Đại đội trưởng bảo cần đánh một trận nghi binh, làm cho địch rối loạn và hoang mang, 3 cậu là người cùng quê, thông thạo địa hình. Tôi được chỉ định làm tổ trưởng. Chúng tôi được huấn luyện và tiếp xúc trang bị, xem đại đội làm mẫu. Hôm sau chúng tôi làm công tác chuẩn bị, rồi bí mật đến gần đồn địch để xem xét.

Hôm đi đánh, đại đội giao cho chúng tôi 1 đầu đạn 105 li và 1 bộ kíp nổ nụ xòe đã lắp sẵn. Anh Đệ dặn: chỉ cần có tiếng nổ và bảo đảm an toàn là thắng lợi.

Theo kế hoạch, chúng tôi tiếp cận cách đồn 200m dừng lại để ngụy trang, nhanh chóng vào tuyến xuất phát tiến công. Anh Hai Hữu cảnh giới phía trái hướng tấn công. Gần đó xóm nhà dân bỏ hoang, nhà anh Hai Hữu cũng ở đó. Tôi và anh Sanh đưa trái vào đặt ở vị trí thuận lợi. Đặt xong, anh Sanh lui ra khoảng 5m chờ tôi. Khi thấy ánh lửa nụ xòe thì vừa chạy vừa lên tiếng để tôi biết hướng vọt ra khoảng 10 bước là tới chỗ ẩn nấp. Khoảng 11 giờ đêm, không gian tĩnh lặng, tim tôi đập mạnh, các mạch máu căng lên, chảy rần rật. Tôi có hít thật sâu để lấy bình tĩnh rồi giật nụ xòe, chạy nhanh về phía sau, nhảy vào chiếc hố cá nhân. Sau tiếng nổ đinh tai, bọn địch hoảng loạn, la hét: “Việt Minh” rồi bắn ra xối xả, tiếp theo là hỏa châu, đạn cối. Tim tôi như nhảy khỏi lồng ngực, vỡ òa sung sướng.

Đại đội cảm tử gồm những thành viên ưu tú nhất của tiểu đoàn. Đại đội có 2 trung đội, mỗi trung đội biên chế 50 người. Trước khi vào trận đánh, chúng tôi tin là mình sẽ lập công nhưng có thể không trở về. Biết sẽ hi sinh nhưng vẫn phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Lời thề trong lễ tuyên thệ khi vào đại đội cảm tử luôn văng vẳng bên tai tôi: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Là đại đội cảm tử của trung đoàn, chúng tôi đánh những trận nhớ đời.

Tháng 3 năm 1947, đại đội chọn chừng hai mươi người thông thuộc Đà Nẵng, bơi thạo, tổ chức thành một đội do anh Phúc, một người rất vui tính làm chỉ huy. Tôi và anh Hai Hữu xóm Nước Mặn được vinh dự tham gia trận đánh này. Đội chiến đấu có sự phối hợp của tự vệ thành và công an xung phong. Từ nơi đóng quân ở Thanh Quýt và Điện An - Điện Bàn, đội bí mạt hành quân đến tập kết tại nhà một cơ sở. Trong đêm chúng tôi lội qua sông Hàn, đột nhập vào thành phố Đà Nẵng từ hướng tây nam. Nhiệm vụ của chúng tôi là diệt ác ôn, rải truyền đơn, tập kích vào các bốt gác và trạm gác, tung lựu đạn, nổ mìn nhằm làm rối loạn hậu phương địch và cảnh cáo bọn tay sai ác ôn. Thực hiện xong kế hoạch, chúng tôi rút quân về căn cứ. Sau trận ấy, nhiều tên chống phá cách mạng khét tiếng run sợ, nằm im một thời gian không dám hoạt động.

Tháng 7 năm 1947, lực lượng chúng tôi chỉ bằng một nửa trận trước, cũng được tự vệ thành và thanh niên xung phong thành phố hỗ trợ đắc lực. Từ chân núi Sơn Trà vượt sông Hàn trong đêm, tập kích các mục tiêu trong thành phố Đà Nẵng gây cho địch nhiều thiệt hại.

Lúc về, chúng tôi lần theo dấu vết đường xe lửa cũ từ Đà Nẵng vào Hội An để qua làng Khái Đông lên Ngũ Giáo. Đi ngang xóm Sơn Thủy, tôi thấy hai đống lửa đang cháy, linh tính có điều gì chẳng lành. Tim tôi đập dồn dập. Ngày hôm đó giặc Pháp đi càn, bắt và giết nhiều người dân đi biển. Anh em trong tổ khuyên tôi nên ghé vào xem tình hình và thăm nhà luôn. Vào đến nhà, tôi bàng hoàng, thấy hai bàn thờ mới lập, nghi ngút khói hương. Đó là chú của tôi Mai Đăng Tự và anh trai tôi Mai Đăng Sỏ. Chú Tự ở sau nhà cha mẹ tôi. Trời còn sớm nên hai chú cháu chưa ra khơi, đang ngủ, chúng bắt hai chú cháu, cùng với nhiều người dân tập trung ở bãi biển Tân Lưu. Đến chiều trước khi rút lui, quân Pháp xả súng giết chết 30 người dân vô tội. Phần đông người bị địch sát hại là đàn ông, trai tráng đi biển.

Anh em trong tổ chiến đấu chia sẻ với tôi nỗi đau thương, mất mát lớn lao này. Gạt dòng nước mắt, tôi an ủi cha mẹ và chị vợ sắp cưới của anh Tư. Không ngờ, đó cũng là đêm gặp gỡ sau cùng với thân phụ, người mà tôi chịu ảnh hưởng về nhân cách sống cho đến mãi sau này.

Năm 1948, cha tôi qua đời. Từ đó tôi mãi mãi mất người cha đáng kính.

Sau nỗi đau thương, mất mát, con người tôi như có sức mạnh mới. Đơn vị tôi ai cũng có mối thù không đội trời chung với giặc Pháp. Thề sẽ đánh chúng những đòn đau hơn, tiêu hao thật nhiều quân Pháp, bọn tề ngụy để trả thù nhà, đền nợ nước. Tháng 9 năm 1947, đơn vị phục kích đoàn xe bọc thép của Pháp hành quân từ Bà Rén, Vĩnh Điện, đi qua Bình Long, Phong Thử, tháp Bường An để lên Ái Nghĩa. Đại đội cảm tử hôm đó do Đại đội phó Tước chỉ huy. Chờ xe bọc thép địch đến thật gần, bộ đội xông lên tung thủ pháo. Quân địch hốt hoảng bỏ xe tháo chạy, bị bộ đội ta dùng mã tấu tiêu diệt. Trận đánh ấy quân Pháp kinh sợ đến nỗi không dám đưa cả đoàn xe ra đường, còn nhân dân ta thì được một phen hả dạ.

Đánh giặc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, cả trăm người mới có 4 - 5 khẩu carbine, mitraillette; vũ khí chủ yếu là thủ pháo và lựu đạn. Tôi đi với Trung đội trưởng Hồng nên được ưu tiên có khẩu Carbine. Anh Hồng là người sau này giới thiệu tôi vào Đảng.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2013, 08:50:20 AM »

Trong khó khăn, chúng tôi càng phải suy nghĩ, đắn đo, tính toán kĩ lưỡng. Mỗi trận đánh chúng tôi lại sáng tạo ra cách đánh mới nhằm giảm đến mức thấp nhất thương vong cho bộ đội. Tuy nhiên, vì thiếu vũ khí nên tổn thất là không tránh khỏi. Trận phục kích đoàn xe bọc thép địch, đơn vị hi sinh 13 đồng chí.

Trận thứ tư của Đại đội cảm tử tập kích quân địch ở đồn Ái Nghĩa đi càn phía tây sông Thu Bồn. Đêm ấy, địch trú quân tại nhà thờ Tứ Sơn gần Ba Ra - An Trạch thì bị chúng tôi tập kích. Địch bị thương vong khá nặng, phải bỏ dỡ cuộc càn rút quân về sớm. Trận này ta bảo toàn được lực lượng.

Chiến tranh như một cơn gió cuốn chúng tôi đi. Tôi nghĩ, đã làm bộ đội chiến đấu thì phải giết được nhiều giặc, thu vũ khí, có như thế mới mau giải phóng quê hương, được vền hà với mẹ rồi lấy vợ, sinh con.

Đêm 15 tháng 3 năm 1948, tại xóm Tây Cốc, thuộc huyện Thăng Bình, đồng chí Đàm Quang Trung, Chỉ huy trưởng mặt trận đọc quyết định thành lập Tiểu đoàn 39. Xuất xứ của Tiểu đoàn là những đơn vị của Cứu quốc quân 2 ra đời từ Tràng Xá, Võ Nhai (1941), là những cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải quyết quân (1944), của các đơn vị Nam tiến và anh em yêu nước từ Côn Minh - Trung Quốc về. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đã làm lễ tuyên thệ, thề: “Trung thành vô hạn với Đảng, với dân, nỗ lực xây dựng tiểu đoàn mạnh, ra quân là đánh thắng”. Bộ đội hô “xin thề”, vang cả một vùng. Kết thúc lễ thành lập là chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn rất sôi động. Không chỉ đánh giặc giỏi, bộ đội ta còn có duyên trên sân khấu. Các chiến sĩ trẻ với lòng nhiệt huyết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp thiêng liêng giải phóng dân tộc, đang say sửa hát Đời Vệ quốc quân, Bắn rơi máy bay, Rừng chiều, Tưởng lạc dòng, Trâu chuột đổi ngôi… sáng tác của Lê Đình Luân, Nguyễn Hạnh Tú, đều là cán bộ đại đội của tiểu đoàn.

Tiểu đoàn 39 có 3 đại đội. Đại đội 1 và cơ quan tiểu đoàn bộ do Tiểu đoàn 100 dồn lại. Đại đội 2 chuyển từ Đại đội cảm tử của Trung đoàn 93 sang. Còn Đại đội 3 chuyển từ Đại đội Đặng Liêm của Ban Quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng.

Tôi với ông Phan Quang Đạm lại được ở cùng một đơn vị.

Sau đêm liên hoan là những ngày luyện quân sôi nổi tổ chức tại Vĩnh Huy, huyện Thăng Bình - Quảng Nam. Các hoạt động như thi cắm trại, thi đâm lê, ném lựu đạn, nhảy cao, nhảy xa... diễn ra rất sôi nổi. Đại đội trưởng Đại đội 1 Nguyễn Trường Vinh và Đại đội trưởng Đại đội 2 Phạm Đình Minh nhảy cao rất cừ. Tật cảm động, trong những ngành tiểu đoàn mở hội luyện quân, các mẹ, các chị ở Hà Lam, Chợ Được, Việt An, Hiền Lộc... mang cá, khoai, chè, mít... đến úy lạo bộ đội. Các mẹ, các chị thấy cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 39 khỏe mạnh, hăng say luyện tập, hứa hẹn lập công đều rất mừng và tin tưởng vào cuộc kháng chiến chống Pháp nhất định thắng lợi.

Đứng trước nhiệm vụ rất nặng nề, cấp trên kiện toàn lại ban chỉ huy. Đồng chí Hoàng Thái Sơn được điều ra Bắc nhận nhiệm vụ mới; đồng chí Hồng An, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 93 được cử xuống làm Tiêu đoàn trưởng Tiểu đoàn 39. Đồng chí Hoàng Văn Giao, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 100 giữ chức Chính trị viên, đồng chí Trần Thanh Hương làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 39.

Ngay sau khi Tiểu đoàn 39 thành lập, ta được tin địch tập trung quân ở cứ điểm Bà Rén chuẩn bị mở cuộc hành quân càn quét lớn vào khu vực Mộc Bài - Hương An. Ngày 13 tháng 4 năm 1948, sau khi nghiên cứu địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của địch, Tiểu đoàn 39, dưới sự tổ chức, chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đàm Quang Trung đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Duy Xuyên, Quế Sơn đánh địch tại Hương An.

Ngày 11 tháng 4 năm 1948, mới 4 giờ sáng, bộ đôi ta đã triển khai, bố trí xong trận địa. Buổi sáng, ta cấm không cho đồng bào vào ra giữa vùng ta và vùng địch. Đến chiều, ta cho bà con đi lại bình thường. Ngày 12 tháng 4, sau khi bố trí quân xong, ta cấm hẳn việc đi lại. Đến 16 giờ, ta lại cho đồng bào qua lại và công khai rút bộ đội ra khỏi các vị trí bố phòng về Hà Lam (Thăng Bình). Trong khi rút quân, một bộ phận trinh sát và thông tin liên lạc bí mật ở lại để theo dõi, nắm tình hình và bảo vệ trận địa. Khi bộ đội về đến Hà Lam, ta tổ chức cho anh em ở các nhà dân sinh hoạt văn nghệ. Đến giữa đêm, toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn 39 bí mật hành quân trở lại Hương An chiếm lĩnh trận địa.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1948, một tiểu đoàn Âu Phi có máy bay, pháo binh yểm trợ từ Bà Rén theo quốc lộ tiến vào Hương An. Đến cách trận địa hỏa lực của ta chừng 300m mà địch không hề hay biết. Chờ cho quân địch vào thật gần, chỉ huy Tiểu đoàn mới phát lệnh nổ súng. Sau tiếng hô “bắn” là hỏa lực 12,7 li, đại liên, súng cối... do các đồng chí Nho, Hiện... chỉ huy đã trút bão lửa xuống đội hình quân địch. Đặc biệt, khẩu đại liên “Jumơlê” 2 nòng, cứ theo trục đường 1 mà quét. Quân địch chết như ngả rạ, số còn lại hốt hoảng chạy ra hai bên đường. Chỉ chờ có thế, bộ đội ta phía đông và tây đường số 1 đồng loạt xung phong. Trận đánh diễn ra ác liệt ngay trên đường nhựa Cuối cùng không chịu nổi sức tấn công bất ngờ và áp đảo của quân ta, địch đã phải tháo chạy về Bà Rén, bỏ lại trận địa gần 200 xác lính Âu Phi, trong đó có tên quan hai chỉ huy.

Hương An là trận đánh đầu tiên của Tiểu đoàn 39 và là trận tấn công cuối cùng ra vùng tự do của thực dân Pháp ở mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng; chấm dứt thời kì cầm cự, phòng ngự của ta. Hương An là bài học nghi binh, lừa địch thông minh, sáng tạo của Tiểu đoàn 39. Đây cũng là trận đánh vận động đầu tiên của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng từ sau thời kì phòng ngự. Tiểu đoàn 39 đã làm tốt nhiệm vụ đánh bại phương thức tác chiến mới của địch là càn quét để phòng thủ. Trận đánh gây được tiếng vang lớn, làm hả lòng hả dạ của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng còn kẻ thù được một bài học nhớ đời. Sau trận đánh, nhà thơ Khương Hữu Dụng đã có bài thơ ghi lại cảm xúc của mình:

            Rồi trận vây Hương Quế
            Đến trận đánh Hương An
            Trận trước tha chết cho quân giặc
            Trận sau thì trời nghiêng và đất lệch...
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2013, 08:50:45 AM »

Khi niềm vui chiến thắng còn ngất ngây, thì đơn vị nhận lệnh đánh cầu Hương An. Tôi dẫn tiểu đội đi trinh sát, sau đó dẫn bộ đội đánh. Hương An là cây cầu sắt nằm trên đường số 1 - tuyến giao thông huyết mạch nên địch bố phòng rất mạnh. Trong lúc quân địch được trang bị vũ khí đầy đủ, có cả pháo binh, súng cối, ta chỉ có súng trường, tiểu liên, thủ pháo, lựu đạn nên trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Cuối cùng ta đánh sập được cầu, tiêu diệt được địch. Sau trận Thu Bồn làm nức lòng quân và dân xứ Quảng, đơn vị tôi liên tiếp đánh thắng hai trận phục kích giao thông tại cầu Lục Giáp và trận chống càn ở An Nông.

Đồn Cẩm Phô đứng trên một gò đất nổi, gần sát thị xã Hội An. Ta chủ trương đánh đồn Cẩm Phô là nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và gây cho hậu phương địch mất ổn định mà trực tiếp là cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn ngụy đóng tại Hội An. Đánh đồn Cẩm Phô lần thứ nhất, ta lợi dụng sơ hở của địch và được cơ sở giúp đỡ, đêm 17 tháng 7 năm 1948, bộ đội vượt sông đánh kì tập trong đêm, thắng lợi giòn giã. Được sự giúp đỡ của binh vận huyện Duy Xuyên đã móc nối, giới thiệu những cơ sở cảm tình với cách mạng trong đó có cai Phiên và một vài lính bảo an người địa phương thân cận với ông ta. Trận này tôi được giao nhiệm vụ khá nặng nề: điều tra, móc nối với mấy gia đình người quen ở bên ngoài đồn. Do nằm trên đồi cao, lại sát sông nước, địa thế hiểm trở nên địch chủ quan. Chúng rào đồn bằng tre, lâu ngày dây leo bám đầy. Bốn góc đồn đều có hào dài từ 5 - 10m, sâu tới lưng quần, cách nhà nghỉ của lính khoảng 10 - 15m để khi có báo động chúng chạy ra đó. Đồn chỉ có một cổng ra vào. Lô cốt cho lính gác đặt sát cổng.

Tổ trinh sát chúng tôi 4 người gồm các đồng chí: Hồ, Sổ, Mùi và tôi. Tối đến, tôi cùng mấy anh em vào khu gia binh của đồn. Nhà tên liêm lính gác ở bên trái cổng đồn. Vợ Liêm đang nuôi cơn thơ, cũng là cơ sở của binh vận. Nếu cần gặp Liêm ban ngày thì chị vợ đến cổng gác nhắn: nếu cần gặp cai Phiên thì nhắn qua Liêm. Còn nếu ban đêm thì dùng ánh lửa, đèn pin, hoặc hát mấy câu ru con mà các chị thường hát. Liêm nói, hát ru con ở xứ ta nhiều lắm, biết hát bài chi? Chúng tôi nhìn nhau cười. Thấy thời cơ thuận lợi, tôi nói: “Chú bảo chị ấy hát mấy câu nghe rõ là được, hát vào đêm khuya”. Chúng tôi đến nhà nói với vợ Liêm: “Chúng tôi là quân cách mạng, không làm hại ai đâu mà sợ”. Nói chuyện một lúc, tôi hát mấy câu trong bài dân ca Quảng Nam:

Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Trồng trầu mả thả dưới mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng ơ ơ…

Không biết giọng hát của tôi có hay không nhưng vợ người lính gác lại rất thích thú. Khi chị ta đã tin, tôi bàn với chị tìm cách nói với anh ấy đúng giờ quy định thì mở cổng để bộ đội chúng tôi vào.

Sau đó tổ trinh sát đưa ba cán bộ đại đội và các trung đội đảm nhận các hướng tấn công xuống trực tiếp xem xét trận địa. Tiếp đó anh Phạm Đình Minh - Đại đội trưởng và anh Nguyễn Bá Tước - Đại đội phó gặp cai Phiên bàn cách đánh. Chúng tôi bàn, thống nhất giờ mở cổng đồn. Cai Phiên nhìn tôi và bảo làm như cũ. Anh Minh, anh Tước ngó hỏi ý tôi thế nào, tôi nó rõ quá trình liên hệ móc nối, thời cơ đã thuận lợi.

Đồn Cẩm Phô do một đại đội bảo an đóng giữ, có khoảng hai phần ba là người dân tộc Nùng quê ngoài Bắc bị giặc Pháp bắt lính. Đêm trước khi ta đánh có một trung đội được điều lên tăng cường trên thị xã Hội An.

Khoảng hơn 11 giờ đêm ngày 17 tháng 7 năm 1948, đại đội tôi đã hình thành hai mũi tiếp cận đồn. Tiếng hát ru con của người vợ lính cất lên “quạ kêu nam đáo nữ phòng…”, cũng là lúc chúng tôi dán mắt vào cổng đồn, hồi hộp chờ đợi. Khi câu hát vừa chấm dứt thì tổ trinh sát của chúng tôi đã đến sát cổng gác để làm ám hiệu tiếp nhận. Đúng hợp đồng, vừa lúc ấy cổng gác mở toang. Tôi nói với chú lính gác, các chú đã hoàn thành nhiệm vụ, các chú về nhà với vợ con sẽ có cán bộ binh vận hướng dẫn.

Theo phân công, đồng chí Hồ và tôi trinh sát dẫn hướng Đại đội trưởng Phạm Đình Minh. Hai đồng chí Mùi, Sổ dẫn cánh anh Tước - Đại đội phó. Bộ đội ta dùng lựu đạn, mã tấu tấn công địch là chính. Mỗi người trong đại đội đều buộc khăn trắng ở tay để làm hiệu nhận nhau. Đêm đó trời nóng, nhiều tên địch cởi trần ngủ. Nghe tiếng lựu đạn đồng loạt nổ trong các sáp ngủ của lính, đứa chết, đứa la khóc hoảng loạn. Bộ đội ta xung phong, chốt chặt, địch không kịp trở tay. Chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí. Ta hi sinh một đồng chí, mấy người bị thương nhẹ. Nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm. Anh Đốc một mình chém chét 5 tên địch. Cậu Mùi trinh sát nhỏ tuổi nhất đã nhảy lên sạp tre khi lính đang ngủ, vừa đạp mạnh vào sạp vừa hô to kêu gọi địch ra hàng. Gần chục tên lính hoảng sợ, từ dưới sạp bò ra xin hàng. Trận đánh đồn Cẩm Phô nhanh gọn, ta thu được vũ khí, đạn dược, đưa thương binh và lui quân đúng kế hoạch. Đại đội 1 được cả Trung đoàn 93 biết tới, nhân dân khắp vùng cảm phục, yêu mến.

Quảng Nam - Đà Nẵng ngày ấy không chỉ là chiến trường ác liệt mà còn thiếu thốn, khó khăn nhiều thứ, nhất là lương thực. Bữa ăn bộ đội kham khổ, đồ dùng cá nhân hầu như không có gì. Chúng tôi lấy gáo dừa làm bát ăn cơm, lấy ống tre thay ca uống nước. Nhưng ở đâu bộ đội cũng được nhân dân nhường cơm, sẻ áo, nuôi dưỡng. Ở Quảng Nam, phong trào Hội mẹ, Hội chị binh sĩ phát triển rộng rãi. Hầu hết anh em chiến sĩ trong đơn vị vì điều kiện chiến tranh, phải sống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, nay có Hội mẹ, chị binh sĩ, cưu mang, chăm sóc như con em của mình nên ai cũng phấn khởi, như được bù đắp phần nào tình cảm. Các mẹ, các chị mang đến cho bộ đội từ cân gạo, tấm áo, đôi dép, chiếc mũ… Đo là tấm lòng yêu thương, trìu mến của hậu phương, động viên bộ đội ta rất nhiều để vượt qua khó khăn, gian khổ, hăng hái giết giặc lập công.

Công tác giáo dục chính trị, xây dựng tư tưởng, công tác xây dựng Đảng được Tiểu đoàn 39 làm rất tốt. Đảng ủy Tiểu đoàn coi trọng phát triển đảng viên. Các độ đội đều có chi bộ, trung đội có tổ đảng. Cảm động nhất là tình cảm giữa cán bộ, chiến sĩ thân thiết như anh em ruột thịt. Sống, chiến đấu trong môi trường đồng chí đồng đội thiêng liêng, mọi người đều cảm thấy phấn chấn, hăng hái vươn lên.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:46:36 AM »

*

Đồn Thu Bồn nằm ở vị trí tiền tiêu phía tây nam Đà Nẵng, trên đường đi Ái Nghĩa do một đại đội lính Âu Phi và một trung đội lính bảo an đong giữ. Đồn được xây dựng khá kiên cố, có lô cốt, tường, hào, trang bị vũ khí mạnh. Khoảng cuối năm 1947, bị quân ta chặn đánh quyết liệt, địch không thể tấn công mở rộng vùng chiếm đóng được nữa, buộc phải dừng lại ở Bà Rén và Thu Bồn. Chúng cho xây đồn án ngữ giữa vùng tạm chiếm của địch và vùng tự do của ta. Đồng bào ở gần đồn một số bỏ nhà đi nơi khác, để lại vườn không nhà trống, thỉnh thoảng mới quay về thu hoạch cây trái. Số dân ở lại đều có lí do, một số gia đình có con em đi lính hoặc tham gia chính quyền bù nhìn ở địa phương.

Số cơ sở cảm tình với ta trong đồn Thu Bồn qua vận động của binh vận họ cũng muốn chuộc tội với cách mạng. Trong số cơ sở này có lí trưởng Hương Kiểm và một số lính bảo an. Chính số này đã tạo ra nhiều việc làm để lí trưởng Hương Kiểm kêu bắt cu li vào làm. Cu li được vào nhiều hay ít đều phụ thuộc vào công việc trong đồn gồm: quét dọn, làm cỏ, chặt cây che khuất, đắp, tô tường, sửa chữa, thay sạp nằm cho lính, sửa chữa giường tủ... Một số cán bộ, chiến sĩ của đơn vị trong vai cu li cùng vài người là cơ sở của ta được bố trí vào đồn lao động. Chúng tôi được giao nhiệm vụ tìm hiểu hoạt động bố phòng trong đồn đến khi nắm chắc được địch, hiểu được dân thì cán bộ Tiểu đoàn đi thẩm định và quyết định ngày giờ đánh. Là tiểu đội trưởng trinh sát nên lần vào trong đồn có việc là tôi đều có mặt. Tôi được giao phụ trách bộ phận vào đồn lao động, kết hợp với điều tra. Trong vai người lao đông, tôi làm quen với mấy thằng Tây da đen người Marốc. Lúc đầu nó chưa tin, thình lình chộp áo ngực tôi nói: “Việt Minh”. Tôi cũng chộp áo ngực nó nói: “Việt Minh”. Nó cười. Thấy tôi làm nhiệt tình, nó tin. Nhưng để xem nó có tin thật lòng không, tôi phải thử. Hôm ấy, khi bọn lính đang ngủ trưa, dưới bến đò có người đi lên, tôi lay nó dậy, chỉ tay: “Việt Minh”, nó lắc đầu: “Không phải”.

Công việc nghiên cứu, trinh sát bên trong kết hợp với điều tra ngoài đồn Thu Bồn kéo dài tới cả tháng. Khi chuẩn bị xong sợ lộ nên ta không đanh ngay vào Thu Bồn. Trận Cẩm Pho trước đó ta đánh lần hai không thành công. Lần này đơn vị thận trọng hơn, cử tôi và đồng chí Tá vào đồn thăm dò. Sau một thời gian cân nhắc, nghe ngóng cấp trên mới quyết định hạ đồn theo kiểu địch vận. Ta dùng những người lính đã được giác ngộ cùng với cu li làm lực lượng nội ứng, “đánh nở hoa trong lòng địch. Bên ngoài cửa đồn, phía bên phải là chợ Thu Bồn. Chợ được rào bằng tre đan và có cổng ra vào cùng hướng với cổng đồn. Vì vậy, theo phương án, khi nổ súng ta có một tổ khống chế cửa chợ.

Chiều ngày 10 tháng 8 năm 1949, trước khi nổ súng vài giờ, chị Võ Thị Phước và mấy cô gái trẻ lại mang quà bánh, trái cây đến bán trong chợ cạnh cổng đồn nhằm thu hút, phân tán bớt lực lượng trong đồn. Từ sáng, tôi phụ trách một tiểu đội 6 người cải trang thành cu li vào đồn làm việc. Bên ngoài, Tiểu đồn phó Trương Vinh, Chính trị viên Hoàng Văn Giao đã chỉ huy bộ đội tiếp cận, bí mật giấu quấn trong các nhà dân bỏ hoang ngay từ đêm 9 tháng 8. Tất cả lực lượng của ta đều “án binh bất động”, chờ “mở màn” từng phần kịch bản đã được dày công chuẩn bị.

Đầu giờ chiều, khoảng một tiểu đội địch cùng Lí trưởng Hương Mai vượt sông Thu Bồn qua lùng sục, cướp bóc vùng chợ Phú Thuận.

15 giờ, tiểu đội địch đi càn bên kia sông cũng vừa về, chúng ào ra sông tắm rửa. Trên chục tên lính Âu Phi nữa lại kéo ra đường mua bán, chọc ghẹo phụ nữ. Khác với mọi bữa, chiều nay câu chuyện của chị em dài hơn, lời nói, ánh mắt cũng có vẻ đưa đẩy, lẳng lơ hơn.

Như vậy, diễn biến của tình hình đúng như kịch bản mà ta chuẩn bị. Bộ đội từ các nhà dân đã nhanh chóng tiến sát cổng đồn.

Đúng 16 giờ, Trung đội trưởng trinh sát Hoàng Đại Hải, tay cầm quả lựu đạn Mĩ đã rút chốt sẵn, cùng ông Lương Chầu (hương kiểm) từ cổng đồn đi vào. Tôi và Trung độ trưởng Trần Ngọc Chuyện đã vào vị trí chiến đấu. Tôi cũng đã phân công anh em trong tiểu đội đứng vào các vị trí có lợi. Trên tay họ chỉ có con dao, cái búa nhưng tất cả đã sẵn sàng. Hải vào phòng chỉ huy, không thấy tên đồn trưởng Batard đâu, nhưng giờ nổ súng đã đến, anh ném lựu đạn vào phòng làm hiệu lệnh. Tiếng nổ của quả lựu đạn vang lên, bỗng tên đồn trưởng trong nhà chạy ra kêu la, hốt hoảng: “Qu’est ce que c’est? Qu’est ce que c’est” (Cái gì vậy? Cái gì vậy?). Hải nhanh chóng lấy khẩu súng trường mauser của địch kề bên lên đạn nhằm thẳng tấm lưng to bè của tên đồn trưởng. Batard ngã gục xuống. Hiệu lệnh tấn công đã điểm. Tôi cùng mấy anh em trong tiểu đội trinh sát dùng búa, dao, gậy gộc, nhằm thẳng đầu những tên lính Âu Phi mà bổ, nhanh chóng cướp lấy súng địch tiếp tục chiến đấu. Tôi phân công cậu Tá lên lô cốt lớn. Tên lính Marốc từ trên lô cốt nổ súng, Tá ngã gục. Tên lính Marốc lại chĩa khẩu trung liên đầu bạc vào mấy anh em ta, buộc lòng tội phải ra tay trước. Phát súng của tôi làm nó gục ngay tại chỗ. Thực tình tôi không muốn giết nó nhưng không còn cách nào khác.

Lòng căm thù của bộ đội, du kích bao năm nay giờ bùng lên thành ngọn lửa. Từ ngoài cổng, các anh Trần Văn Tấn - Đại đội phó, Lê Phùng Loan, Nguyễn Anh Linh - Trung đội trưởng... chỉ huy bộ đội đóng cửa chợ, xông vào đồn giặc. Trận đánh giáp lá cà diễn ra quyết liệt.

Lính Âu Phi tên nào cũng to béo, nổi tiếng là gian ngoan, xảo quyệt, nhưng ở thế đường cùng, vả lại, tên đồn trưởng đã bị ta tiêu diệt, chúng như rắn mất đầu. Trước đó, 4 tên lính bị các chị cán bộ binh vận dụ ra ngoài giữ lại không cho về đồn, du kích bắt chúng luôn ngoài chợ. Chỉ trong vòng 15 phút, toàn bộ đồn Thu Bồn bị xóa sổ. Số vũ khí trong trận này ta thu được nhiều nhất tính đến thời điểm đó. Trong đó có một khẩu đại liên Wicker hiện đại) có bầu nước ôm nòng, dây đạn bằng vải dài 250 viên), 4 trung liên, 1 súng cối 81 li, nhiều tư lệnh và súng trường mauser.

Trận đánh diễn ra nhanh gọn. Ta đánh nhanh đến nỗi bọn địch may mắn còn sống sót vẫn bàng hoàng, chưa hiểu sự việc diễn biến ra sao. Kết quả, một đại đội Âu Phi bị tiêu diệt và bắt sống.

Đại đội hi sinh hai đồng chí, Trung đội trưởng Trần Ngọc Chuyện và đồng chí Tá - trinh sát Tiểu đoàn 39. Trận này tôi được đơn vị khen, đề nghị cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đồn Thu Bồn bị diệt làm rung chuyển hệ thống phòng thủ phía tây sông Thu Bôn của địch. Sau thất bại này, buộc quân Pháp phải rút bỏ một loạt đồn bốt khác như: Phú Nhuận, Phú Mĩ, An Khương, Kiểm Lâm… Trận thắng của Đại đội 2 chúng tôi có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của quân và dân ta. Chiến thắng Thu Bồn cho cho thấy sự hợp đồng chặt chẽ, khoa học của nhân dân địa phương, bộ đội Tiểu đoàn 39 và Ban Địch vận Quảng Nam - Đà Nẵng.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:47:08 AM »

Ngay từ ngày đầu vào bộ đội, tôi đã đặt ra mục tiêu phấn dấu vào Đảng. Vì điều kiện chiến đấu ở chiến trường phải đánh giặc liên miên, thời gian gấp gáp, gian khoo9r, ác liệt, việc kết nạp Đảng gặp không ít khó khăn. Vả lại, có thời kì Đảng ta hoạt động không công khai. Mọi hành động của đảng viên, hoạt động của chi bộ đều trong vòng bí mật, kể cả sinh hoạt Đảng và kết nạp đảng viên. Khi đã trở thành cảm tình của Đảng, tôi được chi bộ thử thách, giao cho những nhiệm vụ mà ở đó thể hiện rõ nhất phẩm chất của người Cộng sản. Tôi còn được các đồng chí đảng viên tin tưởng phân công gác bảo vệ an toàn cho chi bộ đại đội sinh hoạt nhiều lần. Đồng chí Nguyễn Hồng - du kích Ba Tơ thời khởi nghĩa, là chi ủy viên chi bộ giới thiệu cùng với đồng chí Thanh, đồng chí Có - Trung đội trưởng và Trung đội phó giúp đỡ tôi vào Đảng. Các đồng chí dẫn tôi đi trò chuyện, tìm hiểu rồi xây dựng lí lịch trình trước chi bộ. Trong buổi lễ kết nạp, anh Thanh và anh Có đọc lí lịch, bảo đảm trước chi bộ, hứa trước chi bộ chịu trách nhiệm giới thiệu tôi vào Đảng. Đọc xong lá đơn xin vào Đảng, tôi thề trước cờ búa liềm và chân dung Bác, suốt đời chiến đấu hi sinh vì mục tiêu lí tưởng của Đảng. Tôi vô cùng xúc động và thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề, càng vinh quang. Từ giờ phút này, tôi là người của Đảng, của cách mạng và của nhân dân. Mọi suy nghĩ và hành động của tôi đều vì mục đích và lợi ích của Đảng. Trong lòng tôi dâng lên niềm cảm xúc khó tả, vui sướng xen lẫn tự hào, thấy vị trí chiến đấu của mình dưới lá cờ của Đảng thật vinh quang. Ngày đó có ý nghĩa đặc biệt với tôi.

Đó là ngày 21 tháng 4 năm 1949.

Sau ngày được đứng vào hàng ngũ của Đảng, tôi thấy mình trưởng thành, cứng cáp lên rất nhiều. Cấp trên cũng đặt nhiều niềm tin vào tôi. Những trận đánh lớn, có ý nghĩa tôi đều được tham gia. Mà đã đánh là giành thắng lợi. Đáng chú ý là trận đánh đồn Ngũ Giáp ngày 19 tháng 1 năm 1950.

Đồn Ngũ Giáp nằm trong hệ thống đồn bốt bảo vệ trục giao thông chiến lược từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện, Hội An; Vĩnh Điện - Bà Rén và Vĩnh Điện - Ái Nghĩa. Dựa vào đồn Ngũ Giáp, địch có thể khống chế một vùng tạm chiếm rộng lớn gồm các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên của Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ đồn Ngũ Giáp, bọn chúng thường xuyên hành quân càn quét, bắt bớ nhân dân, đàn áp phong trào cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn.

Cấp trê yêu cầu đánh đồn Ngũ Giáp phải chuẩn bị kĩ, đánh táo bạo, bất ngờ làm cho kẻ địch tại chỗ mất khả năng chống cự và địch từ các nơi khác không kịp ứng cứu thì mới giành được thắng lợi.

Là Trung đội phó, tôi được giao đưa một tiểu đội trinh sát 6 đồng chí chuẩn bị đánh đồn Ngũ Giáp theo yêu cầu và kế hoạch của Tiểu đoàn.

Đến thôn La Thọ, xã Điện An (Điện Bàn), chúng tôi chia ra ở nhà đồng chí Nhiên trinh sát và nhà bác Ổi. Xã Điện An giáp Thanh Quýt về phía tây, trú quân ở đây rất thuận lợi. Tôi phân công anh em bám địch các hướng để điều tra, nghiên cứu.

Được cán bộ binh vận của tỉnh Quảng Nam và huyện Điện Bàn giới thiệu về cơ sỏ của ta, chúng tôi nhanh chóng tiếp cận. Đó là viên đồn phó đồn Ngũ Giáp, được ta giác ngộ, đang nóng lòng chờ cơ hội thuận lợi đề lập công.

Cảnh giác là yếu tố bắt buộc của người lính trinh sát. Chiến đấu đã nhiều năm, tôi luôn ghi nhớ, chỉ cần một sơ hở nhỏ là có thể làm hỏng trận đánh. Chúng tôi bàn với nhau thâm nhập vào dân quanh đồn để dò xét thêm, và cũng là để thử thách cơ sở. Tôi báo cho cơ sở thời gian cụ thể sẽ đến hướng Y sát đồn nhưng lại bố trí anh em ở nơi khác. Theo dõi cả ngày không thấy địch có phản ứng gì, chúng tôi mới yên tâm.

Những lần sau, chúng tôi vào sát đồn hơn để nắm quy luật hoạt động của chúng. Sau khi cân nhắc, chúng tôi chọn nhà dân ở sát bờ sông phía tây bắc làm vị trí quan sát chính. Từ đây, chúng tôi có thể phóng tầm mắt vào cả trong đồn, sân bóng và quy luật ghe thuyền đi lại trên sông Thanh Quýt. Tôi phân công đồng chí Ái theo dõi các xóm sát bờ sông nơi địch hay ra vào. Khi cần, tôi có mặt cùng với Ái tại điểm quan sát quan trọng này.

Điểm quan sát thứ hai đặt tại nhà dân ở phía tây nam. Từ vị trí bí mật này chúng tôi không bỏ qua một hành động nào của địch phía sau cửa đồn và nắm tình hình nhân dân.

Nhà dân ở đông nam đồn là điểm quan sát thứ ba, có nhiệm vụ theo dõi địch ra vào cổng chính. Hướng này địch có thể điều quân tiếp viện từ Bà Rén, Vĩnh Điện ra ứng cứu.

Điểm thứ tư ở phía bắc sông Thanh Quýt, tây quốc lộ 1, theo dõi xe địch qua lại trong ngày, chúng ra sân bóng và tìm địa điểm chặn viện binh địch từ Đà Nẵng và đồn Quá Giãn đến ứng cứu.

Đồn Ngũ Giáp nằm cách sông Thanh Quýt khoảng 100m về phía nam; phía đông cách quốc lộ 1A khoảng 200m. Đồn mở cổng chính về phía đường quốc lộ, cổng phụ hướng ra sông Thanh Quýt. Đoạn sông này có cầu bắc qua, đồng ruộng bỏ hoảng của dân, chúng làm sân đá bóng và để tập quân sự…

Sông Thanh Quýt hẹp mà sâu, chảy từ tây xuống đông. Con sông là đầu mỗi giao thông quan trọng của nhân dân trong vùng, nông sản từ phía tây đưa xuống phía đông rồi mua bán, trao đổi lấy hải sản, muối mang về. Vì vậy, sông tuy nhỏ nhưng ghe thuyền đi lại khá nhiều, nhất là mùa nước lớn. Mỗi lần có thuyền qua lại lính trong đồn thường ra kiểm tra, dò xét nhưng có lúc chúng cũng chẳng ngó ngàng. Nắm được quy luật này, bộ phận trinh sát chúng tôi báo cáo cấp trên cách đánh khác với đồn Cẩm Phô và Thu Bồn.

Trước khi kết thúc nhiệm vụ trinh sát, chúng tôi và cơ sở gặp nhau để tìm hiểu địch trong đồn và bố trí để cấp trên tiếp xúc. Sau khi chúng tôi báo cáo thấy có nhiều yếu tố thuận lợi, Tiểu đoàn dự kiến lực lượng chủ công, lực lượng dự bị và lực lượng chặn viện do đồng chí Nguyễn Trường Vinh dẫn đi xem xét thực địa. Chúng tôi phân công nhau đưa đoàn cán bộ đi khảo sát lần cuối. Sau cùng anh Trường Vinh gặp cơ sở trao đổi nhiều lần trong đó có việc thống nhất ám, kí hiệu cũng như hợp đồng chiến đấu giữa đơn vị và cơ sở.

Trận diệt đồn Ngũ Giáp diễn ra đúng kịch bản như trinh sát chúng tôi chuẩn bị. Vào thời điểm trước khi bộ đội nổ súng, địch tổ chức cho lính ra sân bóng, kẻ đá, người cổ vũ. Đồng chí Hồ và Lễ dẫn đoàn ghe, khi nhận được ám hiệu của cơ sở lập tức ra lệnh xuất phát. Lúc này, đồng chí Ái và tôi đang ở xóm nhà dân phía tây bắc đồn cùng với khẩu đội trung liên có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở vòng gác và bắn kiềm chế không cho chúng từ trong đồn chạy ra sông. Khi đoàn ghe vừa đến sát lối lên xuống đồn, lính gác gọi: “Ghe chở gì mà nhiều thế?”. Chỉ chờ có thế, trên các ghe bộ đội ta hất ngụy trang xuống sông, nhanh chóng chạy lên bờ. Một tổ đặt súng ở đầu cầu khống chế không cho lính từ sân bóng chạy về. Khẩu trung liên chỗ đồng chí Ái lập tức bắn tiêu diệt vọng gác. Bộ đội ta nhanh chóng tiến vào đồn. Bị đánh bất ngờ, địch trong đồn chống cự yếu ớt, chỉ khoảng 15 - 20 phút ta tiêu diệt hết số lính còn lại trong đồn. Anh em khẩn trương thu vũ khí và rút lui. Ta không có ai thương vong, về đến nơi đóng quân thì trời cũng vừa tối.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:49:55 AM »

*

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, Liên khu 5 có nhiệm vụ “Tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên”. Đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân lên Kon Tum, Đắk Lắk. Do tính chất chiến lược của Tây Nguyên, Bộ Chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm phải tiêu diệt cả ba cứ điểm Mang Đen, Mang Bút, Công Rây trong một đêm, đập tan tuyến phòng ngự hướng đông bắc Kon Tum. Tôi được giao nhiệm vụ xoi đường dẫn một hướng vượt qua cầu đánh vào thị xã Kon Tum. Đòn tiến công sấm sét mở đầu chiến dịch của ta đã gây chấn động mạnh đối với binh lính địch trong các đồn bốt còn lại. Tiểu khu Kon Tum hốt hoảng xin quân tiếp viện. Tranh thủ thời gian viện binh địch cưa tới, ta đẩy nhanh tốc độ tiến công. Sau 7 ngày vừa tiến công vừa truy kích địch, ta đã phá vớ toàn bộ thế trận của địch, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng bắc Kon Tum.

Ngày 7 tháng 2 năm 1954, thị xã Kon Tum và toàn tỉnh Kon Tum hoàn toàn được giải phóng.

Niềm vui chiến thắng hiện rõ trên từng gương mặt cán bộ, chiến sĩ vừa lập công trong chiến dịch giải phóng Kon Tum. Niềm vui như được nhân lên khi cả đơn vị đội ngũ chỉnh tề, lắng nghe thư khen của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thắng lợi Kon Tum là một thắng lợi lớn của ta trên chiến trường miền Nam, nó cũng là một trong những thắng lợi to lớn của ta trong màu xuân này trên chiến trường toàn quốc”.

Từ Kon Tum, đơn vị chúng tôi “xuống núi” về hướng dải đồng bằng ven biển Liên khu 5. Sau chiến dịch, đại đội tôi được trung đoàn tặng danh hiệu “Dũng cảm đánh tốt”. Niềm vui ấy đã tiếp thêm sức mạnh để các chiến sĩ hăng hái giết giặc lập công. Sau Chiến dịch Kon Tum, tôi được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội trinh sát Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803. Chính trị viên đại đội là đồng chí Lê Thấu, Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc Lân. Đơn vị được lệnh hành quân về đóng quân ở thôn Đồng Cát, xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi làm nhiệm vụ huấn luyện, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Lúc này tôi lại được bổ nhiệm Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 39 huấn luyện đột phá cho Trung đoàn 803.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt. Chiến thắng vĩ đại này đã đẩy nhanh cao trào tiến công quân địch trên khắp cả nước. Mất Điện Biên Phủ, trên địa bàn Liên khu 5, quân Pháp hoang mang cực độ. Chúng rút chạy khỏi nhiều địa bàn quan trọng ở Nam Trung Bộ.

Mặc dù đã bị thua đau nhưng trên chiến trường Liên khu 5 địch vẫn còn Binh đoàn cơ động 42. Ở Phú Yên, thừa lúc quân Pháp đang vội vã tháo chạy khỏi sông Cầu và Chí Thạnh, đêm 21 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn 803 của chúng tôi lại hành quân chiến đấu. Được tăng cường thêm Tiểu đoàn 375 và một bộ phận đặc công của quân khu cùng lực lượng địa phương, Trung đoàn 803 chúng tôi đồng loạt tiến công cụm cứ điểm Màng Màng, các cứ điểm núi Sầm, núi Hùng, núi Chóp Chài. Tiểu đoàn 39 chúng tôi, có sự tăng cường của đơn vị bạn, nhận nhiệm vụ thọc sâu tiến công bãi đỗ xe cơ giới, kho đạn, khu chứa xăng dầu và tiểu đoàn khinh quân ngụy tại trung tâm thị xã Tuy Hò. Để vào được thị xã Tuy Hòa, đơn vị tôi phải bí mật vượt sông Đà Rằng theo hướng san by Đông Tác, cắt nhiều gò cát, lội qua khá vất vả nhưng đã đến được vị trí chiến đấu.

Chiến sự diễn ra quyết liệt trong một khu vực dài 10km, rộng 4km. Sau một đêm chiến đấu, chúng tôi đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn khinh quân ngụy 717, đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn khác, phá hủy trên 300 xe cơ giới, đốt cháy và phá tung các kho xăng dầu, đạn dược dự trữ của địch tại trung tâm thị xã.

Mải đánh giặc, khi ta rút, nước lên, bộ đội bơi về, có người kiệt sức giữa dòng.

Anh Hai Hữu, cùng quê, đánh trận đầu với tôi ở đồn Mĩ Thị. Chúng tôi có nhiều kỉ niệm, trong trận này không may anh bị thương và hi sinh.

Sau những trận chiến đấu liên tục giành thắng lợi lớn ở Phú Yên, Trung đoàn 803 lại nhận nhiệm vụ hành quân lên đường 21 và đường 14, nam Tây Nguyên đánh địch. Tiểu đoàn 39 của chúng tôi được phân công làm nhiệm vụ tác chiến trên đường 14.

Trải qua 6 tháng trời chiến đấu, hành quân liên tục, từ bắc Tây Nguyên vào nam Tây Nguyên, tiến xuống tây Phú Yên, giờ phải lên đường 14. Đây là một cuộc hành quân cấp tốc, không thể chậm trễ. Tiểu đoàn 39 nhanh chóng xốc lại đội hình, khẩn trương hành quân. Ngoài vũ khí, chúng tôi phải mang theo mỗi người 15 ngày gạo và nội nhật trong 13 ngày từ tây Phú Yên, đơn vị phải có mặt tại đường 14. Khó khăn là vậy nhưng mọi người đều phấn khởi, vì đây là trận chiến đấu có ý nghĩa góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng của địch nhằm thôn tính toàn bộ vùng tự do Liên khu 5.

Tôi dẫn một tiểu đội trinh sát của Đại đội trinh sát Trung đoàn 803 đi điều tra. Lúc đầu mình không biết địch có trung đoàn đó. Đêm đó, địch ở Pleiku kéo xuống để đi càn.

*

Sau ngày đình chiến, tôi và anh Lê Thấu - Chính trị viên đại đội được cấp trên cho về thăm nhà trước khi đi tập kết. Anh Thấy về Tam Kì - vùng tự do, còn tôi về Sơn Thủy - Hòa Hải. Gặp lại mẹ và anh Ba Dân tôi mừng không kìm được nước mắt. Mẹ và anh cho tôi biết, em trai Mai Đăng Hà hoạt động cách mạng bị giặc Pháp bắt giam tại nhà lao Đà Nẵng. Sáng sớm hôm sau tôi lên đường vào Đà Nẵng. Ngày đó ở quê tôi bà con đi chợ Hàn - Đà Nẵng bằng ghe chèo. Mỗi ghe chỉ chở được 15 - 20 người, đi dọc theo sống trước nhà tôi, ra sông Cái, xuống bến Hàn. Lúc đó quê tôi ít người đi đường bộ, đường sắt. Đường xe lửa từ Đà Nẵng vào Hội An bị chiến tranh tàn phá, bỏ lâu ngày, cây dương liễu rậm rạp, rất dễ bị cướp giật, dân rất sợ nên ít đi đường bộ.

Tôi theo ghe xuống Đà Nẵng, tìm vào nhà lao nhưng lúc đó anh em tù đi làm chưa về. Tôi đứng gần cổng chờ một lúc mới nhìn thấy em trai đi lao động khổ sai về. Anh em chỉ nhìn nhau, không nói được câu nào.

*

Trong mỗi chiến công đều có sự hi sinh. Hình ảnh Trung đội trưởng Trương Tế, Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Toàn, Phạm Nết... anh dũng hi sinh trước giờ chiến thắng làm tôi day dứt, thương nhớ tới họ khôn nguôi. Lửa đạn chiến tranh đã cướp đi những cán bộ hứa hẹn tài năng của Trung đoàn 803: Trung đội trưởng Khương Thế Xương (con trai nhà thơ Khương Hữu Dụng), Đại đội trưởng Lê Hanh Tú văn võ song toàn. Những bài thơ, bản nhạc của Lê Đình Luân, Nguyễn Hanh Tú ngày ấy có giá trị tinh thần to lớn, thổi bùng lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc, động viên bộ đội giết giặc lập công.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm đầy máu lửa đã tôi luyện lớp cán bộ, chiến sĩ trung thành vô hạn với Đảng, hiếu với dân. Được chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803 anh hùng trên một chiến trường Liên khu 5 rộng lớn, ác liệt là niềm tự hào của tôi. Từ trường học này, chúng tôi bước tiếp chặng hành trình mới dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:50:23 AM »

4. BƯỚC NGOẶT

Sau 9 năm chiến đấu cực kì gian khổ và vô cùng anh dũng, cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi bằng trận “Điện Biên chấn động địa cầu”. Trong khi miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta phấn khởi lao động sản xuất, khôi phục và phát triển kinh tế thì đế quốc Mĩ nhảy vào thay chân thực dân Pháp, chiếm miền Nam làm thuộc địa kiểu mới của chúng, hòng ngăn chặn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam châu Á.

Trên cơ sở phân tích sâu sắc, đúng đắn tình hình, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết kịp thời chỉ rõ kẻ thù và xã định nhiệm vụ cách mạng nước ta lúc này là: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành động lập dân tộc và dân chủ trong cả nước, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta”.

Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, Tổng Quân ủy đã có nghị quyết cụ thể, đồng thời thông qua các kế hoạch về nhiệm vụ xây dựng quân đội. Trong kế hoạch, phương hướng hằm xây dựng một quân đội cách mạng, chính quy và tương đối hiện đại, có bộ binh, pháo binh và một số binh chủng bảo đảm, đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các binh chủng, quân chủng khác như thiết giáp, không quân, hải quân. Kế hoạch này cũng nêu rõ: “Cử cán bộ đi học các trường trong và ngoài nước” nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ và “phải đặc biệt chú trọng công tác chuẩn bị cơ sở vật chất” đáp ứng yêu cầu xây dựng các binh chủng kĩ thuật hiện đại.

Chuẩn bị cho bước phát triển mới của quân đội, ngày 18 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng thành lập Trường Văn hóa với phiên hiệu D126. Trường đóng ở Kiến An (Hải Phòng) trên vùng đất thuộc khu vực 300 ngày khi quân Pháp vừa rút khỏi miền Bắc. Trường làm nhiệm vụ dạy văn hóa cho cán bộ chưa học hết cấp 2, cấp 3 và bồi dưỡng văn hóa, ngoại ngữ cho cán bộ, chiến sĩ trước khi gửi sang các nước Liên Xô, Trung Quốc đào tạo. Tháng 6 năm 1955, đang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trợ chiến của Trung đoàn 93 (Sư đoàn 324), tôi được cáp trên giao nhiệm vụ: Đi học văn hóa, ngoại ngữ, chuẩn bị sang nước bạn đào tạo xe tăng.

Sinh ra dưới chế độ cũ, chịu nhiều đọa đày đau khổ của thực dân phong kiến, chưa một ngày tôi được đến trường, nay đi học văn hóa chính quy quả là điều nằm mơ cũng không thấy. Ngày đi ở đợ, tôi học lén được đôi ba bài quốc ngữ, chỉ mới dừng lại ở mức đọc và viết được. Vò bộ đội người biết dạy người không biết, rồi học bổ túc do đơn vị mở, “lưng vốn” văn hóa của tôi cũng mới chỉ tương đương lớp 6, lớp 7. Làm lính chiến đấu trong tay tôi chỉ có khẩu súng trường Mútcơtông, vài quả lựu đạn, mặc quần xã lỏn đi đánh giặc nay sắp được “cưỡi” xe tăng không mừng sao được. Niềm vui đến quá bất ngờ khiến đêm ấy tôi không tài nào chợp mắt được. Một ngày nào đó tôi được chỉ huy những chiếc xe tăng, bên tháp pháo có ngôi sao màu đỏ, vượt Trường Sơn về giải phóng quê hương.

Vừa mới đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, Hải Phòng cũng như bao thành phố khác của Việt Nam nhà cửa đều còn tiêu điều. Trường Văn hóa mới được thành lập trên cơ sở vật chất cũng chưa có gì đáng kể. Chúng tôi được biên chế vào Tiểu đoàn học viên 126. Tôi ở đại đội do anh Nguyễn Quốc Trị làm Đại đội trưởng; anh Tiên, cán bộ Tiểu đoàn 307 rất nổi tiếng của Nam Bộ làm Chính trị viên. Trong hơn một năm, mỗi người phải hoàn thành chương trình học tập khá nặng: 3 tháng phải xong một lớp, ngoài ra còn có chương trình tiếng Trung cấp tốc. Đã “lên bệ phóng”, không còn cách nào khác phải căng mình lên mà học. Học tập lúc này không chỉ là nhiệm vụ mà là mệnh lệnh thiêng liêng của quân đội, nói rộng ra là mệnh lệnh của Tổ quốc đối với mỗi người lính chúng tôi.

Học tiếng Trung Quốc là thử thách không nhỏ của những người vừa qua chiến đấu như chúng tôi. Cuối khóa, nhà trường mời một đồng chí người Trung Quốc nói chuyện để chúng tôi nghe thử. Do trình độ anh em còn có hạn, lại nghe người Quảng Đông nói nên có đồng chí không hiểu. Sau này khi đã sang Trung Quốc, chúng tôi kể chuyện, có học viên bạn nói vui: “Trời không sợ, đất không sợ, chỉ sợ người Quảng Đông nói tiếng Bắc Kinh”.

Những ngày ở Kiến An thật sôi nổi. Ngoài học tập văn hóa, ngoại ngữ, chiều chiều chúng tôi còn được học quốc tế vũ. Vì không có phụ nữ, chúng tôi cứ ôm lấy nhau mà nhảy theo nhịp trống “cắc tùng, cắc tùng”.

Tốt nghiệp Trường Văn hóa, chúng tôi lại hành quân về Hà Nội, vào nghỉ tại nhà khách của Bộ Quốc phòng (Trạm 66 bây giờ). Đoàn cán bộ sang Trung Quốc học về xe tăng đợt này có 36 người do anh Đào Huy Vũ làm trưởng đoàn, anh Dương Đăng Giang làm phó đoàn. Đào Huy Vũ là người anh cả của chúng tôi. Anh sinh năm 1924, đã chiến đấu trên nhiều chiến trường, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị cán bộ thuộc Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu. Với chúng tôi, Đào Huy Vũ là người anh nghiêm khắc nhưng tận tình, chu đáo. Hầu hết anh em đi học nước ngoài đợt này đều đã qua chiến đấu đánh Pháp trên các chiến trường Bắc - Trung - Nam, một số đã tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều người trong đoàn đã lập được chiến công, được thưởng huân, huy chương. Về chức vụ, có hai anh là cán bộ trung đoàn, bảy cán bộ tiểu đoàn, còn lại đều là cán bộ đại đội, trung đội, tiểu đội. Về tuổi đời, cao nhất là anh Đào Huy Vũ - 32 tuổi, người trẻ nhất là Bùi Đức Tính, mới 19 tuổi.

Ngày 20 tháng 8 năm 1956, đồng chí Phạm Ngọc Mậu - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay mặt Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đến giao nhiệm vụ cho đoàn. Đồng chí cán bộ đại diện cho Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị đọc quyết định thành lập chi bộ và chỉ định cấp ủy gồm 5 đồng chí: Đào Huy Vũ, Dương Đằng Giang, Lê Xuân Kiện, Nguyễn Văn Phước và tôi. Đồng chí Đào Huy Vũ được giao làm bí thư chi bộ. Từ giờ phút này trở đi, tôi thấy nhiệm vụ của mình trước Đảng, trước quân đội và nhân dan nặng nề hơn. Tôi thầm hứa sẽ học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự tin cậy của đồng chí, đồng đội.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #17 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:50:49 AM »

Ngày 22 tháng 8 năm 1956, chi bộ họp và sau đó họp toàn đoàn để quán triệt nhiệm vụ và xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ học tập. Những ngày sau đó là không khí khẩn trương, náo nức của anh em chúng tôi.

17 giờ ngày hôm đó, đoàn vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gặp gỡ, chiêu đãi tại Nhà khách Bộ Quốc phòng 33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Đại tướng nói: “Các đồng chí là lớp đầu tiên sang Trung Quốc đào tạo cán bộ xe tăng, sau này sẽ gửi các lớp thành viên sang đào tạo tiếp”. Đại tướng chúc mọi người có sức khỏe, học tập thật tốt để trở về phục vụ quân đội, phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Buổi tiệc đứng hôm ấy thật cảm động khi gần cuối buổi chiêu đãi, Đại tướng thân tình: “Các đồng chí cứ ăn uống tự nhiên. Ăn không hết thì mang về”.

Khoảng 4 giờ chiều ngày 24 tháng 8 năm 1956, xe của Tổng cục Chính trị đưa anh em chúng tôi từ Nhà khách Bộ Quốc phòng ra ga Hàng Cỏ. Anh em ai cũng vui, phấn khởi nhưng đều có chút bịn rịn trên gương mặt khi phải chia tay vợ con, gia đình. Một số người có vợ ra tiễn mắt đỏ hoe.

Đúng 17 giờ 30 phút, đoàn tàu liên vận quốc tế kéo hồi còi dài, từ từ lăn bánh rời ga Hàng cỏ.

Đêm đầu thu Hà Nội, trời đầy sao, gió nhẹ. Gần đến ngày Quốc khánh 2 tháng 9 nên không khí ở Thủ đô khá sôi nổi. Trên mỗi gương mặt người Hà Nội đều ánh lên niềm tin yêu vào chế độ mới. Hòa bình chỉ có trên nửa nước, miền Nam đang bị kẻ thù xâm lược, nhan dân còn bị kìm kẹp, tù đày. Mỗi ngày ở miền Nam là một ngày nhân dân ta còn bị kẻ thù gieo tang tóc, chịu cảnh đầu rơi, máu chảy. Tôi ngóng về phương Nam, nơi xa ấy còn có mẹ già và những người thân yêu đang sống trong vung địch kiểm soát. Dòng suy tưởng ấy đi cùng đoàn tàu ngược về phương Bắc. Đến sáng ngày 25 tháng 8 năm 1956, tàu đến ga Bằng Tường, chúng tôi chuyển sang đi tàu hỏa của Trung Quốc. Trên chuyến tàu liên vận quốc tế sang Bắc Kinh có nhiều câu chuyện đến nay tôi vẫn còn nhớ như in. Khi nhân viên đến toa của đoàn cán bộ quân đội Việt Nam yêu cầu điều gì đó, vì nghe không rõ, trưởng đoàn hô anh em: “Đeo khẩu trang”. Đến lúc này thì bạn cũng ớ người ra rồi nhắc đi nhắc lại “Hu chao, hu chao”. Hóa ra, nhân viên hải quan yêu cầu kiểm tra hộ chiếu (hu chao), trưởng đoàn nghe ra thành “khẩu chao” là đeo khẩu trang. Anh em được một trận cười thoải mái.

Trên tàu, chúng tôi được báo ăn từng bữa theo tiêu chuẩn khá cao. Khi nhân viên phục vụ đến buồng chúng tôi hỏi suất ăn, anh em nói bằng tiếng Trung Quốc 5 đồng một bữa. Người phục vụ nhìn mấy anh bộ đội Việt Nam nói tiếng Trung chưa sõi, gật đầu cười rồi đi về phía cuối đoàn tàu. Đến trưa, trên bàn ăn của 5 người la liệt thức ăn, hỏi ra mới biết phục vụ đã làm cơm cho chúng tôi mỗi suất 5 đồng. “Sự cố” ấy do khả năng diễn đạt tiếng Trung của anh em còn yếu nêm mỗi suất một đồng thành 5 đồng. Sau bữa ấy, chúng tôi có thêm bài học kinh nghiệm về vốn ngoại ngữ và quyết tâm luyện tập kĩ năng nghe và nói tiếng Trung Quốc để phục vụ tốt cho học tập, công tác sau này.

Khi tàu chạy ban ngày, chúng tôi ai cũng muốn nhìn qua cửa sổ để ngắm đất nước Trung Hoa vĩ đại. Làng xóm, nhà máy, đền đài, cả những dòng sông của đất nước Trung Hoa đều mới lạ, hấp dẫn chúng tôi. Sau 3 ngày 4 đêm trên chuyến tàu liên vận quốc tế Hà Nội - Bắc Kinh, tàu đã về đến ga Phong Đài, lúc ấy là 16 giờ 30 phút ngày 27 tháng 8 năm 1956. Bước xuống sân ga, một niềm vui dâng lên trong tôi đến khó tả. Sân ga đông kín người, tiếng còi tàu rú vang tưởng như không dứt, những đường ray sáng lấp lóa, tàu ra vào ga như con thoi. Các cán bộ Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc đã chờ đón chúng tôi. Họ bắt tay, ôm hôn chúng tôi như đón những người thân đi xa trở về.

Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 đóng ở Tân Điếm cách trung tâm thủ đô Bắc Kinh 30km. Doanh trại nhà trường năm trên khu đất rộng với nhiều dãy nhà cao 2 - 3 tầng. Đoàn Việt Nam sang học được bạn bố trí ở gọn trên tầng 2 của một ngôi nhà. Mấy ngày đầu mới sang chúng tôi được nghỉ ngơi, đi tham quan một số danh lam thắng cảnh của thủ đô Bắc Kinh, làm công tác tổ chức, tìm hiểu truyền thống nhà trường. Đoàn Việt Nam được biên chế thành một trung đội thuộc đại đội học viên do Trương Bản Chí làm Đại đội trưởng. Trưởng đoàn Đào Huy Vũ bây giờ là Trung đội trưởng, Trung đội phó là cán bộ khung của trường: Trung úy Nội Tùng Đình. Trương Đạo Hà làm phiên dịch cho lớp.

Ngày 5 tháng 10 năm 1956, nhà trường khai giảng năm học mới theo chương trình đào tạo sĩ quan 3 năm. Năm học đầu tiên chúng tôi gặp nhiều khó khăn cả trong học tập và sinh hoạt. Vốn tiếng của lớp còn hạn chế nên nói và viết đều chậm. Thời tiến ở Trung Quốc cũng khác ta, mùa hè rất nóng còn mua đông có bão tuyết, nhiệt độ thường là dưới không độ. Lần đầu tiên được thấy tuyết rơi, mấy anh em còn trẻ chạy ra hứng tuyết, reo hò. Sau đó vào mùa đông, giờ thể dục buổi sáng chúng tôi chỉ việc quét tuyết đã thấy mệt. Những ngày đầu do ăn uống chưa quen có người đã bị ốm. Chi bộ họp ra nghị quyết, xác định quyết tâm trong học tập, rèn luyện; mỗi đảng viên phải là một tấm gương sáng để anh em noi theo. Từng tiểu đội tổ chức học thêm ngoài giờ, phân công kèm cặp. Chúng tôi tranh thủ thời gian để học. Học ngày, học đêm, học trên giảng đường, học ngoài bãi tập, tự học ở nhà. Tuy vất vả nhưng rất vui vì kết quả học tập tiến bộ. Trong sinh hoạt ngày thường khi tiếp xúc với bạn nhiều chuyện tức cười đã xảy ra. Đá bóng vào học viên bạn, không nói “xin lỗi” mà lại “cảm ơn”. Khi vào cửa hàng mua cao hổ cốt nói sai thành cao dán nhọt. Buồn cười nhất là khi đi ra chợ, anh em quên từ “con gà mái”, phải nói là “mau vợ con gà trống”.

Chương trình học tập chủ yếu là chiến thuật quân sự, công tác chỉ huy - tham mưu, học khai thác sử dụng xe tăng thiết giáp, học lái ô tô, lái xe tăng; học khai thác sử dụng vũ khí, khí tài quang học, phòng hóa. Về phương pháp, bạn rất coi trọng rèn luyện kĩ năng, vì vậy chúng tôi được học và thực hành rất kĩ.

Từ năm học thứ hai, lớp tiến bộ rất nhanh, tiếp thu bài ít khi cần đến phiên dịch. Có những nội dung kiểm tra, thi nhiều lần nên anh em chúng tôi hầu như thuộc lòng, sử dụng phương tiện thành thục. Nhiều bài thì chúng tôi còn đạt kết quả cao hơn cả học viên bạn. Tiếng Trung Quốc cũng có tiến bộ vượt bậc, đã có nhiều đồng chí nói nghe tốt như Lê Xuân Kiện, Phùng Văn Minh, Đỗ Văn Xảo, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Doãn. Tuy nhiên, một số đồng chí nói và nghe tiếng Trung Quốc còn yếu. Tôi còn nhớ đồng chí Lê Thành Liễu, khi giáo viên đề nghị thực hành thì làm đâu ra đấy, nhưng hỏi lí thuyết thì lắc đầu “tôi không biết”. Đồng chí Liễu người Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, rất tốt, hiền từ, cả lớp ai cũng mến, chỉ tội phát âm tiếng Trung Quốc không chuẩn. Sau buổi kiểm tra của giáo viên, nhiều người gọi vui Lê Thành Liễu là đồng chí “Tôi không biết”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:51:22 AM »

Huấn luyện dã ngoại luôn là niềm hứng thú của mỗi học viên chúng tôi. Mỗi đợt hành quân như thế bạn đặt ra yêu cầu rất cao. Trong hành quân, huấn luyện dã ngoại các tình huống huấn luyện giả định như chiến tranh. Bộ đội ăn lương khô, bánh mì, không được nấu nướng. Địa điểm huấn luyện dã ngoại có cái tên rất đẹp: Thạch Gia Trang. Tại đây có bãi lái, bãi tập chiến thuật từ cấp trung đội cho đến trung đoàn xe tăng. Mỗi đợt huấn luyện dã ngoại trở về ai cũng gầy, đen, nhưng điều quan trọng nhất chính là mỗi chúng tôi rắn rỏi, trưởng thành lên rất nhiều về thực hành lái, bắn, chiến thuật và năng lực chỉ huy chiến đấu.

Ba năm học tập, rèn luyện ở Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc. Nhà trường có một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, tận tình chu đáo trong giảng dạy, coi học viên Việt Nam như những người đồng chí, người anh em. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh giáo viên bắn súng Tiền Biêu bao giờ cũng đến lớp rất sớm. Mùa đông Trung Quốc lạnh, những hôm rét, nhiệt độ xuống dưới mấy độ âm. Khi chúng tôi đang ngủ thì thầy Tiền Biêu đã đến để xem lò sưởi đù ấm cho anh em chưa. Thầy giáo chiến thuật Khương Vân Hải nhà ở gần trường nên nhiều hôm ở lại hướng dẫn thêm cho học viên Việt Nam những bài học khó.

Ngày ấy, Trung Quốc mới tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mọi người phải “thắt lưng buộc bụng” để xây dựng đất nước. Lúc ấy, bạn đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1956 - 1960). Chúng tôi vào học được vài tháng thì đất nước Trung Hoa diễn ra một sự kiện lớn: Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (họp từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 1956).

Trung Quốc là đất nước rộng lớn với diện tích gần 10 triệu cây số vuông. Dân số ngày ấy khoảng 600 triệu người. Từ năm 1957, kinh tế đã có dấu hiệu đi xuống, bắt đầu những năm mất mùa. Sản lượng lương thực của Trung Quốc năm 1958 giảm 200 triệu tấn.

Tuy đang gặp phải những khó khăn nhưng bạn chăm lo cho học viên quân sự Việt Nam rất chu đáo trong điều kiện tốt nhất có thể. Bạn bố trí cho 4 học viên ở trong một phòng có bàn ghế, giường tủ đầy đủ. Để chống lại cái giá lạnh của phương Bắc, bạn trang bị cho học viên ba quần áo bông, áo khoác bông, nệm giường cũng bằng bông. Hệ thống lò sưởi bằng hơi nước được lắp đặt đến tận phòng ngủ. Đời sống văn hóa của học viên cũng được bảo đảm, có phòng chơi bóng bàn, phòng đọc sách, căng tin bán các mặt hàng thiết yếu với giá rẻ.

Thời kì chúng tôi học, Trung Quốc đang thực hiện phong trào thi đua “Đại nhảy vọt”. Trong nhà trường, “Đại vọt tiến” cũng diễn ra rất sôi nổi. Hưởng ứng phong trào thi đua này, chúng tôi đăng kí học tập, rèn luyện, lao động sản xuất tốt, không hề chịu thua kém học viên Trung Quốc. Phía sau nhà ở có một khu đất đại đội chia cho chúng tôi tăng gia rau xanh. Trên khu đất ấy, chúng tôi trồng rau muống mang hạt từ Việt Nam sang, nhưng nhiều hơn là củ cải đường. Để cho năng suất cao, chúng tôi đào đất, xới tung lên như đào công sự. Đất được làm kĩ, những luống rau trồng sau tốt hơn hẳn. Chúng tôi thu hoạch rau bán cho nhà bếp mỗi tháng đôi lần được đại đội khen ngợi. Ngày đó, Trung Quốc đang có phong trào: “Toàn dân làm gang thép”. Lớp học viên chúng tôi hưởng ứng bằng cách ra thao trường tìm chốt xích, bánh chịu nặng, dải xích mang về cưa ra, cho vào lò nấu thép thành gang.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất của chúng tôi khi học ở Trung Quốc là đợt đi lao động xây dựng công trình đại thủy nông Thập Tam Lăng. Trên công trường này, hằng ngày có tới cả vạn người gồm bộ đội, nhân dân, học sinh, sinh viên lao động. Anh em chúng tôi gánh đất từ chân dốc, vượt qua con đê cao, đổ vào xe goòng chở đi. Lao động thủ công rất vất vả nhưng ăn uống chủ yếu là “Ua thầu” (bánh ngô). Vì là bộ đội Việt Nam nên chỉ huy công trường ưu tiên cho chúng tôi được ăn cơm. Nhiều hôm, đồng chí Đào Huy Vũ mang cơm sang đổi cho đơn vị bạn lấy bánh ngô. Việc làm này được đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc rất cảm động. Để kỉ niệm một tháng lao động, đồng chí Mai Thanh Bình đã sáng tác bài hát vui “Ua thầu”. Một tháng lao động trên đại công trường Thập Tam Lăng đã trôi qua nhờ sức trẻ, các câu chuyện, bài hát vui góp phần xua tan mệt nhọc.

Trong đào tạo, bạn rất coi trọng đến các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Hàng tuần chúng tôi đều được xem phi, chủ yếu là các bộ phim chiến đấu của Hồng quân Liên Xô, Trung Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc kháng chiến chống Nhật và cuộc “Kháng Mĩ viện Triều”. Nhà trường còn định kì tổ chức các hoạt động liên hoan văn nghệ. Tôi nhớ lầy ấy trung đội dàn dựng tiết mục “Hò kéo pháo” và múa sạp để tham gia liên hoan văn nghệ với nhà trường. Vì không có nữ nên các anh Dương Đằng Giang, Nguyễn Đình Doãn, Nguyễn Tường Tiến đóng vai cô gái Thái. Nguyễn Đình Doãn quê Đô Lương - Nghệ An trẻ nhất nhì lớp, mới 21 - 22 tuổi, lại đẹp trai, có giọng hát hay. Trong tiết mục “Hò kéo pháo”, anh đảm nhiệm lĩnh xướng được bạn khen ngợi.

Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh là trường học quân sự lớn đầu đời của tôi. Cách đào tạo của bạn khá hiện đại nhưng lại gần gũi, sát với cán bộ, chiến sĩ người Việt Nam vừa đi qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vốn đang yếu về kiến thức. Sau mỗi học kì, nhà trường tổ chức hướng dẫn ôn cho cả lớp. Các đồng chí giáo viên kĩ thuật, chiến thuật đã tận tình giúp đỡ anh em trong lúc ôn tập, giải đáp, hướng dẫn những câu hỏi để nắm chắc bài. Các đợt kiểm tra học kì và cuối năm lớp đều đạt yêu cầu, có từ 65% khá giỏi. Trong ba năm học tập, nhiều đồng chí đã lập được thành tích xuất sắc, được nhận Huy hiệu Hữu nghị của Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Ba năm lao động, “cày xới” trên “cánh đồng tri thức” về chỉ huy, kĩ thuật xe tăng, nay “mùa gặt” đã đến. 100% đảng viên trong chi bộ xác định quyết tâm “ôn luyện tốt, thi tốt nghiệp đạt kết quả cao”. Nhà trường tổ chức kì thi tốt nghiệp quốc gia, anh em đều thi rất tự tin, không qua phiên dịch. Đồng chí Nguyễn Thế Hùng, khi thi môn Chính trị đã trả lời hai tiếng đồng hồ bằng tiếng Trung, được hội đồng thi cho điểm xuất sắc. Vốn là dân xứ Quảng, phát âm thường nặng nên thời kì đầu tôi học tiếng Trung Quốc khá vất vả. Nhưng do sự cố gắng của bản thân, lại được đồng chí đồng đội giúp đỡ, tôi luôn đạt điểm khá các môn trong suốt quá trình học tập. Cả 36 đồng chí đều đỗ tốt nghiệp, trong đó có 27 người đạt điểm khá giỏi, trong đó có tôi.

Chúng tôi đã trưởng thành lên rất nhiều sau ba năm học tập trên đất nước Trung Hoa. Trong sâu thẳm trái tim mình, chúng tôi biết an Đảng cộng sản Trung Quốc, Chính phủ, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Bộ Tư lệnh Xe tăng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chúng tôi cũng rất biết ơn tới Ban giám hiệu, các cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc đã hết lòng giúp đỡ, tận tình giảng dạy và phục vụ, góp phần bồi đắp tình hữu nghị Việt - Trung đời đời bền vững.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 243


« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2013, 10:53:17 AM »

Ngày 16 tháng 8 năm 1959, nhà trường làm lễ tốt nghiệp cho các sĩ quan Việt nam. Bữa tiệc do Ban giám hiệu nhà trường tổ chức rất trọng thể, có rượu Mao Đài, thịt lợn quay, vịt quay Bắc Kinh, cá rán.

Sau khi tốt nghiệp, theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng nước ta, lớp sĩ quan chỉ huy chúng tôi cùng với lớp sĩ quan kĩ thuật Trường Xe tăng số 2, lớp đào tạo kíp xe Trường Hạ sĩ quan số 4, lớp đào tạo thợ sửa chữa Trường số 5 về tập trung tại thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Tây để chuẩn bị làm lễ thành lập trung đoàn. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Quảng Tây là hậu phương của Việt Nam. Số vũ khí trang bị của nước bạn Liên Xô viện trợ cho ta cũng được tập kết tại đây. Thật vui mừng và cảm động, chúng tôi được đón 23 đồng chí cán bộ chính trị từ chính trị viên đại đội đến chính ủy trung đoàn vừa ở nhà sang. Trong số họ, có người đã cùng tôi chiến đấu chống Pháp trên chiến trường Liên khu 5.

Những ngày trên đất bạn, chúng tôi đón nhận từ niềm vui này đến niềm vui khác. Niềm vui và hạnh phúc đến với chúng tôi khá bất ngờ khi từng đoàn tàu hỏa chở gần 100 xe tăng, pháo tự hành dừng bánh ở ga Quế Lâm. Chúng tôi nhận xe, thay phiên nhau chỉ huy, lái xe chạy trên đường bộ 10km từ ga xe lửa về doanh trại. Tuy rất mệt nhưng ai cũng vui và tự hào.

Ngày thành lập trung đoàn sắp đến, chúng tôi khẩn trương kiểm tra, bảo dưỡng xe máy, vũ khí, khí tài. Xe tăng T34 do Liên Xô sản xuất phục vụ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức. Trong số 100 xe tăng, pháo tự hành viện trợ cho ta có chiếc đã từng tung hoành trên chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Để xe sạch, đẹp chúng tôi phải tháo gỡ từng tấm nhíp, đục cậy hết đất đá bám chặt vào các răng xích, thay hết các tấm và chốt xích đã quá tiêu chuẩn cho phép. Sau khi công tác bảo dưỡng hoàn tất, trên tháp pháo từng xe được in hình phiên hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam (vòng tròn nền đỏ sao vàng) và đánh số bắt đầu từ 100, tiếp theo 101, 102. Thế là từ đây, quân đội ta đã có một loại trang bị hiện đại, trong khi nền công nghiệp nước nhà còn nhỏ bé. Hầu hết anh em chúng tôi đều là con cháu nông dân, được Đảng, nhân dân giao cho quản lí sử dụng một loại trang bị hiện đại, chúng tôi vừa sung sướng, vừa tự hào. Thấy rõ hơn trách nhiệm của mình - những chiến sĩ xe tăng của quân đội ta.

Cuối tháng 8 năm 1959, Trung đoàn làm công tác biên chế. Quân phục Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã nộp lại cho nhà trường, quân phục quân đội ta chưa đưa sang kịp, thế là anh em mặc quần xanh áo trắng đứng làm lễ. Chúng tôi đội ngũ chỉnh tề, trang nghiêm đứng dưới lá cờ Tổ quốc nghe đồng chí Đào Huy Vũ đọc quyết định biên chế và giao trang bị cho từng người, từng phân đội. Chiếc xe mang số hiệu 100 do Thiếu tá Đào Huy Vũ - Trung đoàn trưởng làm trưởng xe. Tiếp đến là Đại úy Nguyễn Văn Phước - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 trưởng xe tăng số 101; Trung úy Phùng Văn Minh - Đại đội trưởng Đại đội 1 - trưởng xe tăng số 102. Cứ như vậy, gần hai giờ đồng hồ, tên mỗi cán bộ được đặt vào vị trí chiến đấu trên từng chiếc xe tăng, pháo tự hành và các vị trí công tác khác. Đọc đến tên ai người ấy đáp “Có” dõng dạc, hiên ngang bước lên phía trước, xếp thành hàng ngang trên đầu xe của mình như đội hình chiến đấu.

Ngay sau lễ công bố các quyết định về biên chế, tổ chức, một bộ phận gồm các đồng chí: Dương Đằng Giang, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Bùi Đức Tính, Nguyễn Xuân Khai, Nguyễn Đình Doãn… về trước để lo xây dựng khu xe, tìm trường bắn, bãi lái cho trung đoàn.

Lễ thành lập Trung đoàn xe tăng 202 - đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta được tổ chức tại thành phố Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) vào đúng ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1959. Thiếu tướng Trần Văn Quang - Phó Tổng tham mưu trưởng thay mặt Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập Trung đoàn. Anh Đào Huy Vũ được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng. Tôi có quyết định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3.

Trung úy Phùng Văn Minh - Đại đội trưởng Đại đội 1 được vinh dự thay mặt cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn phát biểu cảm tưởng. Trong tình cảm xúc động, Phùng Văn Minh đã bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã giáo dục, rèn luyện, nay đã giao cho quản lí, sử dụng trang bị vũ khí hiện đại này. Anh cũng đã thay mặt chúng tôi cảm ơn Đảng, nhân dân, Quân đội Trung Quốc đã tận tình giúp đỡ, đào tạo chúng tôi từ chiến sĩ bộ binh thành những chiến sĩ xe tăng thiết giáp có khả năng chiến đấu tốt và hứa sẽ tích cực học tập xây dựng trung đoàn vững mạnh, sẵn sàng về nước cùng toàn quân, toàn dân chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau này, chúng tôi được biết, ngày 5 tháng 10 năm 1959 là ngày Bộ Quốc phòng kí quyết định lấy làm ngày truyền thống trung đoàn. Nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1959, mãi mãi in đậm trong tâm khảm mỗi chúng tôi về sự ra đời Trung đoàn 202 xe tăng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong khi chờ đợi ngày về nước và được sự giúp đỡ của bạn, Trung đoàn bước vào đợt luyện tập mới. Đại đội 1 của Trung đoàn 202 do Trung úy Phùng Văn Minh chỉ huy tiến hành diễn tập thực binh với tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn La Thịnh Giáo của bạn. Đây là sư đoàn vừa về nước sau khi đã lập nhiều thành tích trong cuộc “Kháng Mĩ viện Triều”. Do đã được đào tạo cơ bản, luyện tập nhiều lần, lại thành thạo tiếng Trung Quốc nên cuộc diễn tập đạt kết quả tốt. Cùng thời gian này, Đại đội xe tăng 2 do Trung úy Nguyễn Hữu Trí chỉ huy tiến hành luyện tập dùng pháo xe tăng thực hành bắn đạn thật vào cụm mục tiêu cũng đạt kết quả tốt. Đợt diễn tập với Quân giải phóng nhân dân Trung quốc của Trung đoàn xe tăng 202 được bạn đánh giá xuất sắc.

Sau diễn tập, Trung đoàn tiếp tục huấn luyện, chăm sóc xe pháo, đợi ngày về nước.

Nhiệm vụ mới đang chờ tôi ở phía trước!
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM