Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2024, 07:57:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phan Đình Phùng - Cuộc đời và sự nghiệp  (Đọc 111075 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #100 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 08:34:32 pm »


PHAN TRỌNG BÁU
QUÂN THỨ TRONG KHỞI NGHĨA PHAN ĐÌNH PHÙNG - CAO THẮNG


Quân thứ (chỗ đóng quân) trong khởi nghĩa Phan Đình Phùng là một vấn đề thú vị vì các phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX chưa có nơi nào tổ chức quân thứ. Vậy quá trình hình thành và phát triển của quân thứ như thế nào? Vai trò của nó trong khởi nghĩa và những bài học có thể rút ra trong tổ chức quân thứ ra sao? Là những vấn đề sẽ được trình bày trong bài viết này.


I - Từ 40 địa bàn khởi nghĩa đến 15 căn cứ, hay là sự hình thành quân thứ:

Sau cuộc phản công ở kinh thành Huế thất bại ngày 5-7-1885, Hàm Nghi xuất bôn hạ Chiếu Cần vương thì một phong trào chống Pháp bột phát khắp toàn quốc, đặc biệt là ở Nghệ Tĩnh. Theo thống kê của chúng tôi, hai tỉnh này đã có 35 cuộc khởi nghĩa, nếu tính cả Thanh Hoá và Quảng Bình thì có đến 40 cuộc. Các thủ lĩnh khởi nghĩa đều chiếm lấy một địa bàn nhất định rồi kéo đi đánh quân Pháp - lúc bấy giờ đã đặt chân lên Trung Kỳ. Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa ở giai đoạn này đều mang tính chất tự phát và rất phân tán nên không đủ mạnh để đương đầu với kẻ thù. Riêng Hà Tĩnh tuy bị giặc Pháp đàn áp, nhưng phong trào vẫn được duy trì. Tại Hương Sơn, đội quân của Cao Thắng chẳng những không bị tiêu diệt mà ngày càng lớn mạnh.

Lúc đầu, Cao Thắng định xây dựng căn cứ ở Cồn Chùa, phía Tây Bắc huyện Hương Sơn nhưng thấy đó chỉ là chỗ thủ hiểm khó phát triển, ông lại dời về Thượng - Hạ Bồng, huyện Đức Thọ.

Sau khi ổn định tổ chức, củng cố lực lượng, Cao Thắng đã mời Phan Đình Phùng ở Bắc về trực tiếp chỉ đạo phong trào. Với cương vị Thống đốc Quân vụ Đại thần (do Hàm Nghi phong từ trước), Phan Đình Phùng thấy cần thống nhất lực lượng chống Pháp trong 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình thêm một bước nữa, sao cho tất cả đều quy về một mối thì mới đủ sức mạnh để chống lại kẻ thù. Ông đã căn cứ vào địa bàn đóng quân của các thủ lĩnh hiện đang hoạt động mà chia làm 15 quân thứ:

Nghệ An có hai quân thứ: Diễn thứ (Diễn Châu) do Lê Trọng Vinh chỉ huy; Anh thứ (Anh Sơn) do Nguyễn Mậu đứng đầu.

Hà Tĩnh có 10 quân thứ: Khê thứ (Hương Khê) do Nguyễn Thoại chỉ huy; Hương thứ (Hương Sơn) do Nguyễn Huy Giao chỉ huy; Diệm thứ (làng Tình Diệm, Hương Sơn) do Ngô Quảng đứng đầu; Lại thứ (tổng Lai Thạch) do Phan Đình Nghinh chỉ huy; Lễ thứ (làng Trung Lễ) do Nguyễn Cấp và Lê Trực lãnh đạo; Can thứ (Can Lộc) do Nguyễn Chanh và Nguyễn Trạch chỉ huy; Lai thứ (tổng Lai Thạch, huyện Can Lộc) do Phan Đình Nghinh (cháu Phan Đình Phùng) đứng đầu; Cẩm thứ (huyện Cẩm Xuyên) do Hoàng Bá Xuyên và Dương Huy Dừ phụ trách; Kỳ thứ (Kỳ Anh) do Võ Phát và Nguyễn Tiến Đắc chỉ huy; Thạch thứ (Thạch Hà) được giao cho Nguyễn Huy Thuận và Trần Danh Lập. (ở đây có nhầm lẫn không biết do đâu: có Lại thứ? mà không có Nghi thứ (do Ngô Quảng chỉ huy)-Cxd)

Các tỉnh khác như Thanh Hoá chỉ có quân thứ duy nhất là Thanh thứ do Cầm Bá Thước chỉ huy; Quảng Bình có Bình thứ do Nguyễn Thụ và Lệ thứ (huyện Lệ Thủy) do Nguyễn Bí đứng đầu. Riêng Thượng Hạ Bồng là căn cứ trung tâm đầu não do Phan Đình Phùng và Cao Thắng trực tiếp chỉ huy, không đặt vào một quân thứ nào.

Như vậy, qua một giai đoạn chiến đấu từ hơn 40 điểm đóng quân buổi đầu, lúc này đã hình thành 15 quân thứ khá ổn định. Quân thứ được chia theo các nguyên tắc sau:

- Phải là địa bàn của một thủ lĩnh đã tồn tại qua thời gian “thử lửa” với quân địch. Ví dụ Lê Trọng Vinh ở Diễn Châu, Nguyễn Mậu ở Anh Sơn là những người đã từng khởi binh từ những năm đầu trong khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn. Sau khi Nguyễn Xuân Ôn bị bắt, một số thủ lĩnh hoặc bị giết hoặc phải trốn tránh, thì Lê Trọng Vinh vẫn hoạt động dọe theo đường giao thông huyết mạch từ Diễn Châu lên Đô Lương và liên hệ với Nguyễn Mậu, từ đó mà có Diễn thứAnh thứ.

- Tên gọi của quân thứ có thể lấy theo tên tỉnh, huyện, hoặc xã. Có trường hợp tên một tỉnh được đặt cho một quân thứ, nhưng nếu có thêm một quân thứ trên đất của tỉnh đó nữa thì lấy tên huyện. Như tỉnh Quảng Bình đã có Bình thứ rồi lại còn có Lệ thứ (là của huyện Lệ Thủy); huyện Hương Sơn đã có Hương thứ lại còn có Diệm thứ (làng Tình Diệm) v.v... Như vậy, các quân thứ không phải được phân cấp theo quản lý hành chính (như tỉnh là cấp trên của huyện, huyện là cấp trên của xã...) mà tất cả đều qui về một mối do Phan Đình Phùng và Cao Thắng ở trung tâm Thượng Hạ Bồng điều hành.

Riêng Thanh Hoá là một ngoại lệ, Thanh thứ không nói lên quy mô của tỉnh này mà chỉ đại diện cho miền Tây Thanh Hoá, nơi có phong trào khá mạnh, trong khi ở đồng bằng đã tạm lắng sau thất bại của khởi nghĩa Ba Đình.

Một điểm nữa là quân thứ có khi cũng còn để gây thanh thế, động viên phong trào hơn là hoạt động thực tế của nó. Bình thứLệ thứ là một ví dụ. Khi thành lập các quân thứ này, phong trào chống Pháp ở Quảng Bình đã giảm sút, nhưng để hai quân thứ này hiện diện, các nhà lãnh đạo cũng muốn nói lên quy mô của cuộc khởi nghĩa không chỉ bó hẹp trong 1, 2 tỉnh mà là cả 4 tỉnh miền Trung.


II - Quân thứ trong tổ chức hậu cầu và chiến đấu

Quân thứ đã hình thành và trải rộng trên 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình nhưng chủ yếu là Nghệ - Tĩnh. Mỗi quân thứ đã cử về Thượng - Hạ Bồng khoảng 20 người làm nhiệm vụ giao thông liên lạc. Đội quân của Cao Thắng khoảng 300 người, trang bị chủ yếu bằng súng trường tự tạo, đóng ở Rú Cộng và một số đồn trại xung quanh bảo vệ cho Thượng - Hạ Bồng. Đây là một đội quân khá tinh nhuệ, quen trận mạc, do Cao Thắng trực tiếp chỉ huy.

Công tác hậu cần được giải quyết khá cơ bản, nhất là lương thực và vũ khí. Đa số các quân thứ đều có ở trung du hoặc đồng bằng, gần các làng mạc trù phú, do đó việc vận động nhân dân đóng góp lương thực khá thuận lợi. Nhân dân tuy phải đóng góp cho cả hai bên (cho Pháp và cho nghĩa quân), nhưng nhờ uy tín của các thủ lĩnh, nhất là Phan Đình Phùng (thường gọi là quan Đình) và Cao Thắng (còn gọi là ông Chưởng vệ) nên họ vẫn nhiệt liệt hưởng ứng. Thóc lúa ở các làng xã đóng góp đều được các quân thứ ghi chép cẩn thận, ngoài chi dùng tại chỗ còn đưa về trung tâm để dự trữ. Lương thực được cất giấu ở những nơi kín đáo dưới hầm đất đã đốt nung cho cứng lại, có chỗ để cối xay giã.

Về quân trang, có tư liệu cho rằng nghĩa quân mặc đồng phục như lính tập. Điều này khó thực hiện trong điều kiện lúc bấy giờ. Có thể họ đã mặc những bộ quần áo chiến lợi phẩm để làm một số việc khi cần thiết1, còn đa số là “áo thâm khăn ngại” như nghĩa quân Lệ thứ, ngoài ra là áo quần nhuộm nâu, một thứ vải mà phụ nữ ven sông La (Đức Thọ) và sông Phố (Hương Sơn) dệt quanh năm.

Trong sản xuất vũ khí, người ta thường nhắc tới Cao Thắng với nhiều sáng kiến trong sản xuất súng trường kiểu 1874. Đây là loại vũ khí bộ binh hiện đại lúc đó. Phương pháp của ông và các cộng sự là tháo từng bộ phận một của khẩu “súng mẹ” ra rồi theo mẫu đó mà thay vào bằng những chi tiết tự rèn lấy cho đến lúc có khẩu súng hoàn chỉnh. Nhờ phương pháp thủ công đó mà một số nơi như Can thứ đã có thể tự rèn được súng “kiểu Tây”.

Trong khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng - Cao Thắng đang có những bước phát triển mới thì bọn xâm lược cũng đã đàn áp được những lực lượng đối kháng ở Bắc và Trung Kỳ, tập trung quân đội để bình định những vùng còn lại.

Sau khi củng cố lực lượng, Phan Đình Phùng chủ trương mở rộng hoạt động, các quân thứ chủ động tấn công tiêu diệt địch ngay trên địa bàn đóng quân để bảo vệ căn cứ. Mùa hè 1890, nghĩa quân Can thứ đã tiêu diệt đồn Trường Lưu, Diệm thứ đã đánh đồn Nầm. Đồn Linh Cảm cũng bị tấn công đến 2, 3 lần. Cuối tháng 6-1890, quân Pháp định bất ngờ tấn công đồn Trung Lễ, nhưng bị chỉ huy Lễ thứ là Lê Phất, Tác Can, Nguyễn Cấp phát hiện và tiêu diệt. Tháng 10-1890, nghĩa quân Can thứ do Nguyễn Chanh chỉ huy lại tấn công đồn Trường Lưu lần thứ hai và phục kích địch tuần tiễu ở Gia Hanh, Phú Lộc, Hốt...

Trong khi đó, nghĩa quân Diễn thứ do Đề Niên và Dương Quế Phổ chỉ huy đã tập kích vào đồn Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn) đêm 24-7-1890 buộc địch phải rút về Cầu Giát. Nghĩa quân Anh thứ của Đề Mậu cũng đã luồn về đồng bằng tiêu diệt các đồn lẻ dọc đường từ Anh Sơn đi Diễn Châu và uy hiếp phủ lỵ.

Để ngăn chặn những hoạt động của nghĩa quân, thực dân Pháp đã mở nhiều cuộc càn quét vào các quân thứ. Đầu tháng 9-1891, chúng đã điều một đại đội từ thị xã Hà Tĩnh, phối hợp với các đồn Linh Cảm, Nam Huân, Chợ Bộng, Tri Bản, đánh vào Truông Vắt vùng giáp ranh giữa ba huyện Thạch Hà, Can Lộc, Hương Khê - là những căn cứ bảo vệ từ xa cho trung tâm. Nếu chiếm được khu vực này, chúng sẽ dồn lực lượng đánh vào Thượng - Hạ Bồng, đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa. Tuy nhiên, cuộc hành quân kéo dài 15 ngày không đạt kết quả, bọn địch bị tiêu hao khá nhiều, còn các quân thứ vẫn bảo vệ được địa bàn của mình.

Đầu tháng 3-1892, quân Pháp lại tổ chức một trận càn lớn vào Tràng Sim, vùng giáp ranh giữa Nam Hương Sơn về Bắc Hương Khê. Nghĩa quân đã chiến đấu rất linh hoạt. Một mặt Khê thứDiệm thứ đánh chặn quân đi càn, mặt khác để kéo lực lượng địch về đồng bằng, “đỡ đòn” cho miền núi. Nguyễn Huy Thuận ở Thạch thứ và Nguyễn Tiến Đắc ở Kỳ thứ tập kích tiêu diệt đồn Voi và một số đồn lẻ khác làm chúng phải bỏ dở trận càn vào Tràng Sim, kéo về cứu nguy cho đồng bằng.

Sau hai lần càn quét không kết quả, lần thứ ba, quân Pháp đã điều những lực lượng tinh nhuệ tiếp tục càn vào Khê thứ - nơi chúng tin chắc có đại bản doanh của nghĩa quân. Trận càn do Lambert, Giám binh Hà Tĩnh, chỉ huy. Sau khi tập kết lực lượng ở Khê Thượng, địch âm mưu bao vây khu căn cứ Hói Trùng, Hói Trì. Cao Thắng đã chỉ đạo nghĩa quân Lễ thứKhê thứ phục kích địch dọc đường tiến quân và cho một bộ phận bất ngờ đột kích khi chúng mới đặt chân lên địa đầu Hương Khê, diệt và làm bị thương 15 tên, chính Lambert cũng trúng thương. Trong khi lực lượng của giặc lùng sục không có kết quả ở rừng núi, thì Nguyễn Huy Thuận lại táo bạo đột kích lần thứ hai vào thị xã Hà Tĩnh diệt một tiểu đội khố xanh, phá nhà lao, rồi nhanh chóng rút lui. Trận càn của địch một lần nữa thất bại.

Rút kinh nghiệm sau những thất bại trong thời gian qua, quân Pháp thay đổi kế hoạch, không tập trung quân càn quét dài ngày, vì như vậy sẽ “hở sườn”, mà tăng thêm quân cho các đồn lẻ, bao vây các trọng điểm, đặc biệt là căn cứ Vụ Quang, Ngàn Rươi. Ở vùng đồng bằng chúng bắt nhân dân rào làng, gọi là “dè phiên ly” để cô lập nghĩa quân, lập “phu đoàn kết” là tổ chức tuần tráng có vũ trang, ráo riết tuần tra ngày đêm trong thôn xóm. Năm 1893, Cao Thắng định đột kích vào Vinh để nới lỏng vòng vây của địch, nhưng không may ông đã hi sinh trong trận đồn Nu, gây một tổn thất lớn cho nghĩa quân. Mặc dầu nhân dân vẫn tìm cách để tiếp tế trước sự o ép của địch như dùng cần buộc bò để ném các gói lương thực ra ngoài hàng rào, cải trang thành những sơn tràng hay thợ đốt than để mang gạo muối cho nghĩa quân nhưng vẫn không thấm vào đâu so với những khó khăn ngày càng chồng chất. Một số quân thứ phải tự giải tán, trốn sang Lào để khỏi bị tàn sát; một số nhỏ khác thì kéo về tập trung ở Vụ Quang - Ngàn Rươi. Do thiếu lương thực, vũ khí, lại mất một tướng tài là Cao Thắng nên tinh thần chiến đấu của nghĩa quân bị suy sụp nghiêm trọng. Sau khi Phan Đình Phùng mất, cuộc khởi nghĩa thất bại, các quân thứ lần lượt tan rã.


III - Vài nhận xét.

Quân thứ là một tổ chức hợp lý trong cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch. Như đã chứng minh, quân thứ trong khởi nghĩa Phan Đình Phùng - Cao Thắng hình thành trên cơ sở các cuộc khởi nghĩa địa phương. Từ đồng bằng đến miền biển đều có quân thứ, do đó những hoạt động của địch đều bị quân ta phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là sự hợp lý trong bố trí thế trận. Địa bàn của cuộc khởi nghĩa chủ yếu là vùng Nghệ Tĩnh, nơi nhân dân có tinh thần yêu nước nồng nàn, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhưng lại có các làng nghề quan trọng, do đó có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc cung cấp lương thực và sản xuất vũ khí, kể cả súng trường quân dụng. Đó là sự hợp lý trong bố trí thế trận hậu cần.

Quân thứ đã tập hợp được những tài năng để đánh giặc. Nếu như trước kia những người như Lê Quyên, Lê Phất, Nguyễn Bố... chỉ là những thợ thủ công tài khéo chưa giúp ích gì nhiều cho công cuộc cứu nước, thì với cuộc khởi nghĩa các ông đã đưa hết tài năng mình ra chế súng đạn. Cũng vậy, khi đã tập hợp lại trong các quân thứ, có sự chỉ đạo chung thì những thủ lĩnh địa phương đã phát huy được tính năng động sáng tạo như Nguyễn Huy Thuận (Can thứ), Cao Nữu, Cao Đạt (Diệm thứ)...

Tuy nhiên, tổ chức quân thứ cũng bộc lộ những khuyết nhược điểm khó khắc phục. Về tổng thể, quân thứ chỉ tập trung ở đồng bằng Hà Tĩnh, còn các tỉnh khác thì rất mỏng hoặc chỉ có ở miền núi (Thanh Hoá, Quảng Bình), bỏ trống miền xuôi là kho người, kho của, do đó quân thứ có nơi chỉ là danh nghĩa mà không có hoạt động thực tế Do phân tán nên việc ứng cứu cho nhau gặp nhiều khó khăn, nhất là những nơi xa. Trong khi đó, quân địch cơ động hơn đã bao vây và xoá bỏ dần những điểm đóng quân của nghĩa quân và tiến tới dập tắt hoàn toàn cuộc khởi nghĩa. Một điểm nữa, quân thứ là chỗ đóng quân ở nông thôn, nhưng chưa có một chính quyền để hỗ trợ cho tổ chức quân sự. Một vài chánh tổng, lý trưởng “hai mang” (vừa làm cho địch, vừa làm cho ta) chỉ là do tự nguyện của một số cá nhân hào lý yêu nước chứ chưa phải là tổ chức chính quyền của ta. Trong khi đó, địch đã có thể bắt đầu với tới chính quyền cơ sở, biến nó thành công cụ phục vụ cho những hoạt động quân sự, gây rất nhiều khó khăn cho nghĩa quân.

Dù vậy, quân thứ trong khởi nghĩa Phan Đình Phùng - Cao Thắng là một sáng tạo độc đáo trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc khởi nghĩa vũ trang lúc đó. Quân thứ đã phát huy được tinh thần yêu nước, tính sáng tạo trong tổ chức và chỉ huy của các nhà lãnh đạo, đã kế thừa được tư tưởng quân sự truyền thống về đánh lâu dài, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, lấy thô sơ chống với hiện đại, một hình thái mới trong cuộc đọ sức giữa ta và quân xâm lược Pháp cuối thế kỷ XIX.

(Theo Tạp chí Văn hoá Nghệ An số 67,
tháng 12 - 2005, tr.13-14)
_______________________________________
1. Như việc đóng giả sĩ quan và binh lính địch để bắt tuần phủ Đinh Nho Quang (Theo Đào Trinh Nhất: Phan Đình Phùng…, Nxb Mai Lĩnh, 1994)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #101 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 08:39:10 pm »


VÕ KIM CƯƠNG1
NHÂN DÂN HÀ TĨNH
VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA PHAN ĐÌNH PHÙNG
2


Đất Hồng Lam vốn từ ngàn đời nay là một vùng đất giàu truyền thống yêu nước chống ngoại xâm. Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, khi đất nước có nguy cơ bị xâm lược thì Nghệ Tĩnh cũng đều có những đóng góp lớn vào công cuộc giữ gìn biên cương của Tổ quốc, an ninh của dân tộc. Truyền thống yêu nước của nhân dân Nghệ Tĩnh là một trong những nhân tố cơ bản dẫn đến sự ra đời và phát triển của nhiều cuộc khởi nghĩa ở địa phương chống lại ách xâm lược ngoại bang, mà tiêu biểu cho trào lưu đó là cuộc khởi nghĩa do cụ Phan Đình Phùng tổ chức, lãnh đạo vào cuối thế kỷ XIX vừa qua.

Từ khi Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở màn cuộc xâm lược Việt Nam, trên đất Nghệ Tĩnh bắt đầu dấy lên một phong trào phản đối hành động ăn cướp của bọn thực dân Tây dương. Ở Quỳnh Lưu, Văn Đức Khuê đứng lên mộ quân nghĩa dũng tình nguyện vào Nam chiến đấu; Các văn thân, sĩ phu yêu nước đã thành lập các “Nghĩa sĩ đoàn” với mục đích đề cao tinh thần chống giặt, cứu nước. Khi nhà Nguyễn ký Hàng ước 1862 với thực dân Pháp, nhiều văn thân người Nghệ Tĩnh dâng sớ lên án thực dân xâm lược, đòi triều đình phải tiến hành cuộc đấu tranh sống mái với kẻ thù như Phan Huân, Hoàng Phan Thái... Đến khi Hàng ước 1874 vừa ký kết thì một số nơi đã phất cao cờ nghĩa, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài như Trần Tấn và Đặng Như Mai (Nghệ An), Trần Quang Cán, Nguyễn Huấn (Hà Tĩnh). Những nơi này là những điểm cháy đầu tiên của phong trào kháng chiến, nhân dân địa phương đã đồng lòng hưởng ứng và tích cực tham gia, vì vậy đã tạo nên được một cao trào đấu tranh mạnh mẽ về sau.

Sau khi vua Hàm Nghi hạ Chiếu Cần vương lần thứ nhất (13-7-1885) thì phong trào kháng chiến của nhân dân Nghệ Tĩnh bước sang một giai đoạn mới. Ở Nghệ An có phong trào của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn với sự tham gia của các văn thân Đinh Nhật Tân, Trần Quang Diệm, Lê Trọng Vinh; phong trào của đội quân Nguyễn Ngợi (Lãnh Ngợi) và nhiều văn thân, sĩ phu khác như Phan Bá Niên, Vương Thúc Mậu, Nguyễn Đức Đạt, Lãnh Sĩ, Quản Hòe, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Mậu, Lê Doãn Nhạ. Cũng như ở Nghệ An, ở Hà Tĩnh ngay từ sớm một phong trào phản kháng quân xâm lược đã sớm dấy lên rộng khắp và được sự hưởng ứng của rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Điều này đã tạo ra tiền đề vững chắc cho việc xây dựng phát triển lực lượng của cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo sau này.

Trên đất Hà Tĩnh, từ 1883 sau khi bị cách chức, thôi quan trở về quê, Phan Đình Phùng đã tức khắc xúc tiến mọi công tác chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Phan Đình Phùng đã cho lập một trại cày dưới chân núi Mặc gần quê để che mắt địch, nhưng thực tế là làm nơi chiêu mộ và huấn luyện quân sĩ, chuẩn bị lực lượng cho một cuộc khởi nghĩa lâu dài. Cũng trên cùng quê hương Phan Đình Phùng, trong giai đoạn này có Lê Ninh (tức Ấm Ninh), người làng Trung Lễ đã tổ chức khởi nghĩa. Nghĩa quân của Lê Ninh hoạt động mạnh, tổ chức tập kích thành Hà Tĩnh, bắt Bố chánh Lê Đại và án sát Trịnh Bưu - những người đã quay sang đầu hàng giặc. Nhưng cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị đàn áp, làng Trung Lễ bị đốt phá và Lê Ninh mất vào năm 1887 vì ốm. Nối gót ông, các con Lê Khai, Lê Phác và Lê Trực thay ông tiếp tục duy trì lực lượng chiến đấu chống quân thù.

Ở Đức Thọ còn diễn ra các hoạt động kháng chiến của nghĩa quân Phan Cát Tưu. Năm 1885 khi vào thi Hội gặp sự biến, ông đã theo xa giá vua đến Sơn phòng Hà Tĩnh rồi trở về quê mộ quân đánh giặc; nhưng ông đã sớm hi sinh trong trận đánh trên sông Ốc Giang năm 1887. Quân sĩ của Lê Ninh và Phan Cát Tưu về sau đều gia nhập phong trào do Phan Đình Phùng khởi xướng.

Trên địa bàn huyện Hương Sơn, theo lời kêu gọi của Phan Đình Phùng có Nguyễn Quỳnh và Nguyễn Huy Giao đứng lên tập hợp được một lực lượng đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia khởi nghĩa. Một tướng tài của nghĩa quân Phan Đình Phùng sau này là Cao Thắng, đã cùng em Cao Nữu, anh họ Nguyễn Đạt và bạn là Nguyễn Kiều tổ chức khởi nghĩa và lập căn cứ ngay tại làng (Sơn Lễ). Ngoài ra còn có Thái Vĩnh Chinh ở Sơn Bằng (Hữu Bằng) cùng Lê Trình mộ quân giết giặc; Đinh Nho Hành (Gia Mỹ) tổ chức khởi nghĩa ngay tại quê nhà.

Nổi bật nhất trong phong trào ở Can Lộc hưởng ứng Chiếu Cần vương là cuộc nổi dậy của hai anh em Nguyễn Trạch (còn gọi là Nguyễn Khương) và Nguyễn Chanh (còn gọi là Nguyễn Đạt) ở Gia Hanh (Nhân Lộc). Hai anh em họ Nguyễn đã xây dựng được một đội quân hùng mạnh. Năm 1888 quân số của hai anh em lên tới 600 người và được tổ chức thành cơ, đội. Căn cứ của nghĩa quân được lập ở đồn Cơn Khế. Mặc dầu quân giặc nhiều lần tiến đánh nhưng đều bị thất bại trước sự chống trả mưu trí và dũng cảm của nghĩa quân. Ở Phù Lưu Thượng (cùng địa bàn Can Lộc) còn có Mai Thế Quý chiêu mộ được một đội ngũ nghĩa quân khoảng năm sáu trăm người, hoạt động rất táo bạo. Nhưng ông đã sớm hi sinh trong một trận đánh sống mái với giặc thù vào cuối năm 1885. Sau khi ông mất, quân sĩ đã gia nhập nghĩa quân của Nguyễn Trạch - Nguyễn Chanh. Ở Nghi Xuân có phong trào của Thần Sơn Ngô Quảng và Hà Văn Mỹ; ở Hương Khê có Nguyễn Thoại; Cẩm Xuyên có Huỳnh Bá Xuyên, Nguyễn Chuyên, Đề Dự; ở Kỳ Anh có Võ Pháp, Lê Nhất Hoan, Trần Công Thưởng, Phan Khắc Hòa; ở Thạch Hà có phong trào của Nguyễn Cao Đôn, ba anh em Bùi Hanh, Bùi Dương và Bùi Đệ. Ngoài ra còn có đội quân của Nguyễn Huy Thuận (Bá hộ Thuận) đóng căn cứ ở Trùng Mai. Nghĩa quân của Nguyễn Huy Thuận nhiều lần dũng cảm đột kích vào thị xã Hà Tĩnh và phủ lỵ Thạch Hà, gây không ít thiệt hại cho giặc.

Như vậy, chỉ cần nhìn qua chúng ta đều thấy rõ là ngay từ ngày Chiếu Cần vương được ban bố, trên đất Hà Tĩnh đã sớm dấy lên một phong trào chống Pháp rộng khắp các địa phương của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Phong trào đó, mặc dù lúc đầu còn mang tính tự phát và địa phương rõ rệt, nhưng dần dần quy tụ thống nhất vào một phong trào kháng chiến chung dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng. Đó là nền tảng cho một sự tham gia rộng rãi của đông đảo nhân dân Hà Tĩnh vào sự nghiệp đánh giặc cứu nước dưới sự lãnh đạo của cụ Phan.

Từ năm 1886, khi Cao Thắng cùng quân sĩ của mình gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng, việc tổ chức xây dựng lực lượng và thống nhất các phong trào trong ngoài tỉnh được cụ Phan xúc tiến mạnh mẽ. Cụ Phan đã thấy rõ tầm quan trọng của việc thống nhất các lực lượng không chỉ ở trong vùng Nghệ Tĩnh mà trên cả phạm vi toàn quốc. Để thực hiện ý chí đó, năm 1887 Cụ đã ủy thác mọi công việc chuẩn bị cho Cao Thắng để đi ra Bắc.

Trong giai đoạn này dưới sự chỉ huy trực tiếp của Cao Thắng, nghĩa quân luôn được sự ủng hộ giúp đỡ của đông đảo quần chúng nhân dân. Như khi đóng đồn ở Cồn Chùa, lý trưởng các làng đều bí mật ủng hộ nghĩa quân. Trong thời gian Phan Đình Phùng đi vắng, Cao Thắng đã được nhân dân tin yêu, uy thế của nghĩa quân ngày một tăng, nghĩa sĩ ngày theo về với ông ngày một nhiều, nhiều nhà khoa bảng thân hào cũng do vậy đã thành thật cộng tác với ông. Từ một lực lượng còn mỏng manh khi cụ Phan đi ra Bắc, cho đến thời điểm Cụ trở lại, Cao Thắng đã gây dựng nên được một đội ngũ có tổ chức hùng hậu, có các lực lượng chiến đấu, hậu cần, quân khí v.v...

Những điều đó chứng tỏ sự đóng góp to lớn của nhân dân nói chung, của đồng bào Hà Tĩnh nói riêng đối với cuộc khởi nghĩa.

Năm 1888, khi từ Bắc trở về cụ Phan đã kêu gọi thống nhất phong trào ở Nghệ Tĩnh và trên cơ sở đó để phát triển một cuộc chiến đấu toàn dân rộng rãi. Chính nhờ có một phong trào đã lan sâu rộng trong quần chúng ở địa phương, nên lời kêu gọi thống nhất lực lượng của cụ Phan đã được nhân dân nhanh chóng hưởng ứng. Nhiều đội quân khởi nghĩa trong vùng đã cử đại diện của mình đến xin gia nhập vào đội ngũ do cụ Phan khởi xướng, lãnh đạo.

Phong trào chống Pháp của quần chúng nhân dân vào thời điểm này đã nổi lên rộng khắp trên đất Hà Tĩnh, ở cả 8 huyện của tỉnh đều có phong trào kháng chiến. Điều đó chứng tỏ sự tham gia cuộc khởi nghĩa của nhân dân Hà Tĩnh mang tính chất toàn dân. Trong số 15 quân thứ mà cụ Phan thành lập, tỉnh Nghệ An có 2 quân thứ, Quảng Bình - 2 quân thứ, Thanh Hóa - 1 quân thứ. Riêng tỉnh Hà Tĩnh có đến 10 quân thứ. Điều đó nói lên sự đóng góp của nhân dân Hà Tĩnh vào cuộc kháng chiến là rất lớn lao. Tham gia phong trào kháng chiến của cụ Phan có đầy đủ các thành phần xã hội, từ các văn thân, sĩ phu yêu nước đến đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, quan chức triều đình. Có thể thấy rằng sự tham gia của nhân dân Hà Tĩnh không chỉ ở phạm vi sung quân trực tiếp chiến đấu mà còn biểu hiện ở nhiều công việc quan trọng của cuộc khởi nghĩa như vạch chiến lược, sáng tác văn thơ, quyên góp ủng hộ nghĩa quân, xây dựng căn cứ v.v.. Riêng một hệ thống dày đặc các căn cứ kiên cố của cuộc khởi nghĩa được xây dựng trong thời gian này trên đất Hà Tĩnh đủ nói lên tầm vóc công sức của nhân dân Hà Tĩnh đối với phong trào do cụ Phan lãnh đạo. Sự tham gia rộng rãi và đa dạng của nhân dân địa phương vào cuộc khởi nghĩa là một trong những đặc trưng nổi bật của phong trào kháng chiến. Để bảo đảm được sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa và thực hiện chủ trương của phái kháng chiến trong triều đình Huế, nhân dân Hà Tĩnh đã góp sức người sức của xây dựng nên Sơn phòng Hà Tĩnh ở xã Phú Gia (Hương Khê). Đây là một thành trì kiên cố, được đắp bằng đất có hào sâu bao bọc. Công việc xây dựng thành là sức đóng góp của nhân dân 37 xã trong tỉnh (bao gồm đầy đủ các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh). Người đi đắp thành theo từng đợt trong thời gian khoảng 10 ngày. Họ được tổ chức thành các đội, các tốp lần lượt thay phiên nhau và do làng xã cung cấp lương ăn.

Khi nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Hương Khê, chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc nghĩa quân tự chế tạo các loại vũ khí, trong đó có loại súng trường mà dân chúng thường gọi là súng Cao Thắng. Chính công việc này đã nói lên sự đóng góp to lớn của nhân dân Hà Tĩnh đối với cuộc khởi nghĩa. Công việc chế tạo vũ khí của nghĩa quân có sự tham gia của đông đảo các thợ rèn, thợ mộc, thợ hàn lành nghề trong vùng. Đội ngũ thợ rèn đúc vũ khí của nghĩa quân Phan Đình Phùng cũng được phiên chế theo từng cơ, đội. Ngoài Cao Thắng, mọi công việc chế tạo vũ khí được giao cho hai ông Đội Quyên và Lê Phát trực tiếp điều hành. Đội Quyên làng Yên Hồ (Đức Thọ), trước đó vốn là một thợ rèn nổi tiếng. Hai ông Lê Phát và Đội Quyên đã từng gia nhập nghĩa quân Lê Ninh, sau theo về với Cao Thắng. Các địa điểm chế tạo vũ khí của nghĩa quân được bố trí gần các khe suối để bảo đảm bí mật. Các kíp thợ được tổ chức làm việc theo ca để bảo đảm nhu cầu vũ khí của nghĩa binh. Ngoài những xưởng rèn đúc vũ khí chung của nghĩa quân, một số quân thứ (như quân thứ Can Lộc) cũng tổ chức những lò rèn riêng nhằm đáp ứng nhu cầu vũ khí của đông đảo những người mới gia nhập phong trào. Không có con số chính thức về tổng số người làm công việc này, nhưng qua một số lò rèn chính chúng ta cũng có thể hình dung là cụ Phan đã tập hợp được một số lượng lớn quân sĩ chuyên rèn đúc gươm giáo, súng đạn. Cũng qua đó chúng ta thấy rõ sự đóng góp của nhân dân đối với quân khởi nghĩa là to lớn biết nhường nào.

Đầu tiên phải kể đến lò rèn đúc súng đạn tại căn cứ Thượng Bồng có số quân đến hàng trăm người. Lò rèn Xá Lễ (Đức Lĩnh) là một trung tâm sản xuất vũ khí lớn của nghĩa quân. Tại đây có lúc tập trung 200-300 thợ giỏi. Hàng trăm thợ rèn của các vùng rèn nổi tiếng đất Hà Tĩnh như làng Trung Lương, làng Vân Tràng (Đức Thọ), hàng trăm thợ mộc, thợ tiện giỏi của huyện Hương Sơn được điều động đúc súng, làm báng súng. Ngoài ra còn có rất đông thợ đúc đồng, thợ bạc, thợ hàn ở các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên cũng tham gia sung quân chế tạo đạn dược.

Một khía cạnh khác nữa mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là để cô lập nghĩa quân khỏi quần chúng nhân dân, bọn giặc đã thi hành chính sách ly gián, rào làng kiểm soát dân chúng. Nhưng vượt qua mọi âm mưu thâm độc của địch, mối liên hệ giữa nhân dân và nghĩa quân vẫn bền chặt, việc liên lạc, tiếp tế cho cuộc khởi nghĩa vẫn thường xuyên được giữ vững. Nhân dân tìm mọi cách để tiếp tế cho nghĩa quân lương thực thực phẩm, các loại nguyên vật liệu chế tạo vũ khí, thông báo cho nghĩa quân về tình hình quân địch. Có những làng vẫn bí mật để cho nghĩa quân đóng trong làng mà không sợ địch khủng bố, trả thù. Nhiều làng, tổng phải chịu nộp phạt một số tiền lớn vì đã che giấu nghĩa quân. Có những làng bị cách ly thì sử dụng những chiếc cần neo trâu bò để bí mật “phụ nghĩa”, vận tải được tổ chức nhằm quyên góp, tiếp tế vì sự nghiệp chiến đấu. Nguyên liệu để nghĩa quân rèn đúc vũ khí chủ yếu là dựa vào sự ủng hộ của dân chúng. Đông đảo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã tình nguyện thu góp ủng hộ các loại đồ dùng bằng sắt, đồ đồng để đúc súng đạn. Nhiều gia đình đã hiến cho phong trào cả nồi đồng, mâm thau, các loại đồ thờ cúng cho nghĩa quân. Nhiều người còn có các sáng kiến để giúp đỡ nghĩa quân như làm lương khô bằng cách giã nhỏ gạo rang, trộn với mật đóng thành bánh; ngâm vải trong nước mắm rồi sấy khô nhiều lần... để dễ tiếp tế.

Nhờ có sự liên hệ chặt chẽ với quần chúng và sự ủng hộ hết lòng hết sức của nhân dân nên nghĩa quân đã có thể cầm cự được với địch trong một thời gian dài, mặc dầu bọn thực dân và tay sai tăng cường truy lùng ráo riết. Chính tên Khâm sứ Trung Kỳ cũng phải thú nhận rằng: “nhiều làng rất có quan hệ với nghĩa quân và phải đặc biệt kiểm soát”.

Tóm lại, cũng như các phong trào Cần vương trong giai đoạn lịch sử này nói chung, cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo cuối cùng đã thất bại vì rất nhiều nguyên nhân. Bọn thực dân ngoại bang cấu kết với các thế lực phong kiến bán nước đã bạo tàn nhấn chìm phong trào trong biển máu. Dầu vậy, sự nghiệp chính nghĩa của nghĩa quân vẫn sống mãi, ý chí yêu nước căm thù giặc vẫn được nuôi dưỡng trong quảng đại quần chúng nhân dân. Cuộc khởi nghĩa do cụ Phan lãnh đạo vẫn chiếm một vị trí xứng đáng trong buổi đầu lịch sử cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Trong sự nghiệp vĩ đại đó, một phần lớn có sự đóng góp của các tầng lớp quần chúng nhân dân Hà Tĩnh.

Hà Nội, tháng 12 năm 1995
______________________________________
1. Võ Kim Cương: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Viện Sử học.
2. Bài tham gia Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Đình Phùng, ngày 28-12-1995.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #102 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 08:51:36 pm »


PHẠM VĂN KÍNH1
NHÂN DÂN THANH HÓA
VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA HƯƠNG KHÊ


Có thể nói rằng trong số hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược hồi cuối thế kỷ XIX thì cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng, Cao Thắng lãnh đạo là có quy mô to lớn hơn cả. Từ đất bản bộ Hương Khê, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng tỏa rộng ra hầu khắp tỉnh Hà Tĩnh, rồi tràn vào Quảng Bình, vượt qua Nghệ An ra tận Thanh Hóa. Ngoài những ưu điểm nổi trội về đường lối chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật chế tạo, trang bị vũ khí so với những cuộc khởi nghĩa khác, cuộc khởi nghĩa Hương Khê còn tổ chức, phiên chế, xây dựng nghĩa quân một cách khá chặt chẽ theo kiểu quân đội chính quy. Toàn bộ nghĩa quân được chia ra làm 15 quân thứ. Nhiều nhất tỉnh Hà Tĩnh 10 quân thứ, ít nhất Thanh Hóa 1 quân thứ.

Thanh Hóa chỉ có một quân thứ, nói đúng hơn cụ Phan chỉ thiết lập ở đây có một quân thứ. Phải chăng con số ấy phản ánh sự hưởng ứng kém nhiệt tình của nhân dân Thanh Hóa với khởi nghĩa Hương Khê? Để giải đáp điều này có lẽ chúng ta phải tìm hiểu hoạt động của quân thứ Thanh Hóa, còn gọi tắt là Thanh thứ, trong suốt cả quá trình cuộc khởi nghĩa.

Như chúng ta đã biết, từ trước khi cuộc khởi nghĩa Hương Khê bùng nổ, mạng lưới phong trào kháng chiến chống Pháp ở Thanh Hóa đã được thiết lập trong toàn tỉnh. Hầu hết các huyện, các vùng đều đã có phong trào. Huyện Hà Trung có Lãnh Toại, Lãnh Phi; huyện Đông Sơn có Tán Tháo; huyện Hậu Lộc có Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt; huyện Hoằng Hóa có Nguyễn Đôn Tiết, Lê Trí Thực, Lê Khắc Quýnh; huyện Quảng Xương có Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Ngọc Lưỡng; các huyện Yên Định, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy có nghĩa quân của Cao Điển, Tống Duy Tân; châu Quan Hóa có Hà Văn Mao; châu Thường Xuân có khởi nghĩa Cầm Bá Thước. Có lẽ do phong trào ở Thanh Hóa đã sôi nổi, rộng khắp như vậy cho nên các nhà lãnh đạo khởi nghĩa Hương Khê chỉ cần đặt ở tỉnh này một quân thứ. Nhiệm vụ của quân thứ Thanh Hóa là hỗ trợ, làm thế ỷ dốc cho trung tâm Nghệ Tĩnh và làm cầu nối, liên hệ, liên kết với các phong trào kháng Pháp ở các tỉnh mạn ngoài.

Sau khi cùng vua Hàm Nghi ủy thác cho cụ Phan Đình Phùng tổ chức khởi nghĩa tại Hà Tĩnh (tháng 7-1885) để giúp vua, đánh giặc cứu nước, đầu năm 1886 Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện. Trên đường đi ông dừng lại Thanh Hóa gặp gỡ các nhà lãnh đạo kháng chiến ở đây, trong đó có Cầm Bá Thước, người chỉ huy nghĩa quân Thanh thứ - một trong số 15 quân thứ của cuộc khởi nghĩa Hương Khê.

Cầm Bá Thước thuộc dân tộc Thái, sinh năm Mậu Ngọ (1858), đúng vào năm thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Ông là con cụ Cầm Bá Tiến, làm chức Quản cơ dưới triều Tự Đức, hẳn rằng có quen cụ Phan. Họ Cầm là một dòng họ lớn rất có uy tín ở châu Thường Xuân. Cầm Bá Thước là người cương trực, thẳng thắn, có quan hệ rộng rãi trong các vùng thượng du Thanh Hóa, miền núi Nghệ An, được nhân dân và quan lại địa phương rất nể vì.

Năm 1885 kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ Chiếu Cần vương, Cầm Bá Thước vừa tròn 27 tuổi. Hưởng ứng Chiếu Cần vương, dựa vào rừng núi hiểm trở của quê hương Trịnh Vạn - Thường Xuân, Cầm Bá Thước dựng cơ sở khởi nghĩa. Sau khi gặp Tôn Thất Thuyết tại làng Trịnh Vạn, ông liền trở thành một bộ tướng của cuộc khởi nghĩa Ba Đình - trung tâm của phong trào Cần vương Thanh Hóa, và là người chỉ huy một quân thứ của cuộc khởi nghĩa Hương Khê2. Như vậy, trên danh nghĩa phong trào chống Pháp do Cầm Bá Thước lãnh đạo không những chỉ là một bộ phận của phong trào Cần vương Thanh Hóa dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đề đốc Trần Xuân Soạn - người thay mặt Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, mà còn là một bộ phận của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Và trong chừng mực nào đó chúng ta cũng có thể hiểu rằng hoạt động của nghĩa quân Cầm Bá Thước cũng là hoạt động của nghĩa quân Hương Khê trên đất Thanh Hóa. Và đó chính là sự đóng góp của nhân dân Thanh Hóa cho cuộc khởi nghĩa Hương Khê.

Sau khi hòa nhập vào phong trào Cần vương chung của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh, hoạt động của nghĩa quân Cầm Bá Thước không còn bó hẹp trong phạm vi địa phương Thường Xuân mà đã có sự phối hợp chặt chẽ với cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao ở châu Quan Hóa, với các huyện dưới miền xuôi, với các huyện miền núi phía Bắc Nghệ An và sang cả vùng Sầm Tớ của nước bạn Lào.

Trong giai đoạn đầu gây dựng cuộc khởi nghĩa Hương Sơn (1885), cao trào chống Pháp ở Thanh Hóa đã phát triển rất mạnh, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho Hương Khê hình thành và phát triển, mặt khác đe dọa nghiêm trọng chế độ thực dân của Pháp. Vì thế thực dân Pháp tập trung mọi nỗ lực đàn áp, càn quét trên quy mô lớn phong trào Cần vương Thanh Hóa. Phong trào kháng Pháp của Thanh Hóa lâm vào tình thế khó khăn. Căn cứ Ba Đình - Mã Cao, trung tâm của cuộc kháng chiến bị triệt hạ. Nhiều nhà lãnh đạo chủ chốt bị bắt hoặc hi sinh như Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Đôn Tiết, Đỗ Đức Mậu, Hà Văn Mao v.v... Chỉ còn lại ba người là Tống Duy Tân, Cao Điển và Cầm Bá Thước. Sau đó ít lâu Tống Duy Tân cũng bị bắt và bị giết3. phong trào Cần vương Thanh Hóa hoàn toàn trao lại cho Cầm Bá Thước.

Với danh nghĩa là Thanh thứ, lại có thêm chức Hàn lâm viện thị độc sung Tán tương quân vụ được vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phong cho trước đây, Cầm Bá Thước một mặt lo củng cố cơ sở ở vùng núi Thanh Hóa, mặt khác mở rộng địa bàn xuống các huyện miền núi phía Bắc Nghệ An. Qua tờ trát của ông cấp cho đốc binh Lang Văn Thiết đã chứng tỏ điều đó. Trát viết: “Hàm Nghi ngũ niên bát nguyệt, nhị thập ngũ nhật, Thanh thứ Hàn lâm viện thị độc sung Tán tương quân vụ Cầm thủ trát Nghệ hạt, Quỳ phủ, Gia Hội xã hào mục chấp chiếu. Nhật hạ nghĩa quan binh chán khởi, chiếu chi y xã đốc binh Lang Văn Thiết, cận lai (Kỷ) hệ hữu tâm nghĩa niệm (Thiếp) thử họp trát giao y xã lưu chấp, thảng hữu quan binh kinh quá thính đầu xuất ứng cụ trình thẩm tri tư trát... Chiếu”. Nghĩa là: “Ngày 25 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ 5 (1889) Hàn lâm viện thị độc sung Tán tương quân vụ Thanh thứ Cầm Bá Thước, cấp trát cho kỳ mục xã Gia Hội, phủ Quỳ Châu, hạt Nghệ An biết và thi hành. Bấy lâu nay quan binh khởi nghĩa, xã này có đốc binh Lang Văn Thiết, gần đây có lòng nghĩa hiệp giúp đỡ quan quân. Vậy cấp trát này giao cho bản xã lưu giữ, nếu có quan binh đi qua thì đem trát này ra trình để họ được biết”4. Ngoài chứng tích bằng thư tịch là tờ trát kể trên, còn nhiều mẩu truyện được lưu truyền trong dân gian kể về tấm gương chiến đấu của đốc binh Lang Văn Thiết, Đốc binh Lang Văn Hạnh (người Gia Hội), Quản cơ Thông, Quản cơ Thụ (người Kim Sơn) dưới sự chỉ huy của Thanh thứ Cầm Bá Thước5.

Thực tế lịch sử cho hay rằng Cầm Bá Thước không những chỉ biết cầm quân đánh trận, mà ông còn góp phần không nhỏ trong việc gây dựng nên cơ đồ của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Ai cũng biết Thường Xuân có quế loại đặc sản, quen gọi là ngọc quế (châu Thường quế ngọc), Cầm Bá Thước đã vận động nhân dân lấy quế nộp cho cụ Phan “để bán lấy tiền dùng vào việc quân lương”6. Ngược lại, nghĩa quân của Cầm Bá Thước không phải chỉ có cung tên giáo mác tự tạo hoặc vũ khí cướp được của giặc mà còn được trang bị súng Cao Thắng7 - loại súng trường kiểu 1874 - do kỹ sư quân giới và là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Hương Khê là Cao Thắng chế tạo. Những điều đó, càng chứng tỏ hoạt động của nghĩa quân Cầm Bá Thước không thể tách rời với cuộc khởi nghĩa Hương Khê, và ngược lại nói đến cuộc khởi nghĩa Hương Khê không thể không nói đến Thanh thứ Cầm Bá Thước.

Thực ra, đóng góp vào cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Thanh Hóa không phải chỉ có riêng Cầm Bá Thước, mà còn phải kể đến Trần Xuân Soạn và Cao Điển.

Trần Xuân Soạn, người làng Thọ Hạc thuộc tỉnh lị Thanh Hóa. Ông làm quan Đề đốc dưới triều Nguyễn, chính ông là một trong số người chỉ huy tấn công quân Pháp ở kinh thành Huế vào đêm ngày 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885. Kinh thành thất thủ, ông theo hộ giá vua Hàm Nghi xuất bôn. Ông được Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết tin cẩn cử về Thanh Hóa để hợp nhất các phong trào, liên kết các đạo nghĩa quân lẻ tẻ đặt dưới sự chỉ huy chung. Ông trở thành một bộ tướng của phong trào thống nhất đó - khởi nghĩa Ba Đình. Ông là một trong hai người (Hà Văn Mao) được cử trọng trách xây dựng đồn Mã Cao - căn cứ địa thứ hai của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Vào khoảng mùa đông năm 1888, cuộc khởi nghĩa Hương Khê chuẩn bị bước sang thời kỳ chiến đấu quyết liệt thì nghĩa quân của Trần Xuân Soạn đã hoạt động ở vùng Phủ Diễn8. Hoạt động này không những chỉ làm hậu thuẫn cho nghĩa quân Anh thứ do Nguyễn Mậu chỉ huy đang đụng độ với địch ở vùng Cây Chanh mà còn làm cho thanh thế của nghĩa quân Hương Khê càng ngày càng vang dội.

Còn Cao Điển, vốn trước là suất đội Vũ Lâm. Ông là một bộ tướng của cuộc khởi nghĩa Ba Đình, là người chỉ huy thứ hai sau Tống Duy Tân trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Sau khi Tống Duy Tân bị bắt và bị giết (15-10-1892), Cao Điển đã tìm vào Hương Khê gia nhập cuộc khởi nghĩa do cụ Phan lãnh đạo. Khi cụ Phan mất (21-1-1896), ông lại tìm về Yên Thế tham gia cuộc khởi nghĩa của cụ Đề Thám9.

Trở lại với phong trào của Cầm Bá Thước, như trên đã nói vào những năm cuối thập kỷ 80 phong trào Cần vương Thanh Hóa bước vào giai đoạn thoái trào. Mặc dầu ngọn cờ Cần vương Thanh Hóa lúc này hoàn toàn trao lại cho Cầm Bá Thước; nhưng trước tình hình thực tế, ông không còn cách nào khác là phải trá hàng để mưu tính về sau.

Tháng 3 năm 1893, sau khi đã cất giấu hết vũ khí, quân trang và cho toàn bộ nghĩa sĩ về quê nhà làm ăn sinh sống, Cầm Bá Thước viết thư cho công sứ Boulloche xin “hàng”. Đã bao nhiêu lần hành quân nhằm triệt hạ căn cứ Trịnh Vạn, nhưng quân Pháp đều bị thất bại. Nay được vị thủ lĩnh tối cao đầu hàng là dịp may hiếm có. Boulloche liền phong cho Cầm Bá Thước làm “Bang biện nhị châu” (châu Thường Xuân và châu Lang Chánh) để mua chuộc, lôi cuốn ông bằng con đường danh lợi và cô lập ông với các tầng lớp nhân dân yêu nước. Ngược lại ông “Bang Thước” với chức danh hợp pháp đã đi khắp các mường trên, bản dưới nghiên cứu địa hình, chiêu binh, mộ tướng, tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa mới.

Sau gần một năm tích cực chuẩn bị, ngày 6 tháng 12 năm 1894 Cầm Bá Thước chỉ huy 150 quân bất ngờ tấn công đồn Thổ Sơn, cách Bái Thượng khoảng 10km. Cuộc ra quân lần đầu thu được thắng lợi rực rỡ. Chính - Chánh thanh tra vệ binh Đông Dương là Daufès cũng phải thú nhận: “Vào khoảng 1 giờ sáng (6-2-1894) thì xảy ra việc đánh đồn Thổ Sơn. Trước sức mạnh ào ạt của 150 phiến quân, các công sự tối tân xung quanh các trại lính khố xanh đều bị san phẳng. Quân phiến loạn đột nhập vào tận trung tâm đồn bốt”10. Khí thế của nghĩa quân đang lên mạnh, Cầm Bá Thước tổ chức ngay các trận đánh khác, hoặc tập kích tấn công, hoặc mai phục chống càn, nhằm tiêu hao sinh lực địch. Đó là cuộc mai phục bẻ gãy cuộc hành quân từ đồn Cửa Đặt lên Trịnh Vạn của hai viên Chánh binh Mariothi và Locat vào ngày 13-3-1894. Hai ngày sau, ngày 15-3 nghĩa quân tiến công và bao vây đồn Cửa Đặt, đồng thời đặt phục binh chặn đánh các đạo quân đến giải vây. Ngày 6 và 10 tháng 2 năm 1895 nghĩa quân lại tiến công đồn Cửa Đặt và đặt phục binh chặn đánh các đội quân tuần tiễu, hoặc hành quân của địch... Trong quãng thời gian hơn một tháng, kể từ ngày tập kích đồn Thổ Sơn, nghĩa quân đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Vì thế chúng không dám mạo hiểm hành quân càn quét, mà phải để tới gần hai tháng chuẩn bị mới dốc lực lượng tiến đánh Hòn Bồng - căn cứ cuối cùng và là sào huyệt của nghĩa quân. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt, nghĩa quân chiến đấu kiên cường anh dũng, nhưng yếu về tương quan lực lượng, binh lực cũng như vũ khí, nghĩa quân không giữ nổi Hòn Bồng. Ngày 13-5-1895 Cầm Bá Thước cùng với thuộc hạ, gia đình vợ con bị sa vào tay giặc, và sau đó bị xử tử, đúng vào năm ông tròn 36 tuổi. Sự thất bại của Cầm Bá Thước cũng là dấu chấm hết của phong trào Cần vương Thanh Hóa nói chung, của quân thứ khởi nghĩa Hương Khê trên đất Thanh Hóa.

Vậy là ròng rã trong suốt hơn 10 năm trời (1886-1895) chiến đấu dưới ngọn cờ của Chiếu Cần vương, Cầm Bá Thước đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ông mất đi, nhưng mối tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của đồng bào các dân tộc Thượng cũng như Kinh, của các địa phương Thanh cũng như Nghệ - Tĩnh - Bình vẫn mãi mãi người sáng.

Hà Nội, ngày 12 năm 1995
______________________________________
1. Phạm Văn Kính: Nghiên cứu viên, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
2. Có hai thời điểm để xác định Cầm Bá Thước trở thành quân thứ của khởi nghĩa Hương Khê. Đó là năm 1886, Tôn Thất Thuyết trên đường sang Trung Quốc có dừng lại Thanh Hóa và năm 1887 cụ Phan Đình Phùng ra Bắc để liên hệ với các phong trào. Chúng tôi thiên về năm 1886 vì rằng cuộc khởi nghĩa Hương Khê hẳn là do Tôn Thất Thuyết đề xuất với cụ Phan, vậy ông không thể không quan tâm đến việc gây dựng phong trào. Lại nữa, cuộc gặp gỡ giữa Tôn Thất Thuyết với Cầm Bá Thước năm 1886 tại Trịnh Vạn là cuộc gặp gỡ lần thứ hai (lần đầu vào năm 1879 khi Tôn Thất Thuyết nghỉ dưỡng bệnh ở Thanh Hóa). Tôn Thất Thuyết rất có thiện cảm và lòng tin đối với Cầm Bá Thước. Vì thế ông mới tiến cử Cầm Bá Thước cho cụ Phan. Còn thời điểm cụ Phan ra Bắc, không thấy có tài liệu nào nói đến việc cụ dừng lại Thanh Hóa cả.
3. Tống Duy Tân còn gọi là Nghè Bồng, ông được Tôn Thất Thuyết đặc cách bổ dụng chức Đốc học Thanh Hóa, rồi Chánh sứ Sơn phòng Quảng Hóa (Vĩnh Lộc). Ông bị bắt và xử tử ngày 15-10-1892.
4. Dẫn theo: Nguyễn Tài Sáng. Cầm Bá Thước và những ngày cuối cùng của phong trào Cần vương ở Thanh Hóa. Nghiên cứu Lịch sử số 3 - 4/1975, tr.64.
5, 6. Theo Trần Thanh Tâm. Một số tài liệu bằng chữ viết vừa mới tìm được về mấy cuộc khởi nghĩa miền núi Nghệ Tĩnh. Nghiên cứu Lịch sử số 51 tháng 6 năm 1963, tr.52,53.
7. Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Sự - Đặng Huy Vận. Lịch sử cận đại Việt Nam, tập II, tr. 269.
8. Đặng Huy Vận - Đinh Xuân Lâm. Hà Văn Mao và Cầm Bá Thước với phong trào chống Pháp của miền núi Thanh Hóa hồi cuối thế kỷ XIX. Nghiên cứu Lịch sử số 9-10/1971, tr. 24.
9. Lịch sử cận đại Việt Nam, sđd, tr. 271.
10. Dương Kinh Quốc. Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945. Tập I, tr.397.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #103 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 08:58:08 pm »


NGUYỄN VĂN THÀNH1
QUÂN THỨ THANH HOÁ
CỦA NGHĨA QUÂN PHAN ĐÌNH PHÙNG


Tiểu dẫn: Bài này có tựa đề đầy đủ là “Cuộc nổi dậy chống Pháp của nhân dân các dân tộc Thanh Hoá ở Thường Xuân hay là quân thứ Thanh Hoá của nghĩa quân Phan Đình Phùng” gồm 3 phần: I. Nhân dân miền núi ở Thanh Hóa chống Pháp trước thời Cần vương. II. Công cuộc Cần vương chống Pháp ở Thanh Hóa. III. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Trịnh Vạn (về sau là Thanh thứ của nghĩa quân Phan Đình Phùng). Chúng tôi lược bỏ hai phần trên.

N.B.S


III. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Trịnh Vạn (Thanh thứ của nghĩa quân Phan Đình Phùng)

Để chuẩn bị chống Pháp Tôn Thất Thuyết rất chú ý tỉnh Thanh Hóa. Nhất là vùng thượng du nên ông đã cử Tống Duy Tân làm chánh sứ Sơn phòng tỉnh Thanh Hóa và cũng cử Cầm Bá Thước làm Bang biện quân vụ hai châu Thường Xuân và Lang Chánh. Ở vùng Quan Hóa ông cũng giao cho Hà Văn Mao chuẩn bị lực lượng chiêu mộ người Mường.

Với danh nghĩa Bang biện quân vụ, Cầm Bá Thước nắm được lực lượng quân sự của vùng này, nhưng đó chỉ là thổ binh, dân binh. Con số thì đông nhưng sức chiến đấu không mạnh. Cầm Bá Thước theo kế của Cử nhân Tống Nhữ Mai con trai Tiến sĩ Tống Duy Tân, làm tờ bẩm lên Tri châu Thường Xuân xin mộ quân và huy động lực lượng đóng đồn bảo vệ trị an từ Bái Thượng trở lên đến biên giới Lào. Chức Bang biện quân vụ về hành chính thì do Tri châu điều khiển, nhưng về quân sự thì có quan hệ rất nhiều với Chánh sứ Sơn phòng và phải thực hiện các mệnh lệnh của Chánh sứ Sơn phòng. Như thế, trước khi quân Pháp vào Thanh Hóa, phe chủ chiến, mà chủ yếu là Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước là những người nắm được lực lượng quân sự vùng Tây Thanh Hóa.

Việc giữ gìn an ninh vùng Thường Xuân - Lang Chánh là việc lớn nên Tri châu Thường Xuân đã ký vào tờ bẩm của quan Bang biện trong việc huy động binh lương bảo vệ miền Tây. Có tờ bẩm trong tay, Bang biện Cầm Bá Thước đi khắp các làng ở Thường Xuân bố trí lại việc canh gác và điều động dân binh. Ông cho lính dõng đóng các đồn suốt từ Bái Thượng lên Cửa Đặt, rồi lên đến Bất Mọt. Ông điều động những người thiện xạ vào lực lượng địa phương, ông giao cho những người quen biết cũ, phần nhiều là lý trưởng các làng, nắm giữ lực lượng dân quân và xây dựng các đồn canh gác. Thổ binh và dân binh cũng được chuẩn bị cung nỏ, vót tên, chế thuốc súng, róc hỏa mai, và luyện tập quân sự. Trong lần huy động đầu tiên này, lực lượng Cần vương chống Pháp của Cầm Bá Thước đóng dọc sông Chu từ Bái Thượng lên Cửa Đặt, rồi từ Cửa Đặt lên đến Bất Mọt. Dọc theo sông Đặt, Cầm Bá Thước cho xây dựng rất nhiều đồn lũy, lập nhiều căn cứ như căn cứ Bản Lẹ, đồn Đồng Chong, đồn Bù Đồn. Khi Tôn Thất Thuyết họp các lãnh tụ Cần vương ở đình Bồng Trung, Cầm Bá Thước cũng xuống dự và nhận quyết định làm Tán tương quân vụ hai châu Thường Xuân - Ngọc Lặc. Khi Hà Văn Mao xây dựng Mã Cao, ông cũng có xuống Mã Cao. Khi liên hệ với Hà Văn Mao, do lực lượng Hà Văn Mao rất đông nên ông dựa vào Hà Văn Mao mở rộng hoạt động xuống Thọ Xuân, Như Xuân, Nông Cống, Ngọc Lặc, bao gồm các vùng đồi núi giáp với căn cứ Thường Xuân ở Trịnh Vạn. Ông cũng vượt nguồn sông Đặt vào Nghệ An gặp Lang Văn Thiết, một thủ lĩnh người Thái ở Nghệ An là em rể ông, để mở rộng hoạt động. Lang Văn Thiết và em ruột là Lang Văn Hạnh lúc đó làm tướng cho nghĩa quân chống Pháp ở Nghệ An.

Cầm Bá Thước còn lên Bất Mọt sang mường Man Duy gặp Tạo Cống là thủ lĩnh người Thái ở đây để vận động Tạo Cống cung cấp lương thực, cá mắm bóp thính, các lâm thủy sản quý để giúp đỡ cho quân lương của nghĩa quân Trịnh Vạn. Như thế từ trung tâm Trịnh Vạn, nghĩa quân đã mở rộng hoạt động ra các huyện xung quanh Thường Xuân.

Lúc này vấn đề vũ khí cho nghĩa quân rất cấp bách. Cầm Bá Thước giao cho Bang Lự, suất đội Piếng và suất đội Liêu chọn khu rừng sâu ở chân núi Bù Đình giáp với Hòn Long xây dựng một xưởng quân khí để rèn vũ khí cho quân sĩ. Cầm Bá Thước cho thu nhặt sắt thép là những nông cụ hỏng ở các gia đình phục vụ cho việc rèn vũ khí, nhưng xưởng cũng chỉ rèn được giáo mác và súng kíp, súng hỏa mai. Lúc đầu do phải đối phó với nghĩa quân Hùng Lĩnh ở mạn xuôi, quân Pháp chưa đủ lực lượng để tấn công Trịnh Vạn. Sau trận tập kích đồn Yên Lược thắng lợi vào đêm ngày mùng 2-12-1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh rút lên Trịnh Vạn. Ở Trịnh Vạn, Tống Duy Tân để lại số lương thực và vũ khí cho Cầm Bá Thước, còn nghĩa quân Hùng Lĩnh được biên chế gọn nhẹ tiến lên Mường Kỷ mong hợp quân với cánh quân Đốc Ngữ chuyển ra Bắc, nhưng rồi quân Hùng Lĩnh cũng bị yếu sức không đủ sức chiến đấu nữa, sau đó Tống Duy Tân bị bắt.

Trước năm 1892, khi cánh quân Hùng Lĩnh hoạt động mạnh thì quân Pháp bao vây mà chưa tấn công Trịnh Vạn. Khi các cánh quân khác tan rã, quân Pháp cô lập Trịnh Vạn nên tháng 3-1883 Cầm Bá Thước phải tạm điều đình và trá hàng với công sứ Pháp ở Thanh Hóa, nhưng quân Pháp không bao giờ tin Cầm Bá Thước hạ vũ khí.

Khi nghĩa quân Phan Đình Phùng phát động lại phong trào kháng chiến ở vùng Hương Sơn, Cầm Bá Thước đã cho Bang Lự vào liên hệ với nghĩa quân Phan Đình Phùng và được cụ Phan công nhận Trình Vạn là quân thứ Thanh Hóa của nghĩa quân Hương Sơn. Nghĩa quân Hương Sơn có viện trợ cho nghĩa quân Trịnh Vạn một số súng làm theo kiểu Pháp, nhưng số lượng không lớn lắm.

Sau đó nghĩa quân Hương Sơn cũng bị quân Pháp bao vây. Toán quân của Bang Lự vào liên hệ với nghĩa quân Hương Sơn cũng không khai thông được tình thế.

Tháng 2-1894, giám binh Lemeray từ Thanh Hóa kéo quân lên Cửa Đặt. Chúng cướp phá đốt các nhà ở Cửa Đặt và xung quanh, đóng quân lại ở Cửa Đặt chờ tấn công Trịnh Vạn. Lemeray khẳng đình Cầm Bá Thước chỉ trá hàng, còn vẫn chuẩn bị chiến đấu.

Quân Pháp tấn công Trịnh Vạn gồm ba toán. Toán thứ nhất do Cavelin đi theo sông Chu. Cánh thứ ba do Marlin chỉ huy từ phía Nam theo sông Luộc, còn cánh quân do Lecal chỉ huy men theo sông Đạt. Thấy quân Pháp tấn công Trịnh Vạn, Cầm Bá Thước hạ lệnh tấn công đồn Thổ Sơn cách Bãi Thượng 10km vào ngày 11-2-1894. Đêm hôm đó, quân Pháp đóng ở Yên Lược tiếp viện trong đêm cho đồn Thổ Sơn. Sáng hôm sau toán quân tiếp viện này tấn công Quang Thôn; thấy quân tiếp viện lên, quân ta đang đánh Thổ Sơn cũng rút về căn cứ.

Cầm Bá Thước cho hết dân sơ tán vào rừng, thanh niên ở lại chiến đấu. Giặc Pháp tấn công đồn Bù Lẹ, Bù Đồn. Dựa vào công sự có sẵn, nghĩa quân chống cự quyết liệt, quân Pháp bị thương và chết rất nhiều. Khi cuộc chiến đấu quyết liệt thì cánh quân do Marlin kéo tới. Cầm Bá Thước thấy Pháp có viện binh bèn rút quân về Cọc Chẽ (nay ở xã Xuân Lệ) ở phía Đông Nam Trịnh Vạn.

Chiếm được Trịnh Vạn, quân Pháp xây đồn mới ở Bù Đồn và Đồng Choong để chống lại nghĩa quân. Chúng bắt bớ và tàn sát rất dã man, chúng quật mả gia đình Cầm Bá Thước. Cầm Bá Thước bố trí một trận địa lớn, ông cho lý trưởng làng Cúc là Hà Văn Vạn trá hàng. Ngày 29-1-1895 quân Pháp tấn công Cọc Chẽ do ông Vạn dẫn đường. Khi qua chỗ bố trí phục binh, quân ta từ trên cao bắn xuống rất mạnh. Các bẫy đá để trên cao cũng trút xuống đầu quân Pháp. Cuối cùng quân Pháp chiếm được Cọc Chẽ nhưng gần tối cũng rút về Trịnh Vạn vì sợ bị tấn công. Nghĩa quân rời Cọc Chẽ vào xây dựng căn cứ ở Hòn Bòng giáp giới Thanh Nghệ ở thượng nguồn sông Đặt.

Nghĩa quân liên tục phục kích làm cho địch ăn ở không yên.

Trước tình hình luôn luôn bị quấy rối, giặc Pháp tập trung thêm binh lực bình định Trịnh Vạn. Ngày mùng 10-5-1895 giám binh Marlin dẫn 200 lính đánh vào Hòn Bòng. Sau bốn ngày liên tục chiến đấu, nghĩa quân suy yếu rõ rệt. Mối liên hệ của Thanh thứ với nghĩa quân Hương Sơn bị cắt đứt vì chính lúc này nghĩa quân Hương Sơn cũng bị bao vây ngặt nghèo, còn các phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa đều tan cả. Ngày mùng 3-5-1895, Cầm Bá Thước bị giặc Pháp bắt tại Bản Cà. Chúng đưa ông về Trịnh Vạn để mua chuộc ông. Chúng hứa cho ông làm quan cai trị Thường Xuân, Lang Chánh, nhưng ông từ chối.

Khi giặc dẫn ông qua Cửa Đặt, ông bẻ một cành cây ném xuống đất và dặn lại: Nếu có thế nào nơi đây là đền thờ ta.

Không mua chuộc được Cầm Bá Thước, giặc Pháp giết ông, một con người kiên cường yêu nước kết thúc cuộc đời ở tuổi 36 sau 10 năm chống giặc.

Nhân dân tôn vinh ông, lập đền thờ ông ở Cửa Đặt. Tại đền thờ có đôi câu đối:

Bất tử đại danh thùy vũ trụ;
Như sinh chính khí tác sơn hà.


Dịch là:

Danh thơm chẳng mất trong trời đất;
Chính khí mãi còn với núi sông.


Sau Tổng khởi nghĩa năm 1945 nhân dân tôn vinh ông đặt tên ông cho tên một huyện miền núi Thanh Hóa. Điều đó nói lên rằng Cầm Bá Thước là thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân cả tỉnh Thanh Hóa, chứ không riêng huyện Thường Xuân.

Hà Nội, tháng 3 năm 2007
_______________________________________
1. Nguyễn Văn Thành: Nhà nghiên cứu lịch sử, Chi hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hà Nội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #104 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 09:05:20 pm »


PHAN KHÁNH1
VAI TRÒ CỦA CAO THẮNG
TRONG KHỞI NGHĨA PHAN ĐÌNH PHÙNG


Sau khi ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) để mất 3 tỉnh miền Đông, triều đình Huế một mặt đàm phán chuộc đất, nhưng mặt khác lại chủ trương bất đề kháng, giao luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ còn lại cho Khâm sai Phan Thanh Giản, người chỉ đàm phán một ngày với Pháp đã ký Hòa ước dâng đất, đến mức Tự Đức phải chỉ mặt mà mắng: “Hai ngươi (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp) không chỉ là tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân của muôn đời nữa”.

Và đến năm 1867, ông quan chủ hàng này chỉ trong 7 ngày (18-6-1867 đến 24-6-1867) đã dâng trọn phần đất còn lại của Nam Kỳ cho Pháp, đôi bên vô sự không đổ một giọt máu. Nam Kỳ lục tỉnh trở thành vùng đất hải ngoại của Pháp có chính phủ riêng.

Thay vì một mất một còn với giặc thì triều đình Huế lại “hữu nghị” mời tàu chiến của Pháp được tự do đi lại trên đất Bắc Kỳ, để giúp đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân và cắm luôn tên lái súng kiêm gián điệp nằm vùng Jean Dupuis trên sông Hồng.

Cuối năm 1873, soái phủ Pháp ở Nam Kỳ lấy cớ giải quyết mâu thuẫn giữa J. Dupuis với quan lại Bắc Kỳ đã cử Françis Garnier mang theo 100 lính với hai tàu chiến nhỏ ra Hà Nội để khai thông.

Bất ngờ ngày 20-11-1873, viên đại úy 24 tuổi đầu này tấn công hạ thành Hà Nội trong chớp mắt. Thống đốc quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương, tướng giữ thành bị bắt, con trai là Nguyễn Lâm tử trận.

Quân Pháp thừa thắng đánh chiếm luôn Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình và Nam Định trong vòng 20 ngày (20-10-1873 đến 10-12-1873).

Dân chúng Bắc Kỳ lập tức nổi dậy, phối hợp với một số quan quân yêu nước và quân Cờ Đen, phản công quyết liệt giết chết F.Garnier tại Giảng Võ (Hà Nội).

Quân Pháp phần đông là ngụy quân mới tuyển mộ, mất chủ tướng, hoang mang cực độ, đang muốn rút thì Tự Đức lại ra lệnh cho quan quân “bất đề kháng”. Sau đó cử Nguyễn Văn Tường cùng Philastre (đại diện Pháp) ra Hà Nội, ký thêm một Hàng ước nhục nhã hơn.

Hàng ước Giáp Tuất (1874), tuy Pháp rút khỏi Bắc Kỳ, nhưng đổi lại lực lượng Pháp được đóng giữ độc quyền các cửa biển Thị Nại, Hải Phòng, Hà Nội, được tự do đi lại trên đất Bắc Kỳ, Trung Kỳ, cấm triều đình Huế thương mại với tất cả các nước.

Hàng ước nhục nhã này còn gây căm phẫn trong nhân dân hơn là Hàng ước Nhâm Tuất (1862). Nhiều nơi nổi dậy đánh Pháp và đánh cả triều đình.

Đặc biệt là phong trào ở Nghệ Tĩnh do Trần Tấn (Nghệ An), Trần Quang Cán (Hương Sơn) và Ngô Huy Diễn (Thạch Hà), Trương Quang Thủ (Quảng Bình) lãnh đạo. Nghĩa quân đông tới mấy vạn người, chia làm mấy cánh.

Cánh quân Trần Quang Cán là xuất sắc nhất đã đánh hạ tỉnh thành Hà Tĩnh.

Triều đình phải kêu gọi sự trợ giúp của Pháp mới dẹp được. Lúc này Cao Thắng 11 tuổi đã đi theo Trần Quang Cán và cũng đã có chiến công bị quan quân để ý. Khi khởi nghĩa thất bại, Cao bị bắt và có thể bị giết, nhưng nhờ cụ Phan Đình Thuật (anh ruột Phan Đình Phùng) đang làm giáo thụ, bảo lãnh đem về nuôi dạy.

Mấy năm sau, Cụ Thuật mất. Cao về làng Tuần Lễ (nay là Sơn Lễ) sinh sống, lại bị cường hào vu cáo để cướp ruộng và bị bắt giam tại tỉnh thành Hà Tĩnh để chờ ngày xét xử và có thể bị ghém, vì bị vu tội giết người.


1 - Cao Thắng người tổ chức chuẩn bị lực lượng và địa bàn cho khởi nghĩa Phan Đình Phùng.

Ngày nay sách báo và nhiều người cứ nghĩ rằng cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng liên tục trong 11 năm (1885-1895), nhưng sự thực là có 2 giai đoạn.

Trong khi thời cuộc biến chuyển như trên thì năm 1876 Phan Đình Phùng mới thi đậu Cử nhân, năm 1877 thi Hội đỗ đầu khoa Tiến sĩ (Đình nguyên), được bổ làm quan. Năm Tự Đức thứ 31 được về triều làm Đô sát Ngự sử.

Năm 1883 Tự Đức mất, quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lũng đoạn. Bốn tháng phế ba vua. Phan Đình Phùng lên tiếng phản đối, bị Thuyết cách tuột xuống thứ dân và đuổi về quê Đức Thọ làm ruộng.

Năm 1883, triều đình Huế ký với Pháp Hàng ước Harmand sau khi Pháp chiếm Hà Nội lần 2, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Tiếp đó, năm 1884 là Hàng ước Patenôtre, dâng toàn bộ Việt Nam cho Pháp.

Vua Hàm Nghi xuất bôn phát động Cần vương chống Pháp. Phan Đình Phùng đứng ra tổ chức khởi nghĩa (giai đoạn 1) tại làng Đông Thái (Đức Thọ) khí thế rất mạnh, nhưng nhanh chóng bị đánh tan. Cụ Phan thu thập tàn quân lên vùng Hương Sơn hoạt động. Đến đầu năm 1887 tình thế khó khăn, cụ Phan ra Bắc Kỳ (trú tại Sơn Tây) để vận động sĩ phu Bắt hà. Các đám tàn quân của khởi nghĩa ở Hà Tĩnh cũng lần lượt bị đánh tan. Trong đó có cánh quân của cậu ấm Lê Ninh (làng Trung Lễ - Đức Thọ) là cánh quân đã đánh hạ tỉnh thành Hà Tĩnh, giải thoát tù nhân trong đó có Cao Thắng. Giai đoạn này Cao chưa có vai trò gì trong khởi nghĩa.

Sau khi cụ Phan ra Bắc, Cao Thắng đã tập hợp bạn bè và thu thập nghĩa quân đang tan tác, tự mình xây dựng căn cứ tại vùng núi Đại Hàm (Hương Sơn) vốn xưa kia là của Trần Quang Cán. Tài kiêm văn võ, lắm mưu lược, qua hai lần thoát chết Cao càng chín chắn hơn.

Những năm đầu dưỡng binh súc nhuệ, Cao dấu kín tung tích, không cướp bóc đốt phá, đặc biệt là không sát tả (giết người theo đạo Thiên chúa). Nghĩa quân tự góp tài sản và khai hoang sản xuất tự túc. Đến lúc nghĩa quân bắt đầu có thực lực khoảng vài ba trăm người thì có hai vấn đề lớn đặt ra. Về tài chính để lo quân trang và mua sắm vũ khí, Cao bắt đầu phải tổ chức quyên góp theo đầu mẫu ruộng trong vùng Cao kiểm soát. Với những nhà giàu thỉnh thoảng có những đợt quyên góp thất thường. Cá biệt có một số trường hợp bị mời lên sơn trại. Cụ nội tôi cũng được mời lên trong 10 ngày, kể lại rằng không ai bị đánh đập giết chóc, không có tiền nộp cũng cho về. Chỉ có quan lại, lính tráng bị bắt mới phải bỏ tiền chuộc. Về vũ khí, Cao có cả một đội thợ rèn lành nghề điều từ làng rèn nổi tiếng Vân Chàng (Đức Thọ) lên. Niềm day dứt của Cao là chế súng Tây, đạn Tây. Cao treo giải một ngàn đồng (bạc đầm xòe do Pháp đúc) để có một khẩu súng Tây, vẫn tìm không ra. Bỗng có một nhân sĩ Nam Đàn, có người bà con đi lính tập, tiết lộ ngày giờ đưa tiền từ Vinh lên Hương Sơn để phát lương, có mang súng Tây, vội đến báo cho Cao biết. Cuộc phục kích thành công. Cao có đến 14 khẩu súng và mấy hòm bạc. Cao đích thân cùng thợ rèn tháo từng bộ phận ra, mầy mò chế tạo. Nòng súng dùng gọng ô của Tàu, mâm thau nồi đồng được quyên góp và mua về để làm vỏ đạn. Những khẩu súng do Cao chế tạo tuy bắn không xa, do nòng không có rãnh khương tuyến, thuốc súng tự chế, nhưng vẫn đủ sức giết giặc trong cự ly 100 mét.

Nghĩa quân Cao Thắng lúc này là lực lượng duy nhất hùng cứ dãy núi Đại Hàm (Hương Sơn) có trên 500 tay súng. Chỉ làm một toán lục lâm hùng mạnh thì chắc là Cao đã thỏa. Nhưng mục đích của đời Cao là đuổi Tây Dương ra khỏi cõi. Cao tự cho mình tài trí thì không ngại, nhưng uy tín để dựng cờ Bình Tây (đánh Pháp) thì chưa đủ. Cao thường nói với nghĩa quân là làm một đám Cờ vàng như Trần Quang Cán, ông không ngại. Nhưng muốn mưu đồ đại sự phải có một bậc minh chủ đức cao vọng trọng, vang khắp ba kỳ, mới tập hợp được sĩ phu. Ông cũng nói bình sinh không ưa gì vua quan, nhưng kẻ sĩ phải biết lấy quốc thù làm trọng. Cụ Đình nguyên (Phan Đình Phùng) là trang sĩ vọng khí tiết, xứng đáng làm chủ súy Bình Tây. Năm 1889, Cao cho người ra Bắc, bí mật đón cụ Phan về theo thuyền buôn nước mắm đến Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên) lên Hương Sơn cũng bằng thuyền nước mắm.

Có thêm ngọn cờ soái danh vọng, nghĩa quân phát triển rất nhanh. Các tướng lĩnh cũ của triều đình và của các toán nghĩa quân bấy lâu trốn tránh đều theo về, nhiều tay kiệt hiệt như Lãnh binh Nguyễn Mục, Hiệp quản Lê Đình Quý. Trong số anh em đồng chí như Cao Đạt, Nguyễn Niêm, Cao Nữu cũng đã trở thành tướng lĩnh giỏi giang. Nhất là Cao đã nhận được sự cộng tác của cô Tám, một người đàn bà võ nghệ cao cường, trí dũng song toàn, đi lại Lào Xiêm như đi chợ, đảm bảo việc mua thuốc súng ngoại nên đạn bắn rất xa.

Đại bản doanh Vụ Quang (Hương Khê giáp Hương Sơn) là một vị trí hiểm trở, một người giữ trăm người khó đánh. Vị trí nằm gần đồng bằng mà không xa đại ngàn, tiến dễ công thoái dễ thủ. Cao cũng đã đắp đồn, lập kho chứa lương chứa súng.

Tóm lại toàn bộ lực lượng và cơ sở vật chất, địa bàn hoạt động cho khởi nghĩa giai đoạn hai đã được Cao chuẩn bị đầy đủ trước khi đón cụ Phan về.
___________________________________
1. Phan Khánh: Nhà nghiên cứu lịch sử, Hội Khoa học Lịch sử Tp. Hồ Chí Minh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #105 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 09:06:54 pm »


2 - Cao Thắng là trụ cột của cụ Phan trong tổ chức, rèn luyện nghĩa quân và chỉ huy chiến đấu

Dưới ngọn cờ của cụ Phan, nghĩa quân nhanh chóng phát triển đến hàng vạn người. Cụ Phan đã phong Cao làm Đổng nhung tiết chế đứng đầu các tướng.

Ơn quân tướng Đổng nhung dâng mệnh cầm ấn quan phòng.

(Văn tế Cao Thắng)


Nghĩa quân chia thành nhiều quân thứ đóng từ Quảng Bình đến Thanh Hóa. Đông đến 500, ít cũng tới 100 lính. Đại đồn túc trực 500 đến 1000 quân, luân phiên từ các quân thứ lên phục vụ, theo Cao là để thống nhất rèn luyện và khi cần truyền đạt mệnh lệnh cho các quân thứ có người quen lối dễ đi.

Từng đội quân đều có sắp đặt súng kiểu Tây (1874), súng kíp và gươm giáo để phối hợp: khi ra trận, súng kíp nạp hậu chậm, được chia thành 2-3 toán bắn so le, để lúc nào cũng có súng nổ.

Gosselin đại úy chỉ huy đàn áp nghĩa quân lúc đó đã viết trong nhật ký hành quân: “Người chủ tướng (Phan Đình Phùng) khởi binh cầm đầu bốn tỉnh đánh lại chúng ta (Pháp) tỏ ra có tài năng tổ chức lạ đùng. Ông ta biết tập rèn quân lính theo kỷ luật và chiến pháp Châu Âu, lại mang súng kiểu 1874 do ông ta chế tạo rất nhiều. Nhưng chế tạo bằng cách nào thì không ai biết”.

Cao Thắng vừa là vị Đổng nhung tài năng mưu lược, vừa là một chiến tướng bách thắng.

Địa bộ vốn theo dòng Nhạc Mục, thét nhung bào từng ghe trận oai linh.
Thiên tài toan học chước Võ Hầu chế súng đạn biết bao chừng cơ trí


(Văn tế Cao Thắng)


Những trận đánh thắng lớn của nghĩa quân như trận đánh ở Can  Lộc, nghĩa quân tiến sát tỉnh thành Hà Tĩnh, trận chống càn vào núi Vụ Quang, đặc biệt là trận bắt sống tuần phủ Đinh Nho Quang, đầu sỏ tiễu phủ sứ của giặc đều có mưu lược của ông hoặc đích thân ông chỉ huy. Chiến đấu xuất quỷ nhập thần đến mức quân địch gọi Cao là ông Hổ (Seigneur Tigre), thường tránh giao phong với Cao. Ra trận ông thường xông pha trước sĩ tốt.


3 - Cao Thắng, nhà chiến lược của nghĩa quân

Trong những năm 1891-1892, nghĩa quân ở vào thế thượng phong. Bọn quan lại tay sai run sợ, nhất là sau khi Đinh Nho Quang bị bắt tại hang ổ. Thực dân Pháp buộc triều đình Huế phải mộ thêm hàng vạn ngụy quân, đồn bốt ken dày chi chít, ngăn không cho dân liên lạc với nghĩa quân, phát hiện là xử chém cả nhà. Đồng thời kéo trọng binh Âu Phi súng ống tối tân đóng giữ, một tiểu đoàn tại Quảng Bình do đại úy Monte chỉ huy. Còn hai tiểu đoàn đóng tại Vinh và Hà Tĩnh, trong đó có Gosselin chỉ huy, vừa ngăn chặn, vừa chi viện ngụy quân, vừa tổ chức càn quét lớn khi có thời cơ.

Cao Thắng đã sớm nhìn thấy âm mưu thâm độc “tát ao bắt cá” của Pháp. Cao và bộ tham mưu cùng với cụ Phan đã suy nghĩ rất nhiều về thế giằng co bất lợi này. Bề ngoài thì nghĩa quân đang thắng thế, nhưng cái cơ thất bại thì đang lù lù tiến đến. Mặt khác Cao cho rằng nghĩa quân đã đến độ trưởng thành, không nhân cơ hội này mà mở một cuộc tổng phản công chiến lược giành lấy vùng đất Thanh - Nghệ - Tĩnh để làm nơi căn bản thì chỉ còn chờ chết. Kế hoạch tiến hành được vạch ra chu đáo. Tuyển tinh binh quyết tử trên 1000 người đưa về núi Vụ Quang huấn luyện, quân phục toàn màu đỏ, súng ống loại tốt nhất. Chỉ huy là các dũng tướng Cao Nữu, Cao Đạt, làm đội quân đột phá chiến dịch. Đội quân này bất ngờ từ thượng đạo Hương Sơn thực hiện chiến thuật gió lướt quét sạch đồn bốt dọc đường, thẳng tới thành Vinh đánh hạ nhanh nhất. Để hỗ trợ đột phá chiến dịch, toàn bộ các quân thứ nhất loạt động binh, nơi nào giả vờ đánh cướp tỉnh thành nơi ấy, để chúng lo sợ không dám chi viện. Một khi chiếm được thành Vinh, nhất loạt các quân thứ sẽ chuyển từ đánh vờ sang đánh thật, trường khai đại tiến để hoàn thành mục tiêu chiến lược. Được cụ Phan và bộ tham mưu đồng ý, tháng 10 âm lịch năm Quý Tỵ (1893) chiến dịch thực hiện mục tiêu chiến lược bắt đầu.


4 - Từ sai lầm chủ quan, Cao Thắng đã hy sinh dẫn đến khởi nghĩa thất bại hoàn toàn

Theo sử sách, theo truyền miệng địa phương và theo lời kể của cụ Cao Đạt (vào năm 1934-1940) cho người viết bài này nghe thì Cao Thắng trắng trẻo béo tốt, râu quai nón trông như Tây (đã đóng giả quan hai Tây khi đi bắt Đinh Nho Quang), giữa hàng trăm người rất dễ nhận ra. Không thấp bé, nhưng tướng “ngũ đoản”, người ta cho rằng số phận sẽ là “Quyết chiến sa trường bất đắc kỳ tử”. Nhiều người tâm huyết đã nhắc nhở Cao rằng thân làm đại tướng phải lấy toàn quân làm trọng, phải biết lúc nào thì “cỡi bào đổi áo” để mưu đại sự, liều lĩnh xông pha chỉ là một viên kiêu tướng.

Nhưng số trời đã định, cụ Phan đã khóc trước linh cữu của Cao:

Vi tiệp tiên tử, thiên ý vi hà.

Chưa thắng đã chết, lòng trời sao vậy?

Đích thân Cao chỉ huy cánh quân này không có gì là sai lầm trong chiến thuật. Nhưng chỉ một sai lầm nhỏ đã lật đổ cả thế cờ. Nguyên do vừa mới ra quân, Cao đã thắng như chẻ tre. Hơn chục đồn bốt trên đường, cái chống cự lâu nhất là nửa ngày, cái nhanh nhất là một vài giờ.

Đến đồn Nu ở Thanh Chương, cách thành Vinh không còn bao xa thì trời vừa tối. Tướng giữ đồn là Một Phiến (người Hưng Nguyên), một nghĩa quân phản bội theo giặc phạm nhiều tội ác, được giặc phong lên Thiếu úy. Hắn biết mặt và biết cả tính tình liều lĩnh khi xung trận của Cao. Hắn đã dùng kế nghi binh cho Cao lâm vào thế trước sau thụ địch. Nghĩa quân vẫn có thể thắng, nhưng tên Phiến nham hiểm nhận ra Cao trong lửa đạn, hắn đã tập trung toàn bộ hỏa lực nhắm vào ông và ông đã hy sinh. Nghĩa quân rút lui, chiến dịch thất bại. Tác giả Đào Trinh Nhất đã viết khi nói đến đoạn Cao chết: Cái cột trụ đã gãy, tòa nhà đâu còn có thể đứng được. Còn cụ Phan thì vật vã than khóc: Trời hại tôi ông Cao Thắng ơi!

Nghĩa quân tuy sau đó còn cầm cự được chưa đầy hai năm rồi cũng tan rã sau khi cụ Phan qua đời tháng 12 năm 1895.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2007
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #106 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 09:10:37 pm »


ĐẶNG HOÀ CẦM1
NGUYỄN CAO ĐÔN
VÀ PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
CHỐNG PHÁP CUỐI THẾ KỶ XIX


Cử nhân Nguyễn Cao Đôn sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo có truyền thống, là con trai trưởng Bố chánh sứ tỉnh Cao Bằng, Cử nhân Nguyễn Cao Bính là cháu đích tôn án sát sứ tỉnh Nam Định, Cử nhân Nguyễn Thường Trân có một người chú đậu ba khoa Tú tài và một người chú khác đậu một khoa Tú tài. Thời nhà Lê, có vị tổ họ Nguyễn Cao đậu đồng Tiến sĩ làm đến chức Đô Ngự sử. Cả bên nội bên ngoại của ông đều có nhiều người học giỏi, như Đặng Trạc Triều, Lê Thị Hội đậu Tam trường; Đặng Văn Kiều (triều Nguyễn) đậu Đình nguyên Thám hoa; có người đi thi không đậu mở trường dạy học có nhiều học trò thi đậu Cử nhân, Tú tài v.v...

Nguyễn Cao Đôn sớm có lòng yêu nước, là người thông minh dĩnh ngộ, kiên cường bất khuất, rất đồng tình và ngưỡng mộ cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1847) của văn thân Nghệ Tĩnh, nhưng lúc đó còn nhỏ mới 14 tuổi, chưa có thế lực nên chưa tham gia được. Ông nhận thấy muốn đứng ra tập hợp lực lượng chống lại bọn xâm lược Pháp thì phải có thế lực. Muốn có thế lực, không có con đường nào khác là phải thi cử, thành đạt mới có điều kiện, có thanh thế đứng ra tập hợp lực lượng chống lại bọn xâm lược. Vì thế ông dành toàn bộ thời gian vào việc học tập. Vốn sẵn tính thông minh, 16 tuổi dự thi Hương, ông đậu Tú tài. Khoa thi Hương năm Nhâm Ngọ (1882) ông dự thi và đậu Cử nhân, lúc này ông 22 tuổi.

Sau khi đậu Cử nhân, Nguyễn Cao Đôn đã thân hành tìm gặp các vị thân hào, chí sĩ, những người có chí hướng trong vùng Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc v.v... để bàn kế hoạch tập hợp lực lượng, xây dựng các căn cứ địa chống giặc, chuẩn bị về quân số, vũ khí, hậu cần, kế hoạch hợp tác chiến v.v... Đầu năm 1885, các căn cứ địa về cơ bản hình thành, như căn cứ Động Đâu (nay là vùng hồ chứa nước sông Rác), căn cứ Truông Xai (vùng núi Thạch Xuân), căn cứ Phất Nạo v.v... Riêng căn cứ Phất Nạo do Nguyễn Cao Đôn trực tiếp phụ trách, ở đây đã tiến hành rào làng, đắp luỹ, đào chiến hào, có bãi tập, có nơi đóng quân, có kho tàng, có lò rèn đúc vũ khí gươm giáo v.v.. Giúp việc cho Nguyễn Cao Đôn, ngoài hai người em ruột của ông là Nguyễn Cao Điều và Nguyễn Cao Kỳ còn có ba người con trai của cụ Phó bảng Bùi Thố ở Phú Phong (nay là Thạch Khê) là Bùi Đăng, Bùi Đệ và Bùi Long, và một vị nữa thường gọi là ông Đốc Long (ông này võ nghệ rất giỏi, có nhiều chiến công, sau khi phong trào thất bại không biết lưu lạc nơi nào). Sau đó lại có Hoàng giáp Nguyễn Hữu Chính, người Nghi Lộc, Nghệ An, tham gia nghĩa quân Cần vương, qua trận đánh ở Thanh Chương, nghĩa quân bị tổn thất nặng, hai người con trai của ông bị tử trận, ông kéo quân vào Hà Tĩnh tham gia hoạt động với nghĩa quân của Nguyễn Cao Đôn.

Cùng với phong trào chung của cả tỉnh, vùng Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh... dưới ngọn cờ khởi nghĩa Cần vương của Nguyễn Cao Đôn và các chí sĩ trong vùng, phong trào rất sôi nổi, nhân dân nô nức hưởng ứng, các tráng đinh trong vùng đều tham gia nghĩa quân.

Khi xa giá vua Hàm Nghi ra tới Sơn phòng - Phú Gia, Hương Khê ngày 20 tháng 9 năm 1885 xuống Chiếu Cần vương lần thứ hai, kêu gọi nhân dân nổi dậy chống giặc cứu nước, Nguyễn Cao Đôn là người đầu tiên cùng với các sĩ phu yêu nước trong vùng lên Phú Gia, Hương Khê bái yết vua Hàm Nghi và báo cáo tình hình hoạt động của nghĩa quân trong vùng với nhà vua. Nhà vua đã trực tiếp nghe và sắc phong cho Nguyễn Cao Đôn chức Hồng lô tự khanh Tán lý quân vụ đại thần, cấp cho cờ xí, con dấu bằng ngà voi, một số kim ngân chi dùng cho việc quân và giao nhiệm vụ cho Nguyễn Cao Đôn chỉ huy nghĩa quân trong vùng (hiện nay trong nhà thờ họ Nguyễn Cao ở xã Phất Nạo còn giữ được con dấu bằng ngà voi, phần chữ đã bị mòn; bản sắc phong viết tay bằng giấy bản cũ đã bị mục).

Trở về căn cứ địa, Nguyễn Cao Đôn được nhân dân tôn xưng là quan Đại, hay là quan lớn Tán, quan Tán Đôn. Ông trở thành người chỉ huy chính thức của nghĩa quân trong vùng. Từng căn cứ có người phụ trách riêng: ở Động Đâu do Hoàng Bá Xuyên phụ trách, ở Truông Xai do Nguyễn Huy Thuận và Trần Đình Lập phụ trách, căn cứ Phất Nạo do Nguyễn Cao Đôn trực tiếp chỉ huy. Đến lúc này ông đã có điều kiện để tăng cường lực lượng cho các căn cứ địa; như đã có kim ngân để mua sắm trang thiết bị cần thiết; rèn đúc vũ khí gươm, giáo; tích trữ lương thực; tăng thêm quân v.v...

Dưới cờ hiệu Cần vương của vua Hàm Nghi, buổi đầu nghĩa quân thường đánh nhau với quân của các cha cố Thiên chúa giáo phản động làm tay sai cho bọn xâm lược Pháp. Chiến trận thường xảy ra ở vùng Yên Nhiên (gần núi Nài), vùng Hạ Hoàng (nay là Thạch Trung, Thạch Hà) gần nhà thờ Thiên chúa giáo “Vạn Hạnh” và vùng Hoang Lèo, Hoang Liền thuộc xã Vĩnh Lại (nay là xã Cẩm Vịnh) gần nhà thờ Thiên chúa giáo “Vạn Thành” (nay thuộc xã Cẩm Thạch, Cẩm Xuyên).

Ngày mồng 5 tháng 11 năm 1885, được Lệnh của vua Hàm Nghi, Lê Ninh dẫn quân từ căn cứ Trung Lễ (Đức Thọ) vào hội quân với nghĩa quân Nguyễn Duy Chanh và Nguyễn Duy Trạch ở Can Lộc, rồi kéo đại quân vào Thạch Hà phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Cao Đôn, Nguyễn Huy Thuận, Trần Danh Lập (ở Thạch Hà) và quân của Hoàng Bá Xuyên, Dương Duy Dừ (ở Cẩm Xuyên). Dưới sự tổng chỉ huy của Lê Ninh, nghĩa quân hành quân cấp tốc, bí mật, bất ngờ đột nhập vào tỉnh lị Hà Tĩnh, dán yết thị khắp nơi, vạch tội bọn quan lại ở tỉnh thành là Bố chánh Lê Đại, án sát Trịnh Bưu và bọn tay sai có âm mưu phản trắc đã không những không lên Phú Gia, Hương Khê đón rước vua Hàm Nghi, mà còn liên hệ với bọn cha cố ở nhà thờ Vạn Hạnh báo cho quân xâm lược Pháp kéo quân từ Vinh (Nghệ An) vào để đón bắt vua Hàm Nghi ở Phú Gia.

Nghĩa quân bí mật chủ động đánh thẳng vào thành nội. Bọn quan tỉnh và bè lũ tay sai trở tay không kịp đã phải đền tội. Nghĩa quân toàn thắng, chiếm giữ các công sở phá nhà tù, giải thoát cho một số tù nhân như Cao Thắng (người sau này trở thành một tướng tài của nghĩa quân Phan Đình Phùng) và Nguyễn Huy Điển (một nhân vật đã tham gia khởi nghĩa Giáp Tuất 1874), thu toàn bộ chiến lợi phẩm, vũ khí, quân trang quân dụng, lương thực, tiền bạc v.v...

Chiến thắng này của nghĩa quân có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào Cần vương chung cả tỉnh, tăng thêm thanh thế cho nghĩa quân trong vùng, nhân dân rất phấn khởi, hào hứng tham gia giúp đỡ nghĩa quân, bọn quan lại đầu hàng và làm tay sai cho bọn giặc xâm lược cũng bị một phen khiếp đảm.

Hoàn thành xong nhiệm vụ, Lê Ninh để lại một ít quân giữ thành và số chiến lợi phẩm tăng cường cho các căn cứ nghĩa quân trong vùng, giao cho Nguyễn Cao Đôn phối hợp chỉ huy chung cho cả vùng. Còn mình dẫn đại quân lên Phú Gia - Hương Khê báo tiệp. Ông được vua Hàm Nghi phong chức Bang biện quân vụ và giao nhiệm vụ dẫn đại quân về bảo vệ căn cứ nghĩa quân Trung Lễ, chốt giữ con đường huyết mạch thông lên vùng núi Hương Sơn, Thượng Đức Thọ, Hương Khê nối sang Nghệ An.

Nhìn chung, buổi đầu nghĩa quân Cần vương trong vùng đã đánh thắng một số trận, thu được một số thắng lợi, gây được khí thế cho phong trào. Tuy vậy khi quân xâm lược Pháp lợi dụng được bọn cha cố Thiên chúa giáo phản động và bọn quan lại đầu hàng tay sai, chúng đã đổ quân vào chiếm đóng Vinh (Nghệ An) và có kế hoạch thôn tính dần từng vùng, nhất là những vùng đồng bằng, giao thông thuận lợi. Do vậy các căn cứ nghĩa quân ở những vùng này bị uy hiếp. Các căn cứ Trung Lễ, Đông Thái lần lượt bị thất thủ, phải dời lên vùng Hương Sơn, vùng Thượng Đức Thọ và Hương Khê, tỉnh thành Hà Tĩnh sau đó cũng bị quân Pháp chiếm lại, các căn cứ Phất Nạo, Truông Xai v.v... bị uy hiếp. Thời gian này đã diễn ra những trận đánh ác liệt, như trận Yên Nhiên (gần núi Nài - xã Đại Nài), Hoàng giáp Nguyễn Hữu Chính bị tử trận; trận Hạ Hoàng (nay là Thạch Trung, Thạch Hạ) gần nhà thờ Vạn Hạnh nghĩa quân bị thiệt hại nặng, “Voi bị sa lầy, chết cả quân lẫn voi, súng bắn lại tịt ngòi...” (Vè thất trận), nghĩa quân phải rút lui. Tiếp sau đó ở vùng Hoang Lèo, Hoang Liền thuộc xã Vĩnh Lại (nay là Cẩm Vĩnh) cũng xảy ra trận đánh ác liệt, quân giặc từ vùng nhà thờ Thiên chúa giáo Vạn Thành kéo xuống, hai bên quần nhau ác liệt tử thương nhiều. Trận này phía nghĩa quân có vị võ tướng có tên tuổi là Trần Vĩnh Thiệng chết chém tại trận (hiện trong vùng còn có ngôi mộ của ông).

Như vậy căn cứ Phất Nạo trực tiếp bị uy hiếp, tình thế có thể không giữ nổi, Nguyễn Cao Đôn đã cùng một số người còn lại trong bộ chỉ huy quyết định dời vào vùng núi Động Đâu cùng Hoàng Bá Xuyên bàn cách củng cố lại lực lượng. Riêng căn cứ Phất Nạo cử người phụ trách cất giấu tài liệu, vật dụng cần thiết và một số kim ngân còn lại, vận động nhân dân sơ tán sang các vùng Yên Ốc, Quyết Nhược, Hoàng Hà để lánh nạn. Toàn xã trở thành vườn không nhà trống. Hôm sau bọn giặc tràn vào, thực hiện phương châm phá sạch, đốt sạch.

Sau khi căn cứ Phất Nạo bị giặc chiếm, các căn cứ Truông Xai và Động Đâu cũng bị uy hiếp nặng, một số người bị giết, hai người em ruột của Nguyễn Cao Đôn bị tử trận. Do đó có một số người hoang mang dao động, muốn khuyên Nguyễn Cao Đôn ra đầu hàng. Giặc lại phao tin nếu ông ra đầu hàng sẽ không bị giết mà có thể còn được sử dụng. Ông kiên quyết không đầu hàng giặc, và quyết ý định nếu căn cứ Động Đâu không giữ nổi thì sẽ rút quân luồn rừng lên vùng Hương Khê phối hợp với nghĩa quân Phan Đình Phùng. Biết không lung lạc được ý chí của ông, chúng bố trí kế hoạch bắt cóc ông.

Biết ông là người rất có hiếu, lại là con trưởng, đến ngày giỗ thân phụ thế nào ông cũng về qua nhà, nên bọn giặc đã bí mật sắp sẵn kế hoạch để bắt ông.

Quả vậy, ngày mồng 9 tháng 11 âm lịch là kỵ nhật của thân phụ, nếu không về qua nhà thắp hương ngày kỵ của thân phụ thì không đành lòng. Suy nghĩ đắn đo kỹ, cuối cùng ông quyết định sẽ ghé về nhà vào tối ngày mồng 9 tháng 11 (âm lịch). Khi về, ông bí mật không cho ai biết. Vào khoảng gần nửa đêm, vừa bước vào cổng làng thì ông bị bọn mật thám bắt và giải về giam tại nhà lao Hà Tĩnh trong hai tuần lễ. Thời gian này chúng dùng đủ mọi thủ đoạn nào dụ dỗ mua chuộc, rồi tra tấn đánh đập, nhưng ông vẫn kiên quyết một lòng, một dạ không khuất phục, không đầu hàng. Sáng ngày 25 tháng 11 chúng giải ông vào căn cứ Động Đâu. Khi gần tới nơi, ông nói là bị lạc đường phải trèo lên cây cao để tìm hướng. Khi đã ở trên cây cao, ông mới chửi mắng bọn giặc cướp nước, hô to để cho nghĩa quân biết cách đối phó, đồng thời phóng uế lên đầu bọn giặc. Giặc dùng súng bắn ông rơi xuống đất, rồi dùng côn đánh chết. Giặc bỏ xác ông lại và tiếp tục xua quân sục sạo đuổi bắt số nghĩa quân còn ẩn nấp trong rừng. Thừa lúc bọn giặc đang sục sạo trong rừng, nhân dân địa phương đã bí mật thu giấu được thi hài ông. Khi bọn giặc quay trở lại tìm không thấy xác của ông, trời lại sắp tối, chúng đành rút quân trở về Hà Tĩnh.

Vài ngày sau khi tình hình tạm yên, nghĩa quân xã Phất Nạo do ông Nguyễn Huy Thướng phụ trách đã vào tận vùng Động Đậu tìm kiếm. Biết được thi hài người bị giặc giết đã được nhân dân địa phương thu giấu, ông Nguyễn Huy Thướng đã trực tiếp gặp dân trình bày rõ lý do, được dân đồng ý cho vào nhận dạng. Vì Nguyễn Cao Đôn có một đặc điểm đặc biệt là dưới bàn chân có một nốt ruồi to nên rất dễ xác định. Nhận ra đúng là thi hài của ông, Nguyễn Huy Thướng cho đưa về quàn tại quê nhà. Công việc được tiến hành rất khẩn trương và tuyệt đối bí mật.

Vào năm Nhâm Ngọ (1942), để tưởng nhớ và tôn vinh vị chí sĩ của quê hương đã tuẫn tiết vì nước, kỷ niệm 60 năm Nguyễn Cao Đôn đậu Cử nhân và tập hợp lực lượng xây dựng căn cứ khởi nghĩa Cần vương, nhân dân xã Phất Nạo cùng với họ Nguyễn Cao đã tiến hành lập đền thờ và trịnh trọng tổ chức lễ tang đưa hài cốt của vị “Hồng lô tự khanh, Tán lý Quân vụ Đại thần”, Cử nhân Nguyễn Cao Đôn, từ nơi quàn tạm về an táng tại phía sau ngôi đền mới lập. Trước đền thờ, sau lăng mộ, ngôi đền được đặt cách đường 1A khoảng 20m và cách Cầu Phủ về phía Nam khoảng 700m. Ngôi đền được gọi là Đền Quan lớn Tán (có khi gọi là Quan Tán Đôn) hay còn gọi là đền Võ Hội.

Ngày lễ khánh thành đền và lễ an táng ông được tổ chức rất trang trọng, người đến tham dự rất đông, bọn quan tỉnh có cho mật thám về theo dõi. Từ đó về sau, hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 11, nhân dân xã Phất Nạo và họ Nguyễn Cao đều tổ chức cúng viếng long trọng. Cách đây hơn 30 năm, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và những biến động trong xây dựng của địa phương, ngôi đền vô cùng thiêng liêng đó không còn nữa. May sao ngôi mộ của Nguyễn Cao Đôn đã được họ Nguyễn Cao đưa về an táng tại nghĩa địa của xã. Sự nghiệp của Nguyễn Cao Đôn từ đó cũng không còn ai nhắc nữa. Chỉ nhớ sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng được thành lập, ở thị xã Hà Tĩnh có một con đường mang tên Nguyễn Cao Đôn. Thế rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946), thực hiện tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống, thị xã sơ tán, con đường Nguyễn Cao Đôn cũng không còn. Tuy vậy, “ôn cố tri tân” là một chuyện mà các thế hệ chúng ta hôm nay cần phải làm.

Theo Tạp chí Văn hoá Hà Tĩnh số 76+77,
tháng 11+12-2004, tr.12-16
______________________________________
1. Đặng Hòa Cầm: Cộng tác viên của Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #107 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2008, 09:26:38 pm »


NGUYỄN QUỐC KHÁNH1
MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ NGUYỄN TRẠCH


Tiểu dẫn: ông Nguyễn Quốc Khánh, người cùng quê với Đề Trạch (Can Lộc), được các cụ già kể cho nghe nhiều mẩu chuyện về Nguyễn Trạch hoạt động ở giai đoạn cuối của Can thứ, khi phong trào đã tan rã, một số quân lính đã “biến chất” có nhiều hành vi tiêu cực cướp bóc... Ông gửi đến cho chúng tôi một số bài viết, trong đó có những tư liệu và mẩu chuyện truyền khẩu mà theo ông trước đây chưa hề được nhắc đến trong sách báo. Tuy chưa có điều kiện để kiểm chứng thực hư đến đâu, chúng tôi vẫn xin trích in một số để bạn đọc tham khảo.

N.B.S

Về vị trí đồn Cơn Khế

Bởi có nhiều bài viết có lầm lẫn hoặc chưa biết vị trí đồn Cơn Khế, cho nên xin sơ lược giới thiệu vùng căn cứ ấy.

Đó là một vùng đất đồi tương đối bằng phẳng, rộng chừng hai cây số vuông, nằm dưới chân rừng núi Trà Sơn, song song với dải Bụt Sơn, gọi là Bãi Rôộng, cũng được dùng làm bãi tập. Nay còn dấu tích “Hang cụ Đề” gần đó. Trà Sơn và Bụt Sơn cách nhau bằng một dải thung lũng hẹp, hồi ấy chỉ có khe suối, cỏ cây hoang và vực trống. Dọc theo thung lũng có con đường độc đạo, giao thông Bắc Nam từ hàng mấy trăm năm trước. Từ đồn Cơn Khế băng rừng Trà Sơn sang Vụ Quang rất thuận lợi như đi ra ngoài làng. Con đường 15A hiện nay có từ thời Pháp, là theo dấu con đường cũ chia cách “trong rú” và “ngoài làng” đồng bằng. Từ Khiêm Ích đi dọc con đường ấy chừng 6, 7 cây số là đến đồn Nam Huân, đi ra chừng 3,4 cây số nữa là đến Trại Pháp, dân xóm trại đã khá đông, Cố Áng là chủ trại lớn, giúp đỡ nghĩa quân khi “vô rú”, “ra làng”. Từ Trại Pháp đi ra vài cây số là Giăm Than, ở gần Đồng Lầy, hồi ấy đất bùn còn rất sâu. Từ Giăm Than đi vào Trôộc Đá gần đó, đá dựng giống như một cổng thành hiểm trở, không bao giờ địch dám đến đây để tiến vào đồn Cơn Khế. Đề Trạch đã dùng lối này đi từ Trung Hanh vào căn cứ. Chỉ đi qua xóm Hốt (thuộc làng Đông Tây) Rú Bùi là đến Giăm Than. Ở xóm Hốt ông đặt bản doanh, khi ra ngoài làng hành sự ở tại nhà ông Cu Bói, gần nhà bà Chương Nhoạn, dân xóm Hốt trở thành dân “cụ Đề”. (Trận “Cơm Sẻ” lừa bắt đội tuần binh 12 người - một người trốn thoát - của Quản Lác diễn ra tại nhà ông Cu Bói). Ngoài Giăm Than là nơi cụ Đề dừng lại để giải quyết những công việc hàng ngày, đột xuất.

Chúng tôi chỉ kể những chuyện “trong rú”, “ngoài làng” diễn ra trong phạm vi địa lý ấy, không nói chuyện trong toàn huyện.


***

Nguyễn Chanh và Nguyễn Trạch là hai anh em ruột. Khi tham gia nghĩa quân Nguyễn Chanh được phong chức Đốc biện (đốc binh - nắm toàn quyền) chỉ huy Can thứ. Vì vậy trong dân gian gọi là Đốc Chanh. Còn Nguyễn Trạch được phong chức Đề binh - đem quân đi đánh trận - phó chỉ huy Can thứ. Vì vậy nhân dân gọi là Đề Trạch - cụ Đề.

Tuy là anh em ruột, cùng xuất thân “trai phường trại...”, cùng là “Nam cận sơn...”, cùng vô học, khoẻ mạnh, làm nghề rừng rú, và cùng tham gia nghĩa quân, nhưng Đốc Chanh điềm đạm, từ tốn, chín chắn, có chừng mực, còn Đề Trạch thì hung hãn, nóng nẩy, ham gái, tham tiền, lắm mẹo ăn trộm, đặc biệt có tính đa nghi. Khi Đốc Chanh còn chỉ huy Can thứ, mọi hoạt động của Đề Trạch được giám sát. Khi Đốc Chanh rời Can thứ rồi mất, Đề Trạch lên thay, độc quyền chỉ huy Can thứ, thả sức tung hoành gây nên bao nhiêu kinh hoàng, dân gọi thời ấy là thời “loạn cụ Đề”.

Rất tiếc, chúng ta không biết rõ thời điểm Đốc Chanh rời Can thứ và hi sinh, để biết thời “loạn cụ Đề” bắt đầu từ năm nào. Sách Lịch sử Nghệ Tĩnh (t.1, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984) ghi: “Cuối năm 1892 đồn trưởng Khiêm Ích là Samaran sục sạo căn cứ... Nguyễn Chanh đã tử trận...” Sách Địa chí Can Lộc (Sở VH Hà Tĩnh xb. 1999) lại ghi: “Tháng 10-1890 sau trận tấn công quân Pháp ở đồn Nam Huân, Nguyễn Chanh được cử vào chỉ huy quân thứ Kỳ Anh và đã hi sinh trong trận đánh Vọng Liễu...”. Thông tin này đáng tin cậy hơn.

Vậy Đốc Chanh không thể tham gia diệt tên đồn trưởng Samaran trong trận chống càn lần hai (theo sách Phan Đình Phùng, 1960 là vào khoảng 1893-1894). Trực tiếp lập chiến công này là Cai Manh và Cả Hoan.

Nhưng Đốc Chanh có tham gia diệt toán quân của Quản Lác hay không? Sách Địa chí Can Lộc nói: “... Ông Chanh đến trá hàng Bang Thuỵ, rồi tìm cách tiêu diệt đội lính của Quản Lác tay chân của Bang Thuỵ, lấy được hai chục khẩu súng Tây...” (có thông tin nói là 12 khẩu súng). Trận đánh ấy trong nhân dân gọi là trận “Cơm Sẻ”, không nghe nhắc đến Đốc Chanh. Chuyện như sau: Toán quân Quản Lác có 12 người trang bị súng ống đến xóm Hốt. Cụ Đề mở tiệc chiêu đãi tại nhà ông Cu Bói. Bọn lính vào dự. Súng ống dựng ngoài sân. Trong 12 người lính Quản Lác có một người ở làng Thông Lưu, ngồi ăn, thấy có con nhện sa trước mặt. Linh cảm có điềm xấu, ông ta vờ đau bụng đi ra ngoài. Ở trong nhà, mọi người đã ngà ngà say. Cụ Đề gọi: “Các con! cho Cơm Sẻ lên đây!”. “Cơm Sẻ” là ám hiệu. Thế là quân binh cụ Đề ùa ra, bắt 11 người lính Quản Lác và thu 12 khẩu súng, khi Can thứ còn thiếu súng - như vậy là mưu kế Đốc Chanh, còn Đề Trạch thực hiện nên nhân dân không nói. Dù chi tiết có những chỗ khác nhau theo người kể, trận “Cơm Sẻ” là một chiến thắng có tính chất quyết định của Can thứ: tiêu diệt được toàn bộ lực lượng địch, tăng cường sức mạnh vũ khí cho nghĩa quân, thanh thế của “cụ Đề” càng được vang dội, sau khi Đốc Chanh đã rời Can thứ.

Như trên đã nói, chỉ sai sót thêm bớt một chi tiết nhỏ có thể đánh giá không đúng một sự kiện lịch sử, hoặc một tính cách nhân vật như Đề Trạch. Khi còn Đốc Chanh, Đề Trạch còn có người chỉ huy trực tiếp bên cạnh. Khi Đốc Chanh vào Kỳ Anh rồi, nghĩa quân còn có tướng quân Cao Thắng ở Đại đồn Vụ Quang, nhưng lại không trực tiếp chỉ huy Can thứ. Còn “lá cờ nghĩa”, nhưng cũng xa xôi như cụ Phan, không phất phới trên đầu Đề Trạch hàng ngày. Thành thử Đề Trạch một mình tung hoành một khoảnh vùng đất Can Lộc.

Ta cũng lưu ý thêm, thời ấy chính quyền phong kiến thực dân đã thiết lập vững chãi, hệ thống hành chính từ thôn, xã, tổng huyện... đã ổn định. Chỉ riêng trong làng Đông Tây mà đã có ba chức sắc chính quyền: phó lý, cai xã, chánh tổng vẫn làm việc bình thường. Can thứ không tấn công vào họ mà chỉ nhằm vào những đồn binh Pháp và những lực lượng vũ trang, kể cả những lực lượng tự vệ ở các nhà thờ công giáo trong huyện. Có một tổ chức quyền lực “cụ Đề” song song với chính quyền phong kiến.

“Thực túc binh cường” là qui luật. Khi ngọn lửa Cần vương còn rừng rực cháy trên khắp Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, thì nhân dân cũng sốt sắng chu cấp nuôi quân. Nhưng khi thoái trào, với Đề Trạch thì từ khi một mình cai quản Can thứ, kỷ cương lỏng lẻo, vẫn phải tiếp tục dựa vào nhân dân bằng cách làm kinh tài “lạc quyên cưỡng bức”. Thực chất là ăn cướp, không chỉ để nuôi hàng trăm binh mà để tích luỹ làm giàu. Bản chất và ma thuật thời ăn trộm khoai được phục hồi. Không có chuyện như Sách Địa chí Can Lộc viết: “Đêm đêm đi lấy của nhà giàu về chia cho dân nghèo”. Đó là những băng trộm cướp do Đề Trạch cầm đầu, khi cướp được của về, trả công, chia phần cho đàn em. Cũng không có bằng cứ nào để nói, khi ở đồn Cơn Khế, Đề Trạch đã ra lệnh cho quân binh “... không được nhũng nhiễu và phải giúp đỡ dân nghèo...”.

Chỉ có câu chuyện cụ thể là Đề Trạch sai thủ hạ là Kiểm Long đi xử đám kiện giữa hai nhà giàu ở Yên Điềm và Động Gián, “thu toàn bộ văn tự và ruộng đất giao cho dân nghèo làng Yên Tập cày cấy. Đến mùa, dân ở đây dành một phần thóc nộp vào kho nghĩa quân...”. Thực chất đấy là một vụ cướp ruộng, rồi phát canh thu tô, vì không mang ruộng về nhà được.

Xin kể một chuyện tương tự, nhưng tàn bạo ngược hơn, xảy ra ngay trong làng Trung Hanh của Đề Trạch. Đó là vụ cướp và giết hai anh em cùng cha khác mẹ, giàu của và thông chữ - ông Nguyễn Quốc Ái và ông Nguyễn Quốc Toả. Hồi còn nhỏ, tôi đã nghe ông ngoại tôi là lính kinh tài thân cận của Đề Trạch kể chuyện này. Đầu năm 2006 tôi lại nghe bác sĩ quân y Nguyễn Quốc Bảng, nghỉ hưu tại Vạn Mỹ, Hải Phòng, là cháu đích tôn ông Nguyễn Toả kể lại.

Khi ông Nguyễn Quốc Ái - ông đồ Ái - đang dạy học ở Vinh, Đề Trạch cho gọi về, buộc phải giao văn tự và ruộng nương. Ông Ái không chịu. Trước cửa nhà thờ họ, ông Ái đã nhanh trí vò nát văn tự đưa vào mồm nhai nuốt. Đề Trạch tức giận, bắt ông Ái đưa vào đồng Cơn Sôông, giết chết. Gia đình ông Ái phải vào rừng nhặt xác ông, chôn ở Đại Hay, gần Vực Trống. Đầu năm 2006 bác sĩ Nguyễn Quốc Bảng đã về tìm mộ ông bác nội, cải táng và xây mộ cho ông, cũng ở Đại Hay.

Giết ông Ái xong, Đề Trạch quay sang cưỡng bức ông em Nguyễn Quốc Toả phải viết văn tự nhường lại ruộng nương. Ông Toả cũng không chịu. Đề Trạch lại bắt ông Toả đưa đi, nói là đày vào Lao Bảo. Ông Nguyễn Quốc Toả hoàn toàn mất tích từ đó.
_____________________________________
1. Nguyễn Quốc Khánh: Nhà văn, Thành phố Hải Phòng, quê gốc ở Can Lộc, Hà Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #108 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 11:27:23 am »


Còn biết bao nhiêu vụ cướp như thế nữa. Như vụ cướp một gia đình giàu có ở Cổng Khánh, mà ông ngoại tôi có tham gia. Hay vụ cướp của cố Trừ ở làng Tràng Lưu bây giờ vẫn còn được người làng Tràng Lưu nhắc lại...

Cướp ruộng nương, thóc gạo, trâu bò thì còn trông thấy, chứ cướp vàng, bạc thì không biết bao nhiêu. Chỉ biết mỗi lần đi cướp về, Đề Trạch cho người vào rừng Trà Sơn chôn giấu. Những người được Đề Trạch tin cậy giao việc cho này không còn một ai trở về. Cố đồ Thọ, 95 tuổi đang ở nhà con tại 20 Ngõ Thịnh Quang, cũng kể cho tôi biết. Có một ông (cố Thọ quên tên) được Đề Trạch giao cho đi chôn giấu một nồi bảy bạc trắng tại vùng Miếu Mốc cũng đã bị giết, chôn theo nồi bảy bạc trắng của Đề Trạch. Mấy năm trước đây, xe cơ giới ủi đất, san đồi, làm đường đến vùng ấy, nhưng chưa thấy của cụ Đề.

Cướp của, giết người, rồi sát phu hiếp phụ để lại lâu dài bi kịch cho nhiều gia đình. Có gia dình tôi nghe các cố ở làng Đông Tây kể, tôi không được phép nói là ai? ở đâu? chỉ xin phép kể chuyện, giấu tên người.

Khi Đề Trạch bắt người chồng đi để hãm hại thì người vợ trẻ, đẹp, khóc lóc thảm thiết nhiều ngày. Đề Trạch cũng nhiều ngày đến để “an ủi” bằng cách của Đề Trạch, là cưỡng hiếp chị. Nếu chị không chịu thì sẽ bị bắt theo chồng. “Ân huệ cụ Đề” để lại cho chị là sinh được một đứa con trai. Tất nhiên nó mang họ và nối dõi tông đường nhà chồng. Cả họ biết vậy mà vẫn như không biết vậy vì sợ cụ Đề.

Đứa con lớn lên, mỗi lần giỗ chồng, giỗ cha thì mẹ con họ hàng lại nguyền rủa, lên án Đề Trạch gây tang tóc cho gia đình như một kẻ thù truyền kiếp.

Giết người với Đề Trạch cũng như người ta cầm roi đánh vào mông kẻ khác. Chẳng hạn, ông Nuôi Diên cũng là lính kinh tài, nhưng lại hay quấy rối đàn bà con gái. Đề Trạch biết, một hôm ông Nuôi Diên vừa về đồn, Đề Trạch chẳng nói chẳng rằng cho người lôi ra giết luôn. Xin nói rõ, ông Nuôi Diên là người trong họ người viết bài này.

Lạnh lùng, vô cảm hơn là khi Đề Trạch nắm quyền sinh, quyền sát ở đồn Cơn Khế, ở ngoài làng Trung Hanh, Đông Tây, ngay cả với quân binh.

Khi đồn Cơn Khế, căn cứ của Can thứ bị tấn công, Đề Trạch kéo hàng trăm tàn quân chạy vào Vực Ôốc, vùng giáp giới ba huyện Can Lộc, Thạch Hà, Hương Khê, thiếu lương thực, phải tự túc đào củ, hái rau để sống. Bị đói nhiều ngày, có người phàn nàn. Đề Trạch đưa ra giết ngay. Hay có người không nói gì, nhưng tỏ ra uể oải, Đề Trạch cũng giết, “để chúng nó khỏi trốn về theo Tây”. Tuy vậy cũng có những người tìm cách trốn trại đi vào rừng hay về làng lẩn tránh được.

Lại khi đầu hàng - sẽ nói kỹ sau, Đề Trạch tập họp quân binh lại, ra lệnh: “Ai đi theo cụ đứng vào một bên. Ai thương vợ nhớ con, muốn về nhà, đứng vào một bên”. Thế là những người đứng về hàng thương vợ nhớ con đều bị đưa ra giết hết. Cũng có những người trước cái chết bỏ chạy được. Đến lúc ấy mà Đề Trạch vẫn còn lo: “Cho chúng nó về, chúng sẽ phản cụ!”.

Chỉ giết binh lính của mình mà đã không biết bao nhiêu người rồi. Lại còn bao nhiêu người dân vô tội bị chết oan dưới lưỡi kiếm, mũi mác của Đề Trạch nữa. Theo lời cố đồ Thọ (năn bat đã 96 tuổi quê làng Đông Tây, hiện ở với con trai nhà số 20, ngõ Thịnh Quang, quận Đống Đa, Hà Nội) kể lại: Có một người lính tập đi qua bãi Giăm Than, Đề Trạch sai người bắt lại và sai một lính đao phủ tên là Rạng đưa vào trước Trôộc Đá giết. Nhưng kiếm của Rạng cùn quá, chém không đứt, nên phải đè người lính tập ấy ra cứa cổ, như mổ lợn, mổ bò. Lại có một người đàn bà công giáo đi qua bãi Giăm Than, Đề Trạch bắt vào, và bảo chị ấy tháo dây đeo Thánh giá ở cổ ra, bỏ xuống đất, bước qua. Người đàn bà ấy khăng khăng chối từ. Thế là bị giết, ném xác xuống Đồng Lầy. Không biết Đề Trạch đã ném bao nhiêu xác người xuống Đồng Lầy mà ngày nay nghe vẫn còn khủng khiếp trong bài vè cố Triển Thoại ở xóm Già Lam, khuyên bà con đừng làm nhà ở vùng ấy. Cũng không biết bao nhiêu người bị giết ở bãi Giăm Than mà cách đây dăm bảy năm, có người làm nhà ở đó, đã được cố đồ Thọ chỉ cho đào ngôi mộ vô chủ dưới nền nhà, đã bị san lấp từ lâu.

v.v…

Tuy nhiên cũng có những vụ, rất hiếm hoi, “cụ” định giết nhưng rồi có người can “cụ” lại tha. Người can mà Đề Trạch nghe theo là bà Chương Nhoạn, gần nhà ông Cu Bói ở xóm Hốt.

Đó là lần định giết cố Bỉnh, phó lý làng Đông Tây. Vì cố Bỉnh là hương chức giỏi, cai xã, chánh tổng cũng kính nể, dân làng tôn trọng nên Đề Trạch ngờ ông phó lý sẽ khôn khéo làm hại mình, nhất là khi phó lý hay đi lại làm việc với cấp trên. Nhưng bà Chương Nhoạn can: “Cụ giết nó là cụ để mất dân cả xóm Già Lam, gần hết là họ Nguyễn Sĩ của nó. Mất dân xóm Già Lam thì cụ lấy ai che chắn cho cụ khi giặc ở Chợ Giấy vào. Nó có làm việc mẫn cán với cấp trên nó thì mặc nó, chớ nó đã làm gì thiệt hại cho cụ”. Đề Trạch nghe theo.

Lại một lần Đề Trạch định giết cố Phạm Khuyền, người lính kinh tài thân cận, đắc lực của mình, chỉ vì cố Phạm Khuyền nói với Đề Trạch: “Thưa thầy, thầy trò chúng ta đi làm giặc là để cướp lại cả giang sơn. Nhưng cụ Đình cũng không cướp được lại giang sơn nữa là thầy trò ta. Bây giờ thầy trò lại đi cướp của dân, liệu của ấy thầy trò ta có giữ nổi không. Chi bằng thầy đừng cho người đi làm kinh tài, lấy của dân về nữa”.

Lời đề nghị ấy làm Đề Trạch thảng thốt, vì xưa nay chưa có ai dám “nói hỗn” với mình như thế, nên giận dữ và quyết định giết. Bà Chương Nhoạn lại can: “Cụ giết quản Khuyền là cụ tự hại mình. Quản Khuyền là con bò vàng của cụ, sao cụ lại bỏ đi”. Đề Trạch cười và nói: “Đó là tôi doạ nó thôi, chứ tôi giết nó sao được”.

Đề Trạch nghe lời bà Chương Nhoạn vì nhà bà cũng là cơ sở tin cậy vả lại bà cũng đã từng có những ý kiến sáng suốt với Đề Trạch trong nhiều việc.


***

Phải xét Đề Trạch trong một trường hợp nghiêm trọng hơn đối với Tổ quốc, đối với phong trào Cần vương là vụ giết nghĩa sĩ Dương Bắc Đẩu mà chưa tác giả nào nói tới.

Trước đây tôi đã nghe kể về chuyện này. Khi đọc Lịch sử Nghệ Tĩnh tập I tôi thấy có vị chỉ huy Can thứ là Dương Duy Dừ, tôi ngỡ họ Dương, chắc Dương Duy Dừ cũng là Dương Bắc Đẩu (bí danh). Nhưng bây giờ tôi lại phân vân vì vừa rồi, tôi lại nghe cố Đồ Thọ nói rõ hơn, vì cố đã được nghe chú, bác họ, và chính thân sinh của cố có được chứng kiến những gì xảy ra trong vụ Đề Trạch hành hình Dương Bắc Đẩu kể lại.

Dương Bắc Đẩu là con một người đàn bà goá. Ông có học thức. Khi các quân thứ tan rã dần, ông vẫn còn duy trì một lực lượng ở trong Voi, đến hàng trăm quân. Chức vụ của ông là “Tán tương quân vụ đại thần”, chỉ huy quân hai tỉnh (có phải là Hà Tĩnh và Quảng Bình?). Ông cho người ra vùng Trại Tháp gặp Đề Trạch, thương lượng một kế sách: Dương Bắc Đẩu và Đề Trạch phối hợp giữ cho được Hà Tĩnh. Dương Bắc Đẩu cố thủ Đèo Ngang, không cho quân Tây, Triều vượt qua; Đề Trạch cố thủ mạn sông Lam, dựa vào thế núi rừng Trà Sơn.

Đề Trạch đồng ý. Đúng ngày hẹn, Dương Bắc Đẩu kéo 50 quân binh hành quân từ trong Voi ra Can Lộc để làm lễ hội thề. Đoàn quân Dương Bắc Đẩu đi ra đến chợ Mòi thì Đề Trạch cho người chặn lại, nói là đại quân đi ra đông làm náo động, phải dừng lại ở chợ Mòi, chỉ cần bảy người hộ tống Dương Bắc Đẩu đi ra gặp Đề Trạch.

Khi Dương Bắc Đẩu đến, Đề Trạch tổ chức đón tiếp ở vùng cánh đồng Bét Bét (lấy tên cây Bét Bét trong vùng) gần Giăm Than và, mở tiệc chiêu đãi. Nửa chừng bữa tiệc Đề Trạch đứng dậy, đổi giọng xưng hô: “Mi, Tau”, buộc tội Dương Bắc Đẩu có âm mưu đánh úp Đề Trạch. Đề Trạch lạnh lùng truyền lệnh đưa Dương Bắc Đẩu ra giết.

Tuy ở trong thế “hùm thiêng khi đã sa cơ”, vẫn theo lời y nguyên các cố truyền lại - Dương Bắc Đẩu vẫn đường hoàng bình tĩnh nói: “Nếu anh tin tôi thì chúng ta phối hợp chiến đấu cho đến cùng. Nếu anh nghi ngờ tôi thì anh cứ giết”.

Đề Trạch vẫn vô cảm, không tỏ ra xúc động gì. Dương Bắc Đẩu nói tiếp: “Anh giết tôi, nhưng những người theo tôi, không có tội tình gì, anh đừng giết”. Dương Bắc Đẩu quay sang nói với người hầu cận rằng: “Anh đi theo ta đánh giặc bao nhiêu năm nay, để vợ con nghèo đói ở nhà, ta chưa có gì chu cấp cho anh. Nay ta sắp chết, chỉ còn chiếc khăn nhiễu đội đầu, ta cho anh đem về bán lấy tiền giúp vợ con”.

Dương Bắc Đẩu cởi khăn nhiễu trên đầu, chưa trao đến tay người hầu cận thì Đề Trạch đã ra lệnh:

- Rạng! Lấy chiếc khăn nhiễu lại cho ta!

Thế là chiếc khăn nhiễu ân nghĩa của thầy trò Dương Bắc Đẩu cũng bị Đề Trạch tước đoạt. Mộ Dương Bắc Đẩu được táng ở gần chợ Mòi. Khi được tin Dương Bắc Đẩu bị hại, quân sĩ của ông bàng hoàng, ngơ ngác, khóc lóc, rồi lục tục kéo nhau về Voi, ai về nhà nấy. Đội ngũ tan rã.

Ngọn lửa yêu nước rực hồng của phong trào Cần vương cháy đượm cho đến thời Dương Bắc Đẩu, tưởng có thể bốc lên đã bị bàn tay đẫm máu của Đề Trạch dập tắt chốc lát, để kết thúc nghĩa khí Cần vương một cách đau thương.

Ngày sáu, gia đình Dương Bắc Đẩu ở trong Voi ra xin đưa thi hài ông về chôn ở quê nhà, nhưng Đề Trạch không cho. Nghe nói, sau này người nhà Dương Bắc Đẩu đã ra bốc trộm đưa hài cốt ông về, còn nấm mồ vẫn để nguyên ở cánh đồng Bét Bét, làng Đông Tây (nay là xã Phú Lộc). Cách đây mấy chục năm, khi chưa có những biến cố về đất đai, cố đồ Thọ đi làm đồng về qua đó vẫn còn thấy nấm đất, thân sinh cố đã chỉ cho biết: “Mộ ông Dương Bắc Đẩu ở đó con kìa!”

Chỉ riêng tội giết Dương Bắc Đẩu, làm tắt lịm phong trào Cần vương cũng đã đủ kết tội to hơn Nguyễn Thân trả thù cụ Phan Đình Phùng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #109 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 11:29:56 am »


***

Chưa hết! Đề Trạch còn phạm tội đại hình khác không kém là: đầu hàng giặc.

Tôi ngờ “giặc” trực tiếp ở đây là bè lũ Nguyễn Thân đang thực hiện âm mưu diệt tận gốc phong trào Cần vương bằng bất cứ âm mưu thủ đoạn hèn hạ dã man nào.

Khi địch cho người đến gặp Đề Trạch dụ đầu hàng, “Cậu Cả” - trong nhân dân gọi tôn Cả Hoan - không nghe, đã nói với Đề Trạch: “Nếu giặc giết một người cũng không để sót cha con ta. Chi bằng kéo quân ra Cội Đa - chỗ giáp ranh hai làng Trung Hanh và Đông Tây, trên đường phân giới “vô rú”, “ra làng” đánh nhau một trận, liều sống chết với giặc”

Đề Trạch vẫn không nghe. “Cậu Cả” cứ thuyết phục mãi. Đề Trạch bực mình, đang cầm khẩu súng, liền quăng xuống đất. Biết không thuyết phục nổi, Cả Hoan đành theo cha, cũng chịu đầu hàng.

Địch cho cờ, trống, võng, lọng đến rước cha con và binh lính Đề Trạch đến nơi làm lễ đầu hàng (chưa tìm hiểu rõ là địa điểm nào), rồi dừng lại ở đó suốt 3 tháng để chuẩn bị nghi thức cho long trọng. Nhưng theo các cố nói là để cho quân lính của Đề Trạch còn những ai lén lút trong rừng hoặc trong các làng xóm ra cho hết theo Đề Trạch. Suốt ba tháng ấy địch ban áo, mũ, cân, đai cho Đề Trạch. Đi đâu cần cáng, ngựa, xe kéo tuỳ thích. Hàng ngày cỗ bàn, ăn uống linh đình. Bên cạnh luôn có người hầu hạ, gái đẹp hát ca v.v... Ba tháng Đề Trạch sống vinh hoa như một vị đại quan.

Cho đến một ngày được lệnh “thượng kinh”. Địch lại cho cờ quạt, võng lọng rước cha con Đề Trạch đi, cùng một số quân binh. Rong ruổi hai ngày đến phía bên này Đèo Ngang, dừng lại, địch bắt cha con Đề Trạch “hạ mã”, đưa ra hành hình. Những người lính “đi theo cụ” đầu hàng, khi được trở về kể lại cuộc hành hình hết sức dã man - không khác gì tên đại việt gian Nguyễn Thân đối với cụ Phan Đình Phùng. Địch cho hạt thóc vào mắt Đề Trạch, rồi cặp lại chứ không bịt mắt, trói Đề Trạch vào cột và tùng xẻo xương thịt dần cho đến chết. Còn với Cả Hoan, địch chặt cả bốn chân tay, vất nằm giãy đành đạch trên bãi cỏ như con ếch cụt chân.

Đề Trạch đã kết thúc cuộc đời tội lỗi nhiều hơn công lao của mình, làm ô nhục nghĩa khí bừng bừng của phong trào Cần vương như thế đó. Chỉ được cái là nhân dân Can Lộc thoát khỏi “loạn cụ Đề”.

Dù nghiên cứu lịch sử hay sáng tác văn chương thì yêu cầu trước hết là phải khách quan, khoa học.

Nghĩa binh Can thứ là những người nông dân Can Lộc yêu nước, chiến đấu cho đến cùng dưới lá cờ nghĩa Cần vương của cụ Đình - Phan Đình Phùng. Nói về Can thứ trước hết phải nói về họ. Nếu ta đi vào các làng xóm trong huyện Can Lộc sẽ nghe kể chuyện hàng chục - nếu không phải là hàng trăm, tấm gương anh hùng, chiến sĩ vô danh ấy.

Viết về Can thứ bấy lâu nay chỉ tập trung vào hai vị chỉ huy, Đốc Chanh và Đề Trạch mà hình ảnh Đề Trạch lại che lấp bóng dáng Đốc Chanh là thiếu khách quan, khoa học với sự thực lịch sử.

Không thể xếp Đề Trạch ngang hàng Đốc Chanh. Lại càng không thể đề cao Đề Trạch hơn Đốc Chanh. Đốc Chanh đã có những năm đầu cùng Đề Trạch chỉ huy Can thứ, lập nên chiến công, được nhân dân và quân binh kính phục. Nhưng khi Đề Trạch nắm độc quyền chỉ huy đã đưa đội quân Can thứ càng ngày càng đi lạc đường, đến mức nhân dân gọi là “loạn cụ Đề”.

Xét Đề Trạch, không nên chỉ chú ý vài chiến công vừa phải, mà bỏ qua bao nhiêu tội lỗi. Lại càng không nên tôn Đề Trạch lên hàng anh hùng, dù là “anh hùng thảo dã”. Ngay những người “lính cụ Đề” ở Trung Hanh, Đông Tây cũng nói: cụ Đề chỉ là “giặc cỏ”. Người viết bài này nói: Đề Trạch càng ngày càng tỏ ra là một “lục lâm, thảo khấu” có hạng ở vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình.


***

Tôi đã viết bài về Đề Trạch tại Hà Nội, theo trí nhớ, chứ chưa về quê Can Lộc để tìm hiểu thêm. Cố Đồ Thọ đang ở Hà Nội cho tôi biết được một số việc và người cụ thể, nên trong tham luận tôi ngỏ ý đề nghị, nên tìm hiểu về “lính cụ Đề” thì mới hiểu được sâu Can thứ. Bây giờ tôi xin phép nói trước các tác giả khác, về “lính cụ Đề”.

1. Ông Lĩnh Hưng

Chưa rõ quê quán ông ở đâu. Chỉ mới biết ông là lính thân cận “cụ Đề”, trông coi về binh khí, đã liên lạc với ai mà mua được súng Xiêm, loại “nhị thập bát hưởng” - bắn một lúc 28 viên đạn. Đặc biệt ông được giữ “gươm đầu hổ” của thủ lĩnh (có thể là chuôi gươm khắc chạm đầu hổ).

Khi Đề Trạch bị săn dồn, kéo tàn quân chạy vào “Vực Ốc” đến khi cha con bàn chuyện đầu hàng, ông Lĩnh Hưng cùng một số người như cậu cháu ông Phạm Khuyền, ông Sơn Hơn v.v... thấy rõ được thế cùng của Đề Trạch nên đã bỏ Đề Trạch.

Những người khác, hẳn là không có nợ máu với nhân dân, đều về nhà làm ăn. Nhưng ông Lĩnh Hưng còn giữ thanh gươm “đầu hổ” nên chưa thể về nhà. Ông bàn với một vài đồng đội trốn xuống ẩn náu ở vùng núi rừng Hồng Lĩnh. Đã có ông Sơn Hơn tiếp tế lương thực thường xuyên.

Khi “loạn cụ Đề” đã dẹp xong, an ninh ổn định, không thể ẩn náu ở Hồng Lĩnh được nữa, ông Lĩnh Hưng phải chuyển lên Trại Nắng - chưa rõ ở vùng nào. Thời gian đầu ông Sơn Hơn còn một tháng đôi kỳ tiếp tế cho ông. Nhưng càng về sau càng khó khăn ông Sơn Hơn cũng phải chấm dứt tiếp tế.

Ông Lĩnh Hưng vẫn tiếp tục ở Trại Nắng với thanh gươm “đầu hổ” cho đến khi về già, qua đời không vợ con, chỉ gắn bó cuộc đời với gươm “Đầu hổ”. Không biết khi mất ông để lại thanh gươm ở đâu? hay giao cho ai?

Về sau người làng Đông Tây thường nhắc lại thời “loạn cụ Đề” không quên nhắc lại chuyện gươm “Đầu Hổ” như nhắc lại vang bóng một thời tấm lòng kiên trung của ông Lĩnh Hưng.

2. Ông Sơn Hơn

Ông ở xóm Bối, làng Đông Tây xưa, gần nhà chánh tổng, thường gọi là cố hội Viên và cai xã, còn gọi là cố Chỉ Cường, cũng gần nhà cố Nghĩa, phú hộ nhất vùng Thượng Can.

Ông là cháu gọi ông Phạm Khuyền bằng cậu ruột, cùng là lính “cụ Đề” ông phục vụ Đề Trạch về việc cấp dưỡng, có khi là liên lạc. Người ông tầm vóc cao lớn, khỏe mạnh.

Khi Đề Trạch chạy vào Vực Ôốc ngày càng lún sâu vào tội lỗi, hai cậu cháu ông bỏ về quê, không hề bị giám sát, quản thúc của chính quyền thực dân, phong kiến, tự do như bất kỳ người dân nào. Đã vậy, ông còn được chánh tổng, cai xã giúp đỡ cày cấy làm ăn bình yên. Ông lại được tự do đi lại, vì vậy trong thời gian khá dài ông đã tiếp tế cho ông Lĩnh Hưng, bảo vệ “gươm Đầu hổ” ở Hồng Lĩnh, cho đến khi ông Lĩnh Hưng tránh lên Trại Nắng mới dừng. Bởi vì cậu cháu ông đã bảo vệ các hương chức khỏi bị Đề Trạch hại. Hiện cháu nội của ông, thường gọi là Chiến Tam, đã ngót hai mươi năm làm phó Chủ tịch rồi Chủ tịch xã Phú Lộc, nay đang giữ trách nhiệm Bí thư Đảng uỷ xã Phú Lộc.

3. Ông Phạm Khuyền

Tôi có thể biết nhiều về ông vì tôi là cháu ngoại của ông. Lúc tôi lên 14, 15 tuổi ông mới qua đời. Khác với cậu là ông Sơn Hơn, ông Phạm Khuyền người tầm thước bình thường nhưng nhanh nhẹn, hoạt bát, ngang tàng mà không ngang ngược. Trong hàng ngũ Can thứ ông giữ chức Hiệp quản, thường gọi là Quản Khuyền.

Vốn là dân sơn trại nên ông cũng có đầy đủ tính cách của “Trai phường trại...”, của “Nam cận sơn...”, chỉ có khác là ông rất thẳng thắn và nhân hậu. Ông có gan dạ và mưu mẹo để thích hợp với đời sống rừng rú. Chẳng hạn, ra khỏi nhà vào rừng là mang theo mũi lao, lưỡi mác. Gặp con chồn, con cáo từ trong bụi rậm nghe động chạy ra là ông phóng lao đuổi theo, trúng ngay con vật. Khi đuổi lợn rừng vào trại đào khoai sắn, con lợn rừng hồng hộc xông vào, ông đứng cầm xỉa thủ thế, chờ con lợn lao tới, ông chĩa mũi xỉa vào miệng lợn rừng, rồi nhảy tung lên theo tư thế nhảy sào quật ngã con vật v.v...

Khi Đề Trạch đưa quân đánh nhau ở vùng Hạ Vàng, ông bị trúng đạn vào ngực, nhưng đạn không xuyên suốt, chỉ chạm vào xương cánh vai phải. Ông bình tĩnh nói với Đề Trạch: “Thầy mổ lấy viên đạn ra cho tôi để khỏi lấn cấn không cử động được”. Đề Trạch lấy lưỡi kiếm mổ phía bả vai sau lưng ông, lấy ra viên đạn, rồi rịt thuốc lào vào, xé áo băng lại. Ông vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến tàn trận. Hồi còn nhỏ, chúng tôi thường vạch áo ra xem, vết sẹo của ông dài gần một tấc.

Ông làm công tác kinh tài cho Can thứ, thường phải đi “lạc quyên” ở các nhà giàu. Thời Đề Trạch thực chất là “ăn cướp”. Nhưng chưa nghe ai nói ông có tham gia giết người cướp của. Trái lại ông có gan can gián Đề Trạch: “Thưa thầy, thầy trò ta đi làm giặc để cướp lại giang sơn... cụ Đình cũng không cướp lại được... Bây giờ thầy trò ta đi cướp của dân, liệu có giữ được không?...” khiến Đề Trạch nổi giận, định chém đẩu, nhưng lại tha vì sợ mất “con bò vàng” (cũng vì sự tích ấy nên khi có cháu gái đầu lòng ông đặt tên là Vàng).

Khi đi “lạc quyên” bằng cách cưỡng bức, ông cũng là tay đại bợm, bằng mưu mẹo mà được việc. Có một nhà giàu ở Cổng Khánh - thuộc vùng thị xã Hồng Lĩnh ngày nay, trong nhà có nhiều lực điền ở thuê, có một đàn chó dữ, mỗi con giữ một góc vườn, góc nhà, bờ tre gai quanh vườn rậm rịt. Một hôm Đề Trạch kéo quân ra định xông vào để cướp ông Phạm Khuyền can lại: nếu xông vào, sẽ đánh nhau, có người chết, của không lấy được. Tây ở đồn Chợ Củi biết tin kéo vào thì nguy. Đề Trạch chần chừ. Ông đứng ra lãnh trách nhiệm.

Đến chập tối, khi đàn trâu bò của chủ trại về, ông lẩn vào đàn, ôm cổ một con trâu, nằm treo ngửa dưới bụng con trâu đực to lớn ấy, vào được chuồng trâu nhà giàu.

Nửa đêm, nhà ngủ hết. Ông vào phòng chủ trại, đánh thức dậy bảo: “Quân cụ Đề đã vào lọt trong trại cả rồi, kêu là chết. Có của cải đâu đem ra cống nạp cho cụ”. Chủ nhà thần hồn nát thần tính, tuân theo, dẫn ông đi lục soát tất cả những nơi để của, tập trung lại - trừ thóc gạo, trâu bò..., còn tiền bạc thì cho vào nồi đồng gánh ra cổng để nạp cho “cụ” đang chờ ngoài ấy.

Khi “loạn cụ Đề” đã yên. Có một gia đình họ Phan giàu có ở Đông Khê, tổng Nga, có cô con gái có giọng hát hay, lại “tóc dài, ngài đẹp”, thường đi diễn chèo, đóng vai Thuý Kiều cùng với một chàng trai môn đăng hộ đối, đóng vai Kim Trọng. Hai người có thể thành đôi. Nhưng gia đình họ Phan lại gả cho ông Phạm Khuyền, cho hàng chục mẫu ruộng “hoa nữ”, tức là của “hồi môn”, để trả ơn đã mấy lần can ngăn được Đề Trạch định đưa quân đến cướp. Nàng Thuý Kiều ấy là bà ngoại tôi. Lúc còn nhỏ tôi thấy bà đứng trên giường để chải mớ tóc bạc vẫn dài, và nghe bà hát ru em rất trong.

Đáng tiếc là ông ngoại tôi đã máu mê cờ bạc đã bán hết ruộng của bà, nên trở thành tay trắng. Nhưng ông tôi lại được những người khác giúp đỡ.

Đó là ông Phó Lý làng Đông Tây - thường gọi là cố Bỉnh, bị Đề Trạch nghi ngờ. Nhưng cùng với bà Chương Nhoạn, ông ngoại tôi đã ngăn cản được nên Cố Bỉnh không bị Đề Trạch giết. Ông đã cho Cố Bỉnh một sào ruộng mạ làm vườn ở (trong khoảnh vườn ấy, ông ngoại tôi đã tiếp hai ông Trang, Hét đến hỏi ý kiến, khi định trốn sang Xiêm).

Có vườn, nhưng đi làm giặc về thì lấy đâu ra ruộng cày, ruộng “hoa nữ” của bà ở tận trong Đông Khê thì đã nướng hết vào “đỏ đen”, ông Chánh tổng lại cho (hay bán chịu) một sào ruộng. Về sau thành đất ở. Hiện nay là nơi đặt bàn thờ ông bà ngoại tôi - ông bà Phạm Khuyền.

Khi tôi lớn lên 14, 15 thường thấy ông ngoại tôi giao thiệp đi lại với các vị chức sắc trong làng, như ông cai xã, ông chánh tổng đã nghỉ hưu. Mặc dầu các vị hương chức ấy có chữ nghĩa, còn ông ngoại tôi thì vô học, chỉ có bài học thực tế cuộc sống.

Khi ông ngoại tôi vào tuổi thượng lão, đại lão, kỳ lão rồi lên hàng tiên chỉ, vẫn ngồi ngang hàng với các vị chức sắc trong làng khi ra đình trung, và được mời mọc tôn kính, trong khi chính các vị chức sắc lại tranh giành nhau chỗ ngồi ở chốn đình trung.

Ông Phạm Khuyền mất vào tuổi bách tuế - thực ra là vào tuổi 98, khi các bạn cùng lứa, cùng thời ngồi đình trung đã về thiên cổ. Nhưng ngày nay con cháu các vị chức sắc cũ trong làng vẫn còn nhắc đến ông Phạm Khuyền với thái độ kính trọng, có lẽ là do cha ông của họ đã truyền lại những chuyện cậu cháu ông đã bảo vệ cho họ an toàn.

Trên đây chỉ là ba người tôi được biết từ hồi còn nhỏ, và gần đây được cố Đồ Thọ (đã trên 90 tuổi hiện sống với người cháu ở Hà Nội) nói thêm cho biết vài chi tiết. Nếu đi sưu tầm ở làng Đông Tây và các thôn xóm khác, hẳn sẽ tập hợp lại được thành tích của những người chiến sĩ trong Can thứ, những người lính “cụ Đề”... sẽ làm sống lại không khí hào hùng của Can thứ thời Cần vương.

Hải Phòng - Hà Nội tháng 8 năm 2006
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM