Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Mười, 2021, 04:25:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến - Tập 1 (1945-1954)  (Đọc 106994 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2012, 09:15:37 pm »

Ngày 23 tháng 11, trong một cánh rừng ở Thái Nguyên thuộc Việt Bắc, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam họp Hội nghị về kế hoạch quân sự Đông - Xuân 1953-1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định:

“Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể về địa điểm và thời gian, nhưng căn bản là có lợi cho ta. Vì thế phải tìm cách kéo thêm chủ lực của chúng lên Điện Biên Phủ và giữ chúng lại đó”(1).

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp phân tích tình hình và quyết định chấp nhận cuộc đấu này cùng kế hoạch thực hiện. Một chiến dịch lớn được chuẩn bị rất bí mật bắt đầu được thực hiện, kết hợp với hàng loạt trận đánh trên nhiều vùng trong khắp nước, nhằm làm cho đối phương rối loạn thông tin và tiếp tục mắc vào thế bị động.

Đến thời kì này, hậu phương của cuộc kháng chiến đã được mở rất rộng. Một dài suốt từ Việt Bắc, qua Tây Bắc, Trung du, miền Nam Liên khu III, kéo dài tới Khu IV, và thông suốt tới Tây Nguyên, Nam Bộ.

Trên chiến trường Nam Bộ, hơn 1.000 đồn trại của Pháp bị tiêu diệt hoặc bức rút. Khu IX được mở rộng thành vùng tự do lớn nhất Nam Bộ. Số quân địch ra hàng lên tới hàng ngàn, về sau tới hàng vạn.

Trong khi đó, bộ đội vây Điện Biên Phủ vẫn nằm ìm.

Tuy tập trung cho chiến trường phía Bắc, Navarre vẫn giữ kế hoạch bình định Nam Bộ. Navarre dành cho Nam Bộ 28 tiểu đoàn chủ lực (chưa kể phụ lực quân và quân của các giáo phái). Sang đầu năm 1954, Navarre lại hai lần rút bớt quân khỏi Nam Bộ để đối phó với chiến dịch Điện Biên Phủ: Lần đầu rút 3 tiểu đoàn chủ lực, lần sau rút 10 tiểu đoàn bộ binh.

Để bù vào số quân rút đi, Pháp và Bảo Đại phải gia tăng bắt lính, đôn quân. Trong 3 năm: 1952 - 1953 - 1954, quân ngụy đã gia tăng từ 66% đên 72% quân số. Tính đến cuối năm 1953, trong tổng số quân Pháp trên toàn chiến trường là 222 tiểu đoàn, trong đó có 155 tiểu đoàn ngụy, thì ở Nam Bộ có 58 tiểu đoàn, trong đó có tới 48 tiểu đoàn ngụy. tuy số lượng tăng, nhưng tinh thần của ngụy quân càng hoang mang lo sợ trước những thất bại của Pháp…

Trong lúc đó, quân đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ lại thay đổi kế hoạch đánh: Ngày 26-1-1954, các lực lượng đã chuẩn bị nổ súng, bỗng có lệnh ngừng lại, rút quân ra. Đó là lí do làm cho cả Navarre và De Castries sốt ruột, khó hiểu, bực tức, nghi ngờ.

Khi trả lời phỏng vấn báo chí Pháp, ngày 14-1-1954, tướng De Castries chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ đã sốt ruột nhờ báo chí tung ra lời thách thức: “Nổ súng đi, sao các anh hèn nhát thế!”.

Cùng lúc đó hàng loạt chiến dịch lại được mở ra khắp các nơi trên chiến trường Đông Dương.

Navarre càng thêm nghi ngờ: Hay Việt Minh không chủ trương đánh Điện Biên Phủ?

Những trận đánh của ta ở chiến trường Trung Bộ và Nam Bộ làm cho Navarre cảm thấy “tuyến cấm” có thể bị vỡ. Navarre dự đoán rằng có thể bộ đội chủ lực Việt Minh sẽ mở cuộc tiến công lớn ở miền Nam.

Trong hồi kí của mình, Navarre đã kể lại rất chân thật về cái tấm trạng lúng túng, mò mẫm, đoán già, đoán non lúc đó:

“Đâu là nguyên nhân của sự thay đổi trên?

Cũng có nhiều khả năng, Việt Minh đã chịu một áp lực nào đó của Trung Quốc, và thậm chí là của Liên Xô để chuyển các nỗ lực của họ vào vùng sông Cửu Long, hơn là nhằm vào vùng châu thổ Bắc Bộ. Việc thay đổi này phù hợp với phát triển của chủ nghĩa cộng sản nhằm vào các nước Miến Điện và Ấn Độ thông qua các quốc gia có sắc dân Thái (vùng thượng du Bắc Bộ, Lào, Xiêm)”(2).


Nếu vậy cần phải chuyển mũi nhọn vào phía Nam? Ngày 12-3-1954, Navarre mở Chiến dịch Carmague tiến công rất mạnh vào Quy Nhơn.

Nhưng chỉ sau đó một ngày, ngày 13-3-1954, quân đội Việt Nam đồng loạt nổ súng tại Điện Biên Phủ. Trận đánh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương bắt đầu.


(1) Báo cáo kết luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị Chiến dịch Đông - Xuân ngày 23-11-1953 (Trích trong Báo cáo các kế hoạch và tổng kết kinh nghiệm các chiến dịch lớn, tập III: Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1965, tr. 15-16).
(2) H. Navarre: Đông Dương hấp hối, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 227.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:02:19 am »

2. Chủ trương của Trung ương và Trung ương Cục miền Nam

Tháng 1-1953, Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II) họp bàn về phương hướng công tác của năm 1953.

Về công tác quân sự Hội nghị phê phán một số lệch lạc cần uốn nắn ngay:

“Một số đơn vị còn mắc những khuyết điểm như ham đánh to, ăn to, chủ quan khinh địch, tự kiêu tự mãn, tổ chức quá kềnh càng, chế độ tài chính không chặt chẽ, ham chuộng hình thức, cán bộ chưa biết thương yêu chiến sĩ như anh em ruột thịt. Từ nay quân đội ta phải quyết tâm sửa đổi những khuyết điểm ấy”(1).

Về mặt chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đối với Nam Bộ, Hội nghị có những tư tưởng chỉ đạo sau đây:

Mặc dù bị thất bại nặng, địch ngày càng tăng cường lực lượng chiếm giữ các đô thị lớn, các vùng chiến lược quan trọng và nêu rõ phương châm chiến lược của ta là: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do”.

“Phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân, phải khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những vùng căn cứ kháng chiến sau lưng địch”
(2).


Đến cuối tháng 9, tại khu núi Hồng tỉnh Tuyên Quang thuộc căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự trong Đông - Xuân 1953-1954. Tham dự Hội nghị có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, các ủy viên Bộ chính trị: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị. Đối với Nam Bộ, Hội nghị chủ trương:

“Đối với chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ thì nhiệm vụ là đẩy mạnh chiến tranh du kích, lợi dụng điều kiện thuận lợi mới do quân địch phải tập trung nhiều lực lượng đi các hướng khác mà tăng cường hoạt động đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh ngụy vận, mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích. Nhân dân và bộ đội ta ở vùng tự do Khu IV cũng ráo riết chuẩn bị để đối phó với cuộc tiến công có thể xảy ra của địch”(3).

Bước sang năm 1954, để chuẩn bị đánh những đòn quyết định ở chiến trường chính, Trung ương đã có kế hoạch căng lực lượng địch ra trên phạm vi cả nước để giảm sức ép ở chiến trường chính, tạo điều kiện đi tới thắng lợi quyết định. Ngày 8-1-1954, Ban Bí thư có điện mật gửi Trung ương Cục miền Nam về nhiệm vụ của chiến trường Nam Bộ năm 1954. Trong bức điện này đã phân tích rõ tình hình chung và những đặc điểm của Nam Bộ, trên cơ sở đó nêu ra những nhiệm vụ cụ thể của Nam Bộ trong việc phối hợp với chiến trường toàn quốc:

Trong 8 năm nay, luôn luôn địch có âm mưu bình định Nam Bộ. Nhưng chúng đã thất bại, chẳng những không thực hiện được âm mưu, mà còn bị ta tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực. Được như vậy là vì nhân dân, bộ đội và cán bộ đã quyết tâm đánh giặc. Nam Bộ là nơi địch thấy có nhiều điều kiện cho chúng thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Nam Bộ là nơi Mĩ đã bỏ vốn vào các đồn điều cao su, các hãng buôn và nhà máy. Như vậy Mĩ càng mưu mô với Pháp xúc tiến việc bình định Nam Bộ, Mĩ còn hi vọng phát triển các đội ngụy quân. Ngụy quân càng nhiều, Mĩ càng có điều kiện nắm lấy lực lượng vũ trang ở Đông Dương. Trước tình hình ấy, cuộc kháng chiến ở Nam bộ sẽ thêm khó khăn và lâu dài. Nhưng Nam Bộ có nhiều thuận lợi để đối phó thắng lợi với âm mưu của địch.

Một là, quân và dân Nam Bộ đã chiến đấu bền bỉ, gian khổ, anh dũng suốt tám năm. Đó là điều căn bản để giữ vững phong trào kháng chiến.

Hai là, địch càng thua ở chiến trường chính, càng bị động, tinh thần càng suy nhược. Ta có nhiều điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá âm mưu càn quét bình định.

Như vậy, ta phải nhận định rằng: “Qua năm 1954, nếu Nam Bộ giữ vững được thế cầm cự lâu dài với địch, không cho chúng thực hiện âm mưu bình định, là căn bản ta đã thắng được chúng”
(4).



(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14, tr. 20.
(2) Sđd, t.14, tr. 21
(3) Lịch sử kháng chiến chống Pháp, sđd, t.V, 49.
(4) Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.123.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 10:22:36 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:06:37 am »

Trung ương cũng đề ra cho Nam Bộ ba nhiệm vụ chính của năm 1954:

Một là, giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích: “Nam Bộ là một chiến trường hoàn toàn du kích, phương châm tác chiến của ta căn bản là du kích chiến. Vì vậy phải chống tư tưởng chính quy đem tiểu đoàn tập trung học tập đánh công kiên hai ba tháng như Khu VII và học đánh vận động chính quy như Khu IX”.

Hai là, củng cố và mở rộng căn cứ. “Hướng xây dựng căn cứ của Nam Bộ là: Giữ vững và củng cố căn cứ Bạc Liêu và Đồng Tháp, tích cực củng cố phát triển căn cứ miền Đông”.

Ba là, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận(1).

Về binh chủng chuyên môn, Nam Bộ có 50 đội chuyên môn đánh tàu thủy, cơ giới, đánh bộc phá, biệt kích…, miền Tây còn xây dựng thêm các đội chuyên môn đánh tàu theo kinh nghiệm Đồng Tháp Mười.

Về xây dựng lực lượng và tổ chức quân đội, Tổng quân ủy Trung ương đã có điện mật gửi Chính ủy và Tư lệnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam, trong đó có lưu ý đến việc phải tổ chức những tiểu đoàn cơ động độc lập để ứng phó với những diễn biến mới khi ở chiến trường chính có những trận đánh lớn:

“Nam Bộ cần xây dựng mây tiểu đoàn chủ lực, lưu động chiến đấu,, lúc thường thì dùng đơn vị tiểu đoàn, khi có điều kiện thuận lợi thì tập trung hai tiểu đoàn tác chiến (đánh từng trận rồi phân tán), như vậy mới lợi dụng được sơ hở của địch và học tập đánh vận động chiến, do đó mà đẩy mạnh du kích chiến. Hiện nay, về danh nghĩa thì có mấy đơn vị chủ lực, Khu IX có một trung (đoàn). Cần phải quan niệm dứt khoát đó là những đơn vị cơ động của ta, không giao nhiệm vụ gì khác, để khi điều động khỏi bị vướng, nhiệm vụ có rõ thì xây dựng mới có kết quả. Bộ sẽ điện kinh nghiệm xây dựng vào và gửi một số cán bộ đại đội và tiểu đoàn vào. Ý kiến này đã bàn với đồng chí Duẩn là nên kiện toàn hai tiểu đoàn sẵn có trước”(2).

“Muốn thực hiện được kế hoạch trên thì cần đề bạt rất mạnh dạn cán bộ từ dưới lên, để mỗi cấp có đủ cán bộ chính trị, quân sự, có đủ cấp trưởng và phó, không sợ non kém, sẽ rèn luyện dần”
(3).


Ngày 8-6-1953, thi hành nghị quyết của Trung ương Đảng, những chỉ đạo của Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam đề ra 5 nhiệm vụ cho chiến trường Nam Bộ. Trong đó nhấn mạnh các khâu: Tăng cường mọi mặt công tác địch hậu, chú ý công tác dân vận và địch ngụy vận, lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành quyền lợi hằng ngày với địch, chủ yếu là đấu tranh kinh tế, văn hóa, chính trị. Phát động chiến tranh du kích mạnh mẽ, tiêu hao tiêu diệt sinh lực nhỏ của địch, chống phá các cuộc càn quét chiếm đóng lan rộng của địch vào vùng du kích và căn cứ du kích, đặc biệt chống biệt kích và chống gián điệp… Ngoài ra, còn nhấn mạnh công tác chỉnh quân, chỉnh Đảng, chỉnh đốn nông hội.

Cuối tháng 8-1953, Trung ương Cục mở hội nghị bàn về công tác địch ngụy vận. Hội nghị đã thảo luận về tính chất, mục đích, phương châm, phương pháp vận động và đề ra 12 chủ điểm của kế hoạch vận động binh lính địch ở Nam bộ. Hội nghị nhấn mạnh: Phải chú ý đến gia đình và bản thân ngụy binh, phải phối hợp vận động ngụy binh với tác chiến; phải chú ý lôi kéo sĩ quan ngụy. Trước hết phải biết gây dựng cơ sở trong phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh để giành giật, tranh thủ “khối dự trữ” sĩ quan dồi dào của địch ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Kết hợp vận động binh lính với phong trào chống bắt lính, bắt phu. Phải tổ chức phong trào này thật rộng rãi, sôi nổi, bao gồm các tầng lớp nhân dân, để phá tan nguồn bổ sung của địch và làm lũng đoạn tinh thần ngụy quân, ngụy quyền.

Tháng 9-1953, Tổng quân ủy Trung ương thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 có chủ trương về mặt trận sau lưng ở Nam Bộ như sau; Tùy tình hình sử dụng một bộ phận chủ lực tiến sâu vào vùng sau lưng địch, phối hợp với quân địa phương và dân quân du kích, đánh tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh đấu tranh phá tan kế hoạch bình định của địch, thu hẹp vùng địch tạm chiếm, mở rộng vùng tự do, phối hợp với mặt trận chính. Phương châm hoạt động là: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt…


(1) Sđd, tr.123-131.
(2) Sđd, tr.417.
(3) Sđd, tr.416.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:11:09 am »

3. Diễn biến chiến trường ở Tây Nam Bộ

Tại Nam Bộ, để hoàn thành việc bình định địa bàn trong Hè - Thu 1953, quân Pháp liên tiếp tung ra một loạt các cuộc càn quét đánh vào các căn cứ du kích của ta và đã gây cho ta nhiều khó khăn.



Quân Pháp đi lại trên kinh rạch ở Cà Mau

Tây Nam Bộ lúc này cũng chịu áp lực khá lớn của Kế hoạch Navarre. Ở Cần Thơ, trong quý I-1953, Pháp bình định lấn chiếm thêm một số vùng, vùng độc lập của ta chỉ còn 19 xã trong tổng số 76 xã toản tỉnh, 24 xã là vùng tranh chấp. Ở Sóc Trăng, trong tổng số 67 xã, ta có 9 xã là vùng độc lập và 15 xã tranh chấp. Ở Rạch Giá (cũ) địch chiếm lại huyện Giồng Riềng, mở rộng vùng tạm chiếm đóng ra một số xã thuộc An Biên, Gò Quao.

Ở Long Châu Hà, địch lấn chiếm vùng Núi Tượng (Tịnh Biên) và đang mở rộng ra huyện Tri Tôn, Thoại Sơn. Ở Bạc Liêu, địch đóng thêm đồn ở huyện Giá Rai. Riêng Vĩnh - Trà, vùng độc lập của ta đến tháng 3-1953 có mở rộng thêm, nhưng địch vẫn còn đóng 168 đồn bốt.

Địch tăng cường bắt lính thêm ở nhiều xã. Chúng còn tăng thêm 2 tiểu đoàn chủ lực (trước chỉ có 2 tiểu đoàn) và 50 đội Commandos. Số lượng quân chiếm đóng tăng lên 22.000 tên.

Trước tình thế đó Trung ương Cục đã có chủ trương uốn nắn xu hướng hữu khuynh, phát động tinh thần chủ động tích cực trên chiến trường. Trong thực tế, ngoài một số địa phương phong trào giảm sút, thì ở nhiều nơi quân dân Tây Nam Bộ vẫn kiên trì chiến đấu quyết liệt với địch và đã tạo được “phản áp lực” đối với Kế hoạch Navarre.

Trong 3 tháng đầu năm 1953, quân dân tỉnh Bạc Liêu đã đánh nhiều trận. Đại đội địa phương huyện Giá Rai phối hợp với du kích và công tác địch ngụy vận bức rút 3 đồn địch trên lộ Đông Dương 16. Đại đội địa phương Cà Mau phối hợp với Tiểu đoàn 307 đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch (Tiểu đoàn 19 BVN và Tiểu đoàn Cao Đài phản động) tại Bàu Thúi, Ô Rô, lộ xe Tân Lộc, diệt 300 tên, bắt sống 40 tù binh. Tại thị trấn Cà Mau, hàng trăm quần chúng đấu tranh chống bắt lính quyết liệt, giải thoát được 19 thanh niên.

Nổi nhất là trong tháng 5-1953, sau khi Tiểu đoàn 307 phối hợp với địa phương quân và du kích tiến công tiêu diệt cứ điểm Hộ Phòng (Giá Rai - Bạc Liêu), giết hàng trăm tên địch, bắt sống nhiều tên, thu toàn bộ vũ khí, thì ngày 21-5-1953, Pháp tổ chức một trận càn quét lớn gồm 10 tàu chiến, có máy bay yểm trợ từ kinh xáng Hộ Phòng vào ngã tư Phó Sinh, Huyện Sử, Thới Bình phối hợp với bọn địch ở Cà Mau ra Tắc Thủ, hành quân dọc hai bờ sông Ông Đốc, qua sông Bảy Háp và kinh Xáng Đội Cường.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 10:22:55 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:12:02 am »

Đây là cuộc hành quân lớn, dài ngày, thọc sâu vào vùng độc lập của ta. Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở xã Trí Phải (Thới Bình) không kịp bổ trí chặn đánh địch trên sông Ông Đốc. Ngay sau khi biết tin, tiểu đoàn đã hành quân cấp tốc theo địch. Đồng bào nô nức đưa xuồng, ghe, đồ tiếp tế theo bộ đội. Hai trung đội trợ chiến đi đường tắt đến sông Bảy Háp trước, bố trí trận địa ngay ở vàm rạch Nhựt Nguyệt 200 m.

9 giờ sáng ngày 3-6-1953, máy bay địch quần đảo yểm trợ cho chiếc LCT và 3 tàu khác nối theo sau lọt vào trận địa ta. Quân ta lập tức phóng bom và nổ súng. Cả 4 chiếc tàu đi đầu đều chìm xuống nước. 6 chiếc sau bắn loạn xạ, yểm trợ cho bọn trên bờ lùng sục. Đơn vị đánh tàu rút sâu theo kinh Nhựt Nguyệt. Ngay đêm đó, Tiểu đoàn 307 phán đoán là địch sẽ rút chạy về Cà Mau, nên bố trí chặn địch trên đường từ Bảy Háp về Cà Mau. Sáng ngày 4-6-1953, bọn bộ binh trên bờ lọt vào trận địa phục kích, quân ta nổ súng, chia cắt địch, làm chủ chiến trường. Bọn sống sót cố lội ra tàu, bọn trên tàu hoảng sợ rút chạy theo kinh Xáng Đội Cường về Cà Mau.

Trận này, ta diệt trên 400 tên địch, thu hơn 300 súng, bắn chìm 4 tàu địch. Đây là trận thua đau nhất của địch ở Tây Nam Bộ. Kể từ đó, địch không còn dám mở trận đánh nào vào vùng căn cứ Cà Mau - Bạc Liêu.

Nhân thắng lợi này, bộ đội địa phương và du kích các huyện Cà Mau, Giá Rai, Vĩnh Lợi, Phước Long, An Biên còn tiến công, bức rút nhiều đồn bót, tháp canh của địch ở ven thị trấn Cà Mau và dọc theo các trục lộ giao thông. Một số đồn trên lộ Đông Dương 16 cũng rút.

Ở Cần Thơ, từ ngày 9 đến ngày 13-6-1953, cũng có một trận càn quét lớn của địch gồm 15 tiểu đoàn bộ binh, có tàu chiến và máy bay yểm trợ đánh vào vùng căn cứ của ta ở Vị Thanh, Hỏa Lựu và Giồng Riềng, Cầu Đúc.

Tiểu đoàn 410 đã phối hợp với địa phương quân và du kích chặn đánh quyết liệt, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng. Đặc biệt là tại Cầu Đúc, Cái Sình, khi bộ binh địch đến Cầu Đúc thấy cầu bị đánh sập, chúng dùng 2 tàu LCM chuyển quân từ bờ bắc sang bờ nam đã đụng phải thủy lôi của Tiểu đoàn 410, 1 tàu bị chìm, 150 tên địch chết, cuộc càn bị bỏ dở…

Ở Long Châu Hà trong tháng 4-1953, Tiểu đoàn 406 phối hợp với du kích đánh địch ở Núi Nước, diệt 25 tên. Ở huyện Châu Thành - Long Xuyên, bộ đội địa phương phối hợp với đơn vị số 4 của Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí đánh diệt 1 đại đội Hòa Hảo ở Hòa Bình Thành, dụ hàng đồn Kinh 4 và tập kích vào Văn phòng đại đội 39 của Hai Ngoán, diệt và làm bị thương gần 30 tên.

Tại Vĩnh - Trà, trong vòng 8 tháng đầu 1953, quân và dân trong tỉnh đã đánh 320 trận lớn nhỏ, diệt trên 300 tên địch, làm bị thương 132 tên, phá 97 đồn bót, thu nhiều súng. Địch chỉ còn đóng 141 đồn.

Bến Tre trước thế tiến công của ta, trong tháng 10-1953, 700 lính ngụy rã ngũ.

Ở Sóc Trăng, trong 2 tháng cuối năm 1953, có 2 trận nổi bật là bộ đội địa phương bao vây, pháo kích đồn Pécton (Phú Mĩ). Địch điều Tiểu đoàn 19 BVN ứng cứu, quân ta chặn đánh ở Cầu Bà Lui và chợ Huỳnh Hữu Nghĩa (xã Mĩ Tú) diệt 80 tên. Ngày 23-12-1953, Tiểu đoàn 308 phối hợp với bộ đội quận Sóc Trăng bố trí đánh địch trên đường Bố Thảo - Tam Sóc, diệt 4 xe quân sự đi giải vây cho đồn Pécton, ta thu 60 súng. Bọn lính ở đồn Pécton hoảng hốt kéo cờ trắng đầu hàng.

Tại đảo Phú Quốc, nơi có nhà tù giam giữ trên 3.000 cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Vào tháng 9-1953, Đảng ủy nhà tù Cây Dừa với sự hỗ trợ của Huyện ủy Phú Quốc đã tổ chức cho 300 tù chính trị vượt ngục thành công. Một số anh em đã về được đất liền tham giam chiến đấu.

Tháng 11-1953, địa phương quân Phú Quốc đã phục kích diệt gọn 1 đại đội địch ở xã Dương Tơ. Phong trào kháng chiến ở Phú Quốc trên đà phát triển.

Những chiến thắng ở Tây Nam Bộ trong thời gian này đã góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường trên cả nước. Điều quan trọng nhất là: Cái khả năng thứ 3 mà Navarre định loại bỏ thì đã không loại bỏ được. Điều đó tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cục diện và tình hình chiến trường chính vào Thu - Đông 1954. Theo tin tình báo, Navarre đã vạch kế hoạch chiếm đóng miền Hậu Giang trong 2 năm 1953 - 1954, nhưng do bị thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Bắc, buộc phải điều bớt quân từ Nam ra Bắc và ngay trên chiến trường Tây Nam Bộ, chúng cũng bị tiến công và thất bại nhiều nơi, nên buộc phải hủy bỏ kế hoạch này.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:14:00 am »

4. Phối hợp với chiến trường toàn quốc, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ (cuối 1953 - tháng 7-1954)

Ngày 28-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời những câu hởi của Chủ bút tờ báo Expressen Thụy Điển, về chiến tranh Việt Nam. Sau khi nêu rõ cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra, nhân dân Việt Nam đứng dậy kháng chiến là để bảo vệ độc lập, hòa bình.

Hồ Chủ tịch tuyên bố: “Hiện nay, nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam theo con đường thương lượng hòa bình, thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đón nhận ý muốn đó”.

Trả lời câu hỏi về cơ sở cho cuộc đình chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chỉ cần Chính phủ Pháp đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược, thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của Việt Nam”(1).


Những câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới, có tác dụng mở đầu cuộc thương lượng hòa bình ở Hội nghị Genève, để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.

Để phối hợp với mặt trận ngoại giao, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 24-1-1954, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị:

“Kịp thời khuếch trương những chiến thắng quan trọng về quân sự và chính trị để hoàn thành nhiệm vụ trung tâm”.

Trước tình hình thuận lợi, chỉ thị của Trung ương Cục còn nhấn mạnh:

“Ra sức khắc phục những tư tưởng chủ quan, cầu an, bị động, chủ động tập trung đánh mạnh vào vùng địch hậu, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hoại cơ sở kinh tế, hậu cần của địch, buộc chúng phải đối phó ngay tại nơi mà chúng cho là tương đối an toàn, đồng thời có kế hoạch đề phòng địch càn quét vào khu căn cứ, nhưng không được phân tán lực lượng”(2).

Các tỉnh Phân liên khu miền Tây theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục khẩn trương tiến hành học tập, thông suốt nhiệm vụ tiến công phối hợp chiến trường, chuẩn bị ráo riết mọi mặt để bước vào Đông Xuân 1953 - 1954.

Các tỉnh thuộc địa bàn quan trọng như: Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Trà đều có kế hoạch chia làm 2 đợt tiến công dài ngày.

Ở Cần Thơ vào đợt 1 từ giữa tháng 11-1953, các lực lượng vũ trang tỉnh bao vây uy hiếp 40 đồn bót địch nằm trên trục lộ giao thông Rạch Sỏi - Minh Lương, Bến Nhất - Tắc Cậu, đánh bại nhiều cuộc hành quân của 2 Tiểu đoàn 14 và 15 của địch. Từ tháng 12-1953 đến giữa tháng 5-1954, quân chủ lực phối hợp bộ đội địa phương và đặc công đã 3 lần đột nhập thị xã Cần Thơ, tiến công căn cứ chỉ huy tiểu khu, khu hành chính, phân khu Long Xuyên - Rạch Giá… diệt nhiều tên chỉ huy ác ôn, phá kho tàng và doanh trại địch. Riêng trận đột nhập thị xã Rạch Giá, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 307 đánh sập 2 lô cốt bảo vệ dinh tỉnh trưởng, bức rút 2 tháp canh. Trong 3 ngày tiến công, ta diệt hơn 100 địch, bắt sống 15 tên, diệt nhiều tề, điệp, thu nhiều vũ khí, gần 100 lính thuộc Tiểu đoàn 15 ngụy ở Rạch Giá rã ngũ. Bộ đội ta còn đánh vào thị trấn Rạch Sỏi, diệt căn cứ chỉ huy của bọn Cao Đài phản động và nhiều vị trí đóng quân của địch trong thị trấn.

Kết quả đợt 1 ở trọng điểm Cần Thơ (gồm cả một phần Rạch Giá cũ), bộ đội đã đánh 140 trận, diệt và làm bị thương 900 tên, bắt sống 95 tên, rã ngũ 327 tên, diệt 18 đồn, bức hàng, bức rút 22 đồn, đánh chìm 2 tàu chiến, thu 125 súng và nhiều quân trang quân dụng. Trong đợt này, riêng lực lượng du kích các xã diệt 237 tên địch, làm bị thương 121 tên, bắt 84 tên. Vùng căn cứ được mở rộng đến sát thị xã Rạch Giá. Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh. Mỗi xã có từ 1 đến 2 tiểu đội du kích được trang bị đủ súng đạn. Bộ đội địa phương huyện phát triển gấp 3 lần. Quân số các tiểu đoàn chủ lực 307, 410 tăng gấp 2 lần so với trước, mỗi tiểu đoàn có 1.000 quân.

Ở trọng điểm 2 Ô Môn (Cần Thơ), lực lượng huyện diệt 700 tên địch, bắt sống 125 tên, thu 157 súng, phá hủy và bức rút 50 đồn và tháp canh, làm tan rã 700 tên (có 400 lính bảo an Hòa Hảo), 12 xã ven sông giáp với thị xã chuyển thành vùng du kích. Bộ đội làm chủ trên nhiều trục giao thông quan trọng. Công tác địch ngụy vận thu được kết quả khả quan. Một trung đội Hòa Hảo ở Thốt Nốt làm binh biến diệt tên chỉ huy ác ôn, mang vũ khí về với nhân dân. Đêm 30 Tết (1954), binh sĩ ở 5 lô cốt xã Giai Xuân nổi dậy, mang 70 súng về với kháng chiến.

Tỉnh Sóc Trăng trong 3 tháng đầu năm 1954, tại trọng điểm 1 của tỉnh, lực lượng vũ trang diệt đồn Pécton (xã Phú Mĩ), bức hàng và bức rút 21 đồn, lô cốt, sau đó diệt tiếp 2 đồn có trên 200 tên địch đóng giữ và đánh 1 xe chở đầy lính.

Ở trọng điểm 2 của Sóc Trăng là huyện Thạnh Trị, du kích uy hiếp 39 sóc được Pháp vũ trang, 1 đại đội của Tiểu đoàn 308 thọc sâu vào vùng địch hậu, phá 6 lô cốt ở Lạc Hòa, chặn đánh diệt 40 tên và bắt 25 tên lính người Khơme, ta giáo dục và thả số này về với gia đình. Đầu tháng 4-1954, bộ đội và du kích phá rã thêm 22 sóc, phá lỏng số sóc còn lại, diệt và bắt 300 tên.

Lực lượng vũ trang 2 huyện Kế Sách và Long Phú diệt 3 đồn, bức hàng, bức rút 14 lô cốt, diệt 37 tên địch, bắt sống 57 tên, làm rã ngũ 147 tên, thu 70 súng. Riêng lực lượng địa phương Long Phú giải tán hơn 300 lính bảo an, đột nhập thị xã Sóc Trăng, diệt thêm 2 tiểu đội địch đi tuần tiễu. Hầu hết các xã bị địch tạm chiếm đã trở thành vùng tranh chấp, có 213 xã ta ở thế mạnh hơn địch.


(1) Le Monde, 29 Novembre 1953.
(2) Những sự kiện Lịch sử Đảng, Nxb Sự Thật, Hà Nội, t.2, tr. 336-337.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 10:23:16 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:15:22 am »

Trong 3 tháng đầu năm 1954, ở 2 tỉnh Cầu Thơ và Sóc Trăng, quân cơ động của địch bị tiêu hao, tiêu diệt nặng, tinh thần địch sa sút, trên 1.000 lính đào rã ngũ, mang hàng trăm súng về với nhân dân.

Địch đưa các tiểu đoàn lính Cao Đài, Hòa Hảo ra ứng chiến và đóng đồn. Loại lính này ô hợp không có tinh thần chiến đấu Khi ta mở đợt 2 phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, trước khí thế tiến công của bộ đội và du kích, bọn chúng hoảng loạn bỏ đồn tháo chạy khá nhiều. Các đơn vị ứng chiến của địch cũng “án binh bất động”, xin được “trung lập” với ta. Nhiều đồn bót, lính ngụy cho người tìm cơ sở cách mạng để xin được “trung lập hóa”, đề nghị đứng đánh chúng, chúng cam kết không đi càn quét, tiếp viện, không gây khó dễ với dân. Bộ đội hay cán bộ cần qua đồn bót cứ cho chúng biết trước để tránh đụng độ với nhau.

Đầu tháng 2-1954, ngay đêm mở đầy đợt 1, lực lượng vũ trang tỉnh Trà Vinh đã diệt 4 đồn địch ở huyện Cầu Ngang. Liên tiếp nhiều ngày sau, kết hợp với địch ngụy vận, ta diệt và bức hàng, bức rút nhiều đồn bót, giải phóng nhiều xã thuộc các huyện Cầu Ngang, Trà Cú, Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè.

Vào đợt 2, bộ đội và du kích diệt thêm 4 cứ điểm ở Châu Thành, Tam Bình và Duyên Hải.

Phong trào quần chúng chống bắt lính lên rất mạnh. Tại thị xã Vĩnh Long, quần chúng đấu tranh giải thoát hơn 200 thanh niên khỏi bị bắt lính. Ở Cầu Ngang 120 gia đình người dân tộc Khơme đấu tranh đòi trả chồng con họ về với gia đình. Từ cuối năm 1953 đến 3 tháng đầu năm 1954, đã có 1.575 lính đào, rã ngũ.

15 ngày đầu tháng 5-1954, quân dân Vĩnh Trà đánh 417 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.700 tên địch, gỡ 62 đồn bót (riêng công tác địch ngụy vận gỡ 27 đồn), thu nhiều vũ khí, có 2.102 ngụy quân rã ngũ.

Phong trào kháng chiến tỉnh Bến Tre lên mạnh từ tháng 2-1954. Các vùng An Hóa, Mỏ Cày, Ba Tri, Thạnh Phú đều chuyển lên, vùng căn cứ của tỉnh càng mở rộng, liên lạc thông suốt về Trung ương Cục. Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây đưa một bộ phận quân y xuống đóng ở Bến Tre.

Tại Bạc Liêu, ngày 7-2-1954, bộ đội huyện An Biên phối hợp với đặc công có sự yểm trợ của Tiểu đoàn 307, tiến công huyện lị An Biên, bắt sống tên quận trưởng Sáng, diệt nhiều tề, điệp, thu nhiều vũ khí. Đêm 1-3-1954, Đại đội 932 cùng Đại đội trợ chiến của Tiểu đoàn 307, bao vây đồn chính của Chi khu An Biên và các đồn bót trên lộ từ huyện lị Thứ Ba ra Xẻo Rô. Qua ngày sau, bộ đội ta phục kích để đánh địch đi cứu viện An Biên (vì bị lộ nên ta chỉ diệt được 20 tên), bọn chúng rút chạy về Rạch Giá. Sau 3 ngày đêm bao vây, pháo kích, bắn tỉa… bọn địch đóng trong hệ thống đồn bót từ huyện lị Thứ Ba ra Xẻo Rô rút chạy. Nhân dân kéo ra san bằng đồn bót địch.

Sau nhiều ngày chặn đánh bọn đi cứu viện cho Chi khu An Biên, bộ đội và du kích diệt rất nhiều địch, có trận tại Bàu Môn ta diệt 227 tên, chỉ còn 12 tên chạy thoát. Bọn lính trong chi khu trông chờ bọn cứu viện không được, đã liều mạng phá vây rút chạy. Bộ đội ta truy kích, diệt thêm nhiều tên, bắn chìm 1 tàu địch. Cuối tháng 3-1954, bộ đội ta diệt đồn Xẻo Rô, bắt sống tên quận trưởng Lâm Quang Thiếp chạy từ chi khu An Biên ra đây. Ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên địch, thu 400 súng, quét sạch hệ thống đồn bốt từ chi khu An Biên đến Xẻo Rô, ra tận bờ sông Cái Lớn.

Đây là một chi khu (huyện lị) được Pháp xây dựng khá hoàn chỉnh đã bị quân dân ta đập tan và là huyện được hoàn toàn giải phóng đầu tiên ở Tây Nam Bộ.

Trong tháng 4-1954, bộ đội và du kích tỉnh Bạc Liêu còn đánh liên tiếp nhiều trận ở các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, thị trấn Cà Mau và ven thị xã Bạc Liêu, gỡ thêm nhiều đồn, tháp canh trên lộ Đông Dương 16, mở rộng thêm vùng độc lập của ta.

Nhờ những mũi tiến công liên tiếp, từ nhiều phía nên Nam Bộ đã sửa chữa được sai lầm bị động, hữu khuynh trước đây, phá vỡ thế chủ động của Pháp, đẩy quân Pháp trên chiến trường Nam Bộ trở lại thế bị động, phải lúng túng đối phó ở khắp nơi. Lúc này, tướng Bondis (Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Nam Bộ) mà Navarre đã từng khen ngợi và hết mực tin tưởng, chỉ còn lại 6 tiểu đoàn cơ động chiến thuật trong tay, không còn đủ sức làm chỗ dựa cho đội quân tay sai vốn đã thiếu về số lượng, yếu về tinh thần lại đang bị rải ra để chiếm giữ một địa bàn rộng lớn. Bị quân và dân ta đánh mạnh, địch hoảng sợ, co vào phòng ngự bị động. hầu hết các tuyến đường bộ, đường sông quan trọng của địch đều bị ta liên tục đánh phá và cắt đứt trong thời gian dài. Nhiều nơi ngay cả ban ngày, chúng cũng không dám mò vào các thôn xóm lùng sục như trước nữa. Việc bảo đảm giao thông liên lạc giữa các vùng căn cứ, giữa miền Đông với miền Tây của ta trở nên thuận lợi hơn. Thế uy hiếp của địch trước đây đối với các vùng căn cứ của ta đã bị phá tan, buộc chúng phải quay về đối phó với ta ngay tại các vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm(1).

Ngoài các hoạt động vũ trang, các tỉnh ở Tây Nam Bộ trong Đông - Xuân (1953 - 1954) còn đặc biệt chú trọng công tác địch ngụy vận, công tác gây dựng cơ sở cách mạng ở các thị xã, thị trấn, các nút giao thông quan trọng như bến phà Mĩ Thuận, Cần Thơ, các bến xe, tàu. Thị xã Cần Thơ còn gây dựng cơ sở trong công nhân thuộc khối hậu cần của quân đội Pháp, trong các trường, như trường đào tạo sĩ quan ở Bình Thủy (Cần Thơ), trường tân binh ở Rạch Sỏi (Rạch Giá)…

Tổng cộng trong 5 tháng của Chiến dịch Đông - Xuân, phối hợp với chiến trường toàn quốc và Điện Biên Phủ, quân dân Tây Nam Bộ đã lập được thành tích lớn:

- Tiêu diệt nhiều sinh lực địch: 6.818 tên (có 1.181 hàng binh).

- San bằng 1.048 đồn bót, thu 1.658 súng các loại.

- Chuyển vùng trên 60 xã tạm chiếm thành xã du kích (tranh chấp) với trên 300.000 dân.


(1) Lịch sử kháng chiến chống Pháp, sđd, t.V, tr. 151, 152.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:17:29 am »

5. Những ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ tới Tây Nam Bộ

Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, quân và dân Việt Nam đã giành toàn thắng trên mặt trận Điện Biên Phủ. Toàn bộ chỉ huy và tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ do tướng De Castries cầm đầu bị bắt sống. Trong toàn chiến dịch lịch sử này, quân ta diệt và bắt sống 16.200 tên địch, trong đó có 1 thiếu tướng, 16 đại tá, 1.749 sĩ quan và hạ sĩ quan. Ta bắn rơi và phá hủy 62 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, đạn dược, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan Kế hoạch Navarre và góp phần quyết định vào thắng lợi của Hội nghị Genève, lập lại hòa bình ở Đông Dương (ngày 21-7-1954).



Phái đoàn Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Genève



Chiến trường Đông Dương tháng 5-1954
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 10:23:34 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:19:36 am »

Ngay trong những ngày chiến đấu quyết liệt ở Điện Biên Phủ và đặc biệt là sau khi Điện Biên Phủ toàn thắng, tình hình chiến trường Đông Dương đã chuyển sang bước ngoặt mới. Quân đội Pháp co cụm lại khắp mọi nơi. Quân đội ta tranh thủ thời cơ, thừa thắng xông lên, tấn công trên khắp các mặt trận từ Bắc tới Trung và Nam, tạo ra một khí thế chủ động tiến công chưa từng có. Một tờ báo Pháp ở Genève là nơi đang diễn ra Hội nghị Genève về Đông Dương đã viết:

“Không khí êm đềm của thành phố Genève như cũng muốn góp phần vào cuộc dàn xếp hòa bình. Nhưng hình như vẫn thấy vọng lại từ xa xăm trên 12 ngàn km những tiếng đại bác của Tướng Giáp và những bước chân dồn dập của quân đội Việt Minh”(1).



Sau Điện Biên Phủ, nhưng xe GMC nối đuôi nhau chở quân Pháp thảo chạy khỏi các tỉnh phía Nam sông Hồng

Tin chiến thắng Điện Biên Phủ và khắp nơi trên toàn quốc càng cổ vũ quân dân Nam Bộ tiến lên tấn công địch, hướng tiến công chủ yếu là vùng tạm chiếm.

Đêm ngày 31-5 rạng sáng ngày 1-6-1954, Đội biệt động số 205 của Sài Gòn - Chợ Lớn tiến công kho đạn Phú Thọ Hòa, một kho đạn lớn nhất Đông Dương chứa trên 10 triệu lít xăng và 9.345 tấn bom đạn. Toàn bộ xăng và bom đạn đã cháy nổ suốt 2 ngày đêm. Trận tiêu diệt kho dự trữ chiến lược này là đón đánh mạnh vào “dạ dày” của địch giữa lúc địch đang thất bại trên khắp các chiến trường.

Ở Tây Nam Bộ, ngày 10-7-1954, ta đánh thiệt hại nặng trường sĩ quan Bình Thủy (Cần Thơ) và các trường tân binh ở Rạch Sỏi (Rạch Giá) ở thị xã Sóc Trăng. Trong 7 ngày kế tiếp, Cần Thơ và Sóc Trăng đánh bức hàng 48 đồn bót, tháp canh, diệt 200 tên địch, bắt 80 tên. Hầu hết các sóc Khơme được Pháp vũ trang đều tan rã. Các tỉnh từ Bến Tre, Vĩnh Trà đến Bạc Liêu, Rạch Giá cũ và Long Châu Hà đều lập được chiến công.

Lực lượng của tỉnh Long Châu Hà mở được một vùng rộng lớn từ Tân Hội ra Núi Sập, chạy thẳng tới lộ Mạc Cần Đưng. Ở Hà Tiên và Phú Quốc, địch chỉ đóng được ở thị xã Hà Tiên và thị trấn Dương Đông (Phú Quốc).

Cùng với những cuộc tiến công dồn dập của các lực lượng vũ trang ở khắp nơi, những cuộc đấu tranh chính trị cũng bùng nổ ngay ở những trung tâm đầu não của quân đội Pháp. Tại Sài Gòn, giữa chiến cuộc Đông - Xuân, tháng 3-1954, 325 nhân sĩ trí thức có tên tuổi ở Sài Gòn như: kĩ sư Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đình Thảo, dược sĩ Trần Kim Quan, Phó giám đốc ngân hàng Pháp - Á Nguyễn Văn Vĩ…, đồng kí tên vào một bản Tuyên ngôn đòi Chính phủ Pháp phải thương thuyết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc ở Genève (Thụy Sĩ). Do thái độ thiếu thiện chí của Chính phủ Laniel - Bidault, Hội nghị lâm vào bế tắc. Vì vậy, tháng 6-1954, 500 nhà trí thức, nhân sĩ, nhà báo và văn nghệ Sài Gòn - Chợ Lớn gửi đến các phái đoàn tham dự Hội nghị Genève một kiến nghị yêu cầu Chính phủ Pháp phải có thái độ thành thật trong thương thuyết để nhanh chóng lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương.

Giữa tháng 7-1954, Trung ương Cục miền Nam triệu tập Đại hội mừng công toàn Phân liên khu miền Tây do Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ Phạm Văn Bạch chủ trì.

Đại hội có trên 250 đại biểu tham dự, trong đó có cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu, chiến đấu dũng cảm, đã từng lập nhiều thành tích xuất sắc như các Tiểu đoàn 307, 308, 410, đại biểu của nhiều đơn vị du kích, cơ sở ở các vùng tạm bị chiếm, cán bộ có nhiều thành tích trong công tác địch ngụy vận, dân vận… Đại hội rất phấn khởi nghe 22 báo cáo thành tích chiến đấu của các đơn vị, các ngành và cá nhân tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ ở chiến trường Tây Nam Bộ. Nhiều báo cáo tại Đại hội này đã được trình bày trước Đại hội Thi đua toàn quốc năm 1956 ở Thủ đô Hà Nội.


(1) Guy Mettan: Genève, sđd, p.117.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 10:22:13 am »

IV. THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 VỀ VIỆT NAM

1. Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam

Hội nghị Genève khai mạc ngày 8-5-1954, một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, với sự tham gia của các đoàn đại biểu: Anh, Pháp, Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cao Miên, Lào và quốc gia Việt Nam (Bảo Đại).

Ngày 10-5-1954, Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trường đoàn trình bày lập trường của ta về chấm dứt chiến tranh trên cơ sở Pháp công nhận chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương và Pháp phải rút quân về nước.

Phái đoàn Pháp do Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault cầm đầu vẫn mưu đồ tiếp tục chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, chỉ tìm kiếm một cuộc ngừng bắn nhằm cứu vãn đạo quân viễn chinh Pháp, hoãn việc thỏa hiệp về chính trị lại thời gian sau.

Hội nghị Genève có nguy cơ thất bại. Nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối thái độ thiếu thiện chí của Chính phủ Laniel. Ngày 12-6-1954, Quốc hội Pháp bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ Laniel, cử Perre Mendès France lập Chính phủ mới.

Ngày 19-6-1945, trong lễ nhậm chức, Mendès France hứa sẽ đạt được ngừng bắn ở Đông Dương chậm nhất là ngày 20-7-1954 nếu không ông ta sẽ từ chức.

Giữa lúc Pháp lâm vào khủng hoảng nội các, ngày 16-6-1954, Chính phủ Mĩ gây sức ép với Pháp - Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng thay cho Bửu Lộc, nhằm thực hiện chính sách và mưu đồ của Mĩ sau Hội nghị Genève…

Cho đến ngày 10-7-1954, Đoàn đại biểu Chính phủ ta vẫn kiên trì lập trường, giải quyết cuộc chiến phải dựa trên cơ sở một giải pháp toàn diện cho cả vấn đề quân sự và chính trị và các thỏa thuận cụ thể phải thể hiện đầy đủ so sánh lực lượng thực tế của các bên trên chiến trường…

Tuy nhiên, sau cuộc đụng đầu giữa Trung Quốc và Mĩ ở Triều Tiên, chính phủ hai nước Liên Xô và Trung Quốc lựa chọn chinh sách cùng tồn tại hòa bình, thi đua kinh tế trong hòa bình, làm dịu tình hình quốc tế, đều không muốn Đông Dương trở thành một “Triều Tiên mới” để bị lôi cuốn vào một cuộc đối đầu nữa với Mĩ, nên tìm mọi cách thúc ép ta nhân nhượng với Pháp.

Cuối cùng với xu thế chung của những nước lớn trong tình hình quốc tế lúc đó, sau 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp riêng đầy căng thẳng, các bên đã đồng ý về những nội dung cơ bản như sau:

- Các nước tham gia Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào nội bộ các nước này.

- Ngừng bắn trên toàn bộ chiến trường Đông Dương.

 - Pháp rút quân

- Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm 2 vùng tập kết quân đội.

- Sau 2 năm sẽ có Tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước Việt Nam.

Hiệp đình đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được kí kết vào lúc 3 giờ 30 phút sáng ngày 21-7-1954(1).

Những nội dung chính của Hiệp định Genève có liên quan đến hai miền Nam Bắc Việt Nam là:

1. Về đình chiến: Hiệp định về đình chiến có hiệu lực từ ngày 22-7-1954, hồi 24 giờ giờ Genève, tức 7 giờ sáng giờ Việt Nam. Việc ngừng bắn cụ thể được quy định theo giờ Việt Nam  như sau Bắc Bộ từ 8 giờ ngày 27-7; miền Trung từ 8 giờ ngày 1-8; Nam Bộ từ 8 giờ ngày 11-8.

2. Về việc chia đôi đất nước: Hai chế độ sẽ quản lí hai nửa của đất nước, xóa bỏ tình trạng da báo. Lấy vĩ tuyến 17 phân đội hai vùng Nam và Bắc, gọi là giới tuyến quân sự tạm thời, kéo dài từ đông sang tây, bắt đầu từ cửa sông Bến Hải (Cửa Tùng), qua dòng sông Bến Hải ngược lên sông Hào Thành và cho tới làng Bolosu thuộc biên giới Lào(2).

3. Tập kết: Quân đội, bộ máy chính quyền của hai bên sẽ tập kết ra hai miền. Toàn bộ việc tập kết phải hoàn tất trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày 22-7 đến ngày 19-5-1955.

4. Về di cư:

Trong thời gian kể từ khi Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực đến ngày hoàn thành việc chuyển quân, nếu có những thường dân ở một khu thuộc quyền kiểm soát của bên này mà muốn sang ở vùng giao cho bên kia, thì nhà chức trách của khu trên phải cho phép và giúp đỡ sự di chuyển ấy… Mỗi bên cam kết không dùng cách trả thù hay phân biệt đối xử nào đối với những cá nhân hoặc tổ chức vì lí do hoạt động của họ trong lúc chiến tranh, và cam kết bảo đảm những quyền tự do, dân chủ của họ.

5. Tổng tuyển cử thống nhất đất nước: Sau hai năm, từ tháng 7 năm 1956, sẽ thực hiện trong toàn quốc việc Tổng tuyển cử tự do và tự nguyện dưới sự kiểm soát của quốc tế(3).


Cùng ngày 21-7-1954, 8 trên 9 đoàn tham gia hội nghị thông qua Bản tuyên bố cuối cùng. Phái đoàn Mĩ không tham gia vào bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị và ra một bản tuyên bố riêng.

Giải pháp Genève không phản ánh đầy đủ thắng lợi của quân dân ta trên chiến trường, không đáp ứng được các yêu cầu chính trị của giải pháp do đoàn Việt Nam đề ra, không phản ánh đúng thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Đối với quân dân Nam Bộ, việc phải ngừng bắn khi đang có đà xốc tới để giành một chiến tới trong tầm tay là điều vạn bất đắc dĩ. Tâm tư của đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ rất băn khoăn… Một trong những chiến sĩ Nam Bộ lúc đó đã tâm sự.

“Cán bộ và bộ đội miền Nam phải tuân theo lệnh của Trung ương tập kết ra Bắc. Nhất là anh em bộ đội, ra đi mà lòng còn ấm ức. Anh em nói với nhau: Tiếc quá, chỉ còn vài ngày nữa thôi, 3 chiến dịch lớn mở ra, chúng nó bị đánh tơi bời rồi cũng phải nhả miền Nam, mình đỡ phải đi tập kết. Công phu chuẩn bị chiến dịch vừa xong mà phải ngừng lại hết. Thật là ức quá”(4).

Tuy vậy, Hiệp định này đã chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương, đẩy được quân Pháp ra khỏi Việt Nam, phá được âm mưu kéo dài chiến tranh của Mĩ, nâng cao được vị thế của Việt nam trên trường quốc tế, giải phóng được miền Bắc, giúp miền Bắc có điều kiện hòa bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước sau này. Hiệp định Genève, tuy còn một số mặt hạn chế, vẫn là thắng lợi to lớn mà nhân dân ta giành được sau 9 năm kháng chiến gian khổ và anh hùng.


(1) Tuy nhiên đề Mendès France giữ được lời hứa trước Quốc hội Pháp, nên văn bản Hiệp định ghi là ngày 20-7-1954.
(2) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam.
(3) Công báo, 1954, tr. 50-60.
(4) Đỗ Ngọc Quyên: Mấy kỉ niệm trong cuộc kháng chiến 9 năm (Nam Bộ thành đồng Tổ quốc, đi trước về sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 502).
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 04:20:09 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM