Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Mười Một, 2022, 08:27:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bộ Tổng tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây  (Đọc 66670 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 07:14:56 am »

Bàn về nội dung lãnh đạo xây dựng cơ quan trước khi bước vào mùa khô, Hội nghị cán bộ Bộ Tổng tham mưu giữa tháng 5-1947 nhận thấy cần đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ một cách toàn diện, cả về phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị, kiến thức quân sự và nghiệp vụ. Mặc dù thời gian qua, số đông cán bộ mới được điều về đã tốt nghiệp các trường quân sự hoặc đã kinh qua chiến đấu, nhưng trình độ nói chung là không đồng đều, nhất là kiến thức nghiệp vụ công tác tham mưu và sự hiểu biết về đường lối kháng chiến, vận dụng vào việc phục vụ chỉ đạo, chỉ huy. Do đó, hội nghị thấy rằng trong công tác lãnh đạo của Đảng cũng như trong việc tiến hành ở từng phòng, ngoài việc lãnh đạo mọi người đoàn kết, tích cực công tác, sinh hoạt gương mẫu, đề cao ý thức phòng gian giữ bí mật, xây dựng quan hệ quân dân, tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống, v.v., từng phòng và toàn cơ quan Bộ Tổng tham mưu cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo việc học tập của cán bộ.

Vấn đề đặt ra thảo luận trong hội nghị là học gì cho thiết thực đối với chức năng và nhiệm vụ của toàn cơ quan và từng bộ phận; tổ chức từng đợt học tập như thế nào để anh em có thể thay nhau học tập đầy đủ?

Trước hết, ngay trong đợt đầu, cần tổ chức cho cán bộ nghiên cứu đường lối kháng chiến của Đảng. Từ đầu tháng 3 vừa qua, trên tờ Sự thật, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã bắt đầu viết một loạt bài giải thích về nhiều vấn đề như: đối tượng, mục đích, tính chất của cuộc kháng chiến; đường lối, phương châm chiến lược, chiến thuật, v.v. Từng phòng tổ chức thành tổ học tập, nghiên cứu các bài viết trên, nhất là phần kháng chiến về mặt quân sự. Yêu cầu học tập đặt ra trước hết làm làm cho anh em nắm vững đường lối kháng chiến của Đảng là đánh lâu dài, vừa đánh vừa bồi dưỡng và phát triển lực lượng; giúp cho cán bộ khắc phục những nhận thức không đúng đắn, làm cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngay trong đợt 1, toàn cơ quan tổ chức một ban chỉ đạo học tập do đồng chí Đào Văn Trường phụ trách(1). Từng phòng có trách nhiệm bảo đảm cho mọi cán bộ đều thay nhau nghiên cứu học tập các bài viết của Tổng Bí thư.

Về mặt nghiệp vụ, trước mắt để giúp đỡ các cán bộ mới được điều về nhanh chóng nắm được công việc, cần bố trí xen kẽ cũ mới, xen kẽ giữa những người đã qua trường đào tạo và những người chưa được bồi dưỡng tại trường. Hằng quý và nhất là sau khi hoàn thành một bước công tác, các phòng cần tổ chức rút kinh nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ lên đồng đều, sẵn sàng thay thế nhau khi cần thiết để mỗi khi có người được phái đi các chiến trường và đơn vị vẫn bảo đảm công việc của từng bộ phận không bị gián đoạn.

Riêng về phần mình, dự kiến mùa khô đến, thời gian eo hẹp vì công việc sẽ rất khẩn trương, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái quyết định hoàn thành việc biên soạn tập sách về Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngay trong mùa hè này. Anh cho rằng, cuốn sách một khi hoàn thành, sẽ góp phần vào việc giáo dục chính trị tư tưởng, cụ thể là giáo dục về truyền thống cho bộ đội.

Khi còn ở Trường Quân chính trên Tân Trào, ngay từ khóa 1, qua các bài viết trên tờ báo tường của trường, anh đã phát hiện trong số học viên, Trần Trọng Trung là người có khả năng giúp anh về việc này. Được điều từ Khu giải phóng về Bộ Tổng tham mưu ngay sau Tổng khởi nghĩa, ngoài những công việc của người thư ký giúp việc anh hằng ngày, anh đã kể lại cho Trần Trọng Trung ghi lại toàn bộ “sự kiện Quân Giải phóng” từ khi thành lập đến ngày tiến quân xuống Tuyên Quang, Thái Nguyên trong cao trào Tổng khởi nghĩa. Bản thảo được người thư ký “chấp bút” coi như cơ bản hoàn thành và đánh máy sạch sẽ từ trước khi cơ quan chuyển xuống ấp Thái Hà. Dùng từ “chấp bút” thì chỉ đúng với những công trình Trần Trọng Trung giúp anh biên soạn sau này. Còn bản thảo cuốn Quân giải phóng viết cuối năm 1946, nói nôm na là anh Thái kể, Trần Trọng Trung ghi nhanh, sắp xếp lại, viết dần từng phần rồi đưa anh Thái cho ý kiến (đôi khi rất cụ thể) để có hướng sửa chữa, hoàn thành.

Có một chi tiết khó quên, đó là khi anh bảo sửa mấy từ mà người “chắp bút” xem ra đắn đo mãi, không thông. Đó là đoạn viết về hoạt động của Quân giải phóng sau trận Phay Khắt. Đêm đó bộ đội lên đường để chuẩn bị hôm sau đánh trận Nà Ngần. Trong bản thảo, người “chắp bút” viết: “bộ đội lạnh lùng xuất quân, bước vào trận chiến đấu mới”. Anh Thái hỏi: Sao lại lạnh lùng? Người “chắp bút” trả lời: Trong một bài hành khúc đang rất thịnh hành (ý nói Bài ca chiến sĩ Việt Nam của Văn Cao) có câu: “Bao chiến sĩ anh hùng - Lạnh lùng vung gươm ra sa trường”, tôi mượn ý ấy. Đúng là một dòng suy nghĩ “tiểu tư sản”. Anh Thái không đồng ý, bảo cần thay bằng một từ gì đó cho nó có khí thế hơn. Người thư ký trù trừ rồi cuối cùng đành chấp hành…

Giờ đây, mặc dù công việc chuẩn bị bước vào mùa khô rất bận, nhưng Tổng Tham mưu trưởng đã dành một tuần để cùng người thư ký duyệt lại bản thảo lần cuối cùng để đưa đi in. Anh Văn Tiến Dũng, Cục trưởng Cục Chính trị Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy rất hoan nghênh và cho rằng đây là tài liệu lịch sử đầu tiên có tác dụng giáo dục truyền thống cho bộ đội. Bản thảo được Cục Chính trị duyệt ngay và đưa sang Nhà xuất bản Vui sống, chỗ anh Từ Giấy. Tổng Tham mưu trưởng vui lòng vì đã làm xong một việc nhỏ trước khi bước vào thu đông. Đây là cuốn sách đầu tiên của anh và cũng là cuốn sách đầu tiên Trần Trọng Trung chắp bút cho anh. Phải sang đầu năm 1948 cuốn sách in bằng giấy dó, chỉ dày 82 trang, nhan đề Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Lịch sử thành lập và những chiến công đầu tiên, mới được gửi xuống các trung đoàn, vì từ mùa hè năm 1947 mọi ngành, mọi cơ quan đều bị hút và chuẩn bị kế hoạch thu đông(2).


(1) Đồng chí Đào Văn Trường - chiến sĩ Cứu quốc quân từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn - được điều về Bộ Tổng tham mưu phụ trách Phòng Tác chiến từ mùa hè năm 1947, sau đó (1949) làm Tổng Tham mưu phó.
(2) Hiện nay cuốn sách còn được lưu trữ tại Thư viện Trung ương Quân đội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:22:49 am »

CHƯƠNG VI

CHUẨN BỊ BƯỚC VÀO THU ĐÔNG

I

Ngay sau khi hoàn thành kế hoạch “tổng giao chiến” trong các thành phố, thị xã, Tổng Chỉ huy đã từng nói với Tổng Tham mưu trưởng về khái niệm chiến tranh mùa và gợi ý về phương hướng chuẩn bị kế hoạch thu đông. Dựa vào ý kiến của anh Văn, anh Thái suy nghĩ về những việc cần tập trung giải quyết để khắc phục những yếu kém vừa qua nhằm giúp trên chỉ đạo toàn quân bước vào mùa khô đầu tiên của cuộc kháng chiến. Ví dụ: xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nhằm nâng trình độ hệ thống tham mưu từ trên Bộ xuống cấp trung đoàn trước yêu cầu phát triển của chiến trường; trong chỉ đạo xây dựng lực lượng cũng như chỉ đạo tác chiến, làm thế nào để quan tâm cả bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, nhất là phải tìm biện pháp phát động được chiến tranh du kích, triển khai được thế trận toàn dân đánh giặc; trước mắt phải nghiên cứu âm mưu và thủ đoạn quân sự của địch và dự kiến cách đánh của ta trong thu đông, v.v.

Điều khiến Tổng Tham mưu trưởng suy nghĩ và thường trao đổi với cán bộ phụ trách các phòng nghiệp vụ là làm sao cho cán bộ Bộ Tổng tham mưu cũng như hệ thống tham mưu trong toàn quân vững mạnh về tổ chức và tinh thông nghiệp vụ, nhất là phải khắc phục được những hạn chế về biện pháp nắm và phân tích tình hình địch, ta đúng với thực tế trên chiến trường để giúp trên chỉ đạo, góp phần cùng toàn quân giành thắng lợi trong thu đông này. Riêng với cán bộ tham mưu của Bộ, điều nổi lên mà các anh thấy cần sớm khắc phục không chỉ là những yếu kém cụ thể về nghiệp vụ như các hội nghị quân sự toàn quốc đã chỉ ra. Tổng Tham mưu trưởng cho rằng điều cần thiết là phải vừa bồi dưỡng những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến như đợt học tập vừa qua, giúp anh em nắm vững những chủ trương chiến lược của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy, đồng thời phải tạo điều kiện để anh em nắm được những vấn đề nóng bỏng do chiến trường đặt ra.

Bước vào mùa hè, Tổng tham mưu trưởng chỉ thị tổ chức thêm một đợt học tập trong phạm vi hẹp, chủ yếu là cán bộ các phòng có nhiệm vụ trực tiếp giúp việc chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và xây dựng lực lượng. Yêu cầu của đợt học tập này là, sau khi thảo luận và khẳng định những kinh nghiệm chỉ đạo trong đợt chiến đấu trong thành phố và mấy tháng đầu năm, cần để anh em đi sâu thảo luận, nghiên cứu nhằm quán triệt các huấn lệnh về Du kích vận động chiến (ban hành ngày 1-2-1947), Nghị quyết hội nghị khu trưởng ngày 25-3-947, phần quân sự trong Nghị quyết hội nghị cán bộ Trung ương, tháng 4-1947, v.v Sau đó, sẽ tổ chức thêm một đợt nghiên cứu nghị quyết hội nghị dân quân du kích toàn quốc (sẽ họp cuối tháng 5) và hội nghị quân sự toàn quốc (sẽ họp vào trung tuần tháng 6)…

Vì nội dung học tập cá đợt này là những văn kiện chứa đựng nhiều điều cơ mật, nên danh sách cán bộ được tham gia nghiên cứu phải do Ban học tập đề nghị và Tổng Tham mưu trưởng thông qua.

Như sau này nhiều đồng chí cán bộ cũ của Bộ Tổng tham mưu nhớ lại, thực tế cho thấy việc tổ chức học tập nhằm bồi dưỡng kiến thức toàn diện cho cán bộ là một chủ trương đúng đắn. Việc nghiên cứu các văn kiện quân sự của Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy đã mở rộng sự hiểu biết của anh em về âm mưu chiến lược, thủ đoạn tác chiến của địch và những vấn đề liên quan đến chỉ đạo, chỉ huy của cơ quan tham mưu chiến lược, liên quan đến tổ chức và chỉ đạo hoạt động của từng phòng nghiệp vụ. Các cuộc thảo luận đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng, nhất là về cách đánh của địch và những thiếu sót cần khắc phục của ta.

Khi địch đánh rộng ra ngoài các thành phố, chúng rút binh lực nơi này tập trung đánh nơi khác, sau đó lại rút bớt binh lực ở nơi đã chiếm để tiếp tục đánh rộng ra. Thủ đoạn phổ biến của địch là dùng bộ binh cơ giới hóa, bằng cách bao vây vu hồi, từ nhiều hướng tiến công vào một điểm. Dùng xe tăng, cơ giới để tiến công, địch còn nhằm mục đích uy hiếp nhân dân, phá cơ sở kho tàng của ta, làm cho bộ máy kháng chiến ở cơ sở của ta phải bối rối, từ đó có hiện tượng “vỡ mặt trận”, thậm chí có nơi bộ đội tan rã. Trong khi đó, bộ đội ta phổ biến là theo cách đánh trận địa (tư tưởng trận địa chiến), phân tán lực lượng, phân tán cả người và vũ khí để giữ đất. Thời kỳ đầu khi đánh rộng ra, chúng ta chưa nghiên cứu tốt biện pháp có hiệu quả nhằm hạn chế hoạt động của cơ giới địch bằng phá hoại giao thông, làm vật chướng ngại, phối hợp với bộ đội chuyên môn đánh cơ giới. Bộ đội chủ lực lại thiếu một quan điểm căn bản của chiến tranh nhân dân là phát triển và bồi dưỡng, dìu dắt lực lượng dân quân du kích để quấy rối, tiêu hao, làm chậm bước tiến của địch, bảo vệ địa phương. Các cơ quan, kho tàng, vật liệu không được đưa vào nơi an toàn, thông tin liên lạc, báo động không kịp thời. Do tư tưởng trận địa chiến, nghĩ rằng mặt trận sẽ thay đổi rất chậm, nên khi bị địch dùng cơ giới tiến công bất ngờ, cấp chỉ huy trở nên lúng túng bị động trước tình hình chiến sự chuyển biến rất nhanh.

Ngoài nguyên nhân chính trên đây, các văn kiện của Bộ còn chỉ ra những yếu kém của công tác tham mưu ở cơ sở mà cơ quan tham mưu chiến lược cần nghiên cứu chỉ đạo khắc phục. Ví dụ: tổ chức liên lạc không vững chắc, thiếu chuẩn bị địa điểm dự bị, thiếu giao thông bí mật, tình báo rất kém, tin tức thiếu chính xác, kịp thời và rõ ràng, làm cho chỉ huy không nắm được địch, không hiểu được tình thế để vận dụng cách đánh linh hoạt; cơ quan chỉ huy nặng nề, bộ đội không gọn gàng, không quen cơ động khi tập trung khi phân tán, lại không nắm vững địa hình và đường sá ngay cả trên địa bàn hoạt động của mình, nên cơ động lực lượng chậm chạp khó khăn; công tác kiểm tra chấp hành mệnh lệnh không chính xác, dưới báo cáo sai, trên không biết để xử lý kịp thời, v.v.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:24:40 am »

Trong một buổi hướng dẫn cán bộ tham mưu học tập, khi nói về những nhược điểm và thiếu sót trên đây, Tổng Tham mưu trưởng nói với anh em:

- Thực tế trên đây phản ánh một phần trình độ của ngành tham mưu cấp dưới rất cần sự giúp đỡ của chúng ta để khắc phục những điểm yếu trên đây. Mà muốn giúp đỡ được cơ quan tham mưu ở cơ sở, tình hình đòi hỏi chúng ta phải vươn lên nhiều hơn nữa để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo ngành dọc, nhất là tham mưu cấp trung đoàn.

Về mặt chiến thuật, mặc dù lúc này (hè 1947), khái niệm “du kích vận động chiến” ở mức độ nào đó còn chưa được xác định hoàn chỉnh(1) nhưng qua nghiên cứu hai bản huấn lệnh ngày 1-2 và 6-3-1947, cán bộ Bộ Tổng tham mưu đều nhất trí với trên: “Phải dùng ngay chiến thuật du kích vận động chiến một cách mạnh dạn”, đồng thời cũng nhất trí với những điểm sau đây đã được xác định trong các huấn lệnh trên: “Phải tập trung bộ đội, củng cố tinh thần bộ đội, dùng lối hành binh (cơ động lực lượng) rất nhanh chóng, rất bí mật, đánh mạnh vào những chỗ địch tương đối yếu hoặc mới chiếm, chưa củng cố vị trí, xong đó lập tức rút lực lượng đi đánh nơi khác… Làm như vậy thì có nơi phải bỏ đất, không phải đâu cũng chặn (địch) mà giữ (đất), vì vậy không cương quyết bạo dạn thì không làm được”.

Liên hệ với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tham mưu chiến lược, vấn đề đặt ra với Bộ Tổng tham mưu là phải làm sao giúp ngành tham mưu ở cơ sở đáp ứng được yêu cầu của “du kích vận động chiến” như đã được nêu lên trong huấn lệnh. Cụ thể là: “liên lạc phải nhanh chóng, vững chắc, tình báo phải chính xác, đầy đủ, kịp thời; trang bị của bộ đội phải gọn gàng, để có thể sẵn sàng cơ động, bộ đội phải hành quân giỏi cả ban ngày và ban đêm, phải biết giữ bí mật hành động. Về mặt chỉ huy, phải giúp cho cán bộ chỉ huy biết tập trung bộ đội đánh từng trận lớn (đánh có điều tra, có chuẩn bị, đánh chắc thắng, chứ không như trận tiến công của Trung đoàn 66 vào thị xã Hà Đông hồi đầu tháng 3); phải chỉ đạo cho đơn vị biết phân tán một số bộ đội để phối hợp với dân quân du kích; giúp đỡ xây dựng phong trào dân quân mạnh mẽ để thường xuyên tiêu hao, quấy rối quân địch. Về mặt tổ chức, trang bị, phải tập trung vũ khí nặng, xây dựng và huấn luyện những đội chuyên môn dùng bom, địa lôi để đánh chiến xa địch, kết hợp với việc mở rộng ngăn sông, phá đường, đắp ụ chướng ngại trên đê…

Qua các buổi nghiên cứu các văn kiện quân sự theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo học tập, anh em đều thấy rất nhiều vấn đề cơ bản liên quan đến công tác chỉ huy đã được trên nhận định, đánh giá và chỉ ra phương hướng khắc phục, cả về chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng. Rõ ràng yêu cầu đặt ra với Bộ Tổng tham mưu là phải củng cố tổ chức, nâng cao trình độ nghiệp vụ, bám sát diễn biến của tình hình, hướng xuống đơn vị để giúp trên chỉ đạo kịp thời, nhằm biến những chủ trương chiến lược đó thành hiện thực trên chiến trường. Đó cũng chính là kết luận và lời động viên của Tổng Tham mưu trưởng khi sơ kết đợt bồi dưỡng cán bộ mùa hè năm 1947. Kết quả học tập và những lời động viên của anh Thái trở thành cơ sở để từng phòng liên hệ đối chiếu với thực tế của mình, bàn bạc tìm biện pháp khắc phục những yếu kém về nghiệp vụ chuyên môn ngành dọc và những điều bất hợp lý trong mối quan hệ hợp đồng giữa các bộ phận.

Từng bước tiến bộ và trưởng thành của các bộ phận đã được anh Thái động viên kịp thời. Anh chị em cán bộ Bộ Tổng tham mưu nhớ mãi bài phát biểu của Tổng Tham mưu trưởng trong cuộc họp mặt toàn cơ quan vào hạ tuần tháng 6, nhân dịp sơ kết công tác sau nửa năm kháng chiến toàn quốc và sơ kết đợt học tập. Sau khi nhận xét tóm tắt tình hình chung và biểu dương bước tiến bộ và thành tích toàn cơ quan 6 tháng vừa qua, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thu đông sắp tới, anh Thái nói:

- Mùa hè đang qua đi rất nhanh. Thu đông sắp đến. Để chuẩn bị bước vào mùa khô, chúng ta phải chạy đua với địch trong mấy tháng sắp tới. Chúng có nhiều bình lực và phương tiện chiến tranh hiện đại hơn ta. Âm mưu của địch trong thu đông rất thâm độc. Thực tế đó đòi hỏi mỗi chúng ta phải cô gắng vươn lên, phải tiến bộ hơn nữa để quyết giành phần thắng trong mùa khô này, lập thành tích kỷ niệm một năm kháng chiến toàn quốc và ba năm ngày thành lập quân đội.

Tuy lúc này một số anh em chưa có cơ sở lý luận và thực tiễn để suy nghĩ thật sâu sắc, nhưng mọi người đều thấy những lời trên đây của anh Thái không chỉ là lời động viên của đồng chí lãnh đạo cơ quan mà còn là một mệnh lệnh, một sự đòi hỏi đối với từng người và từng bộ phận trong những ngày sắp tới, mặc dù lúc này chưa ai hình dung được cuộc thử thách trong mùa khô sẽ quyết liệt như thế nào!


(1) Khái niệm “du kích vận động chiến” được Bộ Tổng chỉ huy giải thích trong tài liệu Tiến mạnh sang giai đoạn mới (xuất bản năm 1948) như sau: “Các chiến thuật mà quân đội chính quy ta thường dùng là du kích vận động chiến, không phải là du kích chiến vì lực lượng huy động tương đối lớn, vì mục đích nhằm tiêu diệt hơn là tiêu hao, nhưng cũng chưa phải là vận động chiến, vì điều kiện kỹ thuật và giáo luyện của quân đội ta còn kém, vì phạm vi tác chiến chưa rộng lớn lắm, lại vì hình thức chiến đấu có khi là bao vây, vu hồi, nhưng cũng có khi là phục kích, tập kích, mà cũng có khi là phối hợp tất cả các hình thức ấy. Trong quá trình chiến tranh, du kích chiến phải phát triển thành vận động chiến. Hai chiến thuật khác nhau ở trình độ phát triển. Chiến thuật du kích vận động của bộ đội ta (lúc này) ở quãng giữa trên quá trình phát triển ấy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:25:14 am »

II

Với Sắc lệnh ngày 1-5-1947 về tổ chức Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam và Nghị định ngày 30-5 của Bộ Tổng chỉ huy về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu, mối quan hệ giữa các phòng đã được xác định rõ thêm một bước. Riêng Phòng Tác chiến đã hình thành các tổ như: Tổ Tin tức, Tổ Lưu động (phái viên tác chiến), Tổ Đồ bản, Tổ Nghiên cứu. Nhiệm vụ của Phòng Trang bị - Cấp dưỡng (tức Phòng Quân nhu - Kế toán trước đây) cũng được xác định rõ, là phối hợp với các ngành hậu cần của Bộ Quốc phòng để thống nhất kế hoạch đáp ứng yêu cầu vật chất chiến đấu cho bộ đội. Từ ngày 19-7, khi cơ quan quân sự tối cao tách thành hai bộ: Bộ Tổng Chỉ huy (Bộ trưởng - Võ Nguyên Giáp) chuyên lo chỉ đạo xây dựng quân đội và chỉ huy tác chiến và Bộ Quốc phòng (Bộ trưởng - Tạ Quang Bửu) chuyên lo hành chính quân sự và sản xuất quốc phòng) thì mối liên hệ giữa chuẩn bị kế hoạch tác chiến và chỉ huy chiến đấu với nhu cầu vật chất bảo đảm kế hoạch tác chiến đã dần dần đi vào nền nếp hơn.

Riêng Bộ Tổng tham mưu, vào giữa năm 1947, quân số đã lên tới hơn 100 người, trong đó có một số cán bộ tốt nghiệp các Trường võ bị Trần quốc Tuấn, Quân chính Bắc Sơn, Lục quân Quảng Ngãi và cán bộ đã kinh qua chiến đấu được điều về. Qua các đợt học tập và nhất là qua rút kinh nghiệm trong thực tế công tác, trình độ nghiệp vụ đã được nâng lên một bước quan trọng so với những ngày đầu kháng chiến. Nhưng một tình hình phổ biến trong các phòng nghiệp vụ là trình độ không đồng đều. Sự tin thông và sáng tạo trong nghiệp vụ nhiều hay ít thể hiện rõ nhất trong sự chênh lệch về kiến thức quân sự, kinh nghiệm chiến trường và trình độ học vấn. Tình hình đó đã được Tổng Tham mưu trưởng phân tích làm cơ sở cho từng phòng thấy được phương hướng cũng như đối tượng nào cần bồi dưỡng và bồi dưỡng nội dung gì, để thu hẹp dần khoảng cách về trình độ trong một phòng và giữa các phòng nghiệp vụ. Do xác định đúng phương hướng và biện pháp bồi dưỡng cán bộ trong thực tế công tác mà cơ quan tham mưu bước vào thu đông 1947 với một đội ngũ cán bộ được coi là tương đối “đều tay - đều việc”

Đối với hệ thống tham mưu cấp khu và trung đoàn, ngoài việc giao nhiệm vụ cho các phòng nghiệp vụ có trách nhiệm bồi dưỡng hệ thống dọc của mình, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng cũng thường nhân các lần gặp cán bộ chỉ huy các khu và trung đoàn mà nhắc nhở trách nhiệm chỉ đạo ngành tham mưu của cấp chỉ huy khu và trung đoàn. Tại Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba (trung tuần tháng 6), sau khi biểu dương những cố gắng và tiến bộ của tham mưu Khu 3 và Khu 12, Tổng Tham mưu trưởng đã nêu lên những yếu kém cần khắc phục trước khi bước vào thu đông. Về mặt tổ chức, ngay từ đầu năm 1947, Hội nghị quân sự lần thứ nhất đã ra nghị quyết thành lập phòng tham mưu khu, nhưng trải qua nửa năm, nhiều nơi cơ quan tham mưu vẫn chưa hình thành hoặc chưa có cán bộ phụ trách. Nền nếp nắm tình hình và báo cáo định kỳ (10 ngày) còn nhiều thiếu sót, cả về nội dung cũng như về nền nếp hành chính quân sự: báo cáo không đều, chất lượng kém, không có chữ ký của người phụ trách, nội dung thiếu sự phân tích, chọn lọc, so sánh, nhận xét, v.v. Tổng Tham mưu trưởng đã dẫn ra báo cáo của một khu để làm ví dụ: Báo cáo của trinh sát nói vị trí X của địch do một tiểu đội nắm giữ. Nhưng khi quân ta tiến công thì “ba khẩu 12,7 mm, một khẩu súng cối 81 mm và nhiều súng thmpson, carbine bắn ra quyết liệt…”. Vậy binh lực trong vị trí này là bao nhiêu? Cuối cùng, đồng chí đề ra từng điểm cụ thể mà các khu và trung đoàn cần nhanh chóng khắc phục, cả về tổ chức, sắp xếp cán bộ, bồi dưỡng nghiệp vụ chỉ đạo hoạt động và thường xuyên nhận xét, rút kinh nghiệm để ngành tham mưu cấp khu và trung đoàn có điều kiện thực hiện được chức năng nhiệm vụ giúp người chỉ huy chỉ đạo xây dựng và tác chiến.

Từ ngày cơ quan Bộ Tổng Tham mưu lên đóng quân ở vùng Quảng Nạp - Yên Thông, công việc càng bề bộn bao nhiêu, mọi người càng cảm thấy những ngày hè qua đi nhanh bấy nhiêu. Học tập, làm công tác chuyên môn đi đôi với ổn định nơi ăn ở, theo yêu cầu nhanh chóng triển khai hàng loạt công việc mùa hè, chuẩn bị bước vào mùa khô đầu tiên, tất cả đều diễn ra với nhịp độ khẩn trương.

Tin tức cho biết trong mùa hè này, địch đang củng cố lực lượng, nghỉ ngơi, chuẩn bị cho kế hoạch quân sự sắp tới. Rõ ràng là một cuộc chạy đua đang diễn ra ngấm ngầm giữa ta và địch để giành phần thắng trong thu đông.

Tổng Tham mưu trưởng thường nhắc nhở toàn cơ quan làm sao hoàn thành đồng thời hai nhiệm vụ trong mùa hè này để tạo điều kiện thuận lợi bước vào thu đông 1. Chỉ đạo bộ đội các khu và trung đoàn luân phiên tiếp tục hoạt động nhằm “phá kế hoạch nghỉ ngơi củng cố của địch”; 2. Nhanh chóng củng cố bộ đội chủ lực, đặc biệt là chủ lực của Bộ. Lực lượng này chỉ mới gồm hai trung đoàn. Trung đoàn 147, với ba tiểu đoàn đứng chân ở ba nơi, một ở Bình Ca, cửa ngõ phía tây của căn cứ địa, một ở Vĩnh Yên và một ở vùng trung đoàn bộ ở Sơn Dương, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến. Kinh nghiệm chiến đấu của trung đoàn còn rất hạn chế, mặc dù một số cán bộ tốt nghiệp Võ bị khóa I và khóa Bắc Sơn đã được điều về bổ sung cho trung đoàn. Đơn vị thứ hai là Trung đoàn Thủ Đô, sau một thời gian chiến đấu ở phòng tuyến sông Đáy đã hành quân lên Việt Bắc. Từ tháng 5, thêm Tiểu đoàn 11 đã kinh qua chiến đấu trên mặt trận Hải Phòng - đường 5, được điều lên để xây dựng thành chủ lực của bộ.

Thực ra lúc này cán bộ Bộ Tổng tham mưu chưa có lý luận và kinh nghiệm thực tế về biên chế, tổ chức, trang bị, huấn luyện một đơn vị chủ lực, nhất là chủ lực tương lai sẽ trở thành dự bị chiến lược của Bộ thống soái. Nhưng trên dưới đều thấy cần phải củng cố về mọi mặt các đơn vị hiện có để hình thành trong tay Bộ Tổng chỉ huy một lực lượng mạnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:26:10 am »

Mở đầu việc xây dựng chủ lực của Bộ được đánh dấu bằng một cuộc họp mà hồi đó chúng tôi thường gọi là Hội nghị Phú Minh, họp vào tháng 5-1947. Địa điểm hội nghị là thôn Phú Minh (Đại Từ - Thái Nguyên), nơi đóng quân của Tiểu đoàn 11 vừa từ khu 3 lên. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng chủ trì cuộc họp. Thành phần tham dự gồm cán bộ quân chính từ cấp đại đội trở lên của Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 147 và Tiểu đoàn 11. Đó là những đơn vị lúc này đã được coi là “chủ lực của Bộ”.

Là cuộc họp bàn về xây dựng bộ đội chủ lực nhưng thực chất đây là một hội nghị tập huấn. Tổng Tham mưu trưởng muốn nhân dịp này truyền đạt cho cán bộ một số hiểu biết cơ bản về xây dựng và quản lý bộ đội, nhằm khắc phục những nhận thức không đúng đã xuất hiện trong các đơn vị chủ lực trên đây. Về mặt tổ chức, đồng chí giải thích tại sao có Sắc lệnh 47 ngày 1-5-1947, vì sao cơ quan chỉ huy tối cao lại đổi là Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam, quân đội quốc gia của ta là quân đội như thế nào… Về chiến lược, vì sao cán bộ cần quán triệt chiến lược đánh lâu dài, từng bước chuyển yếu thành mạnh, càng đánh càng mạnh. Tổng Tham mưu trưởng đã dựa vào tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Trung ương về một loạt vấn đề mới đây của Tổng Bí thư Trường Chinh về cuộc kháng chiến mà giải thích cho cán bộ tham mưu dự hội nghị.

Đồng chí lý giải vì sao đề cấp vấn đề đánh lâu dài trong cuộc họp này? Lãnh đạo đã biết có những đơn vị bộc lộ tư tưởng ngại chiến đấu lâu dài gian khổ, nhất là trên chiến trường rừng núi Việt Bắc, vì thời tiết, khí hậu, địa hình, vì sinh hoạt kham khổ. Có cán bộ thuộc Trung đoàn Thủ đô muốn trở về quanh vùng Hà Nội. Tiểu đoàn 11 mới lên Việt Bắc cũng sớm tỏ nguyện vọng được trở lại chiến trường Khu 3. Tiểu đoàn 18 (Trung đoàn 147) không muốn đứng chân ở vùng Bình Ca - Đa Năng vì sốt rét nhiều, sức khỏe giảm sút, v.v.

Trong bài phát biểu của mình, Tổng Tham mưu trưởng giải thích về lực lượng so sánh hiện nay giữa ta và địch, về yêu cầu đánh lâu dài để từng bước chuyển hóa lực lượng ngày càng có lợi cho ta để đi đến thắng lợi cuối cùng, giải thích về vai trò và vị trí chiến lược của bộ đội chủ lực, nhất là chủ lực của Bộ, về phạm vi hoạt động của nó là “trong cả nước”, không phân biệt chiến trường rừng núi hay đồng bằng. Bộ đội chủ lực không phải của riêng chiến trường nào, mà “Bộ chỉ đâu, bộ đội chủ lực phải đánh đấy, đánh đâu phải thắng đấy”. Muốn đánh thắng, phải xây dựng cho lớn mạnh, đánh đi đôi với rút kinh nghiệm, đánh để tiêu diệt địch và thu vũ khí, nhằm cải thiện trang bị cho mình để càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. “Vũ khí chiến lợi phẩm vẫn là nguồn bổ sung trang bị rất quan trọng đối với quân đội chúng ta trong lúc này”…

Biết rằng còn nhiều vấn đề về học thuật chưa được nhận thức rành rẽ, nên anh Thái đã dựa vào những bài viết mới nhất của đồng chí Tổng Bí thư và thực tế chiến đấu của năm qua mà gợi ý anh em những khái niệm về chiến thuật và nhất là hai vấn đề cán bộ được nghe lần đầu, đó là chiến dịch và tư tưởng chỉ đạo tác chiến… Anh nhấn mạnh vấn đề bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ tiểu đội, trung đội và việc huấn luyện bộ đội. Đó là những việc cấp bách trước mắt cần giải quyết, nhằm khắc phục những yếu kém về chỉ huy của cán bộ cơ sở, sự yếu kém của bộ đội về kỹ thuật (bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê…).

Về mặt công tác chính trị, cùng với việc thảo luận về tăng cường đoàn kết nội bộ, tăng cường kỷ luật, chống tư tưởng tự do tản mạn, chống đào ngũ, trốn trách nhiệm, hội nghị thảo luận nhiều về quan hệ quân dân. Vấn đề đặt ra là hiểu và thực hiện thế nào điều mà đồng chí Trường Chinh đã viết: Nhân dân như nước, bộ đội như cá, nhân dân là nguồn vô tận của bộ đội…

Ổn định sinh hoạt cho bộ đội, chống bệnh tật (trước hết là bệnh sốt rét) là điều kiện đặc biệt quan trọng đối với bộ đội lần đầu hoạt động trên chiến trường rừng núi trong điều kiện sinh hoạt khó khăn thiếu thốn. Vấn đề vệ sinh phòng bệnh được đặt ra và thảo luận khá sôi nổi. Làm thế nào để giữ sức khỏe cho bộ đội khi mà anh em thiếu từ cái màn đến viên thuốc ký ninh. Nhiều biện pháp cụ thể đã được nêu lên: đốt khói hun muỗi mỗi buổi tối, ăn chín, uống sôi, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, tăng sức đề kháng cho bộ đội. Từ vấn đề tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt đề ra trong hội nghị này mà Nông trường Yên Thái ra đời.

Mọi vấn đề nêu lên đều là mới mẻ, lại nêu giữa những cán bộ đang ở tuổi đôi mươi, cho nên không khí thảo luận của hội nghị thật là náo nhiệt. Ba ngày làm việc nhanh chóng trôi qua. Mọi người nhất trí về phương hướng xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, từ bổ sung quân số đầy đủ, sắp xếp lại cán bộ, tổ chức huấn luyện bộ đội và chuẩn bị một bước cho cuộc chiến đấu sắp tới, đến những việc cần làm ngay để cải thiện đời sống bộ đội, chống bệnh tật, bảo đảm quân số chiến đấu…

Những vấn đề nêu lên trong hội nghị, các ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận và kết luận cuối cùng của Tổng Tham mưu trưởng là những bài học thiết thực, bổ ích đối với một số cán bộ Bộ Tổng tham mưu tham dự hội nghị. Theo chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng, những vấn đề trên được ghi chép và sắp xếp lại thành một tài liệu về phương hướng xây dựng bộ đội chủ lực. Sau khi được Bộ Tổng chỉ huy thông qua và phê duyệt, tài liệu sẽ được trao cho các đại biểu về dự Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba dự kiến họp vào trung tuần tháng 6. Các khu cũng đang cần sự hướng dẫn để xây dựng bộ đội chủ lực của khu cũng như các trung đoàn của tỉnh.

Sau Hội nghị Phú Minh, bộ đội chủ lực của Bộ được củng cố một bước quan trọng về nhiều mặt. Sau khi có sắc lệnh của Chính phủ, đầu tháng 7 Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu xây dựng đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ, trên cơ sở hai trung đoàn và hai tiểu đoàn hiện có. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái được bổ nhiệm kiêm chức Đại đoàn trưởng(1). Việc xây dựng chủ lực của khu và việc củng cố các trung đoàn của tỉnh cũng được xúc tiến khẩn trương và bước đầu đạt kết quả tốt. Bộ Tổng tham mưu đang cùng các khu nghiên cứu xây dựng các “đơn vị đặc biệt” theo Nghị quyết hội nghị quân sự lần 2 và lần 3 (đội súng nặng; đội đánh mìn, địa lôi; đội đánh canô; đội bắn máy bay, đánh quân nhảy dù…) cùng các đội vũ trang tuyên truyền và các đội quân ngầm trong các thành phố tạm bị chiếm…


(1) Xây dựng đại đoàn chủ lực của Bộ (gọi là đại đoàn độc lập) là ý định từ mùa hè năm 1947. Nhưng ngay sau đó, nhất là khi bắt đầu chiến dịch Việt Bắc, Quân ủy đã nhận thấy đây là một chủ trương chưa thích hợp và chưa có điều kiện thực hiện, nên việc xây dựng đại đoàn chưa được xúc tiến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:27:17 am »

III

Đi đôi với việc chỉ đạo xây dựng bộ đội chủ lực, trước hết là chủ lực của Bộ, việc theo dõi và chỉ đạo phong trào dân quân du kích là một trong những mặt công tác Bộ Tổng tham mưu quan tâm, nhằm thực hiện Nghị quyết về vấn đề dân quân của Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai (họp đầu tháng 4-1947) và sau đó là Nghị quyết Hội nghị dân quân toàn quốc. Vấn đề đặt ra là làm sao để bộ đội Vệ quốc đoàn đóng ở bất kỳ nơi nào đều thấy trách nhiệm và thực hiện tốt việc giúp đỡ huấn luyện lực lượng vũ trang địa phương và làm sao cho dân quân “quen với tiếng súng”. Tổng Tham mưu trưởng đã chỉ thị cho Phòng Tác chiến phối hợp với Phòng Dân quân (khi đó vẫn còn trong biên chế của Cục Chính trị Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy) nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm xây dựng “làng kháng chiến” của Bắc Ninh, Kiến An, kinh nghiệm hoạt động của lực lượng biệt động Thừa Thiên, Quảng Trị, của dân quân vùng Hậu Giang, v.v. Trong nhiều lần gặp gỡ và làm việc các anh Hoàng Văn Thái và Trần Đại Nghĩa đã bàn bạc và nhất trí về việc phát huy vai trò các công binh xưởng, các lò rèn ở thôn xã để sản xuất vũ khí thô sơ (đại đao, súng kíp, địa lôi, tên nỏ, v.v.) cho dân quân.

Trong các hội nghị cán bộ Bộ Tổng tham mưu, anh Thái khẳng định những việc làm trên đây là đúng hướng. Nhưng điều băn khoăn của Tổng Tham mưu trưởng lúc này là làm thế nào để “hóa một phần bộ đội thành dân quân” như đã nêu trong nghị quyết chỉ đạo của Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp, anh Thái cùng Phòng Dân quân chuẩn bị đề án đề đạt lên Thường vụ đúng vào dịp Trung ương triệu tập Hội nghị dân quân lần thứ nhất, cuối tháng 5-1947. Tại hội nghị này, lần đầu tiên vai trò chiến lược của dân quân, tự vệ được xác định. Những vấn đề thảo luận trong hội nghị đã giúp Bộ tổng tham mưu và Phòng Dân quân nhận thức rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ và phương hướng giúp đỡ và chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương. Vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng trong những năm đầu kháng chiến, khi mà phương châm chỉ đạo tác chiến chiến lược của Trung ương coi “du kích chiến là căn bản”.

Ngay sau hội nghị dân quân, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng triệu tập một số cán bộ các phòng nghiệp vụ có liên quan trong Bộ Tổng tham mưu cùng Phòng Dân quân họp bàn triển khai những vấn đề cụ thể nhằm thực hiện Nghị quyết về tăng cường chỉ đạo phong trào dân quân. Anh Thái nhắc lại tinh thần cơ bản của Trung ương trong hội nghị dân quân vừa qua nhằm giúp cán bộ tham mưu thống nhất nhận thức về vai trò chiến lược của dân quân du kích. Tổng Tham mưu trưởng khẳng định:

- Để hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan nghiệp vụ trong Bộ Tổng chỉ huy đối với phong trào dân quân du kích, từ việc chỉ đạo tổ chức lực lượng, huấn luyện quân sự, xây dựng làng chiến đấu, phá hoại đường sá, đến việc chỉ đạo các đơn vị Vệ quốc đoàn dìu dắt dân quân du kích trong thực tế chiến đấu…, chúng ta phải nhớ và thực hiện đúng lời Bác Hồ trong bức thư Người gửi đến Hội nghị dân quân. Bác nói: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”(1). Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho “bức tường sắt dân quân du kích và tự vệ” ngày càng vững chắc.

Tổng Tham mưu trưởng cũng dẫn một số đoạn trong báo cáo của Tổng Chỉ huy đọc tại Hội nghị dân quân, rằng: “Công cuộc xây dựng và củng cố dân quân du kích, chúng ta phải coi đó quan trọng ngang hàng với công cuộc củng cố bộ đội chủ lực”… Về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang địa phương, Tổng chỉ huy nói: “Về mặt quân sự, dân quân du kích phối hợp với chủ lực tác chiến hay độc lập tác chiến để tiêu hao, tiêu diệt quân địch, bảo vệ làng mạc, ruộng nương cho dân; về mặt chính trị, dân quân du kích dùng phương thức vũ trang tuyên truyền mà trừ gian và giữ vững tinh thần cho dân; về mặt kinh tế, dân quân du kích bảo vệ cho dân sản xuất hay trực tiếp giúp dân cày cấy, gặt hái… Những đội du kích thoát ly cũng phải có một bộ phận tăng gia sản xuất để đi đến chỗ tự cung cấp…”.

Việc thực hiện Nghị quyết về phong trào dân quân du kích được triển khai từ giữa năm 1947. Nhưng trên thực tế, do nhận thức về kinh nghiệm còn hạn chế nên mãi đến cuối năm 1947 phong trào vẫn chưa đẩy lên được. Sau này, nhiều đồng chí cán bộ Bộ Tổng tham mưu cũng thừa nhận rằng: đối với các cơ quan chức năng từ Bộ Tổng chỉ huy đến cơ sở, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của trên đối với phong trào dân quân du kích là cả một quá trình đấu tranh để khắc phục những nhận thức và tư tưởng lệch lạc, đặc biệt là phải thường xuyên cảnh giác trước một hiện tượng sai lầm khá phổ biến là thường xuyên thiên về chủ lực, xem nhẹ lực lượng vũ trang địa phương.

Mặt khác, cần nói thêm rằng trong việc chỉ đạo phong trào dân quân du kích một khó khăn tồn tại dai dẳng đối với Bộ Tổng tham mưu là Phòng Dân quân vẫn nằm trong tổ chức của Cục Chính trị (cùng trong Bộ Tổng chỉ huy) nên vẫn chỉ là quan hệ hợp đồng chứ chưa phải là quan hệ chỉ đạo.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 132.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:28:46 am »

Đến cuối năm 1947, qua số liệu mà Bộ Tổng tham mưu nắm được, trong cả nước có tới hơn một triệu dân quân du kích và tự vệ. Nhưng trên thực tế, trừ một số địa phương phong trào đã đi vào chiều sâu, cả về tổ chức lực lượng, xây dựng làng chiến đấu và tác chiến tiêu hao địch, bảo vệ địa phương, như Cự Nẫm (Quảng Bình), Lý Nhân (Hà Nam), Cự Đà (Hà Đông), Phùng Thượng (Sơn Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh)… còn nhiều địa phương khác, nhất là ở vùng tự do, lực lượng vũ trang địa phương chưa qua thử thách nên chất lượng xây dựng chưa cao. Riêng đối với Bộ Tổng tham mưu, tuy bước đầu cán bộ đã nhận thức được vai trò chiến lược của dân quân du kích, nhưng về biện pháp cụ thể để phát động được phong trào dân quân du kích thì phải đến cuối năm 1947, qua cuộc thử thách mùa khô, cơ quan tham mưu mới có kinh nghiệm bước đầu, mới hiểu được rằng muốn đẩy mạnh phong trào dân quân du kích phát triển, phải có biện pháp chỉ đạo cụ thể như thế nào.

Tuy nhiên, sau hội nghị dân quân toàn quốc, về mặt tổ chức chỉ đạo đã bước đầu có những biến chuyển đáng ghi nhận. Ông Lê Liêm (Chính trị ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Khu 1) được điều về phụ trách Phòng Dân quân Bộ Tổng chỉ huy. Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy lực lượng địa phương cũng đã được củng cố, hình thành hệ thống từ Phòng Dân quân trên Bộ đến tỉnh đội, huyện đội, xã đội, do cấp ủy địa phương trực tiếp chỉ đạo. Ở nhiều địa phương, chính trị đội dân quân du kích do bí thư Đảng kiêm nhiệm. Các khu, tỉnh đã phân tán một bộ phận Vệ quốc đoàn về giúp đỡ việc huấn luyện dân quân du kích. Nhiều địa phương tự tổ chức các lớp đao kiếm, lớp võ thuật. Bộ Tổng tham mưu đã cùng Phòng Dân quân và Cục Quân giới phổ biến kinh nghiệm sản xuất và sử dụng vũ khí thô sơ của các lò rèn ở thôn xã. Kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu cũng đã được nghiên cứu và phổ biến bước đầu, nhưng còn nhiều mặt hạn chế và chưa thành phổ cập. Để chuẩn bị bước vào mùa khô, ở nhiều địa phương trong căn cứ địa, lực lượng dân quân tự vệ đã phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phá hoại đường sá, cầu cống và các ngôi nhà kiên cố trong các thị xã, thị trấn, trong công tác động viên nhân dân cắm cọc chống quân nhảy dù trên các bãi trống đồi trọc, trong việc sơ tán nhân dân ở Thái Nguyên và dọc đường số 3 phía nam Thái Nguyên, đường số 2 phía nam Tuyên Quang.

Đi đôi với việc phát triển phong trào dân quân, việc xây dựng bộ đội chủ lực để kịp bước vào mùa khô, đòi hỏi một đội ngũ cán bộ rất lớn. Thế nhưng, nhìn chung tình hình cán bộ hiện nay, như Hội nghị quân sự lần thứ ba nhận xét, cả về số lượng và trình độ còn rất hạn chế trước yêu cầu khẩn trương xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội và chỉ huy chiến đấu. Tình hình và nhiệm vụ đòi hỏi phải nhanh chóng nâng trình độ cán bộ trong toàn quân lên một bước. Vấn đề bồi dưỡng cán bộ đã được Quân ủy Trung ương đề ra trong nghị quyết hội nghị quân sự toàn quốc trung tuần tháng 6.

Riêng ở cấp chiến lược, thực hiện chủ trương trên đây, Bộ Tổng chỉ huy đã giao cho Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị nội dung và chiêu sinh, tổ chức lớp bổ túc cán bộ trung cấp (tiểu đoàn và trung đoàn). Mục đích của lớp học, như Bộ Tổng chỉ huy xác định, là nhằm giúp cho cán bộ nhận thức đúng đắn về đường lối quân sự của Đảng, hiểu biết về tổ chức, huấn luyện, giáo dục, quản lý bộ đội và biết nghiên cứu, vận dụng những kinh nghiệm chiến đấu hơn nửa năm qua.

83 cán bộ được triệu tập từ Khu 4 trở ra, tổ chức thành một đại đội học viên. Ban phụ trách lớp gồm đồng chí Hoàng Văn Thái, Giám đốc; đồng chí Phan Tử Lăng(1), Phó Giám đốc kiêm Đại đội trưởng; đồng chí Hoàng Điền, Đại đội phó; đồng chí Trần Tử Bình, Chính trị viên. Giảng viên là những đồng chí lãnh đạo của Đảng và của quân đội: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng. Nhiều cán bộ Bộ Tổng tham mưu được điều động đến, hình thành bộ máy quản lý hớp học về mọi mặt, đồng thời tranh thủ nghe giảng để mở rộng kiến thức.

Ngày 5-8-1947, lớp học khai giảng tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Niềm vui sướng đối với từng cán bộ, học viên hôm đó là được Bác Hồ đến thăm. Không ít cán bộ lần đầu tiên được gặp bác. Nói chuyện với cán bộ nhà trường và học viên, sau khi nhắc lại truyền thống đánh giặc giữ nước oanh liệt của ông cha ta, phân tích tình hình và nhiệm vụ trước mắt, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn mọi người về tư cách, về trách nhiệm người cán bộ quân đội đối với kỷ luật, với chiến sĩ, với nhân dân, với kẻ địch. Về quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, Bác nói đại ý:

- Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên lúc bình cũng như lúc chiến. Cán bộ coi đội viên như chân tay, đội viên coi cán bộ như đầu óc. Đội viên chưa có cơm ăn, chưa có áo mặc, chưa có chỗ ngủ, cán bộ chưa được ăn no, không được mặc ấm, không được ngủ yên… Cán bộ phải chăm lo học tập: học chính trị, học chiến lược, chiến thuật, học cách cầm quân… làm sao đánh thắng giặc mà đỡ tốn xương máu của chiến sĩ, của đồng bào, rút ngắn lại những ngày đau khổ…

Trong cuộc đời cầm quân, nhiều cán bộ còn được Bác giáo dục nhiều lần trong nhiều dịp khác nhau. Nhưng với nhiều cán bộ, đây là lần đầu tiên được nghe Bác nói về quan hệ cán binh, về trách nhiệm của người cán bộ quân đội cách mạng.

Sau sáu tuần học tập, lớp bổ túc cán bộ bế mạc vào trung tuần tháng 9-1947. Hơn 80 cán bộ trở về các đơn vị, địa phương, góp phần cùng toàn quân bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mùa khô sắp tới. Bộ Tổng tham mưu dự kiến, sau khi lớp bổ túc trung cấp và hai khóa võ bị 2 và 3 bế mạc, bước vào thu đông ta sẽ có thêm 600 cán bộ bổ sung cho bộ đội chủ lực và gần 90 cán bộ chỉ huy tăng cường cho lực lượng vũ trang địa phương.

Với những nỗ lực vươn lên cả về tổ chức và nghiệp vụ, với kết quả giúp trên xây dựng lực lượng, cả chủ lực và địa phương, cả huấn luyện bộ đội và bồi dưỡng cán bộ, Bộ Tổng tham mưu đã hoàn thành một bước quan trọng nhiệm vụ chuẩn bị thực lực cho thu đông 1947. Tuy còn nhiều mặt hạn chế, nhưng kết quả trên đây đánh dấu một bước trưởng thành và tiến bộ của cơ quan tham mưu chiến lược trước khi bước vào cuộc thử thách mới. Vấn đề khó khăn, phức tạp nổi lên lúc này là tìm hiểu ý đồ và khả năng của địch trong mùa khô này như thế nào?


(1) Từ ngày 1-7-1947, ông Phan Tử Lăng được điều sang làm Cục trưởng Cục Quân chính Bộ Quốc phòng. Ông Trần Văn Lư (Trưởng phòng Nhân sự Bộ Tổng tham mưu) kiêm chức Tham mưu chủ nhiệm Bộ Tổng tham mưu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:30:31 am »

IV

Phán đoán âm mưu chiến lược và biện pháp tác chiến của đối phương là một trong những vấn đề khó khăn đối với cơ quan tham mưu chiến lược lúc này. Vào những ngày hè thu năm 1947, công việc đó vượt trên khả năng chủ quan của Bộ Tổng tham mưu. Chúng ta chưa có một hệ thống tình báo chiến lược, chưa có những tình báo viên tầm cỡ cài trong hàng ngũ địch. Nhưng tình hình và nhiệm vụ đòi hỏi Bộ Tổng tham mưu phải tìm ra đáp số cần thiết của bài toán do một kẻ địch có kinh nghiệm chiến tranh xâm lược hàng trăm năm đặt ra trước mắt chúng ta: Ý đồ chiến lược mùa khô sắp tới của quân viễn chinh Pháp là gì? Khả năng của chúng đến đâu? Phương thức hoạt động của chúng thế nào?... Mặc dù tổ chức và khả năng nghiệp vụ nắm địch còn rất hạn chế, Bộ Tổng tham mưu vẫn phải cùng các cơ quan chuyên môn giải đáp câu hỏi hóc búa đó.

Tổng Tham mưu trưởng đã nhiều lần cùng các đồng chí Lý Thủy Thọ, Trưởng phòng 2 Bộ Tổng tham mưu và Trần Hiệu, Cục trưởng Cục Tình báo Bộ Tổng chỉ huy, trao đổi ý kiến xung quanh vấn đề nóng bỏng này. Hơn ai hết, các anh hiểu rất rõ một thực tế là hệ thống nắm địch của ta, từ Cục Tình báo và Phòng 2 đến các cơ sở trong vùng địch tạm chiếm đều đang trong thời kỳ củng cố về mặt tổ chức và rút kinh nghiệm hoạt động sau nửa năm đầu kháng chiến. Trước mắt, khả năng tốt nhất và cũng là biện pháp hầu như duy nhất là dựa vào báo chí công khai và đài phát thanh của Pháp và phương Tây, dựa vào hoạt động của chính khách và tướng lĩnh Pháp, dựa vào động tĩnh của quân viễn chinh Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, trước hết là ở Sài Gòn và Hà Nội. Tất cả những nguồn tin đó là cơ sở để các anh thảo luận, tìm ra đáp số của bài toán.

Thực tế ngày càng chứng minh lời phán đoán của các hội nghị quân sự tháng 3 và tháng 6 (về khả năng địch sẽ đánh một đòn chiến lược mạnh trong mùa khô này) là hoàn toàn đúng đắn.

Từ tháng 3, báo chí Pari phản ánh dự luận tiến bộ Pháp đòi đình chỉ cuộc chiến tranh Đông Dương, đòi dàn xếp với Chính phủ Hồ Chí Minh. Để trấn an và lừa gạt dư luận, ngày 18-3, Thủ tướng Pháp tuyên bố trước Quốc hội rằng vấn đề Đông Dương không thể giải quyết được bằng vũ lực mà phải bằng một giải pháp chính trị. Bộ trưởng Chiến tranh Pháp cũng nói với báo chí rằng vấn đề Đông Dương không còn là vấn đề quân sự mà đã chuyển sang bình diện chính trị. Vài tuần sau, Bôla (Emile Bollaert) được cử sang thay Cao ủy Đácgiăngliơ. Nhân dịp này, báo chí cánh hữu ở Pari cố tình thổi phồng khả năng tiến tới một cuộc thương lượng. Nhưng những gì diễn ra ở Đông Dương lại hoàn toàn ngược lại. Đúng là đã có một cuộc gặp gỡ giữa đôi bên ở thị xã Thái Nguyên trung tuần tháng 5. Anh Thái được trên cho biết lập trường của phía Pháp trong cuộc xúc tiến này vẫn rất ngoan cố. Họ đưa những điều kiện thực chất là đòi ta phải hạ vũ khí, đầu hàng. Đúng vào dịp này, qua tin nhận được của đài Con nhạn, Phòng 2 báo cáo với Tổng Tham mưu trưởng nội dung bài diễn văn ngày 15-5 của Bôla tại Hà Nội. Viên cao ủy mới này khẳng định sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương, khẳng định vị trí của Đông Dương trong khối Liên hiệp Pháp. Điều đáng chú ý là ông ta nói đến sự hợp tác với tất cả các đảng phái chứ không công nhận một đảng chính trị nào “độc quyền đại diện cho dân tộc Việt Nam”. Tin tức còn cho thấy nhiều nhân vật “quốc gia Việt Nam” đang tới tấp đến Hồng Kông vận động “cựu hoàng Bảo Đại” trở về nước hợp tác với Pháp “chống lại quân phiến loạn Việt Minh”(1).

Có những điểm cụ thể về âm mưu của địch mà nhiều năm sau chúng ta mới biết qua sách báo Pháp và phương Tây. Còn vào hè thu 1947 này, một vấn đề lớn cần tìm hiểu là: Quân viễn chinh Pháp sẽ làm gì trong mùa khô tới? Câu hỏi đó đã nảy sinh từ khi quân ta kết thúc đợt hoạt động trong các đô thị. Tiếp đến là những dự kiến nêu lên trong Hội nghị quân sự lần thứ ba (họp trung tuần tháng 6) rằng: “Chúng cũng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc… nhằm mục đích chính là tiêu diệt chủ lực của ta…”.

Về các đánh của ta, cũng tại Hội nghị quân sự lần thứ ba, Mấy vấn đề về tư tưởng chỉ đạo tác chiến (mà đồng chí Trường Chinh vừa viết trong một loạt bài của mình) đã được thảo luận sôi nổi để quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Đó là các vấn đề tư tưởng tiến công, vấn đề giành quyền chủ động, vấn đề phát động phong trào dân quân… Về tư tưởng tiến công, đồng chí Tổng Bí thư viết: “Tiến công là một cách duy nhất hiệu nghiệm để tiêu diệt địch. Đánh giặc mà không tiến công thì không phải là đánh giặc”. Đề cập vấn đề giành quyền chủ động, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ: “Hiện nay địch mạnh ta yếu, cho nên nói chung địch vẫn giữ quyền chủ động, ta bị động. Nhưng trong chỗ bị động, ta phải giành lấy quyền chủ động. Chủ động là nguyên lý cốt yếu của chiến thuật nói chung và của du kích vận động chiến nói riêng”. Về phát động phong trào dân quân, Tổng Bí thư viết: “Chiến tranh nhân dân phải do dân làm lấy. Nghĩa là không phải chỉ quân chính quy đánh giặc, mà cả những người hăng hái, không kể trai gái, không kể có trong quân đội hay không, cũng đánh giặc”. Qua các buổi thảo luận sôi nổi về chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba cũng đã đề cập một số cách đánh khá cụ thể như: đột kích vào các đô thị địch mới chiếm đóng, tập kích các vị trí nhỏ của địch; phục kích, đánh giao thông thủy bộ của địch đi đôi với phá hoại đường sá, đắp kè trên sông… Hội nghị đã khẳng định: Do trình độ bộ đội hiện nay, “dùng lối phục kích có lợi hơn lối tập kích”. Về bố trí binh lực, hội nghị kết luận: “Nói chung, nguyên tắc đối phó cơ bản là không phán tán binh lực khắp các mặt trận; không bố trí phòng tuyến chữ nhất, phải sẵn sàng một lực lượng dự bị có thể tập trung nhanh chóng ở một địa điểm cơ động, nghĩa là tiến thoái thuận lợi, rồi nhằm chỗ yếu của địch mà tiến công tiêu diệt…”.


(1) Sau này qua sách báo Pháp và phương Tây, được biết trong lúc Bôla ve vãn đưa Bảo Đại về lập chính quyền tay sai thì, cũng vào khoảng trung tuần tháng 5, tại Pari, viên tướng Pháp Raun Xalăng (Raoul Salan - một sĩ quan thực dân lâu đời, đã từng là đồn trưởng Đình Lập (Lạng Sơn) vào những năm 30) được vời đến gặp Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê (Marius Moutet) và Bộ trưởng Chiến tranh Phlorê (Coste Floret). Người ta yêu cầu viên tướng này sang Việt Nam với nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đưa quân lên vùng thượng du Bắc Kỳ “bịt biên giới Việt - Trung, đè bẹp quân kháng chiến Việt Minh”. Hai viên bộ trưởng đã nói thẳng với Xalăng rằng nước Pháp không thể tiếp tục cuộc chiến tranh tốn kém và kéo dài này, vì “những lực lượng ném vào cuộc chiến tranh này quá lớn so với khả năng của Pháp”. Phải nhanh chóng kết thúc nó bằng một đòn chớp nhoáng - quyết định (un coup éclair - décisif), đánh thẳng vào sào huyệt đối phương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:32:23 am »

Lĩnh hội tất cả những nội dung đã trở thành Nghị quyết của Hội nghị quân sự lần thứ ba, trở về cơ quan, Tổng Tham mưu trưởng tiếp tục cùng một số trợ lý chủ chốt và Trưởng phòng Tác chiến nghiên cứu, thảo luận để cụ thóa hóa và quán triệt sâu sắc thêm một bước về chức năng giúp trên chỉ đạo tác chiến trong thu đông này. Vấn đề khiến các anh trăn trở và lật đi lật lại trong quá trình thảo luận vẫn là, từ những nguyên tắc chung trên đây, việc sử dụng lực lượng và chọn cách đánh cụ thể nên như thế nào?

Những tin tức tổng hợp sau những tháng hè cho biết: mấy tháng qua, quân địch được nghỉ ngơi; chúng được tăng viện thêm 20.000 quân, lại phát triển được quân ngụy, khiến cho tổng số binh lực của chúng đã lên tới gần 13 vạn. Trong hàng ngũ sĩ quan chỉ huy cũng có sự thay đổi, trong đó có việc tướng Xalăng được cử sang phụ trách chiến trường Bắc Đông Dương. Nhiều nguồn tin cho biết các chuyến bay thị sát chiến trường của viên tướng này trên các vùng biên giới Đông Bắc và vùng trung du Bắc Bộ cho biết việc huấn luyện quân dù, quân Bắc Phi và quân ngụy được coi trọng. Rõ ràng địch đang chuẩn bị một ý đồ chiến lược lớn vào mùa khô. Nhưng bài toán chưa có lời giải đáp dứt khoát: Địch có tiến công lên Việt Bắc không? Nếu có, khả năng huy động lực lượng của địch là bao nhiêu? Cách đánh của chúng thế nào? Anh Thái và các đồng chí phụ trách Phòng 2 đều chưa quên nhận định của hội nghị cán bộ Trung ương hồi đầu tháng 4 là : “Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc… Những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị địch đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bao vây”.

Càng đến gần mùa khô, âm mưu của địch càng được khẳng định, bài diễn văn mà Cao ủy Pháp Bôla đọc tại thị xã Hà Đông ngày 10-9 là một dẫn chững. Rõ ràng là địch sẽ đánh mạnh trong thu đông, nhằm bẻ gãy lực lượng kháng chiến, đi đôi với lôi kéo Bảo Đại về lập chính quyền tay sai trong cả nước. Ngày 15-9, trong Chỉ thị Bôla nói gì? Ta phải làm gì?, Thường vụ Trung ương lại chỉ rõ: Phải tích cực chuẩn bị chiến dịch mùa đông về mọi mặt, đặng đối phó với cuộc tiến công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp sau mùa nưa này; phải chuẩn bị chống các cuộc quân địch đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta; phải phát triển dân quân và vũ trang gấp cho dân quân, phải phá hoại triệt để những thị trấn địch có thể chiếm trong mùa đông sắp tới(1).

Chấp hành chỉ thị của Tổng Chỉ huy, Tổng Tham mưu trưởng cùng một số cơ quan bạn trong Bộ Tổng chỉ huy tập trung giúp trên chuẩn bị Hội nghị quân sự toan quốc lần thứ tư, dự kiến sẽ họp vào cuối tháng 9. Trọng tâm hội nghị là nhận định về âm mưu và khả năng của địch và hoạt động của ta trong mùa khô này.

Song song với việc chuẩn bị hội nghị quân sự, Tổng Tham mưu trưởng đã chỉ đạo các trưởng phòng sớm triển khai các mặt công tác cần thiết để cơ quan cũng như toàn quân sẵn sàng bước vào mùa khô. Ngày 20-9, anh Thái triệu tập các tổ trưởng Đảng và các trưởng phòng, phổ biến tinh thần và nội dung hội nghị liên tịch họp từ ngày 14 đến 19-9-1947 mà đồng chí vừa tham dự. Đó là hội nghị do Quân ủy Trung ương triệu tập nhàm giao nhiệm vụ lãnh đạo trong mùa khô sắp tới cho các cơ quan Bộ, các cấp Đảng và chính quyền các tỉnh trung du và Việt Bắc. Cuộc họp do đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp chủ trì. Thành phần tham dự hội nghị gồm từ cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ, các đồng chí phụ trách Đảng và chính quyền các tỉnh trong địa bàn dự kiến địch có thể đánh tới trong thu đông này.

Dựa vào nội dung hội nghị trên, đồng chí Hoàng Văn Thái phổ biến tinh thần của Quân ủy Trung ương nhận định về âm mưu quân sự và chính trị của địch trong mùa khô này, tính chất khẩn trương và quyết liệt mà quân và dân ta phải đương đầu trong thu đông. Đồng chí truyền đạt chỉ thị của Quân ủy và giao nhiệm vụ cho các đảng viên trong từng phòng ban lãnh đạo anh em giúp trên bám sát tình hình, nắm chắc động tĩnh địch và tình hình lực lượng vũ trang của ta, cả chủ lực và địa phương, góp phần vào việc đánh bại kế hoạch mùa khô của quân viễn chinh Pháp. Các đảng viên ở từng bộ phận phải xung phong trong mọi nhiệm vụ, xứng đáng với vai trò tiên phong trong những tình huống gay go khó khăn nhất.

Sau cuộc họp, từng phòng soát xét lại công việc của từng người và khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị phục vụ cho yêu cầu chỉ đạo tác chiến, trong đó có việc phân công bộ phận ở lại cơ quan và các phái viên sẵn sàng nhận nhiệm vụ xuống các địa phương, đơn vị, trực tiếp giúp đỡ cả về huấn luyện và chiến đấu.


(1) Như đồng chí Hoàng Văn Thái nói trong cuộc tọa đàm năm 1979, khách quan mà nói, hồi đó thực ra Bộ Tổng tham mưu cũng chưa nhận thức được sâu sắc và triệt để những nội dung chỉ đạo trên đây trong chỉ thị của Thường vụ Trung ương. Ở nhiều ngành, nhiều cấp cũng vậy. Đó là nguyên nhân dẫn đến những sơ khoáng trong công tác chuẩn bị của ta, khiến ta gặp những khó khăn và bị động trong những ngày đầu cuộc tiến công của địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11492


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 07:33:50 am »

V

Mùa khô đã đến. Vào những ngày nửa cuối tháng 9-1947, vấn đề nổi lên đối với Bộ Tổng tham mưu vẫn là: Đánh địch như thế nào? Suốt mấy tháng xuân hè vừa qua, các huấn lệnh, cũng như các hội nghị các khu trưởng đều nhấn mạnh yêu cầu phải gấp rút chuyển sang du kích vận động chiến. Hội nghị cán bộ Trung ương tháng 4 đã định hướng rõ hơn: Chiến thuật cơ bản là du kích vận động chiến; trận địa chiến là chiến thuật bồi bổ, giúp đỡ cho du kích vận động chiến; du kích vận động chiến phải là cách đánh của toàn dân, không phải của riêng bộ đội, nên phải phát động phong trào dân quân và vũ trang toàn dân để có thể mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong ruột địch…

Đối với cơ quan chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến lược như Bộ Tổng Tham mưu, định hướng như thế là khá rõ và trên thực tế, mọi công tác chuẩn bị cho lực lượng vũ trang trong cả mùa hè đều đi theo hướng đó. Nhưng là người đứng đầu cơ quan tham mưu Tổng hành dinh, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng thấy không thể dừng lại ở đó mà phải tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn để chỉ đạo vận dụng sao cho phù hợp với thực tế chiến trường đồng thời gắn với tư tưởng chỉ đạo trong Chỉ thị ngày 15-9 của Thường vụ Trung ương.

Tấm thoắt đã sắp hết tháng 9. Hội nghị quân sự họp trong ba ngày, từ 27 đến 29. Trong báo cáo đọc tại hội nghị, đồng chí Tổng Chỉ huy nhận định rằng địch sẽ đánh mạnh trong thu đông và chiến trường chính sẽ là Bắc Bộ. Hội nghị nhận định: Mạo hiểm lắm địch mới đánh lên Việt Bắc, mà có thể chúng không dám mạo hiểm. Địch không có khả năng tập trung đến hai sư đoàn để đánh lên Việt Bắc, cũng không thể nhảy dù xuống Bắc Kạn vì quá xa căn cứ của chúng ở đồng bằng. Nếu địch đánh Việt Bắc thì kế hoạch tiến công của chúng sẽ như thế nào? Hội nghị phán đoán chúng sẽ tiến công từ trung du lên, từ Lạng Sơn về. Mặt tiến công chính của địch là Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên Quang; mặt kiềm chế hay phối hợp: phía tây sẽ là vùng Hòa Bình, phía đông sẽ là vùng Bắc Giang, Lạng Sơn(1).

Trong thảo luận tại hội nghị, cũng có những ý kiến không đồng tình với nhận định trên đây. Ví dụ: về âm mưu và khả năng của địch, có ý kiến của đồng chí Nguyễn Sơn (Khu trưởng Khu 4) nói thẳng ra rằng: “Liệu đấy, không khéo quân Pháp nhảy dù thẳng lên đầu chúng ta (ý nói cơ quan Tổng hành dinh) cho mà xem”. Những ý kiến như vậy - mà thực tế sau này chứng minh là có nhiều điểm đúng - đã không được quan tâm và thảo luận đầy đủ. Âu cũng là một bài học ấu trĩ về dân chủ quân sự ở cấp chiến lược.

Do những phán đoán không chính xác về âm mưu, khả năng điều động lực lượng và cách đánh của quân Pháp, cho nên trong suốt mùa hè việc chỉ đạo công tác phá hoại ở một số thị xã (như Tuyên Quang, Bắc Kạn) hay công tác phá hoại giao thông phía trên đường số 3 (Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng), phía trên đường số 2 (Tuyên Quang - km 31) và đường liên tỉnh (km 31 - Chiêm Hóa) không được tích cực. Các khu vực nói trên, cho đến ngày địch tiến công vẫn hầu như nguyên vẹn. Chúng ta không tin rằng địch sẽ tiến sâu vào các địa bàn đó. Trong cái mà sau này đồng chí Trường Chinh phê phán là “tư tưởng đại hậu phương chủ nghĩa” ấy, Bộ Tổng tham mưu có phần trách nhiệm của mình, với cương vị cơ quan tham mưu chiến lược, giúp trên chỉ đạo chuẩn bị và thực hành tác chiến chiến lược. Sự ấu trĩ của cơ quan tham mưu phản ánh trình độ và kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nói chung của ta hồi đó.

Về quy mô tác chiến của ta thảo luận trong hội nghị quân sự lần này, trong bài phát biểu của mình Tổng Tham mưu trưởng đã nêu rõ quan điểm về sử dụng bộ đội chủ lực trong tác chiến. Theo đồng chí, quy mô tổ chức chủ lực lúc này là trung đoàn. Nhưng trên thực tế, trung đoàn chủ yếu chỉ là cấp quản lý và chỉ đạo xây dựng. Do trình độ trang bị kỹ thuật và tác chiến của bộ đội, trình độ chỉ huy chiến đấu của cán bộ, Tổng Tham mưu trưởng cho rằng tác chiến quy mô trung đoàn lúc này là chưa phù hợp. Thực tế cho thấy, đơn vị chiến đấu phổ biến của ta chỉ nên là cấp đại đội, cao hơn nữa là cấp tiểu đoàn, trước hết là các tiểu đoàn đã kinh qua chiến đấu từ đầu năm đến nay. Ý kiến của Tổng tham mưu trưởng là một trong những vấn đề được thảo luận nhiều trong hội nghị.

Hội nghị quân sự lần này còn dựa vào Chỉ thị ngày 15-9 của Thường vụ Trung ương để thảo luận sâu về cách đánh, đánh vận động, đánh tiêu diệt, coi trọng cách phục kích hơn là tập kích, đồng thời bàn các nội dung khác gắn liền] với tác chiến của chủ lực, như phát triển chiến tranh du kích, phá hoại tiêu thổ, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trong từng trận và trong cả quá trình hoạt động trong thu đông. Qua thảo luận, nguyên tắc bố trí lực lượng Vệ quốc đoàn và quan hệ giữa chủ lực với địa phương mang nội dung mới, được ghi thành nghị quyết: Ngoài chủ lực cơ động, nên dùng đơn vị đại đội để hoạt động trong từng địa phương. Luyện cho bộ đội hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh, hóa trang lẫn vào dân khi cần…


(1) Như sau này (sau chiến dịch Việt Bắc) Hội nghị Trung ương tháng 1-1948 nhận xét, “ta đoán mưu mô địch chưa đến nơi”. Huấn lệnh ngày 6-2-1948 của Bộ Tổng chỉ huy nói cụ thể hơn: “Những phán đoán của ta về địch có khi đúng, có khi không được đúng lắm, nhiều khi sai”. Điều đó phản ánh trình độ thực tế của ngành tình báo của ta (trong đó có Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu) trước khi bước vào mùa khô năm 1947.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM