Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 07:52:54 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử khẩn hoang Miền Nam - Sơn Nam  (Đọc 35286 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:20:31 PM »

Chương 2 - 4

Vùng Bạc Liêu, Cà Mau xa xôi và phức tạp

Cà Mau là đất có dân từ thời Mạc Cửu, qua đời Gia Long thì những giồng cao ráo ở ven sông Ông Đóc, sông Gành Hào, sông Bãi Háp và vài phụ lưu đã thành xóm. Lúc tẩu quốc, Gia Long nhờ dân ở Cà Mau giúp nhiều về tài lực, nhân lực ; vài người nổi danh, như Dương Công Trừng. Mũi Cà Mau là vùng rừng đước, rừng vẹt, còn lại là rừng tràm. Phía Nam Hải, nhiều nơi có bãi cát đen. Phần ở chót mũi Cà Mau gần như nước mặn tư niên, trừ khi mưa già. Dân sống được là nhờ nước ngọt từ Hòn Khoai chở vào bờ.
Từ xưa, Cà Mau là nơi người Hoa kiều sống rải rác với người Miên. Nhằm mùa đánh cá, ngư phủ ở Gò Công đến ven biển, cất chòi ở tạm rồi trở về xứ. Đợt Huê kiều vào lập nghiệp khiến cho Bạc Liêu, Cà Mau trở thành khá phồn thịnh là đợt cuối thế kỷ 19, khi người Pháp đến. Họ đi bằng tàu buồm vào Cà Mau, khỏi ghé qua Sài Gòn. Lại còn một số người từ Sài Gòn, Chợ Lớn đến lập nghiệp.
Nghề làm ruộng muối do người Hoa kiều nắm trọn. Vào thời Gia Long, nghề dệt chiếu thành hình với kỹ thuật cao, cùng là nghề khai thác sáp ong, mật ong và sân chim. Người Pháp nhận xét lệch lạc về vùng Cà Mau, Bạc Liêu vì họ so sánh với các tỉnh miền Tiền giang. Dân địa phương đã khéo léo nhắm vào nhu cầu thị trường, làm ruộng vừa phải, dư quá nhiều cũng không ích lợi gì. Họ làm thêm rẫy khoai lang, nhứt là nghề đánh lưới và đóng đáy để thu huê lợi to hơn : tôm khô, cá khô.
Các viên tham biện đầu tiên đến Cà Mau, Bạc Liêu ghi lại khung cảnh hoang vắng thưa thớt, họ quên rằng lúc ấy hễ nghe tiếng máy tàu là ai nấy chạy trốn. Nhà cửa thường cất khuất lấp ở ngọn rạch, nơi đất cao. Vàm rạch là bãi bùn đầy cây cỏ. Chạy tàu ngoài sông cái, nơi nước sâu thì khó bề nắm được tình hình. Lại còn sự kê khai sai lạc về đất ruộng và dân số của hương chức làng. Người Huê kiều thì tỏ ra ương ngạnh, không muốn nơi mà họ đã nắm ưu thế lại bị xáo trộn.
Về mặt hành chánh, thực dân lúng túng không biết nên tổ chức thế nào cho hợp lý. Thoạt tiên sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây, vùng mũi Cà Mau nhập vào hạt Rạch Giá với tỉnh lỵ là chợ Rạch Giá. Vùng Bạc Liêu thì nhập qua hạt Sóc Trăng.
Vào tháng 6/1871, vùng mũi Cà Mau nhập qua tỉnh Sóc Trăng, tách khỏi Rạch Giá. Nhưng 6 tháng sau, hoàn lại tỉnh Rạch Giá như cũ. Đến ngày 18/12/1882, chánh phủ mới dứt khoát lập ra một tỉnh mới : lấy một phần vùng Bạc Liêu thuộc hạt Sóc Trăng và vùng Cà Mau thuộc hạt Rạch Giá nhập lại đặt ra tỉnh Bạc Liêu. Đây là hạt thứ 21 của Nam kỳ thuộc địa.
Nên phân biệt rõ về trường hợp tỉnh Bạc Liêu, tuy gom vào chung một đơn vị hành chánh nhưng gồm hai phần đất khác nhau về địa chất và về mức khẩn hoang :
— Vùng Bạc Liêu, theo địa danh thời Tự Đức, ăn từ rạc Bạc Liêu trở về phía đông tiếp giáp qua Sóc Trăng. Mãi đến những năm 1930, người lớn tuổi trong giới bình dân còn gọi vùng này của Bạc Liêu là hạt Ba Xuyên (bài vè Nọc Nạn : Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên, Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày). Gọi như thế vì vùng này thời Tự Đức nằm trong địa phận phủ Ba Xuyên rồi tách ra lập thành huyện Phong Thạnh do phủ trực tiếp kiếm nhiếp. Khu vực này thoạt tiên được người Pháp cho nhập vào tỉnh Sóc Trăng, gồm phần lớn là đất giồng tốt, cao ráo, nhà cửa sung túc với ruộng gò, rẫy, vườn nhãn, ruộng muối. Vùng Bạc Liêu này là đất khai thác từ xưa.
— Vùng mũi Cà Mau, tức là huyện Long Xuyên thời Tự Đức với rừng đước, rừng tràm, phần lớn là đất thấp giống như khung cảnh phía nam vùng Rạch Giá. Vùng Cà Mau này đáng nói hơn, vì là đất mới.
Điểm khó khăn cho vùng Cà Mau về mặt hành chánh là sự liên lạc với tỉnh lỵ. Tham biện Rạch Giá cho biết là phải dùng đường biển dọc theo vịnh Xiêm La. Nhập Cà Mau qua Sóc Trăng thuận lợi hơn, vì Cà Mau đến chợ Sóc Trăng tương đối gần. Nhưng đó là nhìn trên bản đồ mà suy luận thôi. Tham biện Sóc Trăng đưa ý kiến vào tháng 12/1869 rằng từ Cà Mau qua tỉnh lỵ Sóc Trăng đường liên lạc quá khó khăn vào mùa nắng : nhiều đoạn đường phải dùng trâu mà kéo ghe qua vùng lầy. Mùa mưa thì từ Cà Mau đến Sóc Trăng đi và về tốn 6 ngày, mùa nắng thì lại tốn đến 10 ngày.
Thật vậy, trên bản đồ ta thấy nhiều con rạch tuy có thật nhưng lại cong queo và quá cạn. Mùa mưa thì nước nổi nhưng không đủ sâu để ghe thuyền lui tới dễ dàng. Muốn di chuyển, từ lâu đời rồi, dân địa phương dùng xuồng nhỏ mà chống bằng sào hoặc dùng trâu để kéo cộ hay kéo ghe. Qua mỗi mùa mưa, cỏ và bụi lùm ở hai bên bờ rạch cứ mọc cao hơn trước, che khuất lối đi.
Nhiều vùng đất ở Cà Mau thuộc vào loại khó định nghĩa : có thể nói là một thứ đất lỏng bỏng hoặc là một thứ nước đặc sệt.
Hai năm sau, tham biện Rạch Giá cho biết : lúc trước vì có quyết định giải tán tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá nhập qua tỉnh Long Xuyên) nên đành cắt vùng Cà Mau nhập qua Sóc Trăng. Nay đã duy trì tỉnh Rạch Giá thì nên cho Cà Mau trở về Rạch Giá như cũ để cho số dân Rạch Giá thêm đông đảo hơn :
Rạch Giá và Cà Mau nhập lại, được 100 làng.
Sóc Trăng và Cà Mau nhập lại, được 203 làng.
ý kiến nhập trở lại Rạch Giá được cấp trên nghe theo vì tham biện Rạch Giá là Benoist là tay có uy tín, tàn ác với dân bổn xứ. Ông ta sợ mất thuế phong ngạn (sáp và mật), mất thuế bến (đánh vào tào buồm Hải Nam) và đưa ý kiến là đường liên lạc từ Cà Mau đến Rạch Giá không xa cho lắm !
Sau rốt, tỉnh Bạc Liêu thành hình lấy tên là Bạc Liêu vì ngay chợ của tỉnh lỵ có con rạch Bạc Liêu (có giả thuyết cho rằng do Poanh Lieu mà ra, tức là nơi có đạo quân người Lào trú đóng thời xưa).
Lý do chánh để lập tỉnh Bạc Liêu do Thống đốc Nam kỳ nêu ra cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp là vấn đề an ninh, sự khuấy rối ngấm ngầm của Thiên Địa Hội. Giám đốc Nội vu trình bày với Hội đồng quản hạt ngày 28/8/1882 : nếu cái đầu của Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn thì thân hình của Thiên Địa Hội ở Bạc Liêu.
Ngoài ra, dưới mắt người Pháp, Cà Mau Bạc Liêu là nơi bấy lâu chưa được ổn định đúng mức : nhiều kẻ bất lương từ bên Tàu, từ các tỉnh lân cận tụ họp lại, lập sào huyệt.
Tham biện đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu là Lamothe de Carrier báo cáo tổng quát vào năm 1882 :
— Trong hiện tại, Bạc Liêu chưa ra gì nhưng trong tương lai sẽ nhanh chóng trở nên thành phố lớn nhứt của Nam kỳ, sau Sài Gòn. Chỉ cần đào một con kinh nối liền Bạc Liêu xuống Cà Mau và cất một cây cầu nối liền hai bên bờ rạch Bạc Liêu. Cây cầu này giúp cho 6000 người qua lại mua bán mỗi ngày.
Theo báo cáo trên thì giữa Bạc Liêu và Cà Mau là đồng cỏ bao la che kín chân trời, không một bóng cây cao, cỏ mọc dày, rễ bám vào bùn. Mùa nắng, cỏ vẫn không chết. Mùa mưa nước ngập, cỏ lên cao đến một mét rưỡi. Trong đồng cỏ, ai muốn đi hướng nào thì đi, muỗi mòng vô số kể. Mùa mưa, xuồng nhỏ tha hồ di chuyển nhưng ghe to thì phải đi theo con đường con queo hơn, gọi là “đường láng”. Đường này đầy cỏ, khi di chuyển phải có người phát cỏ ngã rạp xuống, cào sang một bên rồi đẩy ghe trên khoảng đất vừa dọn trống trải ấy. Nếu gặp nơi cỏ quá rậm rạp, ghe chở nặng chỉ di chuyển một ngày có một cây số. Viên tham biện đề nghị cho đào con kinh Bạc Liêu Cà Mau rồi lấy đất đào ấy mà đắp đường lộ xe. Đồng thời, ông ta cho biết là dân số không quá ít oi nếu kiểm tra lại kỹ lưỡng hơn. Riêng về người Huê kiều ở phía Bạc Liêu trước kia khai 1900 người nay lại khai thêm 3000 người nữa cộng lại 4900 người, chưa kể một số Huê kiều làm bạn chèo ghe hoặc ẩn náu ở ruộng muối.
Cũng trong năm 1882, dân bộ trong tỉnh phỏng chừng 2500 người (có thể là 30000) tức là bằng số dân ở tỉnh Tây Ninh, cao hơn số dân Rạch Giá.
Diện tích toàn tỉnh là 810.000 mẫu tây, canh tác chừng 14.761 mẫu. Tổng số thuế dự thâu năm 1882 là 36.183 đồng, trong đó tiền thâu to nhứt là thuế thân của Huê kiều, kế đến là thuế điền 6.585 đồng, đến thuế thân của người việt 4.792 đồng.
Chợ Bạc Liêu nằm trên địa phận làng Vĩnh Hương. Vùng ngoại ô ăn qua các làng Vĩnh Hinh, An Trạch, Tân Hưng (năm 1890, nhập lại gọi là làng Vĩnh Lợi, hương chức các làng An Trạch và Tân Hưng kêu nài vì trong tên Vĩnh Lợi không có dấu vết tên làng của họ, đề nghị quan trên sửa Vĩnh Lợi ra làng Tứ Hòa, nhưng không được chấp thuận). Từ năm 1873, đất làng Vĩnh Hương đã đem ra đấu giá với giá một cắc hai xu một thước vuông. Năm 1880, khai trong bộ ở chợ Bạc Liêu là 2.757 người nhưng năm 1882 là 6000 người.
Việc thành lập tỉnh Bạc Liêu gây khó khăn cho ngân sách Nam kỳ, năm 1882, phỏng định tốn kém chừng 45.000 đồng để xây cất dinh thự, công sở, cộng thêm chừng 8.000 đồng lương bổng cho nhân viên. Thuế phỏng định chắc chắn sẽ thâu được là 35.000 đồng nhưng nếu thiếu tiền cứ dùng bàn ghế cũ từ tòa Bố Sóc Trăng gởi tặng. Và còn dự thu thêm một số tiền phạt những người nào theo Thiên Địa Hội.
Thoạt tiên, nhà lồng chợ cất bằng lá. Năm 1885, làng Vĩnh Hương xin cất chợ lợi ngói, hy vọng rằng tiền góp chợ sẽ tăng gấp đôi và xin vay trước của nhà nước 6100 đồng để xây cất, làng sẽ trả lại cho nhà nước cả vốn lẫn lời trong vòng 12 năm. Năm 1892, tham biện bắt buộc những nhà lá ở chợ phải dỡ bỏ để cất lại phố ngói có lầu.

Tiến triển của việc cai trị

Bộ máy hành chánh khá chặt chẽ vừa thiết lập làm cho người Huê kiều và người Minh Hương bực bội vì họ đã quen với quy chế tự trị tương đối rộng rãi hồi thời đàng cựu. Họ xem vùng Bạc Liêu như đất riêng của họ. Ngoài ra, còn nhiều người từ Rạch Giá đổ xuống, đa số là người lãnh bằng cấp của quân khởi nghĩa để chuẩn bị âm thầm dấy binh giữa vùng Rạch Giá và Châu Đốc, nhưng cuộc này không xảy ra được.
Năm 1885, lập được 5 trường tổng với 326 học sinh ghi tên, đa số đều vắng mặt khi bắt đầu mùa ruộng hoặc đau ốm vì bịnh rét rừng, tất cả đều là trường lợp lá, thiếu bàn ghế, nhiều trường không có sách gì cho học trò học ngoại trừ tờ Gia Định báo, tức là Công báo do làng phát cho.
Con Đường Láng tức là đường kéo ghe từ Bạc Liêu qua Cà Mau vẫn còn sử dụng vì chưa đào kinh được. Nhà nước giúp đỡ người đi ghe bằng cách cắm nọc làm dấu hai bên đường, mỗi năm hai lần, cắm vào lúc đầu mùa và lúc dứt mùa mưa. Kinh Mương Điều nối Rạch Đầm qua sông Gành Hào đào gần xong nhờ bắt dân làm xâu, chỉ còn lại 480 thước chót.
Trong mùa 1884—1885, ghe chở ra khỏi tỉnh 174.693 tạ lúa và 79.349 tạ muối. Việc khẩn đất thì đang tiến hành, dân ở miền trên đến, tha hồ khai khẩn để mong được làm điền chủ nhỏ ở vùng đất sình lầy, vô chủ. Về đất đai, năm 1885, chưa phân khoảnh để làm bằng khoán được, ngoại trừ tổng Thạnh Hưng và tổng Thạnh Hòa.
Quận Cà Mau còn nguyên vẹn, chưa đo đạc. Nhờ điều tra lại nên chủ tỉnh biết thêm về vùng Cà Mau : dân không giàu nhưng ai nấy đều đủ ăn, có chùa, có đình làng, có nhà ngói. Nhưng đi về phía mũi Cà Mau thì chạy tàu nhiều tiếng đồng hồ mà không gặp một căn chòi nào cả. Nghề đóng đáy, làm tôm khô bán cho ghe Hải Nam càng phát triển. Chiếu Cà Mau được giá, nhiều người bỏ nghề ruộng để dệt chiếu và vô rừng khai thác mật ong, sáp. Mùa mưa, đường vận tải dễ dàng, họ đốn cây mà bán lậu qua Sóc Trăng hoặc lên chợ Bạc Liêu.
Theo sự phỏng định lạc quan của chủ tỉnh Caffort thì trong vòng hai năm tới, Bạc Liêu sẽ là vùng giàu có, chỉ cần cho người từ Bắc kỳ vào canh tác với kỹ thuật cổ truyền là đủ làm cho huê lợi tăng lên gấp mười. Tỉnh Bạc Liêu phía giáp Sóc Trăng là nơi Huê kiều và người Cao Miên đông đúc, ruộng tốt, dân chúng thích nói tiếng Triều Châu. Riêng về quận Cà Mau, người Việt đông hơn, gần như là thuần túy, chỉ trừ hai làng có sốc Miên mà thôi.
Năm 1887, Lamothe de Carrier trở lại Bạc Liêu làm chủ tỉnh và nhận định rằng tình hình thay đổi khả quan so với nhiệm kỳ trước của ông ta. Việc kiểm tra cho biết ở Bạc Liêu sau người Việt thì đông đảo nhứt là người Cao Miên, kế đến người Minh Hương gốc Triều Châu. Trong 2.500 Huê kiều, người Triều Châu chiếm đến 2000. ở tổng Thạnh Hưng, nhiều gia đình chỉ nói toàn tiếng Triều Châu và các ông hương chức hội tề không biết nói tiếng Việt. Nạn Thiên Địa Hội, ăm trộm trâu, ăn trộm ghe, nhứt là buôn lậu á phiện còn đầy dẫy. Dân hút thêm á phiện nhưng nhà nước bán ra ít hơn năm trước :
— Năm 1884, nhà nước bán ra 56.000 đồng.
— Năm 1886, nhà nước bán ra dưới 40.000 đồng vì nạn á phiện lậu thuế.
Viên chủ tỉnh này lại báo động : điền chủ trong tỉnh mượn của Đông Dương ngân hàng trên 35.000 đồng để làm mùa, nhưng có lẽ họ thua cờ bạc hết rồi. Đề nghị cho dân ngoài bắc vào, cắp đất cho họ. Năm 1882, phỏng định 36.000 dân, nay được hơn 50.000. Đang làm đường nối qua Sóc Trăng, đường ở chợ Bạc Liêu đã tráng đá.
Để kiểm soát vùng đất rộng, giao thông khó khăn và dân số phức tạp, thực dân đã cố ý đưa về Bạc Liêu và Cà Mau một số công thần với tác phong kiêu binh và hách dịch. Phủ Đức, từng góp công dẹp loạn lúc trước ở Mỹ Tho đến làm mưa làm gió ở Cà Mau. Cai mã tà tên là Cang, người đã trực tiếp bắt Thủ khoa Huân ở Chợ Gạo được về Bạc Liêu làm chức phó quản mã tà. Lính tập hữu công đã từng viễn chinh ở Bắc kỳ, dẹp loạn ở Cao Miên cũng trở về Bạc Liêu làm chức quan trọng.
Một viên thông ngôn từng trấn đóng, cướp giựt, ăn hối lộ ở Hạ Lào đã về tận Bạc Liêu rồi mà chủ nợ ở Hạ Lào vẫn năn nỉ xin nhà nước can thiệp vì số nợ quá nhiều. Lại còn viên chức Pháp chuyên ăn hối lộ, làm ở sở “Tào cáo” (Thương chánh) đã từng có thành tích xấu ở tỉnh khác. Nhà nước chọn người “đáng tin cậy” để làm hương chức làng nhưng bọn này lại xài thâm công quỹ, đánh bài và hút á phiện, đến mức chủ tỉnh nổi giận đề nghị với Thống đốc Nam kỳ đày họ ra Côn đảo để làm gương.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #31 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:23:18 PM »

Vụ phủ Đức ở Cà Mau là điển hình nhứt. Năm 1897, chủ tỉnh Bạc Liêu nhận định Cà Mau là quận xa xôi và nghèo nàn nên không cần đưa một phó tham biện đến cai trị, vả lại cơ sở quận lỵ thiếu tiện nghi. Phủ Đức đổi tới Cà Mau rồi gặp rắc rối với một công chức Pháp làm nhân viên Công chánh. Tên bồi của viên chức này ra chợ mua đồ, cứ theo thói quen là nửa mua nửa giựt, dân trong chợ phản đối, tên bồi đánh luôn người thầu góp chợ rồi chưởi luôn phủ Đức. Tên bồi này bị bắt, chủ tỉnh giải hắn ta lên Khám lớn Sài Gòn để rồi hắn được tha tội. Viên chức Pháp hồi nghi phủ Đức đã yêu cầu bắt giam người bồi, nên trả thù bằng cách công khai tố cáo phủ Đức là kẻ tiểu tốt vô danh, không biết nói tiếng Pháp mà đòi cai trị Cà Mau với những luật lệ theo quy chế thổ trước, tức là muốn giam ai thì cứ giam. Theo viên chức Pháp này thì chợ Cà Mau là nơi hỗn loạn, dân chúng mở sòng bạc ngay ở ngoài đường, phủ Đức thì tưởng mình nhiều oai quyền như thời đàng cựu, tha hồ ăn hối lộ, chợ phố thì chẳng lo chỉnh trang, đến mức không còn tìm đâu một quán cà—phê, một tiệm tạp hóa cho ra hồn !
Một số thơ rơi gởi đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo phủ Đức (đây là do viên chức Pháp xúi dục, hay dân chúng thừa cơ ra tay tranh đấu ?). Những khoản tố cáo giúp ta thấy lối cai trị thời ấy, ở nơi xa mặt trời :
— Phủ Đức cho cất nhà hầu mới (nhà hầu tức là dinh quận) rồi bắt buộc cai tổng, các ông bang Huê kiều và hương chức làng dâng lễ, gồm sáp ong, bốn tấm hoành phi (mỗi tấm đáng giá 20 đồng). Ngoài ra còn một số bạc mặt.
— Gọi người Huê kiều và hương chức làng tới nhà hầu để đánh bài với ông ta, để ông ta lấy xâu. Nếu thua thì ông ta xin luôn.
— Cho chứa cờ bạc trong xóm, me và bài tây (bài cào), xâu một ngày một đem năm đồng.
— Mỗi người dân phải chuộc công sưu nhỏ (tức là phần làm xâu cho tỉnh) là 2 ngày, theo quy định 2 ngày này là 5 cắc, nhưng phủ Đức bắt buộc dân phải đóng 1 đồng bạc, năm cắc dư bỏ túi.
— Ngày Chánh Chung (lễ 14/7 của Pháp) lại chứa cờ bạc sau nhà, ông ta lấy xâu 15 đồng một ngày, 4 ngày là 60 đồng.
— Trong vòng một năm mà phủ Đức tổ chức kỵ cơm cho ông bà cở năm sáu lần. Mỗi lần như thế, làng phải đi 4 nang sáp và 4 đồng, làng nghèo thì 2 nang (quận Cà Mau gồm 30 làng cả thảy).
— Đem về quận hai ghe hát (hát bội), bắt buộc các làng phải mướn hát bao giàn một ngày một đêm là 10 đồng, con của phủ Đức làm kép hát, đến từng nhà mà mượn tiền mỗi nhà một đồng.
— Phủ Đức lục lạo thùng thơ trước khi cho gởi, vì vậy các đơn tố cáo đều bị xem trước.
— Mỗi tháng phủ Đức chở sáp đem về xứ một lần, mỗi lần chở hai thùng đầy, thùng dài 1 thước rưỡi, cao 1 thước.
Lại còn đơn tố cáo phủ Đức có thành tích xấu hồi trấn nhậm ở Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu. Chủ tỉnh Bạc Liêu binh vực phủ Đức, cho là vu khống (phải chăng vì có ăn hối lộ của phủ Đức) nhưng chủ tỉnh cũng nhượng bộ, yêu cầu cấp trên cho một người Pháp tới thay thế vì phủ Đức đã quá 60 tuổi rồi.

Vài nét về tình hình năm 1902 trở về sau

Thiên Địa Hội được tổ chức lan tràn khắp Bạc Liêu khiến người Pháp báo động. Một số đông người Việt và Hoa kiều gia nhập, ăn thề với nhau nhưng rốt cuộc dường như Hội chỉ còn hoạt động trong phạm vi cứu tế, vài người lại lợi dụng hệ thống bí mật của Hội để buôn bán á phiện lậu thuế.
Tuy nhiên, còn nhiều cán bộ trung kiên của Thiên Địa Hội biết kiên nhẫn chờ thời để phối hợp hành động với toàn Nam kỳ vào năm 1913. ở Cà Mau vào khoảng năm 1910, ông hội đồng Trần Đắc Danh và ông Lâm Mẫn Huệ hoạt động mạnh, bị tù. Thực dân cứ xét bắt, phạt tiền kẻ vô tội mặc dầu chẳng tìm được bằng cớ nào chứng tỏ người Huê kiều ở Bạc Liêu theo đuổi mục đích chính trị chống Pháp. Thực dân cũng cố gắng kiểm soát hàng ngũ lính mã tà và hương chức làng. Những người Việt quá hăng hái thì lén trốn lên vùng Thất Sơn, gia nhập những nhóm Thiên Địa Hội mang tánh chất Việt Nam hơn, nhằm mục đích đánh đổ thực dân.
Phong trào tranh đấu đáng kể của đồng bào Bạc Liêu, Cà Mau là việc chống làm xâu. Con đường từ chợ Bạc Liêu nối xuống Cà Mau đã thành hình nhưng nhiều nơi cần phải đắp cao lên, khó khăn nhứt là trải đá. Nhà nước không giao cho nhà thầu vì quá tốn kém. Thay vào đó, bắt dân đốt đất ruộng cho chín rồi đập nát đem trải mặt đường, xài tạm thay cho đá.
Thực dân bấy lâu chỉ chú ý tu bổ con lộ ăn từ Bạc Liêu qua phía Sóc Trăng ; theo hệ thống giao thông thời ấy thì công văn, thư từ đưa từ Bạc Liêu đến Sóc Trăng, để rồi từ Sóc Trăng ra Đại Ngãi (Vàm Tấn, bờ Hậu giang) đến đây mới dùng tàu thủy đưa về Sài Gòn.
Làm xong con lộ Bạc Liêu, Cà Mau là kiểm soát thêm dân, thâu thêm thuế, lúa gạo đưa về tỉnh lỵ nhanh hơn. Và ở hai bên bờ lộ, đất hoang sẽ có người tới khẩn, nhà nước tha hồ bán đấu giá.
Lộ xe làm từng khúc, ngang tổng nào thì dân tổng ấy làm xâu, kinh đào cũng vậy. Thoạt tiên khi có lịnh thì một số đông người đi làm lấy lệ để rồi phản đối ra mặt.
Nhà nước bắt buộc mỗi người đắp lộ 14 mét bề dài, bề cao 5 tấc và mỗi người đốt đất 7 thước khối, hầm chín.
ở làng Vĩnh Mỹ, hương chức làng bắt mỗi người dân xâu đắp đến 28 thước lộ và cung cấp 7 thước khối đất.
Làng Hòa Bình và làng Vĩnh Mỹ trở thành trung tâm tranh đấu. Ngày 15/4/1902, dân làng Vĩnh Mỹ làm đơn trình bày là họ chỉ đồng ý làm trọn 2 ngày công sưu theo luật định mà thôi. Còn việc đốt hầm để trãi đường thì “chúng tôi không biết làm chi mà đốt đủ để trả cho nhà nước, nay chúng tôi đành ở tù” ; 58 người ký tên dưới lá đơn.
Hương chức làng đánh trống ở công sở gọi dân tập họp đi làm xâu, 32 người đến và ra mặt chống đối. Hương chức làng hăm he. Họ đưa yêu sách : sẵn sàng làm xâu cho nhà nước 5 ngày, nhưng việc đốt đất thì không.
Ngày 15, tại làng Hòa Bình thì không ai chịu đi cả. Viên phó tổng đánh trống thì 39 người tới công sở bảo rằng họ cương quyết không chịu làm xâu. Một số khác không thèm tựu lại công sở, hỏi thì họ trả lời rằng sợ bị trả thù, vì bọn chống đối hăm he đốt nhà rồi giết những ai đi làm. Viên phó tổng yêu cầu chủ tỉnh phạt bọn chống đối mỗi đứa 8 ngày tù và 10 đồng tiền vạ.
Ông Hội đồng quản hạt (thuộc đơn vị Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu) là Hồ Bảo Toàn trình bày với Thống đốc Nam kỳ :
— Theo luật định, mỗi người dân chỉ phải làm 2 ngày công sưu nhỏ (phần địa hạt) mà thôi. Nhiều người đã chuộc công sưu, chịu đóng 2 ngày là 5 cắc cọng vào tiền thuế thân rồi. Nay bắt họ đi làm xâu thì nhà nước phải trả lại 5 cắc ấy cho họ.
— Việc đắp lộ và hầm đất vượt quá khả năng của người dân vì tốn nhiều công để đào đất, đốt đất, đập đất cho nhỏ, chở đến lộ rồi trải ra với mớ tro đã hầm (tro than củi). Tóm lại, chủ tỉnh Bạc Liêu đã “quá sốt sắng”.
Hội đồng quản hạt can thiệp chỉ vì dân 2 làng nói trên gồm 150 người đứng đơn kêu nài gởi thẳng đến Thống đốc Nam kỳ, một việc làm táo bạo lúc bấy giờ vì họ dám trực tiếp chống viên chủ tỉnh Pháp là Chabrier. Dân đưa ra lý lẽ :
— Làm xâu chỉ có 2 ngày theo luật mà nay nhà nước lại bắt hầm đất đắp lộ, làm 2 tháng chưa chắc rồi. Hơn nữa, muốn đốt cho xong 7 thước khối đất, dân phải xuất tiền túi ra mà mua củi.
— Năm ngoái (1901), nhà nước đã bắt làm xâu mỗi người 2 tháng (mà theo luật định thì chỉ có 2 ngày) để đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau mà chẳng thấy nhà nước trả thêm đồng bạc nào.
— Làng Hòa Bình là nơi thiếu củi để hầm đất, hầm xong phải chở 10 cây số mới tới lộ xe.
— Cai tổng và hương chức làng đòi hối lộ, ai lo lót 15 đồng thì khỏi làm xâu, người nghèo phải đi làm vì không tiền lo.
Ngày 18/4/1902, dân trong 3 làng kéo nhau đến trước cửa tòa Bố. Họ bị viên phó tổng và bọn lính mã tà đàn áp, đánh đuổi.
Dân làng gởi liên tiếp 3 lá đơn đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo : “Vả chăng quan Chánh bố là quan trong địa hạt mà hiệp với tổng mà khắc khổ dân tình lắm”, dưới đơn có 83 người ký. Rốt cuộc, chủ tỉnh là Chabrier bị Thống đốc rầy rà vì việc làm xâu đã vượt mức luật định và xa thực tế, từ rày về sau “phải tránh những việc tương tự”.
Việc đắp đường cứ tiếp tục. Chủ tỉnh nhượng bộ, hạ mức 7 thước khối đất hầm còn 2 thước khối và khoe khoang rằng mỗi ngày đã huy động từ 10.000 đến 12.000 dân xâu đắp lộ ; theo ông ta thì việc làm xâu quá luật định cũng đã từng xảy ra ở tỉnh Sóc Trăng. Và ở Bạc Liêu chỉ có hai làng là phàn nàn mà thôi.
Chưa xong việc đắp lộ, nhà nước lại thúc đẩy việc đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau : dân làm xâu được nhà nước phát cho rượu đế, vì là “thức uống hợp vệ sinh”.
Việc làm xâu đã từng là tai nạn lớn cho dân ở Cà Mau từ khi người Pháp mới đến : năm 1877, phủ Hòa bắt dân 3 tổng ở Cà Mau (Long Thủy, Quảng Long, Quảng Xuyên) đào kinh Bạch Ngưu nối qua phía nam Rạch Giá, đánh đập dân ; năm 1881, tự ý cho dân mướn thủy lợi trong kinh này nhân dịp bắt dân xâu lần thứ nhì.
Năm 1895, mùa màng thất bát quá mức tưởng tượng : Bạc Liêu và Sóc Trăng chỉ còn 1/10 hoa màu, mưa quá nhiều rồi gặp đại hạn. Vì mức thâu hoạch chỉ còn 1/10 nên Hội đồng quản hạt đề nghị với Thống đốc Nam kỳ miễn thuế điền ở Bạc Liêu năm 1896 cho 46.000 mẫu ruộng, huê lợi sút kém chỉ còn đủ nuôi sống dân trong tỉnh là 46.498 người. Trong số này, có 11.484 dân bộ được bớt thuế thân để tiếp tục làm xâu đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau. Năm ấy đào được 46 cây số (con kinh dự định đào dài 72 cây số). Cuối năm 1895, cai tổng Thạnh Hưng báo động, làm đơn xin miễn thuế với Thống đốc Nam kỳ : “Bây giờ dân không biết đi đâu hết vì nội tổng tôi không có lúa, nó đi kiếm ăn đỡ đói”.
Đất ruộng nói chung thì tập trung về phía Đông giáp qua Sóc Trăng, nơi đã có người làm chủ từ lâu. Dân mới đến lập nghiệp chỉ còn vùng đất gần biển hoặc đất quá thấp phía mũi Cà Mau. Năm 1902, vài người khẩn đất lại phá sản, trả lại cho nhà nước vì đất không huê lợi, không sao đóng thuế được. Người nọ khẩn 160 mẫu ở Tân Hưng, thiếu thuế rồi bị bỏ tù, hương chức làng dán yết thị, rao bán đất ấy để bù tiền thuế nhưng chẳng ai thèm mua.
Làng Tân Thuận phía Cà Mau khai với quan trên : “đất đồng không có, làm đất ráng (tức là sình lầy có ráng mọc) theo mé sông, nước mặn tràn vô làm hư lúa, nước không tràn khi nào mưa muộn”. ở Tân Duyệt, trừ số đất cao ráo có người khẩn từ xưa thì “dân nó làm ruộng đất rẫy là đất dừa nước, chà là và ráng ở gần biển”, đa số đất ở gần biển vùng mũi Cà Mau đều là “nê địa ủng tắt”. Theo giá trị thường, một mẫu đất tốt ở Mỹ Tho, Gò Công trị giá từ 200 đồng đến 300 đồng trong khi đất gọi là đốt ở vùng Cà Mau trị giá không hơn 100 đồng.
Nhờ quy chế mỗi người được khẩn 10 mẫu (gọi là đất công nghiệp) nên dân tứ xứ luôn cả những người đã thất bại ở Rạch Giá trong đợt khai thác đầu tiên đều rủ nhau đến Cà Mau. Nói chung thì đất hoang ở tỉnh Bạc Liêu quá thấp, có chân nước mặn, ba bốn năm đầu khó thâu huê lợi.
Mức trưởng thành của Bạc Liêu, Cà Mau khi chuyển mình góp phần lớn vào vựa lúa miền Nam, có thể đánh dấu vào khoảng 1914, khi nhà nước cho nghiên cứu đào kinh Quan Lộ, nối liền Phụng Hiệp xuống Cà Mau (gọi Quan Lộ vì kinh này khởi đầu từ rạch Quan Lộ). Nhờ đó mà trong tương lai gần, lúa gạo vùng Bạc Liêu, Cà Mau được chở về Sài Gòn theo đường thủy, ngang qua Rạch Giá, Cần Thơ rồi Trà Ôn, Vĩnh Long (Mân Thít)...
Năm 1927, người Pháp chỉ làm chủ ở Bạc Liêu chừng 30.000 mẫu. Bạc Liêu tiến sau các tỉnh khác, nhưng theo tốc độ nhanh.
Năm 1893, bán ra 316.000 tạ gạo.
Năm 1921, bán ra 2.733.330 tạ.
Năm 1927, diện tích canh tác lúa gạo của Bạc Liêu đứng hạng nhì ở Nam kỳ, chỉ sau Rạch Giá. Nhưng Bạc Liêu còn thêm nguồn lợi than đước, ruộng muối, nhứt là rừng tràm và hải sản. Đến năm 1927, đất ruộng đã chiếm 34 % diện tích của toàn tỉnh Bạc Liêu và chiếm 49 % diện tích của toàn tỉnh Rạch Giá.
Trong thực tế, với trình độ kỹ thuật và cơ cấu xã hội kinh tế thời ấy, khó mà khai thác nhiều hơn.
ở Bạc Liêu vào năm 1927, nhiều làng rộng 20.000 mẫu tây, to hơn một tỉnh bực trung ở Nam kỳ. Đứng đầu là làng Khánh An rộng đến 140.000 mẫu tây. Tuy nhiên, ta không nên có ảo tưởng là dễ tạo nên ruộng lúa phì nhiêu : đây là rừng tràm nê địa, dân khẩn hoang đến ở tuy gan lì nhưng rốt cuộc phải ra đi vì chỉ thâu được huê lợi duy nhất là đốn củi lậu thuế, bán từng xuồng nhỏ mà đổi gạo ăn ngày qua ngày. Một vài giồng đất cao thì đã có chủ từ thời Gia Long tẩu quốc rồi.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #32 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:39:46 PM »

Chương 2 - 5

Cần Thơ, đầu cầu và thủ đô miền Hậu giang

Vùng Cần Thơ thời Mạc Thiên Tứ mang tên là Trấn Giang, vào năm 1793. Mãi đến khi người Pháp xâm chiếm, Cần Thơ là vùng không quan trọng. Ngọn rạch Cần Thơ ăn thông qua sông Cái Bé rồi ra vịnh Xiêm La nhưng không rõ rệt. Đời Tự Đức, Đại nam Nhất thống chí mô tả khúc đường ấy : Cuối đông qua xuân, nước khô bùn cứng ghe thuyền qua lại không được, từ mùa hạ qua đông, nước mưa tràn bờ thì ghe thuyền cỡi lên trên cỏ và bèo mà đi, cứ trông theo phía tả hay phía hữu rừng cây mà nhận dấu đường. Nơi đây không có bóng người, có rất nhiều muỗi và đĩa, người qua lại rất khổ sở. Tóm lại, Cần Thơ chỉ đông đúc ở phía sát bờ Hậu giang.
Về giao thông và kinh tế, từ đời họ Mạc đến lúc người Pháp đến, lúa gạo ở Rạch Giá và ở Cà Mau thì xuất cảng cho những ghe Hải Nam vào chợ Cà Mau và Rạch Giá; lúa gạo ở Sóc Trăng và Ba Thắc thì bán theo cửa Ba Thắc (bản đồ Pháp ghi là cửa Tranh De, chắc là do chữ Trấn Di, đọc trại rồi âm lại). Vùng Cần Thơ chỉ là những xóm sung túc bên rạch Cần Thơ và rạch Bình Thủy, phía bắc là vùng Ô Môn có đất giồng khá tốt.
Đời Gia Long, Cần Thơ thuộc về huyện Vĩnh Định, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhập qua phủ Tân Thành (do Sa Đéc cai quản).
Vùng Ô Môn đời Tự Đức (và có lẽ từ các đời trước) là khu vực ít nhiều tự trị của người Miên nên Đại nam Nhất thống chí gọi là “thổ huyện”.
Thoạt tiên người Pháp đặt Cần Thơ (vùng rạch Cần Thơ và Ô Môn) là hạt nhưng không quan trọng bằng hạt Long Xuyên (Đông Xuyên) hoặc Sóc Trăng. Nghị định ngày 30/4/1872 lại đặt ra Trà Ôn, phần đất của Cần Thơ nhập qua Trà Ôn. Hạt Trà Ôn lại bị giải tán để rồi ngày 23/2/1876 tái lập hạt Cần Thơ với chợ Cần Thơ là tỉnh lỵ; Trà Ôn chỉ còn vai trò quận lỵ, nhưng là quận lỵ quan trọng nhứt nhì của tỉnh.
Pháp không lầm khi chọn Trà Ôn làm trung tâm quan trọng. Việc bán lúa gạo ra nước ngoài lần hồi không còn do các hải cảng Cà Mau, Rạch Giá (phía vịnh Xiêm La) hoặc Bãi Xàu (bờ Hậu giang) đảm nhận như trước nữa. Ghe buồm Hải Nam tuy to, chở nặng nhưng làm sao cạnh tranh nổi với các tàu sắt, chạy máy của Tây phương tại bến Sài Gòn.
Tàu máy chở gạo qua Hương Cảng với giá vốn nhẹ hơn. Dầu muốn hay không, lúa gạo miền Sóc Trăng cũng phải mượn đường Trà Ôn để đem bán tại Chợ Lớn. Rạch Trà Ôn nối qua sông Mân Thít bên Tiền giang, con đường mà trước kia Nguyễn ánh và Tây Sơn giành nhau quyền kiểm soát.
Quan cai trị Pháp biết nhìn xa : dời tỉnh lỵ về rạch Cần Thơ thì chợ Cần Thơ trở thành ải địa đầu quan trọng, nắm luôn nẻo thông thương thứ nhì, cũng nối từ Hậu giang qua Tiền giang để lên Sài Gòn, Chợ Lớn. Đó là con đường từ rạch Cái Vồn qua rạch Nha Mân, phía Sa Đéc. Lại còn phía tây Cần Thơ là vùng Rạch Giá, Cà Mau bao la với nhiều triển vọng về lúa gạo, đất hoang chưa khai phá.
Cần Thơ có khí hậu tốt, đất hoang tuy chưa được khai thác đúng mức nhưng là rừng chồi thưa thớt, không như rừng tràm ở nước mặn phía Rạch Giá, Cà Mau. Giữa Cần Thơ, Sóc Trăng và ranh tỉnh Rạch Giá còn một cánh đồng bát ngát, nước ngọt, không quá thấp như Đồng Tháp Mười, không quá sình lầy và nhiều phèn. Đó là cánh đồng sau này trở thành quận Phụng Hiệp, đầy lau sậy, có voi (voi ăn sậy và lau). Thoạt tiên người Pháp gọi đó là “Đồng Sậy” nhưng vì khai phá xong nên địa danh này không còn thông dụng như trường hợp Đồng Tháp Mười hay rừng tràm U Minh.
Rạch Cần Thơ chạy dài tới Phong Điền, nhà cửa đông đúc. Rạch Cái Răng là nơi đất tốt. Đất ở rạch Bình Thủy không đâu sánh bằng; rạch Cần Thơ và rạch Bình Thủy như nối tiếp nhau ở cuối ngọn. Tuy không là văn vật như miền Tiền giang nhưng dân ở hai con rạch này khá thuần thục, thông hiểu lễ nghĩa “trai Nhân ái, gái Long Xuyên”.
Thực dân Pháp nhắm mục đích biến Cần Thơ thành trung tâm quan trọng nắm giềng mối đường giao thông về Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau trong giai đoạn mà đường thủy nắm ưu thế. Về sau, sau trận thế chiến 1914—1918, những con lộ xe cũng nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược này. Phải qua Cần Thơ mới lên Sài Gòn được, đa số lúa gạo gom về Cần Thơ vì đây là con đường vận tải ngắn nhứt.
Khi Pháp đến, vùng Ba Láng (nhánh của rạch Cần Thơ) là nơi khởi nghĩa của Đinh Sâm. Đinh Sâm thất bại nhưng vào tháng 3/1870, chừng 200 nghĩa quân tụ tập lại ăn tiệc, chuẩn bị đánh tòa thâm biện Cần Thơ. Thực dân phát giác kịp, bắt giam 141 người, trong số này chừng 55 người mà thực dân cho là nguy hiểm bị đề nghị đày ra Côn Nôn hoặc đảo Réunion. Tham biện lúc bấy giờ là Alexandre dùng dân địa phương làm xâu, cất nhà lá chung quanh nhà lồng chợ để bán hoặc cho mướn lại.
Theo báo cáo thì ở Cần Thơ việc kiện thưa đất đai xảy ra quá nhiều chứng tỏ người dân thấy tương lai sáng sủa của nghề nông. Chủ tỉnh ra lịnh lập bộ điền cho kỷ hơn để thâu thuế. Năm 1887, đất canh tác là 85.000 mẫu, so với năm trước (khai để đóng thuế) tăng thêm 17.000 mẫu. Diện tích của tỉnh là 205.000 mẫu, tức là còn lại 110.000 mẫu có thể canh tác. Dân ghi trong bộ để chịu thuế trong toàn tỉnh là 26.500 người.

Đào kinh xáng Xà No

Kinh xáng Xà No là công trình lớn lao đầu tiên của Nam kỳ về đường thủy, có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho về đường bộ. Kỹ thuật Tây phương đã biểu diễn với tất cả sức mạnh và hiệu năng.
Đời Gia Long và Minh Mạng, vua và các quan đã nhận rõ vai trò quan trọng của kinh đào đối với miền Tiền giang và Hậu giang. Kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế là những công trình chiến lược đứng đắn, nối vịnh Xiêm La qua Hậu giang để rồi lên Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn. Ai cũng biết đào kinh thì đất ráo phèn, ruộng nương dễ khai phá, dân chúng thích quy tụ ở nơi “sông sâu nước chảy”.
Kinh xáng Xà No nối Hậu giang qua vịnh Xiêm La, xuyên qua vùng đất tốt và to rộng giữa nhánh sông Cái Lớn và rạch Cần Thơ (nhánh sông Cái Lớn nơi ấy gọi là Rạch Cái Tư).
Từ năm 1866, nhà nước dùng xáng mà vét lại rạch Bến Lức và kinh Bảo Định nhưng kết quả chưa được như ý muốn. Năm 1875, đô đốc Duperré cho đào lại kinh Chợ Gạo và kinh Trà Ôn, dùng dân xâu. Năm 1893, quan toàn quyền De Lanessan cho đấu thầu ở Paris. Công ty Montvenoux trúng thầu với giá là ba cắc rưỡi một thước khối, trong tháng đầu phải đào 60.000 thước khối đất và năng xuất tăng thêm, trong tháng thứ 25 phải đào 200.000 thước khối.
Sáng kiến đào kinh Xà No trước tiên do hai người Pháp là Duval và Guéry nêu ra vì quyền lợi ích kỷ. Họ thấy đất tốt và rộng nên xin trưng khẩn. Và khi chưa được giấy phép trưng khẩn chánh thức là họ đã vận động với quan toàn quyền Paul Doumer (17/5/1900). Chủ tỉnh Cần Thơ cho biết là trước đó, năm 1896, đã đào kinh Ô Môn (nối ngọn sông Cái Bé từ Rạch Giá qua Ô Môn) dùng dân xâu nhưng tạm ngưng vì ở vùng đào kinh xảy ra nạn dịch khí. Kinh Xà No nếu đào được thì ích lợi vô cùng, giúp khai thác hàng mấy chục ngàn mẫu đất tốt phía địa phận Cần Thơ. Nhưng Duval và Guéry lại muốn nhà nước đào thật gấp, trong vòng một năm cho xong và bắt đầu đào ở phần đất mà họ đang xin trưng khẩn (tức là khởi đầu từ khoảng giữa) để họ thâu lợi sớm.
Kinh vừa khởi đào là Guéry được nghị định của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cấp cho không một sở đất tốt với diện tích khổng lồ là 2.500 mẫu nằm trên vùng đào kinh, tọa lạc tại làng Nhân Nghĩa, tổng Định Bảo, tỉnh Cần Thơ (nghị định số 338 ngày 14/2/1901).
Kinh Xà No đào từ 1901 đến tháng 7/1903 là xong, bề ngang trên mặt rộng 60 mét, dưới đáy 40 mét tốn phí 3.680.000 quan. Lần này, nhà thầu sử dụng loại xáng lớn chạy bằng hơi nước, với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi giàn mút được 375 lít, thổi bùn ra xa đến 60 mét. Giàn gàu của xáng chạy theo vòng tròn (như xe đạp nước). Từ xa, chiếc xáng giống như chiếc chiến hạm, máy chạy vang rền suốt năm ba cây số, mang theo một số chuyên viên, nhân công hàng trăm người. Dọc theo hai bên bờ phải chở củi đem tới sẵn, vì xáng đốt nồi sốt—de bằng củi.
Vài chuyện khôi hài xảy ra, một số dân chạy theo xáng, dùng thúng mà hứng bùn để tìm vàng, nhưng chỉ gặp xương người xương thú. Nhiều người cho rằng cứ “cắm dùi” là đất ấy về phần mình, vì mình đến trước nhứt. Cu—li của hãng xáng tụ tập, bày ra đánh bài, uống rượu hoặc đi ăn cướp, bọn cặp—rằn đo đất thì hăm dọa những chủ nhà ở gần con kinh sắp đào để tống tiền, ai cho tiền thì nhà cửa, vườn tược khỏi bị đào ngang. Bọn chuyên viên người Pháp đứng cao trên xáng, hò hét như các vị chỉ huy chiến hạm. Khung cảnh trầm hùng này đã in sâu vào giai thoại thời ấy, trở thành ca dao, chiếc xáng của Tây là sức mạnh cơ khí vô địch.
Lễ khánh thành kinh Xà No là ngày trọng đại, có lẽ đó là lần đầu tiên mà quan Toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến miền Hậu giang. Quan lại địa phương, thân hào nhân sĩ từ các tỉnh lân cận đến tề tựu đón rước, ban quân nhạc từ Sài Gòn đến, lại có tổ chức dạ vũ.
Phần đất mà Duval và Guéry trưng khẩn thuộc vào loại tốt nhứt nhì của Nam kỳ. Những năm 1908—1910, trong khi ở tỉnh Cần Thơ điền chủ bổn xứ và điền chủ Pháp rầu lo vì nạn đói, nước mưa dâng quá cao thì phần đất của Duval và Guéry chẳng bao giờ bị lỗ lã nhờ ở sát bờ kinh. Điền của Guéry mướn bọn cựu quân nhân Pháp làm cai điền với súng ống hẳn hòi, xét bắt ghe xuồng qua lại. Ai chở lúa lậu thì bọn cai điền được chủ tỉnh cho phép lập biên bản giải tòa. Dân ở gần điền và các chủ điền lân cận đều bực dọc về thể thức xét hỏi này : lúa của họ bị kiểm soát, khi cần mượn đường nước để đi ngang qua điền. Kinh đào là của nhà nước, nhưng bọn điền Tây xem như là khu vực quân sự riêng của họ.
Vào những năm đầu thế kỷ, ở Cần Thơ người Pháp và người Việt có Pháp tịch làm chủ 36.000 mẫu (1910). Dường như chỉ có Duval và Guéry là thành công nhứt, vài công ty khác như Société des Rizières franco—annamites, hoặc Michel—Villaz et Cie đều lỗ lã, hoặc có những tư nhân như Balmann đã phá sản.
Công ty Associaton Rizicole Indochinoise thành hình vào năm 1910, gởi chuyên viên qua Mỹ quốc nghiên cứu các loại máy cày thích hợp rồi cho một kỷ sư canh nông là Alazard đến Thới Lai (Ô Môn) mang theo máy cày, máy bừa, máy gieo mạ, xin chánh phủ thuộc địa trợ cấp để thí nghiệm cải tiến kỹ thuật nhưng không đạt kết quả khả quan. Tên Duquet thử thí nghiệm việc cày máy vào mùa nắng, đầu năm 1911.
Tư nhân Pháp sẵn sàng góp tay với nhà nước để trong điền đất của họ có kinh đào cho riêng họ thủ lợi, dân xâu phải tiếp tay (trường hợp Sambuc và Belin trợ cấp 8.600 đồng nhân dịp đào kinh Thới Lai).
Năm 1907, để phục vụ cho mùa 1907—1908 nhà nước thiết lập ở Cần Thơ một phòng Dinh Điền nhầm mục đích tìm nhân công cho các điền của người Pháp ở Cần Thơ, mộ dân nghèo ở Bắc kỳ vào. Nhưng tốp dân mộ này vì bị quan lại ở quê xứ cưỡng bách, nên khi đến Cần Thơ lại lãng công, thiếu thiện chí. Rốt cuộc, nhà nước trả họ về quê để khỏi chịu tốn kém về cơm gạo.
Phòng Dinh Điền bèn kiên nhẫn thí nghiệm lần thứ nhì, nhờ quan Công sứ tỉnh Thái Bình chọn lựa kỹ lưỡng hơn, nhằm khẩn hoang vùng Phụng Hiệp. Người ứng một phải ký giao kèo chịu ở Nam kỳ ít nhứt là 3 năm, mỗi gia trưởng khi đến Cần Thơ được tạm cấp 4 mẫu đất, 5 năm sau trở thành sở hữu chủ, trong giai đọan khai thác đầu tiên được miễn 5 năm khỏi đóng thuế điền và thuế thân. Sau này, đất bán lại với giá rẻ cho người khai thác, lại còn giúp đỡ cụ thể về tiền bạc để sắm quần áo, nông cụ.
Đích thân viên đầu phòng Dinh Điền ra tới tỉnh Thái Bình để ký giao kèo với các gia trưởng chịu vào Cần Thơ nhưng làm sao viên chức này biết rõ cách thức tuyển mộ của quan Công sứ tỉnh Thái Bình ? Đợt người vào Nam này gần như bị quan trên bắt buộc phải đi, gồm có : 84 gia đình tổng cộng 328 người, chia ra 84 người cha, 85 người mẹ, 122 trẻ con, 37 người lớn tuổi.
Cuối tháng 5/1908, họ vào Cần Thơ, đưa đến vùng Phụng Hiệp (bấy giờ còn hoang vu) cứ 8 ngày là phát gạo, 15 ngày là phát tiền. Họ lãng công, một số chịu làm lụng nhưng không quen kỹ thuật làm ruộng ở địa phương, một số đông thì trốn, bỏ vợ con. Theo báo cáo của quan huyện ở Rạch Gòi thì tốp người ứng mộ này chỉ gồm chừng 5 hay 6 người là nông dân, còn bao nhiêu là dân mà viên chức ngoài Bắc cứ lùa vào Nam, tạp nhạp, theo kiểu bắt phu. Vì thế mà cuộc di dân không thu được kết quả gì ráo.
Từ tháng 12/1908 đến tháng 4/1909, họ lần lượt bị đưa về Bắc, còn sót lại 19 người đang ở tù, vì bất hảo (phúc trình hằng năm về tình hình tổng quát tỉnh Cần Thơ, niên khóa 1908—1909 của chủ tỉnh L. de Natra).
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #33 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:41:46 PM »

Trong đợt di dân đầu tiên, 50 người gọi là “cu li Bắc kỳ” tới điền của Duval và Guéry với một viên đội và 2 người cai canh chừng, nhà nước yêu cầu chủ điền cho lãnh lương hơi cao một tí để họ siêng năng làm việc. Nên hiểu cuộc dinh điền của Pháp chỉ là mô phỏng vụng về hình thức lập ấp đời Tự Đức. Đây là hình thức nô lệ trá hình, bị thất bại vì thiếu chính nghĩa.
Câu hát “Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền. Anh thương em cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm riềng họ hay” phản ảnh tâm trạng lạc quan của người dân thời ấy.
Vàm Xáng (vàm của kinh Xáng) là nơi kinh Xà No khởi đầu bên phía Cần Thơ (Xà No, Srok Snor, xóm có nhiều cây điên điển). Ngã ba này trở nên tấp nập, ghe xuồng đậu để chờ con nước thuận lợi mà qua Rạch Giá hay ra chợ Cần Thơ.
Năm 1908, hương chức làng Nhân ái đứng đơn xin lập chợ, gọi là chợ Vàm Xáng để thâu huê lợi cho làng. Một thân hào tình nguyện cho làng khoảnh đất để cất chợ, nhà canh và phố. Về sau, nhà tước tách địa phận này qua làng Nhân Nghĩa. Hương chức làng Nhân ái lại phản đối, lấy lý do : “Làng Nhân ái này là của ông bà cha mẹ chúng tôi lập ra hơn một trăm năm nay, nên luôn luôn rất bình an”, nếu cắt đất chợ mà nhập qua làng khác, e hư phong thủy (nhưng thật ra hương chức làng mất dịp làm ăn).
Năm 1913, một thân hào khác lại tặng cho làng sở đất 880 thước vuông để cất nhà trường làng “dạy trẻ con học hành phong hóa”. Lúa từ phía Rạch Giá theo kinh Xà No chở ra chợ Cái Răng, do người Huê kiều mua về, mướn nhà máy xay ra gạo tại chỗ trước khi đem về Chợ Lớn mà xuất cảng. Nhờ đó, chợ Cái Răng trở thành kho lúa gạo to lớn với nhiều dịch vụ mua bán mà người Huê kiều thao túng trên thị trường nội địa.
Năm 1908, chợ Cái Răng đã sung túc đến mức hương chức hội tề sở tại bán cái sườn nhà lồng chợ cho làng Thới Thạnh để mua cái sườn nhà chợ khác, to và chắc chắn hơn.
Vào đầu năm 1911, nhiều người bày ra sáng kiến lập chành, thoạt tiên chành cất bằng lá. Và cũng năm này, công ty Asiatic Petroleum xin phép cất cây cầu sắt dài 15 mét tại bến Cái Răng cho tàu chở dầu cặp bến dễ dàng hơn.

Cuộc tranh đấu của trí thức Cần Thơ

Đây là phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) do Gilbert Trần Chánh Chiếu cầm đầu.
Cần Thơ là nơi mà giới điền chủ Việt có truyền thống văn hóa cao, tuy kém các tỉnh miền trên như Mỹ Tho, Tân An nhưng đứng vào hàng đầu các tỉnh Hậu giang. Người ở Cần Thơ liên lạc dễ dàng với các tỉnh miền trên. Đặc biệt là giới công chức Cần Thơ có tinh thần dân tộc, đến mức khiến thực dân Pháp phải khó nghĩ, lo ngại.
Phong trào Đông Du lôi cuốn con nhà khá giả ở Bình Thủy và Trà Ôn (nơi giáp ranh vùng Tam Bình). Lão sư Nguyễn Giác Nguyên ở chùa Nam Nhã (chùa Minh Sư, Bình Thủy) được ông Cường Để phong cho chức chủ tỉnh Cần Thơ nếu việc lớn được thành. Về mặt công khai, phong trào Duy Tân khá rầm rộ. Nhân sĩ yêu nước thời bấy giờ lập Hội khuyến học Cần Thơ vào ngày 23/3/1906. Trên điều lệ, mục đích của hội là giúp hội viên học hỏi trau giồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Hội trưởng hội này là Võ Văn Thơm, hai ông phó Hội trưởng là Hồ Hưng Nhường và Nguyễn Háo Văn. Vì chê thành phần Hội khuyến học Sài Gòn lúc bấy giờ kém tích cực và cũng vì muốn hoạt động riêng nên Hội Cần Thơ không tán thành việc gia nhập vào Hội khuyến học Sài Gòn (20 phiếu chống, 2 phiếu thuận). Ông Nguyễn Háo Văn là chiến sĩ đắc lực của phong trào Duy Tân. Về sau, khi vụ án Gilbert Chiếu phanh phui ra, ông bị cách chức vào ngày 19/4/1909 (ông là thư ký hạng nhứt). Và ba ngày sau thực dân cũng cách chức ông tri phủ Nguyễn Công Luận ở Sa Đéc, ông Huỳnh Công Bền, tri phủ Cai Lậy, ông Phạm Văn Bảy, tri huyện ở chợ Mỹ Tho bị can đồng một tội.
Tuy nhiên, vì không dám khuấy động quá mức, thực dân lúc bấy giờ có thái độ tương đối hòa hưởn, ông Nguyễn Văn Háo rút đứa con trai đang du học bên Nhựt về, cho tiếp tục học tại Saint Joseph English College Hong Kong (đây là ông Nguyễn Háo Vĩnh, có công trong việc chấn hưng ngành xuất bản sách ở miền Nam).
Trong bài diễn văn đọc kỳ đại hội của Hội khuyến học Cần Thơ ngày 10/1/1908, ông Hội trưởng Võ Văn Thơm công khai đề cao tinh thần dân tộc, cổ xúy người Việt nên hăng hái, bớt lười biếng, đứng lên tranh thương với Hoa kiều và ấn kiều, và trong hiện tại, họ đã nể nang người Việt. Lời lẽ trong bài diễn văn này không dính dấp gì với mục đích của Hội là “phổ biến văn hóa Pháp” cả.
Khi báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ về tình hình trong tỉnh, lần lượt các viên chủ tỉnh ở Cần Thơ thú nhận như sau :
— Báo cáo năm 1908—1909 của L. de Natra : Chủ tỉnh Cần Thơ hồi năm ngoái nhận định rằng “vụ án Gilbert Chiếu và đồng bọn không gây phản ứng gì rõ rệt đối với nhân tâm trong tỉnh. Tuy nhiên, ta phải nhìn nhận rằng một số đông kẻ liên can trong vụ án đều là quê quán ở Cần Thơ. Họ đang bị giam để chờ ngày ra trước tòa án Mỹ Tho...”
Chủ tỉnh de Natra nói là những biến cố năm 1908 chứng minh một cách khá rõ rệt rằng dân Nam kỳ bấy lâu chỉ lo làm ăn và cầu mong được yên ổn, lại bị xúi giục. Đa số người đi xúi dục này đều là những kẻ thọ ơn nhà nước Pháp. “Người bổn xứ, mà ta có thể tin cậy là trung thành với chế độ đã tìm mọi cách mà họ có thể có được để chuẩn bị khởi loạn”.
— Báo cáo năm 1909—1910 : Từ khi xảy ra vụ án Gilbert Chiếu tới nay, chẳng có sự việc gì nổi bật, đáng ghi... “Nhưng khi tiếp xúc với người bổn xứ, ngay đến những người đã từng phục vụ nhà nước Pháp một cách hữu ích, ta phải giựt mình vì thái độ chỉ trích của họ đối với tất cả những gì liên quan đến chính quyền thuộc địa, một lối chỉ trích mỉa mai, cay cú”.
Báo cáo năm 1910—1911 : “Không có cuộc biến loạn, không có sự bộc lộ cụ thể nào xảy ra. Tuy nhiên, dưới bề ngoài yên ổn này ta nhận ra một cách dễ dàng là còn một phần của dân chúng — may thay số người này không đông đảo cho lắm — họ có thái độ đối lập và thái độ chỉ trích không nhân nhượng, tận gốc, đối với tất cả những gì của chánh quyền, những gì xuất phát từ phía người Pháp”. Gilbert Chiếu được tòa xử miễn tố, vì vậy mà họ càng lừng lẫy hơn, lại còn một số người đồng lõa trong vụ án cũng được miễn tố. Dân trong tỉnh đủ sức đóng thuế, nhưng tình hình bên Mãn Châu đã có ảnh hưởng ở toàn cõi Viễn Đông. Cầm đầu nhóm chống đối chính quyền, có nhiều viên thư ký hoặc quan lại đã bị cách chức, họ đang sống ngày qua ngày.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #34 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:42:34 PM »

Thiên Địa Hội phát triển đặc biệt ở vùng Rạch Giá. Tháng 5/1909, nhà nước phát giác từ 3 đến 400 người gia nhập hội, chừng 15 người cầm đầu bị đưa ra tòa. Năm 1910—1911, chủ tỉnh Cần Thơ lại bực mình vì sau 50 năm thống trị của người Pháp mà những hội như thế ấy tại sao lại có thể tồn tại và phát triển ? Theo viên chủ tỉnh này, lý do chánh là sự bất lực của các tòa án đã xử phạt quá nhẹ nên dân không sợ.
Một tài liệu khám phá tổ chức Thiên Địa Hội ở vùng Cần Thơ thuộc về Nghĩa Hòa đoàn (gọi theo giọng Tàu là Dì Hóa). Về cách tổ chức thì giống như các nhóm Thiên Địa Hội khác, với chủ soái, phó chủ soái, chánh chủ hương, phó chủ hương. Hội viên lấy bí danh, theo họ của các vị ngũ tổ thời trước như Vạn Vân Long, Hồng Vạn Chương. Chỉ trừ một số người Huê kiều làm chánh chủ soái, còn bao nhiêu đều là hương chức. Đặc biệt là về chức vụ thảo hài, hồng côn, bạch phiến, có riêng một người là võ bạch phiến, một người là văn bạch phiến, văn thảo hài, võ thảo hài. Phải chăng họ chú trọng đến vấn đề quân sự để khởi nghĩa trong ngày gần nhứt ?
Vào những năm 1907, vùng biên giới tỉnh Cần Thơ xảy ra nạn cướp bóc, chuyên đánh ghe buôn và những chủ điền ở nơi hẻo lánh. Cần Thơ gồm đất đai ở hai bên bờ Hậu giang, giữa sông lại có cù lao, bọn cướp hoành hành nơi giáp ranh với Sóc Trăng, Vĩnh Long, Long Xuyên, Rạch Giá. Cầm đầu bọn cướp gồm những tay khét tiếng đầy đủ bản lãnh, nổi danh nhứt là Sáu Nhỏ. Theo lịnh của cấp trên, các làng được phép truy nã bọn cướp qua làng bên cạnh, mặc dầu khác tỉnh. Vì bọn chúa đảng lần hồi sa lưới nên các vụ cướp giảm lần từ 43 vụ, khoảng 1906—1907, sụt còn 14 vụ, khoảng 1908—1909.
Lộ xe, chợ phố và trung tâm ngã bảy (Phụng Hiệp)
Nhiều con kinh tiếp tục đào nối liền các rạch nhỏ trong tỉnh, quan trọng nhứt là công trình mở mang đường giao thông ở cánh đồng Phụng Hiệp mà trước kia người Pháp gọi là Plaine des Roseaux. Đất Cần Thơ phía tả ngạn Hậu giang đã có dân cư từ lâu. Phía hữu ngạn là đất tốt tuy hoang vu đầy lau sậy nhưng dầu sao đi nữa với địa thế tương đối cao (so với Châu Đốc hoặc Rạch Giá), với phù sa nước ngọt (dễ trồng hoa màu phụ), nhứt là gần đường giao thông về Sài Gòn (lúa bán có giá) thì vẫn là nơi lý tưởng mà ai cũng muốn bám vào, không xong thì mới xuống Rạch Giá, Cà Mau là nơi đất thấp, nhiều muỗi mòng.
Liệt kê việc đào kinh ở tỉnh Cần Thơ là điều rắc rối vì nhiều con kinh đào đợt đầu, rồi đợt nhì nối dài rồi mở rộng, rồi vét lại cho sâu nhiều lượt.
Nên chú ý là số dân xâu dùng vào việc đào kinh nhỏ khá nhiều, cực khổ nhứt là dân vùng Rạch Gòi (về sau quận lỵ dời về Ngã Bảy, Phụng Hiệp).
Chuyên viên thủy nông nghiên cứu không chính xác. Lắm vùng đất làm ruộng được, nhưng bỗng nhiên lại trở thành đất thấp, bị ngập lụt triền miên chỉ vì ảnh hưởng của mấy con kinh đào lân cận. Trong trường hợp ấy, dân làng và điền chủ phải tự nguyện xin làm xâu, đào thêm kinh phụ để cứu nguy cho ruộng đất của mình.
— Đào kinh Trà ết (1902), đào kinh Bà Thậm qua Tân Lược (1899), vét lại năm 1904.
— Đào kinh từ ngọn Cái Bé qua Thốt Nót từ 1908 đến 1910.
— Vét kinh Nhiêu Sự để nối liền Bò Hút qua Sa Đéc (1909).
— Vét kinh Vàm Bi (1909—1910), điều chỉnh lại kinh Ô Môn qua ngọn sông Cái Bé (1911—1912).
— Đào kinh Xẻo Vông (1908—1912).
Năm 1911, vào ngày 9/4, quận Rạch Gòi có đến 2150 dân xâu làm việc thường trực để đào kinh. Riêng về rạch Ông Rầy (nối qua Rạch Giá) dùng đến 1230 dân xâu. Năm 1910, quận Ô Môn cung cấp 3250 dân xâu (Định Thới : 1130 người, Thới Bảo : 2120 người). Việc đào kinh không theo nguyên tắc mà luật lệ đã định (5 ngày) nhưng là làm khoán, trung bình mỗi chuyến làm xâu, mỗi người phải đào cho xong chừng 15 thước khối đất.
Năm 1909, một kế hoạch có ích lợi thực tế được thực hiện, đó là đào con kinh ngắn, cắt ngang cù lao Mây để ghe chở lúa từ phía Phụng Hiệp đi tắt qua vàm Trà Ôn, khỏi đi vòng quanh phân nửa cù lao như trước.
Lộ xe từ Cần Thơ đi Sóc Trăng, đi Long Xuyên, đi Vĩnh Long cứ đắp từ từ, dùng dân xâu và cu li mướn rẻ tiền, từ năm 1908 về sau. Bấy giờ chưa có hủ lô chạy máy nên dân phải thay phiên nhau đẩy “ống cán” để cán đá. Đá đã tới bến thì dùng sức người để đẩy xe rùa trên đường rầy bằng sắt mà đưa tới chỗ cán, hao tổn sức lực. Khi làm đường lộ, có cai và đội lục lộ trông coi, ai lười biếng thì bị rầy la, ai muốn trốn về nhà thì cứ lo hối lộ. Nhà nước phát chừng 4 cắc bạc mỗi ngày, nhưng tiền này thường bị ăn bớt.
Cánh đồng Phụng Hiệp lần hồi có nhiều kinh quy tụ về một trung tâm, gọi là Ngã Bảy.
Voi rừng bị bắn chết, một mớ thì bị mấy thày ngải từ Nam Vang tới bắt; nhà nước đã xuất ra 241 đồng để thưởng mấy thày ngải này.
Có thể nói khoảng 1908—1909 là những năm lạc quan nhứt về mặt phát triển, xây dựng cơ cấu kinh tế : cất xong nhà chợ (chợ cá) tại chợ Cần Thơ, ráp nhà lồng chợ mới ở Cái Răng, nhà lồng chợ Cái Răng thì bán cho chợ Ô Môn, nhà lồng chợ Ô Môn thì bán cho chợ nhỏ hơn là chợ Rạch Gòi.
Cuối năm 1910, nhà thầu đã cẩn xong bờ sông Cần Thơ (chỗ vàm rạch Cái Khế) : cẩn bằng cừ cây, lót vỉ sắt, tráng xi—măng bên ngoài cho nước không làm lở và đồng thời cẩn đá luôn bờ sông tại chợ.
Năm 1911, chỉnh đốn lại mấy “mũi tàu” rạch Cái Vồn Lớn, Cái Vồn Bé và bờ rạch Trà Ôn. Mấy nẻo yết hầu này là đường chở lúa gạo từ Hậu giang qua Tiền giang; dùng kỹ thuật đặc biệt, cẩn từng cục xi—măng cứng (gọi là cuirasse Decauville) để khỏi bị nước xoáy làm lở bờ. Năm 1908, chủ tỉnh Outrey đưa ra kế hoạch biến Phụng Hiệp trở thành một thương cảng.
Xáng đào thêm con kinh nối Phụng Hiệp với Sóc Trăng, năm 1901.
Bấy lâu, lúa từ Cà Mau chở lên Mỹ Tho rồi lên Sài Gòn theo con đường quanh co, không thuận lợi : từ Cà Mau theo kinh lên Bạc Liêu, qua Cổ Cò, Sóc Trăng, ra Đại Ngãi, vượt Hậu giang rồi theo con rạch Tiểu Cần đến Láng Thé, rồi qua Tiền giang đến Mỏ Cày, qua Bến Tre rồi Mỹ Tho. Năm 1914, kế hoạch đào kinh Quan Lộ được nghiên cứu và thi hành gấp, nối liền Cà Mau thẳng lên Phụng Hiệp để từ đó qua Cái Côn rồi qua Trà Ôn, con đường rút ngắn hơn nhiều. Ngoài ra, hai bờ kinh Quan Lộ sẽ quy tụ dân đến khẩn đất, nhà nước thêm lợi.
Năm 1915, quận lỵ Rạch Gòi dời đến Ngã Bảy, Phụng Hiệp, gọi là quận Phụng Hiệp. Đây là quận thành hình giữa vùng lau sậy hoang vu, sau 10 năm đào kinh xáng, nằm trên đường thủy từ Cà Mau ra Hậu giang, đem lúa và sản phẩm lên Sài Gòn.
Trên những nét chánh, việc khẩn hoang được hoàn tất, khi đường thủy nắm ưu thế. Qua trận thế chiến thứ nhứt, đường bộ bắt đầu phát triển. Cần Thơ vẫn nắm giềng mối của các tỉnh giàu có như Sóc Trăng, Bạc Liêu (và Cà Mau). Đồng thời phân nửa tỉnh Rạch Giá cũng nhờ Cần Thơ mà đến Sài Gòn theo đường bộ ngắn nhứt.
Nhờ dân đông đúc nên việc giáo huấn ở Cần Thơ phát triển mạnh hơn các tỉnh khác ở Hậu giang. Năm 1903, đã lập trường nữ tiểu học với một nữ giáo viên người Pháp cai quản, trường dạy thêm môn thêu thùa và có bàn máy may biểu diễn cho học sinh và cha mẹ học sinh xem.
Từ năm 1910, dân ở Cần Thơ và ở Trà Ôn được xem chiếu bóng (chiếu bóng câm) do nhóm Batisson cho chiếu lưu động những phim ngắn, khôi hài hoặc thời sự khoa học. Năm 1917, An Hà nhựt báo ra đời tại Cần Thơ, đó là ấn bản chữ Việt của tờ Courrier de líOuest cũng ra mắt tại Cần Thơ.
Năm 1926, trường Trung học Cần Thơ nhận học sinh năm đầu tiên (lớp thứ nhứt).
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #35 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:43:57 PM »

Chương 2 - 6

Những triệu chứng bất ổn

Việc khai thác đất đai ở Nam kỳ đem lại nguồn lợi đáng kể cho thực dân : bán đất công thổ, thâu thêm thuế điền, thâu thuế xuất cảng lúa gạo, dân tiêu thụ thêm hàng hóa nhập cảng.
Sau trận thế chiến thứ nhứt, địa vị người Pháp ở thuộc địa được củng cố hơn. Nước Pháp thắng trận, các nước ở Đông Dương góp phần để giúp mẫu quốc với con số khá cụ thể :
— Trong 1000 dân, đổ đồng có 5 người sang Pháp (cỡ 2 người làm lính chiến, 2 người làm lính thợ).
— Tính đổ đồng, mỗi người dân ở Đông Dương gởi giúp sang Pháp là 2 cắc, trích trong quỹ của ngân sách Đông Dương còn dư lại.
— Năm 1916, quan toàn quyền Charles cho Pháp bằng tiền và bằng gạo trị giá 3 triệu bạc.
— Gần hồi đình chiến, Đông Dương cho Pháp vay lối 30 triệu bạc.
— Tiền quyên trợ cho Pháp lối 600 triệu bạc.
Sau năm 1919, nền kinh tế Đông Dương thêm dồi dào nhờ chánh sách đầu tư. Năm 1921, Pháp cho một tập đoàn tài phiệt (trong đó có Đông Dương Ngân Hàng) thử nghiên cứu việc nối liền đường xe lửa từ Sài Gòn lên Battambang (Batambang là tỉnh nhiều lúa gạo dư để xuất cảng) và đường xe lửa nối liền từ Mỹ Tho đến Bạc Liêu nhưng chỉ là kế hoạch dở dang trên giấy.
Mức sản xuất ở Nam kỳ từ năm 1920 đến 1927 trung bình trên hai triệu tấn mỗi năm, cao nhứt là năm 1927 với 2.291.333 tấn. So với 1926 thì mùa 1927 ở các tỉnh miền Tây diện tích canh tác tăng thêm 72.440 mẫu (Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu). Các tỉnh còn lại của Nam kỳ chỉ tăng chừng 16.000 mẫu.
Mức gia tăng này đạt được nhờ sự thành công lớn của giống lúa sạ đem kết quả tốt ở Long Xuyên. Riêng tỉnh Châu Đốc, tăng thêm đến 5000 mẫu lúa sạ và 9500 mẫu lúa ba trăng.
Con kinh Cái Sắn đã đào xong, lộ xe Rạch Giá Long Xuyên thành hình bắt đầu cho lưu thông vào năm 1929, giúp cho cánh đồng Cái Sắn dễ khai thác suốt 60 cây số ngàn..
Tại khu vực Bình Đông Bình Tây, người Huê kiều lạc quan tới mức lạm phát nhà máy xay lúa gạo : năm 1925 có 46 nhà máy cỡ lớn, năm 1927 đến 66.
Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu có ảnh hưởng đối với Đông Dương từ giữa năm 1930. Đặc điểm của cuộc khủng hoảng này là lúa gạo vẫn có thể bán ra được, có nơi tiêu thụ nhưng với giá quá rẻ.
Giá gạo tại Sài Gòn sụt lần từ 13,30 đồng mỗi 100 kí lô (vào tháng 4/1930) còn 3,20 đồng (vào tháng 11/1933). Theo P. Bernard, gạo mất giá từ 72 đến 76 % so với lúc trước. Nhưng trong thực tế ta thấy khác hơn :
— Năm 1928, lúa bán một giạ (40 lít) là 1,2 đồng, theo bài vè Nọc Nạn “lúa thì một giạ bán thì đồng hai”.
— Năm 1933, vào tháng 12, phái bộ Nam kỳ ở Đại Hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương đánh điện cho Bộ Thuộc địa rằng “Dân chúng đói khát lầm than... lúa bán 1 cắc (1 giạ) ở Nam kỳ”.
Nguy cơ lớn lại xảy ra cho điền chủ Việt và luôn cả điền chủ Pháp. Đặc biệt là điền chủ Việt bấy lâu thiếu nợ quá nhiều của nhà Băng hoặc của Chà Chetty, với giấy tờ và những điều kiện đặc biệt. Vay bằng tiền thì phải trả bằng tiền, chớ không được trả bằng lúa. Ngày trước, khi chưa có kinh tế khủng hoảng, muốn thanh toán 1200 đồng bạc để trả tiền lời nợ, chỉ cần bán 1000 giạ lúa. Năm 1933, muốn thanh toán số nợ trên phải bán đến 12.000 giạ lúa, tức là 12 lần nhiều hơn, một số lúa mà không bao giờ chủ điền có dư nổi.
Tiểu điền chủ đã vay nợ của đại điền chủ với điều kiện ngặt nghèo hơn. Họ đành chịu mất đất để trừ nợ. Một số lớn điền chủ đành chịu phát mãi đất. Theo bác sĩ Trần Như Lân cũng là hội đồng quản hạt (quê ở Rạch Giá, nên am hiểu tình thế khá cụ thể) thì vào năm 1933 nợ của điền chủ thiếu nhà Băng và Chà Chetty lên tới 65 triệu đồng nhưng nhà nước chỉ cho vay lại — trong thực tế — có 5 triệu. Số 5 triệu này, nhà nước không đưa ra bạc mặt nhưng cho điền chủ mượn trên nguyên tắc, để trả nợ số mà điền chủ đã thiếu nhà nước khi mua đất công thổ (trong khoảng 1921 đến 1930, chánh phủ bán cho điền chủ 4.987.167 đồng về đất công thổ).
ở Hậu giang, ngay trong khi nền cai trị còn vững mạnh, hai biến cố lớn đã làm lung lay chánh sách khẩn đất của thực dân Pháp : vụ Ninh Thạnh Lợi ở Rạch Giá và vụ Nọc Nạn ở Bạc Liêu vào những năm 1927 và 1928. Báo chí Sài Gòn nói nhiều, các chánh khách quốc gia thuộc đảng Lập Hiến cũng lên án thực dân. Vụ Ninh Thạnh Lợi làm cho 17 người Miên chết vì thực dân tàn sát. Vụ Nọc Nạn khiến cho 4 người Việt Nam chết. Họ là những tiểu điền chủ, họ tự động chống cự với thực dân, tuyệt nhiên không ai xúi dục; lúc bấy giờ ở miền Nam chưa có đảng Cộng Sản.
Khuyết điểm căn bản của nước ta hồi thời Tự Đức là chánh sách bế quan tỏa cảng, vì vậy mà lúa bán không được giá. Người dân chỉ làm ruộng trong mức đủ ăn. Điền chủ thì cho vay lấy địa tô để đóng thuế cho triều đình và dành dụm tiền bạc mà ăn xài, hưởng thụ cá nhân, sắm vàng để lại cho con cháu, lập vường tược để dưỡng già, nếu dư thì đầu tư vào việc mua thêm đất ruộng.
Thực dân Pháp cho áp dụng chánh sách thông thương, phát triển xuất cảng, tìm thị trường mới cho lúa gạo Nam kỳ với những tàu máy chở chuyên nhanh và nhiều. Giá gạo tăng gấp 5 lần so với thời Tự Đức. Đó là lý do chánh yếu khiến cho dân chúng lần hồi sống an phận và có phần vui vẻ với Tân trào, các lãnh tụ cầm đầu nghĩa quân với mục đích phò vua lần hồi chẳng còn ai theo.
Nhưng việc mở mang thương cảng Sài Gòn và phát triển thương mãi, thâu vét tài nguyên và lợi dụng nhân công rẻ của thực dân Pháp đã gây thêm nhiều mâu thuẫn trong nước :
— Phong trào Hội kín thành hình theo kiểu Thiên Địa Hội, đã liên kết được một số nông dân có kỳ thị với văn hóa Tây phương. Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Thất Sơn phát triển thêm. Một lực lượng đáng kể cũng tập họp ngay trong thành phố Sài Gòn gồm những nông dân chưa thích ứng được với hoàn cảnh mới, vì vậy mà xảy ra hai cuộc khởi loạn năm 1913 và 1916 ở Nam kỳ (Sài Gòn, Chợ Lớn và nhiều tỉnh).
— Phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) cùng việc vận động Đông Du đã đánh dấu giai đoạn tranh đấu phối hợp với toàn quốc. Nam kỳ là nơi có nhiều điền chủ và công chức sang giàu. Họ không muốn bị thực dân Pháp kềm hãm bằng một chánh sách bế quan tỏa cảng mới, về mặt tinh thần : Hoàng thân Cường Đễ có lẽ được người ở Nam kỳ ái mộ nhiều, so với miền Trung hay Bắc.
Nhưng người Nhựt đã phản bội, nhân sĩ và điền chủ Nam kỳ thấy rằng vọng ngoại là bất thành. Ngày nào còn thực dân Pháp thì họ không thể nào phát triển kỹ nghệ bổn xứ hoặc nắm việc nội ngoại thương được. Phong trào bị dập tắt nhưng dư âm cứ vang dậy. Thực dân rất lúng túng về sự xuất hiện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : đàn áp thì khó vì đây là một tôn giáo đã được hiện đại hóa, nhưng để cho phát triển thì e có hại vì trong tôn giáo có nội dung dân tộc này, vài cựu chiến sĩ của phong trào Duy Tân lại đóng vai trò quan trọng.
Việc đầu tư của thực dân Pháp khiến phát triển thêm một vài hãng xưởng nhưng quan trọng nhứt là những công ty đồn điền cao su với số nhân công cực khổ, thua sút thân phận người tá điền. Đấy là lực lượng lớn, tập trung, khó kềm hãm.
Việc khai hóa của nước Pháp về hình thức là cho du nhập những tư tưởng tự do, dân chủ và tư tưởng xã hội của Tây phương, đồng thời cũng chấp nhận việc cho phép thanh niên Việt Nam du học sang Pháp nếu ngăn cấm không cho họ sang Nhựt. Đám thanh niên này về nước, tuy một số đã hủ bại, nhưng còn một số khác trở thành tai họa không nhỏ. Họ tranh đấu, dùng những phương tiện mới, thấp nhứt là hình thức ra báo chí.
Ngày xưa, khi ông Cử Trị châm biếm Tân trào, khi ông Đồ Chiểu làm thơ ca ngợi hào khí đất nước thì chỉ một số ít người biết. Nhưng với hai vụ Ninh Thạnh Lợi và Nọc Nạn vào năm 1927 và 1928, lần đầu tiên ở toàn Nam kỳ và các nhà “khảo cứu” Pháp phải giựt mình, nhờ vai trò của báo chí. Hai biến cố trên là việc bộc phát tự động, chứng tỏ người lưu dân ở Rạch Giá, Cà Mau tuy xa xôi, trình độ văn hóa kém nhưng đã trưởng thành, cả người Việt lẫn người Miên.
Lịch sử khẩn hoang ở miền Nam ít ra cũng giúp ta thấy được một thực tế. ý thức dân tộc phát triển mạnh khi sinh hoạt làng xóm thành nền nếp và sinh hoạt vật chất được tạm ổn định. Nếu khi người Pháp chiếm Nam kỳ vào cuối thế kỷ 19, vùng Ba Giồng được nổi danh là nhờ đất xưa, gọi là địa linh, thì kể từ cuộc kinh tế khủng hoảng 1930—1933 người bình dân ở Rạch Giá, Cà Mau cũng bắt đầu theo dõi chuyện Nhựt đánh Mãn Châu, vụ Thượng Hải, Ngô Tùng qua báo chí, qua lời thuật lại của một vài thầy giáo làng từ Sa Đéc, Tam Bình thuyên chuyển xuống.
Họ thấy chế độ Pháp quả là không hợp thời. Họ hiểu rõ khi cho đào kinh xáng, mở mang lộ xe, thực dân có dụng tâm gì. Và biện pháp hữu hiệu nhứt để cho người ở trong vựa lúa miền Nam được hạnh phúc không phải là cắt Nam kỳ ra để lập một tiểu quốc, để rồi không lấy tiền thuế của dân Nam kỳ mà đem tài trợ cho ngân sách Đông Dương, dành tiền thuế của người Nam kỳ cho riêng người Nam kỳ xài, như một chánh sách của đảng Lập Hiến đề xướng cho “Pháp — Việt đề huề”. Các chiến sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh đưa ra biện pháp tích cực, hợp với thực trạng của dân tộc hơn.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:46:11 PM »

Phụ Lục

Người Pháp cố ý ém nhẹm những rắc rối xảy ra trong việc phân phối đất đai. Thuở ấy, người dân thấp cổ bé miệng chỉ có thể kêu nài và nếu đem phân xử thì người dân không rành luật lệ luôn luôn bị thất kiện.
Hội đồng phái viên đi xét đất gồm toàn là viên chức, thân hào của tỉnh, quận, tổng và làng. Lề lối làm việc của Hội đồng này tuy nói là quan sát tại chỗ, ghi vào biên bản rành mạch nhưng họ chỉ ngồi tại công sở làng, với lính mã tà bảo vệ. Làng mạc ở Hậu giang quá rộng, dầu đủ thiện chí các viên chức cũng khó lội bùn sình, phơi nắng dầm mưa hằng đôi ba cây số dưới ruộng để xem đâu là ranh giới từng sở đất. Trên nguyên tắc, nhà nước Pháp tự hào là dành nhiều dễ dãi cho dân, phát triển chế độ tiểu điền chủ hơn là chế độ đài điền chủ nhưng trong thực tế lại khác.
Dư luận của mọi giới kể cả dư luận của những tay thực dân Pháp đã xúc động khi ở Hậu giang xảy ra hai biến cố quan trọng về quyền sở hữu đất ruộng :
— Vụ Ninh Thạnh Lợi, năm 1927 ở Rạch Giá.
— Vụ Nọc Nạn, năm 1928 ở Bạc Liêu.
Lúc bấy giờ từ những tờ báo thân chánh quyền, ủng hộ thực dân đến báo có xu hướng ôn hòa đều lên tiếng vì những lý do sau đây :
— Nạn nhân là những người chí thú làm ăn, tuyệt nhiên không có những người làm chánh trị xúi dục. Họ chỉ muốn bảo vệ phần đất ruộng mà họ đã khai thác từ lâu.
— Những người phạm tội đã tìm đủ mọi cách để kêu nài trong mức cố gắng tối đa của họ.
— Thành phần xã hội của những bị can là điền chủ lớn hoặc nhỏ, chớ không phải là tá điền hoặc bần cố nông.
— Họ không bao giờ nêu khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp hoặc đưa yêu sách giùm cho người khác, nhằm mục đích khuấy động thành một phong trào lan rộng.
— Bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã quá sốt sắng, trừng phạt quá đáng thay vì dùng biện pháp ít tốn xương máu hơn. Luật lệ mà thực dân bấy lâu đưa ra về vấn đề khẩn đất chỉ là những cạm bẫy để cho kẻ lương thiện sụp xuống dễ dàng.
Thực dân đành thú nhận sự thiếu sót về mặt nghiên cứu tâm lý dân Việt, cũng như tâm lý người Miên.
Hai vụ Nọc Nạn và Ninh Thạnh Lợi vi phạm đến những nguyên lý thấp nhứt về lòng nhân đạo : Có thể nói là chẳng một ai dám binh vực thái độ của thực dân, mặc dầu đã tán thành ngấm ngầm chế độ ấy trong một mức nào đó. Nhờ báo chí tường thuật và quảng bá tin tức, dư luận xúc động mạnh, các chiến sĩ quốc gia dùng dịp này mà chỉ trích chánh sách của thực dân; ôn hòa như ông Bùi Quang Chiêu mà cũng phải lên tiếng.
Các tài liệu hoặc sách nghiên cứu của người Pháp sau này không dám bỏ quên hai biến cố nói trên nhưng họ chỉ đề cập vắn tắt trong vài hàng, hoặc cố ý giảm thiểu tầm quan trọng.
Nhiều giai thoại được phổ biến truyền khẩu nên hai vụ án trên lần hồi trở thành chuyện truyền kỳ, người thuật lại có thể vô tình hay cố ý thêm thắt chi tiết hoặc sửa đổi nội dung. Chúng tôi thử ghi lại những nét chánh.

Vụ án Ninh Thạnh Lợi

Tài liệu căn cản mà chúng tôi sử dụng là bản phúc trình của Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse gởi lên Toàn quyền Đông Dương, đề ngày 28/5/1927.
Làng Ninh Thạnh Lợi (quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá) trước kia là vùng đất thấp và phèn, cỏ mọc hoang vu, trên mấy giồng cao ráo thì người Miên đã làm ăn lâu đời. Từ khi đào kinh Quan Lộ — Phụng Hiệp nối Cà Mau đến Ngã Bảy (Cần Thơ), dân tới khai khẩn hai bên bờ ngày càng đông đúc, lập ra quận Phước Long (khi trước làng này thuộc về quận Long Mỹ).
Thời đàng cựu tuy là dùng chánh sách đồng hóa nhưng vua chúa nhà Nguyễn dành cho người Miên ở Nam kỳ nhiều quyền tự trị : đất đai của họ thì họ gìn giữ, thủy lợi (huê lợi cá tôm dưới sông rạch) thuộc về họ hưởng.
Người Pháp lúc mới xâm chiếm đã gặp nhiều sốc Miên khá đông đúc nên vội kết luận là người Việt không có tài “thực dân”, vì những vùng chung quanh xóm Miên hãy còn nguyên vẹn, hoang vu.
Theo luật thông dụng của người Cao Miên từ xưa thì người dân được quyền tự do canh tác nơi nào họ muốn; họ cứ đến cày cấy nơi vùng đất hoang. Nếu có người canh tác từ trước thì phải đợi khi nào đất bỏ hoang trong 3 năm liên tiếp, kẻ khác mới được chiếm hữu.
Luật lệ phiền phức về khẩn đất mà người Pháp ban hành đã làm đảo lộn tình thế. Vài cường hào thừa cơ hội lập bộ mới để chiếm đoạt, lấn đất người Miên nhưng người Việt Nam vẫn thua người Pháp về phương diện này. Năm 1922, một người Pháp là Beauville—Eynaud dùng thủ đoạn hợp pháp nhưng bịp bợm, cho tay em đứng tên xin khẩn đất trong làng Ninh Thạnh Lợi rồi hắn mua lại những biên lai xin khẩn ấy. Kết quả là hắn trở thành người chủ điền lớn, chiếm đến 9/10 diện tích của làng. Nhưng trước lời thánh oán của dân Miên, tên Eynaud phải trả đất lại, dân làng lúc bấy giờ đã kêu nài tận quan Thống đốc Nam kỳ và Hội đồng quản hạt.
Nhưng một người xã trưởng (Huê kiều lai) vẫn giữ nhiều thế lực trong làng. Ông ta vốn là tay sai thân tín của tên Beauville—Eynaud chiếm đất dạo nọ. Ngoài ra, xã trưởng này cũng là người thân tín của cai tổng Tr.
Kế hoạch chiếm 9/10 đất đai của làng Ninh Thạnh Lợi đã thất bại. Nhưng lần sau, tiếp tục kế hoạch này là cai tổng Tr. Viên cai tổng này làm việc chậm rãi và thâm hiểm hơn, cho tay em là xã trưởng làm giấy tờ để trưng khẩn từng sở đất nhỏ, do đó mà một phần đất của ông chủ Chọt bị sứt mẻ.
Ông chủ Chọt bèn kiện viên xã trưởng và thắng kiện. Ông chủ Chọt, người cầm đầu cuộc khởi loạn là điền chủ gốc Tàu lai Miên. Trong làng có tất cả chừng 900 dân đinh, đại đa số là người Miên. Chủ Chọt đứng bộ 300 mẫu đất ruộng, góp địa tô và cho vay ăn lời, mỗi năm thâu ước 15.000 giạ lúa.
Vào đầu tháng 5/1927, chủ Chọ (người Pháp phiên âm là Chok) bắt đầu ra tay.
Hương chức làng lân cận và lính mã tà ở quận lỵ Phước Long cùng chủ điền Pháp đều chú ý đến những cuộc hội họp bất thường, trong đó có chủ Chọt, Mốc (em rể của ông ta) và một người thày bùa tên là Cồ Cui mà nhiều người cho rằng em của chủ Chọt. Họ tụ họp chừng 40 người, làm lễ cúng, phát bùa, khoe rằng hễ đeo vào người là súng bắn không lủng. Bọn tay em mặc quần áo trắng, mấy người lãnh tụ thì mang cờ xí nhiều màu. Họ cử hành liên tiếp nhiều cuộc lễ khác, thay đổi địa điểm trong làng hoặc ở làng giáp ranh, phải chăng với mục đích củng cố tinh thần bọn tay em và thâu nạp thêm người mới ? Mọi việc diễn ra êm thắm, không xúc phạm đến tài sản hay tánh mạng ai cả.
Một biến cố nhỏ lại xảy ra. Khi chủ Chọt và bọn tay em làm lễ trên phần đất đai của đồn điền Mézin (tên thực dân nổi danh về khai thác rừng tràm, gần như độc quyền) thì tên cai điền của Mézin bèn thị oai, cầm súng đưa lên như hăm dọa bắt buộc chủ Chọt phải giải tán (cai điền của Pháp được quyền giữ súng). Bọn chủ Chọt và tay em liền phản ứng ngay, bắt sống bốn người tá điền trên phần đất của Mézin rồi đem về “lãnh thổ” của mình.
Tên cai điền hoảng hốt bèn đánh điện cho chủ tỉnh Rạch Giá mà báo nguy (đây là làng gần quận lỵ). Trong khi đó, chủ Chọt và đồng bọn trở về sào huyệt. Đó là căn nhà lớn của ông ta, hai bên là lẫm lúa và nhà cho bọn làm công ở, ngoài ra còn tích trữ sẵn nào dao mác, nào phãng phát cỏ kéo cổ thẳng trở thành loại gươm bén !
Một cuộc lễ khác diễn ra. Cồ Cui làm phép, cầu khẩn với thần linh. Bấy giờ đạo Cao Đài bắtn đầu phát triển đến Hậu giang, hương chức mấy làng lân cận suy luận qua sắc phục trắng của bọn tay em, cho là hình thức giống như đạo Cao Đài. Có lẽ chủ Chọt và đồng bọn muốn lập một tôn giáo mới, thế thôi.
Bức điện tín của người cai điền đến tay chủ tỉnh Rạch Giá vào lúc chủ tỉnh hội thường lệ với các chủ quận. Chủ quận Phước Long và viên cai tổng được lịnh trở về địa phương để xem xét tình hình và ứng phó gấp.
Bấy giờ, tình hình như căng thẳng hơn. Sau cuộc lễ lớn, chủ Chọt bước qua giai đoạn mới : cho giăng tứ phía một sợi chỉ màu trắng tượng trưng cho ranh giới bất khả xâm phạm, cấm ngặt không cho ai bước qua.
Quan chủ quận Phước Long đi ghe đến công sở làng Ninh Thạnh Lợơi vào chiều ngày 6/5/1927. Ông lên bờ, thấy vài người Miên mặc quần áo trắng đứng lãng vãng gần đó. Ông ra lịnh gọi họ lại để hỏi chuyện. Trong công sở cũng còn một vài người Miên nhưng tất cả đều không thèm trả lời và như theo một hiệu lịnh, họ kéo ra, chạy về phía quan chủ quận.
Quan chủ quận hoảng sợ, chạy trở xuống ghe trong khi bọn tay em của chủ Chọt rượt trên bờ và liệng đất theo ghe để khiêu khích.
Hôm sau, ngày 7, theo lịnh quan chủ quận, 2 người lính kín (mật thám), 4 lính mã tà và viên cai tổng cùng đến nơi để tái lập trật tự. Họ mang theo loại súng bắn đạn chài. Khi gặp tay em của chủ Chọt, lính bắn vài phát. Bọn tay em dùng dao mác và phãng mà rượt theo, chẳng ai bị thương cả. Bọn lính mã tà và lính kín hoảng sợ chạy trở về dinh quận để báo động.
Ngay trong đêm ấy, bọn chủ Chọt liền đến bao vây nhà của cai tổng Tr. ở ngã tư Phó Sinh và nhà của viên xã trưởng Ninh Thạnh Lợi ở Cỏ Thum. Viên cai tổng vắng mặt. Họ rút lui, không phá hại gì trong nhà cả. Nhưng mặc dầu không có xã trưởng ở nhà, bọn người hăng máu nọ ra tay hạ sát cha của ông này.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:49:02 PM »

Viên cai tổng và xã trưởng vì quá khôn ngoan nên không dám ngủ nhà, điều này chứng tỏ rằng chủ Chọt hận về chuyện giựt đất.
Uy thế của chủ Chọt càng lẫy lừng, bọn tay em càng tin rằng với bùa phép thì súng bắn không lủng, như lần bị bắn đạn chài hôm trước cho thấy rõ.
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đích thân vào quận Phước Long để đàn áp. Cùng đi với ông ta có viên thanh tra mật thám và một số lính mã tà. Khi đến Phước Long thì đã 8 giờ tối. Và ông ta lại trở về chợ Rạch Giá vào lúc hừng đông hôm sau. Ông ta thấy không nên ở lại Phước Long vì toán quân gồm lính mã tà và tên cò Tây đã bị loạn quân đánh đại bại. Tên cò Bouchet bị thương khá nặng, 3 người lính mã tà thì chết khi lâm trận. Trận này xảy ra trước khi viên chủ tỉnh đến Phước Long vì ông ta đi bằng tàu đò sung công, còn tên cò Bouchet thì lại dùng chiếc tàu khác, mượn của ty Kiểm lâm.
Số là viên cò Bouchet quá khinh địch, khi tàu chạy ngang vùng cấm địa của bọn chủ Chọt thì dừng lại rồi ra lịnh cho chừng 10 tên mã tà mang súng trên vai đến tìm vài tên phiến loạn mà bắt sống làm con tin, để dằn mặt và điều tra. Dọc đường, lính mã tà gặp bọn tay em của chủ Chọt đang nghinh chiến với dao mác. Bọn lính dỗ dành, mời họ đi theo để gặp mặt viên cò Tây mà kêu nài, trình bày nỗi oan ức.
Bọn tay em của chủ Chọt chịu nhận lời nhưng với điều kiện là họ được đi thong thả phía sau, bọn lính phải đi phía trước. Bọn lính chấp thuận và lại khinh địch, mang súng trên vai, đi trước.
Khi còn chừng 100 mét tới công sở (tức là chừng 120 mét thì tới chiếc tàu mà viên cò Tây đang chờ đợi) thì theo hiệu lịnh bằng tiếng Miên, bọn tay em của chủ Chọt xông tới, đâm bọn lính mã tà từ phía sau lưng, khiến chẳng ai đề phòng kịp.
Hai ba người lính mã tà đủ thời giờ nạp đạn bắn trả lại, làm cho đối phương bị thương và chết 6 người. Một viên mã tà và 2 người lính (có lẽ lính kín) bị loạn quân giết tại trận.
Viên cò Bouchet bấy giờ đang đứng trên bờ, thấy chuyện náo động thì hoảng sợ (mặc dầu bên cạnh ông ta còn 15 người mã tà), nên chạy lên tàu trốn vào “ca—bin” riêng. Nhưng một tay em của chủ Chọt lanh tay, giựt cây súng của tên mã tà tử trận (trong ấy có sẵn đạn), bèn nhắm vào viên cò mà bắn gây thương tích trầm trọng. Phát đạn thứ nhì bắn lên tàu trúng tên cai mã tà, gây thương tích. Lại còn một tên lính bị chém đứt 3 ngón tay.
Thế là tàu chạy nhanh để tẩu thoát, bỏ sót lại một tên lính mã tà. Tên này nhảy xuống kinh xáng, lẩn trốn dưới cỏ để rồi lội nước qua bờ bên kia.
Sau này, giới hữu quyền Pháp chê tên cò Bouchet quá vụng về và quá sợ chết. Bấy giờ, trên bờ chỉ có chừng 30 loạn quân với võ khí thô sơ và 3 cây súng mà họ vừa giựt được. Nếu từ trên tàu mà bắn cho kéo tay thì hàng chục người lính còn lại đủ sức giải tán và gây tổn thất nặng cho đối phương, chớ không rút lui một cách thảm bại.
Viên chủ tỉnh gặp toán quân của tên cò Bouchet trên đường về Phước Long. Lính mã tà của chủ tỉnh và của tên cò cộng lại cỡ 30 người, đủ sức trở lại ăn thua với bọn người làm loạn. Nhưng viên chủ tỉnh không làm chuyện đó được vì ông ta “đi tàu đò từ Long Mỹ đến, và chủ tàu này không chịu chạy đến nơi bất an”. Vả lại, chủ tỉnh còn muốn đưa tên cò Bouchet về Sài Gòn để điều trị gấp.
Quả thật là thắng lợi cho phe chủ Chọt về phương diện tâm lý : chủ quận rút lui, chủ tỉnh cũng rút lui, tên cò bị thương... Vì vậy dân trong vùng hoảng sợ, trong một đêm ai nấy vội vã tản cư trong khi chủ Chọt treo bảng ra lịnh không cho bất cứ tàu bè nào qua lại khu vực của ông ta kiểm soát, đồng thời mấy tiệm buôn Huê kiều phải mua bán như thường lệ, bằng không thì sẽ bị phá cửa.
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đánh điện cầu cứu với tỉnh Cần Thơ. Hôm ấy, khi nhận được điện văn là vào lúc xế trưa, các quan ăn lễ kỷ niệm nữ anh hùng Jeanne díArc. Chủ tỉnh Cần Thơ nghỉ phép, vắng mặt. Phó chủ tỉnh bèn ra lịnh cho trung úy cảnh sát tên là Turcot tức tốc qua Rạch Giá với 30 lính mã tà của tỉnh Cần Thơ.
Họ đi xe hơi tới Long Mỹ. Nơi đây, trung úy Turcot gặp viên Thanh tra Lao động từ Sài Gòn đến. Viên Thanh tra này biết nói rành tiếng Miên. Khi bàn chuyện bạo động ở Ninh Thạnh Lợi, viên Thanh tra này hỏi về cách ứng phó sẽ áp dụng thì Turcot bảo rằng khi đến nơi sẽ bắt bọn làm loạn, nếu bọn này chống lại thì lính mã tà sẽ dùng súng đạn, không cần dè dặt.
Toán lính của trung úy Turcot đến, tấn công ngay vào sào huyệt. Lẽ dĩ nhiên, chẳng một ai chịu ra đầu hàng khi viên trung úy ra lịnh.
Súng nổ, bọn tay em của chủ Chọt chống cự hăng hái, họ dùng khí giới bén và bốn khẩu súng giựt được của lính mã tà hôm trước. Họ bắn tất cả 80 viên đạn, tức là đến viên đạn cuối cùng. Bên chủ Chọt, 14 người chết tại trận, gồm chủ Chọt, tên thày bùa và con gái của chủ Chọt. Cô gái này đứng hàng đầu, xung phong khi nghinh chiến. Ngoài ra còn khoảng 20 người bị thương, bị bắt giam.
Tài liệu không nói rõ bên lính mã tà tổn thất ra sao (theo lời thuật lại sau này của người địa phương thì lính mã tà bị thương khá đông, nhưng nhẹ thôi).
Những người thuộc phe chủ Chọt, luôn cả chủ Chọt được chôn vào địa điểm mà đến nay người địa phương còn gọi là “mã chủ Chọt” ở giữa ruộng (đến vùng Phước Long hỏi ai cũng biết).
Quan Thống đốc Blanchard de la Brosse chứng minh rằng cuộc thảm sát xảy ra là tất yếu, không có cách nào khác hơn (ông ta muốn binh vực bọn thuộc hạ) nhưng nhìn nhận rằng tên cò Bouchet bị thương lần trước và bọn lính mã tà đều quá dở.
Người địa phương thì “khen ngợi” viên xã trưởng, thầy cai tổng và quan chủ quận Phước Long là khôn ngoan và am hiểu tình hình : thà rằng trốn hoặc rút lui còn hơn là xông pha vào vòng giáo mác. Khôn ngoan nhứt là viên chủ tỉnh Rạch Giá đã rút lui về chợ mà ở cho yên thân, để rồi chụp mũ, cho cuộc khởi loạn có tánh cách chống Pháp. Chủ quận và hương chức làng Ninh Thạnh Lợi cũng muốn chụp mũ như vậy để khỏi gánh trách nhiệm về những bất công mà họ đã gây ra.
Quan Thống đốc không đồng ý rằng cuộc khởi loạn nhằm mục đích lật đổ ách thực dân Pháp, vì người Miên ở các vùng phụ cận tuyệt nhiên không hay biết. Chủ Chọt không ngu dại gì mà cử đồ đại sự với lực lượng vỏn vẹn 40 người.
Lập luận thứ nhì, do một số đông báo chí Pháp ngữ đưa ra, lại thiên về “khảo cứu chủng tộc” : người Miên vào mùa nắng thường nổi cơn “say máu ngà” giống như trường hợp người Mã Lai say nắng, nổi cơn khùng (kêu là Amok) trở nên cuồng dại, hung hăng bất cần thực tế, lý trí kiểm soát không được hành động. Chẳng qua là dân ở Ninh Thạnh Lợi chưa được khai hóa, còn manh tánh chất thời cổ sơ của chủng tộc “ấn độ, Mã Lai”. Họ bảo rằng đây là vấn đề bịnh thần kinh, thuộc về y học !
Lập luận thứ ba, của báo chí Việt ngữ ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cho đây là cuộc khủng hoảng của chánh sách điền địa bất công do người Pháp bày ra; viên chức địa phương tham nhũng, giành đất của dân.
Tuy không nói rõ rệt mình theo lập luận nào nhưng quan Thống đốc Nam kỳ lại trình bày với quan Toàn quyền rằng theo ông ta thì “lịch sử của các tỉnh miền Tây Nam kỳ trùng hợp với lịch sử của cách tổ chức về quyền tư hữu ruộng đất, và sự phản ứng của dân bản xứ, của người Miên đối với quy chế về đất đai (mà chánh phủ sắp đặt cho họ)”. Rốt cuộc, quan Thống đốc chứng minh rằng mục tiêu đầu tiên của chủ Chọt chỉ là ăn thua với cường hào địa phương (xã trưởng và cai tổng) vì hai cá nhân này lấn đất của ông ta. Đây không phải là vụ khởi loạn có tính chất chính trị nhưng là một vụ thường phạm.
Tuy nhiên, vẫn theo ý kiến của viên Thống đốc này, chánh phủ nên chú ý hơn đến các sốc Miên hẻo lánh ở miền Tây. Ông ta cũng hứa với quan Toàn quyền là sẽ cứu xét với tinh thần rộng rãi một số nguyện vọng của người Miên, như việc đóng thuế, quy chế miễn đi lính cho sư vãi, đồng thời thử nghiên cứu việc tách ra vài vùng đất ruộng dành đặc biệt cho người Miên làm chủ. Và sẽ cứu xét một cách công bình những vụ khiếu nại về ruộng đất ở làng Ninh Thạnh Lợi.
ít ra, giặc chủ Chọt cũng làm cho thực dân Pháp và cường hào giựt mình trong nhiều năm.

Vụ án Nọc Nạn

Cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, quận Giá Lai, tỉnh Bạc Liêu thời Pháp thuộc. Về nguồn gốc của hai tiếng Nọc Nạn thì chưa ai giải thích thỏa đáng, hoặc là nơi đây đất thấp, dân muốn cất nhà thì phải xốc nạn theo kiểu nhà sàn. Hoặc là tiếng Miên, nói trại lại. Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọn Nạn. Vùng này đất cao ráo và tốt.
Những chiến sĩ quốc gia bấy giờ lên tiếng và theo dõi vì đây là cuộc tranh đấu giữa người tiểu điền chủ chống cường hào, để giữ lại phần tư hữu tài sản mà chính ông bà họ đã tạo ra. Không có gì chứng minh rằng họ hành động vì có người xui giục để khuấy động trong địa phương.
Cuộc tranh đấu xảy ra chỉ vì cường hào địa phương được che chở bằng những luật lệ quanh co và phức tạp của thực dân Pháp.
Nhiều giai thoại truyền khẩu vẫn còn được nhắc nhở, chi tiết lần hồi có thể sai lạc. Chúng tôi căn cứ vào hai nguồn tài liệu căn bản :
— Bài vè Nọc Nạn do tác giả vô danh được truyền tụng, lời lẽ mộc mạc, chi tiết khá cụ thể, lưu hành từ những năm 1930, 1931.
— Loạt bài do ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đăng trên báo La Tribune Indochinoise do Bùi Quang Chiêu làm chủ nhiệm. Bấy giờ, Bùi Quang Chiêu là chiến sĩ quốc gia tiến bộ. Ký giả Lê Trung Nghĩa là người gốc ở Phong Thạnh, chuyển xảy ra tại quê quán nên ông hiểu rõ và đến địa phương nhiều lần, giúp gia đình nạn nhân bằng mọi cách, khác hơn trường hợp một vài ký giả khác chỉ tường thuật đại khái để bán báo.
Báo La Tribune Indochinoise từ ngày 17/8/1928 đến 24/8/1928 đặc biệt dành cho vụ án này với những bài chiếm trọn cả trang nhứt; những số trước đó cũng đã nhắc nhở từng chập.
Bài vè Nọc Nạn chúng tôi không sưu tầm được phần sau, nên ghi phần đầu mà thôi :
Trời Nam thiên hạ thái bình,
Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.
Ngàn năm gió thuận mưa tuôn,
Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.
Nhân dân ai nấy mừng thay,
Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.
Dưới sông, ca—nốt, đò, tàu,
Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương...
... Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,
Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.
Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,
Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.
Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,
Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.
Anh em Mười Chức công khùng,
Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.
Hăm lăm tháng chạp rõ ràng,
Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.
Chợ đông đương nhóm tự nhiên,
Thấy cò lính lại, người liền đến coi.
Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,
Hai cò bảo lính : “Đòi làng đến đây.
Có trát biện lý bằng nay,
Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !
Thị Trân là vợ huyện Lành,
Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.
Biện Toại nhà ở chốn ni ?
Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.
Hai cò bước xuống đò nghiêng,
Bảo làng với lính đi liên một đò.
Phong Thạnh hương quản tên Cho,
Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :
“Xuống đây, ắt bọn nó ra,
Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”
Nước ròng đò xuống đi mau,
Tám giờ đã tới lao xao lên liền.
Cò bảo lính đứng liên liên,
Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.
Trong nhà Mười Chức luận bàn,
Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :
“Dầu con thác xuống âm ti...
Về những bài báo do Lê Trung Nghĩa viết, chúng tôi sử dụng với sự dè dặt. Bấy giờ có những sự thật mà ký giả biết rõ nhưng không thể viết ra được, vì là cuộc vận động công khai trên báo chí để cứu nạn nhân.
Lời khai trước tòa án của những nhân chứng hoặc của người trong cuộc phải được hiểu qua khía cạnh riêng : lắm khi, họ phủ nhận sự thật vì sự thật ấy bất lợi cho họ trước tòa, hoặc họ biết nhưng lại khai rằng không biết, chưa kể đến những người làm chứng bị mua chuộc bằng tiền bạc.
Trước năm 1900, một nông phu đến khai phá rừng ở rạch Nọc Nạn trên diện tích non 73 mẫu tây. Năm 1908, ông này chết để lại cho con là hương chánh Luông. Đất thì rộng, sức người và vốn liếng có hạn, năm 1910, anh em hương chánh Luông bắt đầu làm việc tích cực hơn. Đất khai phá phải trải qua hai ba năm đầu không có huê lợi vì cây cỏ còn nhiều, nào gốc cây, nào đất trủng quá thấp, nạn chuột bọ, heo rừng. Lúc bắt đầu khai phá thì vùng này hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh giành cả. Tỉnh Bạc Liêu hẻo lánh, việc đo đạc ruộng đất để lập bộ rất chậm trễ so với các tỉnh miền trên.
Năm 1910, hương chánh Luông làm đơn xin khẩn chánh thức 20 mẫu và chịu đóng thuế trên diện tích này. Đơn ấy được chấp thuận và được cấp biên lai.
Năm 1912, họ làm ruộng thêm trên khoảnh đất ấy, canh tác trọn và xin rước kinh lý (trường tiền) đến đo đạc theo luật định, để xin bằng khoán chính thức. Viên trường tiền tên là Arboratie đến đo đạc, làm phúc trình và chủ tỉnh Bạc Liêu trao cho ông hương chánh Luông bản đồ phần đất nói trên.
Năm 1916, một người tên là Tăng Văn Đ. đứng ra tranh cản, viện lý do phần đất mà hương chánh Luông và gia đình đang canh tác là công lao của y một phần nào. Tăng Văn Đ. được chủ tỉnh đòi đến xử và thất kiện. Tuy nhiên, viên chủ tỉnh lại cho Tăng Văn Đ. một sở đất nhỏ, cắt ra từ phần đất của ông chánh Luông.
Phần đất của ông chánh Luông gồm 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi tức là chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi. Để giải quyết vụ này, viên chủ tỉnh nói trên cấp cho hương chánh Luông một tờ bằng khoán tạm, số 303 đề ngày 7/8/1916.
Ông hương chánh Luông mất. Biện Toại là con trai lớn của gia đình và các em đành nhường nhịn và chấp nhận, mặc dầu đất của tổ phụ để lại mất hết 4 mẫu rưỡi. Nên nhớ rằng bằng khoán cấp cho Biện Toại là bằng khoán tạm.
Tưởng rằng công việc canh tác được yên ổn, dè đâu năm 1917 xảy ra một biến cố khác : sự can thiệp của một người Huê kiều giàu khét tiếng trong tỉnh : ông bang Tắc, tên thật là Mã Ngân. Ông bang này muốn khẩn đất bằng con đường quanh co nhưn hữu hiệu, ông ta rành luật lệ và biết rõ những sơ hở.
Số là giáp ranh với phần đất của gia đình hương chánh Luông do Biện Toại là con trai đứng thay mặt, có phần khác do Phan Văn Được làm chủ. Sau khi chết, đất của Phan Văn Được để lại cho vợ hưởng, người vợ này tên Nguyễn Thị Dương. Ông bang Tắc (Mã Ngân) chú ý nhiều vào phần đất của Nguyễn Thị Dương, đến gặp bà này mà trả giá và tìm đến hương chức làng Phong Thạnh để xem xét lại kỹ.
Hương chức làng Phong Thạnh tiết lộ rằng phần đất của anh em Biện Toại, giáp ranh với phần đất của Nguyễn Thị Dương đã khai thác xong nhưng chưa có bằng khoán chính thức.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:51:14 PM »

Là người rành luật lệ, ông bang làm giấy tờ mua đất, cho thêm bà Dương chút ít tiền để trong tờ bán đất ghi rằng “bán phần đất với ranh giới bao trùm luôn khoảnh đất mà anh em Biện Toại đang khai thác”.
Lập tức, ông bang Tắc tìm cách hăm he, cho anh em Biện Toại biết rằng đất mà họ đang canh tác là của ông ta, vì ông ta đã mua lại của bà Nguyễn Thị Dương rồi. Lẽ dĩ nhiên, anh em Biện Toại phản ứng ngay, tìm cách kêu nài lên quan trên rằng bà Nguyễn Thị Dương đã bán phần đất mà họ đã có bằng khoán tạm cho bang Tắc, và bang Tắc đã lấn đất.
Đơn đã gởi bốn lần đến chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam kỳ, luôn cả quan Toàn quyền Đông Dương để kêu nài. Nhưng việc khác lại xảy ra.
Năm 1919, bang Tắc lại xúi dục tá điền của ông ta xông qua phần đất của anh em Biện Toại, đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn mặt. Nhưng anh em Biện Toại vẫn không nao núng, tin nơi công lý. Bấy giờ, chủ quận ở Giá Rai là ông phủ H. Theo lời tự thuật của quan phủ này thì khi đến trấn nhậm tại Giá Rai, hay tin có cuộc tranh chấp giữa ông bang Tắc và anh em Biện Toại, ông ta đã đòi ông bang Tắc tới để phân xử, đề nghị với ông Bang là nên nhân nhượng chia đất ra hai phần đồng đều, ông bang phân nửa, anh em Biện Toại phân nửa (như vậy là trong thực tế, ông bang đã lấn thêm một phần đất đôi chục mẫu). Quan phủ H. cũng phân trần rằng chính ông đã nhờ hương cả trong làng để đưa đề nghị ấy với anh em Biện Toại, nhưng anh em ông này không chấp nhận sự chia hai đồng đều ấy.
Trong vụ án Nọn Nạn, dư luận đã đổ lỗi cho quan phủ H. Phải chăng quan phủ này nhận số tiền của ông bang nên đưa đề nghị này ? Nếu là người vô tư, tại sao ông không mời anh em Biện Toại đến dinh quận để phân giải mà chỉ mời có một mình ông bang ? Quan phủ thanh minh với dư luận như vậy thì ta tạm tin như vậy.
Cũng năm ấy (1919), quan phủ H. được làm chủ Tịch Hội đồng phái viên để xác nhận sở hữu chủ của từng sở đất ở làng Phong Thạnh với diện tích chính xác, ranh giới, để chánh thức cấp bằng khoán.
Mặc dầu anh em Biện Toại khiếu nại nhưng với thế lực của ông bang, với sự hậu thuẫn của một số người, phần đất của anh em Biện toại lại bị chính thức xem như là đất của ông bang Tắc. Về sau, ra trước tòa đại hình, Biện Toại vẫn cả quyết đây là vụ ăn hối lộ, luôn cả viên họa đồ là Roussotte cũng ăn vì thoạt tiên, khi đo đạc tên Pháp này cho rằng đất ấy là của Biện Toại, nhưng khi đã nhận tiền của bang Tắc, hắn nói ngược lại đó là của bang Tắc.
Mặc dầu vậy, anh em Biện Toại vẫn cương quyết chống đối. Đất đã mất rồi, họ ở đó mà chờ... đèn công lý của thực dân Pháp !
Bang Tắc cứ tiếp tục lo hợp thức hóa phần đất chiếm cứ mà Hội đồng phái viên (có ông phủ H. làm chủ tịch) xác nhận là của chính bà Nguyễn Thị Dương ưu tiên khai khẩn rồi bán lại cho ông ta. Ngày 13/4/1926, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định bán thuận mãi sở đất 50 mẫu với giá 5000 đồng cho Mã Ngân (tên thật của bang Tắc).
Bang Tắc cứ hăm dọa, buộc anh em Biện Toại đong lúa ruộng vì với nghị định trên và với tờ bằng khoán chính thức, anh em Biện Toại đã trở thành tá điền trên phần đất của họ.
Anh em Biện Toại chống đối ra mặt. Bang Tắc không dám làm to chuyện vì ông ta đã từng dính líu vào vài chuyện rắc rối về pháp lý, nếu sanh sự thêm thì nhà nước thực dân lúc bấy giờ có thể dùng luật lệ mà trục xuất ông ta về Tàu, cộng với mấy tọi trạng trước. Ông ta nghĩ ra một biện pháp rất có lợi và rất ôn hòa để thắng đối phương. Ông ta bán sở đất trên cho một bà rất có uy thế : bà Hà Thị Tr., mẹ vợ của người anh ông phủ H. (vì vậy mà sau này, dư luận cho rằng vụ giựt đất là do phủ H. tiếp tay với bang Tắc một cách đắc lực). bà này mua xong, bèn đòi thâu địa tô trên phần đất mà anh em Biện Toàn đang canh tác.
Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được. Anh em Biện Toại nghe tin ấy, bắt đầu lo sợ.
Ngày 13/2/1928, lính mã tà tới gặp anh em Biện Toại để thi hành lịnh thâu lúa, anh em Biện Toại kháng cự.
Ngày 14, tức là ngày hôm sau, lính mã tà lại vô lần thứ nhì. Anh em Biện Toại cũng chống cự, lính mã tà lại rút lui.
Ngay trong đêm ấy, anh em Biện Toại đoán chắng rằng ngày mai, lính mã tà sẽ đến với lực lượng đông đảo và thái độ cứng rắn hơn vì là lần thứ ba, sau hai lần cảnh cáo.
Anh em trong gia đình tụ họp lại, làm lễ lạy ông bà. Mẹ là bà hương chánh Luông cũng được mời ngồi để các con lạy, gọi là báo hiếu lần chót. Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề ăn thua, không sợ chết. Để thi hành kế hoạch, anh em bày ra chuyện bắt thăm để nhờ vong linh ông bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Lần thứ nhứt, đứa em gái tên Trọng lại rút nhằm thăm. Anh em không muốn thấy đứa em gái lại đảm nhận sự hy sinh quá lớn lao nên đồng ý là cho bắt thăm lần thứ nhì.
Và lần thứ nhì này, cũng cô Trọng được lá thăm ấy. Cô Trọng bình tĩnh đứng dậy, bảo các anh :
— Ông bà đã dạy, em xin liều chết !
Nên nhớ một chi tiết : Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá cứng rắn của anh em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam 24 giờ bà hương chánh Luông để hăm dọa. Biện Toại vì thương mẹ nên hứa sự không chống cự. Nhờ đó, bà hương chánh được về nhà để các con lạy lần chót.
Lúc đến công sở, thái độ của Biện Toại rất buồn rầu.
Lại còn một chi tiết khác : thày hương thân trong làng đã mướn người gặt lúa của anh em Biện Toại, vì lịnh tịch thâu đưa tới nhằm lúc lúa chín. Mười Chức, em Biện Toại đã xin phép vị hương thân để được tự mình gặt lúa nhưng vị hương thân từ chối, hồ nghi rằng nhân cơ hội ấy Mười Chức có thể giấu bớt lúa. Khi ra tòa, viên Chưởng lý thắc mắc : tại sao số lúa mà hương chức làng mướn gặt chỉ có 2.080 giạ thay vì 3.500 giạ như phỏng định ? Phải chăng hương chức làng đã lén ăn cắp bớt số lúa này để xài riêng ? Và nếu lúa gặt được nhiều, sau khi đong lúa ruộng theo án lịnh tòa mà còn dư lại đủ ăn trong mấy tháng đầu năm thì anh em Biện Toại chưa ắt tuyệt vọng đến mức, để rồi thảm trạng lại xảy ra !
Biện Toại sống với mẹ và các em trong đại gia đình, số lúa thu hoạch chia ra vẫn là ít. ở xứ Bạc Liêu, mỗi năm gia đình nào cũng phải dư nhiều lúa để bán mà sắm quần áo, thuốc men, chớ không như ở Tiền giang chỉ cần đủ lúa ăn, còn bao nhiêu món khác trong gia đình đều mua sắm nhờ hoa màu phụ như vườn dừa, chuối, hoặc chăn nuôi.
Thảm trạng xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Tìm lại sự thật, nhứt là các chi tiết thì hơi khó khăn. Lính mã tà thì cương quyết đổ tội cho đám anh em Biện Toại (trong giấy thuế thân, ghi sai là Tại). Những nạn nhân trong cuộc thì muốn chứng minh rằng họ chỉ tự vệ. Một số người trong cuộc đã chết, nếu còn sống thì họ sẽ đưa ra nhiều bằng chứng khác.
Đại khái, những nét lớn như sau :
Khoảng 7 giờ sáng, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng mà thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh em Biện Toại. Hai viên cò này tưởng là chuyện thông thường, họ không được cho biết là sẽ gặp khó khăn. Tên cò Tournier vừa mua được cây súng săn nên đem theo, dọc đường anh ta còn lạc quan, bắn thử một phát chết một con cò. Cùng đi với họ đến đống lúa có hương thân, hương hào và hương quản làng sở tại;
Anh em của Biện Toại cất nhà rải rác hơi xa nhau, sát bờ rạch. Đống lúa thì ở ngoài ruộng, cách nhà họ chừng 500 thước.
Dọc đường, khi đi ngang qua nhà Biện Toại, hương hào kêu réo để mời chứng kiến việc đong lúa nhưng không ai trả lời. Nhà cứ đóng cửa. Lập tức, hương hào bèn đến nhà Biện Toại và đến nhà bà mẹ là bà hương chánh. Chẳng ai chịu đến cả.
Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một người trong gia đình, thí dụ như một người em của Biện Toại đến chứng kiến việc đong lúa.
Mười lăm phút sau, một cô gái đi ra, hướng về đống lúa : cô Nguyễn Thị Trọng, em của Biện Toại. Theo sau là đứa cháu gái của Trọng, đứa bé này tên là Tư, 14 tuổi.
Thoạt tiên, tên cò Tournier đuổi cô Trọng, bảo rằng con gái còn nhỏ làm sao hiểu đầu đuôi cuộc tranh chấp đất ruộng này được ! Viên cò nói là đến đây để trợ giúp hương chức làng đong số lúa theo lịnh tòa.
Cô Trọng phản đối bằng lời lẽ khẳng khái, trong đó có câu “Chết sống ở đây”. Viên đội mã tà thông dịch lại. Tên cò Tounier ra lịnh đuổi lần thứ nhứt. Cô Trọng cứ đứng đó, yêu cầu khi đong lúa xong thì hương chức phải giao cho cô một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu giạ.
Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận. Rồi thì Tournier tát tai cô Trọng.
Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ, loại dao có miếng sặt chận ở trước cán. Cò Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu. Cò Bouzou bèn tiếp tay, giựt cây dao của cô bà Bouzou lại vụng về khiến lưỡi dao đâm tay ông ta một vết xoàng không đáng kể. Rồi thì lính mã tà trói cô Trọng để đó.
Đứa cháu nãy giờ đứng ở ngoài xa, khi thấy cô Trọng ngã gục và bị trói, bèn chạy về nhà, báo động.
Từ trong xóm nhà, anh em Biện Toại chạy ra, mang theo nào là dao mác, gậy gộc. Họ chia ra hai tốp. Tốp thứ nhứt do Mười Chức, em ruột Biện Toại cầm đầu; tốp thứ nhì do thị Nghĩa, vợ Mười Chức cầm đầu.
Tên cò Tournier ra lịnh cho bọn lính chuẩn bị ứng phó. Tournier bảo một tên lính ra lịnh cho Mười Chức đừng dùng vũ khí.
Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát. Nhưng Mười Chức cứ tiến tới và tên cò lại nhắm ngay Mười Chức mà bắn.
Tuy bị thương rất nặng, Mười Chức vẫn cầm mắc gượng nhào tới, đâm trúng bụng tên Tournier, rồi cả hai đều ngã xuống.
Anh em của Mười Chức tấn công bọn lính mã tà và tên cò Bouzou. Cò Bouzou rút súng lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Cò Tournier tuy bị thương nặng nhưng cũng bò lết lại gần cò Bouzou. Vì bắn không còn một viên đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp. Một số người bị thương, bị chết. Miều là em rể của Biện Toại giựt được khẩu súng mút—cơ—tông của Bouzou. Với khẩu súng ấy, Miều chạy ra xa bắn về phía bọn lính mã tà nhưng không gây thương tích cho ai. Lính mã tà cũng rút lui một lượt.
Nhân viên công lực đến điều tra, được biết trong số người “làm loạn” có 5 người đàn ông, 2 người đàn bà và 3 người đàn bà khác không biết tên.
Ngay buổi sáng hôm ấy, Mười Chức và vợ (tên Nghĩa) đều chết, luôn cả người anh tên Nhẫn cũng chết.
Nhịn (trong giấy thuế ghi sai là Nhịnh, anh của Mười Chức), Liễu (em gái của Mười Chức) đều bị thương nặng, được đưa tới nhà thương. Liễu còn sống. Ba ngày sau, Nhịn chết. Tóm lại, về phía gia đình Biện Toại thì có 4 người chết (ba đứa em ruột và một người em dâu là vợ Mười Chức). Nên chú ý là vợ Mười Chức đang mang thai. Bài vè Nọn Nạn ở đoạn chót kể lại với giọng trầm hùng là “Năm người đổi một thằng Tây” tức là kể luôn đứa hài nhi còn trong bụng mẹ.
Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier chết ngày 17, khi nằm ở nhà thương Bạc Liêu.
Bọn hương chức hội tề đã nhanh chân bôn tẩu từ khi thấy tình hình quá căng thẳng.
Cô Trọng bị bắt. Biện Toại với con trai là Tía thì ra chợ Bạc Liêu với khẩu súng mà Miều đã giựt được. Ông Biện nộp súng và thưa với nhà nước về chuyện các em bị cò Tây giết. Ông Biện và đứa con bị bắt luôn. Miều thì hôm sau bị bắt. Còn một người duy nhất trốn thoát là Dậu.
Hoàn cảnh của bà hương chánh Luông thật đáng thương hại : các con của bà đều bị chết, không chết thì bị bắt. Bà ở nhà một mình.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 06:51:32 PM »

Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đua nhau khai thác vụ Nọc Nạn. Ký giả xuống tận nơi điều tra. Dư luận từ mọi giới, luôn cả giới thực dân đều thuận lợi cho gia đình Biện Toại. Họ bị áp bức quá lộ liễu, họ là tiểu điền chủ siêng năng nhưng bọn cường nào cấu kết với quan lại tham nhũng đã đưa họ vào đường cùng. Hơn nữa, bấy giờ phong trào quốc gia đang sôi nổi, xu hướng chống thực dân lan tràn, đám táng cụ Phan Chu Trinh vừa xảy ra vào hai năm trước (1926). Đảng Lập Hiến ra đời, thủ lãnh là ông Bùi Quang Chiêu còn đang hăng hái. Tuy là theo chủ trương Pháp, Việt đề huề, ông cũng cố gắng làm một chuyện xây dựng mặc dầu ông phủ H. nối giao cho bang Tắc, là người của đảng ông. Ngoài ra, còn sự giúp đỡ tận tình của ký giả Lê Trung Nghĩa là cây bút phóng sự của tờ La Tribune Indochinoise do chính Bùi Quang Chiêu chủ trương.
Trong giới trí thức Pháp, nhiều người tiến bộ đã bực mình vì biến cố Nọc Nạn. Ký giả Lê Trung Nghĩa nhờ hai luật sư rất tận tâm là Tricon và Zévaco biện hộ cho gia đình nạn nhân, cãi không ăn tiền. Người có chút lý trí phải nhận rằng anh em Biện Toại chẳng mảy may gì thù oán cá nhân tên cò Tournier cả.
Tòa Đại hình Cần Thơ xửa vụ án này vào ngày 17/8/1928. Ông Rozario ngồi chánh án, công tố viên là Moreau. Ông Moreau này khá tốt và công bình. Ngoài ra còn một ông hội thẩm là ông Sự, rất tốt.
Người Pháp đứng trước tình thế gay go. Mặc nhiên, họ đem ra xử những hậu quả của luật lệ bất công do chính họ ban hành, tức là họ xử cái chế độ của họ. Tha bổng tất cả nạn nhân thì không được, nhưng lên án thì lên án làm sao ? Chuyện này cả nước đều hay biết.
Trừ báo La Dépêche lIndochine ra thì tất cả báo chí Sài Gòn đều có mặt, theo dõi phiên tòa : báo LíEcho Annamite, Đông Pháp thời báo, LíImpartial, LíOpinion, Le Courrier Saigonnais, Le Phare, La Tribune Indochinoise.
Tòa tuyên án như sau : Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út của Toại) và Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù (nhưng đã bị giam sáu tháng rồi). Miều, chồng của Liễu (em rể của Biện Toại) : 2 năm tù vì có tiền án ăn trộm.
Đây là bản án rất nhẹ, so với những bản án khác thời thực dân. Qua lời khai của can phạm và những người làm chứng, chúng ta biết thêm những chi tiết quan trọng sau đây :
— Từ năm 1910, Biện Toại đã vào đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau xảy ra tranh chấp. Bấy giờ, chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên lai ấy bị ăn cướp đánh lấy mất, Toại làm đơn xin bổn nhì. Điều rất lạ là bộ sổ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy lại bị mất. Ai làm mất ? Phải chăng là sự cố ý đánh cắp, thủ tiêu hồ sơ trong văn khố cũ, để cường hào tha hồ tung hoành ! Viên chức ở tòa bố Bạc Liêu lúc vụ án xảy ra là ông phủ Tâm. Nưhng ông này xác nhận rằng tài liệu cũ bị đánh cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhận chức.
— Ông hội thẩm Sự đã nhấn mạnh cho tòa nhớ rằng tiếng Việt khó dịch, thí dụ như mấy tiếng “Chết sống ở đây” mà cô Trọng trả lời với tên cò Tournier. Nếu viên đội thông dịch sai thì viên cò có thể nổi giận. “Chết sống ở đây” có hai nghĩa. Một là “Dầu chết hay sống, tôi vẫn đứng tại đây, đuổi tôi, tôi không đi đâu hết”. Hai là “Mạng đổi mạng tại đây”.
— Hương thân Hồ Văn Hi xác nhận rằng tên cò Tournier bắn trước, sau đó Mười Chức mới đâm tên cò. Chi tiết này xác nhận lời đồng bào địa phương đồn đãi cho rằng Mười Chức là người đầy đủ tiết tháo và chí khí anh hùng : Bị đạn rồi, nhưng còn đủ thần lực và bình tĩnh để ngã về phía trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm rất trúng, rồi mới chịu chết vì bị thương quá nặng !
— Công tố viên Moreau lưu ý với tòa : Có thể là viên thơ ký lãnh trách nhiệm ghi nhận đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã trao cho Biện Toại một biên lai nhưng không có đánh số, với dụng ý dành phần đất ấy cho người khác.
— Lâm Văn Kiết từng có chân trong Hội đồng phái viên đã xác nhận với Hội đồng : Phần đất tranh chấp là của Biện Toại khai khẩn trước tiên. Công tố viên bèn nói tiếp : Lâm Văn Kiết chỉ là hương chức làng, làm sao dám cãi lại ông phủ (ám chỉ ông phủ H., người theo phe của bang Tắc).
— Tri phủ Ngô Văn H. khai rằng mặc dầu thấy có tranh chấp về đất đai, nhưng hồi năm ấy với danh nghĩa là chủ tịch Hội đồng phái viên, ông ta đành buông trôi vì đo lại ranh rấp đất đai là vấn đề phiền phức. Viên họa đồ đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt 3 năm rồi. Công tố viên bèn quở trách cho rằng vì công lý không thể viện lý do là mất thời giờ, nếu thấy bất công là phải đo đạc, xem xét ranh đất trở lại. Công tố viên nói thẳng : lề lối của phủ H. trong lúc làm chủ tịch Hội đồng phái viên thật là bừa bãi, vì phủ H. bừa bãi nên xảy ra vụ án bi thảm này.
Bị luật sư chất vấn, phủ H. đành thú nhận rằng chính anh của ông ta chớ không phải ông ta là người đang hùn vốn với bang Tắc để khai thác hai chiếc tàu đò đang chạy trên đường Bạc Liêu, Cà Mau mang tên là tàu Hồ Nam và Hồ Bắc.
— Khi bang Tắc (Mã Ngân) ra làm chứng, ông ta bảo rằng khong hối hận gì cả. Viên hội thẩm hỏi Mã Ngân : “Dân chúng cho rằng đáng lý ra ông phải chết thay cho viên cò Tournier”. Mã Ngân nín, không trả lời.
— Qua lời khai của bà Hồ Thị Tr., công chúng thấy có sự sắp sặt của bang Tắc để bán lại cho bà ta phần đất tranh chấp, vì ba ta đủ sức ăn thua công khai hơn. Mã Ngân muốn phủi tay.
Trước khi buộc tội, Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa nên thận trọng trước khi phán quyết. Công tố viên nhắc lại rằng vụ này xảy ra sau vụ án Ninh Thạnh Lợi hồi năm ngoái. Vụ này chứng tỏ dân chúng đang sống trong tình trạng căng thẳng và vấn đề đất đai là chuyện nghiêm trọng. Người ta có thể xúc phạm bất cứ chuyện gì, nhưng nên tránh xúc phạm tới điền thổ. Mã Ngân chỉ là người mua đất để cho tá điền mướn lại, trong khi Biện Toại là người đích thân canh tác. Công tố viên trách cứ bà Hồ Thị Tr. là giàu có (tài sản ước từ 2 đến 300.000 đồng lúc bấy giờ) mà quá nhẫn tâm đòi tịch thu tất cả lúa gặt hái được của Biện Toại lại còn đòi thêm một số tiền khác. Công tố viên bảo rằng hoàn cảnh của Biện Toại thật là khốn nạn : Những người không tình cảm đến giựt đất, rồi bọn quyền thế lại tiếp tay với bọn người sang đoạt. Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa :
— Tha bổng Biện Toại và con là Tia.
— Cho cô Trọng được hưởng trường hợp giảm khinh (ra trước Tòa cô Trọng cứ chối là không có cầm dao, mặc dầu đủ bằng cớ).
— Cho Miều (em rể của Biện Toại) được hưởng trường hợp giảm khinh, mặc dầu Miều đã ba lần bị can án ăn trộm.
— Tha bổng cô Liễu (em Biện Toại, vợ của Miều) vì thiếu bằng cớ.
Luật sư Tricon đứng lên biện hộ, đại ý nhận định đây chỉ là vấn đề điền địa. Ông cho rằng chánh sách trưng khẩn ruộng đất hồi thời nhà Nguyễn thật là công bằng và thích hợp với thực tế, trong khi những luật lệ về trưng khẩn đất đai do người Pháp đặt ra chưa được hoàn hảo có thể gây nhiều rắc rối lúc áp dụng vào thực tế. Thời gian quá kéo dài, từ khi đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp vĩnh viễn; vì vậy mà xảy ra cưỡng đoạt, gian giảo. Những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi tại chỗ, không chịu bước chân xuốn bùn mà tới sở đất để xem xét. Họ quyết định theo ý kiến cho những người lương thiện hoặc kém lương thiện báo cáo lại.
Luật sư Tricon kết luận đại để :
— Biện Toại đã tranh đấu với rừng rậm để khai phá và tranh đấu với tử thần. Sau một ngày làm lụng khổ nhọc, anh em trở về chòi, sau khi ăn cơm, họ cho rằng chết có lẽ sướng thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc nhằn. Sau khi tranh đấu với tử thần (có lẽ luật sư muốn nói tới bịnh rét rừng), anh em trong gia đình lại còn phải tranh đấu với những người khác, tức là bọn người chỉ biết có đồng tiền, làm giàu bằng thủ đoạn sang đoạt. Sau khi tranh đấu với bọn người nói trên, họ còn phải tranh đấu với thủ tục pháp lý. Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp.
Luật sư Zévaco đứng lên biện hộ, ca ngợi lời buộc tội của Công tố viên, vì Công tố viên đã lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo. Luật sư phân chia ra hai vụ án, vụ tranh chấp điền thổ và vụ án giết người.
Luật sư cho rằng chánh sách của nhà nước thì tốt, nhưng nhiều người thừa hành xấu đã làm cho chánh sách trở nên xấu đối với dân chúng. Việc cai trị trở thành xấu nếu các quan phủ (chủ quận) là người ác độc. Sau khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói thẳng với Mã Ngân : “Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước được yên”. Luật sư nhắc lại ý kiến của Công tố viên là muốn cho bộ máy cai trị có lề lối đứng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương. Luật sư nói thêm rằng : Đuổi những tên bất lương ở cấp dưới cũng chưa đủ, phải đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nhà nước đã tin cậy. Nên sa thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo. Chúng ta đã thấy rõ hành động của cặp bài trùng : Mã Ngân cấu kết với một ông phủ chủ quận. Tên chánh phạm của tấn kịch đẫm máu này chính là phủ H.
Trạng sư Zévaco cũng xin tòa tha thứ cho các bị can và lên tiếng : Xin qů ngài đừng đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì phẫn nộ. Bởi vì những người nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị trừng phạt khá đầy đủ rồi, khi họ trở về tới nhà. Thừa phát lại sẽ tới để tịch thâu số lúa của họ, và lần này, quý tòa có thể tin rằng không bao giờ xảy ra vụ nổi loạn nữa đâu. Thưa qů tòa, lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ trên đó.
Một số người Pháp ở Cần Thơ và ở vài tỉnh lân cận đã đến xem phiên tòa gay cấn này, họ tỏ ra hài lòng với bản án. Vài người ở Phong Thạnh xin gặp những người bị tội và xin phép cho tội nhân ăn bữa cơm với thức ăn đem sẵn.
Một tiệc bày ra tại Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả của các báo Pháp và Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân sĩ như các ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá Rài, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu đây là thói trung hậu và hào hoa cố hữu của dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên cám ơn hai luật sư và bà hương chánh Luông cũng đến cám ơn họ.

HẾT.
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM