Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Hai, 2020, 01:09:42 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954)  (Đọc 96884 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:15:30 AM »

IV. PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG ÁP BỨC, CHỐNG XÂM LƯỢC

1. Thời kì trước khi có Đảng

Vừa khai phá đất hoang, nhân dân miền Tây còn tích cực chống quân Xiêm đến cướp phá Hà Tiên năm 1771, đuổi quân Xiêm ra khỏi Cần Thơ và Hà Tiên, buộc chúng phải rút về nước.

Nhân dân đã tham gia và ủng hộ cuộc đại phá 20.000 quân Xiêm do Nguyễn Ánh “rước voi về giày mả tổ” (1784), ở mặt trận Rạch Gầm, Xoài Mút (Mĩ Tho) của Nguyễn Huệ, nhiệt liệt ủng hộ Quang Trung phế bỏ triều Lê - Trịnh ở phía Bắc và chúa Nguyễn phía Nam, thống nhất đất nước.

Xa Xôm, người Khơme cầm đầu 6.000 nghĩa quân nổi dậy chống triều đình ở phủ Lạc Hóa (Trà Vinh) từ bờ sông Hậu sang bờ sông Tiền.

Trần Lâm và Sơn Tốt (người Khơme) phủ Ba Xuyên (Sóc Trăng) chỉ huy 7.000 nông dân đứng lên chống triều đình cướp ruộng đất của dân, từ Sóc Trăng lên Cần Thơ, xuống Bạc Liêu.

Đỗ Y, phủ Tịnh Biên (Hà Tiên), lãnh đạo 20.000 người nổi lên chống chính quyền phong kiến ở Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên.

Suốt 7 năm, từ 1840 đến 1847 thời Thiệu Trị, năm đầu của Tự Đức, nông dân Nam Bộ liên tiếp nổi lên chống đối. Vua phải dùng quân triều đình và các tỉnh đàn áp, gây bao cảnh “máu nhuộm cỏ đen, đồng phơi xương trắng” (thơ của Bùi Hữu Nghĩa).

Khi Pháp xâm chiếm 6 tỉnh Nam Kì, triều đình bạc nhược, ra lệnh bãi binh, không dám chiến đấu. Nhân dân Nam Kì tự vũ trang chống Pháp. Có trận chiến đấu oanh liệt ở Cần Giuộc, đánh tàu chiến Pháp trên sông Vàm Cỏ, đốt tàu Espérance ở Vàm Nhật Tảo. Đồng bào tẩy chay bọn xâm lược, tản cư nơi giặc chiếm, trai tráng vào dân dũng, lính đồn điền vào nghĩa quân.

Thể theo lòng dân và được nhân dân suy tôn “Bình Tây đại nguyên soái”, Trương Định tập hợp và tổ chức nhân dân kháng chiến chống Pháp. Trương Định giao cho Hồ Huân Nghiệp làm tri phủ Tân Bình, ông này bị giặc Pháp giết chết.

Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị và nhiều sĩ phu yêu nước kêu gọi nhân dân kháng chiến, không vì vua hòa nghị (đầu hàng) mà xao lãng việc cứu nước, không vì Bến Nghé tản cư mà dao động, tôn vinh dân lân, dân ấp kháng chiến là nghĩa quân, người hi sinh là nghĩa sĩ.

Nhân dân Nam Kì bỏ việc “Trung quân”, mà lấy “Ái quốc” làm đạo lí làm người và nghĩa vụ người dân, tiếp tục kháng chiến chống Pháp, bất chấp lệnh buông súng của triều đình.

Phong trào “tị địa” do các sĩ phu khởi xướng được nhân dân hưởng ứng, di chuyển ra cực Nam Trung Bộ và về Tây Nam Bộ. Một cuộc di tản lớn trong nội địa Nam Kì từ Đông sang Tây, thêm lực lượng khai phá ruộng đất ở Rạch Giá, Cà Mau, để ổn định cuộc sống và tăng cường lực lượng kháng chiến ở Tây Nam Bộ.

Nguyễn Trung Trực được Tự Đức phong làm Thành thủ ủy tỉnh Hà Tiên. Chưa đến nơi, Hà Tiên đã rơi vào tay giặc. Ông chỉ huy nghĩa quân kì tập diệt đồn, giết tên tỉnh trưởng Rạch Giá. Lực lượng nghĩa quân hoạt động từ Rạch Giá đến Long Xuyên. Bị Pháp uy hiếp, Nguyễn Trung Trực rút quân ra đảo Phú Quốc và bị bắt tại đây. Pháp đưa ra xử chém tại Rạch Giá. Trước khi chết, ông nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Câu nỏi bất hủ đó sử sách nước ta ghi giữ đời đời, để lại cho con cháu về tinh thần chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Ở Cà Mau, nghĩa quân diệt tên Escanyé và tri huyện Phan Tử Long. Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự, con của cử nhân Đỗ Văn Nhân, cùng nhân dân Tây Nam Bộ nổi dậy khởi nghĩa, có cả súng thần công, lấy U Minh làm căn cứ kháng chiến.

Năm 1866, đốc binh Nguyễn Tấn Kiều và thống binh Nguyễn Văn Linh ở Vĩnh Long dùng súng thần công đánh vào đồn vàm sông Cần Lố (Cao Lãnh), quân Pháp phải bỏ đồn chạy trốn. Thống binh bị giặc Pháp bắt, trước khi bị chúng chém đầu, ông khẳng khái ngâm thơ:

            “Rất tiếc thù chung chưa trả được
            Sụt sùi chín suối dễ nào nguôi”.


Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Ngữ, con của cụ Phan Thanh Giản huy động nghĩa binh kháng chiến chống Pháp ở Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh. Sau đó ra Bắc hợp lực với Nguyễn Tri Phương kháng cự quân Páp tại Hà Nội năm 1873(1).

Tháng 2-1872, đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao tổ chức phục kích tại Cầu Vòng (Vũng Liêm, Vĩnh Long) diệt tên chánh tham biện Vĩnh Long, gây tiếng vang lớn.

Quản cơ Trần Văn Thành, thuộc tướng của Nguyễn Trung Trực, tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ ở Láng Linh (Châu Đốc) hoạt động từ Châu Đốc tới Long Xuyên, Cần Thơ qua Trà Vinh.


(1) Huỳnh Minh: Cần Thơ xưa và nay, Cánh Bằng, 1966, tr. 86.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:15:56 AM »

Từ năm 1868 đến 1886, nghĩa quân khắp Nam Kì tập trung ở Núi Tượng (Bảy Núi) chiến đấu trên diện rộng từ Bảy Núi lên Châu Đốc qua Tân Châu), Hồng Ngự, dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Từ năm 1884 đến 1887, nhiều lần nghĩa quân tiến công tỉnh lị Hà Tiên. Quản Hiêm chỉ huy nhiều trận đánh Hà Tiên và Kam Pốt (Campuchia).

Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng đã vấp phải sức kháng chiến của đồng bào Nam Kì, gần 30 năm (1859 - 1887), Miền Tây chiến đấu tại chỗ hơn 20 năm (1866 - 1887). Tuy chưa thành công, nhưng đồng bào luôn nêu cao lòng yêu nước, chí kiên cường, bất khuất, nung nấu lòng căm thù giặc, dùng mọi cách để tập hợp lực lượng, tìm mọi cơ hội để quật lại quân thù.

Sau đó, có phong trào “Hội kín” của Nguyễn Hữu Trí, Phan Xích Long, lập căn cứ dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tập hợp quần chúng nổi dậy đánh Sài Gòn năm 1913, 1916 và ở nhiều tỉnh Nam Kì trong thời gian này.

Năm 1925, ông Nguyễn Văn Nhơn (Thôn Trương) ở ấp Phú Hưng II, làng Bình Phú, quận Càng Long (tỉnh Trà Vinh) bị Trương Tài Năng cấu kết với quan làng cướp đất. Thưa kiện nhiều năm, tòa án của Pháp ở Trà Vinh mới xét xử. Tại phiên toàn, Thôn Trương dùng dao đâm chết Trương Tài Năng, rồi dõng dạc nói trước tòa: “Tôi biết những tên giặc đất của nông dân đều được thực dân và tòa án thực dân che chở, nên tôi thấy nông dân tự giải quyết lấy, và tôi đã làm như vậy”. Thôn Trương bị tòa đại hình xử tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được giải thoát.

Năm 1927, Chủ Chọt và 40 người cùng làm ruộng cho Chủ Chọt đã chống lại bọn địa chủ người Pháp và người Việt, dùng cường quyền chiếm đoạt đất do Chủ Chọt khai khẩn tại xã Ninh Thạnh Lợi (quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá, đã giết 1 tên cai mã tà và 2 lính, bắn bị thương nặng tên cò Tây Busê (Bouchet) và một số tên khác (súng lấy của lính mã tà). Phía Chủ Chọt có 14 người chết (trong đó có Chủ Chọt) và 20 người bị thương.

Năm 1982, tại Đồng Nọc Nạng (xã Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), gia đình Mười Chức chống lại bọn địa chủ và lính làng cướp lúa và giật đất, do gia đình khai khẩn lâu đời. Gia đình này làm lễ tế sống mẹ (bà Tám Luông) đêm trước và hôm sau quyết sống chết với bọn lính làng. Kết quả tên cò Tây Tuốcniê (Tourrnier) bị thương nặng, hôm sau chết. Phía Mười Chức có 4 người chết (trong đó có chị Mười Chức đang mang thai).

Vụ Chủ Chọt và Mười Chức được báo chí tiến bộ tiếng Việt, tiếng Pháp liên tục đăng tải, cho đây là cuộc khủng hoảng chính sách ruộng đất công, do Chính phủ Pháp bảy ra, viên chức địa phương tham nhũng, giật đất của dân. Chính sách ruộng đất này còn tệ hơn triều Nguyễn.

Phiên tòa đại hình đưa vụ “Đồng Nọc Nạng” ra xử, làm cho công luận thấy chế độ cai trị đẩy người dân đến “bước đường cùng” không lối thoát. Bị áp lực của dư luận tiến bộ (nhất là báo chí tiến bộ tiếng Việt và tiếng Pháp, có 2 luật sư người Pháp biện hộ miễn phí), không còn cách nào khác, tòa án thực dân tại Cần Thơ buộc phải tha bổng 3 người, còn một người bị kêu án 6 tháng tù (vừa đúng 6 tháng đã bị giam).

Phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột và chống xâm lược diễn ra liên tục…

Đầu thế kỉ XX, có hai phong trào lớn mang tính cách mạng, tác động đến cả nước và cả miền Tây Nam Bộ:

- Phong trào chống Pháp bằng đấu tranh vũ trang, do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo. Cụ chủ trương dựa vào nước ngoài và dựng cờ Hoàng thân Cường Để của nhà Nguyễn (đang sống lưu vong ở Nhật). Cụ bị bọn Pháp xử tử hình vắng mặt ngày 5-9-1913. Mười hai năm sau, khi bắt được cụ, bọn Pháp chỉ kết án khổ sai chung thân (23-1-1925). Khâm phục tinh thần yêu nước chống Pháp của cụ, một phong trào đấu tranh rầm rộ dấy lên trong cả nước, trong đó có nhân dân miền Tây, đòi Pháp phải thả cụ. Bọn Pháp phải “ân xá” cụ, rồi quản thúc tại Huế cho đến khi cụ mất.

- Phong trào chống triều đình thối nát làm mất nước, do cụ Phan Chu Trinh khởi xướng. Khi cụ chết, cả nước để tang để tỏ lòng kính trọng tinh thần yêu nước của cụ (4-4-1926).

Ở miền Nam, có phong trào yêu nước của ông Nguyễn An Ninh. Tuy ông học ở Pháp, đậu cao, nhưng không làm việc cho Pháp, mà ra báo, lập “Hội kín”, truyền bá tinh thần yêu nước, tư tưởng tiến bộ, do đó đã được nhân dân Nam Kì, đặc biệt trong giới trí thức, học sinh rất kính trọng.

Những phong trào này tác động mạnh đến nhân dân miền Tây và cả nước, nhưng vì chưa có đường lối đúng, chưa đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng thiết tha của nhân dân, nên không tồn tại lâu dài.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:16:23 AM »

2. Phát triển đấu tranh từ khi có chủ nghĩa Mác - Lênin

Trước sự khủng hoảng của phong trào cách mạng, ngày 5 tháng 6 năm 1911, với lòng yêu nước nồng nàn, Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) rời thành phố Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa năm 1920, Người tham gia và sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, làm cán bộ Quốc tế Cộng sản, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chuẩn bị cho ra đời Đảng Cộng sản nước ta.

Cũng vào thời điểm lịch sử ấy, trong khi đang học trường “Cơ khí dành cho người châu Á” ở Sài Gòn, lớp điện và xe hơi (khóa 1915 - 1917), tháng 9-1916, Tôn Đức Thắng bị động viên sang Pháp làm lính thợ trên một chiến hạm Pháp, đóng ở cảng Tulông (Toulon).

Tháng 8-1920, Tôn Đức Thắng từ Pháp trở về Sài Gòn, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng trong nước và được phân công hoạt động trong phong trào quần chúng. Với những kinh nghiệm hoạt động công đoàn ở Pháp, Tôn Đức Thắng đã lập ra Công hội ở Sài Gòn, Nông hội ở Mĩ Tho và một số tỉnh khác ở Nam Kì.

Từ nước ngoài, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử người về nước, vận động chọn người qua Quảng Châu (Trung Quốc) học.

Sau một đợt đi trước, có Lê Văn Phát (Bến Tre), Ngô Thiêm… đều năm 1927, có sự giúp đỡ của ông Nguyễn Văn Cổn, quê ở Gò Công và ông Vương Hữu Dụng, cánh tả Quốc dân Đảng Trung Quốc, tị nạn chính trị ở Việt Nam, một đoàn 9 thanh niên yêu nước, đa số là học sinh trường trung học Cần Thơ: Lê Văn Sô, Nguyễn Văn Tây, Trần Ngọc Diệp, Nguyễn Văn Lí (Cần Thơ), Nguyễn Văn Phát (Sa Đéc), Nguyễn Văn Củng, Trần Văn Thanh (Long Xuyên), Huỳnh Quảng (Bạc Liêu), Anh Thuật (có tài liệu ghi Nguyễn Văn Chiến - Gia Định), được đưa đi Quảng Châu theo học lớp Thanh niên, chương trình do Nguyễn Ái Quốc soạn. Học xong, tất cả được kết nạp vào Hội và trở về nước hoạt động, trong đó có một số về miền Tây tuyên truyền phát triển hội viên.

Tháng 3-1929, kì bộ Nam Kì Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tiến hành Đại hội, bầu ra Kì ủy và cử đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc lần thứ nhất họp ở Hương Cảng vào ngày 1-5-1929. châu Văn Liêm (quê ở Ô Môn, Cần Thơ) được cử vào Kì ủy và là một trong ba đại biểu đi dự Đại hội, do Phạm Văn Đồng, Bí thư Kì ủy làm Trưởng đoàn.

Trong Đại hội, diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, Đoàn đại biểu Bắc kì kiên quyết đòi phải thành lập ngay Đảng Cộng sản để lãnh đạo cuộc cách mạng trong nước vì đã có đủ điều kiện. Đa số đại biểu không tán thành. Đoàn đại biểu Bắc Kì bỏ ra về và thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng vào ngày 17-6-1929.

Đại hội Thanh niên tiếp tục bàn luận và đề ra nhiều nghị quyết. Ngay sau khi Tổng ủy mới được bầu, đã bàn riêng với nhau lập ra Hội trù bị thành lập Đảng, cử người đi lập chi bộ và dự định cuối năm 1930 sẽ chính thức thành lập Đảng.

Cuối tháng 5 đầu tháng 6-1929, đoàn đại biểu Thanh niên Nam Kì về tới Sài Gòn, họp bàn triển khai nghị quyết, gặp ngay cuộc khủng bố lớn của Pháp. Tháng 6-1929, Ngô Thiêm bị bắt. Tháng 7-1929, Pháp bắt hầu hết cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kì và bắt cả Việt Nam Quốc dân Đảng, Tân Việt, Hội kín Nguyễn An Ninh.

Tháng 9-1929, tại Bình Thủy (Cần Thơ), có Hội nghị thành lập Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang do Châu Văn Liêm chủ trì. Hội nghị bầu Đặc ủy đầu tiên gồm: Ung Văn Khiêm - Bí Thư, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Tây (Thanh Sơn), Lê Văn Sô, Nguyễn Văn Trí, Đào Hưng Long.

Tháng 11-1929 tại Sài Gòn, Châu Văn Liêm triệu tập các đồng chí An Nam Cộng sản Đảng thành lập cấp ủy lâm thời (tức Ban Chấp hành Trung ương An Nam Cộng sản Đảng), gồm: Châu Văn Liêm (bí danh Việt) - Bí thư, Nguyễn Thiệu (bí danh Nghĩa), Ung Văn Khiêm, Huỳnh Quảng (bí danh Tuyên), Đỗ Quang.

Biết được Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã ra đời, Tân Việt Cách mạng Đảng cũng họp thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn ngày 1-1-1930. Sau đó những người tham gia cuộc họp này đều bị Pháp bắt.

Được tin nước ta có mấy tổ chức Cộng sản, Quốc tế Cộng sản giao cho Nguyễn Ái Quốc nhiệm vụ thống nhất làm một Đảng Cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị bàn việc thống nhất Đảng tại Cửu Long (Hồng Kông) ngày 3-2-1930. An Nam Cộng sản Đảng cử 2 đại biểu: Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu. Đông Dương Cộng sản Đảng cử hai đại biểu là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh. Hội nghị do Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản chủ trì. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Đề cương đường lối cách mạng tư sản dân quyền (đến Đại hội II của Đảng gọi là Cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân) đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc và xóa bỏ chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa). Trong cuộc cách mạng này, giai cấp công nhân thông qua Đảng của mình đóng vai trò lãnh đạo, giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với nông dân làm cơ sở xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Hội nghị quyết định đặt tên là Đảng Cộng sản Việt Nam (đến Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương).

Hội nghị bầu ra Ban Chấp hành lâm thời 9 đồng chí: 3 của Bắc Kì, 2 của Trung Kì, 2 Nam Kì và 2 người Hoa (do Đảng bộ người Hoa chọn).

Hội nghị hợp nhất Đảng có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng, vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn và sáng tạo.

Cuối tháng 2-1930, trở về nước, Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu thực hiện việc họp nhất các tổ chức Đảng, thành lập Xứ ủy Nam Kì, do Ngô Gia Tự làm Bí thư.

Việc phân công trong Xứ ủy: Châu Văn Liêm phụ trách 2 tỉnh Gia Định và Chợ Lớn, Nguyễn Thiệu làm Bí thư Tỉnh ủy Mĩ Tho. Ung Văn Khiêm, Xứ ủy viên, được phân công công tác khác. Tháng 4-1930, Hà Huy Giáp được cử làm Bí thư Đặc ủy Hậu Giang, thay Ung Văn Khiêm.

Ngày 4-6-1930, 1.500 quần chúng các làng Hữu Thạnh, Mĩ Thạnh, Đức Hòa (quận Đức Hòa, Chợ Lớn) họp mít tinh, biểu tình, do Châu Văn Liêm chỉ huy, tiến về quận lị đòi hoãn, giảm thuế. Trong cuộc đấu tranh này, Châu Văn Liêm đã bị thực dân Pháp bắn chét. Châu Văn Liêm hi sinh khi mới 28 tuổi trong lúc cao trào đấu tranh 1930 - 1931 đang dâng cao. Đây là một tổn thất lớn cho Đảng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:17:50 AM »

Có đường lối đúng đắn, Đảng bộ Tây Nam Kì đã kịp thời tổ chức và lãnh đạo cao trào 1930 - 1931 rất mạnh ở Chợ Mới (Long Xuyên), Cao Lãnh (Sa Đéc), Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau (Bạc Liêu), Bến Tre… Nhiều cuộc biểu tình với hàng ngàn quần chúng đã liên tục đấu tranh đòi hoãn thuế 3 tháng, vì mất mùa, dân đang đói, đòi giảm thuế và phản đối bắt phu, bắt những người đi đấu tranh… Thực dân ra sức khủng bố, đàn áp, chúng đưa ra tòa kết án tù rất nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng cốt cán, nhằm dập tắt phong trào cách mạng. Nhưng phong trào vẫn âm ỉ, chờ thời cơ để bùng lên mãnh liệt hơn…

Cao trào 1930 - 1931 tuy bị thực dân Pháp đàn áp tàn khốc, nhưng đã chứng tỏ: Khi đường lối đúng đắn của Đảng đi vào quần chúng, được quần chúng chấp nhận, thì tất yếu là có phong trào cách mạng vừa rộng, vừa mạnh ở nhiều địa phương, khác hẳn những cuộc đấu tranh lẻ tẻ trước đó. Cao trào này là cơ sở để quần chúng tập dượt đấu tranh theo phương thức mới, chuẩn bị tiến lên đấu tranh cho những bước tiếp theo.

Tháng 1-1934, một ủy ban công nhân điều tra tình hình Đông dương được thành lập ở Pháp, gồm 3 người: Gabriel Peri, nghị sĩ Cộng sản Pháp và Bơrunô (Bruneau), Battel (Barthel) thay mặt 3 tổ chức: Cứu tế đỏ quốc tế, Tổng công hội thống nhất và Ủy ban vận động đặc xá.

Trước khi đoàn đến, bọn thực dân tìm mọi cách phá hoại, bắt bớ cán bộ, đảng viên, không cho quần chúng tiếp xúc với đoàn. Nguyễn Văn Tạo, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động công khai, với danh nghĩa Hội đồng thành phố Sài Gòn, dẫn đầu một đoàn người Việt Nam. Trạng sư Cănxenlơri (Cancieller) dẫn đầu một đoàn người Pháp, xuống tàu đón đoàn Peri giữa một cuộc giàn giá của đông đảo cảnh binh, mật thám.

Sau cuộc điều tra, đoàn Peri công bố một bản yêu sách 8 điểm, nội dung hoàn toàn phù hợp với quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Về Pháp, đoàn mở nhiều cuộc họp báo cáo trước quần chúng tình hình thống trị của thực dân Pháp và phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam.

Sự có mặt và hoạt động ở Sài Gòn và Nam Kì của một “Ủy ban công nhân Pháp điều tra tình hình Đông Dương”, do một chính khách cộng sản nổi tiếng ở Pháp cầm đầu, thực tế đã góp phần vào việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Năm 1936, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Pháp, Mặt trận bình dân (hợp tác giữa Đảng Cộng sản Pháp, Đảng xã hội và Đảng xã hội cấp tiến) giành thắng lợi. Lêông Bờlum (Léon Blum), Đảng xã hội Pháp được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ.

Nhóm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Kì hoạt động công khai ở Sài Gòn, phối hợp với một số trí thức yêu nước, tiến bộ, cảm tình với Đảng ta thống nhất đưa ra “Cuộc vận động Đại hội Đông Dương” nêu lên nguyện vọng của nhân dân Đông Dương, để tiếp phái đoàn của Chính phủ bình dân Pháp sắp qua Việt Nam. Số người này trao đổi, góp ý để ông Nguyễn An Ninh viết bài đăng báo, cổ vũ cho cuộc vận động này. Báo La Lutte (Tranh đấu) số 92 ngày 29-7-1936 đã đăng bài “Tiến tới một Đại hội Đông Dương” của Nguyễn An Ninh (bằng tiếng Pháp), có tiếng vang lớn trong đồng bào các giới.

Cuối tháng 8-1936, sau khi Tổng Bí thư Hà Huy Tập về Sài Gòn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương mới công bố văn bản “Đảng Cộng sản Đông Dương và Đông Dương Đại hội”. Sáng kiến của đảng viên và quần chúng cách mạng được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chấp nhận và ủng hộ(1). Đảng phát động một cao trào đấu tranh mới, kết hợp hoạt động không hợp pháp (bí mật) với nửa hợp pháp và công khai, cả trong nghị trường và ngoài đường phố, bằng báo chí công khai và những cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp rầm rộ, không chỉ có quần chúng công nông, mà cả các tầng lớp thanh niên, học sinh, trí thức, nhân sĩ tiến bộ, văn nghệ sĩ có tiếng và nhiều người thuộc đủ thành phần dân tộc, tôn giáo… tham gia.

Đảng bộ Tây Nam Bộ đã lãnh đạo quần chúng tham gia đấu tranh trong cao trào này rất sôi nổi. Tất cả các tỉnh đều dấy lên phong trào vận động thành lập ủy ban hành động để lấy dân nguyện đòi Chính phủ Pháp ban hành các quyền lợi về dân sinh, dân chủ, nhất là các quyền tự do tối thiểu, như tự do ngôn luận (ra báo chí), lập hôi, đi lại, v.v….

Ở Cần Thơ thành lập nhiều ủy ban hành động ở thị xã và các quận Châu Thành, Trà Ôn, Phụng Hiệp, Ô Môn, Cầu Kè… Làng Vĩnh Xuân (Cầu Kè) có ủy ban hành động riêng của phụ nữ và nam giới.

Tỉnh Vĩnh Long có nhiều ủy hành động ở quận Châu Thành (ngã tư làng Phú Đức, chợ Cái Ngang, làng Phú Hậu), Tam Bình (làng Tường Lộc, có 2 ủy ban hành động. Nhà in Phú Toàn chuyên in truyền đơn của tỉnh và các tỉnh thuộc miền Tây trong cao trào này.

Ở Trà Vinh, các quận Châu Thành, Càng Long, Cầu Ngang, Tiểu Cần đều xuất hiện nhiều ủy ban hành động.

Sóc Trăng, ngoài ủy ban hành động tại tỉnh lị còn có ở quận Long Phú.

Rạch Giá, có ủy ban hành động ở tỉnh lị.

Ở Châu Đốc, ngoài ủy ban hành động ở tỉnh, còn có ở Tân Châu, Hồng Ngự, ở các làng Tân Long, Cù Lao Tây, Tân Huề, Tân Quới, Hòa Hỏa, Phú An…

Tỉnh Long Xuyên, ủy ban hành động ở các làng Mĩ Luông, Mĩ Hưng, Tân Đức, Bình Thạnh, Tân Phú, Nhơn Mĩ, Kiên An, Mĩ Hội Đông, Long Điền, Bình Hòa… thuộc quận Chợ Mới và Châu Thành.

Tại Bạc Liêu, nhiều ủy ban hành động theo nghề nghiệp, như sốpphơ (lái xe) ở Giá Rai, Cà Mau có ủy ban hành động trong thợ hớt tóc, sốpphơ, thợ mộc, thợ may, thầy thuốc (Đông y)… và ủy ban hành động ở các làng Tân Hưng Tây, Thạnh Phú, Tân Hưng.

Ở Bến Tre, tại tỉnh lị, quận Châu Thành, Mỏ Cày, Thạnh Phú có 30 ủy ban hành động…

Phong trào lập ủy ban hành động ở miền Tây không kéo dài, chỉ trong vài tháng, nhưng rất sôi động, đây là cuộc rèn luyện, tập dượt, huy động quần chúng nhân dân góp phần quan trọng cho các cuộc chiến đấu tiếp theo.


(1) Nguyên Thành: Cuộc vận động Đại hội Đông Dương năm 1936, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1985.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:19:07 AM »

Ngày 1-1-1937, Xứ ủy và Thành ủy Sài Gòn huy động 20.000 quần chúng đủ các giới để đón nghị sĩ Gôđa (Jusstin Godart)được Chính phủ bình dân Pháp đặc phái sang Việt Nam điều tra tình hình xã hội và lao động.

Bọn thực dân tìm mọi cách ngăn cản không cho quần chúng tiếp xúc, nhưng đồng bào tìm mọi cách đi từng tốp nhỏ, đã tập hợp được 5.000 người khi Gôđa xuống thang tàu,, nhân dân hô khẩu hiệu và đưa nắm tay lên chào “lao công đại sứ”. Mấy chục tấm băng trong áo được giăng ra, mang các khẩu hiệu chữ Việt và Pháp.

- “Hoan nghênh Mặt trận bình dân!”
- “Tự do dân chủ!”
- “Tự do công dân!”
- “Thi hành luật lao động!”
- “Đại xá chính trị phạm!”


Khi Gôđa đi về Tân An, Mĩ Tho, mới ra tới Phú Lâm, An Lạc… nhiều nông dân đón đường đưa yêu sách. Nơi nào Gôđa cũng xuống xe nhận đơn từ và yêu sách một cách lịch sự.

Bọn cầm quyền ấm ức. Nhân dân phấn khởi. Hai tuần sau, Toàn quyền mới của Đông dương Bờrêviê (J. Brévié) đến Sài Gòn.

Thực dân Pháp tính trước rằng, cuộc biểu tình lần này sẽ lớn hơn, mạnh hơn, nên điều động cảnh sát, lính khố xanh và cả lính lê dương để ngăn chặn không cho nhân dân tiếp cận Bờrêviê. Rút kinh nghiệm kì rồi, đồng bào ta phân tán, từng 2-3 người hoặc 5-7 người… rồi lần lượt đến mé sông Sài Gòn. Đến 3 giờ chiều, 10.000 đồng bào đứng ở mé sông, đủ các tầng lớp, cả thành thị và nông thôn ở Hóc Môn - Bà Điểm… chen chân không lọt. Tuy vậy, rất trật tự (tờ Điện tín ngày 16-1-1937).

Khi Bờrêviê lên bờ, những người biểu tình đưa nắm tay lên, hô khẩu hiệu, trương băng, nói rõ mình muốn những gì.

Cuộc xô xát diễn ra dữ dội. Nhiều người bị thương, nhiều người bị bắt sau cuộc giành đi giật lại với cảnh sát và mật thám.

Những cuộc đấu tranh của nhân dân ở Sài Gòn có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh ở Tây Nam Kì và toàn quốc:

Năm 1939, chiến tranh thế giới sắp bùng nổ. Trung ương Đảng đóng tại Sài Gòn chủ trương: Nhân dịp kỉ niệm 150 năm ngày Cách mạng tư sản Pháp thắng lợi (14-7-1789 - 14-7-1939) tiến hành một cuộc đấu tranh công khai bằng cách tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình, có xin phép chính quyền thuộc địa, lấy cớ kỉ niệm cách mạng Pháp, nhưng thực chất là đòi chính quyền phải thực thi những quyền dân chủ, phải thực hành những luật lệ có lợi cho người lao động, nông dân, các tầng lớp nhân dân khác và đòi thả một số người đang bị chúng giam giữ.

Sài Gòn và các tỉnh có xin phép, nhưng chính quyền địa phương không chấp thuận. Duy nhất tại Cần Thơ, do áp lực quần chúng đấu tranh mạnh và do mối quan hệ quen biết của Dương Bạch Mai với viên tỉnh trưởng Pháp, ta tổ chức được cuộc mít tinh lớn. Các nơi khác, dù bị cấm, vẫn rải truyền đơn (in công khai), tổ chức mít tinh, biểu tình nhỏ, ít người… bị thực dân đàn áp và bắt giam, đưa ra xử án nhiều người.

Tại tỉnh lị Cần Thơ, cuộc mít tinh tổ chức tại rạp Casino, nay là rạp Thanh Bình. Tỉnh trưởng Cần Thơ đến giờ chót định cấm, nhưng buộc phải chấp nhận. Đúng ngày quy định (14-7-1939), hàng ngàn quần chúng các quận Cần Kè, Trà Ôn, Phụng Hiệp… cùng nhân dân thị xã (khoảng 4.000 người) kéo nhau tới rạp Casino. Sức chứa của rạp chỉ được 1.000 người, số còn lại phải đứng ngoài rạp xếp hàng dọc theo đường phố rất có trật tự và nghiêm túc trong đấu tranh…

Cuộc mít tinh đã bầu ông Nguyễn Ngươn Hạnh, người có uy tín trong nhân dân làm chủ tịch danh dự cuộc lễ. Gần 10 diễn giả đã lên phát biểu về: ý nghĩa cách mạng Pháp 14-7-1789, vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, thanh niên, phụ nữ, nói về phòng thủ Đông Dương trước họa phát xít Nhật… quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Cuộc mít tinh kết thúc bằng một kiến nghị do Chủ tịch danh dự buổi lễ trao tận tay viên tỉnh trưởng. Cuộc mít tinh có tiếng vang lớn, báo chí đăng tải tin về cuộc mít tinh đã gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân khắp miền Tây.

Phong trào Đông Dương Đại hội cùng các cuộc đấu tranh cho dân sinh, dân chủ trong những năm 1936 - 1939 đã đạt được một số kết quả (Pháp phải ân xá tù chính trị hơn 1.000 cán bộ, đảng viên, quần chúng được thả ra là kết quả quan trọng), nhưng sau đó bọn phản động thuộc địa tìm mọi cách tước đoạt, trấn áp… khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổi ra.

Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ do phát xít Đức, Ý, Nhật gây ra. Pháp là một bên tham chiến, ban hành hàng loạt chính sách phản động: Giải tán Đảng Cộng sản (cả ở chính quốc và thuộc địa), đóng cửa các báo chí tiến bộ, giải tán các hội quần chúng, ra lệnh tổng động viên để bắt lính, bắt phu, tịch thu, trưng thu tài sản, nhà cửa, ghe tàu, xe cộ… thực hiện chính sách kinh tế thời chiến, để vơ vét, bóc lột, phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc, đẩy nước ta vào tình trạng khủng hoảng về mọi mặt.

Chiến tranh và những chính sách phản động của Pháp đặt cho Đảng ta, phải có những nhận định mới và kịp thời có sự chuyển hướng và chỉ đạo chiến lược, thay đổi sách lược và phương pháp đấu tranh. Từ ngày 6 đến 8-11-1939, Hội nghị Trung ương Đảng lần VI họp tại làng Tân Thới Nhứt (Bà Điểm - Hóc Môn - Gia Định), ngay sát Sài Gòn (có Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần… tham dự) nhận định rằng: Chiến tranh thế giới sẽ phát triển, phát xít Nhật sẽ mở rộng chiến tranh ở Viễn Đông. Trận tự cũ lay chuyển tận gốc. Các nước thuộc địa bị áp bức sẽ vùng dậy đấu tranh liều sống chết với đế quốc xâm lược, để cởi bỏ ách tôi đòi.

Hội nghị khẳng định hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng nước ta: Chống đế quốc, chống phong kiến, Đảng đề ra từ năm 1930 là đúng. Nhưng trong điều kiện hiện thời, thế giới chiến tranh đã nổ ra và bọn cai trị thực hiện chế độ phát xít vô cùng tàn bạo, phát xít Nhật lăm lẻ nhảy vào Đông Dương, đời sống của toàn thể dân tộc bị chà đạp nghiêm trọng, uy hiếp bước sinh tồn của các dân tộc Đông Dương, không có con đường nào khác là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc.

Hội nghị nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc: Tất cả mọi vấn đề của cách mạng, cả vấn đề điền địa, cũng phải nhằm vào mục đích ấy để giải quyết.


Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu: Tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay Mặt trận dân chủ Đông Dương, trên cơ sơ liên minh công nông, đoàn kết các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc và tay sai.

Hội nghị quyết định thay đổi các hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp tình hình mới, phải chuẩn bị bước tới làm cách mạng giải phóng dân tộc, song phải hết sức tránh những cuộc đấu tranh non, đấu tranh vô phương pháp, vô chuẩn bị, vì như thế là đưa quần chúng đến chỗ tự sát.

Hội nghị Trung ương này đã đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược, sách lược và phương pháp đấu tranh, mở đầu cho thời kì mới của cách mạng nước ta.

Những quyết định đúng đắn của Hội nghị Trung ương lần này, được các Hội nghị Trung ương 7 (11-1940) và Trung ương 8 (5-1941) hoành chỉnh là nguồn gốc thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:20:05 AM »

3. Khởi nghĩa Nam Kì

Nghị quyết Hội nghị Trung ương VI (11-1939), được phổ biến trong cả nước, nhưng Nam Ki là nơi tiếp thu sớm nhất, có tác động rất lớn tới cuộc khởi nghĩa Nam Kì.

Tình hình thế giới và trong nước biến chuyển mau lẹ. Ngày 10-5-1940, Đức tiến đánh Pháp. Chỉ cầm cự được hơn một tháng, Pháp tuyên bố Pari bỏ ngỏ, xin kí hàng ước với Đức. Pháp mất nước, làm cho bọn cai trị ở Đông Dương hoang mang, bối rối. Nhân dân ta càng thấy rõ Pháp yếu không phải mạnh. Phát xít Nhật dòm ngó Đông Dương từ lâu, chớp thời cơ, nhảy vào phía Bắc, với ý định chiếm toàn Đông Dương, nhất là đất Nam Kì, để làm bàn đạp tiến đánh Philíppin, Nam Dương, Mã Lai, Singapore… ở phía Tây, Nhật dùng Thái Lan làm sức ép đòi Pháp nhượng đất Lào, Campuchia. Bọn cai trị Đông Dương chọn con đường “đầu hàng Nhật” để mong vẫn nắm được quyền cai trị Đông Dương, vớt vát chút ít quyền lợi và “chờ thời”.

Trong nước, tình hình khủng hoảng diễn ra nghiêm trọng, tất cả các tầng lớp nhân dân đều căm thù thực dân Pháp.

Dựa vào tinh thần của Nghị quyết Trung ương VI (11-1939), Xứ ủy Nam Kì mở nhiều cuộc họp, phân tích tình hình và quyết định phải khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị Xứ ủy tháng 7, tháng 9-1940, đã chủ trương cho các tỉnh cùng với việc tổ chức lực lượng chính trị, phải khẩn trương tổ chức lực lượng vũ trang, luyện tập quân sự, học cách đánh du kích, chế tạo vũ khí, thành lập các ban khởi nghĩa… được lệnh là phát động quần chúng nổi dậy. Nhân dịp Phan Đăng Lưu, ủy viên Trung ương Đảng ra miền Bắc để lập lại cơ quan lãnh đạo Trung ương Đảng, sẽ ban với Đảng bộ Trung Kì, Bắc Kì phối hợp đấu tranh với Nam Kì.

Tình hình rất khẩn trương! Nhật đã đánh vào Lạng Sơn. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra. Thái Lan cho quân quấy rối ở biên giới Campuchia… Pháp phải điều lính ra chống đỡ. Trong các đơn vị này, có nhiều cơ sở cách mạng đã gây dựng từ lâu. Anh em yêu cầu khởi nghĩa và nói: “Thà chết cho cách mạng còn hơn ra mặt trận làm bia đỡ đạn cho quân thù!”.

Mặc dù Phan Đăng Lưu chưa về, dựa vào Nghị quyết của Xứ ủy, Thường vụ Xứ ủy ban hành lệnh khởi nghĩa gửi đi các nơi ở Nam Kì. Ngày, giờ khởi nghĩa: Đúng nửa đêm 22 rạng 23-11-1940, toàn Nam Kì đồng loạt nổi dậy, trọng tâm là Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Phan Đăng Lưu ra hợp Hội nghị Trung ương lần thứ VII, báo cáo về tình hình chuẩn bị khởi nghĩa ở Nam Kì. Hội nghị cho rằng chưa đủ điều kiện thời cơ nên tạm hoãn chờ Trung Kì và Bắc Kì chuẩn bị rồi sẽ đồng loạt nổ ra.

Phan Đăng Lưu về đến Sài Gòn, chưa gặp Xứ ủy thì đã bị bắt vào chiều ngày 22-11-1940. Lệnh khởi nghĩa đã phát đi rồi!

Thế là cuộc khởi nghĩa nổ ra. Sài Gòn là trung tâm quyết định cuộc khởi nghĩa nhưng thực dân Pháp đã biết trước (do có nội gián), chúng tìm mọi cách chặn lại, nên Sài Gòn không có nổi dậy, dù việc chuẩn bị rất khẩn trương và tích cực. Một số nơi, nhất là các đô thị lớn, cũng bị Pháp chặn trước. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra với khí thế xung thiên ở hầu khắp các tỉnh Nam Kì.

Ở Tây Nam Kì, cuộc khởi nghĩa phất cao cờ đỏ sao vàng, đã bùng nổ mãnh liệt ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc.

Tại Vĩnh Long, quần chúng các quận Tam Bình, Vũng Liêu, Châu Thành xuống đường chặt cây, phá đường, phá nhà việc, đốt sổ sách, giải tán tề ngay đêm 22-11-1940. Riêng quận lị Vũng Liêm do nữ đồng chí Hồng (Tỉnh ủy viên, Bí thư Quận ủy) chỉ huy, đã chiếm và làm chủ quận lị 8 giờ (đây là quận lị duy nhất trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kì, ta giành quyền làm chủ trong nhiều giờ). Quân khởi nghĩa còn cướp đồn Nước Xoáy, phá phà, đốt cầu Giống Ké, làm chủ Cù Lao Dài (làng Quới Thiện) trong 3 ngày. Cuộc nổi dậy ở Vĩnh Long có cả người Hoa, người Khơme và người có đạo tham gia.

Tại Vĩnh Long, quận Càng Long lập ban khởi nghĩa, nhưng bị địch bắt trước khi khởi nghĩa nổ ra (cơ sở nội ứng phản bội), địch cho lính lùng sục, bắt thêm nhiều người. Lệnh khởi nghĩa không đến Trà Vinh, khi hay tin quận Vũng Liêm (Vĩnh Long) đã khởi nghĩa. Quận ủy Càng Long huy động lực lượng đốn ngã cây, gây trở ngại cho địch trên lộ 7, khi địch tới cây số 27 (cầu Giồng Lé, làng Trung Ngãi) nghĩa quân bắn trọng thương tên Bohn, chủ tỉnh Trà Vinh và một số công chức, binh sĩ đi cùng. Nghĩa quân phá nhà việc làng An Trường, phá nhà một tên tề phản động ở làng Phương Thạnh.

Ở Cần Thơ, nhiều cuộc nổi dậy mãnh liệt ở Cầu Kè, Trà Ôn, Châu Thành. Riêng quân khởi nghĩa làng Phú Hữu (quận Châu Thành) phá nhà việc, thiêu hủy sổ sách, bắt cai lính, thu súng, họp mít tinh, quần chúng hoan nghênh thắng lợi.

Tại Sóc Trăng, nơi nổi dậy mạnh nhất là Hòa Tú (quận Châu Thành), hàng trăm quần chúng xuống đường, có cả đồng bào đạo Cao Đài, linh mục Công giáo tham gia, mang theo băng cờ, gậy gộc, giáo mác, đánh chiếm đồn Cổ Cò (làng Hòa Tú), thu súng. Sau đó kéo đến 2 đồn điền, thu thêm một số súng. Pháp đưa quân đến đàn áp, nghĩa quân bố trí chống lại quyết liệt.

Ở Bạc Liêu, lệnh khởi nghĩa đến châm, nhưng Tỉnh ủy vẫn quyết tâm chấp hành mệnh lệnh, có kế hoạch nổi dậy ở 3 khu vực trong toàn tỉnh. Pháp biết trước, tìm cách đối phó, nên chỉ có cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Phan Ngọc Hiển lãnh đạo nổ ra ngày 13-12-1940, chiếm đảo lấy được súng. Sau đó nghĩa quân dùng ca nô về Rạch Cốc (xã Tân Ân) trừng trị bọn tề Tân Ân. Vì không phối hợp được với nghĩa quân làng Tân Hưng Tây, nên không tấn công được đồn Năm Căn theo kế hoạch. Địch tập trung lực lượng càn quét vùng rừng Năm Căn theo kế hoạch. Pháp tập trung lực lượng càn quét vùng rừng đước Năm Căn để truy bắt nghĩa quân. Vì lội rừng kiệt sức, ngày 22-12-1940, tại bãi Khai Long, giặc bắt được Phan Ngọc Hiến và đồng đội của anh. Ngày 27-1-1940, chúng đưa ra tòa kết án tử hình Phan Ngọc Hiển và 9 chiến sĩ Hòn Khoai. Ngày 12-7-1941, giặc Pháp đưa Phan Ngọc Hiển và 9 chiến sĩ Hòn Khoai về xử bắn tại sân banh Cà Mau, trước sự thương tiếc, mến phục của nhân dân(1).

Tại Long Xuyên - Châu Đốc, do địch cài được mật thám vào cơ quan lãnh đạo Tỉnh ủy Long Xuyên, nên lệnh khởi nghĩa bị ém nhẹm. Liên Tỉnh ủy phái người đến truyền đạt, Tỉnh ủy vẫn quyết tâm lãnh đạo quần chúng nổi dậy, thực hiện kế hoạch của Xứ ủy. Quân khởi nghĩa làng Mĩ Luông, quận Chợ Mới đào lộ, đốn cây chặt đường giao thông, phá cầu, phá nhà của 2 tên tề tước súng của chúng. Tại vùng điểm Chợ Mới, nghĩa quân bị địch bắn chặn đường, nên chỉ đốt nhà dây thép (bưu điện) rồi rút lui.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kì, trong đó có miền Tây, bị thực dân Pháp đàn áp vô cùng man rợ. Chúng bắn giết, đốt phá nhà cửa, mùa màng của nhân dân, xử bắn hàng trăm nghĩa quân, tù đày hơn 10.000 cán bộ, đảng viên, quần chúng cốt cán. Nhiều người đã hi sinh nơi Côn Đảo và các trại giam.

Tuy trước đó Trung ương Đảng có yêu cầu Xứ ủy Nam Kì hoãn cuộc khởi nghĩa, nhưng ngay khi được tin cuộc Khởi nghĩa Nam Kì đã bùng nổ, lập tức Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Hiệu triệu kêu gọi tất cả các Đảng bộ trong cả nước phải đứng lên hành động, để hỗ trợ, phối hợp với cuộc Khởi nghĩa Nam Kì.

Cuộc Khởi nghĩa Nam Kì tuy bị địch dìm trong máu lửa, vì nhiều nguyên nhân, nhưng nó cho ta thấy, đây là cuộc nổi dậy có nhiều tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo tham gia, và là một cuộc khởi nghĩa quyết liệt trên phạm vi rộng so với các cuộc nổi dậy trước đó. Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh tuyên dương “đội quân khởi nghĩa Nam Bộ đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương ý chí quật cường của dân tộc”, và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất (Huân chương cao quý nhất lúc bấy giờ).


(1) Ngày nay, 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau đều lấy ngày khởi nghĩa Hòn Khoai thắng lợi 13-12-1940 làm ngày truyền thống của tỉnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:21:24 AM »

4. Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945

Dù bị thiệt hại nặng sau Khởi nghĩa Nam Kì, Xứ ủy vẫn chủ trương tiếp tục chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa sắp tới. Lần này, miền Tây được xứ ủy chọn là một trong những nơi xây dựng căn cứ, sản xuất vũ khí, thành lập lực lượng vũ trang, tập luyện quân sự… Nhiều cán bộ được cử về U Minh (Rạch Giá - Bạc Liêu) cùng với Sài Gòn là trung tâm gây dựng lại cơ quan lãnh đạo Đảng.

Cơ sở Đảng ở miền Tây phải gây dựng trong tình hình cực kì gian khổ trước sự truy bắt, càn phá của địch. Các cấp ủy từ làng đến huyện, tỉnh, phải lập đi lập lại nhiều lần. Nhiều đảng viên phải ăn bờ ngủ bụi, kiên trì bám quần chúng cốt cán để gây dựng lại cơ sở, tự động công tác tìm bắt liên lạc với cấp trên… Đầu năm 1942, Liên Tỉnh ủy Hậu Giang mới bắt được liên lạc với trên, tiếp nhận được Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII, chương trình Việt Minh và từ đó những năm 1943 - 1944 cơ sở mới dần dần từng bước gây dựng và phát triển. Nhiều nơi ngoài cán bộ Đảng còn có tổ chức Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc được tổ chức bí mật trong quần chúng cốt cán…

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, đối phó với lực lượng Đồng Minh đang thắng thế trên khắp các chiến trường. Chúng dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên truyền chủ nghĩa “Đại Đông Á” để lừa bịp nhân dân ta. Minoda, Thống đốc Nam Kì của Nhật muốn tổ chức một lực lượng thanh niên đông đảo theo kiểu Thanh niên Đuycuroa (Ducouroy) thời còn Pháp để làm hậu thuẫn cho chúng. Hắn giao việc đó cho Iđa (Ida), Tổng trưởng thanh niên và thể thao của Nhật.

Nắm được ý đồ đó, Xứ ủy Tiền phong(1) đưa bác sĩ sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra thành lập Thanh niên tiền phong, để xây dựng lực lượng cho mình chuẩn bị thời cơ khởi nghĩa. Bác sĩ Thạch quen với Iđa, vì đã từng trị bệnh cho tên này, nên Thanh niên tiền phong được Nhật cho phép và đỡ đầu, hoạt động công khai hợp pháp. Vì thế, Thanh niên tiền phong phát triển rất nhanh, không chỉ ở Sài Gòn mà lan khắp các tỉnh Nam Kì. Ở miền Tây, Thanh niên tiền phong phát triển rất mạnh, nhất là các thị xã, thị trấn, thị tứ… Đảng bộ Cộng sản ở các tỉnh, huyện, đã đưa người vào nắm tổ chức này.Do đó, Thanh niên tiền phong phát triển mau lẹ, bao gồm đủ mọi thành phần, tầng lớp. Một số tỉnh có thành công Phụ nữ tiền phong. Lực lượng này đóng vai trò quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Sài Gòn và toàn Nam Kì.

Được tin Nhật sắp đầu hàng, Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị Tân Trào (ở Việt Bắc) thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu…

Quân lệnh khởi nghĩa được ban ra từ đêm 13-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi vào ngày 19-8-1945, Huế ngày 23-8-1945. Ở Sài Gòn và hầu hết các tỉnh nam Kì khởi nghĩa thắng lợi từ 23 đến 25-8-1945, với những khẩu hiệu:

“Tất cả chính quyền về tay Việt Minh”
“Mặt trận Việt Minh muôn năm”
“Việt Nam hoàn toàn độc lập”.


Riêng ở miền Tây, cuộc khởi nghĩa thành công trong vòng 6 ngày.

Tại Bạc Liêu, ngày 20-8-1945, chính quyền bù nhìn tay sai Nhật dự định tổ chức mít tinh, nói là để đón khâm sai Nguyễn Văn Sâm. Biết được tin, Tỉnh ủy huy động 10.000 quần chúng từ nông thôn phối hợp với lực lượng thị xã, trương cao cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, diễu hành tới dinh tỉnh trưởng, hô các khẩu hiệu: “Mặt trận Việt Minh muôn năm”, “Chính quyền về tay nhân dân”. Cảnh sát, mã tà đứng nhìn, tỏ vẻ đồng tình. Tỉnh trưởng hốt hoảng, tìm kế hoãn binh, lấy cớ phải xin ý kiến bên trên. Hôm sau, Mặt trận Việt Minh tỉnh ra mắt, do đồng chí Lê Khắc Xương làm chủ nhiệm, ông Cao Triều Phát, đại diện Cao Đài Minh Chơ Đạo làm phó chủ nhiệm. Sáng 23-8-1945, ta huy động hàng vạn quần chúng kéo đến dinh tỉnh trưởng hô to: “Đả đảo bù nhìn”, “Chính quyền về tay Việt Minh”. Trước khí thế áp đảo của nhân dân, tỉnh trưởng buộc phải đầu hàng, giao chính quyền cho cách mạng.

Tại Sóc Trăng, đêm 22-8-1945, Ủy ban Giải phóng Dân tộc được thành lập do đồng chí Dương Kì Hiệp làm Chủ tịch. Tối 24-8-1945, ta chọn 3 đại biểu đến thuyết phục tỉnh trưởng giao chính quyền. Tỉnh trưởng buộc phải chấp nhận. Sáng 25-8-1945, Ủy ban cách mạng lâm thời ra mắt nhân dân trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của quần chúng.


(1) Từ sau Khởi nghĩa Nam Kì, Đảng bộ Nam Kì bị thiệt hại nặng, khi khôi phục, xuất hiện 1 Xứ ủy Tiền phong và một Ban cán sự Giải phóng Nam Kì (hay là Việt Minh mới, Việt Minh cũ) có hệ thống xuống nhiều tỉnh. Ở miền Tây, có 2 Liên Tỉnh ủy, một số tỉnh có 2 Tỉnh ủy, nhưng điều đáng mừng là tất cả đều thống nhất về mục tiêu cách mạng là khởi nghĩa giành chính quyền. Tuy nhiên, tình trạng này cũng đã làm suy yếu ít nhiều đối với lực lượng cách mạng nói chung ở Nam Bộ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:23:04 AM »

Tại Trà Vinh, tối 24-8-1945, lực lượng Thanh niên tiền phong và quần chúng quận Châu Thành, Càng Long, Cầu Ngang, Trà Cú kéo vào tỉnh lị, dưới sự chỉ huy của Ban khởi nghĩa, bao vây hầu hết các cơ quan của chế độ tay sai Nhật. Sáng 25-8-1945, toàn bộ cơ quan thuộc về tay quần chúng cách mạng. Chính quyền nhân dân cách mạng tỉnh ra mắt, quần chúng nồng nhiệt chào mừng.

Tại Long Xuyên, ngày 24-8-1945, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Nhung đã tranh thủ những người cầm đầu Thanh niên tiền phong, Hòa Hảo, Công giáo… ủng hộ Việt Minh giành chính quyền. Tất cả đều chấp nhận. Bí thư Tỉnh ủy gặp Tỉnh trưởng, y tán thành giao chính quyền cho ta. Sáng 25-8-1945, quần chúng các quận Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Châu Thành rầm rộ kéo vào tỉnh lị tham dự mít tinh, có hàng vạn người tham gia. Chính quyền cách mạng ra mắt trong tiến hoan hô vang dội của đồng bào.

Tại Vĩnh Long, ngày 23-8-1945, Việt Minh tỉnh ra công khai, kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. 7 giờ sáng ngày 25-18-1945, một cuộc biểu tình lớn của hàng vạn quần chúng và Thanh niên tiền phong mang cờ đỏ sao vàng, hô vang các khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Việt Minh muôn năm” diễu hành qua trụ sở quận Châu Thành làm cuộc mít tinh. Ủy ban khởi nghĩa công bố danh sách chính quyền cách mạng, được quần chúng rất hoan nghênh.

Tại Cần Thơ, ngày 20-8-1945, cuộc khởi nghĩa ở quận Cầu Kè thắng lợi. Chiều ngày 25-8-1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng tỉnh họp bàn kế hoạch giành chính quyền. Sáng ngày 26-8-1945, 20.000 người dự cuộc mít tinh tại sân vận động Cửu Long để hoan nghênh chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân. Quần chúng nô vang các khẩu hiệu: “Chính quyền về tay nhân dân”, “Nước Việt Nam độc lập muôn năm”. Đoàn biểu tình tuần hành theo đường phố, kéo đến dinh Xã Tây (trước là trụ sở Hội tề làng Tân An). Lưu Văn Tạo, Tỉnh trưởng vội vàng xin giao chính quyền cho cách mạng. Lực lượng khởi nghĩa tiếp quản các cơ quan của địch trong 2 ngày 26 và 27-8-1945.

Tại Châu Đốc, ngày 20-8-1945, quần chúng 3 làng Tân Huề, Tân Quới, Tân Long (Cù Lao Tây) và quận Hồng Ngự, đã giành được chính quyền. Ngày 25-8-1945, Việt Minh cử người đến thuyết phục tỉnh trưởng giao chính quyền. Đại diện đạo Hòa Hảo đến gặp Việt Minh, đề nghị phân chia khu vực giành chính quyền, Việt Minh không chấp nhận.Chiều 25-8-1945, có hàng ngàn người được lực lượng vũ trang vũ khí thô sơ và súng lấy được từ quận Hồng Ngự - Tân Châu, bằng đường sông kéo vào Châu Đốc. Đúng 3 giờ sáng ngày 26-8-1945, lực lượng khởi nghĩa chiếm các công sở, thu được trên 100 súng. Cán bộ lãnh đạo quần chúng nổi dậy cùng Thanh niên tiền phong kéo đến sân vận động tham dự mít tinh. 7 giờ sáng ngày 26-8-1945, cuộc mít tinh bắt đầu. Trong rừng cờ đỏ sao vàng và khẩu hiệu… Bí thư Tỉnh ủy lên khán đài tuyên bố: “Cách mạng thành công, từ nay chính quyền về tay nhân dân”, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt!



Tòa bố tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang), nơi diễn ra cuộc mít tinh
của nhân dân tỉnh Long Xuyên ngày 26-8-1945

Tại Rạch Giá, sáng 27-8-1945, quần chúng các quận An Biên, Châu Thành… kéo vào tỉnh lị cùng đồng bào tại chỗ tiến hành bao vây các cơ quan địch, buộc tỉnh trưởng phải đầu hàng. Lực lượng khởi nghĩa tước khí giới lính mã tà, mở cửa nhà giam, thả hết tù chính trị, tiếp quản các công sở. Trưa 27-8-1945, một cuộc mít tinh tại sân vận động Rạch Giá để chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân.

Tại Hà Tiên, việc giành chính quyền thuận lợi. Ta thuyết phục được đốc phủ sứ tỉnh trưởng Hà Tiên giao chính quyền cho cách mạng. Ngày 28-8-1945, quần chúng các nơi kéo về tỉnh lị chiếm tòa bố, các công sở, tước vũ khí lính mã tà, không vấp phải sự kháng cự nào.

Như vậy, chưa kể một số làng, quận giành được chính quyền từ ngày 20-8-1945, chỉ trong vòng 6 ngày (từ ngày 23 đến 28-81945), cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Tây Nam Kì đã thành công, kịp thời cùng cả nước giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, nhiệt liệt chào mừng ngày 2-9-1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc “Tuyên ngôn Độc lập” ở Quảng trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.

Nhân dân Tây Nam Bộ cùng Nam Bộ và cả nước với tư cách là “Chủ nhân ông” của đất nước sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:26:47 AM »

Chương 1

CÙNG NAM BỘ BẮT ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(Tháng 9-1945 - 12-1946)

I. TÂY NAM BỘ SAU THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Chỉ 4 ngày sau Hà Nội (Bắc Bộ) và cùng một lúc với Huế (Trung Bộ) và Tân An (Đông Nam Bộ (Bạc Liêu là tỉnh đầu tiên của Tây Nam Bộ(1) khởi nghĩa thành công vào ngày 23-8-1945. Trong chưa đầy một tuần lễ sau đó, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và các Đảng bộ địa phương, nhân dân các tỉnh khác của Tây Nam Bộ lần lượt vùng lên giành chính quyền (Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Long Xuyên: Ngày 25-8-1945, Cần Thơ và Châu Đốc: 26-8-1945, Rạch Giá: 27-8-1945, Hà Tiên: 28-8-1945).

Sau gần một thế kỉ bị thực dân Pháp rồi phát xít Nhật áp bức bóc lột và bị tách thành một “xứ” chia cắt với phần còn lại của lãnh thổ Việt Nam(2), người dân Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng, từ nay thoát khỏi thân phận “vong quốc nô” (người nô lệ mất nước) và trở thành người làm chủ thật sự của đất nước mình. Không sao tả xiết niềm hân hoan phấn khởi dạt dào của mọi người từ thành thị đến thôn quê.

1. Củng cố và phát triển lực lượng cách mạng

Để bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nhiều nhiệm vụ cấp bách được đặt ra, mà nhiệm vụ trước tiên là phải củng cố và phát triển lực lượng cách mạng (bao gồm quân, dân, chính, đảng).

Thống nhất tổ chức Đảng

Sau thất bại của cuộc Khởi nghĩa Nam Kì (tháng 11-1940), thực dân Pháp tiến hành đàn áp và khủng bố một cách khốc liệt, khiến tổ chức Đảng Cộng sản ở Nam Bộ bị tổn thất nặng nề và đứt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương (đóng ở Bắc Bộ). Sau nhiều lần khôi phục rồi lại bị đánh tan, cuối cùng, có hai xứ ủy hoạt động riêng lẻ: Đó là Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng (gọi theo tên hai tờ báo của hai Xứ ủy ấy). Ở Nam Bộ, cũng có lai Liên Tỉnh ủy, các tỉnh cũng có nơi có hai Tỉnh ủy.

Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Trung ương cử Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương (sau này gọi là Bộ chính trị) vào Nam Bộ để tiến hành việc thống nhất tổ chức Đảng ở đây, nhằm tạo ra sức mạnh của Đảng trong việc lãnh đạo cách mạng ở thời kì lịch sử mới.

Tối ngày 7-9-1945, tại trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ, số 72 đường De La Gradière (nay là đường Lí Tự Trọng), Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh, thay mặt Trung ương chủ trì một hội nghị có đại biểu Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng cùng các đoàn thể thuộc hai Xứ ủy tham dự. Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận, các đại biểu nhất trí dẹp bỏ một số hiểu lầm và nghi kị, cam kết thống nhất lực lượng cách mạng ở Nam Bộ.

Ông Cao Hồng Lãnh kể lại sự kiện đó: Tôi và anh Hoàng Quốc Việt lúc đầu thấy vấn đề nan giải quá. Một số nơi mâu thuẫn đã đạt tới mức đối địch, dùng đến vũ lực. Nhưng chúng tôi đều nhất trí nhận định rằng về bản chất thì anh em mình không có gì mâu thuẫn; đều là một lòng yêu nước, một lòng xả thân cho cách mạng. Chẳng quả chỉ vì nóng nảy, chủ quan, bên nào cũng cho mình mới là cách mạng, khác mình là không cách mạng nên mới xung đột, mà nghĩ như thế thì xung đột “hết mình”. Vấn đề là làm cho mỗi bên đều thấy rõ tấm lòng của nhau thì mọi việc đều ổn. Cuối cùng thì chính bằng cách đó chúng tôi đã giải quyết xong vụ việc một cách tốt đẹp. Tính tình anh em trong này là như thế. Cẳng thẳng thì “hết mình”. Thương yêu nhau thì cũng “hết mình”(3).

Sau ngày Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, công cuộc thống nhất tổ chức Đảng được tiếp tục với hội nghị ngày 15-10-1945 tại Cầu Vĩ (Mĩ Tho). Dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Quốc Việt, các Xứ ủy viên của hai Xứ ủy, đại diện các Tỉnh ủy cùng một số cán bộ vừa từ nhà tù Côn Đảo về đã bầu ra Xứ ủy lâm thời thống nhất gồm 11 ủy viên, do đồng chí Tôn Đức Thắng(4) làm Bí thư. 10 ngày sau, 25-10-1945, trong hội nghị tổ chức ở Thiên Hội (Mĩ Tho, Tôn Đức Thắng đề nghị xứ ủy lâm thời cử Lê Duẩn(5) thay mình trong chức vụ Bí thư. Xứ ủy lâm thời chấp nhận đề nghị đó.

Xứ ủy lâm thời cử Nguyễn Văn Cúc(6) và Nguyễn Văn Tây(7) là Bí thư và Phó Bí thư Đặc ủy Hậu Giang.

Các Tỉnh ủy cũng được thống nhất và được tăng cường cán bộ mới từ Côn Đảo về(8).


(1) Tháng 11-1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập chiến khu 9 trên địa bàn Tây Nam Bộ (còn gọi là miền Hậu Giang), gồm 9 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Hà Tiên và Bạc Liêu. Đến cuối năm 1946, 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh chuyển về chiến khu 8 (Trung Nam Bộ). Trong quá trình kháng chiến chống Pháp, địa giới một số tỉnh được điều chỉnh (như lập các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu Sa, Long Châu Hà, giải thể tỉnh Rạch Giá, v.v…)
(2) Dưới thời Pháp thuộc và Nhật thuộc, Nam Kì là một trong sáu “Xứ” (Pays) hợp thành Đông Dương thuộc Pháp (5 “Xứ” còn lại là Bắc Kì, Trung Kì, Lào, Campuchia và Quảng Châu Loan). Từ 1834 đến 1945, Nam Bộ và Bắc Bộ được gọi là Nam Kì và Bắc Kì. Tuy nhiên, chúng tôi dùng các địa danh “Nam Bộ”, “Bắc Bộ” cho cảc thời kì trước 1945, trừ các cụm từ như “Khởi nghĩa Nam Kì”.
(3) Trao đổi với ông Cao Hồng Lãnh tại nhà riêng, làng Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội, nhân dịp sinh nhật thứ 100 của ông (2006).
(4) Tôn Đức Thắng, sinh năm 1888 tại Long Xuyên (nay thộc tỉnh An Giang). Năm 1906 học nghề tại trường Bách công rồi ra làm việc tại xưởng đóng tàu Ba Son. Năm 1913 bị bắt làm lình thợ, theo tàu biển sang Pháp làm công nhân ở cảng Toulon. Vì tham gia phong trào chống thực dân Pháp, năm 1920 bị trục xuất về nước. Từ đó, tiếp tục tham gia phong trào cách mạng. Đến 1927 tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Năm 1928 bị bắt và kết án 20 năm khổ sai… và bị đày ra Côn Đảo. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí được đón về Nam Bộ tham gia kháng chiến.
(5) Lê Duẩn, sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị, tham gia cách mạng từ năm 1928. Năm 1939 được cử vào Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1940, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng chí được đón về đất liền, tham gia kháng chiến tại Nam Bộ.
(6) Nguyễn Văn Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), sinh năm 1915 ở Hưng Yên. Từ năm 1929 tham gia cách mạng ở Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì. Hai lần bị bắt đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám được đón về đất liền, tham gia kháng chiến ở Nam Bộ.
(7) Nguyễn Văn Tây (bí danh Thanh Sơn) nguyên Bí thư Liên Tỉnh ủy Hậu Giang. Sau làm thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ.
(8) Tỉnh ủy Cần Thơ do Mao Văn Cương (Nghĩa) làm Bí thư, Tỉnh ủy Sóc Trăng do Nguyễn Văn Vực làm Bí thư, Tỉnh ủy Long Xuyên do Trần Văn Hiển làm Bí thư, Tỉnh ủy Bạc Liêu do Tô Thúc Rích làm Bí thư, Tỉnh ủy Rạch Giá do Nguyễn Phùng Tiến làm Bí thư, Tỉnh ủy Hà Tiên do Ngô Tâm Tư làm Bí thư, v.v…
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2012, 07:07:31 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9284


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:29:51 AM »

Thống nhất tổ chức mặt trận

Cùng với sự thống nhất tổ chức Đảng, hai hệ thống Việt Minh “Việt Minh cũ” của Xứ ủy Giải Phóng và “Việt Minh mới” của Xứ ủy Tiền Phong cũng được hợp nhất và mở rộng trong một Mặt trận Việt Minh (Kì bộ Nam Bộ) duy nhất. Các tổ chức cứu quốc (Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc…) thu hút đông đảo đồng bào thuộc các tầng lớp xã hội, tôn giáo, dân tộc khác nhau. Đặc biệt nhiều nhân sĩ, trí thức, điền chủ cũng tham gia Việt Minh. Tổ chức Thanh niên Tiền Phong hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình trong khởi nghĩa giành chính quyền. Sau đó có vài tỉnh đổi tên là Thanh niên Giải Phóng (Cần Thơ). Khi mở đầu kháng chiến tất cả được hợp nhất vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc.

Thành lập chính quyền cách mạng

Sau ngày khởi nghĩa thành công, chính quyền cách mạng các cấp ở miền Tây mang nhiều danh xưng khác nhau (Ủy ban Hành chính lâm thời, Ủy ban Cách mạng lâm thời…), về sau được thống nhất, gọi là Ủy ban nhân dân(1).

Thành lập lực lượng vũ trang cách mạng

Để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám chống lại những âm mưu đen tối của thù trong giặc ngoài, lực lượng vũ trang cách mạng ra đời.

Bộ đội của các tỉnh, quận gọi là Cộng hòa vệ binh, gồm thanh niên lao động, nông dân, giáo viên, học sinh… đã qua các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày, có cả binh lính người Việt của Pháp, Nhật trước kia đã giác ngộ cách mạng. Đến đầu tháng 9-1945, mỗi tỉnh (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá…) lập được 1 đại đội, riêng Cần Thơ tổ chức được 4 đại đội.

Ở xã, ấp, có các đội dân quân tham gia bảo vệ địa phương.

Trong Quốc gia tự vệ Cuộc, ngoài các chiến sĩ công an chuyên lo bảo vệ an ninh trật tự, còn tổ chức những đơn vị vũ trang gọi là Quốc vệ đội.

Ngày 10-12-1945, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ triệu tập hội nghị mở rộng ở Bình Hòa Nam (thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ngày nay) để triển khai quyết định của Chính phủ Trung ương về việc chia Nam Bộ thành 3 chiến khu (Chiến khu 7, Chiến khu 8 và Chiến khu 9) và về việc cử bộ chỉ huy Chiến khu (gọi tắt là Khu bộ).

Khu bộ 9 gồm: Vũ Đức(2) giữ chức Khu bộ trưởng, Nguyễn Ngọc Bích, Khu bộ phó và Phan Trọng Tuệ, Chủ nhiệm Chính trị bộ.



Khu bộ trưởng Võ Đức



Chủ nhiệm chính trị bộ Phan Trọng Tuệ


(1) Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng do Dương Kì Hiệp làm Chủ tịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu do Lê Khắc Xương làm Chủ tịch, v.v…
(2) Vũ Đức, tên thật là Hoàng Đình Giong, sinh năm 1908, tham gia cách mạng từ giữa nhưng năm 1920, được Đại hội Đảng lần thứ 1 ở Ma Cao (Trung Quốc, tháng 3-1935) bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bị Pháp bắt đày đi Madagascar (Châu Phi). Về nước, tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau khi Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, được Chính phủ Trung ương cử vào Nam. Tại Hội nghị An Phú (Hóc Môn, Gia Định) ngày 20-112-1945, được cử làm Chính ủy Giải phóng quân Nam Bộ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM