Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Năm, 2021, 04:27:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân  (Đọc 46192 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #30 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 06:49:43 am »

88. ĐẠI ĐỘI 5 THÔNG TIN VÔ TUYẾN ĐIỆN
TIỂU ĐOÀN 77, TRUNG ĐOÀN 205
BỘ TƯ LỆNH THÔNG TIN - LIÊN LẠC


Đại đội 5 được thành lập tháng 4 năm 1961. Từ 1 trung đội sau phát triển thành đại đội, đơn vị có nhiều quân nhân gái; được giao nhiệm vụ giữ vững thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện với các chiến trường, đầu mối liên lạc thường xuyên là 80 đơn vị, có thời gian hơn 100 đơn vị. Việc liên lạc từ Bộ đến các chiến trường và ngược lại đều rất khẩn trương. Hàng ngày phải nhận từ 200 đến 300 bức điện, có ngày lên đến 500 bức. Cán bộ chiến sĩ đơn vị đã nêu cao tinh thấn tận tụy, tích cực, suốt ngày đêm theo dõi bám sát các đài bạn. Nhiều lần sấm sét đánh vào dây trời, có người bị ngất (chảy máu mồm máu tai) nhưng chị em vẫn kiên quyết không rời máy. Bất kể ngày đêm khi có tin tức quan trọng khẩn cấp, chỉ 1 đến 2 phút sau anh chị em đã báo cho trên xử trí được kịp thời giành thắng lợi. Đại đội còn nêu cao tinh thần đoàn kết hiệp đồng, giúp cho việc liên lạc giữa các đài trong chiến trường với nhau.

Tổng cộng trong 5 năm, đại đội 5 đã nhận và chuyển 213.567 bức điện (trong đó có 8070 bức điện tối thượng khẩn) đạt yêu cẩu nhanh chóng, kịp thời, chính xác, bí mật (tỷ lệ sai sót 0,3% là mức thấp nhất). Đại đội là đơn vị khá toàn diện, dẫn đầu trong các đơn vị vô tuyến điện trong toàn quân, đã được khen thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 năm liền là “Đơn vị Quyết thắng”.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Đại đội 5 được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





89. PHÂN XƯỞNG 4, NHÀ MÁY Z121
CỤC QUÂN GIỚI, TỔNG CỤC HẬU CẦN


Phân xưởng có 131 cán bộ nhân viên (80 là nữ). Nhiệm vụ của phân xưởng là lắp ghép và bảo quản các loại ngòi nổ của lựu đạn, mìn, bộc phá... Quá trình sản xuất phải tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại, dễ cháy, dễ nổ... sản phầm lại đòi hỏi có chất lượng cao, an toàn tuyệt đối, cán bộ và nhân viên phân xưởng đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Trong thời gian gần 3 năm lao động, phân xưởng đã phát huy gần 200 sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất, làm tăng năng suất từ 100% đến 600%, đã sản xuất được hơn 10 triệu ngòi nổ bảo đảm chất lượng tốt, đáp ứng về số lượng và chủng loại theo yêu cầu của trên. Đơn vị còn luôn tìm nhiều cách tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, làm lợi cho công quỹ hàng triệu đồng (ở thời điểm 1969 tương đương hàng ngàn lạng vàng).

Phân xưởng đã chú trọng đào tạo tại chỗ được 46 đồng chí từ trình độ sơ cấp trở thành trung cấp đủ đáp ứng nhu cầu công tác. Phân xưởng luôn giữ gìn quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt, giữ nghiêm kỷ luật trong sản xuất và đời sống. Phân xưởng có 6/10 tổ đạt danh hiệu “Tổ lao động xã hội chủ nghĩa”, phân xưởng được tặng thưởng 1 Huân chương Lao động hạng ba.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Phân xưởng 4 được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





90. DÂN QUÂN DU KÍCH XÃ VĨNH QUANG
KHU VỰC VĨNH LINH


Xã Vĩnh Quang nằm ở sát Cửa Tùng, giáp biển, giáp vùng Mỹ - ngụy kiểm soát; dân quân du kích có 142 người, 20 là nữ. Trong thời gian giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, chúng đã cho máy bay đánh phá hơn một nghìn lần, ném xuống xã hàng vạn quả bom cùng đạn tên lửa. Địch còn cho pháo từ tàu biển bắn hàng chục vạn quả pháo làm hư hại 4/5 số nhà của nhân dân trong xã. Trong hoàn cảnh đó, dân quân du kích Vĩnh Quang đã kiên cường bám đất, bám làng chiến đấu, địch đến bất kể lúc nào cũng nổ súng đánh trả. Đơn vị đã bắn rơi 2 máy bay F4 của Mỹ bằng súng bộ binh và góp phần bắn rơi 4 chiếc khác. Các đội cứu sập của dân quân du kích xã đã hàng trăm lần xông vào nơi bom đạn bới hầm, dập lửa để cứu tính mạng, nhà cửa, tài sản của nhân dân. Sau mỗi lần máy bay đánh phá, các tổ phá bom đã tới các khu vực có bom để tháo, phá hàng trăm quả bom chưa nổ, đảm bảo cho nhân dân đi lại sản xuất được an toàn.

Dân quân du kích đã đào được hơn 50km hào giao thông, hàng chục km địa đạo, gần 2000 hầm trú ẩn và tích cực vận động nhân dân đào hầm đắp ụ quanh nhà để phòng tránh được tốt. Ngoài ra, dân quân du kích còn đóng góp 30.000 ngày công đào đắp trận địa, chở bộ đội và vũ khí qua sông, tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ, chở thương binh từ mặt trận về.

Dân quân du kích xã Vĩnh Quang là “Đơn vị Quyết thắng” 4 năm liền, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất và 3 Huân chương Chiến công hạng ba.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Dân quân du kích xã Vĩnh Quang được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #31 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 06:52:15 am »

91. DÂN QUÂN DU KÍCH XÃ QUẢNG PHÚC
HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH


Xã Quảng Phúc nằm ở phía Bắc sông Gianh. Từ năm 1965 đến cuối năm 1968, xã bị địch cho máy bay đến bắn phá hơn 16000 lần, ném hơn 15000 quả bom các loại, bắn gần 3000 quả đạn rốc két; tàu chiến bắn 375 lần, phá hỏng một nửa số nhà dân.

Dân quân du kích nêu cao quyết tâm chiến đấu tổ chức các đội trực chiến bố trí ở nơi máy bay địch hay bắn phá, ngày đêm sẵn sàng nổ súng đánh trả, đã bắn rơi 3 chiếc F4 bằng các loại súng bộ binh. Các đội cứu sập của dân quân đã dũng cảm xông vào nơi nguy hiểm, cứu 175 người, 95 nóc nhà khỏi bị cháy. Các đội phá bom đã phá được hơn 200 quả bom các loại, bảo vệ an toàn cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

Ngày 13 tháng 7 năm 1967, lực lượng tuần tra dân quân du kích phối hợp với bộ đội hải quân phát hiện và bắt gọn 1 toán biệt kích 12 tên vừa tới địa phận xã. Toàn bộ lực lượng dân quân du kích xã có 385 người, (gần 30% là phụ nữ và người cao tuổi), song, vẫn đóng góp hàng chục vạn ngày công phục vụ chiến đấu (đào đắp trận địa, kéo pháo, vận chuyển bảo đảm giao thông). Nhiều lần giữa lúc bom đạn địch đang trút xuống, dân quân du kích vẫn bình tĩnh dũng cảm chèo thuyền tiếp đạn, băng bó thương binh, sửa chữa đường xá, cứu xe, cứu thuyền (đã cứu được 47 xe ôtô, 100 chiếc thuyền, hơn 100 người, hơn 1000 tấn hàng). Dân quân du kích đã đào hệ thống hào giao thông từ làng ra đồng, liên thôn liên xã và hàng ngàn hầm trú ẩn nơi công cộng cho nhân dân đi lại, trú ẩn được thuận tiện.

Dân quân du kích xã Quảng Phúc 4 năm liền được công nhận là “Đơn vị Quyết thắng”, được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Dân quân du kích xã Quảng Phúc được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





92. TRUNG ĐỘI DÂN QUÂN KIM ĐÀI
HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH


Trung đội dân quân Kim Đài được thành lập tháng 10 năm 1961, gồm 42 người ở nhiều xã trong huyện tập trung lại được điều đến xã Kim Đài (gần ngã ba sông Đáy giáp với 3 tỉnh: Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa) làm nhiệm vụ đánh máy bay địch. Mặc dù là nơi địch thường xuyên đánh phá, tình hình địa bàn lại có nhiều phức tạp, đơn vị đã quyết tâm vượt mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đơn vị thường xuyên sẵn sàng chiến đấu máy bay địch đến là nổ súng được ngay. Trung đội đã bắn rơi 2 máy bay (F4H và A4D), phối hợp đơn vị khác bắn rơi 1 chiếc. Ngoài ra đơn vị còn phát hiện và kịp thời thông báo tình hình máy bay địch bay theo triền sông cho các đơn vị bạn. Đơn vị đã tích cực tuần tra canh gác, bắt quả tang 5 tên phản động đang hoạt động phá hoại.

Đơn vị đã nhiều lần cứu được thuyền của Nhà nước và nhân dân bị máy bay địch bắn đắm.

Trung đội dân quân Kim Đài 4 năm liền được tặng danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”, là lá cờ đầu về phong trào dân quân của tỉnh Ninh Bình, được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba. 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Trung đội dân quân Kim Đài được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





93. TRUNG ĐỘI DU KÍCH TẬP TRUNG
HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


Trung đội du kích tập trung huyện Vĩnh Bảo thành lập tháng 12 năm 1965, được giao nhiệm vụ cơ động bắn máy bay địch bảo vệ các mục tiêu quan trọng trong huyện, quân số 34 người, vũ khí có súng trường, súng 12,7 ly và 14,5 ly. Cán bộ chiến sĩ đơn vị có quyết tâm cao, chiến đấu mưu trí dũng cảm nên đã bắn rơi 3 máy bay địch, bắn bị thương 1 chiếc. Trận ngày 29 tháng 8 năm 1967 ở xã Lý Học do phán đoán đường bay của địch chính xác, đã bắn đón diệt 1 chiếc AD6. Ngày 17 tháng 11 năm 1967, anh em khôn khéo kéo một chiếc thuyền hỏng để nhử 4 máy bay địch lao xuống đúng tầm bắn mới nổ súng bắn rơi 1 chiếc A4. Có trận chỉ bằng 43 viên đạn đơn vị đã bắn rơi tại chỗ 1 máy bay không người lái.

Đơn vị kết hợp tốt chiến đấu và xây dựng đã huấn luyện cho mọi chiến sĩ đều sử dụng thành thạo 3 loại máy được trang bị.

Trung đội 3 năm liền được công nhận là Đơn vị Quyết thắng (1966, 1967, 1968), được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhì.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Trung đội du kích tập trung huyện Vĩnh Bảo được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #32 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 06:54:17 am »

94. ĐẠI ĐỘI 1 BỘ BINH
TIỂU ĐOÀN 1, TRUNG ĐOÀN 4


Đại đội 1 là một trong những đơn vị vũ trang tập trung được thành lập đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đơn vị đã qua 9 năm rèn luyện và trưởng thành trong một chiến trường cực kỳ gian khổ.

Đại đội 1 đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Tua 2 lịch sử (tháng 2 năm 1960). Từ đó, đơn vị liên tiếp đánh thắng mọi đối tượng Mỹ, ngụy và chư hầu, đánh thắng trên nhiều địa hình, trong nhiều hình thức chiến thuật.

Chỉ tính riêng năm 1968, đại đội đã diệt 1200 tên địch, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, 1 đại đội lính Thái Lan, 1 đại đội và 1 sở chỉ huy tiểu đoàn quân ngụy. Cán bộ chiến sĩ đoàn kết, phát huy ý thức tự lực, tự cường, tinh thần tích cực tiến công địch.

Đại đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, 10 Huân chương Chiến công các hạng, được tặng cờ “Đơn vị khá nhất”, cờ “Dũng cảm, đánh hăng, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” và danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đại đội 1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





95. ĐẠI ĐỘI 2 BỘ BINH
TIỂU ĐOÀN 4, TRUNG ĐOÀN 2, SƯ ĐOÀN 9


Đại đội 2 đã góp phần vẻ vang vào chiến thắng Bình Giã và là mũi tiến công dứt điểm chi khu Đồng Xoài. Đơn vị đã liên tiếp lập công trong thời kỳ “Chiến tranh cục bộ”.

Từ năm 1962 đến tháng 2 năm 1969, đại đội 2 đã tiêu diệt 3000 tên địch (có 2000 tên Mỹ), diệt 12 đại đội, 10 trung đội (có 7 đại đội Mỹ), phá hủy 121 xe tăng, xe bọc thép, diệt gọn chi đoàn xe bọc thép đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trong chiến dịch Bình Giã (tháng 12 năm 1964).

Là đơn vị xây dựng tiến bộ vững chắc, tác chiến giỏi, đánh thắng trên tất cả loại địa hình trong nhiều hình thức chiến thuật. Đại đội 2 là ngọn cờ đầu diệt xe cơ giới Mỹ của đoàn Đồng Xoài.

Đơn vị đã được tặng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 19 Huân chương Chiến công cho tập thể và cá nhân, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





96. ĐẠI ĐỘI 7 PHÁO BINH
TIỂU ĐOÀN 5, TRUNG ĐOÀN 96, ĐOÀN 75
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ


Đại đội 7 luôn luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn gian khổ, bám trụ dài ngày chiến đấu lập công xuất sắc. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã xây dựng tinh thần, tác phong chiến đấu tốt, đánh hiệp đồng chi viện cho bộ binh, đánh độc lập, đánh địch bằng vũ khí bộ binh đều giỏi.

Trong năm 1968, chỉ tính riêng kết quả những trận đánh độc lập, đại đội 7 đã diệt hơn 1000 tên địch, phá hủy 37 máy bay, 55 xe cơ giới, 21 khẩu pháo. Đại đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, được tặng danh hiệu Đơn vị Thành đồng Quyết thắng.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đại đội 7 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #33 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 06:56:55 am »

97. ĐỘI PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG (K20)
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ


K20 là một đơn vị nhỏ, nhân viên phục vụ, phương tiện, dụng cụ, thuốc men thiếu lại thường xuyên hoạt động ở vùng sâu, bị địch liên tục càn quét, đánh phá. Nhưng cán bộ, y bác sĩ, nhân viên trong đội đã có quyết tâm cao, tự lực tự cường, dũng cảm bền bỉ chịu đựng gian khổ ác liệt đứng vững trên chiến trường vùng sâu bảo đảm tiếp nhận, cứu chữa thương binh.

Đội hết sức coi trọng xây dựng nội nội, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, có quan điểm phục vụ tốt. Cả đội đã thực hiện tốt khẩu hiệu “Tất cả vì thương binh, trước hết cho thương binh”. Tuy chỉ là một đội phẫu thuật nhưng K20 đã làm tốt nhiệm vụ của một bệnh viện trên một địa bàn vô cùng khó khăn, cứu chữa nhiều thương binh có vết thương hiểm nghèo.

Đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đội phẫu thuật (K20) được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





98. TIỂU ĐOÀN 261A (HI-RÔN) BỘ BINH
MIỀN TRUNG NAM BỘ


Tiểu đoàn 261A luôn phát huy truyền thống Ấp Bắc lịch sử, đã liên tiếp giành thắng lợi. Trong các thời kỳ “Chiến tranh đặc biệt” đến cao trào Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam.

Đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương chống phá âm mưu bình định của địch. Tiểu đoàn 261A là đơn vị có hiệu suất chiến đấu cao, đánh thắng nhiều hình thái chiến thuật, tiêu diệt nhiều tiểu đoàn Mỹ, ngụy trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long.
Qua 8 năm chiến đấu, đơn vị đã tiêu diệt gần 20000 tên địch (có khoảng 2000 tên Mỹ), diệt 10 tiểu đoàn, (có 1 tiểu đoàn Mỹ) 32 đại đội và 8 trung đội, bức hàng hơn 100 đồn bốt.

Tiểu đoàn đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhất, 189 Huân chương Quân công, Chiến công cho tập thể và cá nhân, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”, được Bộ chỉ huy Trung Nam Bộ tặng cờ “Đi chiến thắng, đánh diệt gọn”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Tiểu đoàn 261A được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





99. TIỂU ĐOÀN 516 BỘ BINH
BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẾN TRE


Tiểu đoàn 516 trưởng thành từ phong trào đồng khởi, được nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, đùm bọc, đơn vị đã trưởng thành nhanh chóng và vững chắc. Cán bộ chiến sĩ luôn phát huy tinh thần tự lực, tự cường vượt mọi khó khăn liên tục chiến đấu, càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, tiểu đoàn đã bám trụ trong thị xã Bến Tre, đánh phản kích diệt nhiều đơn vị Mỹ, ngụy. Tiếp đó, đơn vị kiên trì trụ bám vùng ven, phối hợp cùng các đơn vị trong tỉnh đánh địch mở địa bàn, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy. Từ năm 1965 đến năm 1968, tiểu đoàn đã diệt 11.000 tên địch (có trên 400 tên Mỹ), diệt gọn 12 tiểu đoàn, 20 đại đội (có 2 tiểu đoàn và 4 đại đội Mỹ), 18 trung đội, bắn chìm, bắn cháy 74 tầu (có 2 hạm), bắn rơi 30 máy bay, 61 xe quân sự.

Đơn vị đã được tặng thưởng 8 Huân chương Quân công hạng ba, 41 Huân chương Chiến công cho tập thể và cá nhân, danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”, được tặng cờ Tiến công liên tục thắng Mỹ, diệt ngụy.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Tiểu đoàn 516 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #34 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 06:59:08 am »

100. ĐỘI SĂN TÀU SỐ 1
BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẾN TRE


Đội săn tàu số 1, là tập thể có tinh thẩn chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường đã bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông. Tuy lực lượng nhỏ, nhưng, cán bộ, chiến sĩ trong đội đã mưu trí, sáng tạo nhiều cách đánh đạt hiệu suất cao. Từ cuối năm 1967 đến tháng 6 năm 1969, Đội săn tàu số 1 đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu xuồng chiến đấu của địch (trong đó có 1 tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự.

Đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, được tặng cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”, góp phần đánh bại chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đội săn tàu số 1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





101. ĐẠI ĐỘI 6 BỘ BINH
TIỂU ĐOÀN 8 TRUNG ĐOÀN 3, MIỀN ĐÔNG NAM BỘ


Đại đội 6 luôn phát huy truyền thống vẻ vang của chi đoàn 61 lá cờ đầu của phong trào thanh niên trong các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Đơn vị đã cơ động chiến đấu trên nhiều chiến trường, đánh thắng nhiều đối tượng là đơn vị “Đánh giỏi, thắng nhiều” của miền Đông Nam Bộ.

Chỉ tính riêng trong 2 năm 1968, 1969, Đại đội 6 đã diệt 2300 tên địch, diệt gọn 12 đại đội (có 5 đại đội Mỹ), 2 sở chỉ huy tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 109 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo 105, 155 ly.

Đơn vị đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 7 Huân chương Chiến công các hạng, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đại đội 6 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





102. TIỂU ĐOÀN 1 BỘ BINH
PHÂN KHU 3, MẶT TRẬN SÀI GÒN


Được nhân dân hết lòng che chở, nuôi dưỡng, Tiểu đoàn 1 đã trưởng thành nhanh chóng và vững chắc. Cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn có quyết tâm cao, tích cực tiến công địch, đoàn kết hiệp đồng với đơn vị bạn đánh bồi, đánh nhồi, diệt nhiều sinh lực địch, diệt gọn nhiều đơn vị, san bằng nhiều đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng.

Tính riêng trong 2 năm 1968, 1969, Tiểu đoàn 1 đã diệt gần 10000 tên địch (có 2000 tên Mỹ), diệt 8 tiểu đoàn, 29 đại đội và 34 trung đội (có 1 tiểu đoàn pháo binh và 5 đại đội, 10 trung đội Mỹ), phá hủy 75 xe quân sự, bắn rơi 30 máy bay.

Tiểu đoàn được tặng 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 7 Huân chương Quân công hạng ba, 24 Huân chương Chiến công cho tập thể và cá nhân, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Tiểu đoàn 1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #35 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2014, 07:01:21 am »

103. ĐẠI ĐỘI 2 BỘ BINH
TIỂU ĐOÀN 4, TRUNG ĐOÀN 320, MẶT TRẬN SÀI GÒN


Đại đội 2 là đơn vị thường xuyên nhận nhiệm vụ khó khăn, nặng nề nhất, luôn đi đầu trong các nhiệm vụ tác chiến và xây dựng của trung đoàn 320. Cán bộ, chiến sĩ trong đại đội đã liên tục chiến đấu và chiến thắng nhiều đối tượng và trên nhiều địa hình phức tạp. Đại đội 2 là đơn vị có tác phong chiến đấu tốt, đã nổ súng là thọc sâu, đánh mạnh, tiêu diệt gọn đơn vị địch.

Từ năm 1967 đến tháng 6 năm 1969, đại đội đã diệt trên 1500 tên địch, diệt gọn 5 đại đội, 5 trung đội Mỹ.

Đại đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, 35 Huân chương Chiến công Giải phóng cho tập thể và cá nhân.
Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





104. ĐẠI ĐỘI 40 ĐẶC CÔNG
TIỂU ĐOÀN 402, QUÂN KHU 5


Đại đội 40 đặc công thành lập năm 1960, từ đó hoạt động trong địa bàn Quân khu 5 (cả đồng bằng và miền núi). Đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, diệt được 5.112 tên địch (có hơn 2500 Mỹ, 500 Nam Triều Tiên), phá hủy 216 máy bay (93 máy bay phản lực) và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đơn vị đã đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn, diệt gọn 11 đại đội, 2 trung đội địch. Trận đánh vào quận lỵ Đắc Hà (Kontum) năm 1961 Đại đội 40 đã diệt 200 tên địch, thu 170 súng; trận đánh vào sân bay Nha Trang (tháng 11 năm 1965) đơn vị có 25 đồng chí đã diệt được 315 tên Mỹ, phá hủy 27 máy bay, trận đánh ở Quảng Ngãi (ngày 9 tháng 12 năm 1966) đã diệt được 500 tên Nam Triều Tiên thuộc lữ đoàn Rồng Xanh; trận tập kích sân bay An Hòa (ngày 30 tháng 11 năm 1967) đã phá hủy 50 máy bay lên thẳng, diệt 270 Mỹ)...

Đơn vị chú trọng xây dựng nội bộ trong chiến đấu cũng như lúc bình thường, đơn vị luôn giữ nghiêm kỷ luật, giữ gìn đoàn kết.

Đại đội đã được tuyên dương là lá cờ đầu trong Đại hội thi đua lấn thứ 3 của Quân khu 5, đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba,3 Huân chương Chiến công Giải phóng.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 40 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





105. ĐẠI ĐỘI 3 ĐẶC CÔNG
TIỂU ĐOÀN 10, SƯ ĐOÀN 2, QUÂN KHU 5


Đại đội 3 đặc công được thành lập tháng 7 năm 1966, từ đó hoạt động trên địa bàn Quân khu 5. Đơn vị có quyết tâm cao, chiến đấu mưu trí dũng cảm, đã đánh 28 trận, diệt 2148 tên (có 1498 Mỹ), bắt 15 tên ngụy trong đó đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn pháo binh, sở chỉ huy trung đoàn 5 thủy quân lục chiến Mỹ, 2 sở chỉ huy lữ đoàn, 3 sở chỉ huy tiểu đoàn, 2 đại đội Mỹ, 2 đại đội ngụy, thu 191 súng các loại, phá hủy 56 pháo cối, 4 trọng liên, 122 nhà lính, 11 máy bay, 20 xe quân sự, phối hợp với đơn vị tjạn phá hủy 3 kho nhiên liệu, 2 kho đạn, đốt cháy 2 bồn xăng hơn 1 triệu lít, giải phóng quận lị Duy Xuyên với 3000 dân. Trận đánh vào vị trí Dương Là ở Quảng Nam tháng 3 năm 1968 đơn vị diệt gọn 1 đại đội và 1 ban chỉ huy tiểu đoàn Mỹ, trận ngày 19 tháng 8 năm 1968, ở Liệt Kiêm đại đội diệt gọn 2 đại đội biệt kích ngụy. Trận An Hòa ngày 22 tháng 2 năm 1969, đơn vị đã chiến đấu rất quyết liệt, diệt 220 tên Mỹ (gần hết 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp của địch), đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy trung đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, phá hủy 10 máy bay, 10 khẩu pháo 105 và 175 ly, phối hợp đơn vị bạn đốt cháy 1 bồn xăng hơn triệu lít.

Đại đội 3 đã được tặng thưởng 2 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, 5 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 3 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2014, 10:45:58 am »

106. ĐẠI ĐỘI 4 ĐẶC CÔNG
TRUNG ĐOÀN 1, SƯ ĐOÀN 2 QUÂN KHU 5


Từ tháng 3 năm 1969, Đại đội 4 đặc công hoạt động ở Quân khu 5, địa bàn rất gian khổ ác liệt. Đơn vị đánh 45 trận tiêu diệt 1257 tên (có hơn 400 tên Mỹ), bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 18 khẩu pháo, 2 xe bọc thép và nhiều phương tiện chiến tranh, thu 131 súng (trong đó đã diệt gần hết 1 tiểu đoàn pháo, diệt gọn 1 sở chỉ huy nhẹ lữ đoàn, 1 sở chỉ huy tiểu đoàn, 5 đại đội... Từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, đại đội 4 đã diệt được 932 tên địch. Ngày 9 tháng 5 năm 1968,đơn vị đánh vào cứ điểm Ngọc Tà Vắt (Quảng Nam) diệt gọn 123 tên địch, thu nhiều vũ khí. Ngày 27 tháng 8 năm 1968, chỉ sau 15 phút chiến đấu đơn vị đã diệt gần hết số địch nống ra Kỳ Quý (Quảng Nam) gồm 80 tên Mỹ, tạo điều kiện tốt cho hướng chủ yếu của trung đoàn đánh địch được thuận lợi. Đêm 22 tháng 2 năm 1969, đơn vị tập kích vị trí Núi Lở, diệt gần hết 1 tiểu đoàn pháo binh Mỹ, đánh thiệt hại 1 sở chỉ huy tiểu đoàn và 1 đại đội khác, phá hủy 12 khẩu pháo, 5 đại liên và toàn bộ khu vực thông tin. đánh sập 5 lô cốt, 6 hầm ngầm.

Đại đội chiến đấu giỏi và tiến bộ đồng đều về các mặt, 100% cán bộ và chiến sĩ đơn vị được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Đại đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, 7 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng, được tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 15 tháng 2 năm 197o, Đại đội 4 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




107. ĐẠI ĐỘI 2 BỘ BINH
TIỂU ĐOÀN 7, TRUNG ĐOÀN 66. MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN


Từ tháng 8 năm 1965 đại đội 2 bộ binh chiến đấu ở Tây Nguyên. Đơn vị đã đánh 20 trận diệt gọn 2 đại đội ngụy, 3 đại đội và 2 trung đội Mỹ, thu 90 súng các loại, 4 máy vô tuyến điện... Đơn vị đã phối hợp với các đại đội khác trong tiểu đoàn diệt hàng ngàn tên Mỹ - ngụy. Trận Đức Vinh ngày 3 tháng 7 năm 1966, đơn vị đã nhanh chóng tiếp cận, diệt gọn 1 đại đội Mỹ (diệt hơn 100 tên), nêu kỷ lục đầu tiên đại đội ta diệt gọn đại đội Mỹ thu 30 súng, 2 máy vô tuyến điện. Trận điểm cao 823 ngày 11 tháng 11 năm 1967, đơn vị đã tích cực bám sát, bao vây chia cắt địch ra từng bộ phận, góp phần quan trọng cùng các đại đội bạn diệt gọn 2 đại đội và tiểu đoàn bộ quân dù Mỹ. Ngày 30 tháng 3 năm 1968, đánh vào Chư Tăng Kra, đơn vị bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, thu 20 súng, 3 máy vô tuyến điện. Trong 5 ngày (tháng 5 năm 1969), đơn vị đánh 2 lần vào vị trí Ngọc Dơ Lang có công sự vững chắc, diệt gọn 2 đại đội ngụy, thu 30 súng, 2 máy vô tuyến điện...

Đơn vị chú trọng xây dựng nội bộ tốt, 100% cán bộ và chiến sĩ trong đại đội đã được khen thưởng, đào tạo được nhiều cán bộ bổ sung cho các đơn vị bạn (trong 5 năm đã đào tạo được 180 cán bộ tiểu đội, 120 cán bộ trung đội, 72 cán bộ đại đội).

Đại đội đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và nhì, 21 lần được tặng thưởng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




108. ĐẠI ĐỘI 2 BIỆT ĐỘNG
BỘ ĐỘI ĐỊA PIIƯƠNG THỊ XÃ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM


Đại đội 2 biệt động được thành lập tháng 12 năm 1967. Từ năm 1968, đơn vị chiến đấu trong và ngoại vi thị xã Hội An đã đánh 32 trận diệt 1928 tên địch, bắt 109 tên ngụy, bắn cháy 3 hải thuyền, phá hủy 7 xe bọc thép, 141 lô cốt hầm ngầm, kho tàng và nhà lính, thu 144 súng (đơn vị đã diệt gọn 1 đại đội Nam Triều Tiên, 7 trung đội ngụy, 1 tiểu đội Mỹ, 2 đoàn bình định, đánh thiệt hại nặng 6 đại đội và 3 đoàn bình định khác).

Đại đội 2 đã đánh nhiều trận xuất sắc như đêm ngày 4 tháng 8 năm 1968, đơn vị đánh 3 mục tiêu trong thị xã Hội An, diệt 165 tên địch, phá hủy 2 xe bọc thép. Cuối năm 1968, có trận đơn vị cải trang đánh vào thị xã giữa ban ngày, diệt gọn 1 trung đội địch. Đêm ngày 23 tháng 2 năm 1969 đơn vị đã dũng cảm mưu trí diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác, tổng cộng diệt hơn 500 tên địch trong cuộc tiến công thị xã Hội An.

Đơn vị đã kiên trì bám đất, bám dân xây dựng được vùng bàn đạp vững chắc xung quanh thị xã, hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch.

Đại đội đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, 5 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng.
Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2014, 10:50:21 am »

109. ĐẠI ĐỘI 1 CÔNG BINH
TIỂU ĐOÀN 9 SƯ ĐOÀN 3


Đại đội 1 công binh được thành lập tháng 12 năm 1964, làm nhiệm vụ đánh giao thông và các kho tàng, hậu cứ địch trên các trục đường 7, 19, 21. Đơn vị đã nêu cao quyết tâm, tích cực tiến công địch, tìm ra nhiều cách đánh hay, diệt được nhiều địch. Đại đội 1 đã đánh 189 trận, diệt 1638 tên địch (có hơn 800 tên Mỹ), đã diệt gọn 11 trung đội, phá hủy 261 xe quân sự (phần lớn là xe tăng, xe bọc thép), 4 máy bay, 9 khẩu pháo, cối, 31 cầu cống, nhiều nhà lính, kho tàng, đốt cháy 225.000 lít xăng... Riêng thời gian sau Tổng tiến công Mậu Thân (1968) địch tăng cường ngăn chặn canh phòng và đánh phá ác liệt hơn nhiều lần, đơn vị vẫn đánh được hàng trăm trận, diệt hơn 900 tên địch và nhiều phương tiện chiến tranh.

Đại đội kết hợp tốt chiến đấu và xây dựng (100% cán bộ chiến sĩ được khen thưởng, 90% được tặng danh hiệu Dũng sĩ).

Đại đội đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





110. ĐẠI ĐỘI 1 PHÁO 75 LY
TIỂU ĐOÀN 631 MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN


Đại đội 1 pháo binh là đơn vị hỏa lực vào chiến trường Tầy Nguyên sớm nhất (năm 1961). Đơn vị đã tham dự các trận đánh ở Đắc Pét, Đắc Sút, Đắc Tô, Tân Cảnh, Ngọc Bờ Biêng... đã diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều kho tàng và phương tiện chiến tranh đồng thời đã chi viện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi. Tính riêng từ năm 1968 đến tháng 9 năm 1969, đơn vị đã đánh 48 trận, diệt 1145 tên địch (phần lớn là Mỹ), phá hủy 17 máy bay, 15 khẩu pháo, 69 xe quân sự (có 11 pháo tự hành), 2 dàn ra-đa, 24 kho đạn, 5 kho xăng. Ngày 28 tháng 11 năm 1966, đại đội 1 đã pháo kích căn cứ hành quân của quân Mỹ ở Sùng Thiện, diệt hơn 100 tên, phá hủy 1 pháo 105 và 1 xe tăng. Tháng 11 năm 1967, trong chiến dịch Đắc Tô, đơn vị diệt 150 tên. phá hủy 3 máy bay, 1 kho đạn 1.100 tấn, 1 kho xăng... Ngày 17 tháng 2 năm 1968 và ngày 15 tháng 3 năm 1968.   Đại đội pháo kích căn cứ sư đoàn 4 Mỹ ở La Sơn, diệt 300 tên, phá hủy 2 kho đạn, 1 kho xăng, 31 nhà ở của địch... Đêm ngày 12 tháng 9 năm 1969, đại đội 1 chi viện đắc lực cho bộ binh tập kích quân Mỹ ở Tân Lạc, hôm sau bám trụ lại chiến đấu quyết liệt bắn sập 5 lô cốt, diệt 63 tên địch, phá hủy 14 xe quân sự, 1 kho đạn.

Đại đội đã  được tặng thưởng 6 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng, được 2 lần tặng danh hiệu “Đơn vị Thành đồng Quyết thắng”.
Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miến Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





111. DÂN QUÂN DU KÍCH XÃ BÌNH DƯƠNG
HUYỆN THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM


Xã Bình Dương có 7.450 người, dân quân du kích có 350 người, xã gần căn cứ quân sự Mỹ, ngụy ở Bình Dương. Từ năm 1967, địch cho máy bay, pháo và bộ binh bắn phá lùng sục dữ dội, đốt gần hết nhà cửa, giết gần hết trâu bò của nhân dân trong xã... Dân quân du kích đã kiên quyết bám đất, bám dân, làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị, binh vận. Tính riêng trong năm 1969, đơn vị đã đánh 228 trận, diệt 1094 tên, bắt 12 tên ngụy thu 13 súng, bắn rơi 7 máy bay, phá hủy 15 xe quân sự, 10 khẩu pháo, cối, đánh sập 8 lần cầu cống trên đường giao thông quan trọng gây nhiều khó khăn cho địch. Đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hỗ trợ phong trào nổi dậy diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, chống dồn dân, bắt lính của địch giành nhiều thắng lợi.

Đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bộ đội trong chiến đấu và nhất là trong việc giải quyết chính sách đối với thương binh, liệt sĩ. Dân quân du kích còn bổ sung cho quân đội và các cơ quan dân chính cấp trên được hơn 400 đội viên.

Dân quân du kích xã Bình Dương là lá cờ đầu phong trào chiến tranh du kích của huyện Thăng Bình, đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Dân quân du kích xã Bình Dương được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2014, 10:52:25 am »

112. DÂN QUÂN DU KÍCH XÃ B5 YA SAO
HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI


Xã B5 nằm sát thị xã Plây Cu, có 2886 người dân, xung quanh xã có nhiều vị trí của quân Mỹ, hàng ngày chúng dùng bộ binh càn quét và cho máy bay, pháo binh đánh phá rất dữ dội... Dân quân du kích xã đã kiên cường bám đất bám dân, sáng tạo nhiều cách đánh hay, làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh nhân dân trong xã. Bất cứ lúc nào địch đi càn, dù mới ra khỏi vị trí hay đang đi trên đường đều có thể bị đánh. Các trận đánh diễn ra nhiều hình, nhiều vẻ. Chỉ tính riêng năm 1969, dân quân du kích xã B5 đã đánh 154 trận, diệt được 486 tên địch (hơn một nửa là Mỹ), làm bị thương 13 tên, phá hủy 52 xe quân sự. 1 kho đạn, 34 nhà lính, 1 kho xăng, 19 lô cốt, bắn rơi 19 máy bay.
Đơn vị đã vận động nhân dân làm hàng vạn bàn chông để bố trí các nơi hiểm yếu trong xã, gây khiếp sợ cho địch. Đơn vị còn tích cực tuyên truyền giải thích cho các gia đình có người đi lính ngụy đấu tranh với địch đòi chồng con về nhà làm ăn.

Dân quân du kích xã B5 là một trong những đơn vị lá cờ đầu của phong trào chiến tranh nhân dân ở Tây Nguyên, đã được tặng thưởng 6 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Dân quân du kích xã B5 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





113. DÂN QUÂN DU KÍCH XÃ CÁT HANH
HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH


Xã Cát Hanh có 7000 dân nằm ở vùng đồng bằng, có vị trí quan trọng nên địch ra sức đánh phá càn quét rất khốc liệt. Từ năm 1968, địch đưa về xã 8 đại đội Nam Triều Tiên, 4 trung đội dân vệ, 2 đoàn bình định. Chúng đã giết gần hết trâu bò, đốt gần hết nhà cửa đồng bào trong xã. Dân quân du kích đã khắc phục mọi khó khăn, vượt qua bom đạn ác liệt, kiên cường bám đất, bám dần để tổ chức đánh địch. Chỉ tính riêng từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, dân quân du kích xã Cát Hanh đã đánh 100 trận, diệt 341 tên địch (trong đó một nửa là lính Nam Triều Tiên và Mỹ), diệt gọn 1 trung đội, 3 tiểu đội, làm tan rã 1 đoàn bình định có 36 tên, phá hủy 9 xe quân sự, 2 toa xe lửa, 4 cầu cống, cắt đứt 17.700 mét dây điện thoại... Đơn vị đã nhiều lần vào tận vị trí quân Nam Triều Tiên rải truyền đơn, tổ chức được 6 vụ binh biến trong các đơn vị địch, trong đó có 1 vụ diệt ban chỉ huy trung đoàn, 1 vụ diệt ban chỉ huy tiểu đoàn địch. Dân quân du kích còn tích cực tuyên truyền vận động các gia đình có thân nhân đi lính địch kêu gọi chồng con trở về.

Dân quân du kích xã đã 56 lần hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, đã giải phóng được gần 2.000 người dân ỏ khu tập trung trở về thôn xã làm ăn.

Dân quân du kích xã Cát Hanh là lá cờ đầu về phong trào chiến tranh nhân dân của vùng đồng bằng Trung Trung Bộ, đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Dân quân du kích xã Cát Hanh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





114.   XÃ GIO HẢI HUYỆN GIO LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ


Xã Gio Hải có 6000 dân, nằm giáp bờ nam sông Bến Hải, là một trọng điểm đánh phá của địch. Nhân dân đã kiên cường bám đất, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận. Gio Hải đã phá được âm mưu lập ngụy quyền của địch, thành lập được chính quyển cách mạng, đưa phong trào tiến lên vững chắc toàn diện.

Trong đấu tranh vũ trang, già trẻ gái trai trong xã đều tham gia diệt địch. Chỉ tính từ cuối năm 1967 đến tháng 3 năm 1969, nhân dân và dân quân du kích xã đã đánh 170 trận, diệt 1500 tên địch (phần lớn là Mỹ), đánh chìm 9 tầu chở hàng của địch ở gần Cửa Việt, phá hủy 1 khẩu pháo, 21 xe tăng, 14 súng đại liên, cắt đứt hàng ngàn mét dây thép gai. Dân quân du kích xã còn đưa đường cho bộ đội và đánh chìm trên 100 tàu địch ở sông Cửa Việt.

Nhân dân xã Gio Hải đã tích cực giúp các đơn vị bộ đội chiến đấu ở địa phương, làm tốt chính sách thương binh liệt sĩ, đã đưa hàng trăm thương binh về nuôi giấu trong xã, bất chấp địch truy ép khảo tra.

Xã làm tốt công tác vận động binh lính, đã kêu gọi được gần hết số người trong xã đi lính ngụy trở về làm ăn.

Xã đã đưa hàng trăm thanh niên đi bộ đội, hàng ngàn lượt thanh niên nam nữ đi dân công phục vụ chiến đấu.

Xã Gio Hải đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba. Dân quân du kích xã đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và nhì.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Xã Gio Hải được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4518



« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2014, 10:54:41 am »

115. ĐẠI ĐỘI 15 VẬN TẢI
MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9


Đại đội 15 vận tải được thành lập tháng 3 năm 1966, làm nhiệm vụ vận chuyển mang vác các loại vũ khí đạn dược lương thực từ Vĩnh Linh vào đường số 9 và chuyển thương binh từ chiến trường ra. Tuyến đưòng luôn bị máy bay, pháo binh địch đánh phá ác liệt, nhưng cán bộ chiến sĩ đơn vị đã có quyết tâm cao. Bất cứ ngày đêm, thời tiết, bom đạn thế nào, hễ có lệnh là đơn vị lên đường ngay. Hầu hết các đồng chí trong đơn vị hàng năm đều tham gia hơn 300 ngày, có ngày đi 12 tiếng đồng hồ, bình quân mang 35 kg, nhiều đồng chí đã mang 50 kg, có đồng chí mang 75 kg. Trong hơn 3 năm, đơn vị đã vận chuyển được gần 2000 tấn hàng vào chiến trường, đưa được 1270 thương binh về các đội điều trị. Đơn vị còn làm được 169 nhà kho, nhà ở cho cơ quan Mặt trận.

Đặc biệt, có lần trong tháng 5 năm 1968, 1 tiểu đội của đơn vị gặp 1 tiểu đoàn địch có pháo binh yểm trợ càn vào 1 xã trên đường đi, anh em đã chiến đấu quyết liệt trong 6 tiếng liền diệt được 150 tên địch.

Đai đội đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đại đội 5 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





116. TRUNG ĐOÀN 7 CÔNG BINH
BỘ TƯ LỆNH CÔNG BINH


Từ năm 1966 đến năm 1969, trung đoàn 7 công binh làm nhiệm vụ mở đường và bảo đảm giao thông ở Lào, đường dây 559, Mặt trận đường 9. Trung đoàn đã mở được 292km đường và bảo đảm trên 280km đường phục vụ pháo binh, bộ binh, ôtô vận tải hành quân chiến đấu và chuyển hàng ra phía trước. Đơn vị còn tích cực tổ chức đánh địch cả dưới đất lẫn trên không để bảo vệ đường, diệt hàng trăm tên, bắn rơi 24 máy bay Mỹ, vận động được gần 200 tên thổ phỉ bỏ hàng ngũ trở về làm ăn. Đặc biệt trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968, địch đánh phá rất ác liệt, chúng dùng nhiều loại bom để sát thương và phá đường mà thời gian mở đường lại yêu cầu rất gấp. Đơn vị đã khắc phục khó khăn mở được 267km đường mới, bảo đảm thông đường trên 152km, đã gỡ nhiều bãi mìn, vật chướng ngại bảo đảm cho bộ binh, xe tăng chiến đấu thắng lợi.

Trung đoàn có 100% số đại đội được khen thưởng, trong đó có 50% đại đội đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng, 90% cán bộ chiến sĩ được khen thưởng, có 2 đại đội và 2 đồng chí là Anh hùng, trung đoàn đã được tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng nhất và hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.

Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Trung đoàn 7 cồng binh được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





117. TIỂU ĐOÀN 2 CÔNG BINH
BINH TRẠM 12 BỘ TƯ LỆNH 559


Từ năm 1966 Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên đường 12 và 15 qua nhiều núi non, sông suối hiểm trở, nhíểu đoạn bị sụt lở nặng và có những trọng điểm như Km 39, Km 21, Là Trọng, Bãi Dinh, Nà Tong... Địch đã đánh gần 3000 lần với 42.000 quả bom các loại và nhiễu đạn pháo, tên lửa. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã ngày đêm bám đường, bám bến bãi bảo đảm giao thông thông suốt. Nhiều tháng làm việc 29, 30 ngày; nhiêu ngày làm việc 10 giờ, có khi làm việc 14 giờ đến 16 giờ... Đơn vị đã phá gỡ được hàng ngàn quả bom các loại. Có khi phải chui xuống hố bom để nhận dạng tìm cách phá. Trong các công việc như đào đắp, chống lầy hay làm đá nhỏ rải đường, đơn vị đều tăng năng suất trên 100%.

Trên đoạn đường được giao, bất kỳ lúc nào có xe bị đổ, bị rệ hoặc bị máy bay địch bắn, đơn vị đều kịp thời cứu giúp; đã có hàng trăm tấn hàng được cứu trong các trường hợp đó.

Tiểu đoàn đã được tặng thưởng 8 Huân chương Chiến công các hạng.

Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Tiểu đoàn 2 công binh được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM