Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2019, 12:59:10 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)  (Đọc 75370 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #170 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:11:15 PM »

Sau những đợt vũ trang tuyên truyền của An Giang xuống vùng Chữ O trong năm 1968, tình hình đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là về khả năng quân sự của ta. Mặt khác, địch cũng có kinh nghiệm ngăn chặn hơn. Cho nên trong việc tiếp tục thực hiện chủ trương đưa bộ đội vũ trang tuyên truyền để phát động quần chúng tín đồ nổi dậy tấn công làm suy yếu và tan rã địch càng phải hết sức cân nhắc và phải chuẩn bị chu đáo về nhiều mặt.

Lần này, theo kế hoạch của cấp trên, An Giang phải tổ chức nhiều mũi tiến xuống vùng Chữ O để hiệp đồng với Kiến Phong tiến qua Chợ Mới. Nhưng bộ đội vừa đến kênh xáng Tân An, đã đụng địch. Chúng rất mạnh, ta không sao qua được, phải quay lại mở vùng Tân An, Vĩnh Xương, hy vọng thu hút địch phần nào từ xa cho Kiến Phong. Nhưng ta ở lại Tân An, Vĩnh Xương không được bao lâu, phải rút về căn cứ B1, không xuống được trung tâm thánh địa Hòa Hảo (vùng Chữ O) để hợp đồng với Kiến Phong.

Kiến Phong nhận được chỉ đạo của Khu. Đồng chí Tám Bé (Trần Anh Điền) - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Năm Vinh - Tỉnh đội trưởng đang bàn cách triển khai kế hoạch thì có điện của Thường vụ Khu ủy gọi hai đồng chí về Khu để trao đổi nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể. Công việc được giao lại cho đồng chí Mười Nhẹ (Nguyễn Xuân Trường) - Phó bí thư. Đồng chí Mười Nhẹ sau khi nhận nhiệm vụ đã mời đồng chí Bảy Tường - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Năm Nhượng - Chính trị viên Tỉnh đội đến họp. Các đồng chí bàn rất kỹ chung quanh các vấn đề hoạt động quân sự. Lúc này 2 tiểu đoàn 502A, 502B của tỉnh quân số chỉ còn 180; các đại đội thuộc bộ đội huyện chỉ có 1 đại đội được 40 người, hầu hết chỉ 20 - 30 người, riêng huyện Chợ Mới chỉ có 16 người. Các vấn đề bảo đảm vượt sông, tổ chức hành quân, tiếp ứng phía sau, bảo đảm hậu cần, nhất là khi bị địch bao vây phải quay về v.v. thì thật là khó khăn, phức tạp. Với đồng bào Hòa Hảo bị kìm kẹp lâu đời, tâm lý, tình cảm bị mê hoặc bởi giáo lý; bộ máy ngụy quyền, tề điệp là con em, thân thích của họ thì làm thế nào để chỉ trong một thời gian ngắn có thể tuyên truyền cách mạng, xây dựng cơ sở, phát động quần chúng nổi dậy tự lực đấu tranh như mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ Khu đề ra cho cuộc vũ trang tuyên truyền?

Huyện Chợ Mới là một cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, dân cư đông đúc, có trên 120.000 dân, gồm 12 xã, địch chia thành 2 tổng, lấy sông Ông Chưởng làm ranh giới hành chính. Tổng Định Hòa gồm 5 xã ở hướng tây bắc, giáp vùng Chữ O của An Giang, cách nhau bởi sông Vàm Nao là một con sống lớn và giáp cù lao. Tây thuộc huyện Thanh Bình, cách nhau bởi sông Tiền. Tổng An Bình gồm 7 xã ở hướng đông nam, giáp huyện Lấp Vò của tỉnh Bình Long (thuộc Khu IX). Chợ Mới là vùng tôn giáo Hòa Hảo, có trung tâm chính trị của nhóm đội lốt Hòa Hảo Lương Trọng Tường. Quần chúng ở tổng An Bình có tham gia Đồng Khởi năm 1960, là vùng tranh chấp yếu, các xã đều có đảng viên và một ít cơ sở quần chúng. Tổng Định Hòa là vùng bị kìm kẹp lâu đời, từ chống Pháp cho đến lúc này là vùng trắng, cả đấu tranh dân sinh cũng hầu như không có. Huyện ủy Chợ Mới có 7 đồng chí, 4 đồng chí bám địa phương, 2 đồng chí ở tổng An Bình, 2 đồng chí ở tổng Định Hòa. Văn phòng huyện ủy, huyện đội và trung đội quân địa phương đều chuyển sang đóng ở vùng Bình Thành - Phong Mỹ ở bên này sông Tiền, thuộc hai huyện Cao Lãnh và Thanh Bình.

Vùng Chợ Mới là địa bàn xa lạ với lực lượng vũ trang của tỉnh, địa hình, địa vật, tên làng, xóm đều không quen, do đó nếu có xảy ra chiến đấu thì bộ đội sẽ gặp khó khăn lớn. Điều đó làm cho các cán bộ quân sự lo ngại không ít. Tuy còn nhiều thắc mắc, nhưng đồng chí Mười Nhẹ kết luận: “Đây là chỉ đạo của Khu ủy, với ý thức kỷ luật cao ta chỉ còn cách khắc phục để thi hành”. Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho đồng chí Bảy Tường và đồng chí Chín Đồng lãnh đạo cuộc hành quân; đồng chí Chín Đồng trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang. Tỉnh ủy động cán bộ dân vận, thanh niên, y tế, văn hóa thông tin thành lập đoàn công tác và cho in ngay 400.000 tờ truyền đơn lời kêu gọi của Huỳnh Sư Thúc, làm huy hiệu bọc nhựa ảnh của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và Huỳnh Sư Thúc để phát cho cán bộ, chiến sĩ gắn lên ngực áo. Huy đồng xuồng, ghe máy, dân công của huyện Thanh Bình, giao cho huyện ủy, huyện đội Chợ Mới đang đóng ở Thanh Bình chịu trách nhiệm dẫn đường. Lấy chiến sĩ bộ đội địa phương, kể cả đội bảo vệ Tỉnh ủy, nhân viên cơ quan quân sự tỉnh, bổ sung cho Tiểu đoàn 502. Bộ đội huyện Cao Lãnh và du kích các xã của huyện Thanh Bình có trách nhiệm giữ đầu cầu qua sông. Khẩn trương giáo dục tư tưởng, tác phong cho bội đội và đoàn công tác, giữ vững đúng theo lễ giáo của Đạo, tôn trọng nhà thờ, trần điều, bàn vọng thiên, ăn cơm phải xá, không ăn thịt chó, thể hiện cho được phong cách của bộ đội ông Mười về thăm tín đồ.

Chỉ trong một tuần lễ, mọi mặt chuẩn bị xong. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đang nằm viện, nghỉ phép, thậm chí có cán bộ bị kỷ luật đang đình chỉ công tác, đã tìm gặp đồng chí Chín Đồng, tha thiết xin đi. Anh em phát biểu rất cảm động: “Biết qua Chợ Mới lần này, đi cũng khó mà về cũng khó. Nhưng anh em chúng tôi không đành ngồi nhìn đồng đội đi vào nơi nguy hiểm!”. Đồng chí Chín Đồng phải chấp nhận cho anh em được đi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #171 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:11:45 PM »

Trên đường hành quân đến khu vực tập kết ở Thanh Bình, bộ đội gửi lại quần áo, xuồng ghe cho đồng bào Mỹ Quý, chỉ mang theo súng đạn và quần áo mặc trên người.

Đêm 19 tháng 5 năm 1969, toàn bộ lực lượng vũ trang tuyên truyền hơn 300 người đã bí mật tập kết ở xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình. Đêm 11 tháng 5 năm 1969 bộ đội ta tổ chức vượt sông. Sau khi lực lượng cảnh giới báo cáo không có tàu địch, anh em vượt sông. Từng chuyến, từng chuyến bằng ghe máy, bộ đội qua sông an toàn. Hừng sáng, lực lượng hành quân theo bờ ruộng, bờ vườn, qua cầu khỉ trong xóm đến xã Tân Huề, cù lao Tây. Đồng chí Hai Đờn, Huyện đội trưởng Chợ Mới dẫn đường. Các cán bộ khác của Chợ Mới đi bằng đường hợp pháp qua sông trước. Chưa liên lạc được với đồng chí Bảy Tạo - Bí thư Huyện ủy.

Đúng theo kế hoạch thì đoàn vũ trang tuyên truyền phải đi thẳng sao tổng Định Hòa, bến đổ bộ là ấp Kiến Lạc Thượng, xã Kiến An nhưng do đường hành quân khó, thiếu xuồng ghe, thời gian vượt sông kéo dài nên phải đổ quân lên cù lao Tây. Tại đây, đã có trung đội quân địa phương Thanh Bình sang trước.

Sáng ngày 12 tháng 5 năm 1969, phát hiện thấy lực lượng vũ trang lạ, đồng bào tín đồ Hòa Hảo hốt hoảng tản cư. Bốt dân vệ Tân Huề bắn ra. Cán bộ ta đến gặp ban trị sự nói rõ là bộ đội Huỳnh Sư Thúc đến thăm đồng bào, không đánh bốt, không đánh nhau với lực lượng vũ trang của đạo. Bốt Tân Huề ngừng bắn nằm im. Đồng bào trở về nhà. Trong ngày 12 tháng 5 năm 1969, các đồng chí nói chuyện được với ban trị sự, đưa thư của ông Mười gửi cho tín đồ, phân phát nhiều truyền đơn cho đồng bào. Đồng bào lúc đầu còn lo sợ, dần dần thấy an tâm vì bộ đội ông Mười nói năng lễ phép, hiền từ, nên từng gia đình lo tiếp tế cơm nước, gạo, cá, gà… cho bộ đội. Nhưng cũng có người không chịu thân thiện, cất giấu giấu kỹ gạo thóc, thậm chí từ đối giúp đỡ cây cối làm công sự cho bộ đội.

Suốt ngày cán bộ, chiến sĩ gặp gỡ, thăm hỏi tuyên truyền, giải thích được cho hơn 4.000 tín đồ, dân xã Tân Huề. Loa phóng thanh vọng qua tới bên kia sông. Xã Hòa Hảo đối diện có tới 500 người ra bờ sông nghe loa. Đến 4 giờ chiều, chi khu Thanh Bình cho 1 đại đội bảo an tiến qua xã Tân Long ở đuôi cù lao, bắn vu vơ rồi cụm lại. Phía bên kia Chợ Mới, lực lượng địch cơ động tới lui. Mọi ghe xuồng đều bị địch đưa về phía bên kia sông. Tàu tuần tiễu của địch lên xuống liên tục trên sông Tiền và sông Vàm Nao.

Hai giờ đêm ngày 12 tháng 5 năm 1969, đồng chí Bảy Tường và đồng chí Chín Đồng ra lệnh vượt sông sang xã Kiến An, đoạn giữa thị trấn Chợ Mới và chùa Tây An. Trung đội bộ đội địa phương Thanh Bình đi theo luôn. Đồng bào tìm đủ xuồng ghe đưa bộ đội qua sông trót lọt. Đến 3 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1969, toàn bộ lực lượng đã đến Giồng Ông Tỏ, xã Kiến An, cách bờ sông Vàm Nao 1.000 mét. Tại đây, phòng vệ dân sự đem nạp cho bộ đội 50 khẩu súng với đầy đủ đạn dược. Qua phòng vệ dân sự, các đồng chí đến gặp ban trị sự. Lúc đầu, họ ngơ ngác, sau thấy huy hiệu, họ mừng rỡ, tiếp xúc niềm nở rồi thông báo cho dân và đồn bốt. Tại đây, các đồng chí phân phát trên 80.000 truyền đơn, gặp gỡ 4.000 tín đồ. Đồng bào đến thăm và tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Buổi sáng yên tĩnh, nhưng đồng chí Bảy Tường và Chín Đồng nhận định là địch ở tiểu khu An Giang đã được báo động, nhất định chúng sẽ đưa lực lượng tới. Đồng chí Chín đồng cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, cán bộ đi gặp đồng bào giải thích để đồng bào có ý thức sơ tán những đồ đạc quý, nếu chủ lực ngụy hoặc bảo an có đến tấn công bộ đội ông Mười thì yêu cầu những người già, trẻ em tạm lánh, đề phòng tên rơi, đạn lạc. Trước sự lo lắng của bộ đội, nhiều ông lão cảm động nói: “Bộ đội ông Mười tốt quá, hết lòng lo cho dân…”. Các bà lão và trẻ em đã đi lánh, nhưng mấy ông lão thì không đi mà ở lại với anh em. Các đồng chí biết đồng bào đã ủng hộ mình, rất mừng. Nhưng đánh giá đây mới chỉ là bước đầu có cảm tình nên các đồng chí không đặt vấn đề phát động đồng bào đứng lên chủ động đấu tranh chính trị, binh vận với địch như ở các vùng khác.

Chín giờ ngày 13 tháng 5 năm 1969, hai tiểu đoàn bảo an từ hướng Long Xuyên đi tàu đổ quân lên bờ Vàm Nao tiến đến Giồng Ông Tỏ. Địch triển khai đội hình tấn công. Bộ đội nằm trong vườn dùng loa điện phát lời kêu gọi của Huỳnh Sư Thúc. Hai tiểu đoàn bảo an chần chừ, đến 3 giờ chiều vẫn chưa chịu vào. Cho đến khi trực thăng đến bắn, pháo binh bắn cấp tập dữ dội vào trận địa, chúng mới bắt đầu tiến. Bộ đội đánh trả bằng các loại hỏa lực. Giằng co cho đến nhá nhem tối. Địch chết khoảng 50 tên, chúng lùi trở ra bờ Vàm Nao. Ta hy sinh 1 chiến sĩ. Tuy ta chưa hướng dẫn cuộc đấu tranh chính trị, binh vận nhưng do cảm tình và tin bộ đội ông Mười làm đúng, nên có mấy chục ông già bà lão, có cả người trong ban trị sự đạo, một số chị có chồng con trong bảo an tự động từ các cấp kéo đến gặp bọn bảo an, chất vấn, phản đối. Sau trận đánh, đồng bào trở về nhà, lo cơm nước cho bộ đội và giúp chôn cất tử sĩ.

Thường vụ Tỉnh ủy ở xa nên không có điều kiện chỉ đạo cách giải quyết để giành thế chủ động trong công tác phát động quần chúng tấn công địch hỗ trợ cho bộ đội bảo tồn lực lượng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #172 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:14:01 PM »

Một tình huống khá phức tạp đã xảy ra, trong suốt ngày 13 tháng 5 năm 1969, địch liên tục phát loa từ máy bay kêu đích danh Bảy Tường, Chín Đồng, Mười Cường, Ái Việt, Quốc Nguyễn, Ba Dân… đang chỉ huy Tiểu đoàn 502 Việt cộng giả danh “Bộ đội Huỳnh Sư Thúc” lừa gạt đồng bào. Các đồng chí Bảy Cường và Chín Đồng cho cán bộ, chiến sĩ gặp đồng bào nói rõ sự thật “Tiểu đoàn 502 là bộ đội cách mạng, theo lệnh Huỳnh Sư Thúc về thăm đồng bào”. Đồng bào tỏ ra hiểu và đồng tình “Bộ đội cách mạng tốt, tụi nó nói bậy”.

Thấy ở lại Kiến An nữa không có lợi, đồng chí Chín Đồng quyết định ngay trong đêm hành quân xuống rạch Cả Gốc, xã Nhơn Mỹ. Các đồng chí từ giã đồng bào, nói rõ để đồng bào hiểu, nếu ở lại nữa địch sẽ đánh phá gây thiệt hại cho đồng bào.

Toàn bộ lực lượng rời Giồng Ông Tỏ, men theo vườn đi về hướng đông. Đi được vài cây số thì máy bay C47 đến quần đảo thả pháo sáng và bắn đại liên trùm lên đội hình hành quân. Tiếp theo, trực thăng vũ trang đến rọi đèn pha bắn rốc két. Trực thăng vừa đi thì pháo các nơi tập trung bắn tới tấp vào khu vực bộ đội đang ẩn nấp. Trời tốt như mực bộ đội rối loạn. Hai đồng chí Chín Đồng và Bảy Cường cho trinh sát đi gom đơn vị lại mất hơn một giờ. Đồng chí Bảy Cường và phần lớn cán bộ dân chính đi lạc. Đồng chí Hai Đờn - Huyện đội trưởng Chợ Mới, người dẫn đường duy nhất, cũng không thấy đâu. Đáng lo là hai đồng chí Ái Việt và Quốc Nguyễn, cán bộ chỉ huy của Tiểu đoàn 502 cùng với Đại đội 4 hỏa lực, 2 trung đội của Đại đội 2 cũng không biết đi đường nào. Đồng chí Chín Đồng chỉ còn nắm Tiểu đoàn bộ, Đại đội 1, Đại đội 3, 1 trung đội của Đại đội 2 và Trung đội quân địa phương Thanh Bình. Đồng chí cử đồng chí Mười Cường và 3 trinh sát đi tìm các đồng chí Ái Việt, Quốc Nguyễn và bộ đội. Không còn người dẫn đường, đồng chí phải sử dụng địa bàn, bản đồ, nhắm hướng Cả Gốc dẫn bộ đội đi xuống.

Rạng sáng ngày 14 tháng 5 năm 1969, lực lượng do đồng chí Chín đồng chỉ huy đến rạch Cả Gốc. Cánh các đồng chí Ái Việt, Quốc Nguyễn xuống đến Sóc Chét, xã Long Kiến. Hai bên đóng cách nhau 4 kilômét mà không biết. Triển khai đội hình xong, chưa ăn cơm thì địch đến. Đồng chí Chín Đồng ra lệnh: “Địch vào nơi nào, nơi đó đánh. Nơi khác cứ đi gặp dân”. Bộ binh địch án binh bất động, cho máy bay và pháo hoạt động. Tại Nhơn Mỹ, bộ đội gặp được 6.000 tín đồ, phân phát 80.000 truyền đơn. Đồng bào thấy bộ đội đeo hình Huỳnh Giáo chủ và Huỳnh Sư Thúc, bà con rờ phù hiệu rồi khóc. Nhiều người xin phù hiệu để cất giữ. Họ đi tản cư, trước khi đi có người chỉ chỗ để gạo, mắm, bảo bộ đội ông Mười cứ bắt gà, vịt, lấy gạo, mắm, nấu ăn. Đến đêm địch lùi ra xa, cụm lại, thành thế bao vây rộng. Bộ đội cử tổ binh vận tiếp cận phát loa kêu gọi binh lính địch, giải thích bộ đội Sư Thúc về thăm đồng bào, không đánh nhau, yêu cầu đừng tấn công, gây cảnh cốt nhục tương tàn, gởi lời thăm của Sư Thúc tới anh em.

Ngày hôm sau chắc chắn địch sẽ đánh. Đạn dược ta đã giảm, đồng chí Chín Đồng cho bộ đội bất ngờ quay về hướng chùa Tây An. Bộ đội đến đóng ở ấp Sứ, xã Long Kiến giáp Kiến An, vẫn không gặp cánh quân của các đồng chí Ái Việt và Quốc Nguyễn, cũng không nhận được tin của nhóm Mười Cường. Sau đó ta phát hiện được cánh quân của đồng chí Ái Việt cũng quay lại lòng Ông Chưởng gần chùa Tây An, cách chỗ đóng quân của đồng chí Chín Đồng 5 kilômét nhưng không sao liên lạc được. Ở đây, bộ đội vẫn tranh thủ gặp các tín đồ, phân phát 40.000 truyền đơn.

Chín giờ sáng ngày 15 tháng 5 năm 1969, 2 đại đội bảo an địch tấn công vào đội hình Đại đội 1 và Tiểu đoàn bộ. Chờ chúng đến gần ta mới nổ súng, địch thiệt hại nặng. Địch cho 20 chiếc trực thăng đổ Tiểu đoàn 43 biệt động quân và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy xuống. Ta bắn rơi 1 trực thăng, đánh lui các đợt xung phong. Cánh quân của 2 đồng chí Ái Việt, Quốc Nguyễn cũng nổ súng. Đến 20 giờ đêm tiếng súng mới dứt, đồng chí Chín Đồng họp cán bộ bàn bạc: “Địch quyết bao vây ta, sáng mai có thêm lực lượng, chúng sẽ đánh lớn hơn. Dân thì ủng hộ ta nhưng rõ ràng là ta chưa thể phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận. Ta phải thoát ra khỏi vòng vây, rút về Chân Đùng - Cá Hố, nơi có địa hình tốt, có thể phòng ngự được. Từ đó, qua sông về căn cứ”.

Trong khi đó thì Ái Việt và Quốc Nguyễn đang rất lúng túng. Trong ngày, các đồng chí có đánh bọn phản kích và có nghe tiếng súng ở hướng ấp Sử, nhưng khi hết tiếng súng lại lo đi về hướng đó liệu có gặp được nhau hay không nên các đồng chí quyết định sang cù lao Giêng. Trên đường đi, các đồng chí gặp đồng chí Mười Cường. Hai bên trao đổi, thống nhất là bộ phận của đồng chí Ái Việt sang sông rút về trước. Đồng chí Mười Cường nhận định chính xác hướng rút của đồng chí Chín Đồng, liền cùng trinh sát đóng giả nông dân đi trong đêm 15 tháng 5 năm 1969, sáng sớm hôm sau đến kênh Thầy Cai thì gặp bộ phận của đồng chí Chín Đồng. Đồng chí Chín Đồng đã yên tâm với bộ phận Ái Việt và cho Mười Cường biết ý định về kênh Cựu Hội nhưng dọc đường gặp máy bay C47 gây trở ngại, bị lạc mất 37 người phải dừng lại tìm, một số người bị thương phải khiêng, bộ đội lại mệt và đói nên khi chưa tới được kênh Cựu Hội, đành dừng lại nghỉ ở kênh Thầy Cai. Hiện đang triển khai phòng ngự, tuy mệt mỏi nhưng tinh thần vững vàng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #173 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:14:25 PM »

Sáng ngày 16 tháng 5 năm 1969, tại kênh Thầy Cai, thuộc vùng Chân Đùng - Cá Hố, bộ đội làm công tác vận động quần chúng, phòng vệ dân sự đem nộp 15 khẩu súng. Bảy giờ sáng, địch đến, có cả 1 chi đoàn xe M113 yểm trợ. Trận đánh diễn ra ác liệt, nhiều đợt máy bay A37, pháo binh, xe M113 bắn phá. Biệt động quân và Sư đoàn 9 ngụy xông lên. Máy bay ném bom trúng Tiểu đoàn bộ. Phát hiện được chỗ yếu của đội hình phòng ngự, xe M113 tiến vào, ta bắn hỏng và cháy 6 chiếc, chúng hốt hoảng tháo lui. Giằng co đến tối, chúng không vào được phải rút ra đồng. Trận đánh kết thúc, ta bị thiệt hại nặng. Đồng chí Mười Đồng và 10 chiến sĩ hy sinh, 18 người bị thương, một số chiến sĩ tróc công sự nên bị địch bắt, một số dân công đầu hàng, khai rõ hết tình hình với địch. Cán bộ dân, chính, Đảng tản lạc hết. lúc này, người chỉ huy cao nhất là đồng chí Mười Cường. Đồng chí Mười Cường và đồng chí Ba Dân bàn tính với bộ đội: Sức ta đã mỏi, đạn lại hết nên phải rút về, tử sĩ chôn tại chỗ, hơn 10 thương binh nặng gởi gắm cho đồng bào tìm cách che giấu, cứu chữa, rồi đưa về căn cứ sau. Đồng bào nhiệt tình nhận giúp.

Ngay trong đêm, đơn vị bí mật rời kênh Thầy Cai sang cù lao Giêng đề đến bến vượt sông ở xã Hỹ Hiệp. Đêm tối, đường lạ, một số thương binh phải khiêng nên đi rất chậm, đến hừng sáng mới tới ấp Đông Châu, xã Mỹ Hiệp, trinh sát phát hiện có địch (vì đêm trước, cánh của đồng chí Ái Việt cũng đến trú quân ở ấp Đông Châu, khi vượt sông đụng tàu địch, hai bên bắn nhau, địch bị cháy 1 tàu, ta bị chìm một số xuồng, một số đồng chí hy sinh, trong đó có đồng chí Bảy Lê - Chính trị viên Đại đội 4. Do vậy, địch đưa 2 đại đội bảo an đến khu vực này để ngăn chặn). Đồng chí Mười Cường ra lệnh nổ súng và xung phong. Địch bất ngờ bị đánh, rối loạn tháo chạy. Bộ đội chiếm ngay địa hình có lợi, đào công sự, chuẩn bị chiến đấu tiếp, được nhân dân cho cơm ăn tạm no lòng.

Mười hai giờ trưa ngày 17 tháng 5 năm 1969, trực thăng đổ 300 quân ngoài cánh đồng. Pháo bắn dồn dập. Lực lượng địch mới tới phối hợp với bọn bảo an đánh vào đội hình trung đội bộ đội huyện Thanh Bình, trung đội chỉ còn 20 người, kể cả thương binh. Các đồng chí chờ chúng tới gần mới nổ súng đánh bật chúng ra. Pháo địch lại bắn, địch lại đánh vào. Ta đánh trả, chúng bị thiệt hại, bọn bảo an lùi lại, nằm yên.

Bộ đội đã kiệt sức, đạn còn rất ít chỉ dám bắn từng viên. Anh em thương binh nằm cặp theo các bờ mương, súng cầm tay, đợt địch đến thì bóp cò, không tới lui cơ động được; đói thì uống nước mương cầm hơi. Đánh nhau suốt ngày, địch cho xe M113 tiến vào nhưng ta vẫn giữ được. Chúng bị thiệt hại nặng, gần 100 tên chết và bị thương, trong đó có 2 tên ác ôn là cai tổng Mậu và Hoàng Năm. Ta hy sinh 30 người, mất tích 40 người. Số bị thương của ta cũng tăng thêm. Đến tối địch rút.

Các đồng chí đi gặp dân, hỏi mượn xuồng ghe, gửi thương binh, xin chỗ chôn tử sĩ. Lúc đầu bà con sợ sệt nhưng sau khi phân giải cặn kẽ, bà con đồng ý nuôi giấu thương binh, sau sẽ tìm cách đưa sang căn cứ Thanh Bình để giao cho cách mạng. Bến vượt sông đã lộ, địch kiểm soát gắt gao trên sông. Nếu có đủ phương tiện, muốn qua được sông rộng 1.000 mét, cũng phải mất đến 15 - 20 phút. Thế mà ta chỉ có 6 -7 chiếc xuồng, cái thì vỡ, cái thì thì thủng, dầm chèo không có. Các đồng chí lấy đất sét trát vào chỗ thủng, chặt bập dừa làm dầm bơi. Nhằm vật chuẩn là chòm cây rập phía trên Thanh Bình. Xuồng ghe không đủ, số đồng chí còn khỏe tự nguyện chặt bập dừa, chuối cây ôm bơi qua sông, hẹn nhau có trôi dạt đâu cũng lần về điểm. Các đồng chí bỏ hết những thứ không cần thiết, chỉ mặc độc quần cụt, mang theo súng đạn, xẻng đào đất. Trước khi xuống sông, các đồng chí nắm chặt tay đưa lên chào tạm biệt mảnh đất Chợ Mới đầy kỷ niệm đáng nhớ, tuy chỉ mới mấy ngày sống với nó. Đại đội 3 cho bộ phận nhỏ hỏa lực mạnh đi trước chiếm đầu cầu, yểm trợ cho toàn đội. Vì không đủ xuồng nên phải đi nhiều chuyến. Chuyến cuối cùng đụng địch, 3 chiếc tàu PCF thả trôi. Địch nổ súng, ta bắn lại, địch cháy 1 tàu, ta bị chìm mấy xuồng, một số chiến sĩ hy sinh, số còn lại bơi được vào bờ.

Khi về đến Tân Phú, huyện Thanh Bình đồng chí Mười Cường kiểm lại quân số. Tiểu đoàn 502 còn hơn 30 người, trung đội bộ đội huyện Thanh Bình còn hơn 10 người, đạn dược các loại chỉ còn trong băng súng. Đồng chí cho trung đội bộ đội huyện Thanh Bình về huyện; cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 502 hôm sau đi về Kiến Văn. Tại đây, đón được 20 đồng chí thất lạc nữa. Số cán bộ dân chính và đồng chí Bảy Tường cũng lần lượt về bằng đường hợp pháp. Thật cảm động khi mấy ngày sau, các đồng chí được tin bà con Chợ Mới, bằng nhiều cách, đã đưa đủ số thương binh đơn vị gửi lại về căn cứ Thanh Bình.

Sau trận vũ trang tuyên truyền thọc sâu sang vùng Chợ Mới, Tỉnh ủy Kiến Phong đã nghiêm túc kiểm điểm. Qua diễn biến của một cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền sang Chợ Mới, khuyết điểm lớn nhất là thiếu sự phát động quần chúng tín đồ Hòa Hảo nổi dậy tấn công chính trị, binh vận tại chỗ để hỗ trợ cho hoạt động quân sự. Càng về sau cuộc vũ trang tuyên truyền đã gần như là một hành động quân sự đơn thuần.

Tuy vậy, cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền lần này cũng giành được thắng lợi lớn về chính trị, đưa ảnh hưởng cách mạng đến vùng sâu có đông đồng bào theo đạo Hòa Hảo, bước đầu tạo được chuyển động cách mạng trong một bộ phận đồng bào Hòa Hảo, tạo điều kiện cho địa phương tiếp tục vận động quần chúng và xây dựng cơ sở chính trị cho cách mạng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #174 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:14:48 PM »

4. Phối hợp với chiến trường Campuchia đánh Mỹ

Sau hơn một năm thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đế quốc Mỹ đánh giá là tình hình nội bộ miền Nam cơ bản đã được ổn định.

Tháng 3 năm 1970, Mỹ chủ mưu tiến hành cuộc đảo chính ở Campuchia lật đổ chính phủ của hoàng thân Norodom Sihanouk, thành lập chính quyền tay sai Lonnol. Tiếp đó, tháng 4 năm 1970, 10 vạn quân Mỹ và quân ngụy tràn qua biên giới Campuchia, phối hợp với quân ngụy Lonnol mở cuộc hành quân lớn, tập trung đánh vào hai khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt, hòng tiêu diệt chủ lực ta và “chộp bắt” cơ quan đầu não cách mạng miền Nam; đồng thời đánh phá tất cả căn cứ, kho tàng của các cơ quan, đơn vị của ta trên tuyến biên giới nhằm thực hiện “chiến tranh bóp nghẹt”…

Khu VIII có tuyến biên giới với Campuchia ở các tỉnh Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang. Căn cứ Khu VIII, ở vùng Tứ Thường, tỉnh Kiến Phong. Căn cứ một số tỉnh giáp biên giới nằm trong sự đánh phá của địch, ta phải tìm căn cứ mới nên gặp nhều khó khăn, trở ngại.

Những năm đầu sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, cơ quan đầu não của Khu VIII phải liên tục di chuyển, tránh né, từ Đồng Tháp Mười chuyển ra vùng đông dân cư ở phía nam lộ 4 thuộc các tỉnh Tân An, Mỹ Tho rồi trở lại ven hai bên sông Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười, dời lên dời xuống nhiều lần. Nhu cầu có một căn cứ ổn định để từ đó tập trung chỉ đạo Đảng bộ và nhân dân đấu tranh trở nên cấp thiết. Liên tỉnh ủy miền Trung Nam bộ lúc đó quyết định chọn vùng Tứ Thường thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong giáp với tỉnh Pray Veng Campuchia để xây dựng căn cứ lâu dài. Tứ Thường là tên ghép của 4 xã Thường Lạc, Thường Phước, Thường Thới Tiền, Thường Thới Hậu, nằm giữa hai con sông Cửu Long và Sở Thượng.

Trong căn cứ là rừng chồi lưa thưa, chủ yếu là cây dừng mọc xen kẽ sậy, đế, trâm bầu, gáo, nghễ, v.v rậm rạp thành một dãy kéo dài dọc theo biên giới. Ven bờ sông Sở Thượng và sông Tiền dân cư đông đúc. Nhân dân ở đây có truyền thống theo Đảng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ năm 1954, ở vùng này, Mỹ - Diệm đã đóng đồn, tổ chức bộ máy tề xã, ấp, liên gia.

Vùng Tứ Thường có đặc điểm là đến tháng 8 hằng năm nước từ thượng nguồn sông Mêkông tràn về, khu rừng dừng ngập sâu từ 2 đến 3 mét. Nước ngập đến cuối tháng 12 mới rút. Cá nhiều vô kể, rùa, rắn, trăn, v.v. cũng rất nhiều; cả hai mùa khô và nước đều có các loại rau rừng phong phú như bông súng, bông điên điển, ngó sen, v.v.

Căn cứ này có lợi thế về quân sự, chính trị, kinh tế, giao thông liên lạc. Chỉ có nhược điểm là mùa nước ngập sâu, nhà cửa trong căn cứ phải nâng lên gần đọt cây dừng, khó ngụy trang nhưng lại dựa được vào biên giới nước trung lập Campuchia địch chưa dám lộ liễu bắn pháo, thả bom sâu vào phía sau căn cứ. Ngoài ra, các xã vùng Tứ Thường ven căn cứ có thế chiến tranh du kích, phong trào và cơ sở chính trị vững mạnh của quần chúng.

Địa bàn này từ sau khi Ngô Đình Diệm tấn công giáo phái, lực lượng Hòa Hảo ly khai của Lê Hồng Tươi chiếm giữ. Bọn này rất hung ác, giết người, cướp bóc, ức hiếp quần chúng. Đầu năm 1957 ta đã sử dụng lực lượng vũ trang mang danh nghĩa giáo khái ly khai đánh đuổi chúng và xây dựng thành căn cứ của Khu bám trụ suốt 13 năm liên tục.

Lực lượng bảo vệ căn cứ ban đầu chỉ có 1 trung đội an ninh và tự vệ mật của các xã vùng Tứ Thường về sau lên đến tiểu đoàn.

Sau đó, cơ quan được kiện toàn ngày càng đầy đủ. Đến năm 1965, cơ quan Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đã có 5 - 7 trăm người sống và hoạt động như một thị trấn bí mật. Mùa nước, cán bộ, nhân viên làm việc, ăn, nghỉ sinh hoạt trên xuống có che mái lá, gọi là cà rèm, để ngụy trang tránh máy bay. Nơi ở của lãnh đạo là những chòi nhỏ ẩn kín dưới tán lá dừng, nước lên thì cứ mỗi tuần lễ đưa lên cách mặt nước 5 - 7 tấc, có thể đầy xuồng ghe vào cột giấu dưới sàn nhà.

Trong căn cứ, đường đi lối lại quanh co, có chiêu đãi sở đón gia đình cán bộ, có nhà khách để cán bộ các tỉnh, các đơn vị về làm việc, nghỉ ngơi, có căng tin, bệnh xá đủ thuốc men, có bãi chiếu phim, biểu diễn văn nghệ, hàng trăm người ngồi xem trên sàn nhà hoặc trên những chiếc xuồng ken lại. Hội trường lớn đủ chỗ cho hàng trăm người ngồi họp. Máy phát điện sẵn sàng phát sáng khi cần.

Hai bên bờ sông Tứ Thường là hai cửa khẩu quan trọng, cũng là trạm đầu cầu tiếp đón cán bộ đi đường công khai và cán bộ các Khu bạn qua lại.

Trong 13 năm, Mỹ - ngụy nhiều lần tổ chức hành quân lớn nhưng chưa có lần nào chúng phá được căn cứ.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Trung ương Đảng ta đã kịp thời nhận định từ đây Đông Dương đã trở thành một chiến trường, và cùng với bạn nhất trí xác định vị trí mới của từng chiến trường trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung của ba nước Đông Dương lúc này là đế quốc Mỹ xâm lược. Trên cơ sở nhận định đó, Trung ương chỉ đạo các địa phương chủ động phối hợp với nước bạn Campuchia, thống nhất tổ chức hoạt động.

Đầu năm 1970, Khu nhận được thông báo của trên về việc Mỹ đang có âm mưu lật đổ chính phủ hòa bình trung lập của hoàng thân Sihanouk để lập chính phủ thân Mỹ.

Thường vụ Khu ủy chỉ đạo cho các tỉnh bắt liên lạc ngay với các Đảng bộ của Đảng bạn, thống nhất hành động khi xảy ra sự biến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #175 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:15:24 PM »

Từ đầu tháng 3 năm 1970, các lực lượng vũ trang Khơme do Lonnol chỉ huy đã có những hành đồng chống Việt Nam. Các chuyến vận chuyển vũ khí từ miền Bắc ra cảng Sihanouk Ville những năm trước được Bộ tư lệnh lực lượng hoàng gia ủng hộ nhưng đến tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1970, bọn sĩ quan Lonnol lấy cớ thiếu xe, chưa có lệnh chuyển, tránh né không gặp đồng chí Võ Quốc Khánh - Phó chủ nhiệm hậu cần khu là sĩ quan đại diện của Khu VIII. Chúng còn chặn bắt cán bộ Việt Nam đi lại dọc theo biên giới. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, cùng ngày với tập đoàn Lonnol làm cuộc đảo chính ở Campuchia, đồn Pẹc Chạy bắt đoàn cán bộ của Khu đi An Giang, trong đó có đồng chí Huỳnh Châu Sổ - Phó Bí thư Khu ủy, để đòi tiền chuộc. Thương lượng không được, Thường vụ Khu ủy phải lệnh cho tỉnh đội An Giang dùng vũ lực giải thoát cho đoàn.

Sự biến ở Campuchia đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Tất cả kho tàng, vũ khí của Việt Nam còn nằm trên cảng Sihanouk Ville và ở Phnômpênh đều bị chiếm đoạt. Bọn sĩ quan, binh lính Lonnol ở các địa phương đều xua đuổi, cướp bóc những đồng bào Việt Nam lánh nạn sang Campuchia. Đồng bào Việt kiều, người Hoa sinh sống lâu đời trong các phum sóc, tỉnh lỵ ở Campuchia phập phồng lo sợ. Nhiều vụ thảm sát xảy ra suốt dọc biên giới Campuchia giáp với các tỉnh Khu VIII. Tại Kômpông Rồ, chúng giết hơn 200 người.

Cuối tháng 3 năm 1970, sau khi thống nhất với bạn, Thường vụ Khu ủy ra lệnh tiến công các đồn bốt, căn cứ của Lonnol suốt dọc biên giới và trong đất Campuchia. Lực lượng bảo vệ căn cứ của Khu từ Hồng Ngự tiến lên đánh chiếm thị trấn Néak Lương trên lộ 1. Ta giúp bạn quét sạch bộ máy chính quyền Lonnol, giải phóng huyện Péamchor nam lộ 1 cặp bờ đông sông Sở Thượng là huyện tiếp giáp căn cứ Tứ Thường.

Từ hướng Tăng Lèo, Trung đoàn 88 và các lực lượng bảo vệ các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân khu tiến lên lên diệt chi khu Trabek, ngã tư lộ mới, giải phóng lộ 1 và vùng nông thôn nam Trabek nối liền lên Néak Lương.

Tỉnh Kiến Tường và phân khu 23 diệt chi khu Kômpông Rồ, Bà Vệt, Sóc Nóc, Lò Sóc đến cầu Trung Liên sát thị xã Swayriêng. Bọn Lonnol trong thị xã hoàn toàn bị cô lập.

An Giang cùng Sư đoàn 1 của Miền giải phóng gần hết vùng nông thôn các tỉnh Tàkeo, Kandal, Kampot. Phía Khu Miền Đông, các tỉnh và chủ lực Miền cũng giúp bạn giải phóng gần hết các vùng nông thôn bắc Prayveng, bắc Swaayriêng, Công Pông Chàm.

Thường vụ Khu ủy và các tỉnh tích cực giúp bạn xây dựng chính quyền các cấp tỉnh, huyện, xã và các đơn vị vũ trang Khơme.

Trước tình hình nguy ngập của chế độ Lonnol, Mỹ - ngụy miền Nam liền mở cuộc tấn công thăm dò dọc biên giới chuẩn bị cho bước leo thang chiến tranh sang Campuchia. Đầu tháng 4 năm 1970, các sư đoàn7, 25và 2 liên đoàn biệt động quân biên phòng ngụy, 1 bộ phận Sư đoàn 25 Mỹ đánh khu vực Ba Thu, Chân Rà, Tà Nốt, Băng Chăng. Lực lượng Phân khu 23 và tỉnh Kiến Tường đánh trả, diệt nhiều địch. Ngày 22 tháng 4 năm 1970, địch đưa sở chỉ huy hành quân của Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 ngụy và Lữ đoàn 4 thiết giáp lên thị xã Kiến Tường. Ngày 24 tháng 4 năm 1970, chúng mở cuộc tiến công thăm dò về hướng KômPông Rồ. Ta đánh trả, gây cho chúng một số thiệt hại.

Ngày 29 tháng 4 năm 1970, toàn bộ chủ lực vùng 3, vùng 4 chiến thuật ngụy, có quân Mỹ yểm trợ, tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, leo thang chiến tranh sang đất Camuchia. Đồng chí Lê Quốc Sản (Tám Phương) - Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Tư lệnh Quân khu đã xuống Tăng Lèo chỉ thị cho các cơ quan tham mưu, hậu cần và Trung đoàn 88 lập phương án tác chiến, lập Ban chỉ huy thống nhất khu vực, có kế hoạch cất giữ kho tàng, bảo vệ thương bệnh binh. Hừng sáng ngày 29 tháng 4 năm 1970, từ hướng Sông Trăng, Ba Gò vùng 8 Kiến Tường, xe M113 chạy lên hướng Tăng Lèo, máy bay trinh sát L19 quần đảo, phản lực gầm rú ném bom, từ Kiến Tường một bầy trực thăng bay lên. Đồng chí Đặng Văn Tố (Bảy Cao) - Chỉ huy trưởng, đồng chí Võ Quốc Khánh (Sáu Khánh) - Chỉ huy phó Ban chỉ huy thống nhất ra lệnh cho những anh em không chiến đấu và thương binh rút về phía sau. Xe M113 phải vượt qua bãi mìn chống tăng dày đặc bên kia bờ kênh Cái Cỏ và phải qua kênh nên không đến nhanh được. Bầy trực thăng đổ bộ gặp hỏa lực mạnh của Trung đoàn 88 và của du kích cơ quan. Trận đánh ác liệt diễn ra suốt ngày, nhiều trực thăng bị bắn hạ, nhiều xe M113 bị cháy.

Một số chiến sĩ ta hy sinh vì bom và hỏa tiễn. Khu quân y bị phá hủy, bác sĩ Tư Trà - Trưởng ban Quân y bị bắt. Chiều tối, địch cụm lại. Toàn bộ lực lượng ta, đồng bào Việt và dân Khơme rút lên bắc lộ 1.

Ngày 1 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 88 bố trí trong địa hình có lợi ở một vùng có nhiều chùa lớn của người Khơme phía bắc lộ 1 chặn đánh một cánh xe M113 chở quân, có trực thăng yểm trợ và L19 dẫn đường, bắn cháy 17 xe M113. Trận đánh này đã trở thành địa danh cho vùng đó. Các chiến sĩ đoàn vận tải X16 đặt tên cho ngôi chùa - nơi xảy ra trận đánh, là chùa 17. Suốt trong tháng 5 năm 1970, các đơn vị ở Tăng Lèo không đụng địch vì các mũi địch đều bị hút lên phía bắc. Địch biết rõ khu vực Tăng Lèo là căn cứ hậu cần của Khu, chúng cố công lục soát, tìm kiếm kho tàng ở đây trong suốt một tuần lễ nhưng các cán bộ, chiến sĩ hậu cần đã khôn khéo cho mọi thứ nằm bí mật dưới lòng đất, trên bờ các con sông Tăng Lèo, Cái Cỏ, Sông Trăng dọc theo biên giới, có các phương tiện chống ẩm, chống dò mìn thô sơ, đồng thời chôn những bãi gài lựu đạn khiến địch vừa không đánh hơi được nơi cất giấu vừa ngại sục sạo.

Mặt trận Tăng Lèo bị đứt liên lạc với Khu. Căn cứ Tứ Thường của Khu bị tấn công ác liệt bởi bộ binh, xe M113, không quân, có cả B52, và các hải đoàn trên các con sông.

Lực lượng bảo vệ căn cứ phải rút lui, căn cứ bị bom, pháo phá hoại. Cơ quan Khu ủy, Bộ tư lệnh cùng với Thường trực Khu ủy vượt sông Cửu Long tạm lánh sang đất Kandal, Campuchia… Địch truy đánh dồn dập. Ngày 11 tháng 5 năm 1970, cơ quan tạm đóng ở rạch Lécđéc, bị địch tập kích, nhiều đồng chí bị thương vọng. Sau đó, cơ quan Khu ủy và Bộ tư lệnh di chuyển đến vùng Mêsang, bắc Swayriêng Campuchia, tạm lánh ở đó. Phía các lực lượng Kiến Tường ở tây nam Kômpông Rò bị địch tấn công quyết liệt. ta đánh trả mạnh mẽ. Phía An Giang, nhờ thế có lợi của căn cứ B1, B3, vùng Kandal nên tránh được các mũi tiến công của địch. Các đơn vị, địa phương của ta đã phối hợp và giúp bạn giải phóng hầu hết vùng nông thôn phía đông sông Mêkông của các tỉnh Swayriêng, Prayveng, Kandal, Tàkeo.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #176 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2014, 08:15:40 PM »

Thường vụ Khu ủy đã chỉ đạo các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Kiến Tường và các cơ quan Khu giúp đỡ Đảng bạn xây dựng vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng cho bạn ở các tỉnh nói trên. Ta còn giúp bạn xây dựng được 20 đại đội bộ binh, trang bị đầy đủ, sau đó bàn giao tất cả các đơn vị, súng đạn, xe cộ và chiến lợi phẩm cho bạn. Khu VIII đã tích cực phối hợp và góp phần quan trọng giúp các tỉnh của bạn có bước phát triển nhảy vọt. Quân Mỹ - ngụy tiến lên Campuchia bị đánh thiệt hại nặng, phải rút về miền Nam. Quân ngụy Lonnol sa sút. Hành lang vận chuyển đường bộ từ miền Bắc vào miền Nam được thông suốt tới Khu VIII.

Tại Mêsang, Thường trực Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu ổn định được hệ thống liên lạc lãnh đạo, chỉ huy với các Tỉnh ủy và các đơn vị chủ lực của Khu ở miền Nam. Đến cuối tháng 5 năm 1970, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo cho hậu cần và giao bưu vận Khu xuống biên giới xây dựng căn cứ bám trụ ở phum Chàm, Tăng Lèo, Tà Nu, nối lại đường hành lang vận chuyển, đồng thời một bộ phận giao liên thọc xuống nam lộ 4 Mỹ Tho chuẩn bị căn cứ mới cho Khu. Tỉnh Kiến Tường cũng được chỉ đạo quay trở về biên giới và hoạt động trên lãnh thổ của mình ở miền Nam Việt Nam.

Trong thời gian địch tập trung lực lượng đánh sang Campuchia, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong và các đơn vị của Khu ở trọng điểm đẩy mạnh đánh phá bình định, diệt và làm tan rã địch, giành lại thế làm chủ xã, ấp.

Đêm 31 tháng 4 năm 1970, tiểu đoàn 267B và lực lượng thành đội Mỹ Tho tập kích sân bay Hùng Vương, diệt 45 tên địch, phá hủy 6 lô cốt, 5 xe GMC, 2 máy bay L19.

Trong tháng 5 năm 1970, Tiểu đoàn 514C Mỹ Tho 2 lần tập kích trung tâm huấn luyện Tân Hiệp kết hợp ba mũi quân sự, chính trị, binh vận, diệt bọn dân vệ và làm tan rã 8 đại đội tân binh, thu 200 khẩu súng. Trong tháng 7, 8 năm 1970, cũng bằng ba mũi giáp công, ta tiếp tục tiêu diệt và làm tan rã thêm 700 tên. Đặc công kết hợp với binh vận diệt các đồn Nhị Mỹ, Cổ Cò, Bàu Rô, Cầu Lớn ở mảng 3 Cai Lậy Bắc.

Trên các chiến trường, theo chỉ đạo mở đợt A, B, C của Thường vụ Khu ủy, các nơi cố gắng mở các đợt tiến công tiêu diệt và làm tan rã địch, diệt ác phá kìm, phá bình định, làm đòn xeo cho quần chúng nổi dậy bung về ruộng vườn cũ. Nhưng sức ta còn yếu nên không tận dụng được nhiều thời cơ địch vướng chân ở Campuchia. Trái lại, trong suốt cả tháng địch tiến công Campuchia, liên lạc giữa các tỉnh và Khu bị đứt, việc tiếp tế đạn dược gián đoạn, làm cho hoạt động ở chiến trường miền Nam bị hạn chế. Địch vẫn tiếp tục đóng thêm đồn bốt, lập phân chi khu quân sự ở xã, phát triển thêm lực lượng bảo an.

Ở Mỹ Tho, địch đóng thêm 358 đồn, ở Gò Công thêm 157 đồn. Ở Bến Tre, Kiến Phong, An Giang, Kiến Tường mỗi tỉnh địch đóng thêm hàng trăm đồn bốt. Tháng 6 năm 1970, Sư đoàn 7 ngụy từ Campuchia trở về Mỹ Tho. Chiến trường lại thêm gay go, ác liệt.

Cuối năm 1970, Khu đưa Trung đoàn 88 xuống Mỹ Tho, xây dựng thế đứng chân ở Cái Bè.

Trong khi Khu đang tìm mọi cách ổn định tình hình do sự biến ở Campuchia vừa gây ra để đẩy mạnh nhịp đổ phản công đánh địch phá kế hoạch bình định lấn chiếm ồ ạt của chúng thì nhận được điện của Quang Trung (mật danh Bộ Chính trị Trung ương Đảng phụ trách chỉ đạo miền Nam) yêu cầu báo cáo về tình hình cụ thể các mặt của Khu VIII. Thường vụ Khu ủy tổ chức Hội nghị Khu ủy mở rộng đến các tỉnh ủy, để kiểm điểm việc lãnh đạo và đánh giá tình hình. Cuộc họp kéo dài hơn một tháng ở vùng Mêsang bắc Swayriêng Campuchia.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Phó bí thư Trung ương Cục xuống dự. Trong Hội nghị, đồng chí đã có nhiều ý kiến thắng thắn, góp ý về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Khu ủy và đánh giá toàn diện tình hình trong Khu. Điều mà đồng chí Nguyễn Văn Linh chú trọng nhắc nhở nhất là lãnh đạo Khu phải bám lại địa bàn. Đồng chí nhấn mạnh lãnh đạo và cơ quan lãnh đạo tại chỗ thì mới kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả.

Sau cuộc họp, Thường vụ Khu ủy điện báo cáo Quang Trung, đồng thời điện cho Thường vụ Trung ương Cục. Nội dung bức điện phản ánh một cách trung thực tình hình các mặt, những thắng lợi và khuyết điểm của Khu từ tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Nhận được điện, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn trả lời nhất trí với cách đánh giá tình hình và các ưu, khuyết điểm của Khu VIII.

Qua gần 2 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ Khu (tháng 2 năm 1969) và nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 của Trung ương (tháng 1 năm 1970), Khu VIII đã có sự chuyển hướng dứt khoát, tập trung đánh phá bình định cho phù hợp với thực tế địch - ta trên chiến trường. Từ chỗ phá lỏng, phá rã kìm kẹp của địch, xây dựng lại thế và lực để tiến lên mở mảng, mở vùng, giải phóng những vùng nông thôn rộng lớn. Với sự nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, ác liệt và hy sinh của cán bộ, đảng viên, quân và dân Khu VIII - Trung Nam Bộ đã từng bước làm chuyển biến được tình hình ngày càng có lợi cho ta.

Ta đã chủ động chuyển và giữ thế công khai hợp pháp cách mạng cho quần chúng để quần chúng tiếp tục tấn công địch về chính trị, binh vận và vũ trang, giành quyền làm chủ ở đều khắp các địa bàn. Tạo được thế bố trí, đứng chân mới cho các lực lượng vũ trang cũng như các cơ quan dân, chính, Đảng các cấp từ khu xuống đến huyện, xã; hình thành những cụm địa bàn để bảo vệ ta và tiến công địch. Từ đó ta đã hình thành thế chiến tranh du kích, bố trí cài răng lược với địch do các lực lượng vũ trang, gồm bộ đội tập trung của Khu, tỉnh, huyện, du kích cơ quan, du kích xã, ấp làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, binh vận để thực hiện tiến công và ba mũi giáp công: chính trị, binh vận, vũ trang. Ta đã chặn đánh quyết liệt các mũi bình định, lấn chiếm, làm chậm tốc độ lấn chiếm của địch, tiếp tục tiêu hao, tiêu diệt, làm tan rã nhiều địch, công tác binh vận có thành công trong cuộc vận động cô lập, trung lập, án binh bất động nhiều đồn bốt địch, tạo thuận lợi cho việc ăn, ở hoạt động của ta và hạn chế sự đánh phá của địch vào nhân dân. Tuy còn có khuyết điểm, nhưng ta đã thọc sâu vào vùng yếu, làm chuyển động được vùng có đông đồng bào theo đạo Hòa Hảo. Củng cố và kiện toàn hệ thống lãnh đạo của các cấp từ Khu xuống cơ sở. Hệ thống thông tin liên lạc được đảm bảo thông suốt, hành lang vận chuyển tuy gặp khó khăn nhưng vẫn được giữ vững. Trước những chuyển biến mới nói trên, lãnh đạo và chỉ huy Khu thấy cần phải khảo sát, nắm chắc tình hình chiến trường để đưa chiến trường lên bước phát triển mới, cao hơn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #177 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2014, 10:13:46 PM »

5. Chuyển cơ quan chỉ đạo chỉ huy đến chiến trường trọng điểm

Đến giữa năm 1971, sau khi xem xét tình hình diễn biến chung của chiến trường Khu VIII, tuy vẫn còn khó khăn, ác liệt nhưng ta đã đứng lại được, đồng chí Nguyễn Minh Đường - Bí thư Khu ủy và đồng chí Lê Quốc Sản - Tư lệnh Quân khu quyết định đến Mỹ Tho để trực tiếp chỉ đạo các tỉnh vùng trọng điểm đẩy mạnh hơn nữa kế hoạch tạo thế, tạo lực, chuẩn bị cho một cuộc tiến công nổi dậy mới.

Lúc này, Khu VIII vừa trải qua thời gian triển khai thực hiện Nghị quyết 01 của Trung ương Cục. Nghị quyết nhấn mạnh việc sắp xếp ổn định tổ chức quần chúng, phát triển chiến tranh du kích, tạo thế, tạo lực, tổ chức lại lực lượng bộ đội tập trung cho phù hợp với chiến trường.

Đến quý III năm 1971, vào mùa nước nổi, đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy cùng trên 30 cán bộ Đảng và Văn phòng Khu ủy lên đường đến Mỹ Tho.

Đoàn vừa qua khỏi địa phận Kiến Tường thì tiểu khu Định Tường, Bộ tư lệnh Sư đoàn 7 ngụy đã biết. Chúng lệnh cho các đơn vị, chi khu dùng bọn bảo an, công an, cảnh sát tìm mọi cách đánh phá, truy lùng, ngăn chặn. Chúng tả hình dáng đồng chí Sáu Đường và ra lệnh lùng xét, nhìn mặt từng người trong từng nhà quần chúng dọc theo lộ 4.

Cùng đi với đồng chí Sáu Đường là nữ đồng chí Ngọc Việt - Khu ủy viên phụ trách dân vận, chỉ đạo đấu tranh chính trị, đồng chí Xích Điểu - Tỉnh đội trưởng Kiến Tường, đồng chí Tư Quang - Trưởng ban liên Khu, các cán bộ văn phòng, căn cứ, thông tin, cơ yếu, điện đài, bảo vệ và một số huyện ủy viên vùng 4 tỉnh Kiến Tường, Mỹ An tỉnh Kiến Phong, Cai Lậy, Cai Bè tỉnh Mỹ Tho đang học ở trường Đảng Trần Phú rút ra để dẫn đường và liên lạc với các địa phương trên đường đi qua các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và Mỹ Tho. Chuyến đi này giúp cho lãnh đạo Khu nắm rõ hơn tình hình địch - ta, tình hình quần chúng để quyết định đối sách trong thời gian tới.

Suốt từ biên giới vùng 8 đến vùng 4 Kiến Tường, bị đánh phá ác liệt, dân bị gom hết ra vùng địch, tạo thành các vùng trắng, cây cối vườn tược xơ xác, chỉ còn du kích và chi bộ cơ sở làm ấp chiến đấu bám trụ. Vùng Đồng Tháp Mười là vùng địch tự do oanh kích, máy bay địch hoạt động liên tục suốt ngày đêm. Đoàn hành quân vào ban đêm, đi bằng xuồng; ban ngày phải cất xuồng vào lùm cây, chia từng tổ để tránh bị máy bay và biệt kích phát hiện.

Du kích các xã vùng 4 Kiến Tường và huyện Mỹ An, tỉnh Kiến Phong đã bố trí người canh gác và bám sát đồn bốt trên kênh Dương Văn Dương và Nguyễn Văn Tiếp để báo tin và bảo vệ đoàn qua những kênh rạch mà địch đang kiểm soát. Khi đoàn đến cánh đồng trống trải giữa kênh Bùi và kênh Năm Ngàn, đồng chí Tư Quang báo cáo với đồng chí Sáu Đường là trạm giao liên Khu đang ở kênh Ba trước mặt, theo đường chim bay cách chừng 2 kilômét. Đến đây là an toàn, cứ cho đoàn ăn cơm vắt mang theo cho no bụng rồi thong thả vào trạm nghỉ. Đoàn dừng lại lúc 2 giờ đêm, ăn uống xong, bắt đầu hành quân vào trạm. Không ai biết là bọn biệt kích ở Mỹ An đã vào chiếm trạm và đang phục kích chờ đoàn tại đó. Đoàn đang đi bỗng nghe một loạt tiếng súng. Còn đang lúng túng thì rất may, hai chiến sĩ du kích vừa đưa đoàn vượt qua kênh Dương Văn Dương xong, trở vền hà tắm rửa, chuẩn bị đi ngủ thì được tin biệt kích đã vào trạm giao liên Khu, hai đồng chí liền chống xuồng ra giữa đồng, bắn một loạt súng báo động cho đoàn biết trước có địch, rồi khẩn trương chống xuồng đi tìm đoàn, gặp đoàn và đưa đoàn vào nơi trú ẩn. Nơi đây, có đủ hầm trú ẩn, công sự chống phi pháo vững chắc. Đoàn nghỉ lại ở đây một ngày thì liên lạc được với đồng chí Tư Dân - Huyện đội trưởng Mỹ An, đoàn vượt qua kênh Nguyễn Văn Tiếp đến căn cứ tỉnh đội Mỹ Tho, ở phía bắc lộ 4. Việc qua lại lộ 4 từ phía bắc xuống phía nam và ngược lại là một việc khó khăn, nên cần phải tổ chức, nghiên cứu rất kỹ mới làm được.

Trong kháng chiến chống Pháp, việc qua lại lộ 4 đã khó khăn nhưng vẫn dễ dàng hơn so với thời kỳ chống Mỹ, nhất là những lúc quần chúng nổi dậy tấn công lộ 4. Vì ngoài hệ thống đồn bốt đóng dày đặc ở xung quanh khu vực lộ, trên lộ cứ cách 5 - 7 trăm mét lại có một đồn để gác. Địch còn sử dụng lực lượng thiết giáp tuần tiễu, cứ 15 phút có một chuyến chạy qua. Ta phải có hàng chục địa điểm để vượt lộ (mỗi xã có vài ba điểm). Đối với các đoàn vận tải thì cảng phải tổ chức chu đáo hơn, phải có máy thông tin PRC 25 hai phía nam và bắc để thông báo tình hình. Đoàn cán bộ của Khu lần này qua lộ 4 cũng thuận lợi.

Đầu tháng 10 năm 1971, đoàn của đồng chí Bí thư Khu ủy đã đến căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho tại Long Tiên. Tại đây, đồng chí Chín Hải - Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho báo cáo tình hình mọi mặt với đồng chí Sáu Đường, đặc biệt là về xây dựng căn cứ. Căn cứ ở đây tuy nhỏ, diện tích chỉ hơn 1 kilômét vuông nhưng bố phòng rất chặt, trừ những trận địch càn thật lớn, còn thì bảo an dân vệ không dễ gì vào được. Các hoạt động của pháo binh, máy bay địch, ta đều biết trước qua hệ thống máy thông tin PRC 25. Do đó, ta chủ động trong việc phòng tránh và đối phó với chúng. Đồng chí Sáu Đường và đoàn đã dừng lại làm việc ở căn cứ này. Mấy ngày sau, đồng chí Bí thư Khu đang hợp với Thường vụ Tỉnh ủy và một số cán bộ tại căn cứ Long Tiên (cuộc họp gồm 30 người) thì đồng chí thông tin bộ đàm vào báo cáo: “Đúng 9 giờ sáng nay, địch cho máy bay bắn và thả bom ở tọa độ cách đây 500 mét, vậy đúng 9 giờ kém 5 phút, tôi sẽ báo cáo lại cho Hội nghị vào hầm trú ẩn để tránh bom”. Đúng giờ, máy bay địch ào ào kéo đến thả bom và bắn rốckét vào điểm. Máy bay vừa rút thì đồng chí thông tin bộ đàm báo” Mời các chú, các anh lên tiếp tục làm việc”. Đồng chí Sáu Đường hỏi: “Tại sao đồng chí biết nó không còn bắn phá nữa?”. Đồng chí thông tin trả lời chắc nịch: “Đó là quy luật! Máy bay “Đầm già” chỉ bắn 4 trái rốckét là chấm dứt, nếu nó muốn bắn nữa thì cũng không còn đạn để bắn”.

Có lần địch càn lớn, xe M113 chạy gần căn cứ. Đồng chí Tư Bốn, cán bộ bảo vệ mời đồng chí Sáu Đường trèo lên cây cao để xem đồng bào chặn xe đấu tranh với địch, chỉ cách đó vài trăm mét. Bà con trèo lên xe xô đẩy với lính đi càn quét, không cho xe chạy phá lúa. Đây là lực lượng đội quân tóc dài đấu tranh chính trị để ngăn chặn không cho địch vào căn cứ. Bọn địch phải tháo lui chạy vòng qua khỏi căn cứ Long Tiên rồi báo cáo láo với cấp trên của chúng. Cuộc càn quét không đạt yêu cầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #178 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2014, 10:14:03 PM »

Nhưng đến thời điển này, do tên Mười Tân - Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Mỹ Tho đã đầu hàng giặc, nên địch truy tìm đoàn cán bộ của Khu ủy rất ráo riết. Mười Tân biết rõ các điểm ăn, ở của Tỉnh ủy và các huyện ủy. Do vậy, trong vòng một tháng đoàn không thể ở yên lâu một chỗ. Từ Long Tiên đoàn qua Long Trung, lên Mỹ Long, qua các xã dọc sông Ba Rài rồi xuống Bình Trung. Có lúc ra tới cù lao Ngũ Hiệp. Một lần, đoàn định vượt sông sang Bến Tre nhưng khi xuống đến xã Phú Phong ở bờ sông Tiền thì được tin địch đang càn quét bên kia sông. Chúng bao vậy, lục soát từng nhà dân để tìm bắt Bí thư Khu ủy. Đoàn do đồng chí Bùi Văn Mỳ (Ba Mỹ) - Phó Tư lệnh quân khu và đồng chí Sáu Bình - Trưởng ban an ninh Mỹ Tho đưa đi lại quay về căn cứ Long Tiên của Tỉnh ủy.

Vừa đến căn cứ Long Tiên thì được tin địch sắp đánh vào nên đồng chí Bí thư và đoàn cán bộ của Khu phải vượt sông rạch đến ăn ở tại các lõm căn cứ của các cơ quan Tỉnh ủy và Huyện ủy, 8 ngày sau mới trở về Long Tiên.

Một hôm trinh sát kỹ thuật cho biết đúng 19 giờ tối tiểu khu Định Tường tổ chức càn quét vào căn cứ Long Tiên, đến điểm ở của đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy. Cuộc hành quân này do tên Tỉnh trưởng đích thân chỉ huy, có đưa theo các phóng viên trong và ngoài nước định để chứng kiến và tường thuật tại chỗ việc bắt được cán bộ cao cấp của ta. Bảo vệ cơ quan đưa đồng chí Sáu đường đi tránh cách xa căn cứ 500 mét, ở chỗ có hầm bí mật và công sự chống phi pháo vững chắc. Tỉnh ủy và các cán bộ quân sự của Khu, tỉnh biết rõ hướng tiến quân của tiểu đoàn bảo an địch vào căn cứ, nên đã bố trí một trung đội phục kích đánh và làm tan rã tiểu đoàn này. Thấy kế hoạch hành quân bị thất bại, tên Tỉnh trưởng dùng máy bộ đàm PRC25 cầu cứ Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy đang ở Bến Tre đưa quân tới. Trung đoàn chủ lực ngụy có trang bị hỏa lực mạnh, đánh phá bằng pháo, bom dọn bãi vùng ven căn cứ và cho từng tiểu đoàn bộ binh vào. Phía ta chỉ có một số đồng chí bảo vệ có công sự, hầm trú ẩn bí mật vững chắc đã ngăn chặn địch suốt 5 ngày, ta hết đạn rút lui an toàn. Khi địch vào đến điểm ở của đồng chí Bí thư Khu ủy thì không còn ai, chúng đành phải rút về.

Suốt mấy tháng trời từ khi đoàn cán bộ Khu đến đóng tại phía nam lộ 4, ngày nào địch cũng hành quân càn quét, thả bom, bắn pháo liên tục. Tình hình căng thẳng đến mức một cuộc họp giữa Bí thư Khu ủy với Tỉnh ủy Mỹ Tho và cán bộ quân sự gồm 9 người, trong thời gian 2 ngày mà phải di chuyển 5 lần, qua bốn xã của ba huyện Cai Lậy, Châu Thành Nam, Cái Bè, và đi đến đâu địch phát hiện, tổ chức càn quét, bắn pháo, thả bom đến đấy.

Nhận thấy, trong tình hình trước mắt, đoàn của Khu ủy chưa thể ở được nam lộ 4, đồng chí Chín Hải - Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, đề nghị đưa đoàn vào căn cứ rừng tràm Hưng Thạnh - Mỹ Phước của quân y Tỉnh đội ở dọc hai bên kênh Nguyễn Văn Tiếp. Căn cứ này có thể bố trí chiến đấu tương đối vững chắc và xa điểm tập trung chú ý của địch. Đoàn cán bộ của Khu ở tạm tại cơ quan quân y của Tỉnh độ và sau đó xây dựng căn cứ ở vùng Sáu Ẩu chỉ cách căn cứ địch ở chùa Phật Đá trên dưới 500 mét. Trong thời gian ở vùng 20-7, đồng chí Sáu Đường cũng đã tranh thủ làm việc được với lãnh đạo Tỉnh ủy Mỹ Tho, các huyện ủy và các chỉ huy đơn vị của tỉnh và Khu ở chiến trường.

Đồng chí Sáu Đường rời căn cứ của Khu ở đất Campuchia chẳng bao lâu thì đoàn của đồng chí Lê Quốc Sản (Tám Phương) - Tư lệnh Quân Khu, xuất phát. Lúc này, tên Mười Tân đã phản bội. Do vậy, khi đoàn đến căn cứ Tham mưu Tỉnh đội Mỹ Tho ở bắc lộ 4 Cái Bè, tên Mười Tân đã chỉ điểm hầm bí mật của đồng chí Lê Quốc Sản ở và đoàn bị địch bao vây. Nhưng nhờ có nhân viên và cán bộ địa phương dẫn đường và có một trận mưa to hạn chế sự quan sát của địch nên đoàn đã thoát được và vượt lộ 4 xuống đên căn cứ Trung đoàn 1 ở Long Tiên an toàn. Lúc này, đoàn của Khu ủy đã vào căn cứ Hưng Thạnh - Mỹ Phước. Đồng chí Tư lệnh Quân khu ở lại căn cứ Trung đoàn 1.

Cơ quan Khu ủy ở căn cứ Hưng Thạnh nằm dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp phải hoạt động rất gian khổ. Thực phẩm do Tỉnh đội Mỹ Tho tiếp tế từng đợt, lâu lâu mới có thịt cá, nhiều bữa thức ăn chỉ có đọt ráng luộc chấm nước mắm. Tại Hưng Thạnh, đồng chí Bí thư Khu ủy đã tổ chức nhiều cuộc họp với các đồng chí lãnh đạo và cán bộ chính trị các tỉnh bàn cách củng cố các tổ chức quần chúng, các chi bộ Đảng, tạo thể nổi dậy. Địch vẫn tiếp tục truy đánh, có lân địch càn lớn vào vùng nam - bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp, thuộc xã Hưng Thạnh. Đồng chí Bí thư Khu ủy và đồng chí Tư lệnh Quân khu cùng đoàn bảo vệ và cán bộ cơ quan gồm 30 người, đã tránh địch bằng cách địch đi bên này kênh, đoàn đi bên kia kênh. Tối đến đoàn ngủ ngang chỗ đóng quân của địch để tránh pháo. Cứ ăn ở, đi lại như vậy suốt 3 ngày 2 đêm, địch rút ra, ta mới trở về chỗ cũ.

Trong lúc các đồng chí Bí thư Khu ủy và Tư lệnh Quân khu đang tích cực xúc tiến tổ chức cuộc tấn công nổi dậy mới trên vùng trọng điểm ở nam - bắc lộ 4 của Khu trong những tháng đầu năm 1972, thì có điện của Trung ương Cục điều đồng chí Bí thư Khu ủy về tham gia Ban chỉ đạo chiến dịch tổng hợp có sự phối hợp của quân chủ lực Miền lần đầu tiên xuống chiến trường Khu VIII.

Sau khi đoàn của Bí thư Khu ủy và Tư lệnh Quân khu đi, đoàn các cơ quan Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu cũng lên đường. Đoàn đến khu vực kênh Dương Văn Dương thì bị địch ngăn chặn. Chúng dùng bom, pháo, có máy bay B52, đánh rất ác liệt. Đoàn chưa tiếp tục lên đường thì được lệnh quay về hậu cứ ở Campuchia để chuẩn bị cho chiến dịch tiến công tổng hợp năm 1972.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #179 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2014, 10:14:47 PM »

III - CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG TỔNG HỢP NĂM 1972, LIÊN TỤC TIẾN CÔNG ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ

1. Chuẩn bị cho chiến dịch

Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ba nước Đông Dương trong hai năm 1970 - 1971, nhất là trong xuân - hè năm 1971, khi ta đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến công lớn ra Đường 9 - Nam Lào. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào của ta đã chấm đứt quá trình tiến công phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy trên chiến trường ba nước Đông Dương.

Những thắng lợi ấy, đã tạo ra một tình thế thuận lợi mới. Chúng ta có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát huy quyền chủ động tiến công giành thắng lợi mới có ý nghĩa chiến lược lớn hơn trong năm 1972.

Tình hình lúc này là ngụy ngày càng suy yếu, Mỹ lúng túng bế tắc về chiến lược, lại sắp bước vào năm bầu cử Tổng thống Mỹ; còn ta đã vượt qua thời kỳ khó khăn từ sau Xuân 1968 ở miền Nam, lại cùng bạn khai thác sai lầm của Mỹ khi chúng mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia; Đảng ta quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh ở miền Nam.

Cuộc tiến công chiến lược này, ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến lược: đòn đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực trên chiến trường lựa chọn; đòn tiến công và nổi dậy ở vùng nông thôn đông dân để đánh phá bình định; đòn đấu tranh chính trị ở đô thị, kết hợp ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị với ngoại giao, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam. Ta tiến hành đồng thời các chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên ba hướng: Đường 9 - Trị Thiên, bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; hướng chủ yếu là Đường 9 - Trị Thiên, cùng các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng Nam Bộ, chủ yếu là ở Khu VIII và đồng bằng Khu V với quy mô rộng lớn và cường độ mạnh khiến Mỹ - ngụy hoàn toàn bất ngờ, sụp đổ từng mảnh, suy yếu nghiêm trọng.

Từ năm 1969 đến năm 1971, trên chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ, địch tăng cường đánh phá, bình định, đóng thêm 1.724 đồn, lấp kín hầu hết các xã, ấp giải phóng, lập bộ máy kìm kẹp khắp nơi, kiểm soát 80% dân số. Tỉnh Mỹ Tho có 114 xã thì 113 xã có bộ máy tề. Tổng lực lượng của địch trong toàn Khu có 94.760 tên, tăng gấp đôi so với trước lúc ta mở cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1986. Lực lượng lãnh thổ (chiếm đóng) tăng vọt: bảo an tăng 8.400 tên, dân vệ tăng 16.000 tên, phòng vệ dân sự có vũ trang 25.000 tên.

Với những kết quả trên, địch đánh giá là chúng đã thắng lợi trên mặt trận bình định, bước đầu triển khai được chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và đưa lực lượng bộ binh Mỹ ra khỏi chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ.

Năm 1971, Mỹ - ngụy đưa ra chỉ tiêu: diệt từ 50 đến 70% chi bộ Đảng và đội du kích xã, ấp; biến 75% ấp thành ấp kiểm soát hoàn toàn, buộc lực lượng vũ trang của ta chỉ còn khả năng hoạt động tổ ba người ở các vùng địch kiểm soát và cấp đại đội pử vùng căn cứ sâu. Chúng hy vọng khi đối phương đã bị phân tán đến mức đó, lại mất địa hình, không bám được trong dân, mất nguồn tiếp tế, bị bao vây, sẽ tan rã dần. Chúng sẽ dùng gián điệp, chỉ điểm, biệt kích, đánh bất ngờ, kết hợp với đánh bom, pháo ác liệt tiêu diệt từng đơn vị kết hợp với chiêu hồi làm tan rã lực lượng của ta và kết thúc chiến tranh.

Về phía ta, Đảng bộ và nhân dân trong Khu đã vượt lên khó khăn, ác liệt vật lộn quyết liệt với địch để đứng vững, tìm cách bổ sung, chấn chỉnh lực lượng và lập lại thế trận của mình. Ta đã vượt qua được thời kỳ khó khăn, bước đầu phục hồi thế tấn công nổi dậy bằng ba mũi. Địch mở cuộc hành quân lớn Cửu Long 7/1, Sư đoàn 7 ngụy đánh vào khu vực Mỹ Tho và một phần Bến Tre, chủ lực của Khu đã chủ động tiến công vào lực lượng hành quân, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên. Bộ đội tỉnh, quân địa phương huyện thuộc các tỉnh trong Khu, từ Bến Tre, Mỹ Tho lên tới Kiến Phong, An Giang đều tích cực tiến công địch, hỗ trợ cho lực lượng ba mũi ở cơ sở đánh phá bình định có hiệu quả. Trong toàn Khu, ta đã trụ vững được trong 300/505 xã, bao vây 230 đồn, diệt 300 tên tề ác ôn, 32 đoàn bình định, phá rã 3.000 phòng vệ dân sự, binh sĩ địch rã ngũ 5.000 tên.

Tiếp đến đợt tấn công mùa mưa, ta đã diệt và làm tan rã 6.700 tên địch, đưa phong trào chiến tranh du kích phát triển khá đều trên 71 xã.

Cũng trong thời gian đó, Trung ương Cục họp Hội nghị quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về chuyển hướng mục tiêu chiến lược đánh phá kế hoạch bình định của địch ở nông thôn. Quyết tâm chiến lược mới tạo nên sức bật thật sự. Việc bổ sung quân số cho chiến trường đồng bằng được chú ý. Khu được Miền bổ sung 2.376 tân binh từ miền Bắc vào, trong đó có Trung đoàn 88, nhiều tiểu đoàn, đại đội. Hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược cũng được đưa xuống cho Khu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM