Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Một, 2020, 06:46:15 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia đình má Bảy (Tiểu thuyết - Phan Tứ)  (Đọc 30027 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 03:32:33 PM »

5

   Anh Dõng dặn Sâm rủ một số bạn đến gặp anh trong dãy gò Chà Là nằm ven sông Nhỡn. Đồng bào Kỳ Bường quanh năm vào đấy kiếm củi, cắt lá, róc vỏ sim bán cho dân chài nhuộm lưới, đến mùa hè thì giũ chà là chín ở đấy từng nón ngửa đầy có ngọn.

   Tất nhiên Sâm chọn ngay Hai Ngọ, bạn thân nhất. Rồi đến Trấu, cô gái gầy và mặt lấm tấm tàn hương, có cha và anh đi tập kết. Hai cô mừng muốn nhảy lên. Sâm rủ Mại nữa. Cha Mại mới mở quán hàng xén bên đường ôtô, Mại vừa may máy vừa bán hàng. Nghe Sâm nói, Mại tái mặt ngay:

   - Sợ má mình không vui lòng...

   - Má mày mới kêu mày làm biếng, không chịu cắt lá bỏ chuồng trâu kia nè.

   Mại phải thú thật:

   - Mình đa cảm lắm, Sâm biết đó. Ba mình mới rút roi, mình đã run muốn xỉu. Mình thích đi với Sâm quá, mà sợ chịu đòn không nổi, lỡ mình khai bậy...

   Sâm ngớ ra một lát. Chưa bao giờ Sâm ngờ người ta có thể ngần ngại khi được Cách mạng gọi. Sâm sừng sộ:

   - Mày tính tố tao lấy thưởng hả?

   - Chết, Sâm đừng nghi, tội lắm. Hễ mình hở ra với ai thì... thì sét đánh chết lập tức. Mình nói có mặt trời soi vô miệng đây nè.

   Sâm hơi mủi lòng vì Mại đã rân rấn nước mắt. Với lại nó thề rồi. Cả nhà Mại quanh năm cúng vái, mỗi tháng ăn chay tám ngày đủ lệ bát trai, nó không dám thề bậy đâu. Sâm nuốt câu mắng “đồ tồi” vào bụng, ấm ức bỏ đi. Mại chạy theo, run rẩy:

   - Để mình đi, mình đi. Sâm đừng giận, mình đau đớn lắm.

   Lúc nào Mại cũng nói như đào cải lương. Sâm dịu lại:

   - Mày cứ ở nhà. Tao giận năm phút thôi. Cho tao mượn cái xe đạp.

   Sâm đạp xe xuống Đồng Trầu. Hết bực rồi. Giữa Sâm và Mại có cái tình bạn lạ vậy đó, không bình đẳng từ cách xưng hô trở đi. Nhưng Mại rất bằng lòng chịu nước lép, vừa thương vừa sợ Sâm một phép, tuy nhà Mại khá giả hơn, Mại học trên Sâm hai lớp và lớn hơn Sâm một tuổi ở ngoài nhìn vào ai cũng ngạc nhiên.

   Sâm đến nhà ông Rạng thợ rèn, định rủ thêm cậu Chuân. Chuân cùng tuổi với Sâm, là bạn học và bồ chăn trâu của Sâm từ nhỏ. Gần đây cả hai cùng lớn lên, có bề ý tứ hơn một chút nhưng vẫn thân nhau. Có cậu Chuân đi, lỡ gặp du côn ghẹo hay trâu lồng đuổi cũng đỡ lo.

   Nhưng Chuân với cha đã đi rừng kiếm cây làm cán rựa. Sâm lóc cóc đạp về. Hụt liên tiếp hai đứa, chán kinh. Lại thêm một ông già say túm yên xe đạp níu Sâm lại, hỏi Sâm có phải vợ thằng Rân không, nếu chưa làm dâu ông Hạnh thì có ưng con ông không. Sâm thưa gửi mấy câu, lừa lừa khi ông buông tay là nhảy lên xe phóng một hơi.

   Trả xe, về nhà, Sâm ăn vội củ sắn luộc để sắp sửa ra bãi cuốc đất khoai với má. Vừa lúc ấy có ai gọi gióng giả ngoài rào:

   - Út Sâm có nhà không?

   Sâm vọt ra cửa:

   - Vô đây chị Năm!

   Sao Sâm có thể quên chị Năm Tân được nhỉ. Có lẽ vì Sâm chỉ nhớ lời anh Dõng dặn rủ bạn, nên không nghĩ đến các anh chị lớn tuổi.

   Chị Năm Tân cao dong dỏng, có đôi mắt bồ câu trẻ hơn tuổi ba mươi lăm của chị. Hai hàm răng lúc nào cũng nhuộm đen nhức chứ không cạo trắng, cũng không để luôm nhuôm như các bà già. Quanh năm chị mặc áo vá, nhưng các mảnh vá đều điệp màu rất khéo, mũi chỉ nhỏ rứt. Các bà mẹ trong làng mỗi lần mắng con gái vụng may vá đều nhắc đến chị, người thường nhắc nhất là má Bảy. Chồng chị đi bộ đội không mấy khi về nhà, sau tập kết ra miền Bắc, để lại cho chị một mẹ già và hai con dại, cùng với cha mẹ đẻ mà chị vẫn phải đỡ đần. Lẳng lặng, không một lời than, không một nét buồn trên mặt, chị tươi tỉnh đưa đôi vai gầy ra gánh hai gia đình, tay bồng tay dắt hai đứa con, đi tới giữa bầy chó sói.

   Sau mỗi trận đòn nhừ tử, chị lê về nhà giam, uống hớp nước, lau máu trên mặt, giỡn ngay:

   - Hết thằng đánh đau tới đứa mau đánh. Sao bị đòn à? Họ biểu tôi lộn chồng, tôi không lộn, họ động viên chút đỉnh... Gà nào có thứ gà luộc hai lần!

   Khi nói vậy, đôi mắt rất đẹp của chị lấp láy những tia lạ, và chị cười. Có thể chị căm giận đến độ chỉ cười gằn chứ không chửi được nữa, mà cũng có thể chị đang vui với một ý nghĩ nào đấy. Ít người hiểu được tiếng nói của đôi mắt có hàng mi dài đậm ấy. Từ con người chị toát ra một sức mạnh kín đáo. Bà con thương và phục chị đã đành, đến bọn ác ôn cũng phải nể. Cuối cùng chúng thả chị về để cộng tác viên công an theo rình. Rình mãi không được gì, chúng tạm để chị yên. Chúng xem chị như một người đàn bà cứng đầu nhưng hơi dở người.

   Sâm biết chị mấy năm trước có liên lạc với anh Dõng, cũng như má mình. Dù không biết, Sâm vẫn tin chị. Sâm nghĩ hễ chị đã một lòng chờ người chồng cách mạng, ắt phải chung thủy với Cách mạng.

   Sâm kể tồng tồng hết những điều anh Dõng nói, cả những người đã nhận và không nhận đi với Sâm. Đúng hơn là Sâm khoe những hiểu biết đầu tiên của mình. Chị Năm ngơ ngác:

   - Tao tính rủ mày cấy cho tao vài công. Mạ già rồi.

   - Cấy chưa gấp bằng phong trào cách mạng đâu chị.

   - Ủa, mày lên làm cán bộ “Phong trào cách mạng quốc gia” rồi à?

   Sâm bực mình:

   - Chị kỳ lắm. Giỡn có hồi có chặp. Chị đi hay không thì nói.

   - Lỡ tao đi rồi tao báo cho hội đồng, làm sao?

   - Đời nào!

   - Mày dám chắc vậy à?

   - Chị cầm như em con nít lắm. Em biết coi người chớ. Hay chị mất tinh thần rồi, nói trớt đi!

   Chị Năm cười to, đưa tay che hàm răng đen như một cô gái hay xấu hổ:

   - Chưa chi đã đỏ mặt như gà chọi! Thôi chị nể em quá, chị rán đi coi thử mấy ông Việt cộng mặt ngang mũi dọc ra sao. Nghe chị dặn đây: bấy nhiêu thôi, đừng rủ thêm, mà từ nay đến mai dứt khoát khóa miệng. Nhớ chưa?

   - Dạ nhớ.

   Bây giờ Sâm lại thấy vâng lời chị Năm là điều rất tự nhiên.

   Tối hôm ấy, Chuân đi rừng về đến tìm Sâm. Chuân cao hơn Sâm một chút nhưng trông non hơn cô bạn, bởi chân tay còn lòng khòng chưa nổi bắp thịt và giọng chưa vỡ hẳn nghe nửa trống nửa mái.

   Chuân trao cho má Bảy một chai nhỏ mật ong:

   - Ba cháu mới lấy được hồi sáng, kỉnh (5) bác một ít.

   Rồi Chuân rút túi ra một gói lá chuối bằng quả cam, đưa cho Sâm:

   - Phần ông đây.

   - Gì đó?

   - Coi thì biết. Mình lượm được hai trái, cho ông một trái.

   Má Bảy cất chai mật xong, quay lại thấy Sâm đang mân mê dưới ánh đèn một quả lựu đạn mỏ vịt, da láng xanh. Má hoảng hồn chụp lấy lựu đạn, đem vùi ngay vào mủng trấu. Chuân lắc đầu:

   - Không nổ đâu bác. Phải rút chốt...

   - Im cháu. Lát nữa cháu đem về chôn kỹ đi, để lộ thì cả nhà tan xương hết.

   - Bọn dân vệ đi phục kích làm rớt cháu lượm được, đâu phải ai đưa...

   - Thôi đừng nói. Ngồi xuống ăn cơm với bác.

   Chuân ngồi xuống ăn luôn. Ông Rạng hay dạy con không được khách sáo và hai gia đình quen nhau đã lâu. Chuân với Sâm, sau khi bỏ những tiếng mày tao hồi nhỏ, đã nói trống không với nhau một dạo trước khi chọn kiểu xưng hô “mình, ông” hiện nay. Có mấy đứa xấu bụng bày đặt những chuyện mất dạy về đôi bạn, bị Chuân “cho lỗ mũi ăn trầu” cả. Trông như con nhện nước, nhưng Chuân khỏe và gan lì ra trò.
   Chuân hỏi Sâm:

   - Thằng Rân về thăm nhà, đi đâu cũng nói ông ưng nó mà nó chưa ưng ông, thiệt vậy không?

   Sâm buông đũa, hầm hầm:

   - Sao ông không nện cho nó ít bạt tai giùm mình?

   - Nó xuống thị xã hồi trưa. Để hôm sau đánh.

   Má Bảy chen vào:

   - Đánh nó rồi ở tù mục xương đó cháu.

   - Dạ không sao. Cháu bôi mặt phục kích chỗ truông, bửa vài đòn gánh là xong. Cho nó sợ thôi, không đánh chết.

   Sâm gật đầu:

   - Ông đánh, nhớ đừng la hét gì hết. Ông mở miệng thì cách một cây số người ta cũng biết con bác Rạng.

   Má Bảy sững sờ nhìn cả hai đứa. Má không ngờ chúng liều đến vậy. Trong khi thằng địch có thể giết mấy mạng người vì một câu hớ miệng, lứa trẻ này đem cho nhau lựu đạn, bàn việc đánh con lão phó đại diện nghe ngon lành. Mà cả con gái má nữa chứ ai đâu xa lạ. Má bắt đầu hiểu vì sao anh Dõng lại giao những việc lớn cho Sâm. Nó ngớ nghếch nhưng đã nói là làm. Đành vậy, tre già măng mọc, việc Cách mạng bây giờ phải giao cho thanh niên, chứ cứ dựa vào lớp già của má thì chỉ những tính trước toan sau cũng đủ hết trăm tuổi thọ. Má nghĩ vậy, và chợt thấy ngậm ngùi.

----------------------------------------------------------
5. Biếu
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 03:34:25 PM »

*
*    *

   Bốn chị em đi đến trạm gác, cũng là chỗ thu thuế nhập lâm.

   Mọi lần chỉ có vài tên dân vệ và một tên xé vé thuế đón tại đấy, hôm nay cả một tiểu đội biệt kích áo đen có trung liên dàn ra bên các hố bắn che mái tranh. Chúng soát thẻ kiểm tra và giấy phép nhập lâm. Tên hạ sĩ tiểu đội trưởng hăng lắm. Hắn tự tay móc túi từng người, vuốt từ nách xuống đùi, còn xắn nát những nắm cơm ăn trưa, thò cây khoắng các ấm nước chè.

   Chị Năm đập tay Sâm:

   - Hỏng rồi, chị em mình không có giấy phép.

   - Ta cứ đi ào coi nó làm gì.

   - Em làm sao tụi mình qua lọt mà khỏi bị khám, chị khen giỏi đó.

   Sâm không đôi hồi, nhận ngay: “Để em nói”. Sâm đi chợ Đồng Trầu hay chợ quận không bao giờ bị hỏi giấy. Chỉ cười một cái, đùa một câu, bọn cảnh sát và dân vệ quen cứ muốn sấn vào gánh hộ. Chúng chỉ nạt nộ lục soát các bà già. Nhưng ở đây gặp bọn biệt kích, e khó hơn.

   Đến gần trạm gác, Sâm chợt nhận ra một thằng biệt kích quen mặt mà không nhớ tên đang ngáp ruồi bên hố bắn. Sâm mừng quá, vẫy kêu:

   - Anh gì đó ơi, lại đây?

   Sâm biết hễ mình gọi là chúng nó đến. Quả nhiên, tên được gọi tươi mặt lên, xách súng đến. Một tên nữa cũng mon men đi theo. Sâm nhăn mặt:

   - Việc gì mà khám xét dữ dằn vậy anh?

   - Việt cộng treo cờ ở ga Đồng Mè, cô không biết sao? Cô đi đâu?

   - Bốn chị em đi cắt lá bỏ chuồng trâu. Đàn bà con gái, ai lại soát cả người vậy bao giờ. Không để đi thì về, em không cho khám. Dứt khoát!

   - Cô chịu khó nói sơ với anh hạ sĩ một tiếng...

   Sâm giẫm chân:

   - Anh đó em không quen. Mà cũng không muốn quen. Sao các anh sợ chỉ huy quá vậy? Thôi, ta về chị Năm!

   Sâm vùng vằng quay đi. Tên biệt kích không gọi mà đến vội nắm cổ tay Sâm giữ lại. Hắn biết chọn đúng lúc để ra tay hào hiệp. Hắn tém môi nở một nụ cười rất kiếm chác:

   - Cô đừng giận, để tôi đưa đi. Cô không nhớ tôi chớ tôi biết cô lắm. Ba má mạnh không cô?

   - Cũng thường...

   - Dạo trước tôi có đóng quân nhà cô hai ngày. Ba thương tôi lắm, kêu vô uống trà luôn. Nhà cô là cái nhà ngói có máy may bên chợ Đồng Trầu, tôi nhớ y nguyên, cô thấy chưa?

   Tên biệt kích dẫn bốn chị em đến báo cáo với chỉ huy, nhận là người nhà. Tên hạ sĩ bận một tay móc hầu bao ông già đi củi, khoát tay kia:

   - Đi đi. Dặn họ gặp Việt cộng lảng vảng trong đó thì dắt về lấy thưởng.

   Nói xong, hắn túm một xấp thẻ kiểm tra, giấy phép, cả mấy tờ bạc trăm màu xanh lá kẹp ở giữa giấy tờ, nhét vào túi mình rất thoắng:

   - Cho bác đi. Chiều về nhận các thứ. Ê, người khác! Bà đi đâu?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 03:36:06 PM »

*
*    *

   Cùng với anh bí thư huyện ủy, anh Chín Chuyền đi về các xã để soát lại việc chuẩn bị đồng khởi. Họ đến gặp Dõng tại dãy gò Chà Là.

   Lúc ấy, nhóm Sâm đang vui chuyện giữa anh em trong đội võ trang công tác. Mọi người cười lăn ra, trong khi cô Trấu phụng phịu ngồi quay mặt vào bụi, mắt còn ướt nhưng miệng cứ ngượng nghịu cười theo. Trấu vừa gặp anh Huấn trong đội, bỗng bật khóc thút thít và nhận là anh ruột mình. Anh Trấu đi tập kết để lại một tấm ảnh. Trấu cứ theo tấm ảnh cũ đã sáu năm và phai gần hết nét ấy mà tìm anh. Thêm cậu Cung quỉ sứ còn đế vào, nháy nháy mắt:

   - Sợ lộ bí mật thôi. Đúng y rồi đó.

   Đến khi chung quanh cười to, Trấu mới biết mình hớ.

   Chị Năm đùa ác:

   - Mày kiếm anh, có lầm cũng chẳng sao. Tao lầm ông chồng mới nguy.

   Trấu phát cho chị một cái, quay ra dỗi.

   Một đồng chí giao liên vác trường Mát đến tìm Dõng. Anh hối hả bỏ đi, Sâm không để ý. Một lát sau Dõng trở lại, dẫn theo hai bác cán bộ già. Sâm đang bắt chước điệu bộ bọn biệt kích móc túi, vội ngồi thụp xuống sau lưng Ngọ, thè lưỡi. Bác cán bộ tóc trắng nhìn Sâm, cười tủm tỉm. Sâm ngượng quá. Chắc bác thấy Sâm đóng kịch, cười Sâm trẻ con. Bác bắt tay từng người. Chị Năm nhìn bác, khẽ gật đầu, chắc chị quen bác. Sâm cũng thấy bác rất quen mà không nhớ gặp ở đâu. Chao, cái đầu chim sẻ! Hèn gì má mắng hoài là vô ý vô tứ!

   Bác giữ tay Sâm lại, hỏi độp một cái:

   - Út Sâm nhớ bác không?

   Sâm nói bừa:

   - Dạ nhớ.

   - Bác tên gì?

   Sâm huých cùi tay Ngọ một cái, đòi nhắc. Ngọ vẫn tròn mắt nhìn Sâm.

   - Bác là... ư... cháu quên mất.

   Mặt Sâm thành trái cà chua chín. Bác vẫn đủng đỉnh:

   - Lát nữa Sâm ở lại bác hỏi chút.

   Anh Dõng đưa bác đi khuất, Sâm hỏi ngay chị Năm. Chị lắc đầu:

   - Mày rủ tao đi gặp cán bộ, lại nhè tao mà hỏi!

   Còn Bê chỉ cười, nói quanh:

   - Cấp trên đó. Cô Út cứ hỏi ảnh là gọn nhứt.

   Sâm định hờn mát một câu thì chị Năm kêu:

   - Mặt trời cao hung rồi các ả. Cắt mau cho đầy gánh lá, lát rồi anh Dõng kể chuyện xong ta về luôn. Đường xa bốn năm cây số chớ ít đâu.

   Bê sắp xếp:

   - Để tụi tôi cắt phụ với cho kịp. Chia nhau ra. Tôi cắt với chị Năm, ba đồng chí cắt giúp ba cô.

   - Anh Bê giúp em đi, em hỏi cái này.

   Sâm nói tự nhiên. Bê lúng túng: “Cũng được”. Bê rút dao găm, thử lưỡi dao bằng ngón tay cái, đi theo Sâm. Giá Sâm bớt sắc sảo một chút, chắc hẳn Bê không rụt rè như thế.

   Sâm với Bê vít những cành mua rậm lá, cắt vội vàng. Đợi mãi không nghe Sâm nói, Bê hỏi trước:

   - Cô Út hỏi gì vậy?

   Sâm cười giòn, vẫn đưa lưỡi câu liêm thoăn thoắt:

   - Gì đâu. Em quen anh, chưa quen mấy anh kia. Anh cắt bằng dao chậm lắm. Anh cao, níu nhánh xuống em cắt. Ở nhà anh làm gì anh Bê?

   - Tôi làm thợ nguội.

   - Nguội là sao?

   - À, nghĩa là làm đồ sắt mà không rèn, không đúc. Chỉ có giũa, cưa, đục, mài, tiện. Làm trong xưởng đông người, mỗi người một việc.

   - Anh biết cày bừa không?

   - Mỗi lần về quê, tôi cũng cày cho bà con.

   - Ba anh già chưa?

   - Chưa. Hồi tụi nó giết, ba tôi chưa tới năm mươi.

   - Tội nghiệp, vậy má anh?

   - Má tôi bị bom hồi kháng chiến.

   Sâm dừng lại, nhìn Bê:

   - Hóa ra anh mồ côi à?

   - Đại khái vậy.

   Từ đó Sâm hơi lơ đãng. Sâm mất bao lâu thành quen, nhưng không đoán được nếu thiếu má thì Sâm ra sao. Chắc khó sống lắm. Mỗi lần má bị bắt đi “tố cộng” ở xã, Sâm nhất định giành đem cơm cho má, không nhường anh Tư đi. Gặp má mỗi ngày hai lần mà Sâm còn buồn rũ ra. Anh Bê khổ thật. Vậy mà anh cứ cười cười, tỉnh như không. Sâm liếc nhìn mái tóc quăn và đôi tai to của Bê, thấy anh quen hơn trước một tí, như một cái nhà mà Sâm vừa mở cửa nhìn vào lần đầu.

   - Anh Dõng giao công tác hôm kia, cô Út nhớ hết không?

   - Chưa, em ít nhớ lắm.

   Bê ngạc nhiên ngừng tay:

   - Vậy cô làm sao cho khỏi quên?

   - Em nói với con Ngọ, con Trấu, mỗi đứa nhớ giùm một ít, tụi nó nhắc. Còn hỏi lại các anh nữa chớ.

   Sợ Bê chưa hiểu, Sâm nói rõ hơn:

   - Má em nói hồi nhỏ em rớt xuống sông, bây giờ hay quên. Em đi học với thầy Dõng... anh Dõng, ảnh rầy em hoài. Nghe giảng em hiểu liền, về nhà quên ráo. Có điều quên gì chớ không quên Cách mạng là được, phải không anh?

   Sâm cười. Bê muốn bẻ lại: “Còn phải nhớ hết công tác Cách mạng nữa”. Nhưng bốn đồng tiền trên đôi má ưng ửng của Sâm khiến Bê phân vân, nghĩ có lẽ Sâm định trêu anh thôi. Bê không sợ địch, nhưng rất sợ các cô cơ sở xinh đẹp và ranh mãnh cứ chộp một câu nói hớ để hùa nhau trêu anh cán bộ trẻ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 03:38:41 PM »

6

   Anh Chín Chuyền mở túi dết, lấy một bì thư đã mòn các cạnh, nét chữ nhòe nhiều chỗ. Anh đưa cho chị Năm, nói gọn:

   - Thơ của ảnh đây.

   Chị Năm đưa tay định cầm thư, rồi rụt lại. Chị vừa hiểu ảnh đây là chồng chị. Mặt chị tái đi. Chị đăm đăm nhìn cái thư, không dám mó tới, như sợ nó bay vù mất. Chị ngước đôi mắt bồ câu hốt hoảng nhìn anh Chín, muốn nghe anh nhắc lại một lần nữa để thật tin nó là của chị.

   - Ảnh không biết ở quê bây giờ ra sao, phải gửi về tỉnh nhờ tụi tôi chuyển lại. Khôn ghê. Chị đọc đi, rồi ta bàn công tác.

   Anh đứng dậy, đưa mắt cho anh bí thư và Dõng. Cả ba lảng đi nơi khác. Dõng giở sổ tay ra hội báo.

   Chị Năm không xé phong bì, chỉ vê nhè nhẹ các cạnh cho nó rã làm đôi. Nét chữ gãy góc của chồng chị hé ra. Chị liếc qua mấy chữ đầu, lại lật xem trang cuối một tí, như ngắm chồng từ đầu đến chân mỗi khi anh về phép. Lá thư run trên tay chị: Những dòng chữ nhảy nhót như chim sẻ đậu dây điện. Nhìn quanh thấy vắng, chị đập tay vào trán một cái, đọc nhẩm: “Em vô cùng yêu quí của anh...”.

   Chồng chị hiện lên sau nét mực, vạm vỡ, rám nắng, giọng ồ ồ dội từ đáy lồng ngực, vết sẹo trên cổ chạy đều đều khi anh nói với chị những lời thương yêu mà anh vốn tiết kiệm. “Anh biết em đã chịu muôn trùng cay đắng trong khi chờ đợi anh...”. Chị lau vội đôi mắt ướt, mỉm cười. Anh biết thế đủ rồi. Em sẵn sàng chịu đựng gấp mười nữa, chỉ mong anh biết cho em. “Đêm nào anh cũng thao thức nhớ em, nhớ con, cứ ngày Bắc đêm Nam như vậy đã sáu năm ròng...”. Chao ôi, thương nhớ có chừng, chứ không ngủ được thì ốm o gầy mòn, chịu sao nổi.

   Để trả lời chị, một tấm ảnh nhỏ rơi ra khi chị lật trang nhè nhẹ, sợ lá thư chóng hết. Chồng chị mặc sơ mi trắng, trông béo khỏe hẳn ra, đang nhìn chị không chớp mắt. Sau lưng tấm ảnh có mấy chữ nhỏ tí: “Nguyện suốt đời chung thủy”.

   Chị Năm - người đảng viên luôn luôn vững vàng tươi tỉnh - không nín được nữa. Chị ép lá thư vào ngực, úp mặt trên hai đầu gối. Những tiếng nấc êm bắt đầu rung hai vai chị.

   Dõng báo cáo xong, định đi gọi chị Năm. Anh Chín cười:

   - Đừng phá đám, để chị ta ở với chồng một lát. Hầm nhà chị tốt không?

   - Bảo đảm lắm. Tôi cũng thường ở đó.

   - Vậy tối mai mình về, ông cho mình nghỉ nhà chị, nhân tiện hỏi thăm chi bộ Kỳ Bường luôn. Kêu giùm Út Sâm cho mình.

   Anh Chín ngắm cô gái đi đến sau lưng Dõng. Sâm mặc một bộ bà ba lụa đen, ống quần hơi chật theo kiểu mới. Màu áo đen làm nổi làn da trắng hồng, mặt Sâm như một bông hoa hồng bạch nở trên miệng cái bình men sẫm. Nếu Dõng không báo trước, hẳn anh Chín không sao nhận ra đứa cháu gái có mái tóc ngắn chấm vai ngả màu gạch và khét nắng, đôi mắt trông quá to trên cái mặt gầy. Dạo ở nhà má Bảy, anh bị cảm nên thường nằm trong buồng kín, khi động mới xuống hầm. Má sợ Sâm bép xép, không cho biết có cán bộ trong nhà. Sâm hỏi luôn miệng:

   - Sao má nấu cơm nhiều vậy má?

   - Hồi trưa còn hai khúc cá, mất đâu một khúc rồi má?

   - Dầu cù là đâu thơm quá má?

   Anh Chín thấy không ổn, khuyên má nên cho Sâm biết và dặn Sâm giữ miệng. Má chần chừ mãi vì thấy tính Sâm bộp chộp. Một hôm má đi cấy xa, giao Sỏi giữ trâu, Sâm coi nhà nấu ăn. Bọn dân vệ thình lình ập vào khám nhà bên cạnh. Sâm đến cửa buồng khóa ngoài, đập cửa kêu nhỏ:

   - Ông bà gì đó ơi, trốn cho khéo, dân vệ vô soát nhà kia nè.

   Mươi phút sau, anh nghe Sâm nói lanh lảnh dưới bếp:

   - Các chú tìm Việt cộng hả? Việt cộng ra sao chú? ... Giống như người mình à, vậy bà con đây giống Việt cộng hết, tìm chi cho mệt... Nhà trống hoang đó, các chú cứ tìm... Ngó coi, ở chơi uống nước đã các chú, gì gấp quá vậy?

   Má Bảy không biết ai bày cho con mình đối đáp những câu lắt léo như thế. Những người mẹ dạy con từ nhỏ thường chậm nhận thấy con mình nghĩ bằng bộ óc của nó. Sâm được giao hẳn nhiệm vụ gác và nuôi cán bộ. Chẳng những Sâm không bép xép mà còn rất tài bông lơn, biến thật thành đùa, đánh lạc hướng địch. Sâm không nhớ mặt bác Hai Công - tên anh Chín lúc ấy - vì bao giờ cũng gặp bác trong buồng tối om hay ban đêm.

   Sâm đến trước anh Chín, bẽn lẽn xoay cái nón trên tay, liếc trộm anh rồi cúi xuống. Anh Chín muốn ác một tí:

   - Cháu nhận ra bác chưa?

   Sâm vụt nhớ ra. Sâm nhìn mái tóc trắng xóa, nhìn bàn chân có một cục thịt đen gần mắt cá, rú lên:

   - Bác Hai Công! Trời ơi, bác chết rồi kia mà! Thiệt bác không?

   - Không thiệt thì giả à?

   Sâm ngồi thụp xuống bên anh, túm cánh tay anh giật mạnh, nói qua nước mắt giàn giụa:

   - Tụi nó mổ bụng bác, phơi bác giữa chợ... à mà không phải bác, bác khác kia... Má cháu khóc miết. Má cháu quải cơm cho bác một năm ròng, là cháu nói bác khác kia...

   Dõng cười phì. Anh Chín cười theo. Sâm xấu hổ úp mặt vào vai anh, lắc đầu qua lại cho nước mắt thấm vào áo anh, nhân tiện cắn luôn cho anh một cái nên thân.

   - Úy, con nhỏ hóa hùm rồi ta!

   - Cháu ăn thịt bác cho lại gan (6) đây nè. Báo hại cả nhà cháu khóc sưng mắt. Cháu đi chợ quận, tụi ác ôn cứ lật nón lên dòm, nói bữa nay ai đỏ mắt với mua hương đèn là đúng Việt cộng trăm phần trăm. Cháu phải nói cháu để trâu ăn lúa, bị đòn.

   - Sao cháu không coi xác cho kỹ?

   - Tụi nó cột dây vô cổ kéo về, trầy truột hết. Với lại cũng tại cháu. Cháu mới ngó thấy đã chảy nước mắt rồi, không coi kỹ được. Cháu không dám lau sợ tụi nó bắt, phải đi vòng thiệt xa, đợi khô mắt mới quay trở lại. Tới dòm lần thứ hai cũng bị ướt mèm, thôi chịu...

   Anh Chín không cười nữa. Anh nâng cằm Sâm, ngắm lại đứa cháu từ sớm đã cùng đi một đường với anh, đã giữ cho anh sống và hoạt động đến nay. Cũng như bao lần khác, tấm lòng người cha thèm được cưng con bỗng nổi dậy nung đốt anh. Giá anh được một đứa con gái thế này nhỉ...

   Anh khẽ lắc đầu, xua những ý riêng tây. Anh hỏi thăm nhà má Bảy và những gia đình quen ở Đồng Dừa, vừa nhớ các mẩu chuyện lộn xộn mà rất sắc do Sâm kể, vừa đoán tính cô bé.

   - Đâu xa cháu không biết, chớ bà con chỗ cháu thì ức lắm rồi. Ùm một cái, nổi dậy hết. Làm thịt heo thì ít, mà qua nhà nào cũng thấy mài dao phay sồn sột sàn sạt. Tết năm nay chắc gói bánh nhiều gấp đôi...

   - Giả sử giao cho cháu tổ chức chị em nữ thanh, cháu làm được không?

   - Tổ chức cách sao hả bác?

   - À, cháu lựa chị em tốt, cháu điều khiển họ, chia việc Cách mạng cho mỗi người làm một ít.

   Sâm cắn cắn môi:

   - Cháu rủ người tốt được, bạn cháu đông lắm. Có điều cháu chỉ huy tụi nó không nổi đâu. Cháu nói đôi ba câu, hễ tụi nó không nghe là cháu nóng mũi, muốn cãi lộn rồi. Với lại cháu quên đầu quên đuôi luôn. Con Ngọ tổ chức giỏi nhứt. Nó tốt lắm bác ạ. Phần cháu, bác cho công việc gì dễ dễ, như bắt thằng Phổ, giựt súng dân vệ, cháu làm được hết. Ta có bộ đội con gái không bác?

   Dõng ngồi sau lưng Sâm mỉm cười, gật đầu. Tính Sâm từ xưa vẫn thế.

   Tuy chỉ hơn Sâm một tuổi mà Hai Ngọ, con đầu lòng ông Nhâm, khác Sâm cả người lẫn nết. Da ngăm ngăm đen, người hơi đẫy, tính hiền lành chín chắn, Ngọ sớm giống một bà mẹ tần tảo nuôi con. Mất mẹ khi mới mười hai tuổi, Ngọ thay mẹ chăm nom bầy em gái cho đến nay, làng xóm đều khen. Ngọ quen nghĩ chậm mà chắc, giảng giải từng tí một, làm gì cũng tỉ mỉ lớp lang. Sâm và Ngọ thân nhau nhất trong làng, đi đâu cũng cặp kè đủ đôi, bởi mỗi cô nhận thấy ở bạn những cái hay mà mình muốn có nhưng chưa có, lại còn tìm được trong gia đình bạn ông cha hay bà mẹ mình thiếu. Do một sự tình cờ thú vị, ông Nhâm rất ưa cái tính ngang tàng sôi nổi của Sâm, và má Bảy thấy Ngọ giống mình hết sức.

   Các cụ nói xưa nay dân Đồng Dừa luôn luôn đẻ con gái nhiều gấp đôi con trai. Chẳng biết đúng hay không, bây giờ nữ thanh niên ở Đồng Dừa vẫn đông hơn ở các thôn khác. “Con gái Đồng Dừa, chợ dưa Đồng Cát”. Dưa hấu Đồng Cát vốn nổi tiếng to và ngon. Các cô gái Đồng Dừa cũng nổi tiếng đẹp người tốt nết.

   Anh Chín xem đồng hồ, chép miệng:

   - Chà, bác phải đi gấp đây Sâm ơi. Nói với má cho bác gửi lời thăm má, thăm Tư Sỏi. Hễ quên nói, bác về đánh đòn.

   - Dạ nhớ. Không, cháu quên, bác tức bác mới về nhà cháu.

   Anh Chín mang bao, quàng dù ngụy trang, xổ sợi dây đeo súng ngắn ra móc quanh cổ. Anh lên đạn, khóa súng. Bây giờ Sâm mới nhớ chung quanh dãy gò Chà Là này đâu cũng có lính địch, vậy mà bác Hai Công đến rồi đi như không. Nhớ lời má dặn trước, Sâm không hỏi bác đi đâu, chỉ giương mắt thẫn thờ nhìn theo bác lách qua những bụi sim lá mốc trắng, biến mất. Sâm đưa tay xoa trán, chỗ bác vừa cốc nhẹ một cái để chữa bệnh hay quên.

---------------------------------------------------------
6. Bõ giận.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 03:55:58 PM »

*
*    *

   Anh cán bộ miền Nam có bao giờ quên chị em cơ sở đã đến với mình trong những năm khó khăn nhất không nhỉ?

   Khi quân thù dán ảnh, treo giải và giăng lưới kín trời đất để bắt anh, khi những người cầm súng cầm gậy đi lùng anh, khi chân tay anh rã rời vì đói và sốt rét, khi anh bị mắc nghẽn trong hầm bí mật hay góc rừng sâu và cháy ruột đợi bắt liên lạc với tổ chức, khi anh thoi thóp trong xà lim và cần nhắn gấp để các đồng chí ở ngoài biết tên kẻ làm phản, lúc bấy giờ người phụ nữ miền Nam đến với anh trong tất cả vẻ đẹp tuyệt vời.

   Anh nhớ bà má trong đêm sờ mặt nắn tay anh để xem anh gầy đi nhiều ít, móc tất cả gói tiền bán heo nhét vào túi anh, thổn thức mãi mới nhắn được một câu gửi lòng trung thành của sáu mươi tuổi đời đến với Đảng. Người chị ấy, lấy chồng hơn mười năm mà chưa được ở với chồng cho trọn một tuần, đã đào hầm bằng dao phay và bát mẻ để anh nấp, nhịn cơm mình và bớt cả cơm con để nuôi anh no đủ, cấm anh không được ra vườn để tự đi đổ ống phân và nước giải của anh. Các cô em gái trẻ măng, ồn ào tinh nghịch có, hiền lành củ mỉ có, mỗi lần gặp anh cứ vừa khóc vừa cười rối tinh, phạm lệnh cấm của anh hàng trăm lần để mang cho anh cùng với báo cáo một bộ áo quần đàn ông hay một hộp cà phê bột, những thứ dễ lộ nhất nếu địch khám thấy. Phụ nữ bao giờ cũng là phụ nữ, họ không chịu để anh ăn đói mặc rách. Cả các em gái nhỏ cũng không còn sợ rắn sợ ma khi ra ngõ gác cho anh ngủ trong nhà, không hề ấp úng khi địch gí mũi dao vào cổ bắt khai.

   Trước mắt họ, anh là hiện thân của tất cả những gì thiêng liêng và thân thiết nhất. Họ phục và yêu anh đến cái mức anh phát sợ, ngại mình không xứng đáng. Họ gán cho anh cả những đức tính cao quí và những hành động anh hùng mà anh không có nhưng họ muốn anh có, thay cho cha, chồng hay con trai họ đang vắng mặt. Họ cần anh phải cao quí và anh hùng như thế để anh đứng cao vòi vọi trên bọn tay chân Mỹ - Diệm độc ác dơ bẩn cứ nhô nhúc trước mắt họ. Qua anh và chúng nó, họ muốn thấy tất cả cái đẹp của ta và cái xấu của địch.

   Còn anh, anh thấy họ là đất nước, quê hương, gia đình, là những người anh yêu thương nhất. Họ là những cô Bảy, chị Mười, má Hai có mặt khắp miền Nam, bởi vô số nên còn vô danh. Họ đổ máu làm nên những chiến công nho nhỏ hằng ngày: một mẩu thư kể tình hình, một túm gạo cho cán bộ. Những gì họ làm, cả tên tuổi họ nữa, chỉ có một vài đồng chí chịu trách nhiệm được phép biết. Họ đánh giặc và hy sinh trong im lặng. Họ là những tế bào kín đáo rung chuyển làm cho cái thân thể khổng lồ của Cách mạng miền Nam, tuy mang nhiều vết thương, vẫn lớn lên và bước mạnh.

   Trong biển cả vỗ về của nhân dân, anh là con cá kình ngang dọc xuyên lưới giặc. Qua những câu chuyện thầm thì trong vườn, dưới hầm, mỗi cơ sở góp cho anh một ít hiểu biết, một mẩu căm thù, một mảnh lòng yêu nước, yêu Đảng. Anh nhớ ơn săn sóc và che chở của từng người một, đền ơn bao nhiêu cũng chưa đủ. Anh không chảy nước mắt khi gia đình mình tan nát, nhưng khi nghe tin giặc bắt giết hàng loạt cơ sở, những tiếng nấc trầm nặng của người đàn ông không quen khóc bỗng làm rung cả người anh. Một lần nữa anh thề trả thù, một lần nữa anh lái các mũi súng chĩa vào mình để cơ sở thoát nguy, một lần nữa anh trở nên anh hùng theo ước muốn của những người anh yêu. Nếu chẳng may bị bắt, anh biến thành khối nam châm lớn hút hết đòn giặc, đánh lạc các la bàn dò tìm của giặc. Đêm cuối cùng trước khi lên máy chém hay vào bao tải, anh sẽ chọn rất kỹ từng câu khẩu hiệu, những hạt giống cuối cùng anh sẽ gieo. Bấy giờ anh mới hết mọi lo toan, để nhẹ nhõm bước cái bước thử thách cao nhất của một cuộc đời cách mạng.

   Thế rồi thỉnh thoảng lại xảy ra cái việc rất thường trong đời sống nhưng giữa lúc gay go này trở nên không thường: cô gái cơ sở yêu anh cán bộ chưa vợ. Tình yêu đến với cô gái cứ êm ru. Khi lý tưởng cách mạng đã thành mơ ước riêng của cô, khi việc cách mạng đã thành việc nhà của cô, làm sao chia được trong tim cô ngăn nào yêu chung Đảng và ngăn nào yêu riêng anh cán bộ Đảng? Cô yêu anh trọn vẹn, liều lĩnh. Trong cái xã hội đen như mực, cô lao theo người cầm đèn chứ còn theo ai.

   Anh cán bộ trẻ nén lòng ngày càng khó. Anh đâm ra vụng và nhát. Nghe báo cáo công tác, anh tránh không nhìn đôi mắt đen láy có dấu hỏi bên trong. Anh không dám nói một chữ nào ngoài tập tài liệu huấn luyện cơ sở. Anh đắn đo mãi mới dám bắt tay cô ấy một cái khi từ biệt, bàn tay nhỏ mềm đã dắt anh qua hàng rào phục kích của giặc, đã vuốt trán anh trong cơn sốt. Tất nhiên cô ấy giận hết chỗ nói. Còn anh bỗng thấy chống chếnh, bơ vơ, anh vừa mất đi một cái gì đó anh chưa có. Anh phải cầu cứu đến các đồng chí. Những lời dặn chung chung, mà anh cũng đã dùng để khuyên người khác, biến thành phao ném lại cho anh. Anh soát tình cảm của mình như người thầy thuốc tự lấy mạch lấy nhiệt. Không thể lầm, anh yêu thật rồi. Cô gái trở lại, mang theo bản báo cáo mới và nỗi ấm ức cũ: tim cô như đã ngăn làm đôi. Lớp ngăn ấy rã ngay khi tim cô đập gấp. Gặp anh là cô quên mọi thứ trên đời, kể cả hờn dỗi. Hôm ấy, tập tài liệu huấn luyện cơ sở có thêm một đoạn đuôi không in: họ nói với nhau những lời hứa hẹn. Họ sẽ sum họp sau ngày giải phóng. Họ phải xứng đáng với nhau, không ai sẽ xấu hổ vì ai khi ngày cưới đến. Họ lao vào những gian nan mới để ngày ấy mau đến.

   Anh Chín Chuyền nghĩ lan man như thế trong khi bước sau lưng anh bí thư huyện ủy. Đồng chí giao liên đi trước vạch cành lá mở đường, đưa họ đi chếch về phía ga Đồng Mè. Bê kẹp tiểu liên dưới nách, ngón tay đặt trên vành cò. Có lúc họ bò bốn chân trên đồi trống, vọt qua một con đường xe trâu kéo củi, hay nằm im đợi một nhóm đồng bào cắt lá đi hết. Huyện ủy không muốn anh Chín xuống tận vùng biển, nhưng anh thấy cần xem xét tận nơi trước khi định ngày đồng khởi. Anh vốn nghiêm khắc với những đồng chí chuyên ngồi một chỗ để trút chỉ thị của cấp trên xuống dưới, và dồn báo cáo của cấp dưới gửi lên trên.

   Đồng chí giao liên dừng lại, chỉ sang trái:

   - Ga Đồng Mè kia.

   Qua kẽ lá, nhà ga quét vôi trắng nổi rõ giữa nền cỏ xanh. Một chiếc xe gíp ngoi lên chỗ barie, trụt xuống, chạy về chợ Đồng Trầu. Sóng biển nghe đã rõ. Đứng ở chỗ thấp này thấy biển lùi ra xa hơn khi xem từ núi cao. Các xóm của Kỳ Bường nằm im sau lũy tre, hình như không sống, không vui buồn, không chờ đợi. Chỉ những người trong cuộc mới biết ở đấy sắp nổ một cơn động đất.

   Bê và đồng chí giao liên chia gác hai hướng. Anh Chín để nguyên bao và thắt lưng, ngồi dựa gốc cây ngủ chập chờn đợi tối. Họ sẽ vượt qua đường sắt và đường Một lúc mặt trời lặn, khi quân gác đã về và quân phục kích chưa đến. Nhất chạng vạng, nhì rạng đông.

   Anh Chín chợt mỉm cười, thì thào:

   - Tụi mình mang cục thịt bất hợp pháp nặng nề gớm. Khúc đường mình đi một đêm một ngày, con nhỏ Út Sâm nó phóng xe đạp chưa tới hai tiếng.

   - Mình tiếc bộ râu ông quá. Ông còn râu dài, mình cho cơ sở Kỳ Sơn dẫn ông đi ô tô, nửa giờ là tới nhà cậu bí thư Kỳ Hải.

   - Tại Thường vụ mình mới nhổ.

   - Hử?

   - Mình nổi máu giang hồ, đi Sài Gòn, Đà Nẵng mấy chuyến trót lọt cũng nhờ bộ râu. Sau Thường vụ không cho mình đi nữa. Ở với anh em để râu coi kỳ lắm, mình buồn tình nhổ sạch trơn.

   - Thôi sắp tới ông đi ô tô, xe đạp trong vùng giải phóng đủ ngán. Nhổ râu dễ nói với thanh niên hơn.

   Hai anh cán bộ già cười rúc rích.

   Trong lúc ấy, lớp học ngắn của bốn chị em cơ sở chấm dứt. Sâm, Ngọ, Trấu được kết nạp vào Hội phụ nữ giải phóng. Sâm chưa hết bàng hoàng khi biết chị Năm là người lãnh đạo chính trong xã, thì đã đến lượt Sâm nói những lời hứa hẹn.

   Hai tai đỏ vì nghĩ găng quá, mắt chớp liên lu, Sâm nói như đọc bài:

   - Thưa đồng chí đại biểu... ư... của cấp huyện...

   Dõng ôn tồn:

   - Sâm cứ tự nhiên như ở nhà, nghĩ sao nói vậy.

   Sâm cúi xuống nhổ mấy sợi cỏ may bám gấu quần, dần dần bớt hoảng. Chung quanh là người thân cả, Sâm vẫn bối rối, bởi lúc này không phải Út Sâm nói mà một đồng chí mới bước vào đời cách mạng sẽ lên tiếng.

   Sâm ngửng đầu lên:

   - Hồi đánh Tây, bom đạn nhiều biết mấy mà nhà em no, em được học, má em không bị đánh chửi. Bây giờ Mỹ cướp nước, Diệm bán nước, dân mình khổ mà gia đình em cũng xơ xác. Má em già cả vậy tụi nó còn bắt lên đánh xuống. Ruộng trâu nhà em mất rồi. Phần em phải bỏ học, tụi nó còn chọc ghẹo miết, em tức lắm. Em thương má em lắm...

   Sâm mím môi, nuốt nước bọt thật mạnh:

   - Lâu nay em tìm Cách mạng hoài mà không gặp. Bây giờ gặp rồi, các anh chị biểu gì em xin làm nấy. Em còn dại chưa biết gì, vậy chớ sợ giặc thì dứt khoát em không sợ. Em phải trả thù cho cả hai má con, cho đồng bào mình. Em phải đánh tụi nó đến cùng.

   Sâm thở mạnh một tiếng. Người Sâm ran ran trong một nỗi say sưa chưa bao giờ thấy, như tất cả máu trong tim Sâm vừa biến thành rượu đỏ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:00:02 PM »

7

   Bảy giờ sáng.

   Mặt trời mùa đông le lói trong sương mù như lòng đỏ trứng gà lên gần một con sào. Trụ sở hội đồng xã còn đóng cửa, cái cự mã chằng thép gai chặn ngang cổng. Tiểu đội dân vệ gác đêm lê la trên hiên nhà đợi thay gác.

   Bốn đứa trải chiếu đánh bài xì lát trong góc đang cãi nhau. Những cặp mắt sưng húp long lên. Một tên kẹp chắc xấp giấy bạc giữa hai ngón chân, gí móng tay viền đen vào quân bài:

   - Con già rô nè, con bồi chuồn nè, đâu nữa? Đ. mẹ thằng nào giấu bài!

   - Tổ cha con mụ nội mày, đòi ăn cơm cúng hả?

   - Đ. mẹ mày, giấu bài dưới đít nhất định. Hèn gì nãy giờ táp nuốt của tao bốn trăm bạc. Nhấc đít coi, không tao rút xương lấy máu bây giờ! Đứng dậậậy!

   Tên kẹp tiền ở chân gào lên, túm cổ áo sơmi đen của tên mắt lác ngồi trước hắn. Rắc! Một quả đấm giáng xuống tinh mũi hắn. Hắn ngã sấp, móng tay cào mặt chiếu. Máu tóe trên những quân bài nhão mồ hôi. Hắn quờ tay ra sau lưng. Hai tên không bị nghi vội đứng né ra, nhăn răng cười. Lưỡi dao găm lóe trắng trên áo đen, đâm vào thịt và chạm xương, bật hai tiếng phịch cốp liền nhau.

   - Ối! Mả cha con... mụ nội... è è è...

   Cả tiểu đội bâu lại nhốn nháo.

   Mười lăm phút sau, tên bị đâm trúng vai được khiêng ra nhà y tế, vừa rên vừa chửi. Sau cửa sổ xà lim, tên thua bạc ngó theo, hai tay vấy máu níu chấn song, máu mũi chảy tràn vào cái miệng cười gằn. Hắn quát:

   - Đứa nào móc túi nó lấy lại bốn trăm bạc, tao cho hai trăm!

   Theo tiếng quát, một búng máu sùi bọt vọt qua miệng hắn. Tên bị đâm nằm lắc lư trên võng vội nhét tay vào túi, xoay đôi mắt lác nhìn lấc láo, chửi tiếp.

   Tên tiểu đội trưởng mang các bin kêu:

   - Tư Sỏi, dọn sạch chỗ này đi. Coi có con chó nào đó không, ô cho liếm nền nhà.

   Từ nãy Sỏi vẫn ngồi nhìn bọn kia đánh bạc và đánh nhau, không nhúc nhích. Sỏi lặng lẽ đứng dậy, khoác cây súng săn một nòng vào vai, đi cuốn chiếc chiếu đem vất sau nhà hội đồng. Ở đấy có một đống chiếu rách, áo quần nát, dây đứt, roi gãy, vết tích của những cuộc tra tấn hàng ngày.

   Bọn dân vệ còn lại túm tụm trên hiên, cãi nhau rồi xoay ra tán gẫu. Từ những vụ đâm chém, câu chuyện nhảy dần sang hướng khác.

   - Xìlát cáctê là một, mèo mỡ là hai, dễ hộc tiết canh đổ lòng heo nhứt đó bay.

   - Hạng mình mới phải giành mèo, như ông Phổ đâu phải giành. Ổng còn bắt tụi mình trói giải về cho ông xài nữa chớ.

   - Bữa đó tao gác khuya, nghe ổng trong nhà khai thác tù cộng sản hay lắm bay ơi. Đưa một điếu Ruby, tao hót (7)... Ổng tra vầy nè: “Hễ không cởi thì anh xé! Cởi không?”.

   Cả bọn cười sặc. Tên tiểu đội trưởng cũng sán vào. Hắn rất thèm loại chuyện ấy. Hắn có dáng dấp một tay buôn lậu: tóc gọng kính, răng vàng, môi thâm, mắt lấm lét. Đúng hắn xuất thân là con buôn lậu thật, hiện nay còn buôn chút ít kiếm thêm. Hắn vỗ đùi đánh đét:

   - Sao mày không dòm?

   - Sợ mất lương. Phải như lãnh đủ chín trăm bạc thì tội gì không coi xilama (Cool chút xíu. Ổng mần lâu lắm. Gái đẹp một con, thuốc ngon nửa điếu mà. Có điều... thôi, bấy nhiêu thôi.

   Tên dân vệ ngừng bặt, bập điếu thuốc cháy nhanh đến nhọn đầu lửa. Rồi hắn lại tự nói tiếp, giọng bỗng lạc đi:

   - Con nhỏ chống cự miết, mà cự sao nổi. Tao nghĩ ổng làm trò con heo xong thôi, ai dè...

   Một tên khác thì thào:

   - Cái chị đem chôn hồi hai giờ sáng, phải không?

   - Tao phải nhét ruột vô, cởi dây, móc giẻ trong miệng. Nói thiệt tình, tao cũng khấn chị nhớ công tao chôn cất tử tế, đừng báo oán tới tao. Chị ta ở đâu tao nhìn không ra, tối quá.

   - Con ông Chư dưới Đồng Mè đó chớ ai. Chồng tập kết, cha tù Côn Sơn (9). Nước da như trứng gà lột. Tánh nết dễ thương quá đỗi, vợ tụi mình không đáng xách guốc...

   Cả bọn lặng im, liếc nhau, chừng ngại câu chuyện đi quá xa. Một tên nói bâng quơ:

   - Ai làm nấy chịu, vậy thôi.

   Tên tiểu đội trưởng bỗng đứng lên, kêu:

   - Sỏi ra mở cổng mày! Lính mới gì rù rờ quá vậy?

   Bọn dân vệ uể oải cuốn chiếu, đội mũ bê rê đen lên đầu, xỏ chân vào những đôi giày vải rách và thối khắm. Tư Sỏi ì ạch kéo cái cự mã. Tiểu đội đến thay gác kéo vào. Tiếp tới trung sĩ Huỳnh, cảnh sát phó chỉ huy trung đội dân vệ của xã. Huỳnh vừa đi vừa xỉa răng.

   - Đêm hôm có gì không hể?

   - Không.

   Huỳnh dừng lại, cau mày:

   - Nè Sỏi, phải tập ăn nói với chỉ huy cho đàng hoàng. Cứ như dùi đánh đục vậy chướng lắm hể.

   Tư Sỏi đứng im như không nghe Huỳnh nói.

   Huỳnh bật cười, đi qua trụ cờ. Tên tiểu đội trưởng hô: “Nghiêm... phắt!”, chạy ra đón. Huỳnh gật đầu ưng ý: “Cho nghỉ đi”. Hắn liếc qua bọn dân vệ lúc này chỉ còn lèo tèo, trừng mắt:

   - Trốn đâu hết rồi?

   Tên tiểu đội trưởng báo cáo vụ đâm nhau, không quên nịnh:

   - Dạ, có anh Hai đây thì tụi nó đâu dám... dạ, thiệt bậy chớ... dạ, em ra lệnh tụi nó hổng nghe, tụi nó nói em không phải trung sĩ hạ sĩ gì mà đòi xài xể người ta...

   Huỳnh khoái ra mặt. Hắn cũng nạt nộ mấy câu lấy lệ, nhưng giọng hắn rất bao dong.

   Huỳnh là trung sĩ bảo an của tỉnh, được cử về nắm trung đội dân vệ từ đầu chiến dịch “toàn dân sát cộng” đến nay. Trước Cách mạng Tháng Tám hắn làm nghề quét chợ Đồng Trầu, khi có dịp cũng bẻ bí bắt gà đôi chút. Hắn bị Pháp bắt trong một trận càn hồi đầu kháng chiến, sau đi lính ngụy luôn, hơn mười năm chỉ chuyên gác tù thường phạm ở Đà Nẵng, Huế, rồi Sài Gòn. Hắn quên dần Cách mạng, nhưng không quên mồ mả ông cha. Hắn nhớ quê lắm. Được thăng trung sĩ, hắn liền cậy cục xin bổ về Kỳ Bường. Đã nên danh giá thì phải vinh quy bái tổ, hắn tính vậy. Thế là một hôm dân Đồng Trầu thấy hắn hiện ra trước cổng chợ với tất cả oai phong của một trung sĩ cảnh sát phó: cấp hiệu chữ V kép trên áo mới cắt chỉ, gậy mây song đầu cong bịt bạc móc vào cổ tay, tay chống nẹ khuỳnh khuỳnh vào thắt lưng, thắt lưng đeo súng ngắn sệ xuống mông, cặp mông ngoáy theo nhịp chân đi hất hất chữ bát. Những tên đeo lon to lon nhỏ trong quân ngụy sao mà khéo bắt chước của nhau cái dáng đi đứng lố không chịu được ấy! Thế nhưng Huỳnh cố làm oai mà vẫn không oai vì hắn lùn quá, chỉ được đúng một thước năm mươi hai phân.

   Huỳnh thích dạo chợ. Cái chợ đối với hắn vẫn có sức hấp dẫn không cưỡng nổi. Hắn xoa đầu trẻ con, vỗ vai ông già, cợt nhả với con gái. Hắn gây cảm tình bằng những lời có thể lọt tai đám anh chị ba dao bảy búa mà hắn cai quản, nhưng rất chối tai đối với những người đã đánh Pháp chín năm. Hắn ngạc nhiên khi thấy mọi người đi qua úp nón không chào, mở miệng là chanh chua đâm thọc. Hắn đoán họ coi thường hắn bởi xuất thân là anh quét chợ. Hắn quá ư bẽ mặt. Một hôm có tên dân vệ mách rằng người ta vừa đặt cho hắn cái tên mới: “ông cảnh sát ba du lưu”, nghĩa là gồm đủ các nết của ba nhe, du côn, lưu manh. Hắn tức điên, ra đón cổng chợ mà hò hét thét lác, đá bay thúng mủng gần trọn một buổi mới nguôi giận.

   Gần đây thằng Ba Phổ cảnh sát trưởng lại liên tiếp báo cho hắn biết Cách mạng xếp hắn vào cỡ ác ôn, lập cáo trạng hắn. Huỳnh sợ lắm, mất ngủ mấy đêm. Hắn tắc lưỡi: “trước sau gì cộng sản cũng giết, tội gì mình không ác ôn cho đã đời”'. Từ đó hắn đi đâu cũng bô bô phải chống cộng, diệt cộng. Nói cho công bằng, hắn chỉ muốn gây khó dễ cho những ai không chịu lấy lòng hắn, nhưng vì số ấy đông quá nên hắn phải đối phó với hầu hết dân Kỳ Bường. Và hắn cũng chỉ mới gầm gừ bạt tai đá đít năm bảy người, lại trúng toàn những kẻ không dính líu đến Cách mạng.

   Tuy không nói ra, Huỳnh vẫn nhớ chung chung rằng những cán bộ Việt Minh ngày xưa đều là người tốt cả. Ngay đám tù trộm cướp nói chuyện với hắn cũng nhắc đến “các ông các bà tù cộng” với giọng kính nể đặc biệt. Trong cái đầu mà hắn thích để rỗng cho nhẹ, những bài giảng về “tội ác cộng sản” cứ vào tai này ra tai kia, còn những kỷ niệm tốt về Cách mạng lại tự ý ở rất lâu. Có oán chăng, hắn chỉ oán Cách mạng định giết hắn, như Ba Phổ đã báo. Hắn nghĩ mình chỉ giữ trị an, tháng tháng lãnh ba cọc ba đồng, tội tình gì đâu. Nếu Cách mạng giành được chính quyền như các ông Việt Minh hồi Ất Dậu, hắn đi gác tù trộm cướp cho họ cũng được chứ có sao. Oan hắn lắm. Nhưng vì họ mới tung tin miệng như vậy, nên hắn cũng mới chống cộng bằng mồm.

   Lúc này, Huỳnh thấy khoan khoái vô cùng khi được ngồi vào bàn giấy của cảnh sát trưởng, vờ lật lật vài cuốn sổ mà hắn mù chữ không đọc được. Đó là chỗ hắn ghen với lính Việt Minh. Hắn biết lính Việt Minh được học chữ nhiều lắm. Rồi hắn đập bàn quát lớn:

   - Giải thằng Cồng vô đây cho tao hể!

   Ngoài hiên, tên tiểu đội trưởng quát tiếp như tiếng vang của Huỳnh:

   - Sỏi đâu giải thẳng Cồng vô cho trung sĩ xét xử! Mau lên! Anh Hai phạt cho thấy tổ mày!

   Huỳnh nghe thủ hạ gào mà sướng nở ruột. Trong khi đợi xử thằng Cồng, hắn len lén lấy giấy loại lau vũng  mực đổ và tự hẹn lần sau sẽ giữ chắc lọ mực trước khi đập bàn.

----------------------------------------------------------
7. Kể, tán.
8. Chiếu bóng.
9. Côn Đảo.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:03:03 PM »

*
*    *

   Đưa tên dân vệ mặt và tay đầy máu vào nhà xong, Tư Sỏi lại ra ngồi ngoài hiên, trên cái ghế dài khập khiễng. Tiểu đội của Sỏi đã về ngủ cả. Tên tiểu đội trưởng phải nán lại vì vụ đâm nhau, hắn giữ Sỏi để sai vặt. Hình như hắn quên hết lính, chỉ nhớ một mình Sỏi, gọi không ngớt miệng. Hắn còn nói: “Lính mới như mày sướng chán. Hồi tao mới vô dân vệ bị bạt tai chảy máu mũi luôn, cứ phải nhét sẵn bông trong lỗ mũi”.

   Đêm qua gác thông hai phiên, suốt sáu tiếng ngồi co ro sau những bao cát chất hình chữ U cạnh rào kẽm gai, Sỏi mệt đờ đẫn.

   Ngày đi sục nhà bắt người, đón chợ soát gánh, cướp ngang các thứ hàng bị nghi “tiếp tế cộng sản”, để bọn ác ôn chia nhau đem về cho vợ bán lại. Đêm phải tuần, gác, phục kích, xăm nhà, rình nghe trộm. Sắp tới sẽ đến lượt Sỏi “khai thác các đương sự”, nghĩa là tra tấn như trước kia Sỏi đã bị tra tấn. Mới nghĩ đến đấy, Sỏi đã nổi gai cả người.

   Tư Sỏi lầm lì và bướng từ nhỏ. Lớn lên, rơi vào vũng máu của chế độ Mỹ - Diệm, trong khi Út Sâm đá lung tung như con dế mới bị nhét vào hộp diêm, Sỏi thu hình lại như con cua xếp càng, chỉ dựng lên một đôi mắt ngọ nguậy tìm lối thoát. Khác với một số con trai đua đòi ăn chơi, Sỏi không sắm xe đạp mắc bốn đèn hay quần đoóc- giông mặc rách khỏi phải là, không hút Ruby ba đồng bốn điếu. Sỏi lo làm ăn nuôi má nuôi em, những người Sỏi thương bằng một tình thương nóng cháy, vụng về, không nói ra. Mặt Sỏi lạnh nhưng trong người Sỏi luôn luôn có lửa ngún. Những cái chướng tai gai mắt nhan nhản chung quanh ngấm vào Sỏi thành lò than hồng, nó nung thân thể Sỏi đen sắt lại, gầy dần, đi đứng ăn nói cứ giật khớp. Thỉnh thoảng nó lại bốc ngọn, phì ra thành một cơn nóng giận mất trí.

   Lớp quân dịch 39 (10) đi chưa bao lâu, quân dịch 40 đã bị gọi. Không chần chừ được nữa.

   Sỏi bàn với Bính, người bạn cùng tuổi có bộ mặt lang ben loang lổ. Phải “nhảy núi” theo Cách mạng nếu không muốn chống Cách mạng. Núi không xa lắm. Từ Kỳ Bường nhìn lên, núi giăng thành bức vách xanh nhấp nhô, tưởng như đến đấy kêu một tiếng sẽ có thầy Dõng ra mở cửa. Hai anh em thuê xe đạp đèo nhau lên Kỳ Sơn mua chè mấy chuyến, không hỏi ra manh mối. Họ sục bừa lên núi, đi suốt một ngày, rồi Bính bị xóc chông vào bắp chân, phải vịn Sỏi khập khiễng trở về. Thế là bí.

   Bính nghĩ cứ vào lính, học xong lớp tân binh cái đã, khi đưa về đơn vị hoặc ra trận sẽ nhảy sang phía Cách mạng. Làm vậy địch không có cớ bắt bớ người nhà. Sỏi thấy không ổn. Địch thường đưa lính vùng này đi đóng ở vùng khác, để tránh “bị gia đình lôi kéo”. Phải vào Nam Bộ hay ra giới tuyến, làm sao bắt liên lạc được với Cách mạng? Nhảy bừa thì địch không bắn chết cũng có thể bị xóc chông của ta. Sỏi định kiếm cớ ở lại xã, chờ thời.

   Bính và Sỏi ngoéo tay nhau hẹn suốt đời keo sơn, dặn nhau những câu bóng gió để viết thư báo tin cho nhau. Bính xách gói đến hội đồng trưng binh, Sỏi đâm đơn tình nguyện vào dân vệ.

   Bọn hội đồng không tin gia đình Sỏi - nói đúng ra, chúng không thật bụng tin ai - nhưng giữa lúc thiếu người, chúng nhận Sỏi. Sỏi nổi tiếng bắn giỏi nhất xã, giật hết các giải thi bắn của “thanh niên cộng hòa”. Có lẽ vì gờm tài bắn ấy nên chúng chỉ phát cho Sỏi cây súng săn một nòng với mười viên đạn, bắn xong phải nộp vỏ và báo cáo lý do bắn từng viên. Lập tức, chúng đẩy Sỏi vào cái thế qua sông đốt đò, qua cầu rút ván.

   Sỏi cầm đến cây súng Mỹ mới thấy nó dính máu, mới nghe tiếng chửi xa gần cạnh khóe của đồng bào chung quanh cây súng.

   Làm sao bây giờ?

   Câu hỏi ấy bò quanh trong Sỏi như con đỉa đói làm Sỏi nôn nao, từng lúc đau thắt ruột. Sỏi thấy mình sa vào một cái lưới nilông - thứ lưới Mỹ đưa sang, cá không trông thấy - hết đường vùng quẫy. Sỏi gầy rộc đi. Chỉ còn một đôi mắt thao láo trên bộ mặt đen và nhọn.

   ...Đôi mắt ấy từ từ nhắm lại. Lão Huỳnh vẫn ề à lên lớp thằng Cồng bằng cái giọng thầy cúng nghe buồn ngủ. Sỏi ngủ ngồi, đầu ngoẹo xuống vai, tóc đổ xòa tận miệng.

   Tiếng xe gắn máy Xôlếch nổi ngoài cổng. Một người cao lớn phóng xe vào sân, bóp còi ẹc ẹc. Hắn buông xe cho một tên dân vệ đem đi lau, bước lên thềm. Hắn nhếch miệng cười, dừng lại trước mặt Sỏi, hất hàm:

   - Cất súng!

   Một đứa rón rén đến gỡ cây súng khỏi tay Sỏi, đem vào nhà. Người mới đến dang tay tát rất mạnh vào mặt Sỏi. Sỏi nhào nghiêng xuống đất, mở mắt, quờ tay tìm súng.

   Cảnh sát trưởng Phổ đứng giạng chân, hai tay xăm bùa chống cạnh sườn, cười ha hả:

   - Súng mày bán tiêu rồi hả Sỏi? Có phải súng mày đây không? Đúng không?

   Hắn rút súng ngắn có ổ quay gí vào tinh mũi Sỏi, lên gân ngón tay. Cái búa trên súng từ từ ngóc đầu lên. Lên nữa. Sắp bật ra đập vào kim hỏa. Sỏi vẫn trân trân nhìn cái lỗ tròn đang thổi một luồng hơi lạnh ngắt vào mặt Sỏi trước khi khạc lửa. Mấy tên dân vệ kêu rú. Nhưng Ba Phổ đã nới ngón tay cho búa từ từ hạ xuống. Hắn vỗ vai Sỏi:

   - Thằng nhỏ khá. Khen mày gan đó. Lính của tao phải vậy mới được... Để mất súng bị phạt ra sao, đọc tao nghe?

   - Mất súng đền mười ngàn đồng, tù năm năm.

   - Ôkê. Bây giờ mày soạn ba lô đi tù. Tao lập biên bản bán đấu giá tài sản nhà mày. Coi bộ đủ mười ngàn không?

   - Không đủ.

   Sỏi vẫn trả lời ráo hoảnh. Trong óc Sỏi loáng thoáng những câu hằn học: “Tao biết dại rồi. Tao không lạy lục mày đâu, đừng hù mất công. Tao cứ đi tù, của cải tao mày cứ lấy. Có ngày tao chĩa họng súng vào mặt mày, tao bóp cò thật cho coi...”.

   Ba Phổ cụt hứng. Trò chơi bạo chúa của hắn bị hỏng. Hắn chỉ muốn tác oai tác phúc một lát cho vui thôi, nhưng Sỏi không sợ oai, không cần phúc. Hắn cáu, nhưng bật cười dễ dàng như Tào Tháo:

   - Mày tác xạ khá lắm hả Tư?

   - Tôi biết bắn.

   - Tụi bay đưa nó cây M.1, cây mới nhất... Ra đây bắn tao coi.

   Hắn bước ra sân, nhìn quanh, chỉ ngón tay:

   - Mày bắn con sáo đậu trên lưng trâu kia. Một trăm thước thôi. Cho nằm bắn. Trúng tao tha, không trúng mày vô xà lim.

   Sỏi nằm xuống mép sân, tì súng vào vai.

   Sỏi rất ham bắn. Mỗi lần đế súng chạm vai là Sỏi cảm thấy ngay một dòng máu ấm từ cây súng chạy vào thân mình, như cánh tay thứ ba được chắp vào người. Sỏi lái cánh tay ấy rất dễ, chọc ngón tay nhọn của viên đạn vào bất cứ nơi nào mình muốn. Hồi anh Cả Tùy thưởng đạn các bin và cho Sỏi đi bắn tỉa đồn Tây ở Đồng Mè, các anh bộ đội đã ngạc nhiên khi thấy đứa trẻ mười ba tuổi ấy bắn giỏi lạ lùng. Bên cạnh những động tác còn vụng dại, có một cái gì như linh tính giúp Sỏi hướng ngọn súng vào đúng đầu thằng Tây lấp ló sau lỗ châu mai.

   Bây giờ khác hẳn. Đè trên tay Sỏi chỉ có một khúc sắt lạnh, một khúc gỗ trơ trơ. Sỏi ghé mắt tìm đích. Cái lỗ ngắm tròn trâng tráo nhìn lại Sỏi, nó giễu: “Mày bắn ai? Bắn sáo hay bắn trâu?”.

   Sỏi buột miệng hỏi trống không:

   - Trâu ai đó?

   Một tên dân vệ đứng cạnh cũng buột miệng đáp:

   - Trâu nhà Sáu Dõng.

   Ba Phổ lại cười, nhưng lần này rõ ra cười gằn:

   - Mày sợ trúng trâu của Việt cộng hả? Vậy làm sao mày dám bắn Việt cộng? Bắn trâu tao cũng tha. Bắn thăng thiên mày chết. Bắn!

   Lò lửa trong người Sỏi bùng lên dữ dội. Mắt Sỏi chỉ thấy máu. Chồm dậy, quay súng, mạng đổi mạng! Nòng súng rung rinh, hơi xoay chéo... Sỏi hít một hơi dài. Không được. Má và Sâm sẽ chết lây. Chao ôi, chưa được!

   Sợ kìm mình không nổi, Sỏi ấn bàn tay phải xuống cho nòng súng ngóc lên, bóp cò giật cục. Tên dân vệ kia bật kêu, lo lắng:

   - Trật rồi!

   Thằng Phổ thấy rõ nòng súng cựa quậy nhiều lần. Sỏi lại đứng nghiêm trước mặt hắn, bộ mặt đen vẫn đanh như trái mìn, đôi mắt là dây cháy chậm đang xì lửa. Phổ chột dạ. Hắn liếc quanh: bọn dân vệ đăm đăm nhìn Sỏi với vẻ thương hại, và tránh luồng mắt hắn. Mấy tên hay nịnh bợ nhất cũng không dám nhếch mép cười lấy lòng hắn. Găng lắm rồi. Hắn đi quá đà rồi.

   Tiếng cười khành khạch lại nổi lên khi hắn vỗ vai Sỏi:

   - Thử sơ bấy nhiêu, anh tha cho đó. Bạt tai một cái đủ nhớ thôi. Gác suốt đêm ai không buồn ngủ. Trả súng cho nó đi bay!

   Hắn bước lên thềm, nụ cười còn dính miệng nhưng cặp mắt lồi cau cau. Lần đầu tiên hắn không trị nổi đàn em. Xưa nay chỉ có những người cộng sản dám đương đầu với hắn. Phải chăng những đứa dưới trướng hắn bắt đầu ti toe học đòi cái gan lì của cộng sản để chống lại hắn?

   Trong nhà hội đồng, trung sĩ Huỳnh vẫn kéo dài cái thú được ngồi ghế quan tòa thuyết những tràng dài lủng củng về luân thường đạo lý. Tai hắn lắng nghe miệng hắn nói, và óc hắn nghĩ rằng hắn nói rất hay.

   Ba Phổ khoát tay:

   - Xà lim không đủ giam tù, lấy chỗ đâu nhốt lính mình. Phạt trừ một tháng lương cho kinh... À, tối nay mày tới khai thác mấy đứa tao mới bắt, hễ đánh khá tao tha phạt. Alê, tẩu!

   Huỳnh chưng hửng; đứng dậy trả bàn giấy cho Phổ.

----------------------------------------------------------
10. Lớp thanh niên sinh năm 1939 bị bắt vào lính ngụy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:07:30 PM »

8

   Ba Phổ nguyên là nhân viên ty công an tỉnh. Hắn về làm cảnh sát trưởng Kỳ Bường và bí thư chi bộ đảng “Cần lao nhân vị” đã ngót năm năm.

   Lần đầu ra mắt dân, hắn gườm gườm ngó quanh một lúc, để mọi người kịp trông rõ vóc người cao lớn, đôi vai gò về phía trước như chực chồm, hai bắp tay xăm bùa chàm, và nhất là đôi mắt lồi chạy tia đỏ của hắn. Rồi đột ngột hắn nổ ra:

   - Các người coi kỹ cái mặt mười năm chống cộng đây. Hung thần ác sát đây. Hiệp thương hiệp thiếc à? Giảm tô giảm tiếc à? Lấy ruộng lấy riếc à? Thằng này không chánh trị với các người đâu. Hễ ai còn chút tư tưởng cộng sản nào trong bụng, tôi mổ bụng moi cộng sản ra cho tiệt nọc. Cần ác là tôi ác tới chữ (11)! Hừ!

   Hắn chỉ gầm bấy nhiêu rồi bước xuống.

   Khi dạy bọn đàn em, hắn nói rất hiền và cặn kẽ:

   - Bay thấy chưa? Tao đánh phủ đầu một đòn tâm lý, tụi nó xanh mặt hết trơn. Bay đừng nói dài hao hơi. Dân ở đây tao biết, từ con nít lên ba tới bà già đi sấp đều cộng sản gốc, cộng sản toàn tòng, cộng sản từ trong trứng cộng sản ra. Bởi vậy tao mới nói xã này có bốn chục đảng viên và bốn ngàn cộng sản. May ra có số nhà ngói chịu lui tới với bay, chớ đám nhà tranh thì hằm hằm nuốt sống bay đó. Đừng có hòng dân thương. Còn lãnh việc quốc gia thì ngàn đời dân nó còn rủa. Bay muốn sống phải làm cho dân sợ. Già đòn non lẽ. Bay cứ đám đảng viên cũ là một, người nhà bọn nằm vùng nhảy núi là hai, gia đình tập kết là ba, đánh nhào đầu cho kinh cho khiếp đi. Đứa nào cứng đầu, tao cho mổ bụng lấy mật, uống thì uống, bán thì bán. Ngoài ra có mấy thằng ba gai ba ngạnh, bay cũng ghép luôn vô cái tội cộng sản mà trị cho dễ.

   Thấy bọn tay chân liếc nhau có vẻ hoảng, hắn cười:

   - Bay tưởng tao hung lắm hả? Cần ác tao mới ác. Còn giữa tụi mình với nhau, tao hiền hơn ông Phật. Đứa nào túng tiền cứ xin tao. Muốn lấy con gái nhà ai, tao kiếm cho. Ăn dầm nằm dề với tao cũng được. Đánh cộng giỏi tao thưởng. Nhớ vậy mà ăn ở, nghe chưa?

   Ba Phổ làm như đã nói.

   Chỉ một năm sau khi nhận chức, hắn đã tự tay mổ bụng hoặc cắt tiết mười bốn người kháng chiến cũ và ba người hắn muốn thủ tiêu để cướp ruộng, hiếp vợ. Hắn ác mà không hung. Lão Châu hói trán, ty trưởng công an, đã dạy cho hắn biết giết người một cách lạnh, tỉnh, thích thú. Hắn không nốc rượu say mèm hay hò hét như một số tên công an hạng tồi khác, cần hơi men hoặc cơn giận để bốc máu. Trong nhà hắn có sẵn chai rượu, bát gừng, lọ muối hầm, gói quế bột, mấy cái ống trúc gọt vát một đầu. Khi sắp giết một người khỏe mạnh, hắn gọi đàn em đến để dạy nghề “giết cộng sản có hoa tay”. Tay trái hắn tì ống trúc vào mạch máu cổ, tay phải hắn cứa ngọt một nhát dao cạo. Thịt vừa đứt, ống trúc đã nống gọn vào mạch, dẫn dòng máu tươi chảy ồng ộc vào cái liễn đựng rượu, gừng, quế, muối, có khi thêm rau răm thái vụn. Hắn ép bọn đàn em uống máu người. Nhiều đứa sợ quá không dám uống, hắn cười:

   - Thằng nhát quá ta! Thôi em cầm sơ cái ly, cụng ly với anh Ba mày cho phải phép. Vậy coi như uống rồi.

   Từng bước rất khéo, hắn làm cho đám tiểu yêu dưới quyền dần dần nhúng tay vào máu hay ít nhất cũng mang tiếng nhúng tay vào máu đồng bào, để hết hẳn đường lui.

   Hắn thích hiếp đàn bà một con hơn gái chưa chồng. Hắn giảng rành rọt:

   - Gái một con nó thay da đổi thịt coi mòn con mắt, cái đó đã đành. Tao chơi tụi nó còn là chơi chánh trị, hiểu chưa? Đàn bà ở đây, đứa nào thơm thịt một chút đều đua nhau lấy cán bộ, bộ đội Việt Minh sạch trơn. Tụi nó lại hay đi xa, sau đi tập kết, giỏi lắm đúc được một đứa con là cùng. Bay soát lại coi. Thứ gái một con trong xã mình, hễ đứa nào trơn láng nết na là vợ Việt Minh hết, còn phần tụi bay chỉ có ba con đĩ thập thành với mấy mụ ma chê quỉ hờn, nửa ngây nửa dại, đúng vậy không?

   Đợi bọn đàn em tỏ lòng kính phục xong, hắn mới dạy:

   - Tao cho bay chơi thả cửa đó. Ve được thì hay. Tụi nó không ưng, bay kêu lên lấy cung rồi mần. Tụi nó có chửa hoang mới dứt tình với đám tập kết được. Để yên cho tụi nó chờ chồng, đến khi chồng về, tụi nó nổi dậy cắt cổ bay liền một khi!

   Hắn khoe toang toang những điều như thế. Duy có một việc hắn làm kín tiếng: hắn đang thu góp lại cái gia tài họ Trịnh và cố “mở mang bờ cõi”. Cha hắn, trước làm chánh tổng hét ra lửa, có bốn chục mẫu thượng đẳng điền và ba tòa nhà ngói lớn ở Đồng Mè. Phần chú hắn được ít hơn, chừng hai chục mẫu ruộng với sáu mẫu vườn dừa. Hồi đầu kháng chiến, khi liệu bề Pháp không chiếm nổi xã Thành Bường, hắn tản cư về vùng tự do để giữ cái gia tài ấy. Đến ngày phát động giảm tô, hắn chạy theo Pháp cũng để chờ ngày quay lại với cái gia tài ấy.

   Khi mới về vùng địch, Phổ còn trẻ, chưa oán ghét kháng chiến cho mấy. Cha hắn trúng bom Pháp chết ở Kỳ Sơn, được chính quyền Cụ Hồ và bà con chôn cất tử tế. Nhà hắn bị Pháp phá lấy gạch xây bót Đồng Mè, không phải du kích phá. Hắn chỉ sợ khổ, thèm sướng. Ở vùng ta hắn thấy khổ quá. Có tiền, muốn mua chai rượu mùi hay gói thuốc thơm cũng không kiếm ra. Cả ngày chui hầm lấm lem tránh máy bay. Lại còn phải đi phá đường, đi dân công. Đến khi giảm tô, hắn thử tính, thấy mình còn nhiều tiền nhiều thóc hơn bất cứ ai trong xã. Nhưng hắn vẫn lén bán dần của cải, mua vàng, rồi nhảy về tề.

   Hắn đi được một mùa lúa, ủy ban kháng chiến mới đem ruộng đất nhà hắn tạm giao cho nông dân cày cấy, coi như ruộng vắng chủ. Nghe tin ấy, hắn tuy tiếc của cũng phải nhận rằng “Việt Minh thật là mềm dẻo”.

   Hắn ăn chơi lu bù chừng một năm. Bán hết vàng hắn đâm túng, lại sắp bị bắt vào lính ngụy. Một người bà con bảo lãnh cho hắn vào làm Sở an ninh liên bang, dặn hắn: “Ở đây, hễ thù cộng sản thì được tin cậy, ác với cộng sản thì mau tăng chức”. Hắn cần được tin, cần lên chức. Hắn tự tô vẽ thành một nạn nhân khốn khổ của cộng sản: cha bị giết, nhà bị phá, ruộng đất bị cướp. Hắn tập ác với tù chính trị. Ban đầu hắn phải uống nửa chai rượu mới đánh người được, về sau hắn chỉ uống sau khi đánh, sắp ngủ. Uống huyết người khó hơn, buồn nôn lắm, hắn cố tránh. Về sau bị bọn cùng Sở khích mãi, hắn liều uống trong khi say, quen dần. Món gan người cho nhiều gia vị cũng dễ ăn thôi.

   Với cái đà ấy, đáng lẽ hắn đã được thăng chức từ lâu nếu hắn không bị bỏ tù vì ăn cắp quỹ công. Hắn được ân xá nhân dịp Diệm lật Bảo Đại. Lão Châu, ty trưởng công an và quan thầy của hắn, gọi hắn đến giữa bữa rượu:

   - Ba Phổ à, mày ngu hết chỗ ngu. Đành rằng từ ông trên cho chí thằng dưới, đứa chó nào cũng muốn đầy túi, có điều phải lựa chỗ mà hốt bạc cắc chớ. Viện trợ Mỹ phải để cho các ngài cấp đèn trời, mày rờ vô mày chết. Phần tụi bay phải dòm xuống dưới, moi tiền của dân mà tiêu. Đừng có chê tiền trăm, khinh bạc chục. Giả sử tao cầm dầu dính tay một cú mười ngàn, tao còn lo chưa biết bị sửa lưng ngày nào. Mày bỏ túi mỗi lần một trăm, lấy trăm lần cũng cứ gọn hơ. Chẳng lẽ dân nó đâm đơn kiện mày ăn hối lộ của nó một trăm bạc sao? Bây giờ mày cầm dùi cui như cũ cái đã, rồi tao xếp chỗ cho về quận về xã mà kiếm chác. Huấn đạo thăng lại mục, phủ quan giáng tham tri (12) là vậy đó. Cho mày đi làm giàu một năm rồi tao mới nhận ơn nghĩa.

   Bài học ấy, cộng với tám tháng tù, giúp Ba Phổ quyết định hẳn con đường tiến thân. Khi Kỳ Bường khuyết chân cảnh sát trưởng, hắn chạy chọt đút lót, gạt được mấy thằng ở chi công an quận tranh ăn, được bổ về quê. Đuôi trâu không bằng đầu gà. Hắn cầm quyền sinh sát ở cái xã giàu có này, nhờ đó hắn thu ruộng đất lại khá nhanh. Có ruộng đất, hắn biếu xén đãi đằng cấp trên rộng tay hơn, được tin yêu hơn. Tiền và quyền, chức cảnh sát trưởng và ruộng đất là hai cái pê đan xe đạp nương vào nhau mà bon: hắn đạp đều hai chân. Bọn tề khác kiềng mặt hắn, lũ đàn em đua nhau theo hắn, dân ghét và sợ hắn. Tất cả đều đúng với ý muốn của hắn.

----------------------------------------------------------
11. Hết mức.
12. Ý nói: xuống cấp mà lợi, lên cấp mà thiệt.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:09:44 PM »

   Cái bóng cao lớn của tên bí thư “Cần lao nhân vị” với bùa trên tay và máu trong mắt trở nên một ám ảnh khủng khiếp đè nặng trên đất Kỳ Bường đã năm năm nay.

   Bởi vậy, sau cuộc chạm trán với Ba Phổ, Tư Sỏi lập tức được bọn dân vệ kính nể hơn trước. Một số miễn cưỡng cầm súng phục Sỏi dám bướng với ác ôn. Những tên hay bị bắt nạt thấy Sỏi đủ sức che chở cho mình. Tên tiểu đội trưởng và lũ ton hót nịnh bợ lại nghĩ khác. Chúng đoán Sỏi có thế thần gì đây nên mới cả gan đương đầu với “ông hung thần ác sát”. Có thể là công an chìm của tỉnh hay trung ương, là mật vụ, tình báo Mỹ. Cái điệu lì lì kia không phải vừa. Chúng thôi nạt nộ sai vặt Sỏi, bắt đầu gọi Sỏi bằng anh Tư.

   Cảnh sát phó Huỳnh cũng gọi Sỏi đến hỏi thêm. Tuy không ưa Sỏi ăn nói như đấm vào tai, nhưng hắn vẫn rất thú chuyện này bởi hắn bị Ba Phổ coi như rác. Hắn nghĩ có lẽ hắn sinh vào năm Sửu nên quá nửa đời người chưa bao giờ ngớt bị khinh rẻ, chèn ép. Khi biết Sỏi tuổi Thìn, hắn bỗng thấy diện mạo cậu này có những nét quí tướng. Cầm tinh con rồng mà lại! Hắn cho Sỏi nghỉ phép hai ngày liền “để chú mày ngủ đã đời một trận”.

   Sỏi đếm từng bước nặng trĩu, về nhà.

   Đôi giày vải dính xuống đất không cho Sỏi nhấc chân. Cây súng săn rất nhẹ đè lệch vai. Sỏi phải ngồi nghỉ hồi lâu bên miếu âm hồn.
   Một tuần qua, Sỏi không tạt về nhà. Chung quanh Sỏi vắng tiếng dịu dàng của má và ríu rít của em, chỉ có những tiếng thét, chửi, đùa bẩn mà Sỏi phải hứng vào tai, vì tai không nhắm được như mắt. Những bữa cơm ăn hỗn ăn giành khiến Sỏi lợm giọng, càng nhớ xót xa những đũa mắm thơm (13) xổi với cá chuồn băm mà má gắp bỏ trong chén cho con.

   Đêm ấy má hốt hoảng và Sâm đay nghiến. Sỏi phải trốn ngay, sợ phải thấy nước mắt của người thân. Sỏi sợ em hơn sợ má. Má từng trải nên hiểu bụng Sỏi. Còn Út Sâm... trong đôi mắt trong veo của Sâm, tròng đen đen láy và tròng trắng phớt xanh, không có những chỗ mờ đục pha lẫn đen và trắng như mắt người lớn tuổi. Sâm nhìn đời bằng đôi mắt ấy, không thấy mà cũng không chịu thấy những cái nhập nhằng pha trộn, Sâm nhìn Sỏi một cách đơn giản, rạch ròi, tàn nhẫn nữa.

   Làm sao bây giờ?

   Sỏi lê chân với câu hỏi ấy lộn lên lộn xuống trong người. Lúc này hễ vấp ngã, Sỏi sẽ ngủ luôn trên mặt đường.

   May quá, Sâm đang trồng khoai ngoài bãi. Má đón Sỏi tử tế Sỏi thở cái mùi nồng ấm trong căn nhà nhỏ như người nghiện hít khói thuốc: mùi áo quần cũ, khói củi, hom tre ngâm, điểm từng lúc cái hương chua ngọt khi má dỡ nắp cái liễn đựng mắm thơm xổi mà chỉ có má mới làm ngon như thế.

   Trong góc nhà, cái cuốc bàn của Sỏi rầu rĩ phơi lưỡi sắt gỉ vàng lấm tấm. Tháng chạp này một ngày làm một tháng ăn. Cả nhà trồng khoai trỉa đậu. Đây má và Sâm đang đánh luống trên bãi sông lộng gió. Sỏi gánh phân ra trút rải trên miệng luống. Chung quanh ba má con là tiếng con sông rì rào kể chuyện trăm nơi mang về, từng lúc chen tiếng cười buộc mọi người cười theo của Sâm... Đây Sâm đang thoăn thoắt ấn từng hạt đậu vào lòng đất mịn tơi cho Sỏi lấp, láu táu cười má đem vỏ đậu đổ ra đường cho người qua lại xéo nát để đậu mùa sau lên tốt hơn. Má bẻ bánh đường Minh Huy vàng trong chia cho hai anh em ăn với sắn luộc, lườm Sâm: “Tao làm vậy mới có hột cơm nuôi tụi bay lớn tới giờ”... Hôm nay Sâm cùi cụi cuốc đất một mình. Má tất bật chạy đi chạy về, gánh phân, nấu cơm, coi trâu. Trong căn nhà này suốt tuần qua hẳn thiếu tiếng cười.

   Má vừa nói chuyện vừa trút khoai khô vào nồi cơm. Sỏi rướn cổ nhìn: nồi cơm sôi nhưng bọt không lên đến miệng. Khoai mốc xám xỉn, thứ người ta bán đổ tháo năm sáu đồng một ang tha hồ lắc. Má và Sâm ăn khoai mốc thay cơm.

   Sỏi len lén rút hai tờ bạc trăm, đặt trên chõng. Đợi má ngửng lên, Sỏi nói khẽ:

   - Tôi mới lãnh nửa tháng lương...

   Má cúi xuống thổi lửa. Giọng má khô:

   - Nhà đủ ăn rồi.

   - Má may cho con Út một bộ. Áo quần nó chật hết.

   Má Bảy lặng im. Đúng là áo quần Sâm ngắn cũn cỡn, xuống lai hạ gấu bao nhiêu cũng không kịp sức lớn của Sâm. Bây giờ má mặc áo Sâm thải ra, thấy rộng thênh. Má nghe Sỏi khẩn khoản mà thương, nhưng biết Sâm sẽ giãy nảy lên nếu má nhận lương dân vệ. Má đủng đỉnh:

   - Nó có thân để nó lo liệu cho quen. Mày có nghĩ thì nộp thuế cho nó. Xâu cộng đồng kiến thiết còn thiếu bảy ngày công nữ, vị chi trăm tư nữa.

   - Kìa, đủ ba mươi ngày rồi mà?

   - Họ lật sổ nói mới hăm ba ngày. Lừa thưng tráo đấu đủ vành. Tiền của họ trả về tay họ cho xong.

   Nói riêng với Sỏi má lại gọi bọn tề là họ, không gọi tụi nó. Sỏi bắt đầu thành người lạ.

   Út Sâm đi làm về. Vẫn tiếng cười bay trước như con sáo nuôi nhớ ngõ, lọt vào nhà một lát mới thấy Sâm qua của. Sâm chào cụt lủn “Anh!”, không cười nữa. Chưa bao giờ Sỏi sợ em gái đến thế.

   Bữa cơm tối lạnh ngắt. Trời mưa nặng hạt, gió hú dưới mái nhà. Sỏi chép miệng nghĩ đến khoai nhà trồng muộn, gặp mưa đất nhão tha hồ bị sùng phá. Còn lúa nữa. Bọn xã thường bắt các gia đình loại A và B đi “tố cộng” vào vụ cấy vụ gặt, để đồng bào sốt ruột tố nhanh mà về. Nhà má thường phải cấy thật sớm, “chạy tố cộng”. Con sông Nhỡn lòng cạn bờ hẹp không chứa xuể nước mưa từ núi gần đổ xuống, hay nổi lụt trái mùa vào đầu tháng chạp, có khi cuốn băng hàng trăm mẫu lúa cấy sớm. Ba má con lại trút hết thóc giống để dành, ra giêng cấy tái giá. Liệu nhà còn giống không, hay bị lụt lại đi vay của thằng Phổ để nó cắt cổ chục rưỡi (14)?

   Má bỗng quay lại Sâm:

   - Út, pha nước cho anh đi con.

   Sỏi biết má sắp nói chuyện quan trọng. Má vốn không ưa cái thói bạ đâu nói đó, thường đợi cả nhà ăn cơm uống nước xong mới bàn việc. - Rõ ràng má và Sâm hẹn nhau đón Sỏi một cách nhẫn nại; như dạo nào má và Sỏi thì thào với nhau khi sắp tiếp bà mối hay chủ nợ. Sỏi biến thành người khách nhiễu sự để má với em phải dè chừng.

   Má thong thả kể lại những chuyện xảy ra trong tuần, từ cái đêm thằng Phổ soát nhà và anh Dõng đến thăm. Sỏi nghe, vẫn lì lì, nhưng rất ngạc nhiên. Chỉ đi vắng mấy ngày mà trong nhà đã có bao nhiêu biến động, nhiều hơn cả mấy năm Sỏi ngủ nhà. Má và Sâm khác hẳn. Giọng má đĩnh đạc, không rầu rĩ cam chịu như trước. Sâm được học chính trị với thầy Dõng, gặp cả bác Chín Chuyền. Hôm qua bọn dân vệ còn kháo nhau: “Lão Việt cộng đó được giá nhất, mỗi ký thịt hai ngàn bạc”, bởi địch treo giá bác Chín một trăm ngàn đồng. Sỏi ngửng nhìn em. Sâm ra dáng người lớn hẳn, đang ngắm Sỏi bằng cặp mắt thương và trách của người chị thấy em hư.

   Nhưng Sỏi không mừng. Câu hỏi cũ vẫn bò quanh, nhức nhối. Má chưa đả động đến việc Sỏi lãnh súng.

   - Thầy Dõng nhắn gì tôi không?

   - Anh nói... mang súng như vậy là có tội với dân với nước.

   Sỏi thấy nóng mặt:

   - Biết rồi. Tôi nghĩ nát óc mới vô dân vệ, rán ở lại xã mà đợi Cách mạng. Bây giờ thầy Dõng tính sao? Trả súng, đi quân dịch cho khuất mắt, cái đó dễ ợt, nhưng tránh đó lại gặp đăng. Hay là tôi nhảy núi. Tôi đi êm phần tôi, còn má với con Út ở lại thì sao? Tụi nó đánh lên đánh xuống, bắt đi dinh điền, chịu nổi không? Tôi lo là lo bấy nhiêu, chớ cái mạng tôi tôi đâu có kể!

   Sâm trả lời thay má. Cô em lanh chanh của Sỏi nói rành rẽ:

   - Anh Dõng nhắn anh lỡ lãnh súng thì mang tạm đó đã. Anh tìm một số bạn tin cậy nhứt, rủ họ theo Cách mạng.

   - Kéo lên núi à?

   - Không, cứ ở đây, nổi lên diệt ác ôn, phá kẹp... phá thế kìm kẹp...

   Sâm đang cố nhớ, Sỏi đã hỏi dồn như hỏi một chị cán bộ:

   - Diệt ác ôn thì dễ, sau đó tụi nó giết hết tông chi họ hàng, làm sao?

   - Giết sao được. Toàn dân khởi nghĩa mà.

   - Khởi nghĩa...

   - Y như Cách mạng tháng Tám lấy chánh quyền vậy đó. Rồi bầu ủy ban, tổ chức du kích, rào làng cắm chông, đánh gắt như hồi chín năm.

   - Đúng rồi!

   Đến lượt Sâm ngạc nhiên. Lâu lắm Sâm mới lại thấy anh cười rạng rỡ.

   Con đỉa trong người Sỏi biến mất.

   Ngay đêm ấy. Sỏi mang súng trở về trung đội dân vệ.

----------------------------------------------------------
13. Quả dứa.
14. Qua một mùa lúa, mười ang phải trả thành mười lăm ang.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:13:45 PM »

9

   Bước ra khỏi vạt sắn, Bê nghe gió sông từ mặt nước thốc lên, ấm hơn gió đồng. Rặng dừa choãi những chân vạm vỡ, vươn đầu đến các chòm sao lạnh. Cái áo trắng của Sâm thôi lắc lư, tách ra một mảng trắng vẫy vẫy, Sâm đang khoát tay ra hiệu dừng. Bê đặt gánh xuống. Sâm lùi lại, thì thào:

   - Xuồng máy đi tuần. Biệt kích quận sợ mình phá cầu.

   Tiếng rì rì đến gần. Một chiếc xuồng máy chạy lẫn trong bóng nước đen óng ánh, Bê chỉ thấy một luồng bọt trắng vọt ra phía mũi, một luồng nhỏ hơn bập bềnh sau đuôi. Một chiếc nữa. Đột ngột, ba bốn cái đèn pin - loại đèn dài, lắp sáu viên pin - cùng quét loang loáng lên bực sông. Hai chiếc xuồng chạy thẳng về phía cầu sông Nhỡn. Bọn dân vệ gác ở đấy chớp đèn ba lần làm hiệu.

   Bê xốc gánh lên vai:

   - Ta xuống, cô Út.

   - Khoan. Em hoa mắt, thấy đen thui.

   - Tại cô nhìn đèn. Lần sau phải nheo mắt lại, không tụi nó thấy đốm, lộ ngay.

   - Đốm là cái gì?

   Bê bày cho Sâm tránh đèn pha, đèn dù bằng cách che mắt và giấu hình. Sâm hỏi vặn:

   - Đốm mắt người ta giống đốm con gì?

   - Chà, tôi chưa để ý... Chắc màu xanh như đốm nai. Đốm cọp đỏ, cách xa nhau, hay chớp,

   - Trật rồi anh ơi. Đốm tụi mình giống cọp, đốm tụi nó giống chó, phải chưa? Đi hè, em thấy đường rồi.

   Sâm cười nốt một tí nữa, rồi quẩy gánh đất xuống bờ sông, nơi có một đống đất to mới lở từ trên bực cao xuống. Đất đào hầm bí mật đem trút vào đấy rất tiện. Bao nhiêu lần đào hầm, Bê chỉ lúng túng vì không tìm ra nơi đổ đất, nhất là trong mùa mưa không ai đào mương đắp đập gì để Bê đổ ghé đất của mình vào.

   Chính Sâm đã để ý chỗ lở ấy khi cấy trả công về. Hầm cũ của má Bảy sụt đổ, má lấp đã lâu. Má bàn với Bê đào hầm mới giữa hai bụi gai mây trồng làm rào vườn. Chỗ ấy rất tốt nhưng hơi gần chuồng trâu của chị Đa. Má đắn đo một lát, bảo Bê cứ đào, chị Đa có thấy cũng không báo với địch đâu. Má tin chị không bao giờ muốn hại má. Hắt vội hai gánh đất, Sâm và Bê leo lên dốc thật nhanh tránh xuồng địch. Sâm bỗng bật cười, hỏi nhỏ:

   - Sao các ảnh kêu anh là Bê dù? Trước anh đi lính nhảy dù à?

   - Họ giỡn tầm bậy, cô đừng nghe.

   Nếu là ban ngày, chắc Sâm đã thấy đôi tai to của Bê bắt đầu đỏ.

   Cái dạo mới lên căn cứ, Bê không quen đi núi cứ trượt luôn, nhưng nhờ mấy thế võ ta của cha bày nên thường gượng được, không ngã đến đất. Nhân lúc vui miệng, anh em xúm vào tán. Rằng đôi tai của Bê cản gió, Bê ngã từ từ nên kịp chống đỡ. Rằng những hôm gió to, Bê đi chậm lại rõ ràng. Rằng Bê sẽ là chiến sĩ nhảy dù đầu tiên của Mặt trận. Cái tên Bê dù có từ đấy. Anh em đùa ác thế nào lại đến tai Sâm.

   - Hay tại anh hay choàng dù ngụy trang?

   - Ờ ờ, có vậy

   Bê thoát nạn. Thật tình Bê gờm cô gái tinh quái này. Chị và em gái Bê đều hiền như khoai lang nên Bê chỉ ưa những cô kín đáo. Bởi rụt rè “nhát gái”, Bê chưa thân với cô nào cả. Đến nhà má Bảy, Bê chỉ chuyên nói chuyện với má và Sỏi, vì thế càng hay bị Sâm trêu.

   Đến hầm, Bê cúi đầu dòm xuống:

   - Sỏi ơi, để mình đào thay.

   Tư Sỏi ngẩng mặt. Bê chỉ thấy hai con mắt long lanh và một mảng bùn bết trên tóc Sỏi. Sỏi co bắp tay lên gạt tóc:

   - Tôi đào luôn. Bùn đất lấm lem hết.

   - Mình đào quen mà.

   - Áo quần anh khác cỡ tôi, giặt phơi dễ lộ. Anh cứ gánh đất.

   Đào suốt bốn tiếng đồng hồ mà Sỏi không chịu nghỉ. Tính Sỏi hễ bắt tay làm gì là làm không kể sống chết.

   Chỉ trong vài ngày, Sỏi đã kéo được tám người trong trung đội dân vệ, giao cho họ xâu chuỗi thêm. Sỏi chỉ muốn một điều: đã quyết khởi nghĩa thì khởi cho nhanh, cho mạnh, cưa đứt đục suốt! Dõng gặp Sỏi tối qua. Hai anh em rất khoái nhau. Nhưng nghe bảo đào hầm, Sỏi cãi ngay:

   - Bây giờ mà cán bộ còn trốn tránh à? Lại thì thào thậm thụt như trước à? Sao không nhào tới thằng giặc, “oánh” thí xác?

   Dõng nói lâu lắm Sỏi mới thông. Thông rồi, Sỏi đứng dậy vớ cuốc thuổng ngay. Dõng phải níu lại bàn thêm việc bắt ác ôn. Sau đó anh dặn Bê:

   - Cậu lái cho vững, thằng Sỏi làm được nhiều việc động trời đó. Nó gan mà nóng như Lý Quỳ. Phải như mấy năm trước mình không dám giao công tác cho nó đâu, lộ thấy cha. Bây giờ sắp khởi rồi, cái táo bạo liều lĩnh của nó lại rất cần. Thiếu thanh niên đừng hòng khởi!

   Trong đội công tác, Bê được giao một mình chuẩn bị đồng khởi tại Kỳ Bường, nắm chi bộ bí mật mới được thành lập.

   Xã “trọng điểm tố cộng” này có bốn ngàn dân, có chợ, ga, bến sông, hai đường ôtô. Địch rất dày, đủ tầng, đủ lớp: thôn có “thanh niên diệt cộng”, xã có dân vệ, quận có biệt kích, tỉnh có bảo an, trung ương có quân chính qui đóng gần. Bê không phải dân trong xã, lạ người lạ đất, Bê nhận nhiệm vụ mà rởn tóc gáy, sợ hỏng việc. Bê vẫn có thói quen lãnh nhiệm vụ nặng hơn sức mình một chút để buộc mình vươn lên, khi cõng gạo cũng như gánh phong trào một xã.

   Trong buổi họp đầu của chi bộ, các đồng chí đều thấy anh bí thư mới sao trẻ quá, e chỉ làm được vai trò liên lạc giữa chi bộ với huyện ủy. Cái ý nghĩ ấy biến đi khá nhanh. Bê mới 23 tuổi nhưng công tác đã sáu năm ở Đà Nẵng, thoát ly ba năm. Chị Năm Tân phó bí thư là người đầu tiên phục Bê giỏi. Khác với một số cán bộ trẻ chỉ đủ sức lo từng việc, Bê có cách nhìn rộng, đều các mặt, và khá sâu. Bên cạnh cái vốn kinh nghiệm riêng, ở Bê còn có ảnh hưởng của cha, của nghề thợ nguội, và nhiều nhất của anh Chín Chuyền. Cộng vào đó là cái dũng cảm tỉnh táo của người thanh niên mang thù sâu với giặc, luôn luôn nghĩ cách tiến công. Bê đã chinh phục được lòng tin của các đồng chí lâu năm trong Đảng, một điều thật không dễ. Họ không đòi gặp anh Dõng hay đợi thư anh Dõng rồi mới làm, như thường xảy ra ở vài chi bộ khác.

   Qua được bước đầu tiên, Bê lại vấp khó khăn mới.

   Một số cơ sở Mặt trận chưa tin đồng khởi sẽ chắc ăn. Uất ức đấy, muốn vùng lên đấy, nhưng sau đó có giữ nổi chính quyền không, hay lại chết chùm với nhau? Làm cách mạng đâu phải là thí mạng! Bị địch vùi dập đến mệt lử rồi, họ đâm ngại những hành động táo bạo, ngại tuyên truyền lớp trẻ, ngại họp nhau lại thành tổ chức to. Họ muốn giữ lòng trung thành với dân với nước như hòn than hồng phủ dưới tro. “Hễ bung là bể”, họ nghĩ vậy.

   Trái lại, số đông thanh niên mới gặp Cách mạng lần đầu cứ ầm ầm đòi khởi ngay, nổ lập tức, đánh tuốt mí một keo tới đâu thì tới. Ai còn tần ngần, họ đòi đưa ra khỏi Mặt trận: “Các ông bà đó là bô lão, kẹp dù, kinh cung chi điểu, cách miệng chớ cách mạng gì! Cho về hưu thôi!”.

   Bê với chị Năm phải khuyên nhủ thật khéo và thật gấp cho kịp cái hạn đồng khởi tính bằng ngày chứ không phải bằng tháng. Đến đây, Bê chịu tài chị Năm. Chị đi lại dễ dàng, gặp cơ sở hàng ngày. Những người còn đắn đo rất tin chị, bởi xưa nay chị đã cùng họ nếm đủ mùi cay cực, và sau này chị vẫn cùng hai con bám chắc đất Kỳ Bường chứ không thể vác ba lô về núi nếu khởi nghĩa không thành. Chị có tính mạng ba mẹ con để bảo đảm cho lời nói của chị. Rất nhẹ nhàng, chị thổi bùng lên ngọn lửa đốt rừng từ đốm đỏ của những nén hương nhớ tiếc tuyệt vọng, và chị cũng phải che bớt ánh lửa của các lò bốc quá sớm.

   Chủ trương đồng khởi thấm vào chi bộ và cơ sở Kỳ Bường, cũng gây náo động thầm lặng trong gia đình má Bảy. Má nghĩ nhiều, rất nhiều. Sỏi hăng và nóng vội. Còn Út Sâm cứ cười đủ bốn đồng tiền chấm phẩy: “Nói nhiều em chẳng nhớ đâu. Các anh chị biểu gì em làm nấy, nhứt định làm được”. Ba má con cùng đi vào đồng khởi theo kiểu của mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM