Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 02:42:46 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)  (Đọc 71012 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:06:49 AM »

Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2001
Số hóa: macbupda

BAN CHỈ ĐẠO CÔNG TRÌNH

- Đồng chí NGUYỄN MINH ĐƯỜNG, nguyên Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1954 đến năm 1974, Trưởng ban.
- Đồng chí HUỲNH CHÂU SỔ - nguyên Bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1974 đến năm 1975, ủy viên.
- Đồng chí LÊ VĂN NHUNG - nguyên Phó bí thư Khu ủy Khu VIII từ năm 1974 đến năm 1975, ủy viên.
- Đồng chí Thiếu tướng LÊ QUỐC SẢN - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.
- Đồng chí LÊ VĂN PHẨM - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.
- Đồng chí NGUYỄN VĂN TRUNG - nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VIII, ủy viên.

BAN BIÊN SOẠN:

- NGUYỄN MINH ĐƯỜNG (chủ biên)
- NGUYỄN VĂN TRIỆU
- LÊ MINH ĐỨC
- PHẠM VĂN KIM
- CAO VĂN SÁU
- ĐẶNG VĂN TỐ
- NGUYỄN XUÂN AN

HOÀN CHỈNH BẢN THẢO:

- NGUYỄN VĂN MÙI
- NGUYỄN XUÂN AN
- CAO MINH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

- HỨA VĂN GIÁO
- NGUYỄN THÚY HẰNG
- TRẦN HỒNG LAN
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:19:42 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:07:45 AM »

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) toàn thắng là thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX. Với trí thông minh, sáng tạo, với tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường, với những hy sinh vô bờ bến, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch, đã nhấn chìm chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.

Chiến thắng vĩ đại của dân tộc tạo nên bởi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của mọi địa phương trong cả nước, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của Đảng bộ và quân dân Khu VIII - Trung Nam Bộ.

Cuộc kháng chiến ở Khu VIII đã phát triển nhịp nhàng với đà kháng chiến chung của đất nước, luôn bám sát chủ trương và sự chỉ đạo của cấp trên, chủ động phối hợp với các chiến trường. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào Khu VIII - Trung Nam Bộ đã trung thành, tận tụy, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, đã trí dũng, kiên cường, quyết đánh và quyết thắng, vận dụng thông minh, sáng tạo, và đầy hiệu quả đường lối chính trị và quân sự của Đảng, động viên, tổ chức sức lực của toàn dân, toàn quân và bằng mọi hình thức, đặc biệt là phương thức tiến công tổng hợp bằng hai chân: chính trị, vũ trang, ba mũi: chính trị, vũ trang, binh vận để tạo nên sức mạnh to lớn, lập nên những kỳ tích như phong trào Đồng khởi, chiến thắng Ấp Bắc,… và cuối cùng đã giành thắng lợi huy hoàng giải phóng toàn Trung Nam Bộ, góp phần giải quyết hoàn toàn miền Nam, cùng cả nước kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày nay, nhìn lại những chiến lược quân sự, những âm mưu, thủ đoạn ngày càng thâm độc, tàn bạo; những lực lượng và phương tiện với quy mô ngày càng lớn và hiện đại mà đế quốc Mỹ và tay sai đã thực thi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta càng hiểu sâu sắc tầm vóc vĩ đại của thắng lợi, càng tự hào về quân và dân Việt Nam anh hùng, về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đã lãnh đạo tài tình cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Viết lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, về chống Mỹ, cứu nước ở Khu VIII - Trung Nam Bộ nói riêng là nguyện vọng của mọi người, cũng là nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân sống, chiến đấu và làm việc trên địa bàn Khu VIII.

Để đáp ứng phần nào nguyện vọng đó, cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đã được ra mắt bạn đọc. Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Phụ lục, cuốn sách gồm 6 chương. Đây là kết quả quá trình làm việc công phu, nghiêm túc và nhiệt tình với tinh thần trách nhiệm trước lịch sử, trước những hy sinh vô bờ bến của cán bộ, chiến sĩ, quân và dân Khu VIII - Trung Nam Bộ của tập thể Ban chỉ đạo, Ban biên soạn…, mà phần đông là những cán bộ chủ chốt của Khu VIII - Trung Nam Bộ qua các thời kỳ. Được viết bởi chính những người đã trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến, do đó cuốn sách là nguồn tư liệu phong phú, tin cậy về cuộc kháng chiến anh hùng của Đảng bộ và quân dân Khu VIII - Trung Nam Bộ. Các sự kiện trong cuốn sách được trình bày một cách chân thực, cụ thể, cặn kẽ, tỉ mỉ, làm sống lại những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng cũng rất hào hùng của Khu VIII - Trung Nam Bộ cùng cả nước đánh Mỹ; cung cấp cho người đọc một bức tranh vừa khái quát toàn cảnh, vừa cụ thể, sinh động về chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ trong những năm chống Mỹ, cứu nước.

Tuy vậy, cuốn sách chưa thể khắc họa đầy đủ hai mươi mốt năm chiến đấu liên tục của quân và dân Khu VIII - Trung Nam Bộ - một chặng đường vừa bi tráng, vừa hào hùng. Nhà xuất bản và các tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, xây dựng. Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc giữ gìn truyền thống, động viên nhân dân ta tiếp tục phát huy những phẩm chất tốt đẹp trong kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với chất lượng mới và tầm cao mới, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 12 năm 2000
                                                                                                       
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:19:58 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:08:23 AM »

LỜI CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Khu VIII - Trung Nam Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, nằm giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, về phía tây nam thành phố Sài Gòn. Ngay từ khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Nam Bộ, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Khu VIII - Chiến khu VIII - Quân khu VIII. Từ năm 1951, toàn Nam Bộ lập thành 2 Phân liên khu: miền Đông và miền Tây. Tháng 7 năm 1954, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Khu VIII hình thành trở lại và tồn tại cho đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Nhân dân Khu VIII có truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất, chống lại mọi kẻ thù xâm lược. Đó là những cuộc chiến đấu phá tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút của anh hùng Nguyễn Huệ; cuộc chiến đấu kiên cường, bất khuất của nghĩa quân Trương Định, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân.

Từ khi có Đảng, nhân dân Khu VIII đã vùng lên tiến hành cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vô cùng anh dũng và làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiếp đó đã kiên cường kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với những chiến công oanh liệt, xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười, làm địa bàn đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến của Nam Bộ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến; tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân lớn mạnh, phát động chiến tranh du kích rộng khắp, và đã có những chiến thắng vang dội như những trận Cổ Cò, Giồng Dứa, Mộc Hóa, Sa Đéc, La Bang, Kinh Bùi và các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, Bến Tre, v.v.

Phát huy truyền thống và kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ và quân dân Khu VIII bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với truyền thống anh hùng cách mạng, được phát huy đến trình độ cao, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, đóng góp nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới và giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Kết hợp khéo léo đấu tranh chính trị với vũ trang, vùng lên làm cuộc Đồng khởi nổi tiếng với tinh thần cực kỳ anh dũng, quyết liệt, sáng tạo và mưu trí. Với đội quân tóc dài làm nòng cốt, nhân dân đã tiến công địch bằng ba mũi tấn công và giáp công, buộc gần một vạn quân địch phải rút lui khi chúng tiến hành phản công lại cuộc Đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre. Qua đó, ở khu VIII đã hình thành và phát triển phương châm đấu tranh hai chân (chính trị, vũ trang), ba mũi (chính trị, binh vận, vũ trang). Chiến thắng Ấp Bắc lịch sử đã mở ra bước ngoặt, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, Khu VIII trực tiếp chiến đấu với bộ phận quan trọng của quân Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long trong “chiến tranh cục bộ”. Trong Xuân Mậu Thân (1968), quân và dân Khu VIII đã tiến công và nổi dậy ở nhiều thị xã, thị trấn, kiên cường bám đất, bám dân, đánh bại các âm mưu bình định của địch, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Khu VIII đã hoàn thành xuất sắc ba nhiệm vụ: chia cắt chiến lược, đánh chiếm làm chủ quốc lộ 4; tiến công đánh chiếm Tổng Nha cảnh sát - một trong năm mục tiêu phải đánh chiếm ở Sài Gòn và phát huy thời cơ thắng lợi, giải phóng toàn khu.

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, chiến trường Khu VIII có lúc, có nơi không tránh khỏi có những khuyết điểm, lâm vào thế cực kỳ khó khăn, nhưng nhìn chung thắng lợi là to lớn, toàn diện, cơ bản với nhiều kinh nghiệm sáng tạo.

Quân và dân Khu VIII, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày nay, phát huy truyền thống vẻ vang của cách mạng và kháng chiến, tôi mong và tin rằng Đảng bộ, đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh thuộc Khu VIII trước đây tiếp tục tăng cường đoàn kết nhất trí, cùng nhân dân cả nước ra sức đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nhân hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2000
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2012, 08:38:11 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:09:58 AM »

LỜI NÓI ĐẦU

Khu VIII là vùng đất nằm giữa Nam Bộ Việt Nam, còn gọi là Khu Trung Nam Bộ, được chính thức thành lập cùng với các khu khác trong toàn khu từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Về vị trí địa lý của Khu VIII, phía đông giáp biển Đông với chiều dài gần 100 kilômét, phía tây bắc là biên giới giáp với Campuchia dài gần 300 kilômét, phía đông bắc và tây nam giáp với hai khu VII và IX (miền Đông và miền Tây Nam Bộ). Dưới triều Nguyễn, nơi đây là hai tỉnh Định Tường và An Giang của Lục tỉnh Nam Kỳ. Thời thuộc Pháp, cho đến năm 1951, nơi đây là các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc.

Từ năm 195 đến năm 1954, Trung ương giải thể các Khu VII, VIII, IX, thành lập hai Phân liên khu miền Đông và miền Tây Nam Bộ, địa bàn Khu VIII nằm trong các tỉnh Mỹ Tân Gò, Long Châu Sa của Phân liên khu miền Đông và trong các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Trà, Long Châu Hà của Phân liên khu miền Tây.

Từ năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, hai Phân liên khu của Nam Bộ giải thể, thành lập bốn khu là: miền Đông, miền Trung, miền Tây và Sài Gòn - Chợ Lớn. Khu VIII (miền Trung) gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc. Các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh thuộc khu miền Tây. Sau Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ cuối năm 1956, tỉnh Bến Tre của miền Tây cùng với tỉnh Chợ Lớn của miền Đông được chuyển cho miền Trung.

Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chia lại ranh giới các tỉnh thì Khu VIII gồm: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho, An Giang và Bến Tre.

Năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, thành phố Mỹ Tho và huyện Gò Công của tỉnh Mỹ Tho được tách ra thành hai đơn vị cấp tỉnh. Tỉnh Long An được giao về Miền. Cho đến năm 1973, Long An mới trở lại với Khu VIII.

Đến năm 1974, hai tỉnh An Giang và Kiến Phong giải thể. Vùng đất hữu ngạn sông Hậu của An Giang chuyển cho Khu IX (miền Tây Nam Bộ). Phần còn lại của hai tỉnh cộng với phần đất nam Sa Đéc do Khu IX giao lại lập thành hai tỉnh mới là tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Khu VIII (miền Nam Trung Bộ) giải thể, trở thành địa bàn của 5 tỉnh: Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang, trực thuộc trung ương.

Khu VIII - Trung Nam Bộ là nơi có mật độ dân số cao, nhân dân đa số là người Kinh. Vào năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, dân số toàn Khu khoảng 2 triệu người. Đến khi giải phóng miền Nam, dân số khoảng 4 triệu người. Dân tộc ít người có: người Khơme, người Chăm và người Hoa, tổng cộng xấp xỉ 8 vạn người. Đây là miền đất có nhiều tôn giáo. Phật giáo Hòa Hảo có nhiều tín đồ nhất, chiếm 1/4 dân số toàn Khu. Các tôn giáo có số tín đồ khá đông là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và Cao Đài. Ngoài ra còn có nhiều phái đạo nhỏ, mỗi phái có vài chục, vài trăm, vài nghìn tín đồ. Vùng có nhiều tín đồ tôn giáo là các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc (nay là hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp.

Khu VIII - Trung Nam Bộ là vùng nông thôn đồng bằng, địa hình trống trải, nhiều bưng trắp, sông rạch, kênh đào chằng chịt. Khu vực phía tây có ít đồi núi thấp. Khu vực phía đông và nam là nơi tập trung dân cư đông đúc, kinh tế dồi dào, ruộng vườn phì nhiêu. Đó là vùng hạ lưu của hai con sông Cửu Long và Vàm Cỏ. Còn khu vực phía bắc, chiếm gần một nửa diện tích, là vùng Đồng Tháp Mười mênh mông, dân cư thưa thớt, mùa nắng thì đồng khô cỏ cháy, kênh rạch dậy phèn, mùa mưa thì nước từ thượng nguồn các sông Cửu Long, Vàm Cỏ tràn vào, ngập sâu mênh mông, đưa một lượng lớn phù sa bồi đắp phì nhiêu. Quốc lộ 4, kênh Chợ Gạo là hai đường vận chuyển chiến lược nối Sài Gòn với miền Tây xuyên qua Khu VIII và cùng với những con sông, rạch lớn nhỏ thuộc hệ Cửu Long, Vàm Cỏ chia cắt Khu VIII thành những vùng riêng biệt.

Khu VIII - Trung Nam Bộ cũng là vành đai án ngữ phía tây và phía nam thành phố Sài Gòn - nơi trong suốt cuộc đấu tranh là sào huyệt đầu não của chính quyền Mỹ - ngụy.

Người dân Khu VIII - Trung Nam Bộ, không phân biệt người sống trong đồng sâu hoang vu hay ở nơi đất đai phì nhiêu, dân cư đông đúc, lương hay giáo, người vốn ở từ trước hay người bị cưỡng ép di cư, di dân đến từ sau năm 1954, tuyệt đại bộ phận là nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, bị bọn địa chủ, thực dân đế quốc áp bức, bóc lộ nên giàu tinh thần quật khởi và đoàn kết; cần củ trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu.

Khi thực dân Pháp mới xâm lược nước ta, Khu VIII là địa bàn chống Pháp rất sôi nổi với các phong trào của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương, Phan Tôn, Phan Liêm, v.v.

Từ những năm 30, Khu VIII là nơi các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương và Xứ ủy Nam Kỳ hoạt động và có ảnh hưởng rộng lớn.

Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập sau này, lần đầu tiên xuất hiện ở xã Long Hưng, tỉnh Mỹ Tho.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), cuộc chiến tranh ở Khu VIII - Trung Nam Bộ là cuộc nổi dậy của nông dân cầm súng đánh Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình nổi dậy đấu tranh với kẻ thù, nông dân đã giành được ruộng đất, quyền làm chủ trên nhiều xã, ấp ở nông thôn. Những cái tên gọi thân thương “chánh quyền mình”, “bộ đội mình”, “Đảng mình” là câu nói cửa miệng của người dân ở Khu này.

Trong kháng chiến chống Pháp, căn cứ Đồng Tháp Mười của Khu VIII - Trung Nam Bộ đã nổi danh trong toàn quốc, là vùng thành lập và hoạt động trong thời kỳ đầu của Xứ ủy, của Ủy ban kháng chiến hành chính, Bộ tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc.

Trên địa bàn Khu VIII - Trung Nam Bộ, các Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng và dấy lên cuộc chiến tranh du kích điển hình, nhiều cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ưu tú đã trưởng thành trong cuộc đấu tranh này. Chính nơi đây đã ra đời những đơn vị vũ trang thiện chiến mà chiến tích đã đi vào lịch sử như các tiểu đoàn 307, 308, 309, 310, 311, 312. Và cũng chính nơi đây trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, cuộc tấn công và nổi dậy đồng loạt của quần chúng nhân dân ở Chợ Gạo, Gò Công, Bến Tre cùng các chiến thắng giòn giã của các đơn vị lực lượng vũ trang ở nhiều nơi khác trong Khu đã góp phần với chiến thắng Điện Biên Phủ dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kế thừa những truyền thống quật khởi của cha ông, đặc biệt là những nền móng đã xây dựng được trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ và quân dân Khu VIII lại lập nên những kỳ tích. Không một ngày ngưng nghỉ, Khu VIII đã kiên cường, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, vượt qua những khó khăn, gian khổ, những đau thương, mất mát để xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang, vận dụng nhuần nhuyễn các phương châm đấu tranh phù hợp với thực tế chiến trường cùng với quân dân toàn miền Nam, cùng với quân dân cả nước lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Khu VIII được tổ chức lại các tỉnh cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới.

Thể theo nguyện vọng và mong muốn của cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng cách mạng Khu VIII, các đồng chí đã từng lãnh đạo Khu ủy Khu VIII tổ chức biên soạn cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nhằm ghi lại những diễn biến lịch sử, những sự kiện lịch sử chủ yếu đã diễn ra trên chiến trường Khu VIII trong suốt những năm chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày toàn thắng. Dựng lại bức tranh chiến đấu hào hùng của Khu VIII nhằm góp phần tô thắm truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc ta; đồng thời qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần giáo dục, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cuốn sách được biên soạn dựa vào sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy, các đồng chí Bí thư, Thường vụ các Tỉnh ủy qua các thời kỳ; sự ủng hộ và giúp đỡ của Tỉnh ủy các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Bộ tư lệnh Quân khu IX và thành phố Hồ Chí Minh; nguồn tài liệu, tư liệu, ý kiến trao đổi của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu IX; cùng với sự đóng góp nhiệt tình và đầy trách nhiệm của các đồng chí lão thành cách mạng, các cán bộ, chiến sĩ, các nhân chứng lịch sử đã từng chiến đấu, công tác trên chiến trường Khu VIII.

Mấy chục năm đã trôi qua, nhiều cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, hoặc mỗi người ở một nơi, đảm nhiệm những công việc khác nhau; nhiều tài liệu, tư liệu bị phân tán, hất lạc; thời gian, điều kiện làm việc và khả năng có hạn nên mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, thu thập, khai thác tài liệu trong quá trình biên soạn, nhưng cuốn sách không khỏi có những thiếu sót, hạn chế nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ, tiếp tục góp ý của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, của các đồng chí, đồng bào để cuốn sách được đầy đủ, chính xác và có chất lượng hơn.

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cám ơn sự đóng góp, giúp đỡ, ủng hộ, hợp tác của các đồng chí, đồng bào, của các cơ quan, các địa phương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tạo điều kiện cho cuốn Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) được xuất bản.

BAN CHỈ ĐẠO VÀ BAN BIÊN SOẠN
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2012, 08:37:58 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:11:03 AM »

CHƯƠNG I

TÌNH THẾ MỚI, NHIỆM VỤ MỚI

I - TÌNH THẾ MỚI

Ngày 21 tháng 7 năm 1954, tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) Hiệp định về lập lại hòa bình ở Đông Dương được kỹ kết. Lúc này, tại các tỉnh Trung Nam Bộ, cách mạng đang ở thế tiến công. Sau chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, phần lớn các xã, ấp ở vùng nông thôn trước đây bị địch chiếm đã được giải phóng. Ở tỉnh Mỹ Tân Gò, trong những tháng đầu năm 1954, nhân dân Gò Công, Chợ Gạo đã nổi dậy bức rút, bức hàng 397 đồn bốt, giải phóng trên 40 xã ở các huyện Châu Thành Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè, Vàm Cỏ, Thủ Thừa. Địch chỉ còn giữ được thị trấn, quốc lộ 1 và một số xã vùng Củ Chi, ở huyện Mộc Hóa. Hệ thống đồn bốt địch dọc biên giới lên đến quốc lộ 1 Sài Gòn - Phnômpênh bị tiêu diệt hết.

Ở tỉnh Bến Tre, các đợt hoạt động của ta đầu năm 1954 đã diệt hàng trăm đồn bốt địch, vùng giải phóng chiếm 3/4 số xã trong toàn tỉnh. Ở tỉnh Long Châu Sa, vùng du kích mở rộng ra đến sát bờ sông Tiền từ Hồng Ngự đến Phong Mỹ và sát sông Cao Lãnh; vùng biên giới An Hòa Xương của huyện Phú Châu được giải phóng. Ở tỉnh Long Châu Hà, cánh đồng năm xã của huyện Châu Thành Long Xuyên được giải phóng. Các đồn bốt địch dọc lộ Tri Tôn - Tịnh Biên - Châu Phú ven biên giới bị ta đánh phá liên tục. Ở hầu khắp các tỉnh, chính quyền cách mạng quản lý đến sát thị xã, thị trấn, đồn bốt. Nhân dân ở cả ba vùng căn cứ, du kích và tạm chiếm đều mừng vui khôn xiết trước các chiến thắng ở địa phương, ở Điện Biên Phủ và trước diễn biến của Hội nghị Giơnevơ. Sĩ quan, binh lính ngụy hoang mang đào ngũ. Nhiều tên chỉ huy đồn bốt, tề, xã, ấp, công an, ác ôn ra hàng, nộp súng, thú tội; số còn lại cũng co đầu, rụt cổ, không dám hung hăng, hống hách.

Đêm 20 tháng 7 năm 1954, tại xã Hậu Thạnh, trên kênh Dương Văn Dương, giữa Đồng Tháp Mười, Tỉnh ủy Mỹ Tân Gò tổ chức cuộc mít tinh lớn đón mừng 500 tù nhân chính trị phá khám số 7 (Mỹ Tho) trở về. Tin tức về việc ký kết Hiệp định Giơnevơ truyền đi trong cuộc mít tinh được mọi người hoan hô vang dội.

Ngày 23 tháng 7 năm 1954, nội dung văn bản Hiệp định được phổ biến: Việt Nam được hội nghị quốc tế long trọng công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia hai. Miền Bắc đến vĩ tuyến 17 được hoàn toàn độc lập. Miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Quân đội mỗi bên phải tập kết về vùng của mình quản lý. Sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong toàn quốc để thực hiện thống nhất. Trong thời gian chờ tuyển cử, cấm mọi phân biệt đối xử, trả thù những người đã tham gia phía đối lập, mỗi bên phải bảo đảm thực hành tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh.

Các công sở ngụy quyền đều treo cờ rủ, nhưng bọn sĩ quan, binh lính, tề, xã, ấp, nhân viên ngụy quyền, địa chủ ở miền Nam thì vui mừng, vì chúng biết miền Nam vẫn còn thuộc quyền chúng quản lý. Chiến tranh chấm dứt, chúng thì chưa bị tiêu diệt, vẫn còn được an vị, làm “phụ mẫu chi dân”, tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân. Ở Gò Công, tên tỉnh trưởng chỉ thị cho bọn tay chân cố giữ vững cho qua thời gian hai bên tập kết. Bọn địa chủ thì dự tính đòi lại ruộng đất đã bị cách mạng tịch thu để cấp cho nông dân.

Trong niềm vui chung hòa bình được lập lại người dân miền Nam không tránh khỏi nỗi lo: Hiệp định Giơnevơ quy định rõ ràng như vậy nhưng liệu kẻ thù có chịu thực hiện không? Vì bản chất của bọn đế quốc là không thay đổi?

Ở vùng Đồng Tháp Mười cũng như ở nhiều vùng nông thôn giải phóng khác, người dân vốn đã chịu muôn vàn tủi nhục trong cuộc sống cơ cực, nô lệ dưới thời Pháp thuộc, nay đã được đổi đời, có cuộc sống tự do, độc lập, văn minh, tiến bộ do cách mạng đem lại. Người dân đã được làm chủ mảnh ruộng, khẩu đìa, tự do sản xuất, nuôi quân đánh giặc. Một nền văn hóa mới đã hình thành: ông già, bà lão, thanh niên nam nữ đều được đi học bình dân, tham gia đoàn thể, sinh hoạt tinh thần phong phú; mọi người được chữa bệnh, có trạm y tế, sinh đẻ có nhà hộ sinh; nhà cửa khang trang, sạch sẽ… Cuộc sống đã hoàn toàn đổi mới, nhà nhà đoàn kết, người người thương yêu, đùm bọc lẫn nhau; không còn đĩ điếm, cờ bạc, rượu chè, không còn lưu manh, trộm cắp, cướp bóc, mê tín dị đoan… Nhờ có cách mạng mà cuộc sống người dân các vùng giải phóng hoàn toàn đổi mới. Họ mong muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, cách mạng thành công để có cuộc sống tự do, cơm no, áo ấm, hạnh phúc đời đời. Nay hòa bình đã được lập lại, nhưng miền Nam lại phải tạm thời thuộc quyền quản lý của địch. Tâm trạng người dân thấp thỏm, không yên.

Trước tình hình như vậy, Khu VIII - Trung Nam Bộ họp Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam về việc thi hành Hiệp định Giơnevơ. Tinh thần của Nghị quyết là ngừng bắn thật sự. Tuyệt đối không để sơ hở cho địch lợi dụng phá hoại. Phải hiểu là Pháp chịu thua, ký hiệp định, nhưng Mỹ không chịu ký, đang tìm cách nhảy vào thay chân Pháp. Trước mắt là nghiêm chỉnh thi hành tập kết. Có tập kết quân hai bên đúng quy định thì mới chấm dứt chiến tranh thật sự, mới đẩy lùi được âm mưu của đế quốc Mỹ, mới tạo được điều kiện hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Phải nhận thức và quán triệt được Hiệp định Giơnevơ là thắng lợi to lớn, thắng lợi quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Phân nửa nước đã được độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, có thủ đô là Hà Nội, có tên tuổi trên thế giới. Phải trân trọng thắng lợi chung đó. Đã thắng lợi được phân nửa thì dứt khoát cách mạng sẽ thắng lợi hoàn toàn. Phải có lòng tin ở Trung ương, ở Bác Hồ.

Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân ở Khu VIII - Trung Nam Bộ quyết tâm đánh giặc không tiếc máu xương, nhưng được lệnh ngừng bắn thì trăm người như một đơn vị tập trung hay lực lượng du kích đều thi hành nghiêm túc. Ưu tư thì nhiều, nhưng sức mạnh của hòa bình, không khí hòa bình, niềm vui đoàn tụ đã lấn át ưu tư.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:20:39 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:12:37 AM »

*
*   *

Đồng Tháp Mười là khu tập kết 100 ngày theo Hiệp định Giơnevơ. Vùng hai con kênh Dương Văn Dương và Nguyễn Văn Tiếp là nơi đóng quân để chuẩn bị xuống tàu ở bến Cao Lãnh. Vùng kênh Dương Văn Dương dành cho lực lượng của Phân liên khu và một số tỉnh miền Đông. Vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp và khu vực các xã chung quanh thị trấn Cao Lãnh là nơi tập kết của lực lượng hai tỉnh Mỹ Tân Gò và Long Châu Sa. Vùng kênh Dương Văn Dương vốn là vùng độc lập, vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp là nơi địch chiếm giữ từ cuối năm 1951, nay chúng rút hết đồn bốt trên một tuyến dài hàng chục kilômét để ta tiếp quản.

Đồng Tháp Mười chưa bao giờ có cảnh tấp nập như thời gian này. Địch rút, mọi người hồ hởi san bằng đồn bốt, cờ đỏ sao vàng mọc lên như nấm. Hàng trăm xuồng ghe từ các ngả đi vào Đồng Tháp Mười, đưa đón những người từ các vùng địch tạm chiếm, thành phố, thị xã đến với người thân đi kháng chiến. Người vào mang theo đủ thứ: vịt, gà, thịt heo, gạo nếp, bánh trái… Người chỉ ở đôi bữa, người lưu lại hàng tháng. Có người đã về rồi lại quay trở lại. Nhà cửa của đồng bào địa phương tuy chật hẹp nhưng đồng bào luôn vui vẻ tiếp đón. Đồng bào thương yêu, thông cảm với cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu xa gia đình bao năm, nay đoàn tụ với người thân chẳng mấy chốc lại phải lên đường. Một trăm ngày chính quyền kháng chiến phải giải quyết rất nhiều việc để người ra đi yên tâm, người ở lại cũng vững lòng như: cấp giấy chứng nhận ruộng đất để người dân có cơ sở pháp lý đấu tranh giữ quyền làm chủ, xây dựng trạm y tế, nhà hộ sinh, lớp bình dân học vụ, cải thiện cuộc sống cho dân. Các đoàn y tế khẩn trương khám bệnh, trị bệnh miễn phí. Các đoàn văn công, điện ảnh biểu diễn văn nghệ, chiếu phim cách mạng liên tục, đều khắp các xã, ấp.



Tiễn bộ đội đi tập kết (năm 1954)

Một trăm ngày hòa bình tuy ngắn ngủi nhưng là cơ hội để cách mạng tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân. Những người lâu này ở vùng địch tạm chiếm sâu, vùng tôn giáo thường xuyên nghe những lời xuyên tạc của địch, nay được tận mắt thấy cán bộ, bộ đội Cụ Hồ đẹp người, đẹp nết, hiền lành, dễ thương nên càng hiểu biết thêm và cảm tình với cách mạng.



Đồng bào lưu luyến tiễn đưa bộ đội tập kết tại bến Bắc Cao Lãnh ngày 29 tháng 10 năm 1954

Ngày 30 tháng 10 năm 1954, đúng 3 tháng 10 ngày kể từ sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, chuyến tàu cuối cùng của khu tập kết Cao Lãnh rời bến.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2017, 09:03:47 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:13:31 AM »

Không bao lâu sau, cảnh khói lửa chiến tranh lập tức tái diễn. Hàng ngàn ngụy quân và lực lượng giáo phái tràn vào Đồng Tháp Mười. Cảnh đầu rơi máu chảy diễn ra. Tiểu đoàn ngụy 520 BVN(1) đóng ở Gò Bắc Chiên và kênh Dương Văn Dương. Bọn Cao Đài Liên minh đóng dọc theo sông Vàm Cỏ Tây và xen kẽ với Tiểu đoàn 520 của ngụy ở kênh Dương Văn Dương, có bộ phận đóng sâu trong cây da hổ, xã Thỉ Đông. Mục đích của kẻ địch là tiêu diệt lực lượng cách mạng. Cao Đài Liên minh tuyên bố: “Quân đội Cao Đài chỉ biết Việt Minh cộng sản là kẻ thù không đội trời chung, không biết Hiệp định Giơnevơ”. Chúng cho lính rình rập, bắt bớ, tra tấn bất cứ ai chúng tình nghi. Bắt được cán bộ hồi cư thì chúng chặt đầu, mổ bụng, moi gan; bắt được phụ nữ thì hãm hiếp. Chỉ trong vòng một tuần lễ ở Mộc Hóa đã có 200 người bị bắt, 72 người bị đập chết rồi xỏ dây kẽm vào lòng bàn tay buộc thành chùm ném xuống kênh Dương Văn Dương và sông Vàm Cỏ Tây.

Chúng không chấp nhận bất cứ một lời đề nghị nào. Anh Nguyễn Văn Hùng, giáo viên ở xã Tuyên Thạnh xin được phép lập trường học ở Bắc Chiên bị chúng bắt đem bắn; thầy giáo Cẩn, đồng chí Bảy Tân cán bộ kháng chiến hồi cư bị chúng giết ở xã Mỹ An Phú; đồng chí Trần Công Vinh, Phó bí thư huyện Đoàn Thanh niên bị chúng chặt đầu; đồng chí Lê Hiếu Nghĩa, Bí thư chi bộ xã bị chúng mổ bụng. Các ông Trương Văn Liêu, Trương Văn Chìa bị chúng chôn sống tới tận cổ rồi bị chém đầu bằng phảng ở xã Bình Hòa. Vườn nhà ông Lê Minh Xuân trở thành nơi chúng chôn sống nhiều người. Những người bị chúng bắt giam trong khám Mộc Hóa hàng ngày lần lượt bị chúng đem đi thủ tiêu.

Nhưng không phải chỉ sau khi ta rút khỏi khu tập kết chúng mới gây tội ác, mà trước đó, ở Long Châu Sa, cuối tháng 7 năm 1954 quân Hòa Hảo do Trần Văn Soái (Năm Lửa) chỉ huy bị buộc phải rút khỏi thị trấn Cao Lãnh để giao lại cho khu tập kết Việt Minh, chúng đã tuyên bố không đội trời chung với Việt Minh, không thi hành Hiệp định Giơnevơ. Chúng cướp bóc, hà hiếp, hăm dọa đốt nhà, giết chết những ai treo cờ Việt Minh,đồng thời còn ra lệnh cấm tụ tập quá ba người, ngăn chặn không cho đồng bào ta đi lại giữa hai vùng. Đại đội 10 Hào Hỏa đào công sự phục kích ở Hòa An để đón bắt phái đoàn kháng chiến vào Cao Lãnh. Chúng bắn chết và bắt 4 người của ta đang treo cờ và khẩu hiệu hoan hô Hiệp định Giơnevơ ở Tân Thuận Đông. Trung đội 88 Hòa Hảo ở Long Hòa treo giải thưởng cho ai chỉ điểm để chúng bắt được Việt Minh. Các đại đội 22, 40, 82, 116 và 179 Hòa Hảo ở Châu Thành, Long Xuyên vẫn lùng bắt những người kháng chiến.

Quân Hòa Hảo do Nguyễn Giác Ngộ chỉ huy tràn ngập vùng Phong Thạnh Thượng, Chợ Mới, Long Xuyên. Sau khi chính quyền và bộ đội kháng chiến vừa rút về khu tập kết, theo chân binh lính là bọn địa chủ đi thu tô, lấy lại đất. Tên quận trưởng Phong Thạnh ra lệnh cho bọn bảo an quận tìm bắt những cán bộ Việt Minh còn ở lại.

Trong vùng chiếm đóng của bọn Hòa Hảo do Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) chỉ huy ở Phú Châu, Tịnh Biên, Châu Đốc thường xuyên diễn ra cảnh cướp bóc, trả thù, trả oán đối với đồng bào ta.

Ngay từ chiều ngày 20 tháng 7 năm 1954, quân của bọn Dân xã Đảng Ba Cụt tràn vào Thoại Sơn, Châu Đốc. Đến giữa tháng 9-1954, chúng đã chiếm các xã Lương Phi. An Tức, Lê Tri, Châu Lăng vùng Bảy Núi. Đầu tháng 10 năm 1954, quân của Ba Cụt và quân Cao Đài đánh nhau quyết liệt suốt tuần lễ ở các xã Ba Chúc, Lương Phi, Lê Tri, Giác Quan để giành nhau vùng Bảy Núi. Quân Cao Đài phải rút chạy, quân của Ba Cụt tuyên bố Bảy Núi là căn cứ chống cộng.

Ngày 16 tháng 8 năm 1954, tên tỉnh trưởng tỉnh Gò Công ra lệnh bắn vào đoàn biểu tình của quần chúng đang đi vào thị xã hoan hô hòa bình, hưởng ứng Hiệp định Giơnevơ, làm chết và bị thương 20 người.

Ngày 19 tháng 8 năm 1954, ngụy quyền quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre đàn áp cuộc biểu tình của 1.500 người thuộc các xã trong quận đang đi vào quận lỵ mừng hòa bình, hoan hô Hiệp định, kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày Quốc khánh 2-9, làm chết 5 người, bị thương 17 người, bắt giam 30 người.

Ngày 13 tháng 9 năm 1954, lính bốt ở xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đi bắt xâu đánh dân bị thương nặng. Dân các xã ở Mỏ Cảy tập trung khiêng người bị thương lên quận. Chúng khủng bố bắn chết 11 người, làm bị thương 36 người, bắt giam 200 người. Đến đêm, chúng đem ra giết 34 người.

Ngày 11 tháng 11 năm 1954, tại xã Bình Thành tỉnh Long Xuyên, lính của Đại đội 4, Tiểu đoàn ngụy 513BVN đóng ở đồn Thầy Ba Dĩ tổ chức đi ăn cướp. Chúng bị dân vây bắt, đồng bọn của chúng đến giải vây, bắn chết 4 người, làm bị thương 8 người. Ngày hôm sau, chúng lại kéo tới vây, bắn chết 3 người, bắt đi 600 người khác. Đến đêm, chúng đập đầu 24 người.

Ở quận lỵ Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc khu tập kết vừa rút, chúng vừa vào tiếp quản đã đưa lực lượng đến phá mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trạm y tế, nhà hộ sinh, tượng đài liệt sĩ, lớp bình dân học vụ được lập trong những ngày có khu tập kết, đều bị phá hủy.

Hàng trăm tên công dân vụ mặc áo đen từ Sài Gòn được đưa về tỉnh, phân tán đến tận xã. Chúng tập trung dân để tuyên truyền xuyên tạc cộng sản; rình rập, ngầm lập danh sách các gia đình cán bộ, đảng viên, quần chúng có liên quan đến cách mạng.


(1) BVN: tiểu đoàn chính quy ngụy
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:21:27 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:14:21 AM »

II. NHIỆM VỤ MỚI

1. Đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ

Tháng 10 năm 1954, tại vùng căn cứ U Minh Hạ, Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ được triệu tập, do đồng chí Lê Duẩn chủ trì. Hội nghị nhận định tình hình có hai khả năng phát triển: có thể Mỹ - Diệm buộc phải thi hành Hiệp định Giơnevơ và cũng có thể chúng không thi hành Hiệp định. Cách mạng miền Nam cần phải có kế hoạch ứng phó với cả hai tình huống trên.

Trước mắt, nhân dân miền Nam cần đoàn kết đấu tranh buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Đảng bộ miền Nam phải rút vào hoạt động bí mật, từ lãnh đạo đấu tranh vũ trang chuyển sang lãnh đạo đấu tranh chính trị. Trong điều kiện đấu tranh chính trị, việc đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở thành thị là cần thiết, do đó, phương hướng công tác là củng cố và phát triển cơ sở ở nông thôn, mở rộng và đẩy mạnh công tác đô thị, phối hợp chặt chẽ công tác đô thị với công tác nông thôn.

Đại biểu của Khu Trung Nam Bộ đi dự Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ là đồng chí Nguyễn Văn Mùi (Nguyễn Minh Đường), nguyên ủy viên Phân liên khu ủy miền Đông Nam Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tân Gò, do một sĩ quan Pháp và một đại diện Ban Liên hiệp đình chiến ở Cao Lãnh đưa xuống Phụng Hiệp và từ đây đưa về cuộc họp. Trong Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Mùi được cử là Xứ ủy viên chính thức. Sau Hội nghị, đồng chí Lê Đức Thọ, phái viên của Trung ương Đảng căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Mùi phải tự lực, tự cường, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, bí mật bám chắc trong dân để vừa làm tròn trách nhiệm của Đảng bộ với nhân dân, vừa phải chấp hành nghiêm túc chủ trương, đường lối của Trung ương vì tình hình sắp tới sẽ rất nhiều khó khăn và phức tạp, nhiệm vụ cách mạng mới lại hết sức nặng nề.

Từ tháng 8 năm 1954, Liên tỉnh ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ được Trung ương Cục miền Nảm chỉ định thành lập, gồm 3 đồng chí: Nguyễn Văn Mùi (Nguyễn Minh Đường), Nguyễn Văn Chim (Ba Chim) và Phan Thành Long (Tư Long). Các đồng chí đều là những người đã tham gia cách mạng trước năm 1945 và được thử thách qua nhiều nhiệm vụ lãnh đạo quan trọng trong kháng chiến chống Pháp. Các đồng chí Ba Chim và Tư Long kiêm nhiệm Bí thư các Tỉnh ủy Mỹ Tho và Long Xuyên. Đồng chí Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường), Xứ ủy viên kiêm Bí thư thường trực Liên tỉnh ủy.

Theo chủ trương của Trung ương, cán bộ chính quyền, quân sự, công an huyện, tỉnh đều đi tập kết hết, chỉ để lại cán bộ đảng, đoàn thể. Nhưng ở Khu VIII - Trung Nam Bộ nhiều cán bộ chính quyền, quân sự, công an có điều kiện bám dân đã tình nguyện và được sắp xếp ở lại, như các đồng chí: Lê Văn Khuyên, Huyện đội trưởng Thủ Thừa, Đào Kim Sơn, Huyện đội phó Chợ Gạo; Nguyễn Trường Can, Huyện đội trưởng; Sáu Danh, Huyện đội phó Châu Thành, Mỹ Tho; Ba Phát, Chỉ huy trưởng mặt trận 16A quốc lộ 4; Ba Trung, Chính trị viên Huyện đội Cái Bè; Tư Chiểu, cán bộ bộ đội địa phương, phụ trách xã đội; Quảng Cà Dom, Tỉnh đội phó; Ba Thăng, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Long Châu Sau; Lê Phan, Tỉnh đội phó Long Châu Hà; Hai Nhất, Tỉnh đội trưởng Bến Tre và nhiều cán bộ khác.

Về vũ khí, mỗi tỉnh để lại đủ trang bị cho 1 đại đội. Một số Tỉnh ủy viên, Huyện ủy viên được để lại súng ngắn tùy thân.

Số cán bộ, đảng viên kháng chiến của Khu VIII là 40.000, đi tập kết 10.000 còn lại 30.000, có 12.000 đảng viên. Đảng viên ở xã, ấp, chiếm 2/3, trong số này 3/4 là bí mật, còn lại là những người giữ chức vụ công khai như chủ tịch, bí thư, công an, xã đội, mặt trận, ban chấp hành các đoàn thể, du kích thoát ly… Số đảng viên lộ ở xã cộng với số cán bộ, nhân viên trong và ngoài Đảng từ các cấp trên vè hợp thành khối cán bộ hồi cư, có tới 22.000 người. Trước mắt, cấp ủy chỉ đạo cho các đồng chí này tìm cách sống như người dân bình thường, có giấy tờ hợp pháp, có nghề nghiệp làm ăn, sau đó sẽ tập hợp lại vào tổ chức.

Đây cũng là dịp để bố trí lực lượng cách mạng đứng chân đều khắp ở các vùng sâu, vùng tôn giáo, vùng dân tộc ít người, thị xã, thị trấn. Các thị xã Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tân An, Gò Công và một số thị trấn, mỗi nơi có hàng chục đảng viên về thêm. Các Đảng bộ được tổ chức lại, tinh giản gọn nhẹ, bí mật, trọng chất lượng, bao gồm những người được lựa chọn, có lập trường giai cấp kiên định, tính đảng cao, có ý thức tổ chức kỷ luật, tích cực tự giác lãnh nhiệm vụ. Một số đảng viên làm nhiệm vụ đặc biệt hoặc chưa được tập hợp vào tổ chức cơ sở thì hoạt động đơn tuyến, giao từng việc; một số hoạt động bí mật trong bộ máy các cơ quan Khu, Tỉnh ủy, Huyện ủy, số đồng chí này ăn, ở, đi lại, hoạt động trong dân theo từng mức độ, tùy theo từng người, từng địa phương.

Khi thành lập Liên tỉnh ủy Khu Nam Trung Bộ cũng là lúc chia lại các tỉnh để lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địch cho phù hợp với tình hình mới.

Mỹ Tân Gò chia thành ba tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công. Long Châu Sa chia thành các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc. Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ quản lý, lãnh đạo các tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc. Các Tỉnh ủy, Huyện ủy bí mật được hình thành.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:21:38 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:14:56 AM »

Tỉnh ủy bí mật Mỹ Tho do đồng chí Ba Chim, Liên tỉnh ủy viên kiêm Bí thư; đồng chí Ba Đời (Tư Thế), Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành. Các cán bộ sống phân tán trong nhà dân, mỗi người ở một nhà, có hầm bí mật trong buồng ngủ hoặc ngoài cây rơm, ngoài vườn, v.v. Vùng này trước kia là vùng địch tạm chiếm nhưng có truyền thống cách mạng lâu đời, phong trào quần chúng mạnh, lại gần đường giao thông tiện cho việc liên lạc hợp pháp.

Tỉnh ủy bí mật Tân An do đồng chí Nguyễn Văn Minh (Hai Minh) làm Bí thư; đồng chí Huỳnh Châu Sổ (Năm Bê), Phó Bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã Hiệp Thạnh, huyện Châu Thành là vùng mới giải phóng trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Cách ăn ở của cán bộ ở đây cũng giống như ở Mỹ Tho.

Tỉnh ủy bí mật Gò Công do đồng chí Lê Văn Còn (Chín Còn) làm Bí thư. Căn cứ ở xã Hòa Nghị.

Tỉnh ủy bí mật Long Xuyên do đồng chí Tư Long, Liên tỉnh ủy viên kiêm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Chuẩn, Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở vùng Bình Thủy, thị xã Long Xuyên. Vùng này là vùng Công giáo, có thế hợp pháp, cơ sở quần chúng mạnh.

Tỉnh ủy bí mật Châu Đốc do đồng chí Phạm Ngọc Bính (Bảy Ruộng) làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Thứ, Phó bí thư. Căn cứ Tỉnh ủy ở xã An Bình và xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự.

Tỉnh ủy bí mật Sa Đéc do đồng chí Nguyễn Văn Phối (Hai Phối) làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Việt Châu, Phó bí thư. Căn cứ ở xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh và xã Tân Đông, huyện Châu Thành. Vùng này trước là vùng tranh chấp, vừa có thế hợp pháp vừa có địa hình để tránh né.

Thời gian còn khu tập kết Cao Lãnh cơ quan Liên tỉnh ủy đóng ở vùng kênh Nguyễn Văn Tiếp tại Ba Sao, xã Mỹ Quý, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Cơ quan được tổ chức gọn nhẹ, chỉ có hơn 30 người, phụ trách các ngành binh vận, tuyên huấn, tổ chức, dân vận, căn cứ, văn phòng, điện đài, giao liên… Trong các ngành trên, ngành binh vận được đặc biệt chú ý. Đây cũng là ngành được chỉ đạo xuyên suốt từ xứ cho đến liên tỉnh, tỉnh, huyện, xã và có rất nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch từ tề, xã, ấp đến binh lính trong các đơn vị dân vệ, bảo an, chủ lực. Khi địch tiến hành “tố cộng, diệt cộng” tràn lan, một số người bị mất liên lạc với Đảng.

Sau khi đồng chí Sáu Đường đi dự Hội nghị về, cơ quan Liên tỉnh ủy dời về các xã Nhơn Ninh, Tân Ninh, Tân Hòa, huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An. Trước đó Đồng Tháp Mười là căn cứ kháng chiến rộng lớn, cơ quan hoạt động công khai, cán bộ nhân viên đông đúc, có nhà cửa, hội trường bề thế, có lực lượng quân sự bảo vệ; còn lúc này thì tình hình đã khác, Đồng Tháp Mười do địch kiểm soát.

Cơ quan Liên tỉnh ủy về đây hoạt động bí mật trong khi địch đang tiếp quản xây dựng bộ máy chính quyền độc tài phát xít tố cộng, diệt cộng, bắn giết trả thù. Cơ quan phải phân tán từng người trong nhà dân, phải làm hầm bí mật để hoạt động. Tất cả trông cậy vào sự đùm bọc, che chở của dân.

Đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy ở nhà má Năm, xã Tân Ninh. Gia đình má phân công nhau: má gác trước cửa buồng để hễ có động thì kịp thời nghi trang nắp hầm bí mật; chồng má ngồi vót nan tre đan rổ trước cổng để báo động khi có địch tới; con trai má là anh Ba Hểng đi vòng ngoài đặt lợp, giăng câu, nghe ngóng tin tức; con gái má đi cấy ngoài ruộng gần nhà để nắm tình hình.

Lúc này, tin về những vụ bắt bớ, tàn sát ở khắp nơi trong vùng Đồng Tháp Mười truyền lan như cơm bữa. Anh Bê Hểng đi ra ngoài lượm lặt về thuật lại. Đồng chí Sáu đường tổng hợp viết thành bản tin gửi ra Hà Nội, Đài phát thanh ở Hà Nội lập tức đưa tin tố cáo tôi ác của địch. Tin tức rành mạch: địch trả thù giết gia đình nào, tên họ, chỗ ở cụ thể. Người có rađiô nghe được bàn tán: “Như vậy là cách mạng còn để người ở lại trong này, nên chuyện gì ngoài Hà Nội cũng biết rõ như đang ở trong làng, trong xóm ấp mình”.

Địch tập trung sức xóa sạch dấu vết của căn cứ Đồng Tháp Mười như chặt phá cây cối, phá các chướng ngại vật trên sông rạch… Địch còn xúi giục đồng bào vùng người vào đốn tràm trong xã Tân Hòa. Tràm ở đây cao lớn, mọc thành rừng, là chỗ ẩn nấp của những anh em ở lại hoạt động. đồng chí Ba Nhóm, Bí thư liên xã đến gặp đồng chí Sáu Đường, Bí thư Liên tỉnh ủy xin ra lệnh cấm đốn tràm. Đồng chí Sáu Đường nói: Mình đâu có tư cách gì để cấm dân… Dân mình rất tốt! Đó là vì bà con chưa hiểu âm mưu của địch, nên nói cho bà con rõ, tức khắc họ sẽ thôi, không vì lợi nhỏ mà làm hại cách mạng đâu.

Mấy hôm sau, được cán bộ của Đảng bí mật tuyên truyền, giáo dục nhân dân đã chấm dứt việc đốn tràm.

Một lần bọn bảo an bất ngờ mò vào xóm, chúng đã đến gần cửa nhà má Năm, nơi đồng chí Sáu Đường ở, cô Bảy con gái má Năm đang cấy lúa gần đó, nhanh trí nhảy lên bờ ruộng, giang tay ngăn cản, đùa bỡn với bọn lính, gây ồn ào để báo động. Má Năm kịp thời đưa đồng chí Sáu Đường xuống hầm bí mật.

Diễn biến tình hình cho thấy cơ quan Liên tỉnh ủy không thể bám ở Đồng Tháp Mười. Tình thế mới đang diễn ra rất phức tạp. Kẻ thù lộ rõ ý đồ muốn triệt phá căn cứ địa cách mạng, trong khi đó, nhiệm vụ mới đòi hỏi cách mạng phải bám sát các vùng đông dân, đô thị để lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống lại âm mưu, ý đồ phá hoại Hiệp định Giơnevơ của địch. Cơ quan đầu não của cách mạng phải ở nơi tiện cho việc nắm tình hình và chỉ đạo đấu tranh. Hai đồng chí Lê Văn Khuyên (Tám Dần) và Đào Kim Sơn là cán bộ cứ được cử đi chuẩn bị chỗ ăn ở mới ở phía nam quốc lộ 4 thuộc các xã giáp ranh hai huyện Châu Thành, tỉnh Tân An và Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Nơi đây tuy là vùng địch tạm chiếm lâu, mới nổi dậy trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, nhưng ngụy quyền cơ sở tan rã, chúng chưa củng cố lại được, lòng dân nơi đây vững vàng.

Tháng 12 năm 1954, cơ quan Liên tỉnh ủy dời về căn cứ mới, tài liệu, máy móc, điện đài, súng đạn giấu dưới ghe hai đáy theo sông Vàm Cỏ Tây xuống kênh Chợ Gạo và Rạch Tràm; cán bộ nhân viên thì đi xe đò. Đến đây cơ quan cũng phân tán từng người ở trong nhà dân gần Cầu Hàng, xã An Lục Long, được bảo vệ bằng hầm bí mật.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:21:50 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2012, 10:15:22 AM »

*
*   *

Đầu tháng 1 năm 1955, sau một thời gian khẩn trương tổ chức lại, hệ thống tổ chức Đảng bộ đã thông suốt từ liên tỉnh xuống tỉnh đến chi bộ bằng đường giao liên họp pháp. Giữa cấp khu với tỉnh, xứ và Hà Nội còn liên lạc với nhau qua hệ thống điện đài. Đảng ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ đã cơ bản chuyển từ công khai lãnh đạo chiến tranh sang bí mật lãnh đạo đấu tranh chính trị. Từ đó, công văn, chỉ thị, mệnh lệnh chỉ đạo đấu tranh được đồng chí Sáu Đường, Bí thư thường trực Liên tỉnh ủy thảo rồi truyền xuống bằng điện đài hoặc bằng bạch chỉ, do giao liên bí mật đưa đi bằng con đường hợp pháp trong vùng kiểm soát của địch đến các cấp ủy và cán bộ, đảng viên.

Giữa tháng 1 năm 1955, tại căn cứ An Lục Song, Liên tỉnh ủy Khu VIII - Trung Nam Bộ họp kiểm điểm tình hình và đề ra chủ trương chỉ đạo phong trào đấu tranh ở các nơi, nội dung chính như sau:

Địch vẫn đang đánh Đồng Tháp Mười ác liệt. Hầu hết quần chúng trong khắp 20 xã thuộc huyện Mộc Hóa đã phải sống dưới ách kìm kẹp ác nghiệt của ngụy quyền xã, ấp. Đảng bộ ở đây cần phải nhanh chóng có biện pháp lãnh đạo bảo tồn lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, trọng tâm lãnh đạo vẫn là đấu tranh chính trị đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ ở vùng đô thị, vùng nông thôn đông dân để chống lại các chính sách thực dân mới của địch, bảo vệ cách mạng, tài sản và đời sống nhân dân theo tinh thần Điều 14C của Hiệp định Giơnevơ và chuẩn bị đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Ở những vùng này, tạm thời nội bộ địch chưa giải quyết được mâu thuẫn Mỹ - Pháp, đến nay chúng chưa nắm được cơ sở hạ tầng, chúng buộc phải để Đảng chi phối quản lý dân. Nhưng chắc chắn chúng sẽ dốc toàn lực đánh ta trong thời gian tới. Muốn giành được thắng lợi trong tuyển cử thì cách mạng phải nắm chắc dân, tổ chức nhân dân đấu tranh thành cao trào quy mô, liên tục để bắt buộc địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Ta phải biết đào sâu mâu thuẫn giữa Mỹ - Pháp, lôi kéo, tác động Pháp buộc Mỹ và tay sai phải thi hành Hiệp định mà Pháp đã ký. Trong chính quyền và quân đội địch ở các cấp vẫn còn những người vốn là của Pháp để lại, hiện đang lưng chừng, cần phải lôi kéo họ chống lại ý đồ phá hoại Hiệp định của bè lũ Mỹ - Diệm để làm lợi cho ta. Việc phải làm trước mắt là tiếp tục đưa phong trào quần chúng mừng hòa bình, bảo vệ hòa bình, hoan nghênh Hiệp định mạnh hơn nữa, duy trì phong trào liên tục và ngày càng đi vào chiều sâu.

Sắp đến Tết Nguyên đán, Liên tỉnh ủy chủ trương toàn Khu tiến hành đợt thống nhất hành động “mừng Tết hòa bình, đoạn tụ, đoàn kết đấu tranh bảo vệ hòa bình”.

Nhân dịp này, ta vận động các gia đình ngụy quân, ngụy quyền gọi con em về quê ăn tết, tổ chức cán bộ nòng cốt nói chuyện với họ về nội dung Hiệp định Giơnevơ, tuyên truyền ý thức phải giữ gìn hòa bình để khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước đúng ngày 20 tháng 7 năm 1956; tổ chức cho nhân dân thăm viếng các gia đình liệt sĩ, lập đài tưởng niệm những người đã hy sinh, thăm viếng gia đình những người có chồng, con em đi tập kết; phát động đoàn kết thôn xóm, khôi phục kinh tế, sinh hoạt văn hóa, xây dựng ý thức xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, vận chuyển, lãnh đạo dân khai hoang phục hóa, lập trạm y tế, nhà hộ sinh, tổ chức lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ, phá ý đồ củng cố ngụy quyền cơ sở của địch.

Một nhiệm vụ hết sức quan trọng được triển khai trong đợt này là vận động nhân dân tẩy chay những tên tay sai trong ngụy quyền xã và dân vệ do địch chỉ định, dòi phải bầu cử dân chủ, thông qua đó đưa người tốt vào nắm chắc tề xã, ấp, dân vệ để bảo vệ Đảng, bảo vệ quyền lợi quần chúng; đưa người vào các đơn vị bảo an, chủ lực của địch để tuyên truyền, giáo dục binh sĩ giác ngộ cách mạng, trước mắt ủng hộ đồng bào đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất đất nước, về lâu dài, mai phục chờ thời cơ nổi dậy đấu tranh cách mạng.

Từ chủ trương đó của Liên tỉnh ủy, phong trào nhân dân mừng hòa bình, bảo vệ hòa bình ở Khu VIII - Trung Nam Bộ trong những tháng đầu năm 1955 đã thực sự trở thành phong trào từ thành thị đến nông thôn.

Hàng triệu lượt người đã tham gia họp mít tinh, biểu tình, tuần hành, hô khẩu hiệu, đưa kiến nghị. Mỗi tỉnh có hàng trăm ngàn người viết đơn, ký tên tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơnevơ, đưa cho phái đoàn Ủy hội quốc tế ở Tân Châu (Châu Đốc) và ở Sài Gòn đòi ngụy quyền phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định. Trong hai tháng, phong trào này có hàng triệu lượt ngươi tham gia, lôi kéo cả gia đình binh sĩ, sĩ quan, nhân viên ngụy quyền và con em họ. Ta còn tổ chức móc nối và phối hợp với phong trào bảo vệ hòa bình ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn cùng hoạt động. Ở mỗi xã đều tổ chức những người có thân thế tiếp xúc với ngụy quyền và Ủy hội quốc tế để đưa đơn kiến nghị.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2012, 10:22:01 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM