Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:07:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phan Đình Phùng - Cuộc đời và sự nghiệp  (Đọc 110613 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #110 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 11:34:39 am »


BÙI THIẾT
1. QUẢN THIỆNG VÀ CHIẾN TRẬN HOANG LÈO - HOANG LIỀN


Quản Thiệng tên thật là Trần Vĩnh Thiệng, người làng Trung Yên xã Vĩnh Lại, nay là xóm Yên Khánh, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; sinh vào khoảng 1850-1860 trong một gia đình giàu có, đông anh em. Họ Trần ở Cẩm Vịnh có nguồn gốc từ cuối thế kỷ XIV, khi họ Hồ sắp lên nắm thiên hạ, có một vương thất nhà Trần, không rõ tên, tước là Vân Dương hầu, từng làm Tế tửu Quốc Tử Giám (theo gia phả truyền lại) đã đưa gia thuộc vào đây sinh sống tại xóm Ao làng Thượng Đại, xã Vĩnh Lại, nay là thôn Phúc II, xã Cẩm Vịnh. Từ xóm Ao con cháu họ Trần phát triển và sống ở các làng Thượng Nội, Đông Yên, Trung Yên; nhà thờ gốc vẫn ở xóm Ao, nay chuyển sang đất mới cách vị trí cũ chừng 200m về phía Tây. Trần Vĩnh Thiệng là út trong 3 anh em trai, lớn lên mạnh khoẻ, võ nghệ cao cường, cùng anh họ là Trần Vĩnh Hài theo học trường võ ở Thanh Hoá vào đầu những năm 80 của thế kỷ XIX. Có lẽ ông đang học dang dở thì thực dân Pháp đánh chiếm Huế, buộc nhà Nguyễn ký hòa ước 1883 và sau đó xảy ra sự kiện Hàm Nghi xa giá khởi xướng Cần vương. Không rõ Trần Vĩnh Hài và Trần Vĩnh Thiệng có được tuyển bổ hay không, họ cùng về quê chờ thời, nhưng khi có Dụ Cần vương, hai ông liên kết với những người có chí khí như Nguyễn Cao Đôn (người Phật Nạo, nay là xã Thạch Bình, thị xã Hà Tĩnh)... tổ chức nghĩa quân chống thực dân Pháp. Vào khoảng cuối năm 1886, khi phong trào Cần vương ở Cẩm Xuyên do Dương Xuân Dừ chỉ huy bị thất bại, quân Pháp đánh ra phía Bắc Cẩm Xuyên, lực lượng nghĩa quân của Trần Vĩnh Thiệng và Trần Vĩnh Hài ở Vĩnh Lại không rõ là bao nhiêu người, nhưng cũng phải đến dăm chục tráng đinh, bởi vì ở đây từ thời khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) với phong trào “Bình Tây sát tả” do Trần Tấn - Đặng Như Mai khởi xướng và tổ chức lan khắp Nghệ Tĩnh, đã từng có đụng độ với các làng giáo toàn tòng như làng giáo Vạn Thành (nay thuộc xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên) đối ngang với Vĩnh Lại ở bờ Tây sông Ngàn Mọ. Từ thời đó dân lương với dân giáo thù hận nhau, vì dân giáo do thực dân Pháp xúi giục sang đốt phá dân lương, và dân lương cũng không kìm chế nổi triệt hạ và giết chóc dân giáo.

Vĩnh Thiệng là người có võ nghệ cao cường, tục truyền ông có thể leo lên ngọn tre, vít ngọn tre xuống, rồi làm đà tung người, vượt qua bên kia cao hơn nóc nhà một cách an toàn.

Về tên gọi là Quản Thiệng và Quản Hài cũng không rõ lai lịch, có lẽ họ có bộ thuộc trong tay nên gọi là quản chăng? Trong gia phả họ Trần không nói gì về chức vụ trong binh nghiệp của hai ông.

Trận địa Hoang Lèo - Hoang Liền

Đây là hai xứ đồng liền nhau, nằm ở phía Đông hai làng Thượng Đại giáp với làng Đông Yên. Ở đây nhiều hoang (nghĩa địa) xen kẽ với các thửa ruộng, đặc biệt có hoang lò rèn đầy mồ mả, tục truyền là cơ sở đặt lò rèn sắt của ông tổ trực tiếp dòng họ Bùi ở Thượng Đại. Theo gia phả truyền lại thì họ Bùi ở Thượng Đại có nguồn gốc từ họ Bùi ở Trung Lương (nay thuộc thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) truyền vào từ cuối Lê đầu Nguyễn. Tính đến nay họ Bùi vào đây đã 9 đời, tính ngược lên họ Bùi có cội nguồn từ Bùi Cầm Hổ (cuối thế kỷ XV, nay thuộc Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh).

Theo tục truyền, quân Pháp tiến từ phía Nam ra theo đường cái quan cũ (tục gọi là đàng Quan cộ), đoạn đường này từ Quán Kho (nay thuộc xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Xuyên, nay nằm trên Quốc lộ 1A, cách thị xã Hà Tĩnh về phía Nam 8 km), xuyên qua làng Cần (nay cũng thuộc xã Cẩm Thành) đi qua giữa cánh đồng xã Cẩm Vịnh, đoạn này có bàu Yên Nhiên, đi ra phía Bắc qua cạnh nhà ông Tham Dụ, qua hói làng Nam, xuyên qua làng Chỉ Trụ (nay là Đông Hạ, xã Cẩm Vịnh) và gặp đất làng Phất Nạo (nay là xã Thạch Bình). Quân Pháp đến đoạn quá bàu Yên Nhiên, rẽ vào đất làng Thượng Đại và Đông Yên, để cùng hợp sức với lực lượng giáo dân Vạn Thành.

Khi biết tin quân Pháp đến, Quản Thiệng mang vũ khí và khiên che chắn ra nghênh chiến, không rõ có bao nhiêu người theo ông, nhưng có tin người phó của ông ở lại trong làng với khiên và đao kiếm. Quản Thiệng đã bị quân Pháp nổ súng giết chết, sau đó quân Pháp vào làng đốt phá. Nơi giao chiến là xứ đồng Hoang Lèo - Hoang Liền, nơi có hoang lò rèn. Không có thông tin truyền lại về sự mất mát của hai phía, nhưng chứng tích chiến tranh thì khá rõ, nhiều nhà cửa ở làng Đông Yên bị đốt, đến nỗi tre cháy vàng, mà gần trăm năm sau những rặng tre ấy vẫn vàng úa như mới bị lửa cháy.

Sau khi Quản Thiệng hi sinh, họ mạc và dân làng an táng ông tại nơi ông bỏ mạng, mộ gạch xây đứng cao hơn 2m, phần mộ hình vuông mỗi cạnh 1m, trên nuốm mộ đắp hình bông sen. Cạnh mộ đều có những hàng chữ Hán đắp nổi nhuộm màu đen, nay bị mòn hết, không còn chữ nữa. Trước đây có chân mộ đắp đất hình tròn, nay mộ ở giữa ruộng lúa trơ trọi, nuốm mộ bị gãy từ mấy chục năm trước. Ngôi mộ vẫn còn đó như một minh chứng về một thời oanh liệt. Ngày nay hai xứ đồng Hoang Lèo - Hoang Liền là đất ruộng, các mồ mả được quy tập vào nghĩa địa, dấu vết cũ không còn nữa, may ra vẫn còn mộ Quản Thiệng.

Nghĩa quân Cần vương ở Vĩnh Lại theo Quản Hài rút lên vùng Đồn Điền - Bộc Nguyên (nay là các xã Thạch Điền, Thạch Hương, huyện Thạch Hà) tiếp tục chiến đấu; nhưng cuối cùng bị đàn áp, Quản Hài cũng hi sinh, mộ ông táng tại xã Thạch Điền, có tiếng linh ứng, nghe nói dân làng thờ ông làm Thành hoàng?

Dấu vết chiến sự thời Cần vương ở Vĩnh Lại cho đến nay vẫn được lưu truyền, Quản Thiệng - Quản Hài là hình tượng mà dân Vĩnh Lại ngưỡng mộ, mộ Quản Thiệng vẫn còn đó, song thiếu hương khói và chăm chút trong những ngày lễ. Mong rằng địa phương lưu tâm đến tôn tạo lại phần mộ, biến đây thành một điểm giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Theo Tạp chí Văn hoá Hà Tĩnh số 78 + 79,
Tết Ất Dậu, Tháng 1 + 2 - 2005, tr.45




2. ĐỘI BAN VÀ CĂN CỨ ĐÔỘNG ĐỒN


Phong trào Cần vương chống thực dân Pháp xâm lược được khởi phát bởi Dụ Cần vương của Hoàng đế Hàm Nghi năm 1885, tạo nên cao trào đề kháng chưa từng có của sĩ phu và nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ đối với bọn xâm lược. Đặc biệt ở Hà Tĩnh phong trào Cần vương lan xuống tận thôn xã, ở đâu cũng có lực lượng Cần vương. Các hoạt động liên tục và đa dạng, đều tập trung dưới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng. Ở cấp huyện, lực lượng Cần vương nằm trong tổ chức gọi là quân thứ. Hà Tĩnh có nhiều quân thứ gọi theo chữ đầu tên của các huyện như: Cẩm thứ, Can thứ, Nghi thứ, Thạch thứ, Kỳ thứ... Điều đó muốn nói lên rằng lực lượng Cần vương rất có tổ chức, tuân theo mệnh lệnh của người chỉ huy tối cao.

Phong trào Cần vương không được sử sách ghi chép một cách đầy đủ và chi tiết. Cho đến nay, giới nghiên cứu lịch sử chưa thực hiện một cách toàn diện việc điều tra khảo sát phong trào này trên khắp địa bàn Hà Tĩnh, ước tính còn bỏ sót hơn 80% tổng số làng xã có hoạt động của Cần vương. Người ta chỉ mới nêu ra một cách rất sơ sài địa bàn của quân thứ, với vài ba thủ lĩnh và ít ỏi hoạt động chống Pháp của Cần vương làng xã.

Riêng với quân thứ Cẩm Xuyên (Cẩm thứ), người ta mới biết đến địa bàn đóng ở Chợ Biền (nay thuộc xã Cẩm Lộc, nằm về phía Nam huyện Cẩm Xuyên), còn các nơi khác vẫn đầy bí ẩn. Chẳng hạn ở phía Bắc Cẩm Xuyên, nay thuộc xã Cẩm Vịnh (tức Vĩnh Lại xưa) lực lượng Cần vương do Quản Thiệng (Trần Vĩnh Thiệng) chỉ huy, đánh nhau dữ dội với quân Pháp ở cánh đồng giáp giới làng Thượng Đại và làng Trung Yên. Cuộc chiến kéo dài rất nhiều ngày, cuối cùng quân Pháp bỏ chạy, song lực lượng Cần vương chịu nhiều tổn thất, trong đó có việc quan Vĩnh Thiệng tử trận, dân thương nhớ ông, xây mộ thờ phụng ông. Mộ Vĩnh Thiệng nay nằm ở xứ Hoang Lèo, thuộc đất thôn Hai xã Cẩm Vịnh. Cùng với phong trào Cần vương ở Vĩnh Lại, là phong trào Cần vương ở Phất Nạo (nay là xã Thạch Bình, thị xã Hà Tĩnh) do Nguyễn Cao Đôn lãnh đạo cũng được biết đến một cách sơ sài.

Trở lại với quân thứ Cẩm Xuyên (Cẩm thứ), giới nghiên cứu lịch sử Cận đại mới biết đến Đề Dừ (tức Dương Xuân Dừ), người làng Lộ Khê, tổng Vân Tán, nay là thôn Lộ Khê, xã Cẩm Nam, huyện Cẩm Xuyên. Đề Dừ được tôn làm thủ lĩnh của Cẩm thứ, đại bản doanh đặt ở vùng bãi Rành Rành, trại Thầu Đâu, Chợ Biền (nay thuộc các xã Cẩm Trung và Cẩm Lạc, huyện Cẩm Xuyên). Sau nhiều hoạt động tích cực chống Pháp, cuối cùng Đề Dừ bị bắt, chúng giải ông về tỉnh lị Hà Tĩnh nộp mạng lĩnh thưởng. Về vụ Đề Dừ bị bắt hiện còn lưu truyền lại câu chuyện cảm động sau đây: Người nhà biết Đề Dừ bị bắt đang trên đường giải ra Hà Tĩnh, bèn hái quả cam (lúc đó vào đầu mùa đông 1886), rồi tiêm độc tố vào cam, người nhà Đề Dừ chờ sẵn ở Đò Họ (nay là cầu Đò Họ phía Nam huyện lỵ Cẩm Xuyên, nằm trên trục Quốc lộ 1A); khi lính giải Đề Dừ đến, người nhà nói khéo với bọn lính là cho Đề Dừ được ăn cam lấy sức, cuối cùng thì khi đi đến Dà Dù (nay thuộc xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Xuyên), Đề Dừ bị chết, bọn lính áp giải bèn chặt đầu Đề Dừ mang về tỉnh lị, còn thây chúng vứt xuống đầm nước!

Cùng với Đề Dừ là Đội Ban, một trong những người chỉ huy của Cẩm thứ. Đội Ban tên thật là Nguyễn Trọng Bưu, người làng Đoài Hạ, tổng Vân Tán (nay thuộc xã Cẩm Dương, huyện Cẩm Xuyên). Nguyễn Trọng Bưu sinh năm 1857 trong một gia đình Nho học, có ông nội là Nguyễn Trọng Tiến làm quan dưới Triều Nguyễn đến chức Tiền công thứ lang Tiền sách vệ (theo gia phả), vì có công nên được phong tước Trung tự hầu. Trọng Bưu tinh thông chữ Nho, và sau khi có Dụ Hàm Nghi, ông theo Phan Đình Phùng chống Pháp, liên kết với Đề Dừ cùng lãnh đạo Cẩm thứ.

Để mở mang thế lực, Đội Ban được bố trí về vùng Đông Bắc thuộc các xã miền biển tổ chức lực lượng. Ông cùng hai người cháu ruột là Nguyễn Trọng Ẩm (quen gọi là cố Thuyết) và Nguyễn Trọng Sỹ (quen gọi là cố Bính) tổ chức được 60 nghĩa binh, đặt căn cứ đồn quân ở một cồn cát cao rộng gọi là Đôộng Đồn. Phó của Đội Ban là một tay võ nghệ cao cường gọi là Phó Đội Nghinh.

Đôộng Đồn là một gò cát cao chừng 15m, có đường kính chừng 400m, phía trên bằng phẳng, nằm trên vùng cát ven biển thuộc làng Phương Luyện, nay thuộc xã Cẩm Hoà, huyện Cẩm Xuyên, chung quanh Đôộng Đồn là rừng tràm. Ngày nay, vì nhiều lý do Đôộng Đồn bị bào mòn, không còn cao như ngày xưa. Nghĩa quân của Đội Ban đặt đồn quân tại gò cát này, nên có tên gọi là Đôộng Đồn.

Hoạt động của nghĩa quân Cần vương Cẩm thứ cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, tư liệu của các làng quê ngày càng mai một bởi sự ra đi của các thế hệ già có biết ít nhiều đến Cần vương, bởi nhiều di tích bị huỷ hoại, và bởi chúng ta từ lâu không quan tâm sưu tầm các tài liệu về Cần vương trong vùng. Nhưng chắc chắn rằng sau vụ Đề Dừ bị bắt, các hoạt động của nghĩa quân Cần vương Cẩm thứ liên tiếp bị thất bại. Riêng nghĩa quân Đôộng Đồn, trong khi tổ chức một cuộc phản công về phía Chợ Gon (nay thuộc xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Xuyên) và uy hiếp Đồn Trường (nay thuộc xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên), đã bị chặn lại ở Đuổi (cách chợ Gon chừng 4 - 5km về phía biển), tất cả chỉ huy Đôộng Đồn từ Đội Ban, cố Thuyết, cố bính đều bị bắt. Bọn giặc giải họ về tỉnh lị để hành quyết, nhưng rồi riêng hai người cháu Đội Ban được tha, còn Đội Ban bị xử tử tại Rú Nài (nay thuộc xã Đại Nài, thị xã Hà Tĩnh). Về sau con cháu bốc hài cốt Đội Ban về an táng ở Đôộng Đồn. Theo ghi chép của gia phả thì Đội Ban bị hành quyết vào ngày 11-11-1886, lúc ông tròn 30 tuổi ta.

Một giai đoạn oanh liệt song không mấy sáng tỏ của nghĩa quân Cần vương Cẩm thứ vẫn còn đó. Con cháu những người xả thân vì nước rất thiếu tư liệu để tôn vinh tổ tông. Trường hợp Đội Ban Nguyễn Trọng Bưu và căn cứ Đôộng Đồn là những chứng tích cần được lưu giữ và phát huy giá trị yêu nước của dòng họ và quê hương.

Tháng 7-2004
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #111 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 11:38:33 am »


TRẦN HUY TẢO1
SÁU CHA CON CÙNG THAM GIA ĐÁNH PHÁP
TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG


Trong phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, ở Hà Tĩnh do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo có biết bao tấm gương hi sinh cao cả, đóng góp to lớn của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Khắp các huyện ở tỉnh ta ở đâu cũng có những gia đình có hai vợ chồng, hai cha con và ba bốn anh em cùng chung một chiến hào đánh giặc Pháp xâm lược và triều đình nhà Nguyễn bán nước.

Gia đình Phó bảng Bùi Thố ở huyện Thạch Hà là một trong những gia đình vào loại có nhiều người nhất tham gia đánh giặc; gia đình đó có một người cha và năm người con, trong đó có ba con trai và hai con gái có mặt trong đội quân Cần vương của quân thứ Thạch Hà.

Cụ Bùi Thố tên thật là Bùi Khắc Thố sinh năm 1811, quê quán xã Phất Nạo, nay là xã Thạch Thắng, huyện Thạch Hà. Lần đầu đi thi Hương ở trường Nghệ An bài làm phạm huý tên vua Tự Đức, nên lần thứ hai trước khi thi phải khai tên là Bùi Thố quê quán ở xã Phú Phong nay là xã Thạch Khê, Thạch Hà. Kỳ thi ấy là năm Mậu Thân (1848), cụ Bùi Thố đậu Cử nhân vào loại hạng thứ cao. Năm sau cụ vào Huế dự thi Hội đậu Phó bảng khoa Kỷ Dậu (1849) lúc tròn 39 tuổi.

Năm 1850, cụ Bùi Thố được bổ làm án sát tỉnh Bình Định dưới quyền của quan Bố chánh Lê Khanh người xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ. Cụ Lê Khanh là thân phụ ông Ấm Ninh, người đầu tiên ở tỉnh ta phất cờ ứng nghĩa sau ngày vua Hàm Nghi từ Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị theo Tôn Thất Thuyết chuyển ra Phú Gia, Hương Khê, Hà Tĩnh hạ Chiếu Cần vương lần thứ hai vào ngày 13-7-1885.

Bố chánh Lê Khanh là người có tiếng ngay thẳng, liêm khiết, yêu nước, thương dân, nên năm 1862 khi vua Tự Đức nhu nhược ký hòa ước nhường ba tỉnh Nam Kỳ cho thực dân Pháp, ông đã kịch liệt phản đối và treo ấn từ quan về quê.

Là bạn đồng liêu, đồng hương với Bố chánh Lê Khanh, cụ Phó bảng Bùi Thố cũng lên án việc làm sai trái, nhục nhã của triều đình nhà Nguyễn nên ông bị giáng chức từ án sát xuống Đốc học và đuổi đi khỏi Bình Định, và sau đó ít năm về trí sĩ ở quê quán.

Là một vị đại khoa vốn nặng lòng ưu ái với dân, với nước, hiểu hai chữ trung quân phải gắn liền với lòng ái quốc nên khi được tin cậu Ấm Ninh ở Trung Lễ, con trai cả của quan Bố chánh Lê Khanh ở Đức Thọ ứng nghĩa Cần vương, chiêu mộ nghĩa binh chống Pháp, mặc dù đã quá tuổi “cổ lai hy” cụ Phó bảng Bùi Thố vẫn đi khắp các làng trong hai tổng Hà Nhất, Hà Nhì vận động các sĩ phu, hào lý có lòng ưu ái với vận mệnh đất nước và khuyến khích trai tráng các làng hăng hái vào đội nghĩa bình Cần vương đánh giặc cứu nước, cứu nhà.

Với uy tín của một vị đại khoa có đức độ nên công việc của cụ Bùi Thố được số đông thân hào, thân sĩ và nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Đặc biệt có ông Đội Cu tên thật là Nguyễn Tất Câu ở xã Hoàng Hà (Thạch Tượng), một vị quan triều Nguyễn đang nghỉ phép ở quê nhà, đã hăng hái ứng nghĩa. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, cuối mùa thu 1885, cụ Bùi Thố và ông Đội Cu làm lễ tế cờ ở đình làng Bái Nội xã Hoàng Hà. Tại buổi lễ thiêng liêng ấy, đội nghĩa binh bao gồm hàng chục người đã ra mắt nhân dân. Có mặt trong số những người đầu tham gia nghĩa quân là 5 người con của cụ Bùi Thố, đó là 3 con trai Bùi Khắc Đồng, Bùi Khắc Đệ, Bùi Khắc Long và 2 con gái Bùi Thị Trang, Bùi Thị Điểm.

Tấm gương 6 cha con quan Phó bảng Bùi Thố cùng ứng nghĩa Cần vương như một tin vui làm náo nức nhân dân hàng tổng đã có sức lôi cuốn cổ vũ nhiều gia đình ở các xã Phật Não, Phú Phong, Hoàng Hà và các xã khác trong huyện Thạch Hà cho con em gia nhập đội quân chống Pháp.

Để bóp chết âm mưu thâm độc của bọn đứng đầu bộ máy quan lại triều đình nhà Nguyễn ở Hà Tĩnh đang xúc tiến kế hoạch phối hợp với quân Pháp ở Nghệ An tấn công lên Sơn phòng Phú Gia ở Hương Khê nhằm bắt sống vua Hàm Nghi và quan Phụ chính đại thần Thượng thư Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đã giao cho Ấm Ninh tức Lê Ninh ở Trung Lễ, Đức Thọ phối hợp với nghĩa quân Cần vương ở Can Lộc, Thạch Hà đánh thẳng vào tỉnh thành trừng trị bọn quan đầu tỉnh.

Theo kế hoạch đã bàn, nghĩa quân Cần vương ở Hoàng Hà do cụ Bùi Thố và Đội Cu đã phối hợp nhịp nhàng với các cánh quân của Ấm Ninh, Đốc Thanh, Đề Trạch, Nguyễn Huy Thuận, Trần Danh Lập ào ạt tấn công từ các hướng đánh thẳng vào dinh sở và đồn binh ở tỉnh lị. Hai tên đầu sỏ là Bố chánh Lê Đại và án sát Trịnh Bưu đã phải đền tội, nghĩa quân làm chủ tỉnh lị Hà Tĩnh từ sáng ngày 15-11-1885. Đây là tràn đầu ra quân thắng lợi của phong trào Cần vương ở Hà Tĩnh.

Trong trận đầu ấy cả 6 cha con phó bảng Bùi Thố đã tả xung hữu đột sát cánh cùng các nghĩa binh tiêu diệt nhiều tên lính tập của triều đình, làm chủ chiến trường, góp phần tích cực vào chiến công đầu của phong trào Cần vương. Mặc dù đã 74 tuổi, quan Phó bảng vẫn tỏ ra là một lão tướng xông xáo. Còn 5 người con của cụ gái cũng như trai đều xung trận với khí thế tiến công, luôn có mặt ở nơi nguy hiểm, khó khăn nhất.

Bị thất bại nặng nề trong trận thành Hà Tĩnh, thực dân Pháp và Nam Triều cay cú phản kích. Chúng tập trung quân chiếm lại tỉnh lị, bổ dụng các quan đầu tỉnh mới, mặt khác ra sức lôi kéo bọn cha cố phản động tổ chức các đội nghĩa cũng bao gồm những người công giáo bị mê hoặc, lừa phỉnh chống lại phong trào Cần vương.

Hàng ngày cả ba lực lượng ấy (quân Pháp, quân triều đình và quân công giáo) tung về các làng quê càn quét, khủng bố. Chúng đóng đồn trại ở các nhà thờ công giáo, biến giáo đường thành nơi giết người, gây tội ác, chia rẽ nội bộ dân tộc ta giữa lương và giáo.

Để trừng trị những hành động tàn bạo, quỷ quyệt ấy của địch, đầu 1886 các thủ lĩnh Bùi Thố và Đội Cu đã tổ chức lực lượng chặn đánh địch ở Chợ Cồ - Yên Nhiên thuộc xã Thạch Trung, thị xã Hà Tĩnh ngày nay. Trận đánh đã diễn ra vô cùng ác liệt kéo dài từ trưa hôm trước đến chiều hôm sau. Trong trận này cả nghĩa quân và bọn giặc đều có nhiều tổn thất, mất mát.

Trong đợt giao chiến lúc chập tối, quan Phó bảng Bùi Thố đã tử trận. Thi hài của ông bị quân thù kéo về đồn binh. Không thể để cho địch làm nhục người chỉ huy đã qua đời, mờ sáng hôm sau dưới sự chỉ huy của Đội Cu, cả 5 người con cụ Bùi Thố cùng hàng trăm nghĩa quân đã hô reo dậy đất, xông thẳng vào đồn trại địch đánh giáp mặt, quyết lấy bằng được thi thể người chỉ huy về an táng ở quê hương.

Đã hơn một thế kỷ, nhưng nhiều bậc cao niên ở Thạch Hà còn nhắc mãi câu chuyện oai hùng lẫm liệt của 5 người con cụ Phó bảng Bùi Thố trong trận Chợ Cồ - Yên Nhiên đầu 1886. Các cụ kể lại rằng: “Hai o Bùi Thị Trang và Bùi Thị Điểm nhảy lên ngựa hồng, cắp giáo múa sáng loà xông thẳng vào bọn lính “tả đạo”, hàng chục tên đầu lìa thân, tay sả cánh chết không kịp ngáp...” Còn ông Bùi Khắc Long, tức Đốc Long con trai út Phó bảng Bùi Thố, hăng say diệt địch đến nỗi khi tan trận “ông buông gươm ra thì chuôi gươm vẫn dính chặt vào bàn tay vì máu giặc nhuốm đầy chuôi gươm đã khô cứng lại2.

Cuộc đời làm quan cương trực, thanh liêm và sự hi sinh vì dân vì nước của cụ Phó bảng Bùi Thố cũng như tinh thần chiến đấu ngoan cường của 5 người con trai, con gái của cụ vẫn sống mãi trong tâm khảm người dân Thạch Hà và nhân dân Hà Tĩnh từ thế hệ này đến thế hệ khác, góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước của quê hương Núi Nài trên đất núi Hồng sông Lam yêu dấu.

Theo Tạp chí Văn hoá Hà Tĩnh số 99 + 100
tháng 10 + 11 - 2005, tr.16-17

______________________________________
1. Trần Huy Tảo: Nguyên cán bộ nghiên cứu, Ban Nghiên cứu Lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh.
2. Theo tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, số 40, 2000, tr.14.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #112 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 11:42:58 am »


DƯƠNG XUÂN THÂU1
ĐỀ DỪ - THỦ LĨNH THỜI CẦN VƯƠNG


Đề Dừ tức là Dương Huy Dừ, có sách ghi là Dương Duy Dừ, hiệu là Nam Dương. Quê ông ở làng Lỗ Khê, tổng Vân Tán xưa, nay thuộc xã Cẩm Nam, huyện Cẩm Xuyên. Ông sinh vào khoảng 1862, hy sinh đầu năm 1887.

Hưởng ứng Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi và phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp do Phan Đình Phùng lãnh đạo, Dương Huy Dừ cùng với Hoàng Bá Xuyên và Nguyễn Chuyên tổ chức nghĩa quân đánh thực dân Pháp. Lúc đầu chỉ huy sở tại làng quê (làng Lỗ Khê). Sau mấy trận nghĩa quân phục kích và đánh vào các đồn lính địch, bọn Pháp cho quân bao vây hòng tiêu diệt lực lượng nghĩa quân của ông. Trước tình hình đó, ông chuyển quân lên đóng bản doanh tại vùng núi Động Đâu (nay thuộc xã Cẩm Sơn và Cẩm Thịnh). Đây là một vùng rừng núi hiểm trở, lại có những thung lũng rộng, là địa bàn sản xuất chăn nuôi rất tốt, nhằm tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm để nuôi quân đánh giặc lâu dài.

Lúc đầu chỉ có một số người trong làng, trong tổng tham gia nghĩa quân, sau đó do thanh thế của ông lan rộng nên đã có nhiều sĩ phu yêu nước và nghĩa quân ở hai huyện lân cận như Kỳ Anh, Thạch Hà cùng tham gia. Do đó đạo quân của ông đã lên tới trên 300 người.

Ông đã tổ chức, chỉ huy đánh địch nhiều trận mà nổi bật là trận Phượng Hoàng (trên đường thiên lý Bắc Nam), trận Núi Voi, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và thu nhiều vũ khí, đạn dược trang bị trở lại cho nghĩa quân. Sau những trận thắng vang dội đó, ông đã mở rộng phạm vi hoạt động của nghĩa quân đến tận Đèo Ngang.

Với chiến công to lớn nói trên ông đã được cụ Phan phong tước: “Chánh Lãnh binh, Phó Đề đốc Dương Dừ”. Sau những thắng lợi nói trên, ông đã đưa quân về bản doanh để củng cố thêm lực lượng và tăng thêm sinh lực cho quân sĩ. Nhân Tết âm lịch, ông đã cho một số người về gia đình ăn Tết. Trên đường về nhà, một số binh sĩ đã bị bọn tay sai đế quốc bắt. Một số người không chịu được sự tra tấn dã man nên đã khai báo nơi đóng chỉ huy sở của ông.

Biết tin đó, bọn thực dân Pháp và chính quyền tay sai Hà Tĩnh đã huy động các đồn lính ở Cẩm Xuyên, Can Lộc và bắt người chỉ đường đến vây và bắt được ông trong lúc ông đang cùng quân sĩ vui Tết.

Ngày 3 Tết năm 1887, ông đã bị đưa về Toà sứ Hà Tĩnh để hành quyết nhưng trên đường đi ông đã tự vẫn. Tuy thế, khi đưa xác ông về Toà sứ, bọn chúng vẫn chặt đầu ông để thị uy dân chúng.

Sau khi ông hy sinh, làng Lỗ Khê đã lập miếu thờ ông. Hàng năm đến ngày mồng 3 Tết, các bậc kỳ lão và dân chúng cả làng tổ chức cúng giỗ ông. Những năm thời tiết thuận lợi thì ngày giỗ ông đã trở thành ngày lễ hội của dân làng. Nhiều người đến dâng hương ngoài sự ngưỡng mộ còn để thoả mãn tâm linh, xin bài thuốc âm của ông mong được khỏi bệnh, vì lúc bình sinh ông vốn là một nhà lương y giỏi nổi tiếng trong vùng.

Sự nghiệp của ông tuy không thành, song ông đã để lại cho hậu thế tấm gương sáng người về khí tiết cách mạng, về lòng yêu nước nồng nàn, về tinh thần dũng cảm bất khuất trước kẻ thù. Tinh thần đó đã được thể hiện một phần trong những bài thơ chữ Hán của ông. Sau đây xin trích hai bài thơ do nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh dịch:

TỰ THÁN

Hai vai trung hiếu nặng trìu trìu,
Tính đến bao giờ đặng chắt chiu.
Biển rộng thênh thang buồm nửa cánh,
Trời cao lồng lộng gió trăm chiều.
Tòng tiên luống thẹn cùng Lương kế
2
Thối lộ còn e với Lượng mưu3.
Đã trót xoay tay chàm phải nhúng,
Cho cam sấm sét lưỡi búa rìu.



NHỮNG MONG

Trông hoài, trông mãi, lại trông no,
Mừng được xuân này đã tới cho.
Cây cỏ điểm tô nên vẻ tuyệt,
Non sông giành lại được cơ đồ.
Lá cờ Tổ quốc bay phơi phới,
Tiếng trống dân quyền đánh tự do.
Cách mạng ngày càng thêm rộng rãi,
Dẫu ai câm điếc cũng nên phô.


Ngoài ra còn một số tác phẩm của ông tuy không ghi thành văn, song nhân dân địa phương vẫn truyền miệng lại. Một số cụ cao niên còn thuộc lòng những bài thơ đó của ông.

Để tưởng nhớ công lao to lớn và đức hy sinh cao cả của ông, sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân lấy hiệu của ông là Nam Dương để đặt tên xã. Năm 2003, con cháu dòng tộc và xã Cẩm Nam đã tôn tạo lại lăng mộ của ông trang nghiêm hơn, đẹp đẽ hơn, xứng đáng là nơi thờ phụng vị Thành hoàng của làng - vị tướng lĩnh của phong trào Cần vương.

Theo Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh số 75,
tháng 10-2004, tr.14-15
___________________________________
1. Dương Xuân Thâu: Cán bộ Nghiên cứu Lịch sử - Văn hóa, Hà Tĩnh.
2. Lương kế (kế của Trương Lương) là nhân vật trong Tam Quốc Chí.
3. Lượng mưu (mưu của Gia Cát Lượng) là nhân vật trong Tam Quốc Chí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #113 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 10:19:07 pm »


C. VĂN THƠ, TRUYỆN KỂ VỀ PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG



PHAN BỘI CHÂU
TRUYỆN TRÁNG SĨ CAO THẮNG


LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ

Thế giới ngày nay đem tính mệnh treo vào cân não của các bậc anh hùng. Thế giới mà một ngày không có anh hùng, thì thế giới đó cũng không thể sống được một ngày. Không có Hoa Thịnh Đốn1 thì Mỹ Lợi Kiên2 chết, không có ba đấng anh kiệt Ba, Mã3 thì nước Ý Đại Lợi4chết; không có các bậc hiền tài Tây Hương5, Mộc Hộ6 thì Nhật Bản chết. Người anh hùng được dưỡng dục bằng cơm áo của thế giới ngay từ trong trứng nước.
 
Tôi yêu nước tôi, tôi không thể không trằn trọc mơ màng tưởng nhớ đến người anh hùng của nước tôi. Đã hơn mười năm nay tôi bôn tẩu hô hào khắp bốn phương Đông Tây Nam Bắc, mà vẫn chưa nghe thấy ai cả. Than ôi! Người anh hùng sao mà sống xa xăm tít mù vậy. Nay xin được dựng dậy những người anh hùng đã chết vùi dưới đất, đốt nén hương cầu nguyện, đó cũng là một chút của tấm lòng yêu nước của tôi, để viết ra
Truyện tráng sĩ Cao Thắng này.

Tác giả tiếc là không được cùng ở với tráng sĩ, gần gũi tráng sĩ khi ông còn sống. Bản ghi chép này, phần lớn ghi được qua lời kể của những người hầu cận tráng sĩ, nên có đoạn chỉ là hình thức bề ngoài mà chưa lột tả được đầy đủ chân tướng tráng sĩ. Mong bạn đọc lượng thứ cho. Ý của tác giả là làm thế nào không để mất đi cái tinh thần chân thực của truyện là được.


P.B.C

Trong thế giới gà lợn, tối tăm mù mịt, không có khí phách con người; trời đất nếu sập thì mặt trời, mặt trăng sẽ tối om! Bỗng trong rừng sâu núi biếc nhảy ra một con quái sư tử, gầm lên một tiếng, các loại quỷ nô sẽ run sợ lẩn tránh, khiến cho vũ trụ mây mù sương phủ hơn ba mươi năm trở thành một bãi sấm chớp lấp loáng; đó không phải là bậc anh hùng sao? Nếu đúng thì vị anh hùng đó là ai vậy? Tôi dám công nhận nói với quốc dân đồng bào rằng: Đó là Cao Thắng, một tráng sĩ của mười hai năm về trước.

Tráng sĩ người huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Đất Hương Sơn như thế nào mà lại nẩy sinh người tráng sĩ lỗi lạc thần kì như vậy? Tôi đã từng đi về làng cũ của tráng sĩ, thì phía trước làng là chín mươi chín ngọn Hồng Sơn; bao quanh phía sau là dãy Trường Sơn nguy nga ngất trời, mông mênh rợp đất; núi Thiên Nhẫn cheo leo cao vút đứng chầu ngay bên phải; nước thì có hai dòng sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố xuôi trôi vỗ sóng, có khí thế ganh đua mãnh liệt. Sơn thuỷ diệu kì thay! Chót vót mênh mông không sức nào ngăn nổi. Như vậy, liệu có thể có vị thân sĩ yếu đuối, nhà Nho kém cỏi nào còn khư khư giữ sào huyệt mà không thò đầu ra chăng?

Năm Tự Đức thứ 15, giặc chiếm sáu tỉnh Sài Gòn7, gió mưa hôi hám tràn lan hầu khắp non sông cả nước, thế mà nơi sơn thuỷ diệu kì như Hương Sơn lại chịu khổ hàng trăm năm nay dưới ách “chi hồ dã giả”8 của bọn hủ nho và bọn quan liêu, chuyên hút máu mủ nhân dân, làm dơ bẩn xã hội... may sao lại có cái khí phách bồng bột, hiên ngang, không thể chịu đựng, đem hết những kì phong quái thạnh, sóng giận nước gào, đổ vào một nhà họ Cao, nên mới có người tráng sĩ đột xuất này.

Tráng sĩ lúc còn nhỏ tuổi, tính phóng đãng, không màng của cải vật chất, nghe Bài phú tuyệt mệnh bằng chữ Nôm của kị sĩ Lê Tạo, lòng rất hâm mộ (Tạo cũng người huyện Hương Sơn, lúc đầu mộ quân phò nhà Lê, đánh nhau với nhà Nguyễn nhiều trận. Quan quân không đánh nổi Tạo, mới lập kế bắt mẹ Tạo, nên Tạo phải ra hàng. Khi lâm hình, Tạo có viết bài phú chữ Nôm tự thuật ý chí và khí tiết của mình, trong đó có câu: “Nghĩ Nam Hồ Bắc Việt thiếu chi mà, vàng Hàn Đế dễ tìm ra Quý Bố; Nhưng địa nghĩa thiên kinh là nặng lắm, thư chàng Từ9 mãi gửi lại Tào công10”. Người đọc rất lấy làm khoái chá).

Năm Giáp Tuất (1874), một vị đại lão huyện Thanh Chương là Trần Tấn11 mộ quân khởi nghĩa, mưu giết hôn quân và thanh trừ những tên gian ác. Nghĩa quân đông tới hơn vạn người, tung hoành nghìn dặm khắp vùng Hoan Ái12. Triều đình phải điều quân từ Thuận Hoá ra đàn áp, mãi sau mới dẹp yên được. Lúc nghĩa binh của Trần Tấn nổi dậy, tráng sĩ Cao Thắng đang còn ở độ tuổi thiếu niên, vung nắm tay, vùng vẫy muốn gia nhập nghĩa quân, nhưng bị cha mẹ ngăn cấm, nên chí khí chưa được thử thách.

Than ôi! Con mãnh hổ khi còn đang bú, nhưng móng vuốt đã khác thường, con tuấn mã tuổi còn non mà vó câu đã khác. Người nước ta đã quen với ách nô lệ lâu rồi, nên không biết hổ thẹn nữa, thì làm sao mà có được một tư tưởng vượt bậc như tráng sĩ! Nếu tráng sĩ đi theo phong trào nghĩa cử của Trần Tấn thì chắc là đã chết từ năm Giáp Tuất rồi, còn đâu tới ngày nay nữa để bọn ta lại nhìn thấy bậc kiệt sĩ châu Hoan!

Cách mười hai năm (kể từ năm Ất Dậu) sau khi Trần Đại Lão chết, kinh đô Thuận Hoá bị hãm, vua Hàm Nghi xuất bôn, đặt hành tại ở Hương Khê, Hà Tĩnh, xuống chiếu kêu gọi mộ quân Cần Vương trong cả nước. Sau đó các thân hào ở khắp các quận huyện đều kéo đến nơi vua đóng.

Trong vũ trụ có con quái vật xuất hiện, tất có người khen chê trêu chọc. Cả bầu trời mây đen mù mịt, ngày cũng như đêm, con rồng nhân đó mà bay lên. Ba đào ngập biển, sóng lớn tràn non, con cá kình vì thế nổi hung, cảnh tượng đó đến ngày nào mới có thể xuất hiện? Hiện nay, Chúa thượng gặp cảnh lầm than, bọn chó dê thì đắc chí, quỷ thần căm giận, đất trời đảo điên; thế mà những kẻ đường đường tấm thân bảy thước hãy còn quyến luyến vợ con, miệng câm như hến, không dám thò đầu khỏi cửa, ghé mắt nhìn đời! Họ chỉ là những cái túi đựng cơm thối hoắc, chứ có phải là những người ở đất Hồng Lam sản sinh ra đâu!

Ngày tháng Bảy năm đó, nghĩa binh của huyện Hương Sơn nổi dậy, tráng sĩ lấy họ tên thật cực kì hùng dũng của mình là Cao Thắng ghi vào sổ nghĩa binh. Thực ra thì tráng sĩ mới lên vũ đài trước giờ ngọ một tiếng đồng hồ.

Trước hết, giặc đánh ra Bắc Kì, chiếm giữ kinh đô Thuận Hoá và các cửa biển. Bọn chúng đi đến đâu, như luồng gió độc, người nước ta bị khốn đốn, lo sợ về nạn binh lửa ngập tràn, may còn có vùng phía Nam Quảng Trị, phía Bắc Thanh Hoá là chưa lọt vào tay giặc. Tráng sĩ biết bọn rắn lợn tham ăn, thế nào rồi chúng cũng mò đến, vậy ta hãy vỗ kiếm tự hùng, giơ cao nắm đấm để chờ đón cái ngày giờ đó. Nhưng ngoảnh nhìn lại chỉ thấy rặt những “kẻ đầy tớ giữ tiền” ở thôn quê với năm ba ông già, thì còn bàn bạc được gì, nên mới khẳng khái nói rằng:

- Người đại trượng phu hãy nên tự lập. Còn bọn họ thì toàn là những kẻ mắc bệnh ỷ lại, không đáng bàn nữa, làm bẩn lưỡi ta!

Do vậy mà tráng sĩ rất không hợp với những kẻ tục tử ở hương thôn.

Tráng sĩ tuy ôm ấp tư tưởng bay cao đánh mạnh, nhưng nhà lại nghèo; muốn tung tiền trăm vạn, nhưng biết trông cậy vào đâu? Bèn lợi dụng tư thế ngang tàng, ngầm liên kết với anh em trong đám lục lâm và với những người trộm cướp rồi tự mình làm lãnh tụ chuẩn bị địa điểm, biên chế đội ngũ sau này. Thế rồi có tiếng đồn đại xôn xao “thủ lĩnh ăn trộm bò”. Người ta thường nhìn bằng con mắt đó là kẻ tụ tập những người trốn tránh. Do đó, nhiều phen bị khốn với bọn quan lại bẩn thỉu trong huyện, nhưng tráng sĩ vẫn thản nhiên, không thèm đếm xỉa.

Trang nam nhi ưu tú sinh ra ở đời phải biết rửa mày mặt, thịt da cho non sông đất nước, không cần để ý đến những cái sở trường hay sở đoản của mình, đó là ý chí trác việt sinh bình của người tráng sĩ.

Tráng sĩ cư xử với mọi người thường rất hào phóng, nhưng khi gặp phải biến cố xảy đến thì lại rất nghiêm chỉnh, tiếng thét như sấm, thường được anh em hảo hán sợ phục. Đến khi khởi nghĩa, tráng sĩ đem hết những anh em bộ hạ thuộc các đảng phái cũ phiên chế thành đội ngũ, thiết lập quân luật, mọi người đều răm rắp tuân lệnh. Lúc đầu, quân còn ít, sức còn non, nhưng cờ trống nghiêm minh, có thể đánh nhau với giặc. Các đạo nghĩa binh đều có danh tướng cầm đầu.

Lúc đó, ở La Sơn có cụ Phan Đình Phùng phụng chiếu thống lĩnh tất cả các đạo nghĩa binh, tráng sĩ bèn đem hết bộ hạ đến xin gia nhập.

Đơn đao cắt đứt sầu kim cổ,
Trường kiếm rạch toang máu đất trời!
13

Tâm sự của người anh hùng đại để là như vậy. Song biểu lộ tâm sự này vào lúc nào? Vào lúc thắng hay lúc bại?

Ôi! Nếu không có thất bại thì không thể biểu hiện được người anh hùng. Tôi đã từng lấy sự thất bại để nhìn tráng sĩ.

Không bao lâu sau, nghĩa binh đã thu phục được thành Hà Tĩnh. Tiếng tăm lừng lẫy. Giặc đem hết các đạo quân hùng mạnh trong nước, tập trung về đất châu Hoan để chống cự với nghĩa binh. Những kẻ xấu theo giặc, dẫn bọn chúng vào tận nơi vua đóng. Xe loan bị giặc hãm, các đạo nghĩa binh tan. Đồn giặc đóng dày như răng lược, quân lính nhung nhúc như ong kiến. Quan lại, thân hào ở các phủ huyện, các tỉnh tranh nhau đầu hàng. Tiếng nổ của súng đạn xen lẫn tiếng kêu khóc van xin loạn xạ ở dọn đường.

Bọn họ từng trải bao gian khổ, lao vào việc nghĩa, gióng trống giương cờ. Đó là những trang nam nhi, một cánh tay không với ba tấc kiếm. Sự thể xảy ra như vậy, ở cảnh ngộ này, chịu hàng phục trước giặc ư? thì thề chết không làm cống rãnh14. Hay là tự xử15 lấy? thì chưa toại được nguyện vọng lúc đầu!

Tráng sĩ bèn triệu tập thủ hạ hơn hai mươi người hỏi ai có kế gì thì đề xuất ra. Mọi người không dám quyết định. Tráng sĩ hăng hái nói:

- Người nước Việt Nam ta, chỉ có Cao Thắng mất đầu, chứ không thể có Cao Thắng hàng giặc! Nay hãy tạm giấu tung tích chờ cơ hội hành động. Nhưng một ngày kia, sẽ ăn gan uống máu giặc, thì dù chết ta cũng không oán hận.

Mọi người đều vỗ tay. Sau đó đều thay quân trang, mặc thường phục, lẩn vào núi, mưu đồ việc tái khởi nghĩa.
________________________________________
1. Hoa Thịnh Đốn: Washington (1732-1799), Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ.
2. Mỹ Lợi Kiên: Nước Mỹ.
3. Ba đấng anh kiệt Ba, Mã: Ở đây tác giả viết sót một anh kiệt. Nếu là ba vị anh kiệt của nước Italia thì tức là Gia Lý Ba Đích (Garibaldi, 1807-1882), Mã Chi Nê (Mazzini, 1805 - 1872) và Gia Phú Nhĩ (Cavour, 1810-1861). Nhưng trong nguyên văn ở đây, tác giả ghi là Ba, Mã: Mã tức là Mã Chi Nê, còn Ba tức là Balbo, người có công lớn trong việc thống nhất nước Italia và việc cải cách nội chính.
4. Ý Đại Lợi: Nước Italia.
5. Tây Hương: Tức Tây Hương Long Thịnh (Saigo Takamori, 1827-1877), một trong những người có công đầu trong cuộc duy tân thời Minh Trị ở Nhật Bản.
6. Mộc Hộ: Tức Mộc Hộ Hiếu Doãn (Kido Takayoshi, 1833-1877), cũng là một vị anh kiệt thời Minh Trị duy tân ở Nhật Bản.
7. Năm Tự Đức thứ 15 tức là năm 1862, giặc Pháp mới chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kì, chứ chưa phải đã chiếm cả sáu tỉnh.
8. Chi hồ dã giả: 4 hư từ trong văn ngôn cổ. Người ta thường dùng tập hợp từ này để chỉ lối học chữ Hán xưa, cũ kĩ, lạc hậu.
9. Chàng Từ: Từ Thứ và Tào công: Tào Tháo. Thời Tam Quốc (Trung Quốc), Tào Tháo muốn buộc Từ Thứ bỏ Lưu Bị về với mình, đã viết thư giả nói là của mẹ gửi lời khuyên Từ Thứ. Từ mắc mưu và vì muốn giữ đạo hiếu với mẹ, về với Tào Tháo. Ở đây, tác giả mượn tích này để chỉ trường hợp của mình cũng vì giữ trọn đạo hiếu đã nghe mẹ mà ra hàng.
      Lê Tạo thường gọi là Hầu Tạo, người làng Tuần Lễ, nay là xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, lúc đó cầm đầu một cuộc khởi nghĩa nông dân chống triều Nguyễn. Bị quân Lê Văn Duyệt đàn áp, phải lui về cố thủ ở vùng rừng núi phía Tây Nghệ Tĩnh. Lê Văn Duyệt cho bắt mẹ của Hầu Tạo rồi giả thư của bà đưa tới khuyên Tạo ra hàng. Tạo nghe theo, nhưng bọn giặc lật lọng ra lệnh giết ông (1821).
10. Chàng Từ: Từ Thứ và Tào công: Tào Tháo. Thời Tam Quốc (Trung Quốc), Tào Tháo muốn buộc Từ Thứ bỏ Lưu Bị về với mình, đã viết thư giả nói là của mẹ gửi lời khuyên Từ Thứ. Từ mắc mưu và vì muốn giữ đạo hiếu với mẹ, về với Tào Tháo. Ở đây, tác giả mượn tích này để chỉ trường hợp của mình cũng vì giữ trọn đạo hiếu đã nghe mẹ mà ra hàng.
      Lê Tạo thường gọi là Hầu Tạo, người làng Tuần Lễ, nay là xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, lúc đó cầm đầu một cuộc khởi nghĩa nông dân chống triều Nguyễn. Bị quân Lê Văn Duyệt đàn áp, phải lui về cố thủ ở vùng rừng núi phía Tây Nghệ Tĩnh. Lê Văn Duyệt cho bắt mẹ của Hầu Tạo rồi giả thư của bà đưa tới khuyên Tạo ra hàng. Tạo nghe theo, nhưng bọn giặc lật lọng ra lệnh giết ông (1821).
11. Trần Tấn khi dựng cờ khởi nghĩa tự xưng là “An Nam Đại Lão”.
12. Hoan Ái: Hoan tức châu Hoan (Nghệ Tĩnh), Ái tức châu Ái (Thanh Hoá).
13. Nguyên văn: “Trường kiếm hoạch khai thiên địa huyệt; Đơn đao cắt đoạn cổ kim sầu!”.
14. Dịch chữ Câu độc: Cống rãnh. Ý nói cuộc sống nhỏ nhen dơ bẩn như cống rãnh.
15. Dịch chữ Tự kinh: Tự sửa trị lấy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #114 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 10:26:33 pm »


Than ôi! Thanh bảo kiếm phải giấu lưỡi, khẩu pháo mạnh phải nín hơi, đem cái khí khái “tay trái chỉ lên trời, tay phải trỏ xuống đất, liếc nhìn bốn bể, như xung quanh không có một ai”1 để tiêu sái ở nhưng bữa cơm, bữa rượu nơi thôn quê đồng nội, khiến cho người anh hùng vỗ đùi mà khóc sướt mướt, song đã là tráng sĩ thì cái phương châm của người tráng sĩ vẫn còn.

Tráng sĩ nói:

- Sự thất bại lần trước của ta có nhiều nguyên nhân, đại để là giặc thì có súng ống mà ta chỉ có tay không, đó là điểm chính trong mọi nguyên nhân thất bại. Nay ta lại mưu cuộc tái khởi nghĩa, không thể không có súng đạn, muốn có súng đạn, không thể không có tiền.

Súng ư! Súng ư! Cái túi rỗng tuếch có thể giải quyết được không? Vì thế, luôn mấy tháng liền, tráng sĩ phải tổn bao tâm tư vào việc súng đạn.

Sau khi tráng sĩ ở trong núi được hai năm, vào năm Ất Hợi2 niên hiệu Hàm Nghi, ảnh hưởng của nghĩa sĩ đã thấy nguội lạnh, các đồn giặc ở các phủ huyện, việc phòng bị đã thấy lỏng lẻo. Tráng sĩ tỏ ý mừng thầm, bèn nói với thủ hạ rằng:

- Việc tái khởi nghĩa đã có cơ hội rồi đấy. Nhìn lại “thóc gạo để sinh sống” bây giờ không gì bằng súng đạn. Khi đã trù liệu được súng đạn rồi, thì lại không thể không trù liệu ngay đến tiền nong để chi tiêu. Cách trù liệu tiền nong chi tiêu, chúng ta nên tính như thế nào đây?

Có người đáp:

- Có những ông A, ông B nào đó tích luỹ được nhiều của cải, chúng ta đến khuyên họ tương trợ cho có được không?

Tráng sĩ nói:

- Họ coi một đồng tiền như núi Thái Sơn, dù có đem dao kề vào cổ, họ cũng khư khư ôm lấy túi tiền, chẳng chịu buông ra. Họ biết gì đến việc nghĩa đáng giúp để mà khảng khái bỏ của ra đâu! Dạy chó niệm Phật, không khéo lại bị chó cắn cho.

Lại có người nói:

- Ông Mỗ... làm quan to, túi quan rất nặng, của cải trong nhà rất giàu, ông ta lại đọc sách nhiều, thông hiểu nghĩa lí, nay ta đem việc lo toan giết giặc cứu nước, vì cứu vớt sinh linh mà xin ý kiến, vì giải hận cho non sông mà khuyên họ giúp vào, liệu có được không?

Tráng sĩ nói:

- Như vậy là đòi của bố thí ở kẻ ăn xin. Chúng đã mất hết lương tâm của con người, khuyên dựa vào bọn bạch quỷ coi đó là người cha tái sinh, đó là bọn người uống nước đái chó không biết hôi, thì còn trông mong gì lòng hào hiệp của chúng. Nếu đến cầu cạnh họ, thì chẳng những tiết lộ cơ mưu của ta mà việc lớn cũng hỏng hết... Phương kế hiện nay, ví như bệnh ung nhọt, không chích mủ, không chảy máu, thịt mới không sinh ra được thì bệnh không bao giờ khỏi. Muốn có tiền đề làm việc nghĩa, mà không biết hạ độc thủ trước đi, thì chỉ ngồi mà đợi chết. Thông hiểu quyền biến, bỏ vợ con để mưu đồ công việc lớn, thì đó là bước đầu tiên khi ra khỏi cửa của kẻ cướp giật!

Kế hoạch bàn định xong, lấy ngày tháng Mười hai năm đó, đúng vào dịp cuối năm, các người buôn bán đi lại nhiều dò biết được các thuyền buôn của Hà Tĩnh thường xuôi Nghệ An, triệt các thuyền buôn tại các bến trên triền sông Lam, Triều Khẩu giữa ban ngày, bắt trói những người ở trong thuyền lại, lấy hết hàng hoá mang đi, rồi lại thả hết người ra, đố ai mà cựa được!

Đau đớn thay, vụ cướp ấy! Vui sướng thay, vụ cướp ấy! Đáng ca ngợi, đáng khóc than thay, vụ cướp ấy!

Cướp ư! Cướp ư! Đó là chân tướng của nền độc lập ư! Hay là sợi dây dẫn đến thời kì trung hưng khôi phục ư!

Trong lúc tráng sĩ vẫy đao hô bắt người cướp của, đó là cử chỉ của một kẻ vô lại, có biết đâu rằng chính con người đó đã hơn mười năm làm việc đại nghĩa, nuôi quân đúc súng, giết giặc rửa hờn! Đó có phải là hậu quả của bọn vô lại, giặc cướp ở ngọn sông Triều Khẩu chăng? Than ôi! Việc ở châu Âu tôi chưa bàn tới, chỉ xin nêu những việc trong sử sách mà tôi đã đọc, thường khen những bậc thánh nhân vì thương dân mà đánh kẻ có tội, thay trời làm việc giáo hoá, thì Lưu Bang, Chu Nguyên Chương có phải là người không, khi xuất thân vốn là một kẻ phạm tội ở Li Sơn, nhập bạn làm môn hạ cho Quách Hưng3? Hai vị thánh quân đó nếu không từ chỗ cướp giật mà làm nên, thì tránh sao khỏi tới chỗ chết đói? Những bọn người tầm thường kém cỏi chỉ lấy việc thành bại mà bàn luận con người, cho rằng ông này cường đạo ông kia là thánh quân. Xin lỗi các bạn, đừng coi đó là những lời vô ích. Tuy nhiên, chép đến đây, nước mắt tôi đã ráo, máu tôi đã cạn, bút tôi không thể viết được nữa! Những người có chí ở trong thiên hạ, hâm mộ sự nghiệp của tráng sĩ, thì trước phải học tấm lòng của tráng sĩ đã; phải có cái nhiệt thành yêu nước thương nòi, thì sau đó mới có thể nói đến chuyện cướp bóc; phải có tư tưởng hùng tráng vá trời lấp biển đã rồi sau mới có thể làm cái việc cướp bóc được.

Nhìn thấy của cải người ta mà thèm chảy dãi, dùng thủ đoạn cường bạo làm càn để nhét vào cái miệng, cái bụng của mình, may ra thì được no say, nếu chẳng may thì thân chết, tiếng nhơ, chớ đem tráng sĩ giả mà bắt chước công việc của tráng sĩ thật. Nếu ông Cao ở dưới suối vàng biết được, tất sẽ ăn thịt bọn đó!

Ngày hôm đó, mọi người họp trong một ngôi nhà nhỏ trên núi, vui vẻ uống rượu với nhau. Tráng sĩ triệu tập các binh lính cũ lại, lựa chọn những người khoẻ mạnh xếp thành một đội riêng, thết rượu say rồi bảo:

- Việc khởi nghĩa lần này, cần phải kêu gọi bốn phương. Việc binh không có tiếng nói đi đầu, thì những người có chí mong mỏi, ai người hưởng ứng. Những nhà giàu có thì keo kiệt, không dám bỏ của ra, thế thì lương thực lấy ở đâu?

Mọi người chưa kịp đáp, thì tráng sĩ đã nói:

- Tôi có một kế này: Đồn giặc đóng ở ven sông có hơn trăm tên, súng lớn nhỏ ước hơn trăm khẩu, đợi khi mặt trời lặn rồi, giặc phòng bị sơ hở, trong lúc chúng không để ý, ta dùng đoản đao tập kích, chắc chắn là cướp được súng giặc. Huống nữa, cái đồn này lại là cổ họng của mọi con đường, một khi bị ta đánh, tất phải loan báo đi các nơi, các phủ huyện tất sẽ đem quân đến cứu. Nhân lúc ấy, ta tung ra cướp phá, thì quân trang, quân dụng không phải là vấn đề khó giải quyết nữa. Khi quân trang, quân dụng đã có đủ, thì việc gì mà chẳng làm được. Anh em ta nếu không vào hang hổ thì làm sao bắt được hổ con4. Ta đi thôi!

Mọi người đều dạ ran. Khi uống rượu xong, trời đã gần tối, tráng sĩ cùng với năm mươi người khác, trong tay áo của mỗi người đều giấu một con dao ngắn và một thanh kiếm dài, lần theo đường núi, nhân lúc đêm tối, ngậm tăm rảo bước. Khoảng mười hai giờ đêm đã đến sát đồn giặc. Lính gác đồn chưa kịp hỏi thì lưỡi dao của quân tiên phong đã vung lên. Trong chớp mắt, đầu tên lính gác đã rơi xuống. Quân ta thừa thế phá tan cửa đồn, sấn vào giữa đồn. Quân giặc đang ngủ say. Tráng sĩ gầm lên một tiếng, năm mươi người chia đường xông lên chém giết. Tên quan ba (Capitaine)5 giặc, hoảng sợ bò dậy, cầm súng toan bắn, tức thì ăn ngay một nhát dao của tráng sĩ. Bọn còn lại, hoặc chống cự, hoặc chạy trốn, bị quân ta giết quá nửa. Lương thực súng đạn trong đồn ta thu hết, đến gần sáng mới dẫn quân đi.

Nguyên một việc này đủ làm một cái kính hiển vi soi rõ nửa quãng đời trước của tráng sĩ. Thực ra, nó cũng chỉ là mở đầu cho nửa quãng đời sau của tráng sĩ mà thôi. Ôi! Từ một kẻ thủ phạm trộm bò đến kẻ cướp súng, vốn đã là “cá chép đốt đuôi”6. Nhưng từ đó trí óc càng mở rộng, trở thành một vị tướng có tài có công trừ giặc nước, phải chăng cũng chính là bắt nguồn từ việc đó? Con rồng giương vây, con báo biến dạng, nếu không phải là sản vật đặc biệt của địa phương, thì làm sao lại có được một con người hào sảng tuyệt vời như vậy?

Sáng ra, tráng sĩ lại tập hợp mọi người trong sơn trại lại, mở tiệc ăn mừng. Rượu mới nửa chừng, tráng sĩ đã nói với mọi người rằng:

- Chậm ra là một hai ngày nữa, giặc tất sẽ đem quân thành Nghệ An đến tìm diệt ta. Vậy nhân lúc chúng chưa đến kịp, ta hãy chia nhau đi cướp phá các ấp lân cận để trù bị lương thực cho nghĩa quân. Nếu không, khi giặc đến, ta phải kháng cự, khó có lúc rảnh rỗi, lương thực mà hết thì việc lớn của ta sẽ hỏng mất.

Sau đó, thả quân đi cướp phá những nhà giầu ở các làng lân cận, trong một hai ngày mà thu được tiền của mấy vạn. Rồi lại mở những cuộc chiêu mộ tráng đinh rất lớn, nên bộ hạ của tráng sĩ ngày một đông thêm.

Được biết, trước đây tướng công Phan Đình Phùng lánh ở đất Bắc Kì, định sang cầu viện nhà Thanh, nhưng không thành, tráng sĩ sai người đón về châu Hoan tôn làm đại sư để thu phục lòng người. Vì thế mà bốn phương hưởng ứng, chẳng bao lâu đã chiêu tập được hơn nghìn người, bèn đóng đồn ở Vụ Quang.

Vụ quang là một nơi rất hiểm yếu thuộc vùng thượng du tỉnh Hà Tĩnh. Mỗi khi giặc đến, đặt quân mai phục giữ những nơi hiểm yếu, giặc không làm gì nổi. Tiếng tăm của nghĩa quân ngày càng lừng lẫy, thường đem quân đi đánh đồn giặc, cắt đầu giặc, cướp súng rồi trở về. Tên quan giữ đồn nghe tiếng tráng sĩ, khuyên nhau ra đánh, gọi tráng sĩ là “con hổ Thắng” (Seigneur tigre)7.

Than ôi! Lô Giang trở về Nam, Cần Hải trở ra Bắc, nghĩa quân biệt tích ở ven trời đã bao năm, một người áo vải bình thường, riêng thẹn không muốn đứng trong hàng ngũ bọn ngoại xâm, thề diệt trừ bọn chúng để làm rạng rỡ quốc dân ta! Một lần ngã xuống, rồi lại một lần ngã xuống, cuối cùng tất phải hăng lên, mạo tên xấu không quản ngại, gặp nạn lớn không sợ sệt, sóng thần Triều Khẩu không thể nhòm được nơi ẩn náu, cỏ cây Phố Sơn8 chẳng dám gọi tên. Chưa đủ! Còn oai phong lẫm liệt như thế nào? Nguy nga chót vót như thế nào nữa? Xin đồng bào cùng các anh hãy xông hơi thơm và tắm gội sạch sẽ, mà đọc toàn bộ tiểu sử của tráng sĩ.

Cứ như thế được hai năm, vào năm Hàm Nghi Đinh Sửu9, khi tính gan dạ chiến đấu của tráng sĩ ngày một lớn, thì âm mưu sát hại tráng sĩ của giặc cũng ngày một sâu. Tráng sĩ đã có đủ binh lương, sơn trại được củng cố, lại lo khuếch trương thêm quân bị làm kế lâu dài, cho rằng trước đây chỉ cầm súng của giặc đánh giặc, thì đó không phải là nguồn cung cấp lâu dài được; nếu rồi đây giặc giấu hết kho tàng đi để làm khó cho ta, lúc đó súng đạn ta hết thì làm thế nào? Do đó mà tráng sĩ ngày đêm suy tính tìm bằng được phương pháp chế tạo súng ống.

Bấy giờ, tráng sĩ bèn tập trung tất cả các thợ rèn, thợ đúc, thợ đồng lại rồi đem tháo tung khẩu “dương pháo” (gieladines)10 ra, vẽ hình từng bộ phận và tìm hiểu sự vận động tinh diệu của máy móc, để anh em thợ theo mẫu mà chế tạo. Gặp phải chỗ tinh vi quá, thợ không làm nổi, thì tráng sĩ vận dụng đầu óc thông minh tuyệt vời của mình cộng với cánh tay linh hoạt kĩ xảo của mình để chế tạo ra khẩu súng trông không khác gì súng của Tây dương, đưa cho mọi người xem đều không biết đó là súng mới chế tạo. Trong vòng vài năm đã chế được khoảng nghìn khẩu. Nhờ đó mà vũ khí dự trữ của sơn trại ngày càng nhiều.

Tôi, vì thế mà ngán cho bọn hôn chúa gian thần, bán dân hại nước, phải cảm tạ nhân dân ta, an ủi non sông xã tắc ta như thế nào đây? Người Pháp trông cậy vào cái đó để nuốt chửng quốc dân ta. Vì cái ưu thế trong chiến đấu chẳng qua là khẩu súng; đao, quyền, côn, kiếm quyết không thể chọi nổi nó, dù là những người đàn ông ngu si, những người đàn bà đần độn cũng đều hiểu được điều đó. Trên chốn miếu đường, kíp phải tìm mưu tính kế, chuẩn bị sẵn sàng trước khi trời chưa mưa, đó là bổn phận. Từ sau khi Sài Gòn thất thủ, trong ba mươi năm qua, chưa từng nghe thấy ai nghiên cứu một cuốn sách binh pháp nước ngoài, chưa từng nghe thấy ai ưa chuộng người chế tạo ra súng ống. Lúc bình thường nhàn hạ, thì vũ nữ ca nhi, lúc quân giặc kéo đến, thì bỏ dân cắt đất. Ai chẳng là con đỏ của triều đình mà nỡ để họ chịu cảnh đau khổ đó? Hoàng Kế Viên làm quan Tiết chế Bắc Kì gần hai mươi năm, thế mà súng không một khẩu nào bắn được, lính không một người nào biết chiến đấu, chỉ biết ung dung trang sức, cờ gấm hồng, kèn bạc, áo thêu đỏ, nạt nộ đàn bà, con trẻ làm kế kiếm tiền. Cả nước vua tôi như thế, thì không muốn làm kiếp trâu ngựa tôi đòi, phỏng có được chăng? Còn người tài giỏi có lòng trung nghĩa thì lại bỏ phí hoài... những việc chẳng hài lòng xảy ra trong thiên hạ, thở than sao xiết? Tráng sĩ Cao Thắng từ nơi đầm cỏ; tổ chức nghĩa quân, kêu gào giữa khoảng mênh mông trời biển, không một tấc đất dung thân, thế mà từ trong một sơn trại gập ghềnh, lập lên được một lò đúc súng, chống nhau với giặc suốt tám, chín năm trời. Đến nỗi giặc nghe đến họ tên không dám lại gần. Nếu ngay từ thời Tự Đức biết đem hết khí phách xô núi dốc biển, phô tài năng vén gió ngăn mưa, khiến cho sĩ phu trong nước nghe tin, hưởng ứng cùng với trăm nghìn vạn anh hùng vô danh, cùng nhau rong ruổi, cưỡi gió theo mây, vượt sóng kình, quay mũi hướng Tây thì cũng chẳng lấy gì làm khó!
____________________________________
1. Theo Truyền đăng lục, Phật Thích Ca khi mới ra đời, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, rồi nói to như sư tử gầm: “Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quý nhất”. Tác giả mượn ý này để chỉ cốt cách của tráng sĩ Cao Thắng.
2. Nguyên bản in là năm Ất Hợi, nhưng phải là năm Đinh Hợi (1887) mới đúng với sự thực lịch sử và mới khớp với niên hiệu Hàm Nghi.
3. Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ) diệt nhà Tần lập ra nhà Hán (Tiền Hán hoặc Tây Hán), đóng đô ở Trường An, truyền đến mười hai đời vua thì bị Vương Mãng lật đổ.
      Chu Nguyên Chương (tức Minh Thái Tổ) xuất thân là một tá điền, theo Quách Tử Hưng khởi nghĩa đánh lại nhà Nguyên. Quách chết, Chu tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa cho đến khi thắng lợi và lập ra nhà Minh.
4. Ý nói phải xông vào nơi nguy hiểm để làm một việc quan trọng.
5. Chữ Pháp trong nguyên bản.
6. Ý nói đã có nhiều thay đổi.
7. Chữ Pháp trong nguyên bản.
8. Phố Sơn: Thị trấn Phố Châu ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) có sông Ngàn Phố chảy qua.
9. Nguyên bản in là năm Đinh Sửu nhưng phải là năm Đinh Hợi (1887) mới đúng.
10. Chữ Pháp trong nguyên bản.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #115 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 10:37:10 pm »


Than ôi! Ô chí khí lớn lao như vậy, mang tài năng kiệt xuất như vậy mà nỡ để chôn vùi trong cát sỏi. Cuối cùng xông pha súng đạn, chỉ một mình tráng sĩ được nêu danh. Than ôi! Thật là vinh quang cho tráng sĩ, nhưng cũng thật là bất hạnh cho nhân dân nước ta! Đau đớn thay! Đau đớn thay!

Tráng sĩ nhiều phen quần nhau với giặc, bắn giết chúng rất nhiều. Bọn giặc hễ nghe tiếng súng, lại sợ hãi bảo nhau: Quân Nam trở thành quân nước ngoài rồi chăng? Nếu không phải thì làm sao mà lại có nhiều pháo đạn nước ngoài đến như thế? Do đó, trong quân giặc, khi giáp trận, bất kì sĩ quan hay binh lính đều chĩa mũi súng vào một mình tráng sĩ. Những kẻ nô lệ nịnh hót giặc, không đứa nào không coi tráng sĩ là bậc kì tài, bọn chúng dùng trăm phương nghìn kế nhằm phủ dụ, đánh dẹp cũng không đạt kết quả gì. Bỗng có tên tay sai giặc là Đinh Nho Quang, người cùng làng với tráng sĩ, được lĩnh chức Tuần phủ kiêm Tiễu chấp sự tỉnh Hà Tĩnh, đem hơn hai nghìn quân rải khắp vùng Hương Khê, Hương Sơn để truy lùng sục sạo tiêu diệt tráng sĩ cùng các nghĩa binh. Kế cùng, các bộ hạ của tráng sĩ bực bội xin cho được ra đánh nhau với chúng. Tráng sĩ nói:

- Đinh tuy mất hết lương tâm, nhưng cũng là người của đồng bào Tổ quốc ta. Nếu ta đánh chắc chắn Đinh thua. Trong lúc giao tranh, mũi tên hòn đạn, tính mạng không thể bảo toàn, làm tổn thương đến tình cảm quê hương ta. Nhưng nếu không dùng võ lực trị nó, thì ta cũng phải trừng phạt nó để làm gương cho người trong nước.

Anh em nghĩa binh hỏi dùng kế gì. Tráng sĩ đáp:

- Tên lão nô này dốc lòng với bọn Pháp. Ta sẽ dùng “bọn Pháp” để đánh lừa nó, chắc là bắt được.

Đúng trưa hôm đó, tráng sĩ cho gọi những bộ hạ có đảm lược khoảng năm mươi người, ăn mặc quân trang hệt như đội lính kèn (Clairons)1 Tây, đủ cả nghi thức võ quan nước ngoài, rồi kéo thẳng vào chỗ Đinh Nho Quang đồn trú. Đinh cho là các quan của đồn giặc tới, không dám tránh. Đinh bị tóm cổ đem đi. Quân giặc bốn phía biết Đinh bị bắt, đứng trơ không dám động cựa gì. Sau khi bắt về trại, Đinh lạy tạ xin tha tội chết, tráng sĩ bèn thả Đinh ra.

Truyện2 nói rằng: Một ngọn cỏ Huân (thơm) một ngọn cỏ Do (thối), mười năm sau còn ngửi thấy mùi thối của Do! Lâu dài thay sức bền của mùi vị! Rồi quay về phía mọi người, tráng sĩ hỏi:

- Các anh thích mùi thơm hay thích mùi thối?

Tất nhiên mọi người đều đồng thanh đáp:

- Thích mùi thơm.

Không có gì là lạ cả. Cái mũi của con người còn lại cũng không bằng khối óc của con người còn lại. Vì rằng, mũi còn thì cảm tình ở máu thịt, óc còn thì cảm tình ở tinh thần. Cảm về máu thịt càng lâu thì sự tanh hôi của nó khiến người ta không chịu nổi; còn như cảm tinh thần càng lâu, càng mạnh mẽ, khiến người ta không thể quên được. Đó là sự việc mà tráng sĩ đã làm cách đây mười lăm năm vậy.

Những người bị khổ về sưu thuế nhớ tráng sĩ; những người không có rượu uống than không có tráng sĩ nên chẳng được say; những người không có muối ăn, than vì không có tráng sĩ nên chẳng được no!

Nhìn sông Ngàn Phố mà than thở, nhìn núi Giăng Màn mà than thở. Ngọn lửa giặc càng bốc cháy, mối hận thù càng sâu. Lòng tưởng nhớ tráng sĩ của quốc dân ta càng da diết. Giáo hào kiệt ở đâu, ngửa mặt gọi linh hồn cổ kiếm; nợ nghĩa hiệp năm này, phá thành vẩy nước mắt anh hùng. Hỡi ôi tráng sĩ! Hỡi ôi tráng sĩ! Tôi hâm mộ tráng sĩ. Tôi chẳng muốn nghe hồi chuông báo tráng sĩ lìa đời!

Tuần phủ họ Đinh thua bại, những tên tay sai khác rất sợ. Tráng sĩ ở trên sơn trại cũng được rảnh, mới chăm chú vào việc đúc súng, được hơn ba nghìn khẩu. Lại phái người sang Xiêm mua thuốc súng để tăng binh bị. Rồi xin lệnh Cụ Phan, lấy thêm mấy thành ấp ở Nghệ An, Diễn Châu để phô trương uy thế, mưu kế tiến thủ.

Ra quân chưa thắng thân đã chết;
Khiến kẻ anh hùng lệ đẫm khăn!
3

Đương lúc tay không tấc sắt, túi không một đồng, nếu như người khác thì đã gục đầu, mất hết ý chí mà kêu: Làm thế nào được? Làm thế nào được? Riêng tráng sĩ, đã vượt cỏ dại, phát gai góc, chảy máu sắt, vẩy nhiệt thành, chọi nhau với giặc, mạnh như hổ, tham như sói.

Than ôi! Đại trượng phu là phải như vậy; dưỡng uy súc nhuệ đã nhiều năm, lương thực đủ, súng đạn nhiều; quân hùng lính dũng kéo đến ùn ùn; khắp dải Lam Hồng một ngọn cỏ, một lùm cây nào chẳng nghển cổ trông theo bóng cờ của tướng quân, muốn thở hít chút hơi kiếm tự do, muốn ngó nhìn cảnh võ đài độc lập, có biết đâu rằng, tổn bao năm tâm huyết mà chỉ để lại một tấm bia kỷ niệm đau xót thôi ư!

Sấm sét rền vang tỉnh dương thế.
Ấp ủ mấy mùa để hậu lai!


Âu cũng là để tạm an ủi tráng sĩ vậy.

Niên hiệu Hàm Nghi thứ 9, năm Quý Tị, tháng Mười là ngày kỷ niệm lớn về tráng sĩ.

Được biết là khoảng hai ba giờ trước khi bỏ mình, tráng sĩ còn biểu diễn những tiết mục đặc sắc “hát múa súng đạn” để tỏ uy linh của núi sông và để làm thoả mãn tai mắt muôn nghìn người nghe, xem. Cớ sao cuộc đời của tráng sĩ lại đã vội chấm dứt ở đây?

Khi tráng sĩ đang đốc suất đại binh đi kinh lược vùng Thanh Chương, vừa mới đến chợ Lương Điền ở tổng Bích Triều, chợ này có đồn giặc đóng. Được tin quân của tráng sĩ kéo đến, viên quan đồn rất sợ, liền đánh điện gấp báo tin cho các đồn khác. Một lát sau, viện binh của giặc đều tập trung ở đồn Lương Sơn. Tên quan ba (Capitaine)4, tên quan một (sous-lieutenant)5 đồn Nam Đường, cùng với mấy tên quan một, quan hai (lieutenant)6 khác của giặc hợp binh liên đồn để đánh nhau với tráng sĩ. Tổng cộng số binh lính của giặc có đến năm trung đội (cinq compagnies)7; lại có khoảng hai nghìn lính tập (tirailleurs)8 làm đội tiền khu. Sáng ra, cờ ba sắc (drapeau tricolore)9, tiếng kèn rợp núi vang khe. Mọi người nhìn thấy đều lấy làm lo sợ cho tráng sĩ. Lúc tin điệp báo về, tráng sĩ bảo với bộ hạ rằng:

- Kể từ ngày dấy binh, nay cánh tay của ta mới thấy khoái đó. Giặc kia sợ là sợ ta vậy. Ta sẽ cùng các anh chia làm ba đội. Ta dẫn đội chính binh đánh vào giữa, các anh là hai đội kì binh, chia làm hai cánh tả hữu đánh vào. Ta ở trên núi cao đứng phất cờ ra lệnh, cố ý để cho giặc nhìn thấy ta, chúng sẽ dốc toàn lực để đánh ta, các anh tức tốc kéo quân về hai bên tả hữu, chặn ngay cánh tay giặc lại. Ta từ trên núi kéo xuống, xông vào giữa đội hình của giặc mà đánh, giặc tất phải bắn loạn xạ, thì làm sao mà trúng đích được. Chẳng mấy chốc giặc tất thua to. Quân ta thừa thắng kéo thẳng về thành Nghệ An, cắt gan giặc nấu canh, cùng các anh uống rượu cho bằng thích.

Lúc đó, tiếng tráng sĩ vang lên như tiếng chuông, mắt lấp lánh như ánh sao, ba quân nhảy nhót, tiếng vâng dạ hân hoan ra xa đến mấy dặm dài. Sau khi cùng nhau ngồi ăn bữa trưa trên bãi cỏ, nghĩa quân từ núi Lương Điền kéo xuống, binh lính giặc cũng từ đồng chợ dẫn đến, gặp nhau ở phía Tây xã Lương Điền. Các tướng lĩnh nghĩa quân theo y kế của tráng sĩ, chia làm ba mũi giáp công. Tiếng súng trận dội vào khe núi, ngân xa đến vài trăm dặm chưa dứt. Từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa giao chiến, tên quan một và quan hai của giặc bị thương, cánh quân của tên quan ba của giặc cũng bị vây. Lại ác chiến thêm một lúc nữa, quân giặc chết thêm vài chục tên, còn bọn lính tập thì chết không biết bao nhiêu mà kể. Giặc vội di chuyển trận địa, muốn rút lui. Chúng dồn số đạn dược còn lại, bốn phía tập trung, hướng vào phía tráng sĩ mà bắn. Tráng sĩ bị một viên đạn bất ngờ trúng vào chân trái. Băng bó vết thương xong, tráng sĩ vẫn ráng đánh đến tận đúng một giờ chiều. Thế giặc càng quẫn. Chợt có quân cứu viện của giặc vượt sông Ngô kéo tới, khí thế rất hung hăng. Không may, tráng sĩ lại bị trúng một viên đạn nữa, gầm lên một tiếng rồi ngã vật xuống. Khẩu súng mười (fusil à dix coups)10 cầm trong tay văng ra, không nhả đạn nữa! Bộ hạ, tì tướng bị thương và chết đến hơn mười người. Rồi nghĩa binh cùng nhau đỡ lấy thi hài người tráng sĩ chết trong bách chiến mang đi.

Than ôi! Từ đó môn hạ của cụ Phan Đình Phùng không còn có một tướng nào có tài chiến đấu như Cao Thắng nữa. Chẳng bao lâu, tên Nguyễn Thân đem hơn vạn quân giặc chà đạp lên đất châu Hoan, gót chân giặc dày đặc như đan. Rồi cụ Phan hi sinh, nghĩa binh tan rã. Nước ta đến đây không còn lấy một dúm tro tàn! Mối quan hệ của tráng sĩ với non sông ta há chỉ có lợi bằng một sợi tơ sợi tóc thôi ư?

Kẻ bắn chết tráng sĩ là người huyện Hưng Nguyên, tên là Phiến. Phiến sinh ra ở nước Nam, nhưng lại làm chó săn cho giặc. Khi giặc vào Nghệ An mộ lính tập, Phiến ra ứng mộ, đánh rất ác, giặc cho làm chức quan một, nên người ta thường gọi hắn là Một Phiến.

Đọc lịch sử châu Âu, thấy Đỗ Lan Tư Oa11 chống Anh. Phi Luật Tân12 chống Mỹ, không phải họ không phơi thây nghìn dặm, máu chảy thành sông. Nhưng chỉ thấy có người Anh giết người Đỗ, mà không thấy người Đỗ giết người Đỗ; chỉ thấy người Mỹ giết người Phi, mà không thấy một người Phi nào giết người Phi cả. Họ đều biết rằng, người dị tộc không thể nương tựa, mà chỉ lấy người cùng giống để làm thân, đó là nghĩa lí rất thông thường của dân một nước văn minh. Ngay như giặc Pháp đến diệt nước ta, những người nước ta bị giặc giết hại, lại phần nhiều là do bàn tay của bọn người theo giặc. Loại người lòng lang dạ sói, mặt người ruột thú như tên Một Phiến bắn chết tráng sĩ họ Cao, thì quả thực là khắp hoàn cầu chưa hề thấy một ai như vậy cả. Đáng thương thay! Đáng thương thay!

Cùng được che chở trong trời đất này, cùng sinh ra và được nuôi dưỡng trên non sông này. Hàng ngàn năm nay, huyết mạch của tổ tông để lại, ai chẳng phải là anh ta, em ta? Ai chẳng phải là chú bác ta, cha mẹ ta? Sao lại nỡ day tay trở mặt, cùng giống hại nhau; sao lại nỡ vì người khác giống mà giúp kẻ bạo ngược? Hôm nay một người cùng giống nòi giết một người cùng giống nòi, ngày mai lại có mười người cùng giống nòi giết mười người cùng giống nòi. Ngày nào cũng như thế, năm nào cũng như thế, tháng nào cũng như thế, thì chỉ tổ làm cho bọn quỷ khác nòi kia ngồi nhìn cảnh sầu đau “hổ nhai kình nuốt” của dân ta mà khoái chá! Người nước ta há lại chẳng thấy thân phận mình sẽ biến thành con giun, con kiến hay sao! Đau lòng mà sống với kiếp nô lệ, quyết không phải là cuộc sống dài lâu của bọn ta! Mỏi mắt nhìn cảnh non sông chìm đắm và xót thương cho những linh hồn chưa chết hôm nay mà tôi viết Truyện tráng sĩ Cao Thắng này.

Tôi mong đồng bào ta, chớ làm như tên Phiến tàn hại đồng bào!
______________________________________
1, 4 ÷ 10. Chữ Pháp trong nguyên bản.
2. Sách Tả truyện chép: “Nhất huân nhất do, thập niên thượng do hữu xú”.
3. Nguyên văn hai câu thơ chữ Hán của triều đình đời Nam Tống (Trung Quốc): Xuất sự vị tiệp thân tiên tử; Trường sử anh hùng lệ mãn khâm
11. Đỗ Lan Tư Oa: Transvaal, một nước thuộc Nam châu Phi xuất hiện từ năm 1836 dưới quyền đô hộ của thực dân Hà Lan. Sau đó, thực dân Anh đem quân đến tranh giành và Anh thắng. Đến năm 1881, Transvaal mới được độc lập nhưng vẫn phải dưới quyền uỷ trị của thực dân Anh. Đến năm 1909, Transvaal buộc phải tham gia vào khối liên bang Nam Phi và nay Transvaal là một tỉnh của Liên bang Nam Phi.
12. Phi Luật Tân: Nước Philippine.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #116 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:04:17 pm »


VÕ PHÁT1
VĂN TẾ CAO THẮNG


Than rằng:

Thanh bảo kiếm mười năm sẵn có, đấng anh hùng dùi mài mãi chưa thôi;

Áng nhung trường một phút như không, con tạo hoá ghét ghen chi lắm thế!

Nghĩa đồng ưu tưởng lại luống đau lòng;

Tình vãn điếu nghĩ càng thêm rơi lệ.

Nhớ Tôn linh:

Hào kiệt ấy tài;

Kinh luân là chí!

Vén mây nửa gánh giang san;

Vỗ cánh bốn phương hồ thỉ.

Gặp quốc bộ đang cơn binh cách, nghĩa giúp vua chung nỗi ẩn ưu;

Bỏ gia đình theo việc nhung đao, lòng đánh giặc riêng phần lao tuỵ.

Địa bộ muốn theo dòng Nhạc Mục2, thét nhung bào từng ghê trận oai linh;

Thiên tài toan học chước Vũ hầu3, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí.

Ơn quan tướng Đổng nhung vâng mạng, cầm ấn quan phòng,

Tước triều đình Chưởng vệ gia phong, kéo cờ tân chế.

Những chắc rằng ba sinh có phúc, hăm hở mài gươm chuốt đá, chí khuông phù4 không phụ với quân vương;

Nào ngờ đâu một sớm không chừng, mơ màng đạn lạc tên bay, trường chiến đấu biết đâu là số hệ.

Trong ba kỉ5 xuân thu tuy chửa mấy, trên yên ngựa đòi phen roi thét, trọng cương thường quyết mở mặt nam nhi;

Ngoài mười sương, sự nghiệp biết chừng mô, trước cửa viên bỗng chốc sao sa, thu linh phách hội cướp công tráng sĩ.

Non Thiên Nhẫn phất phơ hơi gió thổi, thương người tiết nghĩa ngậm ngùi thay;

Nước Tam Soa thấp thoáng bóng trăng soi, nhớ kẻ trung trinh ngao ngán nhẽ.

Thà thết nữa trong tay địch khái, theo về tổ phụ ấy cùng vinh.

Kìa sống như mấy kẻ hàng di, ở với tinh chiên càng thêm bậy.

Nay nhân:

Chung thất tới tuần;

Thúc sô dâng lễ.

Chén rượu thoáng bay mùi chính khí, trước dinh đều đủ mặt quan liêu;

Nén hương nghi ngút khói bạch vân, dưới áng đua chen hàng cỏ vệ.

Chua xót thay hai già6 tuổi tác, ngọt bùi cậy tay em thay đỡ, khối thâm tình chưa thoát cõi hoàng tuyền;

Cám cảnh thay đàn trẻ thơ ngây, ân cần nhớ công vợ dạy nuôi, may di phúc lại nảy ngành đan quế7.

Tịnh phách ví dầu thanh sáng, hộ phen này cho tướng mạnh quân bền;

Linh hồn nếu có khôn thiêng, rồi ngày khác lại sắc phong điện tế8.

Thôi! Thôi!

Cửa tía lầu vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, để tiếng thơm cho tỏ mặt anh hùng;

Súng đồng gươm bạc mặc người còn, truyền lệnh ba quân, thét hơi mạnh để xây nền bình trị.

Thương ôi là thương,

Kể sao xiết kể!

(In theo Đào Trinh Nhất: Phan Đình Phùng..., sđd)

___________________________________
1. Võ Phát (?-1895): người xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, giữ chức Bang biện Quân vụ trong nghĩa quân Cần vương, thường gọi là Bang Nhu. Hưởng ứng Chiếu Cần vương của Hàm Nghi, ông cùng với em là Võ Hoán khởi sự ở Kỳ Thư, quy tụ được các đội nghĩa quân khác ở Kỳ Anh như Lê Nhất Hoàn ở Kỳ Tân, Trần Công Thường ở Kỳ Phú và Nguyễn Tiến Đắc ở Kỳ Bắc, năm 1889 gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng thành Kỳ thứ. Cụ Phan thấy ông không những là người đảm lược mà còn có nhiều cơ mưu, năm 1891 vời lên Vụ Quang, cho ở bên cạnh, giúp việc văn thư. Cao Thắng bị hi sinh tại đồn Nu, ông được giao làm bài văn tế Cao Thắng. Sau khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng tan rã, ông bị bắt rồi bị chém ở Kinh vào năm 1895.
2. Nhạc Mục: tức Võ Mục hầu nhạc Phi, danh tướng đời Tống.
3. Vũ hầu: tức Gia Cát Khổng Minh.
4. Khuông phù: Giúp nâng.
5. Ba kỉ: mỗi kỷ là mười năm, Cao Thắng sống chưa đầy 30 tuổi.
6. Ý nói ông mất đi hãy còn cha mẹ.
7. Đan quế: Chỉ con trai. Khi Cao Thắng tử trận, vợ ông đang mang thai.
8. Sắc phong điện tế: Phong sắc cho và đặt lệ tế vong, tưởng nhớ công đức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #117 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:30:46 pm »


LÊ NINH

                                     TỰ VỊNH


Phiên âm:

                            Hồi ức tiền niên nhập Tĩnh thành,
                            Bồi hồi ngũ dạ quý hư danh.
                            Tâm phao vạn tuyến cương thường trọng,
                            Thân lịch thiên trùng chướng vụ khinh.
                            Đãi đán hữu hoài phù địa trục,
                            Chẩm qua khả tất yếu thiên kinh.
                            Thủ chung hoà tự hoàn ngu Tống,
                            Lam Thủy, Hồng Sơn thệ thử sinh.


Dịch nghĩa:

                                     TỰ VỊNH

                           Nhớ lại năm trước vào lấy thành Hà Tĩnh,
                           Băn khoăn suốt mấy năm canh những thẹn vì hư danh.
                           Lòng vấn vương muôn mối, cương thường là trọng,
                           Thân trải nghìn trùng, lam chướng cũng coi thường.
                           Ngồi suốt đêm đợi sáng, luôn lo nghĩ việc đỡ cái trục đất,
                           Nằm gối đầu lên giáo, hẳn có thể nêu cao được đạo thường của trời1.
                           Trước sau một chữ hoà làm ngu vua tôi nhà Tống,
                           Thân này đã thề cùng với sông Lam, núi Hồng.


Dịch thơ:

                           Nhớ lại năm qua lấy Tĩnh thành,
                           Suốt đêm khắc khoải thẹn hư danh.
                           Lòng vò trăm mối cương thường trọng,
                           Thân trải muôn trùng chướng khí khinh.
                           Trục đất ước xoay chờ sáng gấp,
                           Đạo trời muôn tỏ gối gươm linh.
                           Chừ hoà ngu cả vua tôi Tống,
                           Thề với Hồng, Lam trọn kiếp mình.

Khương Hữu Dụng dịch
(In theo bản chữ Hán trong Bài ngoại liệt truyện
In theo Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam, tập IV,
Nxb Văn hóa - 1963)
______________________________________
1. Đợi sáng, gối giáo: Lưu Côn đời Tấn đêm nằm gối lên giáo, đợi mai mau sáng để đi đánh giặc cứu nước.






LÊ PHẤT1

BÀI CA TUYỆT MỆNH

Ôi trời đất xoay vần đâu khác,
Hỡi giang sơn gánh vác sao đây?
Tử trung, tử hiếu là hay,
Dao này liều với thân này cho xong?
Gan anh hùng bấy lâu đã tím,
Tuốt lưỡi gươm mong chém giặc trời.
Mấy lâu Nam Bắc trong ngoài,
Vẫy vùng núi rộng bể khơi thiếu gì.
Chẳng may lại gặp khi bôn bá2,
Nước đến chân thấy đã buồn rầu.
Tiếng thơm nhớ những ngàn thâu,
Máu quan Kê Thị3, răng hầu Tuy Dương4.
Đành hay phận mình dường bé bé,
Vẫn như giun như dế quản bao.
Khó gì gieo cái hồng mao5,
Thôi thôi liều một ngọn dao quỷ thần.
Trông thấy kẻ hàng thần lơ láo,
Để ăn không tiền gạo cho ngon.
Không bắt méo, cũng bắt tròn
Lẽ nào vào cúi ra luồn đã nau!
Dầu theo kẻ rừng cao ẩn bóng,
Quyết thề lòng chèo chống non sông;
Một mình đành phận đã xong,
Trăm đường non nước tổ tông thế nào?

6

Bớ quân sĩ lại đây ông hỏi,
Thấy mẹ già lên nói phận mình:
Rằng cha cái kiếp ba sinh:
Cù lao chưa chút thoả tình mẹ cha.
Thầy mẹ già hai hàng lệ thảm,
Mà con thơ một tấm lòng đơn.
Kìa trời đất, nọ giang sơn,
Tuy là thác đó, cũng hơn sống thừa.
Chẳng gì sá một giọt mưa,
Tiếng thơm ghi để bia thờ ngàn thu.

Theo Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ,
Nxb Nghệ An, 1995

________________________________________
1. Lê Phất (?-1896): thường gọi là Kiểm Phất, quê làng Trung Lễ huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh cùng với Lê Quyên phụ trách việc rèn khí giới cho nghĩa quân Cần vương. Ông bị Pháp bắt giam ở đồn Linh Cảm, không chịu hàng, lấy dao rạch bụng tự tử và để lại Bài ca tuyệt mệnh.
2. Bôn bá: Chạy nơi này qua nơi khác, ở đây nói việc vua Hàm Nghi ra Hà Tĩnh.
3. Kê Thị: Kê Thiệu làm Thị trung đời Tấn. Vua Tấn thua trận chạy, trong lúc nguy cấp, Thiệu lấy thân che cho vua nên bị giết chết, máu dây cả áo vua. Sau người hầu định đem áo đi giặt, vua không cho, bảo: “Đây là máu quan Kê Thị”.
4. Chưa rõ điển tích.
5. Hồng mao: Lông hồng, ý nói xem tính mệnh nhẹ như lông hồng.
6. Chỗ này thiếu bốn câu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #118 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:53:30 pm »


NGUYỄN DƯỠNG GIÁ

                                              ĐIẾU LÊ NINH

                                     Pháp đuổi Hàm Nghi tới Quảng Bình,
                                     Đầu tiên khởi nghĩa cụ Lê Ninh,
                                     Lòng ghi sắt đá cương thường trọng,
                                     Thân trải non sông (...)1 bộ khinh.
                                     Tiếng nổi theo vua ầm bốn bể,
                                     Gan liều vì nước thỏa ba sinh.
                                     Quảng Nam, Quảng Ngãi nghe theo cụ,
                                     Cụ chết, nghìn thu cụ cũng vinh.



                                           CÂU ĐỐI KHÓC LÊ NINH

                                Muôn ngàn dặm da trắng tới xâm lăng, sống chẳng đội chung trời Đại Việt,
                                Ba mươi tuổi đầu xanh ra chống cự, thác thêm nổi tiếng đất Văn Lâm.



                                           ĐIẾU LÊ TRỰC

                                    Xướng nghĩa anh em đã mấy lâu,
                                    Một nhà bốn bác đẹp mày râu2.
                                    Làm đồn những muốn làm càng chóng,
                                    Đuổi giặc trông cho đuổi được mau.
                                    Một bụng theo vua gươm vác cổ,
                                    Hai tay bắn Pháp đạn vào đầu.
                                    Còn Nam Việt ấy còn tên Cụ,
                                    Một bậc anh hùng giữa Á châu.

Theo Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ,
Nxb Nghệ An, 1995.
________________________
1. Chỗ này thiếu một chữ.
2. Một nhà bốn bác: thực ra là năm bác, vì nhà ông có năm anh em là Lê Ninh, Lê Điền, Lê Phác, Lê Trực, Lê Võ.








KHUYẾT DANH

                                     ĐIẾU LÊ TRỰC1.

Phiên âm:
                               Lập cước sai cường ư bá trọng,
                               Đương đầu bất phụ thử giang sơn.

Dịch nghĩa:
                               Vững bước cầm quân kiên cường hơn các bác2,
                               Đương đầu cùng giặt chẳng phụ với non sông.
___________________
1. In theo cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 17, Nxb Khoa học Xã hội, 2000.
2. Lê Trực là em Lê Ninh, Lê Điều. Đây ý nói hơn cả hai ông anh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #119 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 09:16:21 pm »


KHUYẾT DANH
                                            BẠC THUYỀN TRẬN VONG CỐ XỨ
                                            CẢM TÁC ĐIẾU PHAN CÁT XU


Phiên âm:

                                       Thập tải cố nhân thanh thảo địa,
                                       Lưỡng hàng huyết lệ bạch vân lâu.
                                       Hùng tâm hảo đối song sơn trĩ,
                                       Vãng sự không thành nhất thủy lưu.
                                       Đỗ vũ sổ thanh đề lạc nguyệt,
                                       Tàn huỳnh kỷ điểm nhập thâm thu.
                                       Lân quân vị thức Đường thừa tướng,
                                       Thệ bất bình Hoài tử bất hưu.


Dịch nghĩa:

                                         ĐẬU THUYỀN CHỖ ÔNG PHAN CÁT XU CHẾT TRẬN,
                                                          CẢM TÁC VIẾNG ÔNG

                                      Bạn cũ mười năm nay đã thành đất cỏ xanh,
                                      Hai hàng lệ máu tuôn rơi trước lầu mây trắng.
                                      Tấm lòng hùng tráng thực xứng đáng với hai ngọn núi cao vút,
                                      Việc cũ chỉ còn là một dòng nước chảy xuôi.
                                      Vài tiếng cuốc kêu lúc bóng trăng xế,
                                      Mấy con đom đóm lập loè cảnh đã cuối thu.
                                      Thương ông chưa biết việc Thừa tướng nhà Đường1,
                                      Thề không bình xong giặc ở đất Hoài thì chết không yên.

Dịch thơ:

                                      Bạn cũ mười năm nấm cỏ hoang,
                                      Trước lầu mây trắng lệ đôi hàng.
                                      Tấm lòng hùng mạnh non cao ngất,
                                      Việc nước tan tành nước chảy băng.
                                      Khắc khoải cuốc kêu vầng nguyệt xế,
                                      Lập loè đom đóm tiết thu sang.
                                      Tiếc ông chưa biết Đường thừa tướng,
                                      Thề chẳng bình Hoài chết chẳng đang.


Trần Huy Liệu dịch
(Theo Bài ngoại liệt truyện)

_______________________
1. Thừa tướng nhà Đường: tức Bùi Độ, đỗ Tiến sĩ, bình được giặc Hoài Tây, dẹp nội loạn, làm tướng hơn 30 năm suốt đời Mục Tông, Kính Tông, Vân Tông.






KHUYẾT DANH

                                    VĂN TẾ HIỆP QUẢN LÊ ĐÌNH QUÝ1


Than rằng:

Mây Hồng Lĩnh một vùng thấp thoáng, trông chừng cảnh vật luống buồn tênh;

Nước Thâm Hà chín khúc quanh co2, nhớ nỗi xa xôi càng tủi khổ.

Tình tự rắp vùi ba tấc đất, ngậm ngùi kẻ ở với người đi;

Nắng mưa cách trở mấy năm trời, mộng tưởng cha đâu thời con đó.

Nhớ cha xưa:

Nết đất trung trinh,

Tư trời thông tỏ.

Cờ thần đạo thánh, thú vui chơi đành cướp giải phong trần,

Chữ biết nghề hay, đường bẩm chí cũng trong tay văn võ.

Lúc nam nhi chưa phỉ nguyện tang bồng;

Đương vận hội lại gặp cơn sóng gió.

Cờ nghĩa phất giữa năm Ất Dậu, đem tài tình rắp trả nợ giang sơn;

Trát Cần vương xem trước cửa viên môn3, lấy chí khí để đền ơn quân phụ.

Trẻ hoá nhi trách lắm nỗi vô tình;

Trai anh kiệt khó bàn khi vị ngộ.

Mười năm Đâu Lĩnh, nước thẳm non khơi4;

Một phút Ô thành, mây mờ gió ủ5;

Những tưởng ngàn thu đài các, quyết chí làm nên;

Ai ngờ một áng cương thường, đem thân đi bỏ.

Ngao ngán nhẽ gan vàng dạ sắt, tấm trung thành chưa giả nợ non sông;

Chua xót thay vóc ngọc lòng son, thân tiết nghĩa phó mặc cho cây cỏ.

Tiếc là tiếc một trường oanh liệt, dày đội chưa cam trong phế phủ, cửa phù sinh đã trở cuộc tang thương;

Thương là thương một đấng anh tài, ấm no chưa trả nợ hình hài, câu li biệt đã chia đường kim cổ.

Khi tòng phụ một mình con thơ ấu, ngán nỗi chân trời góc bể, biết ai nương tựa buổi thần hôn;

Lúc lâm chung đành chiếc bóng chơi vơi, thương ôi đất khách quê người, dễ mấy thăm dò nơi trủng mộ6.

Đã một nỗi cha già mẹ yếu, ngàn năm dễ gửi lời định tỉnh, dạ sinh li đành phó mặc chị em;

Lại thêm đường vợ góa con côi, trăm năm chưa dứt mối chung tình, nỗi bảo dưỡng cậy nhờ nơi môn bộ.

Nắm xương khách địa, tấm trung hồn chưa trả nợ quân vương;

Giọt máu thâm tình, đường hiếu niệm dễ tìm nơi báo bổ.

Rày nhân:

Lễ đặt chiêu hồn,

Nghinh hồi cố thổ.

Nhờ thánh tổ hữu linh cấp dẫn, ngọn cờ phan phất phất giống dường không;

Dặng phụ thân tá khẩu thông truyền,

Nay đã hồn yên phách thỏa, thần lại cố hương;

Gọi là lễ bạc lòng thành, ngu theo thói cổ.

Thiêng xin về quê cũ, cho hương thơm lửa rạng, cửa từ đường theo nối gót cha ông;

Khôn xin hộ họ hàng, cho cháu thảo con hiền, việc gia thất vững vàng nền phúc thọ.

Hỡi ôi! Có thiêng xin thấu tỏ!

Theo Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ,
Nxb Nghệ An, 1995
_______________________
1. Lê Đình Quý người xã Trường Xuân, huyện La Sơn (nay là xã Đức Tân, Đức Thọ, Hà Tĩnh), tham gia phong trào Cần vương năm Ất Dậu (1885), được phong chức Hiệp quản. Ông bị Pháp bắt đày vào miền núi Quảng Trị và chết ở đó. Về sau con ông xin được bốc mộ đưa về quê. Bài văn trên đây đọc tế ông lúc ấy. Theo các cụ già con cháu họ Lê thì bài văn do ông Tú Vận ở Hương Sơn làm. Trong khi chưa có điều kiện xác minh, chúng tôi ghi là tác giả khuyết danh. Bản trên đây do cụ Lê Chưởng, cháu họ Lê Đình Quý đọc lại, và cụ Lê Hanh, cháu nội của ông ghi và cung cấp.
2. Thâm hà: Sông Ngàn Sâu, có đoạn gọi là “Chín khúc Hội Nai”, gần đường vào chiến khu Vụ Quang.
3. Viên môn: Cửa viên, chỉ nơi đóng quân.
4. Đâu Lĩnh: Núi Đâu Mâu ở Quảng Bình.
5. Ô thành: Tức Ô Châu, nay là đất Quảng Bình, Quảng Trị.
6. Trủng mộ: mồ mả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM