Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Hai, 2023, 10:41:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bộ Tổng tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây  (Đọc 66902 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #110 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2013, 06:15:28 pm »

Sau hội nghị toàn quốc của Đảng hồi đầu năm, Bộ Tổng tham mưu đã làm một bản kế hoạch công tác. Nhưng so với các huấn lệnh gần đây của đồng chí Tổng Tư lệnh gửi các chiến trường và đơn vị thì kế hoạch đó cần được bổ sung để giúp trên chỉ đạo triển khai những nhiệm vụ quan trọng dưới đây trong năm 1950, cả về xây dựng và tác chiến.

1. Phát triển rộng hơn nữa cơ sở chính trị trong những vùng sâu ở Tây Bắc, Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ. Riêng trên chiến trường Lào và Campuchia, nếu những năm trước đây ta nêu phương châm chính trị trọng hơn quân sự thì bước sang thời kỳ này, phương châm phải là chính trị và quân sự đi đôi. Phải nắm vững phương châm đó để vừa giúp bạn mở rộng cơ sở chính trị trong nhân dân đồng thời với xây dựng lực lượng vũ trang.

2. Phát triển chiến tranh du kích sâu rộng hơn nữa trên khắp các chiến trường. Riêng với Liên khu 3, đây là nhiệm vụ hàng đầu. Liên khu 3 là chiến trường trọng điểm mà địch đang tiến hành những cuộc tiến công mở rộng phạm vi chiếm đóng mà những cuộc hành binh càn quét, hòng biến đồng bằng sông Hồng thành hậu phương vững chắc của chúng nhằm thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Huấn lệnh của Bộ Tổng tư lệnh nhấn mạnh: Chỉ có phát triển chiến tranh du kích cao độ, nhất là ở mặt trận đường 5, đường 6, các vùng phụ cận sông Hồng và các thành phố lớn, Liên khu 3 mới phá được âm mưu địch, mới đảm bảo kế hoạch tổng động viên, chuẩn bị đón thời cơ chiến lược.

3. Xây dựng bộ đội chủ lực của Bộ và của Khu. Riêng ở Bộ, điều Trung đoàn 36 về Đại đoàn 308 đủ ba trung đoàn; xây dựng thêm Đại đoàn 304 gồm hai trung đoàn của Liên khu 3 và một trung đoàn của Liên khu 4; xây dựng Trung đoàn 174 và Trung đoàn 209 thành hai trung đoàn chủ lực mạnh của Bộ. Ở các khu và liên khu, đi đôi với kiện toàn các trung đoàn chủ lực, phải phát triển bộ đội địa phương, củng cố dân quân du kích, huấn luyện quân dự bị, đồng thời phát triển cơ sở chính trị và xây dựng các đội quân ngầm ở các đô thị lớn.

4. Tiếp tục cuộc vận động rèn luyện cán bộ - chấn chỉnh quân đội. Bộ và liên khu mở thêm trường bổ túc và đào tạo cán bộ. Về huấn luyện, nội dung huấn luyện bộ đội chủ lực phải hướng vào đánh vận động. Riêng với chủ lực của khu và liên khu, huấn luyện đánh vận động phải nhằm yêu cầu tiêu diệt các đội quân địch đi lưu động càn quét.

5. Các liên khu đều phải chuẩn bị chiến trường cho tác chiến của bộ đội chủ lực. Đối với các liên khu 3, 4 và Việt Bắc, nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường là nhiệm vụ rất quan trọng của giai đoạn này.

6. Giữ vững và mở rộng đường liên lạc giữa các liên khu, từ Việt Bắc đến các chiến trường miền Nam, giữa Thượng, Trung và Hạ Lào, giữa các chiến trường Lào với các liên khu được phân công giúp bạn, giữa căn cứ chính (Tây Nam) với các căn cứ khác (Đông Nam, Tây Bắc) của Campuchia, giữa Campuchia với Nam Bộ.

7. Mở đường liên lạc với quốc tế và chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch tiếp nhận viện trợ và kế hoạch bảo vệ giao thông chuyên chở từ biên giới vào nội địa, từ Việt Bắc đến Liên khu 4, qua Bình - Trị - Thiên vào Liên khu 5 và Nam Bộ.

8. Các liên khu Việt Bắc, 4, 5 và các khu thuộc Nam Bộ cần có kế hoạch đề phòng địch mạo hiểm tiến công vào căn cứ địa, vào vùng tự do của ta.

Ngoài những nhiệm vụ chung trên đây, Bộ đã chỉ thị riêng cho Nam Bộ về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương; đã có chỉ thị riêng cho Liên khu Việt Bắc và các đơn vị chủ lực của Bộ về chuẩn bị chiến trường Đông Bắc nhằm phối hợp với hướng Lào Cai.

Tổng tham mưu trưởng và các đồng chí phụ trách các phòng đều nhất trí nhận định rằng các nhiệm vụ trên đây của toàn quân và riêng Bộ Tổng tham mưu là rát nặng nề và lớn lao. Chỉ có hoàn thành những nhiệm vụ đó mới thực sự tạo nên thế mới, lực mới, tạo nên bước ngoặt của cuộc kháng chiến.

Trong phần kết luận hội nghị, Tổng Tham mưu trưởng nhận xét rằng, trong hai năm qua, nhất là năm 1949, toàn cơ quan đã tiến bộ một bước rất quan trọng, cả về nghiệp vụ chuyên môn, về xây dựng cơ quan, về giữ vững và cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho cán bộ và chiến sĩ trong điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề sắp tới, các phòng cần dựa vào kết quả công tác năm qua và nhiệm vụ năm 1950, đánh giá đúng những tiến bộ và những yếu kém cần khắc phục của từng bộ phận, từng ngành và bàn phương hướng khắc phục. Trên cơ sở đó mà phân công triển khai kế hoạch công tác mới. Trong phân công, cần dự kiến người thay thế các phái viên xuống đơn vị, ra phía trước. Cần động viên mọi người thi đua theo tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến - Tất cả để chiến thắng”.

Xuân Canh Dần đang về. Hội nghị kết thúc với không khí hồ hởi của một mùa xuân đầy hứa hẹn những chiến công mới của quân và dân cả nước.

Đúng vào những ngày giáp Tết này, điều khiến Bộ Tổng tham mưu chú ý là tình hình biên giới Đông Bắc chuyển biến phức tạp và khẩn trương. Sau trận phục kích của Trung đoàn 174 ở bản Nầm, giao thông của địch trên đường số 4 bị gián đoạn nhiều ngày. Chúng phải dùng đường hàng không tiếp tế cho Cao Bằng. Trung đoàn 174 vừa về tập kết ở Nước Hai chuẩn bị bước vào đợt huấn luyện thì nhận được lệnh tiêu diệt quân Tưởng tràn qua biên giới. Trung đoàn triển khai gấp lực lượng đánh địch trên hai hướng: chặn địch ở cửa khẩu Hà Quảng và phục kích trên đoạn đường Bông Lau - Lũng Phầy.

Từ đầu tháng 1-1950, ròng rã 10 ngày, bộ đội trên hướng Hà Quảng chiến đấu liên tục ở Nà Giang, Cốc Sâm. Quân Tưởng không thực hiện được ý đồ thọc sâu xuống Mỏ Sắt, Nước Hai - Cao Bằng. Khi chúng tạt qua phía Nậm Nhũng, Lục Khu, hòng tràn vào Trà Lĩnh và Cao Bằng, quân ta lại cấp tốc đến đèo Mã Phục và đèo Canh Phác để chặn địch.

Trước tình hình địch bị chặn lại ở hướng Hà Quảng, bộ phận phục kích ở phía dưới Đông Khê rời khu vực phục kích Bông Lau - Lũng Phầy cấp tốc ngược lên Quảng Uyên để cùng bộ đội trên hướng đó đánh địch. Khi Quân Giải phóng Trung Quốc tiến xuống Long Châu, bắt liên lạc với ta thì hàng vạn tên lính Tưởng Giới Thạch còn lại đã bị quân ta đánh bật sang bên kia biên giới ở hướng Bình Nghi. Đường số 4 sạch bóng quân Tàu trắng.

Càng về cuối năm 1949, cục diện chiến trường biên giới Đông Bắc càng cho phép khẳng định: giao thông của địch trên đường số 4 liên tục bị ta uy hiếp nhưng quân Pháp không rút khỏi Cao Bằng. Chúng hy vọng hốt được ít nhiều tàn quân Tưởng để bổ sung vào quân số đang thiếu hụt. Giải phóng quân Trung Quốc đang tiến xuống vùng đất tận cùng của Hoa Nam và có nhiều khả năng sẽ dừng lại ở bên kia biên giới.

Yêu cầu chiến lược nóng bỏng đặt ra với ta lúc này vẫn là khai thông đường liên lạc quốc tế, phá thế bao vây của địch trên biên giới phía Bắc.

Theo nhận định của Bộ thống soái, nhìn suốt chiều dài biên giới, Tây Bắc vẫn là chiến trường địch yếu và sơ hở. Đông Bắc là chiến trường quan trọng với ta cũng như đối với địch trong những năm sắp tới, nhưng trước mắt quân địch trên hướng Đông Bắc (cụ thể là trên đường chiến lược số 4) vẫn mạnh hơn trên hướng Lào Cai - Hà Giang. Tổng hành dinh dự kiến trong kế hoạch tiến công chiến lược sắp tới sẽ vẫn chọn hướng Tây Bắc để khai thông biên giới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #111 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 07:55:46 pm »

CHƯƠNG X

RA QUÂN ĐÁNH LỚN KHAI THÔNG BIÊN GIỚI

I

Khoảng giữa tháng 11-1949, Tổng Tham mưu trưởng triệu tập một nhóm cán bộ có trình độ nghiên cứu để giao nhiệm vụ chuẩn bị bản báo cáo của Tổng Tư lệnh tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng, dự kiến sẽ họp cuối tháng 1-1950 và hội nghị hành chính kháng chiến, họp đầu tháng 2. Sau bản Dự thảo báo cáo tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu đầu năm 1949, đây là lần thứ hai Bộ Tổng tham mưu được Tổng Tư lệnh giao chuẩn bị một văn kiện quân sự quan trọng. Dù anh em đã trải qua một lần biên soạn tài liệu ở tầm chiến lược, nhưng anh Thái vẫn đề nghị anh Văn dành thời gian nêu lên để nhóm nghiên cứu nắm được tư tưởng chủ đạo và phác ra cái “sườn” gồm những nội dung chủ yếu của bản báo cáo đồng thời gợi ý cách viết. Sau đó, trong quá trình nghiên cứu, biên soạn, anh Văn đã nhiều lần cho ý kiến để anh em hoàn chỉnh bảo dự thảo bản báo cáo nhan đề: Nhiệm vụ quân sự chuyển sang tổng phản công.

Đây thực chất là một bước đánh giá tình hình và tổng kết sự chỉ đạo chiến lược của Tổng hành dinh trong hai năm (mà hồi đó gọi là) tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, đặc biệt là nhận định về tương quan lực lượng trên chiến trường, làm cơ sở để đề ra phương hướng chỉ đạo cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới.

Về sự chuyển hóa về thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường trong hai năm 1948-1949, bản báo cáo nhận xét: thế cầm cự diễn ra ngày càng khẩn trương, với những hình thái ngày càng có lợi cho ta. Cụ thể là: Sau thất bại của sự cố gắng vượt bậc trong thu đông năm 1947, địch đã lại cố gắng một lần nữa bằng các tập trung quân ra Bắc và mở rộng thêm vùng tạm chiếm ở trung du và đồng bằng. Nhưng những cố gắng mới của địch diễn ra trong tình thế nước Pháp đứng trước rất nhiều khó khăn về kinh tế tài chính. Chiến lược của chúng đã phụ thuộc vào chiến lược chung của Mỹ và đã nặng về phòng ngự rõ rệt. Riêng năm 1949, quân Pháp đã không được nghỉ ngơi trong mùa hè, sang thu đông cũng không mở được cuộc tiến công nào lớn, trong khi ta đã tiến tới những chiến dịch tiến công với binh lực ngày một tập trung hơn, đã tiêu diệt những bộ phận sinh lực quan trọng của địch. Quân Pháp cố mở rộng thêm phạm vi chiếm đóng tại những vùng nhiều nhân lực vật lực của ta, nhưng ta cũng khôi phục lại nhiều đất đai, mở rộng được căn cứ địa Việt Bắc. Ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế nhưng Pháp cũng đứng trước rất nhiều vấn đề không vượt qua nổi cả về quân sự, kinh tế và chính trị. Thêm nữa, chiến thắng vĩ đại của cách mạng Trung Quốc lại là một chuyển biến lớn lao có lợi cho ta, không lợi cho địch.

Kiểm điểm lại sự chỉ đạo chiến lược của Tổng hành dinh trong hai năm, bản báo cáo nhận thây:

1- Quan niệm về đường lối chiến tranh nhân dânquân đội nhân dân đã rõ rệt và cụ thể hơn, nhưng chưa được thấm nhuần đầy đủ đến cán bộ quân - dân - chính các cấp.

2- Phương châm du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ là đúng đắn và đã đưa lại nhiều thắng lợi lớn. Nhưng phương châm ấy chưa được quán triệt sâu sắc đến các chiến trường.

3- Thực tế tổ chức lực lượngchỉ huy các đánh cho thấy: bước tiến bộ về trình độ tổ chức và trình độ chiến thuật còn thấp hơn và chậm hơn đường lối chiến lược, chưa bảo đảm được sự thành công của đường lối chiến lược; trình độ tổ chức chưa bảo đảm thực hiện đường lối chính trị của Đảng.

Về tình hình và nhiệm vụ chung khi cuộc kháng chiến bước sang năm thứ 5, bản báo cáo nhận định:

1- Sau hai năm tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, quân và dân ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn đồng thời cũng đứng trước nhiều khó khăn thử thách mới. Về phía địch, những thất bại trên chiến trường Đông Dương ngày càng đẩy thực dân Pháp phải đối mặt với những khó khăn hơn trước. Phong trào phản chiến của nhân dân Pháp và cuộc đấu tranh đòi độc lập của các nước thuộc địa Pháp ở châu Phi tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, sau khi được Pari tăng viện và câu kết được với tàn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa, địch đang áp chính sách chiến tranh tổng lực, ra sức củng cố thế và lực trên chiến trường Bắc Bộ, củng cố chính quyền và quân đội tay sai, vận dụng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Kế hoạch Rơve lộ rõ ý đồ của thực dân Pháp từng bước đưa cuộc chiến tranh Đông Dương và khuôn khổ chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, dựa vào viện trợ Mỹ để củng cố lực lượng, tăng cường và hiện đại hóa quân đội. Trên thực tế, thực dân Pháp đã trở thành tay sai của đế quốc Mỹ.

2- Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc là thành công lớn nhất của cách mạng thế giới kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Thắng lợi đó sẽ ảnh hưởng to lớn đến cục diện thế giới, Đông Nam Á và đặc biệt là với Đông Dương. Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thể hiện thái độ ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta. Sự kiện đó sẽ ảnh hưởng to lớn đến tiền độc cuộc chiến tranh cách mạng của Việt Nam nói riêng và cục diện Đông Nam Á nói chung(1).

3- Thế lực phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ, đang hoạt động ráo riết để can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, khống chế các nước phụ cận, hòng biến Đông Nam Á thành “khu thịnh vượng chung” của chương trình Truman.


(1) Lúc này Chủ tịch Hồ Chí Minh đang công cán tại Trung Quốc và Liên Xô. Thắng lợi ngoại giao ban đầu “ở nhà” được thông báo là Liên Xô và Trung Quốc chấp nhận viện trợ cho cuộc kháng chiến của ta trên cơ sở công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bước đột phá thắng lợi về chính trị đối ngoại sẽ tạo đà cho việc khai thông biên giới trên thực địa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #112 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 07:58:44 pm »

Trước tình hình đó, bản báo cáo xác định: năm 1950 là một năm chuyển hướng chiến lược(1). Dựa trên cơ sở phân tích dưới đây, bản báo cáo khẳng định Giai đoạn thứ ba sẽ bắt đầu:

1- Sau hai năm 1948-1949 (hai năm tích cực cầm cự - chuẩn bị tổng phản công), lực lượng của ta được tăng cường và phát triển, đã lớn mạnh khá nhanh nhưng vẫn còn yếu hơn địch. Lực lượng quân sự của địch tuy bị tổn thất, tinh thần suy yếu đi nhiều, nhưng vẫn còn mạnh hơn ta. Sự chuyển hóa tương quan lực lượng giữa tà địch thể hiện cụ thể trên các mặt sau đây:

- Về mặt tổ chức, phần lớn các đại đội độc lập của ta đã trở về tập trung thành các tiểu đoàn chủ lực trong đội hình của các trung đoàn - đại đoàn chủ lực. Điều đó không chỉ chứng tỏ sự trưởng thành của bộ đội chủ lực mà còn nói lên sự phát triển nhanh chóng của bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng tức là sự phát triển của phong trào chiến tranh du kích nói chung. Với bước đầu thực hiện nghĩa vụ quân sự, với sự ra đời của bộ đội địa phương, lực lượng vũ trang của ta đã lớn mạnh và phân hóa rõ rệt thành ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, với vị trí, chức năng, nhiệm vụ chiến lược được xác định rõ rệt.

- Riêng bộ đội chủ lực, sự trưởng thành và tiến bộ không chỉ về mặt tập trung của các trung đoàn (đại đoàn) mà các mặt kỹ thuật và chiến thuật, kinh nghiệm và tinh thần chiến đấu đều tiến bộ sau hai cuộc vận động luyện quân lập công và đợt đùa cuộc vận động rèn luyện cán bộ - chấn chỉnh quân đội (rèn cán - chỉnh quân). Lực lượng hậu bị của chủ lực cũng được tăng thêm. Trong khi chủ lực của ta ngày càng tập trung thì quân Pháp, từ tập trung ở quy mô sư đoàn ngày khởi chiến, phân tán dần thành lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn cho đến đại đội, trung đội trong các cứ điểm nhỏ (mãi gần đây ở Bắc Bộ mới dần dần tập trung trở lại).

- Về số lượng, nếu tính cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương thì ta trội hơn địch, hậu bị của ta dồi dào hơn trong khi nhân lực tại chỗ của địch thiếu thốn, khả năng tăng viện từ Pháp sang ngày càng hạn chế(2).

- Điểm yếu của ta cần khắc phục là: so với địch, ta còn kém về số lượng bộ đội chủ lực, về trang bị vũ khí và phương tiện chỉ huy. Một điểm yếu quan trọng của ta là cán bộ tiến không kịp nhiệm vụ.

2- Binh lực của địch đã đứng trước những khó khăn sau 5 năm chiến tranh xâm lược:

- Trong hai năm 1948 và 1949, trên toàn chiến trường Đông Dương, dù bị thiệt hại năng(3), nhưng chúng được tăng viện mỗi năm chừng 20 tiểu đoàn cùng trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh. Dự kiến trong năm tới, ngoài khả năng tăng viện từ Pháp sang (có thể hạn chế hơn năm 1949), địch có thể điều lực lượng từ Bắc Phi sang, phát triển quân đội tay sai, lợi dụng tàn dư quân Quốc dân Đảng Trung Hoa. Về trang bị, Pháp có thể được Mỹ viện trợ.

- Địch ngày càng bộc lộ những nhược điểm về binh lực. Cụ thể là: 1- Cơ cấu thành phần phức tạp, tinh thần chiến đấu kém (đây là nhược điểm lớn nhất của địch)(4); 2- Bố trí phân tán; 3- Khả năng bổ sung hạn chế; 4- Tiếp tế khó khăn.

Tóm lại, trước tình hình đó, vấn đề đặt ra là phải phát huy mọi khả năng của ta, lợi dụng những nhược điểm của địch để từng bước tiến lên giành ưu thế quân sự để chuyển sang giai đoạn ba. Nhiệm vụ quân sự của ta là vừa chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch vừa gấp rút bồi dưỡng và xây dựng lực lượng của ta để trong năm nay thực hiện đầy đủ điều kiện chuyển mạnh sang tổng phản công.


(1) Báo cáo tại Hội đồng Chính phủ cuối năm 1949, sau khi phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch, cả về vật chất và tinh thần, cả trong và ngoài nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận; Trong năm 1950, chiến tranh sẽ chuyển sang tổng phản công, giai đoạn cầm cự kết thúc, giai đoạn thứ 3 sẽ bắt đầu (Dẫn theo đồng chí Võ Nguyên Giáp trong bài Nhiệm vụ quân sự trước mắt - chuyển mạnh sang tổng phản công, đăng trên Quân chính tập san tháng 1-2-1950).
Sau này, trải qua nhiều cuộc hội nghị và hội thảo do Tổng hành dinh tổ chức, cuối cùng khái niệm về giai đoạn 3 được xác định là giai đoạn “giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, phát triển tiến công và phản công, làm phá sản nỗ lực chiến tranh cao nhất của Pháp và Mỹ, chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ trên bán đảo Đông Dương”.
(2) Viện trợ từ Pháp sang: năm 1947: 25 tiểu đoàn; năm 1949: 20 tiểu đoàn (sang nhỏ giọt).
(3) Theo thống kê của tham mưu, trong hai năm địch bị loại khỏi vòng chiến đấu chừng 5 vạn tên. Bản tường trình đầu năm 1951 của Williams Bullit (Trợ lý Bộ trưởng bộ Ngoại giao Hoa Kỳ) cho biết: trung bình mỗi năm nước Pháp mất vào cuộc chiến tranh Đông Dương ít nhất 450 triệu đô la, 7.000 lính Pháp và Âu Phi, 400 sĩ quan (bằng tổng số sĩ quan mà nước Pháp đào tạo hằng năm).
(4) Bước sang năm 1950, thành phần quân đội tay sai bản xứ tăng dần, chiếm khoảng trên 50% tổng số binh lực Pháp. Trải qua ba năm (1947-1949), binh lính người Pháp chính cống từ 65% tụt xuống 17%. Theo nhận xét của tướng Rơve (sau khi sang kinh lý Đông Dương), tỷ lệ lính Pháp giảm sút là một nguy cơ rất lớn đối với địch. Một tiểu đoàn lính Bắc Phi, nếu chỉ có dưới 150 lính Pháp làm nòng cốt thì sức chiến đấu sẽ giảm sút nhiều; một tiểu đoàn quân ngụy, nếu chỉ có dưới 200 lính Pháp thì không còn sức chiến đấu. Đó là chưa nói đến tinh thần phản chiến đang nảy nở trong hàng ngũ binh lính Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #113 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 07:59:07 pm »

Đề cập đến chiến lược phản công, bản báo cáo phân tích mục đích chiến lược phản công, đặc điểm giai đoạn phản công và điều kiện của giai đoạn tổng phản công. Gia đoạn tổng phản công bắt đầu và tiếp tục diễn ra trong điều kiện sự chỉ đạo của ta ngày càng vững chắc hơn, sự chỉ đạo của địch ngày càng bế tắc. Về phía ta: kinh nghiệm của ta và của bạn khiến cho sự chỉ đạo của ta sẽ tiến bộ, sáng suốt và vững chắc. Về phía địch: cấp chiến lược ngày càng đứng trước nhiều mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa bọn phản động hiếu chiến và nhân dân Pháp; giữa ý đồ chiến lược của bọn chỉ huy với tinh thần của binh sĩ. Chúng sẽ đứng trước nhiều yếu tố bất ngờ; sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, tinh thần kháng chiến của nhân dân trong vùng tạm bị chiếm, sự giúp đỡ của quốc tế đối với ta. Trước đây, cấp chiến lược của địch luôn tỏ ra do dự, chủ quan, thiển cận thì rồi đây, do không có chủ định, chúng sẽ tiếp tục do dự, chủ quan, thiển cận.

Về vận dụng các hình thức tác chiến chiến lược, bản báo cáo xác định phương châm Vận động chiến là chủ yếu - Du kích chiến là thứ yếu - Trận địa chiến là phụ.

Vận động chiến là hình thức tác chiến chủ yếu, trước hết vì vận động chiến có thể phát huy và lợi dụng đến cùng nhân tố tinh thần và sở trường chiến đấu để thắng giặc, lại vì trong giai đoạn tổng phản công, chỉ có đánh vận động mới tiêu diệt được địch ở tầm chiến lược (nhất là các đội quân lưu động - ứng chiến mạnh của địch) và mới hạn chế được tổn thất do đánh công kiên trong điều kiện trang bị còn hạn chế của ta.

Du kích chiến là thứ yếu nhưng vẫn có một vị trí chiến lược quan trọng, vì nhiệm vụ tạo địa bàn cho chủ lực đánh vận động, phối hợp với chủ lực tiêu hao và kiềm chế binh lực địch, khuếch trương chiến quả, tham gia phá hoại đường sá, phối hợp đắc lực với vận động chiến và tạo thêm điều kiện cho vận động chiến phát triển. Du kích chiến là một hình thức tác chiến phát huy được tinh thần chiến đấu cao, huy động được đông đảo nhân dân tham gia đánh địch một cách rộng khắp trên các chiến trường khác nhau. Du kích chiến thích hợp với điều kiện trang bị và trình độ kỹ thuật còn hạn chế của đông đảo lực lượng vũ trang địa phương.

Trận địa chiến sẽ xuất hiện nhiều trong thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh, nhưng khi mới bước vào giai đoạn 3 thành phần trận địa chiến chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong các chiến dịch. Trận địa chiến đòi hỏi một trình độ trang bị kỹ thuật rất cao trong khi quân ta còn kém về phương diện đó. Cho nên cần ra sức tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch khi chúng còn phân tán, khi chúng đang vận động, để hạn chế khả năng tập trung của địch để giảm bớt trận địa chiến, đồng thời cũng là tạo thêm điều kiện thuận lợi một khi phải tiến hành trận địa chiến. Về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, phải ra sức hạn chế những trận đánh bằng trận địa chiến, hạn chế được phần nào là thành công phần đó.

Phần khó nhất đối với nhóm biên soạn là Dự kiến giai đoạn tổng phản công sẽ chuyển biến như thế nào? Do đó Tổng Tham mưu trưởng thường nêu lên nhưng vấn đề để anh em thảo luận trước khi biên soạn.

- Có nhất thiết là giai đoạn tổng phản công phải bắt đầu bằng một chiến dịch có ý nghĩa quan trọng về chiến lược hai không? (hồi đó gọi là trận quyết định hay trận căn bản).

- Cũng có thể giai đoạn tổng phản công bắt đầu bằng một trận căn bản làm so sánh lực lượng thay đổi hẳn, như chiến dịch Việt Bắc mở đầu giai đoạn 2.

- Cũng có thể có một thời kỳ quá độ giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3, trong đó diễn ra một số trận thắng lớn, kết quả một số chiến dịch quan trọng cộng lại, làm cho lực lượng so sánh từng bước thay đổi một cách cơ bản.

Một vấn đề cụ thể khác, đó là giai đoạn tổng phản công diễn ra dài hay ngắn? Nhóm nghiên cứu đồng tình nêu lên hai giả thuyết:

- Có thể rút ngắn do các yếu tố chính trị tinh thần tạo nên khả năng tiến bộ vượt bậc của lực lượng vũ trang và của toàn dân, sự phát triển đột biến của cuộc chiến tranh trong vùng sau lưng địch, khả năng đột biến về động viên nhân vật lực, khả năng giúp đỡ quốc tế… Ngoài ra còn có thể dự kiến giai đoạn tổng phản công rút ngắn do những sai lầm về chỉ đạo chiến lược của Bộ Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp, khả năng tan rã trong hàng ngũ quân đội tay sai, khả năng phát triển của phong trào phản chiến của binh lính Pháp hoặc trong nhân dân Pháp, khả năng rối ren trong nội bộ giới cầm quyền Pari và phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước còn dưới chế độ thuộc địa của Pháp…

- Có thể kéo dài do những khó khăn và nhược điểm của ta về trang bị kỹ thuật, phải cần một thời gian dài mới có thể khắc phục được, trong bối cảnh giúp đỡ của quốc tế hạn chế, cũng có thể do điều kiện địa lý chiến trường của ta dài và hẹp, có thể địch chịu thất bại trên chiến trường chính miền Bắc, nhưng kéo về miền Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược; một yếu tố quan trọng có thể giúp Pháp duy trì cuộc chiến tranh lâu dài, đó là sự viện trợ của các nước đế quốc, trước hết và trực tiếp là đế quốc Mỹ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #114 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:00:04 pm »

Từ hai giả thiết trên, hai vấn đề được tập thể nhóm nghiên cứu nhất trí khẳng định trong Dự thảo Báo cáo, đó là:

1- Nếu giai đoạn tổng phản công kéo dài thì chiến trường miền Nam sẽ gặp khó khăn. Do đó, về chỉ đạo chiến lược cần chú ý đặc điểm của điều kiện địa lý chiến lược để hạn chế khả năng quân Pháp lợi dụng đặc điểm đất nước ta dài và hẹp để tạo ra những thuận lợi về chiến lược cho chúng. Cụ thể là: không nên chỉ tập trung sự chỉ đạo chiến trường chính miền Bắc mà sao nhãng các chiến trường khác; trong khi tập trung lực lượng để tiêu diệt địch trên chiến trường chính thì không để cho địch có điều kiện và thời gian để củng cố thế và lực của chúng ở miền Nam (và cả trên hai chiến trường bạn Lào và Campuchia) để tiếp tục kéo dài chiến tranh.

2- Yếu tố quyết định giai đoạn tổng phản công rút ngắn hay kéo dài là sự chỉ đạo và những cố gắng chủ quan của ta. Giai đoạn tổng phản công diễn biến thuận lợi nếu sự chỉ đạo của Tổng hành dinh sáng suốt, linh hoạt, sát thực tế, mạnh bạo, kịp thời khai thác hết mọi khả năng của ta, lợi dụng và khoét sâu mọi điều kiện khó khăn của địch. Sự cố gắng của toàn dân, toàn quân - không những khi bắt đầu bước vào giai đoạn tổng phản công mà trong suốt giai đoạn đó - phải liên tục, vượt bậc, cho đến thắng lợi cuối cùng.

Một nội dung khác được nêu lên để nhóm biên soạn thảo luận, đó là cần làm gì để chuyển sang tổng phản công? Sau khi thảo luận, anh em không đồng tình với ý kiến chỉ tập trung vào yêu cầu nắm vững 10 nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến lược(1), mà phải đề cập đến các nội dung cụ thể và toàn diện, gồm cả tác chiến, xây dựng các binh đoàn chủ lực, xây dựng bộ đội địa phương, phát triển dân quân, xây dựng cơ sở trong lòng địch, binh vận, địch vận, củng cố căn cứ địa, xây dựng hậu phương, đào tạo cán bộ và tiếp tục triển khai cuộc vận động rèn luyện cán bộ - chấn chỉnh quân đội.

Tập thể thảo luận và đồng tình nhấn mạnh hai điểm:

1- Phải nhận định cho rõ chuẩn bị lực lượng để chuyển sang tổng phản công là một công cuộc to lớn, đòi hỏi ở quân đội và nhân dân một sự hy sinh, cố gắng phi thường, lớn hơn sự hy sinh, cố gắng mấy năm kháng chiến vừa qua. Nhận định như vậy để tránh chủ quan khinh địch, để nỗ lực kịp thời, lãnh đạo kịp thời.

2- Cần tiếp tục nắm vững và quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân, nhận rõ phương châm Tất cả vì tiền tuyến - tất cả để chiến thắng. Đó là điều kiện căn bản để năm 1950 trở thành một năm chuyển hướng chiến lược.

Ngay từ lần đầu cho ý kiến vào bản dự thảo, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh thêm hai vấn đề: Kiện toàn lãnh đạo chiến tranh của Đảng và tổng động viên toàn lực để chuyển sang tổng phản công.

Trải qua hơn ba tuần, bản dự thảo mới được thông qua lần cuối. Mặc dù vậy, sau này anh em được biết có những phần, những đoạn Tổng Tư lệnh phải tự viết lại. Dù sao với Bộ tổng tham mưu, đây lại thêm một bước trưởng thành quan trọng, nâng dần “tay nghề” để giúp trên biên soạn những vấn đề ở tầm chiến lược của Tổng hành dinh.


(1) Mười nguyên tắc chỉ đạo tác chiến gồm:
1- Tập trung binh lực cao độ, thực hiện ưu thế trong các chiến dịch và từng trận chiến đấu, đồng thời buộc địch giữ hiện trạng phân tán, tạo điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận quan trọng sinh lực địch khi chúng còn phân tán.
2- Tiêu diệt các vị trí đồng thời với các đội quân ứng chiến, tập đánh các vị trí nhỏ rồi đánh những vị trí lớn, tiến lên đánh các đô thị; tập đánh các đội ứng chiến nhỏ, tiến lên đánh các đội quân cơ động lớn.
3- Nghi binh, đánh lạc hướng địch, táo bạo, bất ngờ, triệt để lợi dụng yếu tố tinh thần.
4- Phối hợp tác chiến với binh vận, địch vận.
5- Chủ lực cần có bộ phận đánh, bộ phận nghỉ để giữ liên tục chiến đấu trong các chiến dịch.
6- Đánh phá giao thông và cơ sở vật chất của địch; chống địch càn quét, bảo vệ kinh tế của ta, phá hoại kinh tế địch.
7- Phát triển chiến tranh du kích, nhất là trong các vùng chiến lược quan trọng, tổ chức các đội quân ngầm để phối hợp tác chiến với chủ lực.
8- Tăng cường chỉ đạo các chiến trường phối hợp, tạo điều kiện tập trung lực lượng trên chiến trường chính.
9- Phối hợp chiến lược trên cả ba chiến trường Đông Dương.
10- Tăng cường chỉ đạo tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, tăng cường chỉ đạo học tập chiến thuật, kỹ thuật.
Quá trình phát triển của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những nguyên tắc này từng bước được nâng cao, hoàn chỉnh, sát với từng đối tượng tác chiến (Pháp, Mỹ), với yêu cầu thực tế của chiến trường và trong từng giai đoạn chiến lược.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #115 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:01:53 pm »

II

Trong khi bộ phận nghiên cứu tập trung vào việc soạn thảo văn kiện cho Tổng Tư lệnh thì Phòng Tác chiến theo dõi việc chuẩn bị triển khai kế hoạch chiến dịch trên hướng Tây Bắc.

Sau mệnh lệnh sơ bộ ngày 22-12-1949 của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 6-1-1950, Thường vụ Trung ương chính thức ra chỉ thị mở chiến dịch Tây Bắc (sau gọi là chiến dịch Lê Hồng phong I) đồng thời chuẩn bị chiến trường Đông Bắc. Mục đích đề ra cho chiến dịch Lê Hồng phong I là phối hợp với bạn tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng nếu chúng tràn qua biên giới Tây Bắc; tiêu diệt một số vị trí địch; làm tan rã khối ngụy quân người Thái. Mức cao nhất là giải phóng thị xã Lao Cai, mở thông đường quốc tế. Hướng chính của chiến dịch là Lao Cai, hướng phụ là Điện Biên Phủ và Sầm Nưa, hướng nghi binh là Sơn La. Thời gian tác chiến dự kiến từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 3-1950. Lực lượng tham gia chiến dịch ngoài 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn chủ lực, một số đơn vị trợ chiến của Bộ, lực lượng chủ yếu là bộ đội và dân quân du kích các tỉnh Tây Bắc. Chiến dịch do các đồng chí Bằng Giang, Song Hào và Cao Văn Khánh chỉ huy.

Ngày 7-2-1950, chiến dịch Lê Hồng phong I bắt đầu. Các cuộc tiến công của Trung đoàn 102 vào thị trấn Phố Lu (từ ngày 8 đến ngày 12-2 và của Trung đoàn 165 vào vị trí Nghĩa Đô (từ ngày 7 đến ngày 23-2), tuy giải phóng được Phố Lu và buộc địch phải rút khỏi Nghĩa Đô nhưng ta bị thiệt hại năng. Sau trận Phố Lu, Trung đoàn 102 phải dừng lại củng cố, không tiếp tục tiến công vào Lao Cai như đã dự kiến. Mục tiêu đề ra không đạt được. Điều đó giải thích vì sao chỉ sau đợt 1, Bộ Chỉ thị kết thúc chiến dịch.

Điều mà Phòng Tác chiến thấy cần nghiên cứu và rút ra kết luận về chỉ huy chiến đấu trong chiến dịch này là vấn đề sử dụng pháo binh, hợp đồng bộ pháo, dự kiến đánh quân dù tăng viện, đánh quân địch rút lui… Nhưng chưa đủ. Các đồng chí còn được Tổng Tham mưu trưởng cho xem bức điện đề ngày 20-3 của tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi các đồng chí chỉ huy chiến dịch Lê Hồng phong I, nhận xét và nghiêm khắc phê bình những sai sót về phương thức chỉ huy tác chiến của quân ta, về kết quả và nguyên nhân không thành công của chiến dịch.

Qua nghiên cứu bức điện của Tổng Tư lệnh, được biết sau khi nhận được báo cáo của các đồng chí Bằng Giang, Song Hào và Cao Văn Khánh, ngày 20-3 đồng chí Tổng Tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy chỉ thị các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch kiểm điểm nghiêm khắc hơn về các vấn đề nắm địch, về chỉ huy tác chiến và nhất là về dự kiến mức thương vong tổn thất của ta. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thắng thắn chỉ ra những thiếu sót của bộ Chỉ huy chiến dịch về “cách dùng binh thiếu cân nhắc, về sự tiêu hao sinh lực của ta, mua những chiến công oanh liệt với một giá quá đắt”.

Trong khi đó, trên đường số 4, để chuẩn bị chiến trường theo tinh thần Chỉ thị ngày 6-1-1950 của thường vụ Trung ương, ngày 25-3 Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái ký bản dự thảo kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới Đông Bắc. Mục đích chung của toàn mặt trận là phá thế bao vây của địch từ Cao Bằng đến Na Sầm, do đó khu vực hoạt động thứ nhất là từ Cao Bằng đến Đồng Đăng, khu vực thứ hai là từ Đồng Đăng đến Tiên Yên. Hai mục tiêu chính của hai đợt là Cao Bằng và Thất Khê. Lực lượng sử dụng là hai trung đoàn 174 và 88, tiểu đoàn 426 (của Liên khu Việt Bắc) và lực lượng địa phương Lạng Sơn và Cao Bằng. Yêu cầu đặt ra là chuẩn bị khẩn trương để có thể hoạt động càng sớm càng tốt (khoảng hạ tuần tháng 4), trước khi Pháp được Mỹ viện trợ và trước khi địch củng cố phòng tuyến biên giới. Bản dự thảo kế hoạch cũng nêu lên khả năng, từ khoảng nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, hai trung đoàn có thể được thay đổi trang bị và sẽ có các cố vấn Trung Quốc (trong dự án gọi là các “huấn luyện viên chuyên môn”) hướng dẫn cách đánh bộc phá (khi đó gọi là bộc lôi) trước khi bước vào chiến dịch(1).

Từ thực tế của các đơn vị lúc này, tham mưu dự kiến Trung đoàn 174 có thể chuẩn bị xong sớm và không loại trừ khả năng nổ súng trước Trung đoàn 88.

Tại mặt trận Tây Bắc, sau kết quả hạn chế của chiến dịch Lê Hồng phong I, theo chỉ thị của Tổng Tư lệnh, ngày 22-4 Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Bắc, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 và Ban Chỉ huy Trung đoàn 209, khẳng định chủ trương tiếp tục chiến dịch Tây Bắc, nhằm giải phóng thị xã Lao Cai và phân khu Lao Cai, mở thông đường quốc tế, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Theo nhận định của Bộ Tổng tư lệnh, nhìn chung trên toàn chiến trường Bắc Bộ lúc này, hướng yếu nhất của địch vẫn là Tây Bắc.


(1) Chỉ thị của bộ Tổng tham mưu liên quan đến chuyến đi của chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc và Liên Xô. Cụ Hồ rời Tân Trào đầu tháng 1-1950 và trở về đến căn cứ địa Việt Bắc đầu tháng 4. Các cơ quan Tổng hành dinh đã được thông báo trước về khả năng viện trợ và học tập kinh nghiệm của bạn nên Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị kế hoạch phối hợp với Giải phóng quân Trung Quốc trong việc tiếp nhận trang bị mới và được bạn giúp huấn luyện chiến thuật công kiên (tức đánh công sự vững chắc bằng bộc phá).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #116 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:03:01 pm »

Công việc chuẩn bị chiến trường phải được xúc tiến khẩn trương để bộ đội có thể bắt đầu hoạt động vào khoảng trung tuần tháng 6-1950.

Tổng Tham mưu trưởng thấy cần cử ngay cán bộ tác chiến và tình báo xuống cùng phái viên tham mưu đã theo dõi chiến dịch từ đầu, giúp Bộ Chỉ huy trong công tác tổng kết chiến dịch Lê Hồng phong I. Tổng Tham mưu trưởng còn gửi thư riêng cho các đồng chí Bằng Giang, Song Hào và Cao Văn Khánh, nhắc lại những điều anh Văn đã dặn cần làm rõ để rút ra được những bài học bổ ích cho những chiến dịch sau này.

Như vậy là sau chiến dịch Lê Hồng phong I, suốt mùa hè năm 1950 Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo triển khai kế hoạch tác chiến trên cả hai hướng Đông Bắc và Tây Bắc nhằm thực hiện chủ trương của Thường vụ Trung ương khai thông biên giới, trong đó hướng Tây Bắc là chủ yếu vì là hướng địch yếu hơn.

Về mặt xây dựng lực lượng, trước tình hình trong và ngoài nước chuyển biến mạnh mẽ, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyển mạng sang tổng phản công, đầu tháng 4 năm 1950 Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị tham mưu - quân huấn toàn quân(1). Mục đích hội nghị do Tổng Tư lệnh đề ra là góp phần quán triệt phương châm chiến lược, chiến thuật của Tổng hành dinh, đồng thời thống nhất thêm một bước nhận thức về nhiệm vụ của cơ quan tham mưu và quân huấn các cấp trong tình hình mới.

Phát biểu trong hội nghị, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái nhấn mạnh: Hội nghị phải thảo luận phương hướng và biện pháp khắc phục những yếu kém tồn tại từ hội nghị tham mưu - quân huấn cách đây hai năm, đó là: 1- Cán bộ các cấp, nhất là trong bộ đội chủ lực, chưa nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa huấn luyện với tác chiến, giữa thao trường với chiến trường; 2- Tổ chức, chức trách, nhiệm vụ chỉ đạo huấn luyện ở các cấp từ Bộ xuống liên khu, đại đoàn, tỉnh đội chưa được xác định rõ rệt nên có việc các cơ quan chồng chéo lên nhau nhưng có việc không có bộ phận nào phụ trách; 3- Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chỉ đạo huấn luyện ngay tại các tổ chức nghiệp vụ Tổng hành dinh (Bộ Tổng tham mưu, Cục Quân huấn thuộc Bộ Quốc phòng, Cục Chính trị, các cơ quan phụ trách binh chủng…) nên các mặt chỉ đạo huấn luyện (mục đích, yêu cầu, nội dung, tổ chức và phương pháp huấn luyện…) thường không ăn khớp. mặt khác các cơ quan lại không thống nhất một kế hoạch chung về tài chính và vật chất huấn luyện nên gây khó khăn cho việc huấn luyện của bộ đội địa phương và hệ thống các trường các liên khu…

Nói chuyện với hội nghị, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói về tình hình mới đòi hỏi bước phát triển mới về nhiệm vụ quân sự; tình hình công tác tham mưu - quân huấn và nhiệm vụ đề ra cho tham mưu và quân huấn trong tình hình mới. Tổng Tư lệnh chỉ rõ hướng đi sắp tới của công tác tham mưu - quân huấn là phải góp phần quan trọng vào việc xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, có thể tác chiến dài ngày, có khả năng tác chiến cả trong đánh công kiên và vận động, đáp ứng yêu cầu mở các chiến dịch lớn, tiêu diệt ở tầm chiến lược.

Một tháng sau hội nghị tham mưu - quân huấn, Bộ Tổng tham mưu triệu tập Hội nghị cán bộ bộ đội địa phương và dân quân du kích lần thứ 5 họp trung tuần tháng 5 để xác định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và quân hậu bị trong tình hình mới mà trực tiếp là phối hợp với chủ lực trong mùa khô sắp tới.

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã biểu dương thành tích của lực lượng vũ trang địa phương trong cả nước trong hai năm qua và phân tích phương hướng nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong tình hình mới. Đồng chí nhận mạnh yêu cầu công tác chính trị và giáo dục tư tưởng, kiện toàn cơ quan lãnh đạo từ khu, tỉnh đến huyện xã, công tác cán bộ, vấn đề trang bị và huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, công tác địch vận và nhất là ngụy vận, giải phóng tốt vấn đề cấp dưỡng và quyền lợi của bộ đội địa phương.

Ông nhấn mạnh: Hội nghị phải đứng trên quan điểm chiến tranh nhân dân mà kiểm điểm, mà thảo luận. Phải luôn nhớ rằng cuộc chiến tranh của ta là cuộc chiến tranh nhân dân nên không thể coi thường lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích vì lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp đưa quảng đại quần chúng lên con đường đấu tranh vũ trang.


(1) Lúc này, hệ thống tổ chức quân huấn các cấp vẫn tách rời hệ thống tham mưu trong toàn quân. Tính bất hợp lý đó được phát hiện từ hội nghị tham mưu - quân huấn năm 1948 nhưng chưa được khắc phục. Phải đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 121 (11-7-1950) xác định các thành phần tổ chức Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, quân huấn mới trở thành một cục trong Bộ Tổng tham mưu và hệ thống quân huấn trong toàn quân mới quy vào một mối thuộc cơ quan tham mưu các cấp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #117 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:03:31 pm »

Trung tuần tháng 5, trong một cuộc họp bàn kế hoạch mùa khô 1950, các đồng chí phụ trách ba cơ quan tham mưu, chính trị và cung cấp được Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thông báo về hướng chỉ đạo chiến dịch trong mùa khô sắp tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi công cán nước ngoài đã về. Chuyến đi của Người đã đem lại kết quả to lớn. Sau Liên Xô, Trung Quốc, đến lượt Triều Tiên và các nước dân chủ mới ở Đông Âu lần lượt công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi của cuộc đột phá về ngoại giao sẽ tạo đà và điều kiện thuận lợi cho việc khai thông biên giới. Trong cuộc hội đàm trung tuần tháng 2 vừa qua giữa Xtalin - Mao Trạch Đông - Hồ Chí Minh, ba nhà lãnh đạo đã thống nhất phương hướng chung trong việc viện trợ quân sự cho Việt Nam và phân công cho Trung Quốc trực tiếp đảm nhiệm. Vì Việt Nam và Trung Quốc có địa lý sát kề, tình hình hai nước có nhiều điểm tương đồng, nên Xtalin nêu lên một “nguyên tắc” là Trung Quốc viện trợ vũ khí cho Việt Nam bao nhiêu thì Liên Xô sẽ hoàn lại cho Trung Quốc theo tỷ lệ 1/1.

Theo thỏa thuận ban đầu, Liên Xô trang bị cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37mm, một số xe vận tải Môlôtôva, một số thuốc quân y. Trung Quốc trang bị vũ khí và giúp huấn luyện cho một số trung đoàn bộ binh và pháo binh, đồng thời đảm nhiệm vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô quá cảnh sang Việt Nam. Giữa ta và Trung Quốc thỏa thuận cụ thể thêm về viện trợ vật tư quân sự, cử đoàn cố vấn quân sự sang giúp Việt Nam, về kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, xây dựng lực lượng và đồng ý để Việt Nam đưa Trường Lục quân sang Vân Nam để tiếp tục đào tạo cán bộ. Lúc này, Trung Quốc chưa có điều kiện giúp ta về súng chống tăng và pháo cao xạ.

Sau khi phân tích và cân nhắc đặc điểm chiến trường biên giới trên cả hai hướng Tây Bắc và Đông Bắc, nghiên cứu hướng vào của hàng viện trợ, tình hình cầu đường và khả năng hạn chế trên hướng Tây Bắc trước yêu cầu huy động nhân lực, vật lực phục vụ một chiến dịch lớn, Thường vụ Trung ương quyết định chuyển hướng mở chiến dịch khai thông biên giới sang Đông Bắc, cụ thể là trên đường số 4, từ Cao Bằng đến Thất Khê. Tây Bắc trở thành hướng phối hợp. Trước mắt, ba cơ quan tham mưu, chính trị và cung cấp chuẩn bị cho 5 trung đoàn sang bên kia biên giới nhận trang bị và huấn luyện, chiến thuật đánh công kiên, đồng thời khẩn trương nghiên cứu dự án mở chiến dịch trên đường số 4. Để giữ bí mật và đánh lạc hướng địch về hướng tiến công chiến lược, tham mưu vẫn chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Tây Bắc tiếp ục triển khai chuẩn bị hướng Lao Cai, vừa nhằm nghi binh chiến lược vừa chuẩn bị phối hợp với hướng Cao Bằng. Cơ quan cung cấp nghiên cứu kế hoạch khẩn trương sửa đường số 1 và đường số 3, vừa phục vụ triển khai chiến dịch vừa tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng viện trợ sắp tới. Về tổ chức lực lượng, nên lệnh ngay cho mặt trận Trung du để Trung đoàn 36 rời Bắc Bắc về đội hình của đại đoàn, để Đại đoàn 308 có đủ ba trung đoàn trước khi bước vào mùa khô.

Chỉ vài ngày sau, tin kỹ thuật cho biết địch nói về cứ điểm Đông Khê bị tiến công. Anh Thái chỉ thị cho Phòng Tác chiến hỏi vì sao được biết trận đánh của Trung đoàn 174 diệt cứ điểm Đông Khê diễn ra ngày 25-5. Ngay chiều hôm đó, khi quân ta đã rút đi, địch ném một tiểu đoàn xuống chiếm lại. Sau khi nắm được chi tiết trận đánh, anh Thái báo cáo anh Văn và nói thêm rằng Trung đoàn 174 đánh theo kế hoạch ngày 25-3 của Bộ. Theo kế hoạch đó, sau khi chuẩn bị xong, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 có báo cáo xin ý kiến phái viên của Bộ và được anh Phan Phác đồng ý. Tiểu đoàn lê dương 3/3REI ở trong cứ điểm bị tiêu diệt, ta thu 2 pháo 105mm, 2 pháo 57mm, 10 đại liên và súng cối.

Tổng Tư lệnh không nghĩ đến việc Trung đoàn 174 đã “đánh động” quân Pháp trên đường số 4 và trận đánh sẽ làm ảnh hưởng đến chiến dịch sắp tới, vì trên con đường này, địch không chỉ một lần nếm đòn của Trung đoàn 174. Tuy nhiên, Tổng Tư lệnh nói với Tổng Tham mưu trưởng rằng có thể địch sẽ củng cố phòng tuyến vững chắc hơn. Đó là điều cần dự kiến.

Sau bức điện ngày 30-5 của Tổng Tư lệnh biểu dương Trung đoàn 174, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt được gọi về Bộ để báo cáo cụ thể trận đánh Đông Khê và tình hình mới nhất trên đường số 4. Anh Văn nói với anh Thái cho gọi thêm mấy cán bộ tình báo và tác chiến cùng nghe Trung đoàn trưởng 174 báo cáo và anh nhấn mạnh: Những kinh nghiệm trong trận công kiên này rất quan trọng đối với đơn vị trong những trận đánh cứ điểm lớn sắp tới. Tham mưu cần nghiên cứu và chỉ đạo vận dụng, trong đó có bài học quan trọng là đánh điểm mà không dự kiến đánh viện nên bỏ lỡ thời cơ tiểu đoàn tiểu đoàn địch nhảy xuống chiếm lại phân khu Đông Khê ngay chiều 25-5.

Báo cáo xong, trước khi trở lại chiến trường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 lại đề nghị được giao nhiệm vụ tiến công Đông Khê lần thứ hai nếu Bộ quyết định mở chiến dịch sắp tới trên đường số 4. Đặng Văn Việt cho rằng trận tiến công Đông Khê ngày 25 là một bước tập dượt của trung đoàn để tham gia chiến dịch sắp tới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #118 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:04:22 pm »

III

Sau khi có chủ trương của Bộ thống soái chuyển hướng chiến dịch giải phóng biên giới từ Đông Bắc sang Tây Bắc, ngay từ đầu tháng 7, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trực tiếp chỉ đạo việc làm dự án kế hoạch sơ bộ chiến dịch Biên giới - mang mật danh chiến dịch Lê Hồng Phong II. Ý tưởng của tham mưu lúc này là cố tranh thủ mở chiến dịch sớm trước khi địch củng cố phòng tuyến biên giới.

Trong phần nhận định tình hình địch, dự án viết; “Nhìn chung ở Bắc Bộ, một mặt địch chú trọng phát triển ở đồng bằng nhưng một mặt chúng cố gắng tăng cường ở biên giới để phong tỏa đường liên lạc quốc tế của ta. Riêng mặt biên giới, sau trận Đông Khê, địch điều thêm binh lực cố chiếm lại; tăng quân ở Cao Bằng; điều quân ứng chiến rải trên các cứ điểm phía bắc Lạng Sơn; càn quét, như là chung quanh Cao Bằng để phá đường viện trợ của ta…”. Chủ trương của ta là tiêu diệt một phần sinh lực địch ở khu biên giới, giải phóng biên giới từ Cao Bằng đến Thất Khê, mở đường giao thông quốc tế để làm đà cho công cuộc chuẩn bị tổng phản công.

Bản dự án chia chiến dịch thành ba thời kỳ. Thời kỳ 1: Tiêu diệt Cao Bằng, kiềm chế Đông Khê và Thất Khê; Thời kỳ 2: Bao vây Đông Khê, tiêu diệt Thất Khê, kiềm chế Lạng Sơn; Thời kỳ 3: Tùy tình hình cụ thể mà khuếch trương chiến quả. Binh lực dự kiến: Đại đoàn 308, hai trung đoàn 174 và 209, Tiểu đoàn 426 Liên khu Việt Bắc, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Lạng Sơn và Cao Bằng. Chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy và có thể bắt đầu vào tháng 8-1950(1).

Ngày 7-7, Tổng Tư lệnh chính thức ra mệnh lệnh mở chiến dịch biên giới. Về công tác chuẩn bị, bản mệnh lệnh nhấn mạnh trọng tâm là ở Cao Bằng, thứ đến Thất Khê rồi đến Đông Khê và Na Sầm. Dự kiến chiến dịch mở màn trung tuần tháng 8 và có thể kéo dài trong hai tháng nhưng cố gắng rút ngắn thời gian.

Ba ngày sau, Tổng Tham mưu trưởng trình Tổng Tư lệnh kế hoạch tác chiến chiến dịch Lê Hồng Phong II. Kế hoạch được thông qua với mục tiêu mở màn chiến dịch là Cao Bằng. Tổng Tư lệnh chỉ thị cho tham mưu bổ sung một số chi tiết: nghi binh Lạng Sơn trong đợt 1; có thể đánh Đông Khê hay Na Sầm với cách đánh “vây thành công viện” trong đợt 2 và 3; về các chiến trường phối hợp, Tổng Tư lệnh nhấn mạnh: mặt trận Tây Bắc có nhiệm vụ đánh lạc hướng phán đoán của địch, giành bất ngờ cho chiến trường chính…, lệnh ngay cho Trung đoàn 209 (lúc này vẫn đang ở Tây Bắc) về để kịp nhận nhiệm vụ mới…

Để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ máy quân sự Tổng hành dinh hoàn thành nhiệm vụ giúp Bộ Tổng tư lệnh triển khai lần đầu ra quân đánh lớn trên chiến trường biên giới Đông Bắc, ngày 1-7-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh 121 ấn định các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam, xác định tổ chức và nhiệm vụ của ba cơ quan Bộ Tổng tư lệnh là Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp. Tiếp đó là các sắc lệnh bổ nhiệm người đứng đầu các cục và tổng cục thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Hai ngày sau, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra thông tư quy định tổ chức mới của ba tổng cục. Theo đó, Bộ Tổng tham mưu gồm các cục; Tác chiến, Quân báo, Quân huấn, Dân quân, Thông tin liên lạc, Quân lực và ba phòng độc lập: Chính trị, Hành chính quân trị và Bí thư. Bộ Tổng tham mưu còn có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động của các cục Công binh và Pháo binh.

Cùng ngày 11-7, đoàn cán bộ Bộ Tổng tham mưu lên đường đi biên giới chuẩn bị chiến trường(2).

Khó khăn đầu tiên của bộ phận tiềm trạm chuẩn bị chiến trường là vấn đề nắm địch. Lúc này, tuy mới có Sắc lệnh 121, về cơ cấu tổ chức Bộ Tổng tư lệnh nhưng vì sắc lệnh vừa được công bố, các tổ chức ở cơ sở chưa kịp thay đổi. Tổ chức tình báo vẫn còn chia làm hai bộ phận: Phòng Tình báo của Bộ Tổng tham mưu và Cục Tình báo của Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy (cũ). Các tỉnh đội chưa có tổ chức quân báo riêng mà chỉ có chi tình báo của tỉnh do Cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy (cũ) chỉ đạo. Các chi tình báo hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn lại chưa có tổ chức trinh sát chuyên nghiệp mà chỉ nắm tình hình địch qua các cơ sở quần chúng chung quanh cứ điểm của chúng. Một khó khăn khác là phương tiện thông tin liên lạc, vốn đã thiếu thốn từ trước chưa được khắc phục. Yêu cầu tổ chức thông tin trên một chiến trường chiều dài khoảng 135 kilômét (Cao Bằng - Lạng Sơn), khó khăn đó lại càng lớn, trong khi phương tiện thông tin viện trợ của bạn chưa đến. Rất nhiều trường hợp phải dựa vào đường dây của bưu điện địa phương nên khó giữ bí mật mà chạy chân thì mất rất nhiều thời gian.


(1) Trong hội nghị cuối tháng 7-1950, một lần nữa Thường vụ Trung ương lại khẳng định và nhấn mạnh yêu cầu phải thực hiện bằng được nhiệm vụ giải phóng biên giới Đông Bắc. Trên cơ sở đó, Bộ Tổng tư lệnh xác định quyết tâm “tập trung ưu thế binh hỏa lực nhanh chóng tiêu diệt quân địch ở Cao Bằng”. Cũng trong hội nghị này, Thường vụ quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Biên giới gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp (Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng) và các ủy viên Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Lê Liêm và Bùi Quang Tạo (ủy viên Liên khu ủy Việt Bắc).
(2) Đoàn gồm có (chức danh mới theo Sắc lệnh SL/121): Nguyễn Đình Chuẩn - Phó phòng Tác chiến Cục Tác chiến; Cao Pha - Trưởng phòng Trinh sát Cục Quân báo; Hoàng Đạo Thúy - Cục trưởng Thông tin liên lạc; Phan Ngươn Đang - Trưởng phòng Trang bị Cục Quân lực; Vũ Văn Thềm - Phó phòng Hành chính quản trị.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Hai, 2013, 08:09:41 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #119 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2013, 08:06:44 pm »

Ngày 28-7, trong quyết định các thành viên phụ trách các phòng của mặt trận bộ, Tổng Tư lệnh xác định Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch; Phái viên Bộ Tổng tư lệnh Phan Phác làm Tham mưu phó chiến dịch. Tiếp đó, ngày 31 Đảng ủy mặt trận họp nghe ba cơ quan báo cáo tình hình chuẩn bị và vẫn khẳng định: hướng chính là Cao Bằng, sau khi giải quyết Cao Bằng sẽ chuyển xuống tiêu diệt Đông Khê…(1)

Sau khi phương hướng chiến dịch đã được xác định, Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái khẩn trương chuẩn bị lên đường ra mặt trận, mọi công việc cơ quan tham mưu ở căn cứ địa do Phó Tổng tham mưu trưởng Đào Văn Trường đảm nhiệm. Hai anh Hoàng Văn Thái và Đào Văn Trường bàn và thống nhất công việc bộ phận “ở nhà”, ngoài việc theo dõi các chiến trường phối hợp để thông báo lên Chỉ huy sở tiền phương của Bộ, cần tập trung vào việc ổn định các cục theo tổ chức mới và đặc biệt là theo dõi và chỉ đạo địa phương và Trung đoàn 246 tác chiến trong trường hợp địch tiến công lên hướng Tuyên Quang hoặc Thái Nguyên.

Tới Cao Bằng, trung thành với phương hướng tác chiến chiến dịch được xác định trong cuộc họp cuối củng của Đảng ủy và sau khi đi trinh sát thực địa, Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tác chiến mở màn chiến dịch bằng trận tiến công thị xã Cao Bằng, đồng thời triển khai lực lượng đánh quân tăng viện của địch cả bằng đường bộ và đường không từ Cao Bằng đến Thất Khê. Ngày 2-8, Đảng ủy họp mở rộng, tiếp đó Đảng ủy triệu tập hội nghị cán bộ các trung đoàn, đại đoàn tham gia chiến dịch, nghe Tham mưu trưởng chiến dịch phổ biến kế hoạch tác chiến sơ bộ (tiến công Cao Bằng và kế hoạch đánh viện) để các đơn vị tranh thủ thời gian chuẩn bị. Trong lúc hội nghị cán bộ đang họp, chiều ngày 3-8 Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch Võ Nguyên Giáp lên tới Sở Chỉ huy lâm thời. Đại tướng chỉ nói thêm với cán bộ về điều kiện thuận lợi và khó khăn của chiến dịch, chỉ ra phương hướng nỗ lực khắc phục những khó khăn đó, để cán bộ nhanh chóng trở lại đơn vị hoàn thành việc chấn chỉnh tổ chức, tiếp tục kế hoạch huấn luyện bổ sung và chuẩn bị chiến trường…

Sau khi nghe anh Thái báo cáo tình hình, anh Văn phân vân, vì thấy tình hình địch đã thay đổi, việc chọn Cao Bằng làm mục tiêu đột phá mở màn chiến dịch có thể vượt quá sức của bộ đội. Bộ đội ta chưa có kinh nghiệm đánh một cứ điểm hai tiểu đoàn Âu - Phi. Tuy nhiên, vì là người đến sau chưa có cơ sở để phát biểu nên trong hai ngày 5 và 6-8 Chỉ huy trưởng dẫn một đoàn cán bộ đi trinh sát thị xã Cao Bằng(2). Kết luận rút ra là: Không thể chọn Cao Bằng làm điểm đột phá mở màn chiến dịch vì khó bảo đảm nguyên tắc đánh thắng trận đầu. Lý do chủ yếu không chỉ là vì binh lực địch đông(3), mà còn vì địa hình vừa trống trải vừa hiểm trở, nhiều khả năng quân ta không những phải đối phó với xe tăng địch ngay trong thị xã, mà còn cả với quân dù và hỏa lực máy bay, đại bác của địch. Trận đánh đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề về chiến thuật, từ hành quân vượt sông tiếp cận mục tiêu đến hợp đồng chiến đấu trong tung thâm, là những vấn đề mà bộ đội ta chưa có kinh nghiệm.

Cuộc họp ngày 7-8 của Đảng ủy diễn ra khá sôi nổi do ý kiến khác biệt chung quanh vấn đề chọn mục tiêu mở màn chiến dịch. Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và các thành viên khác của Đảng ủy vẫn giữ ý kiến tấn công Cao Bằng vì cho rằng đánh Đông Khê và Thất Khê trước rồi trở lại đánh Cao Bằng khi lực lượng địch ta đã bị tiêu hao lại đứng trước một cụm cứ điểm địch đã tăng cường, chiến dịch sẽ kéo dài. Mặt khác lúc này mọi công tác chuẩn bị trên hướng Cao Bằng đều đã và đang triển khai trong khi dưới Đông Khê chưa được chuẩn bị, mọi việc phải làm lại từ đầu, từ trinh sát thực địa, làm binh yếu địa chí, làm lại kế hoạch tác chiến, làm công tác chính trị tư tưởng và nhất là phải chuyển toàn bộ hệ thống hậu cần xuống phía dưới trong điều kiện đường sá không thuận tiện Thay đổi kế hoạch, chiến dịch sẽ chậm lại. Chỉ huy trưởng Võ Nguyên Giáp chỉ ra những khó khăn trong việc tiến công giải phóng Cao Bằng như tổ chức vượt sông, binh lực địch đông, vấn đề đối phó với quân địch nhảy dù tăng viện trong chiến đấu, vấn đề hợp đồng bộ - pháo trong tung thâm… Hơn nữa, quân ta mới được thay trang bị, vừa được học tập chiến thuật mới, lại lần đầu tiên đánh một chiến dịch lớn do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Nếu đánh Cao Bằng không thắng lợi sẽ ảnh hưởng lớn đến lòng tin tưởng của bộ đội.

Cuối cùng, hội nghị kết luận: Ta chưa có thể nói chắc chắn bảo đảm thắng lợi nếu đánh Cao Bằng, nên đề nghị lên xin ý kiến của Thường vụ Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đánh Đông Khê trước.


(1) Sau này, báo cáo tổng kết chiến dịch nói rõ: Sở dĩ lúc này Bộ Tổng tư lệnh quyết tâm tiến công Cao Bằng trước bởi vì Cao Bằng là một cụm cứ điểm mạnh mà mục đích của ta là phải giải phóng từ Cao Bằng đến Thất Khê, trong đó Cao Bằng là mục tiêu chủ yếu. Vì vậy ta phải dùng lực lượng nguyên vẹn lúc đầu tiến công Cao Bằng mới có thể giành thắng lợi. Nếu tiến công Đông Khê trước rồi mới đánh Cao Bằng, khi lực lượng đã bị tiêu hao, ta không đủ sức tiêu diệt cụm cứ điểm Cao Bằng. Thị xã này luôn là mục tiêu chính của chiến dịch.
(2) Gồm Tham mưu phó chiến dịch Phan Phác, Trưởng tiểu ban trinh sát mặt trận biên giới Cao Pha, Cụm trưởng trinh sát mặt trận Cao Bằng Trần Quốc Trung và một số cán bộ chỉ huy các đơn vị tham gia chiến dịch.
(3) Trước khi bắt đầu chiến dịch, binh lực địch trong thị xã Cao Bằng gồm hai tiểu đoàn Âu - Phi và một số phân đội quân ngụy. Sau đó địch còn ném xuống thêm một tiểu đoàn lính Marốc (tabor).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM