Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Mười Hai, 2019, 02:51:54 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp  (Đọc 135521 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 02:27:33 PM »

CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC - THU ĐÔNG 1947
(Phản công, từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 20 tháng 12 năm 1947)


Việt Bắc là một liên khu nằm ở phía bắc của Bắc Bộ, bao gồm 17 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Quảng Yên, Hải Ninh, Tuyên Quang) và châu Mai Đà. Địa hình chủ yếu là rừng núi, một phần trung du. Rừng núi Việt Bắc trùng điệp, địa hình hiểm trở. Đường bộ và đường thuỷ ít và độc đạo. Phía đông bắc có đường số 4 chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng. Đường số 3 từ Hà Nội chạy lên giữa lòng Chiến khu Việt Bắc, đi Thái Nguyên, lên Bắc Cạn và tới Cao Bằng. Đường số 2 từ Hà Nội lên Việt Trì, Phú Thọ, tới Tuyên Quang, Hà Giang. Đường thuỷ dọc sông Hồng lên ngã ba Việt Trì, rẽ theo sông Lô lên Tuyên Quang, rẽ theo sông Gâm tới Chiêm Hoá. Khí hậu Việt Bắc khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá, mùa hè nắng nóng mưa nhiều, khi mưa hàng trăm con suối và sông nước lũ cuồn cuộn, cản trở cho việc chuyển quân của cả hai bên. Dân cư Việt Bắc gồm nhiều dân tộc ít người, sống thưa thớt, canh tác tự cung tự cấp, nghèo, nhưng vốn có truyền thống yêu nước, được giác ngộ một lòng đi theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến.

Do Việt Bắc có địa thế hiểm trở, hạn chế được địch cả về cơ động và tầm quan sát, cả khả năng triển khai lực lượng lớn và phương tiện chiến đấu hiện đại khi tiến công tiến hành tác chiến lớn phải theo mùa... nên ngay từ tháng 8 năm 1945, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở lại Tân Trào một thời gian trực tiếp chỉ đạo củng cố khu căn cứ của Trung ương. Đến cuối tháng 10 năm 1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến), thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ Hà Nội trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Các huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn), Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên), được chọn làm An toàn khu (ATK). Bắt đầu từ tháng 11 năm 1946, để bảo toàn lực lượng, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính Phủ, Mặt trận, Bộ Tổng chỉ huy lần lượt rời Hà Nội lên Việt Bắc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63 nghìn đồng bào miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để quân và dân ta vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu.

Về phía địch, đầu năm 1947, sau khi “Giải pháp chính trị” lập chính phủ bù nhìn bế tắc, thực dân Pháp đã quyết định dùng “đòn quân sự” để giải quyết chiến tranh Việt Nam và Đông Dương.

Nhận rõ vị trí chiến lược của Việt Bắc, tướng Va-luy (Valluy) - Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương đã giao cho tướng Xa-lăng (Salan) - Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương ráo riết chuẩn bị “Kế hoạch tiến công Việt Bắc”. Tháng 6 năm 1947, Va-luy bay về Pháp để thông qua “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” trước nội các Ra-ma-đi-ê (Ramadier) và xin tăng viện (đầu tháng 7, Chính phủ Pháp đã thông qua kế hoạch này). Ngay sau đó, 14 tiểu đoàn Âu-Phi trong lực lượng tăng viện đã đổ bộ lên miền Bắc Việt Nam. Một số đơn vị quân Pháp ở Nam Bộ cũng được điều gấp ra Bắc Bộ.

Lực lượng tham gia tiến công trên 10 nghìn quân, gồm: năm trung đoàn bộ binh1, ba tiểu đoàn dù, hai tiểu đoàn pháo binh, hai tiểu đoàn công binh, ba đại đội cơ giới2, hai phi đội với 40 máy bay, ba thuỷ đội xung kích với 40 tàu, xuồng.

Kế hoạch tiến công, địch dự kiến chia thành hai bước:

Bước 1: Mang mật danh Lê-a (Léa)3. Mục tiêu đánh chiếm là khu tam giác Bắc Cạn - Chợ Đồn - Chợ Mới. Cụ thể, ngày 7 tháng 10 năm 1947 quân dù sẽ đồng loạt đổ bộ đánh đòn vu hồi, tập hậu hiểm hóc vào hậu phương của ta một cách bất ngờ, sẽ chiếm Bắc Cạn, Chợ Mới. Ngày 8, nhảy dù tiếp, chiếm Chợ Đồn và càn quét vùng xung quanh. Ngày 9, hai cánh quân dù này gặp nhau ở bản Pei (cách thị xã Bắc Cạn 20 km về phía bắc) hòng “bắt gọn chính phủ kháng chiến”.

Cùng lúc này hình thành hai mũi như hai gọng kìm bao vây toàn bộ khu căn cứ địa Việt Bắc bao gồm năm tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Hai mũi sẽ tiến công từ hai hướng:

Hướng đông (dài 420km), lực lượng “binh đoàn B” gồm cơ giới và bộ binh sẽ thọc một mũi nhọn theo quốc lộ số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng; vừa hành quân càn quét vừa triển khai chiếm đóng cứ điểm dọc trục lộ, thực hiện phong toả vùng biên giới này. Sau đó, từ Cao Bằng, một bộ phận sẽ tiến xuống Bắc Cạn phối hợp và hỗ trợ binh đoàn dù, hình thành gọng kìm thứ nhất kẹp chặt toàn bộ mặt phía đông của Việt Bắc.

Hướng tây, lực lượng “binh đoàn C” gồm quân thuỷ và bộ từ Hà Nội lên Việt Trì, phát triển lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá theo sông Hồng, sông Lô, sông Gâm và quốc lộ số 2, hình thành gọng kìm thứ hai (dài 250 km).

Bộ chỉ huy Pháp dự kiến: Ngày 11 tháng 10 hoàn thành việc phòng thủ Chợ Mới, sau đó sẽ tiến hành càn quét và tuần tiễu trên đường số 3 và đường Chợ Mới - phố Bình Gia. Ngày 12, cánh đông sẽ tiến xuống Bắc Cạn. Ngày 13 tháng 10, hai gọng kìm sẽ hội quân ở Đài Thị (đông bắc Chiêm Hoá 12 km).

Bước 2: Mang mật danh “Xanh-tuya” (Ceinture)4, tức “siết chặt vành đai”. Quân địch sẽ tập trung càn quét khu tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới, lấy vùng Chợ Chu làm mục tiêu trọng điểm. Ngày 14 tháng 10, dùng nhiều hướng, mũi: quân bộ từ Bắc Cạn xuống, từ Chợ Mới đánh sang, phối hợp với quân dù nhảy thẳng xuống Chợ Chu. Một đơn vị dù khác đổ bộ xuống phía nam huyện lỵ Định Hoá nhằm khóa, chặn đường giao thông huyết mạch của kháng chiến Chợ Chu - Thái Nguyên, đây là vùng thủ đô kháng chiến của ta.

Như vậy, không gian của cuộc hành quân trải rộng trên địa bàn tám tỉnh, nhưng chúng sẽ tập trung quân càn quét vào khu tứ giác: Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Cạn - Thái Nguyên (khoảng 360 km2), trọng điểm đánh phá, càn quét là tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới5. Cùng với lực lượng tham chiến chính thức kể trên, các tiểu đoàn dù do Phô-xây Phơ-răng-xoa (Fossey François) chỉ huy, tập kết ở sân bay Gia Lâm và Cát Bi, sẵn sàng đổ bộ xuống nơi phát hiện có cơ quan đầu não kháng chiến.

Pháp chủ trương tập trung sức mạnh tối đa, tiến công chớp nhoáng với chiến thuật hợp đồng thuỷ - lục - không quân càn quét mạnh từng khu vực, lấn chiếm dần để dồn kẹp ta lại mà bao vây tiêu diệt, nhằm “4 mục tiêu chiến lược” của cuộc tiến công là: “Diệt và bắt cơ quan đầu não của Việt Minh, tìm diệt chủ lực, phá tan căn cứ địa Việt Bắc, bịt kín, khóa chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc và loại trừ mọi chi viện từ bên ngoài vào. Truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ...6.

Bộ chỉ huy Pháp dự kiến cho cuộc hành quân là ba tháng và xem đây là một kế hoạch hoàn hảo, có khả năng đi đến kết thúc chiến tranh. Tướng Va-luy khẳng định sẽ “chơi ván bài cuối cùng”. Tướng Xa-lăng, tác giả của “kế hoạch tiến công Việt Bắc” thì cam đoan “Chỉ cần ba tuần lễ để đập tan đầu não của Việt Minh”7.
____________________________________
1.Gồm: Trung đoàn Ma-rốc số 6 (6eRTM), trung đoàn bộ binh thuộc địa Ma-rốc (RICM), trung đoàn bộ binh thuộc địa số 4 (4e - RIC), trung đoàn bộ binh Lê dương số 3 (3e REI) và một trung đoàn do Cô-xtơ (Coste) chỉ huy.
2.Ba đại đội này của trung đoàn bộ binh cơ giới Ma-rốc gồm 800 xe các loại.
3.Léa (Lê-a) - Tên một ngọn đồi cao 1.362 mét, trên trục đường số 3 nằm giữa Nguyên Bình và Bắc Cạn.
4.“Kế hoạch tiến công Việt Bắc” do Xa-lăng soạn thảo gồm hai cuộc hành binh lớn mang mật danh Lê-a và Clo-clo. Nhưng khi tiến hành cuộc hành binh thứ nhất (bước 1) đã không thực hiện được đúng như kế hoạch, mà vừa chậm vừa bị nhiều tổn thất nên đến “bước 2”, Xa-lăng đã lờ đi, không đả động gì đến mật danh Clo-clo nữa mà phải thay bằng Xanh-tuya - Tức “siết chặt vành đai”, dồn sức vào đánh phá khu tứ giác: Tuyên Quang - Thái Nguyên – Phủ Lạng Thương-Việt Trì.
5.Chợ Chu, Chợ Mới thuộc huyện Định Hoá - Khi quân Pháp nhảy dù xuống đây, cơ quan Trung ương của ta ở cách đó 20 km đường chim bay.
6.“Hồi ký Xa-lăng”. Nxb Presses de la Cité Pari, 1971 - T. 2, tr. 58 và 74.
7.“Hồi ký Xa-lăng” - Sđd.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #1 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 02:34:54 PM »


Về phía ta, trước khi Pháp mở cuộc tiến công, lực lượng quân đội ta trên toàn quốc có 105.990 người (Bắc Bộ có 45.802 người)1; biên chế thành 20 trung đoàn, có hai trung đoàn 147 và 165 của Bộ và nhiều tiểu đoàn độc lập của khu và của Bộ. Trang bị thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Một tiểu đoàn thường có hai đại liên, một đến hai cối 60mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một số tiểu đoàn của Bộ có pháo 20mm, trọng liên 13,2 mm, 12,7 mm và cối 81mm. Bộ đội và cán bộ chỉ huy các cấp chưa được huấn luyện thành thục về kỹ thuật, chiến thuật. Trình độ và khả năng chiến đấu giữa các đơn vị không đồng đều. Trừ Trung đoàn Thủ đô và Trung đoàn Lạng Sơn đã được thử thách qua chiến đấu, phần lớn các đơn vị còn lại chưa hề qua chiến đấu, trình độ kỹ thuật chiến thuật của bộ đội, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, tình hình trang bị của ta chưa cho phép tiến hành những trận đánh lớn để ngăn chặn địch. Các binh chủng pháo binh, công binh chưa được tổ chức thành đơn vị. Phương tiện thông tin liên lạc và vận tải thiếu nhiều, chủ yếu là liên lạc chạy bộ. Cung cấp, tiếp tế hậu cần có nhiều khó khăn chủ yếu dựa vào chính quyền và nhân dân địa phương. Bộ đội nhiều người bị sốt rét đã ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Thời kỳ này ta yếu hơn địch về mọi mặt nhưng tinh thần chiến đấu, chịu đựng gian khổ hy sinh, dũng cảm của bộ đội ta thì được phát huy mạnh mẽ.

Riêng trên địa bàn chiến dịch, lực lượng ta có bảy trung đoàn bộ binh, tổng cộng 18 tiểu đoàn chủ lực (trong đó có hai tiểu đoàn của Bộ), 30 đại đội độc lập, 4.228 dân quân du kích tập trung2; ngoài ra còn có lực lượng tự vệ của các thị xã, thị trấn, công xưởng trên toàn Quân khu Việt Bắc. Pháo binh có bốn khẩu (ba khẩu 75mm, một khẩu 70mm). Phòng không có hai pháo 20mm, hai khẩu 13,2 mm và sáu khẩu 12,7 mm.

Lực lượng dân quân du kích ở địa phương Việt Bắc đã được tổ chức, củng cố khá mạnh, tính đến 12 năm 1947, riêng bốn tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên đã có tới 3.319 du kích tập trung. Đến cuối 9 năm 1947, cấp tỉnh có một đến hai trung đội hoặc một đại đội; huyện có một đến hai trung đội du kích tập trung; tinh thần vững, hăng hái chiến đấu nhưng huấn luyện còn ít, kinh nghiệm còn non.

Chiến dịch do Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ huy, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng. Sở chỉ huy cơ bản ở Yên Thông; đến chiều 20 tháng 10 năm 1947, chuyển sang Tràng Xá (Thái Nguyên). Giai đoạn 2 chuyển về vùng Lục Rã, Quảng Nạp (cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1947)3.

Tổ chức thông tin liên lạc: Bộ, Khu và trung đoàn dùng vô tuyến điện (VTĐ). Từ tiểu đoàn trở xuống liên lạc bằng thông tin vận động chạy chân và thông tin tín hiệu. Ta đã lợi dụng đường dây hữu tuyến điện (HTĐ) của bưu điện một số huyện (Chợ Đồn, Chợ Mới... ). Ngoài ra, một số đơn vị đã huấn luyện được chim bồ câu đưa thư chẳng hạn, tiểu đoàn 160 chủ lực của Bộ đang huấn luyện ở thao trường, bồ câu đưa thư đến báo tin địch nhảy dù ở Bắc Cạn và đã nhận được lệnh của Bộ, thực hành ngay nhiệm vụ cơ động đánh quân đổ bộ. Mặt khác ta đã tổ chức ra các mặt trận, trực tiếp chỉ huy chiến đấu, việc này đã khắc phục được một phần khó khăn về thông tin liên lạc.

Về cung cấp tiếp tế, ta chưa tổ chức hậu phương cho chiến dịch. Công tác tiếp tế cho bộ đội chủ yếu dựa vào chính quyền, đoàn thể địa phương và sự giúp đỡ của nhân dân, bộ đội chỉ tự túc được một phần. Lúc này, Trung ương tổ chức cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, quyên góp chăn và áo trấn thủ cho chiến sỹ. Khẩu hiệu: “Làng to một chăn, làng nhỏ hai áo trấn thủ” được cả nước hưởng ứng sôi nổi, bởi vậy trước và trong chiến dịch khâu chuẩn bị chăn và áo ấm cho bộ đội đã được giải quyết cơ bản.

Công tác phá hoại trước chiến dịch cũng được triền khai rộng khắp. Nhưng do tư tưởng chủ quan nên nhiều nơi việc phá cầu, phá đường không làm triệt để (chỉ đào lỗ trên đường mà không ngả cây, rào đường), nên quân địch chỉ san lấp hai bên đường là có thể vận tải súng đạn bằng lừa, ngựa.

Công tác chính trị, ở chiến dịch đầu tiên này, ta chưa tổ chức cơ quan chính trị của chiến dịch. Chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công của địch còn nhiều chủ quan, thiếu sót. Nhưng khi địch đã tiến công, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch có lời kêu gọi thì công tác chính trị trên toàn chiến trường Việt Bắc đã nhanh chóng triển khai rộng khắp, tích cực và thiết thực. Qua đó, bóc trần âm mưu, thủ đoạn chính trị thâm độc của địch khi tiến công Việt Bắc, đồng thời cũng đánh giá đúng đắn và khẳng định rõ quân địch không mạnh, ta có thể đánh lại và đánh bại chúng. Qua đó động viên được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đoàn kết thực hiện lời kêu gọi của Đảng, tập trung sức mạnh phá tan cuộc tiến công của địch; đồng thời đả phá thái độ hoảng hốt, sợ địch, dao động chạy dài, chống khuynh hướng tư tưởng đầu hàng, thoả hiệp, chống tư tưởng chủ quan, coi thường địch. Song riêng công tác địch vận thì chưa làm được việc gì đáng kể.

Để đảm bảo cho chiến dịch đầu tiên thắng lợi, ngày 12 tháng 10 năm 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 đã định rõ phương châm chiến lược và chiến thuật đối phó với địch. Ngày 4 tháng 10, Bộ Tổng chỉ huy ra “Mệnh lệnh tác chiến”, trong đó nhận định tình hình mọi mặt địch, ta, thời tiết, địa hình... để ra nhiệm vụ chung cho toàn quân, toàn quốc và “kế hoạch tác chiến”, với dự kiến hai trường hợp: Nếu địch càn quét vùng đồng bằng và nếu địch đánh lên Việt Bắc. Bản kế hoạch đã phân công cụ thể nhiệm vụ, địa bàn tác chiến cho các đơn vị trên chiến trường Việt Bắc và các chiến trường phối hợp4.

Hạ tuần tháng 9, trên hướng nghi binh: Đại tá Léc-mit (Lermitte) chỉ huy quân nguỵ người Thái đánh vào Nghĩa Lộ (Yên Bái), Cam Đường (Lào Cai), giải toả Than Uyên. Đầu tháng 10, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn Ma-rốc số 6 (3/6e trung RTM) tiến lên Sơn Tây, Trung Hà, Hưng Hoá.

Sáng sớm ngày 7 tháng 10, cuộc tiến công của quân Pháp lên Việt Bắc mở màn. 8 giờ 15 phút quân dù do đại tá Sô-va-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy nhảy xuống thị xã Bắc Cạn (hai đợt, khoảng 800 dù); 14 giờ 30 phút, toán thứ hai (khoảng 200 quân Pháp) nhảy xuống chiếm thị trấn Chợ Mới. Cùng ngày, binh đoàn bộ binh thuộc địa do đại tá Bô-phrê (Beaufré) chỉ huy, xuất phát từ Lạng Sơn, theo trục đường 4 tiến lên Cao Bằng hòng bao vây phía đông Việt Bắc. Ngày 8, quân Pháp nhảy dù chiếm Chợ Đồn. Trên hướng thị xã Bắc Cạn, khi quân dù đổ bộ, tiểu đoàn 49 trung đoàn 72 chưa kịp chuẩn bị nên chỉ giao chiến qua loa rồi rút. Vì lực lượng ta bố trí quá mỏng, bộ đội ở sâu trong hậu cứ nên tư tưởng chủ quan, kho tàng, xưởng máy chưa kịp sơ tán, công việc tiêu thổ kháng chiến chưa làm được nhiều, nên ngày tiến công đầu tiên, quân địch, nhất là quân nhảy dù đã tạo được yếu tố bất ngờ. Chúng đã phá được một số cơ quan, kho tàng, công xưởng và bắt được một số cán bộ, bộ đội và đồng bào ta5
______________________________________
1.Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư ngày 12 tháng 10 năm 1947 tổ chức tập trung lại thành bảy khu nằm trong ba liên khu: Liên khu 1 gồm Khu 1 và 12; Liên khu 10 gồm Khu 10 và 14; Liên khu 3 gồm Khu 2, Khu 3 và Khu 11. Trong 20 trung đoàn, trừ hai trung đoàn chủ lực của Bộ, còn lại đều là trung đoàn địa phương các khu. Thời kỳ này trung đoàn là đơn vị tổ chức cao nhất. Bộ đang chuẩn bị thành lập “Đại đoàn chủ lực”, xảy ra việc địch tiến công Việt Bắc nên việc thành lập này hoãn lại.
2.a- Hồ sơ M-VL/10-721 BTTM, Cục Nghiên cứu khoa học quân sự (bản đánh máy tháng 4 năng 1962) ghi: “Có 10 trung đoàn gồm: Chủ lực của Bộ có hai trung đoàn 147 và 165 (thiếu 1d) và hai tiểu đoàn; Khu 1 có ba trung đoàn: 72, 74, 121 và hai tiểu đoàn: 19 và 43; Khu 12 có bốn trung đoàn: 11, 36, 59, 98 và tiểu đoàn 517; Khu 10 có một trung đoàn”. Nhưng trước khi chiến dịch Việt Bắc nổ ra, thực hiện chủ trương “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung theo quyết định của Bộ, ba trung đoàn (36, 59 và 98) đã phân tán lực lượng thành các “Đại đội độc lập” xuống hoạt động và gây dựng phong trào du kích chiến tranh ở các vùng dân cư. Do đó thực chất tham gia Chiến dịch Việt Bắc chỉ có bảy trung đoàn.

b- Dân quân du kích của năm tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Giang) mỗi tỉnh có hai trung đội, mỗi huyện có một trung đội dân quân du kích tập trung.

c- Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp: Bộ Tổng Tham mưu - Ban Tổng kết lịch sử xuất bản 1991. Tr. 209. Lúc này sở chỉ huy chia thành hai khu. Khu A, nơi đặt chỉ huy chiến dịch ở Tràng Xá, khu B ở Núi Hồng (Thái Nguyên). Sở chỉ huy tiền phương đặt ở Bình Gia (Sđd – tr. 211).
3.Sau ngày 13 tháng 10, khi ta có trong tay bản “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” của địch, ta tổ chức, điều chỉnh lại lực lượng, hình thành các mặt trận (nói ở phần sau), thì trên mỗi mặt trận lại có “Sở chỉ huy tiền phương” của mặt trận đó.
4.Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh” Bộ Tổng Tham mưu xb - Tập 1, tr. 13-15.
5.Hồ sơ M.VL.10.721 BTTM (đã dẫn) ghi rõ (trang 15/H): “Tuy Trung ương và Bộ Tổng chỉ huy có chỉ thị chuẩn bị đối phó cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp ngay từ mùa Hè. Nhưng do sự phán đoán sai lệch hướng tiến công (lúc đầu ta phán đoán địch sẽ tiến công vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, nếu chúng phiêu lưu lắm thì mới dám đánh lên Việt Bắc) do đó sự chỉ đạo về các mặt không chặt chẽ, sự chuẩn bị cụ thể về tinh thần và vật chất sơ sài. Về phần bộ đội cũng nằm trong tình trạng chung ấy và lại đang ở thời kỳ chấn chỉnh về biên chế tổ chức; mới có một kế hoạch huấn luyện và bắt đầu học tập được vài ngày thì địch tiến công lên. Vì vậy trong những ngày đầu, khi địch nhảy dù tiến công lên Việt Bắc, nói chung quân dân ta có hoang mang, có chỗ chạy tán loạn như Bắc Cạn, Lào Cai. Các cơ quan, cơ xưởng, kho tàng chưa kịp phân tán nên bị địch cướp phá; một máy in của Tài chính ở Bản Thi, nhà máy Hoàng Văn Thụ ở Chợ Chu bị địch phá huỷ...”. Báo cáo tổng kết của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thải, của Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp và của Tổng Bí thư Trường Chinh cũng có nội dung tương tự.

Cuộc nhảy dù táo bạo này quả có gây cho ta sự bất ngờ. Nhưng Va-luy đã lầm lẫn lớn khi cho rằng thị xã nhỏ bé Bắc Cạn trở thành “Thủ đô mới” của Việt Minh. Va-luy không hề biết rằng, trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, không khi nào có cơ quan Trung ương của ta ở tại một thị xã, thị trấn. Mà tất cả đã chia thành những bộ phận nhỏ, thường xuyên di chuyển, hòa vào với nhân dân, được sự che chở của nhân dân, khiến địch rất khó phát hiện. Phân tán và cơ động nhưng các cơ quan trung ương vẫn duy trì mọi hoạt động lãnh đạo và điều hành cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước.

Khi quân Pháp nhảy dù tập hậu, lực lượng quân đội ở thị xã Bắc Cạn chỉ có một bộ phận của tiểu đoàn 49, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn lúc này cũng chỉ có một tiểu đoàn tân binh. Hai lực lượng (rất mỏng) này chủ yếu nổ súng để bảo vệ cho nhân dân và một số cơ quan đóng ở đây tản cư rút vào rừng núi an toàn. Tuy địch có phá được một số xưởng máy của ta (của xưởng in tiền và công binh xưởng), một số kho tàng và thu được 10 triệu bạc Việt Nam của Ty Ngân khố, nhưng còn quá xa so với mục tiêu “phá huỷ tiềm năng chiến tranh của Việt Minh” mà chúng đề ra. Trong “Hồi ký Xa-lăng” có đoạn nói rõ: Xa-lăng coi cuộc hành binh Lê-a ngày 7-10-1947 là một đòn quyết định “đánh thẳng vào tim kẻ thù”. Ông ta ngồi trên máy bay trực tỉếp thị sát cuộc nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn. Lúc 11 giờ 35 phút, Xô-va-nhắc từ mặt đất báo cáo qua vô tuyến điện: “Ông Hồ Chí Minh bị bắt đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh”. Xa-lăng vội vã bay về Hà Nội báo tin mừng với Sài Gòn. Cao uỷ Bô-la (Bollaert) và quyền tổng chỉ huy Bát-tê (Battet) hấp tấp bay ra Hà Nội. Lúc đó Xa-lăng đã biết mình lầm, đành phải thú nhận: “Tôi - chúng ta đã bị đánh lừa”. Hai vị cấp trên đã bỏ cơm chiều quay về Sài Gòn sau khi đã tặng cho Xa-lăng những lời lẽ nặng nề... Thực chất hôm ấy, bọn lính dù bắt được một cụ già chững chạc, nói tiếng Pháp, cụ yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lúc biết không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã bắn chết khi ông già tìm cách chạy thoát. Đó là cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một nhân sĩ yêu nước tâm huyết và uy tín.

Những ngày đầu chiến dịch, Bác Hồ và Trung ương ở Điềm Mạc, sau ngày 15 tháng 10 dời vào Khuổi Tát, đến 22 tháng 10 dời vào Bản Cóc huyện Định Hoá. Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, Bác và cơ quan Trung ương đều chủ động, linh hoạt di chuyển vị trí bí mật, an toàn, sống và làm việc trong các bản làng đồng bào dân tộc của Chiến khu Việt Bắc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 02:46:03 PM »


Đêm 7 tháng 10, Bộ Tổng chỉ huy và Bộ chỉ huy Khu 1 nhanh chóng điều thêm lực lượng về Bắc Cạn, cụ thể tiểu đoàn 160 (Bộ), tiểu đoàn 72 (Khu 1) lên vùng Chợ Mới; trung đoàn 72 rút lên hoạt động từ Bắc Cạn tới Cao Bằng; lệnh cho các lực lượng của Bộ ở trung du chuyển lên hướng bắc; lệnh cho trường Võ bị Trần Quốc Tuấn bế giảng khoá huấn luyện và đưa ngay cán bộ về các đơn vị kịp thời tham gia chiến đấu. Các đơn vị bám sát mọi động tĩnh của địch để điều chỉnh kế hoạch tác chiến, giành lại thế chủ động. Trước mắt Bộ đôn đốc đánh địch trên đường số 4, số 3, sẵn sàng trên hướng đường số 2 và sông Lô.

Từ ngày 8 tháng 10, các đại đội độc lập cùng quân dân du kích liên tiếp tập kích, quấy rối các vị trí: Chợ Đồn, Ngân Sơn, Chợ Rã, diệt hai trung đội địch. Đại đội bảo vệ 15 (đơn vị tiền thân của Bộ tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Nội vụ và Lữ đoàn cận vệ 144 - Bộ Quốc phòng sau này) bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan trung ương khẩn trương sơ tán đến nơi an toàn.

Trên hướng đông, do bị ta đào hào băm nát lộ 4 nên binh đoàn Bô-phrê phải xé lực lượng thành năm đơn vị hỗn hợp, tiến quân theo kiểu sâu đo. Vừa đi vừa sửa đường vừa đề phòng ta chặn đánh. Cơ giới không phát huy được, Bô-phrê quyết định hành quân bộ và dùng lừa, ngựa vận chuyển hậu cần, tốc độ rất chậm so với kế hoạch; đến 10 tháng 10, cánh quân này mới tới Thất Khê. Ngày 9 tháng 10 Xa-lăng buộc phải ném 300 quân dù thuộc 1e BCP xuống một vị trí xung yếu phía đông nam thị xã Cao Bằng để yểm trợ và đón binh đoàn Bô-phrê. Quân dù chiếm thị xã, củng cố rồi càn quét ra xung quanh; nhưng bị bộ đội và dân quân chặn đánh, quấy rối. Mũi tiến công vào Nước Hai và Quảng Yên của chúng bị chặn đứng. Ngày 9 tháng 10, khẩu đội 12,7 mm của đại đội 675 trung đoàn 74 bố trí ở đồi Thiên Văn, thị xã Cao Bằng bắn rơi chiếc máy bay vận tải Junker 52 Toucan (Ju52) chở sĩ quan tham mưu chiến dịch đi thị sát chiến trường, 12 sĩ quan tham mưu, trong đó có Lăm-be (Lambert), đại tá, phó tham mưu trưởng quân Pháp ở Đông Dương thiệt mạng. Ta thu được bản kế hoạch tiến công Việt Bắc của chúng.

Chiến sĩ liên lạc Nguyễn Danh Lộc của trung đoàn chạy bộ, vượt rừng, mang “bản kế hoạch tiến công Việt Bắc” của địch về cho Bộ Tổng chỉ huy (lúc này đang đóng ở Tràng Xá và ở núi Hồng - Thái Nguyên)1.

Trong tuần đầu, bộ đội thiên về đánh tập trung, vận động từ xa tới, chuẩn bị vội vã, đánh địch hiệu quả thấp. Pháo binh mấy lần bỏ lỡ cơ hội diệt tàu địch trên sông Lô.

Ngày 10 tháng 10, Bộ Tổng chỉ huy điện gấp cho Khu 10 tích cực đánh địch trên sông. Đồng thời điều tiểu đoàn 18, chủ lực Bộ do đồng chí Vũ Phương chỉ huy trưởng, đồng chí Hồng Cư chính trị viên cơ động gấp về Bình Ca, kiên quyết bao vệ cửa ngõ phía Tây của Việt Bắc.

Ngày 13 tháng 10, Bộ Tổng chỉ huy có trong tay toàn bộ “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” của địch, ta khẩn trương điều chỉnh, tổ chức lại lực lượng. Các mặt trận lần lượt được hình thành do chỉ huy cấp chiến lược trực tiếp chỉ đạo. Lực lượng gồm các tiểu đoàn chủ lực của Bộ và khu. Cụ thể: Mặt trận Sông Lô - Đường số 2 do các đồng chí Trần Tử Bình và Tạ Xuân Thu2 chỉ đạo. Nhiệm vụ đánh quân thủy, bộ vận động, ngăn chặn tăng viện tiếp tế, tiến tới bẻ gãy gọng kìm phía tây. Mặt trận Bắc Cạn - Đường số 3 do đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách. Nhiệm vụ tiêu diệt địch cơ động trên đường Bắc Cạn - Cao Bằng và nống ra xung quanh thị xã Bắc Cạn; bảo vệ cơ quan Trung ương. Mặt trận đường số 4 do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp theo dõi, chỉ đạo. Nhiệm vụ đánh địch cơ động trên đường Lạng Sơn - Cao Bằng, hạn chế sức mạnh cơ giới của địch, từng bước vô hiệu hoá gọng kìm phía đông của chúng. Bộ Tổng chỉ huy chỉ thị: hình thức tác chiến chủ yếu trên ba mặt trận là đánh phục kích với quy mô cấp đại đội bố trí độc lập, nhằm tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ quân địch đang cơ động là chủ yếu. Các tiểu đoàn tập trung phải luôn đứng chân ở địa bàn, sẵn sàng cơ động đánh địch khi chúng xuất hiện.

Trên trục lộ 4, trung đoàn 74 Cao Bằng và trung đoàn 11 Lạng Sơn cùng dân quân du kích liên tiếp phục kích, đã tiêu hao và làm giảm bước tiến của địch.

Ngày 11 tháng 10 (sau năm ngày), chúng mới tới được Cao Bằng. Tới nơi Bô-phrê phải phái ngay trung đoàn bộ binh thuộc địa Ma-rốc (RICM) theo trục lộ 3 xuống cứu nguy cho quân Sô-va-nhắc đang bị cô lập ở Bắc Cạn, Chợ Đồn, Chợ Mới. Dọc đường, trung đoàn bộ binh thuộc địa Ma-rốc liên tiếp bị ta phục kích ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Phủ Thông. Quân đi cứu nguy lại bị lâm nguy, Sô-va-nhắc phải phái quân lên đón trung đoàn này, hai cánh quân dìu nhau về Bắc Cạn. Ngày 16 tháng 10, chúng chiếm Phủ Thông và tiến về “hợp điểm”. Quân ta đánh nhiều trận ở Bắc Cạn, Chợ Rã và hồ Ba Bể. Ngày 20 tháng 10, toán quân này mới đến được Bản Thi, cách “điểm hẹn” với binh đoàn Com-muy-nan (Communal) 20 km, chậm bảy ngày so với kế hoạch.

Trên hướng tây, ngày 9 tháng 10 binh đoàn Com-muy-nan mới xuất phát được từ Hà Nội ngược sông Hồng, đến Sơn Tây một bộ phận bị mắc cạn phải nằm lại. Sáng 11, tàu địch qua Phan Dư, vì thông tin chậm, ta bỏ lỡ cơ hội diệt địch. Sáng 12, chúng vướng kè Sóc Đăng phải ném bom phá huỷ kè và dùng máy nhổ cọc, mở luồng. Tại Đoan Hùng và Bình Ca, pháo ta vừa phát hoả thì hỏng nòng, phải di chuyển để tránh địch cướp pháo. Ở Bình Ca, bộ đội tiểu đoàn 18 từ trên cao nhảy xuống dùng lê, mã tấu đánh giáp lá cà, địch chết nhiều, số còn lại vội rút xuống tàu. Từ đó địch tiến công dè dặt hơn. Pháo binh tổ chức lại hệ thống thông tin báo động, bố trí lại trận địa hiểm hóc, thực hiện “đặt gần bắn thẳng”.

Ngày 13 tháng 10, quân Pháp ném bom, bắn pháo và tiến vào Tuyên Quang, đội hình dài hơn 100km. Ngày 17 chúng chia thành hai mũi theo đường số 2, đường hàng tỉnh và sông Gâm tiến sang Chiêm Hoá. Đến đâu chúng cũng chỉ thấy “vườn không nhà trống”. Quân ta phục kích và bắn trả.

Chiều ngày 14 tháng 10, Thường vụ Trung ương Đảng họp thông qua chỉ thị “Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”. Hội nghị nhận định: Cuộc tiến công lần này của Pháp chứng tỏ địch không mạnh, mà vì yếu nên mạo hiểm. Địch sẽ gặp nhiều khó khăn to lớn, nếu ta biết lợi dụng khai thác những chỗ yếu của địch thì nhất định cuộc tiến công của chúng sẽ thất bại. Thường vụ nhất trí thực hiện ngay công thức “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, nhất trí tổ chức ba mặt trận như báo cáo của Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Kết thúc cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tình hình cực kỳ rối ren về chính trị ở Pháp và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa đã dẫn Pháp đến chỗ muốn sớm kết thúc chiến tranh Đông Dương. Chúng chỉ tiến công ồ ạt lúc đầu. Nếu ta thực hiện được đánh địch khắp nơi, buộc chúng dàn mỏng lực lượng đối phó, chúng sẽ thất bại. Ta giữ gìn được chủ lực qua mùa đông này là coi như thắng lợi. Nếu chuyến này không thắng nhanh để kết thúc chiến tranh thì cục diện sẽ đổi mới có lợi cho ta”

Ngày hôm sau, 15 tháng 10, sau khi Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị đánh bại cuộc tiến công mùa đông của địch, Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh (ĐB/101) cho các khu: Phát động chiến tranh du kích trên toàn vùng, lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương, làm nòng cốt cùng các lực lượng địa phương tiêu diệt từng bộ phận quân địch và thực hiện phá hoang trên địa bàn. Các đại đội này vừa trực tiếp giúp đỡ dân quân du kích, vừa phối hợp với lực lượng cơ động (là các tiểu đoàn chủ lực tập trung của Bộ và của khu) đánh những trận vừa và lớn. Những nơi địch sẽ đi qua thực hiện tiêu thổ kháng chiến (làm vườn không nhà trống) để triệt nguồn hậu cần tại chỗ của địch, phá giao thông để ngăn chặn bước tiến của địch.

Cũng trong ngày 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quân và dân Việt Bắc ra sức đánh bại cuộc hành binh của địch, quân dân cả nước tích cực đánh địch để phối hợp với Việt Bắc. Người chỉ rõ: “Địch hội quân ở Bắc Cạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi cụp ô xuống, dưới đánh lên, trên đánh xuống, phá cho được cơ quan đầu não của kháng chiến... Chúng mạnh ở hai gọng kìm, gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách và cuộc tiến công thất bại”.

Ngày 15 tháng 10, hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ có một khẩu đội pháo phối hợp, tiến công vào 200 quân địch đóng tại Chợ Mới. Ngày 21, một tiểu đoàn của Trung đoàn Thủ đô tiến công một đại đội địch đóng trong Chợ Đồng. Cả hai nơi tuy ta chỉ thực hiện tiêu hao, không tiêu diệt được địch, nhưng cùng với 17 trận phục kích nhỏ trên đường Phủ Thông - Bắc Cạn, Chợ Mới - Bắc Cạn, đã làm cho quân địch nhụt chí, không dám sục sạo rộng ra ngoài vị trí đóng quân. Máy bay địch thả dù tiếp tế xuống thị xã Bắc Cạn.

Ở phía tây, tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn Hà Tuyên do đồng chí Lê Thùy chỉ huy liên tục bám sát và tập kích cánh quân của Com-muy-nan, khiến chúng phải tiến quân dè dặt, ngày 20 mới tới được Đầm Hồng và phải dừng lại chờ thêm lực lượng. Cánh quân trên đường số 2 mới tới được Chiêm Hoá. Ngày 22, tự vệ thị xã Tuyên Quang dùng địa lôi đánh phục kích ở ki-lô-mét số 7 trên quốc lộ 2, diệt và làm bị thương gần 100 tên địch. Một tiểu đoàn quân Pháp đang tiến lên Chiếm Hoá buộc phải quay lại. Cuộc hành binh bị chậm nhiều so với kế hoạch. Cánh quân Com-muy-nan chậm bảy ngày mà không tới được đúng “điểm hẹn”. Như vậy, cả hai gọng kìm của đợt tiến công “Lê-a” đều bị bẻ gãy. Gọng kìm quy mô binh đoàn không khép được vào ngày 13, mà hợp điểm quy mô tiểu đoàn cũng không thực hiện được vào trung tuần tháng 10 như kế hoạch của chúng.

Nhận rõ chỗ yếu chí mạng của địch là vấn đề bảo đảm hậu cần, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương “Đánh mạnh ở Mặt trận Sông Lô và đường 4, phá giao thông vận tải tiếp tế của địch, kết hợp chặt việc phát động nhân dân làm vườn không nhà trống, triệt nguồn tiếp tế tại chỗ của địch”. Cuối tháng 10, ta điều chỉnh lại đội hình chiến đấu, phân công rõ phạm vi, nhiệm vụ cho các đơn vị:

Trên mặt trận đường số 3: Trung đoàn 121, bố trí tiểu đoàn tập trung và bảy đại đội độc lập trên các địa bàn trọng điểm trên ba tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên và Phúc Yên3.

Trung đoàn 72: Một tiểu đoàn và năm đại đội độc lập bố trí trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn4.

Trung đoàn 165 (thiếu một tiểu đoàn): Bố trí ở Chợ Rã, Chợ Đồn, thị xã Bắc Cạn.

Trên Mặt trận đường 4: Trung đoàn 74, tiểu đoàn và các đại đội độc lập bố trí trên đoạn đường Cao Bằng - Đông Khê5.

Trung đoàn 11, bố trí đoạn Lạng Sơn - Đông Khê, đường số 1 đoạn Thất Khê - Đồng Mỏ6.

Trên mặt trận sông Lô: Trung đoàn của Khu 10 và một tiểu đoàn của Bộ đánh địch trên sông Lô từ Việt Trì đến Tuyên Quang; trung đoàn 147 và hai tiểu đoàn của Bộ bố trí phía nam đường liên tỉnh Tuyên Quang - Thái Nguyên.

Lực lượng dân quân du kích và tự vệ cũng được củng cố và tăng cường trang bị. Thông tin liên lạc tổ chức lại, chặt chẽ và hiệu qủa hơn.

Pháo binh thực hiện nghi binh, cơ động linh hoạt, bố trí sát bờ sông, đã đánh hai trận phục kích xuất sắc vào trưa 24 tháng 10: một đoàn tàu địch năm chiếc từ Tuyên Quang xuống đến Đoan Hùng lọt vào trận địa phục kích của “Trung đội pháo binh Xuân Canh” (Trung đội Pháo đài Xuân Canh - Hà Nội 12-1946) và “Trung đội Lục tỉnh”, ta bắn chìm tại chỗ hai chiếc, toàn bộ quân địch chết đuối; bắn hỏng nặng hai chiếc khác. Chiếc còn lại quay đầu về Tuyên Quang. Sau trận này, tuyến đường sông Lô của địch bị cắt 10 ngày, địch phải thả dù tiếp tế cho Tuyên Quang, và Chiêm Hoá. Báo chí Pháp gọi đây là “Thảm hoạ Đoan Hùng”.

Thực hiện Huấn lệnh 101, hai trung đoàn Lạng Sơn và Cao Bằng đã phân tán thành những tiểu đoàn tác chiến trên từng khu vực và đưa một số đại đội độc lập về các địa phương trọng yếu để phát động chiến tranh du kích. Ngay sau đó, ở Cao Bằng, công nhân xưởng quân giới Lê Tổ và dân quân các xã Hào Lịch, Hưng Đạo, Hùng Việt đánh lui một cuộc tiến công của Pháp, diệt gần 100 tên.
______________________________________
1.Trong cuốn Hồi ức “Chiến đấu trong vòng vây” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trang 176 ghi: “... Cơ quan chỉ huy chia thành hai bộ phận: Bộ phận nặng ở lại căn cứ, đi sâu vào núi, anh Văn Tiến Dũng phụ trách bộ phận này. Tôi phụ trách bộ phận nhẹ, chuyển ra ngoài khu vực bị uy hiếp... và sau đó tôi sẽ đi Mặt trận đường 4. Anh Thái đi Mặt trận đường số 3, anh Trần Tử Bình và anh Lê Thiết Hùng đi Mặt trận Sông Lô
2.Sđd, tr.176.
3.Bảy đại đội độc lập bố trí ở: Đông Anh, Đa Phúc, Kim Anh, Yên Lãng, Phú Bình, Võ Nhai, Chợ Chu, Đại Từ, Đồng Hỷ.
4.Năm đại đội độc lập bố trí ở: Chợ Đồn, Chợ Rã, Ngân Sơn, Na Rì, Phủ Thông.
5.Đại đội độc lập bố trí ở: Nguyên Bình, Sóc Giang, Hoà An, Quảng Yên, Phục Hoà và Đông Khê.
6.Sáu đại đội độc lập bố trí ở: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Điềm He, Lộc Bình, Đồng Mỏ.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 02:48:51 PM »


Ngày 27 tháng 10, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp có điện chỉ đạo:

- Mặt trận đường 4: Kiên quyết tổ chức một số trận phục kích đánh tiêu diệt.

- Mặt trận đường số 3: Bao vây, cắt tiếp tế, bức địch rút khỏi khu vực Chợ Đồn, Chợ Rã.

- Mặt trận Sông Lô: Đưa pháo lên đánh địch trên sông Gâm, bức Chiêm Hoá, Đầm Hồng.

Bốn ngày sau, ngày 29 tháng 10, tiểu đoàn 374 trung đoàn 11 tổ chức trận địa phục kích đoạn đường Bản Sao - đèo Bông Lau, chiều 30, đánh một trận xuất sắc tiêu diệt đoàn xe địch 30 chiếc trên đèo Bông Lau, phá huỷ 27 xe diệt 104 tên địch, bắt 101 tên, thu toàn bộ vũ khí, 600 chiếc dù và nhiều quân trang, quân dụng.

Tiểu đoàn 374 sau thời gian phân tán đi xây dựng cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn mới tập trung lại, với toàn bộ chiến sĩ là người dân tộc Tày, Nùng. Các chiến sĩ là người địa phương nên rất thông thuộc địa hình, thời tiết và quy luật vận chuyển của những đoàn xe địch. Trận địa phục kích đã được bố trí rất khéo. Trận đánh nổ ra lúc 5 giờ chiều, vào mùa đông, ở vùng cao thời gian này đã chập choạng tối. Đoàn xe 30 chiếc từ Đông Khê xuống, sau khi qua đỉnh đèo Bông Lau hiểm trở, yên trí đổ dốc về phía Thất Khê, nơi binh lính sẽ được nghỉ ngơi. Một trái bom 25 kg bất thần nổ ở lưng chừng đèo, lật nhào chiếc xe thứ hai. Chiếc đi đầu chạy thoát. Chiếc thứ ba bị trúng đạn Badôka bốc cháy. Đoàn xe bị đánh bất ngờ ùn tắc lại. Tiểu đội công binh tiếp tục giật địa lôi. Xe địch chiếc lao xuống vực, chiếc quay đầu lao vào vách núi. Đại liên, trung liên, Badôka của đơn vị nhằm vào đoàn xe. Sau 10 phút nổ súng, ba đại đội xung kích của tiểu đoàn từ ven rừng Khau Phía đồng loạt xung phong. Già nửa quân địch là linh Âu - Phi chống cự yếu ớt. Cả đoàn xe, có cả xe bọc thép hộ tống, với khoảng 250 binh lính bị diệt và bị bắt (một số ít lính ngụy bỏ chạy vào rừng sâu.). Bộ đội thu chiến lợi phẩm rồi đốt xe. Ta chỉ hy sinh một chiến sĩ, bị thương năm người.

Sau trận này, đường số 4 bị cắt đứt nhiều ngày. Địch phải dùng máy bay thả dù tiếp tế cho Bắc Cạn, Cao Bằng, đóng thêm một số đồn bốt nhỏ dọc đường và huy động bảy đại đội càn sâu vào phía tây nam Đông Khê, Thất Khê từ 10 đến 12 ki-lô-mét. Tiểu đoàn 374 lại có dịp phối hợp với một đại đội độc lập và dân quân du kích tổ chức chặn địch, sau đó nhổ vị trí Văn Mịch. Ngày 8 tháng 11, tiểu đoàn 374 trung đoàn 11 và dân quân du kích chặn đánh quân địch ở Áng Mò, diệt 80 tên. Đường số 4 trở thành “Con đường chết” đối với địch.

Kinh nghiệm đánh hai trận Sông Lô và Bông Lau nhanh chóng được phổ biến trên toàn chiến trường Việt Bắc. Thắng lợi Bông Lau mở đầu cho hàng loạt trận phục kích lớn sau này. Bộ Tổng chi huy quyết định tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Bông Lau” cho tiểu đoàn 374.

Quân Pháp đi đến đâu cũng bị đánh, tiếp tế khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, lính hao mòn, mỏi mệt. Tìm cơ quan đầu não ta thì không thấy, tìm diệt chủ lực ta thì không gặp, tổ chức chiếm đóng thì khó khăn, rút quân thì mục tiêu cơ bản chưa đạt. Địch rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Chúng buộc phải rút lui cục bộ: ngày 28 tháng 10 rời bỏ Bản Thi, Yên Thịnh; 13 tháng 11 rút Chợ Đồn; 16 tháng 11 Chợ Rã, Ngân Sơn. Kế hoạch “Lê-a” phá sản, quân Pháp chuyển sang giai đoạn hai trong tình thế bị động. Ta phát huy thắng lợi, quyết đánh chúng bật ra khỏi Việt Bắc.

Đến đây, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở về sở chỉ huy cơ bản của Bộ ở Tràng Xá, đồng chí Đào Văn Trường ở lại làm phái viên đốc chiến trên Mặt trận đường số 4.

Sang giai đoạn 2, cả hai bên đều bố trí lại lực lượng. Bộ chỉ huy Pháp buộc phải lui quân thu hẹp địa bàn, vừa phải dùng hai trung đoàn, bộ binh Ma-rốc số 5 (5e RTM) và trung đoàn do trung tá Cô-xtơ chỉ huy, cùng lực lượng còn lại trên Việt Bắc để tập trung càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương với tham vọng “Bắt cho kỳ được cơ quan đầu não của Việt Minh, phá nát căn cứ địa”.

Về phía ta, Bộ Tổng chỉ huy chỉ thị cho các mặt trận bố trí lại lực lượng và giao địa bàn, nhiệm vụ đánh địch cụ thể cho từng đơn vị.

Ngày 10 tháng 11, pháo binh Khu 10 phát huy cách đánh “Đặt gần bắn thẳng”, phối hợp chặt chẽ với bộ binh và dân quân du kích làm trận địa nghi binh, dùng nhiều quả bưởi sơn đen giả thuỷ lôi thả trên sông lừa địch, đánh một trận xuất sắc trên sông Gâm, đoạn từ Chiêm Hoá về Tuyên Quang, đánh đắm bốn trong số năm tàu địch, diệt 200 tên địch.

Ngày 15 tháng 11, binh đoàn do Cô-xtơ (Coste) chỉ huy, từ Phả Lại theo đường bộ và sông Thương lên đánh chiếm Phủ Lạng Thương. Ba ngày sau, chúng càn quét vùng Nhã Nam, Yên Thế và Việt Yên (Bắc Giang). Tiểu đoàn 517 Khu 12 đánh được vài trận nhưng hiệu quả thấp vì thông tin kém, vận động chậm. Địch kìm chế được quân ta để yểm trợ cho cánh quân của Bô-phrê thực hành rút về hướng Thái Nguyên.

Ngày 19, Công an và tự vệ thị xã Tuyên Quang đánh địa lôi, diệt gần 100 tên địch ở ki-lô-mét số 6 đường Tuyên Quang - Hà Giang.

Những trận đánh liên tiếp trên sông Lô, sông Gâm và đường số 2, khiến các cơ quan thông tấn của Pháp gọi “Tuyên Quang là một nghĩa địa khổng lồ”. Tên quan tư Lơ-giốt (Lejsue) phải báo cáo về: “Vì trận đại bại của thuỷ binh, nên binh lính rất chán nản. Sỹ quan ra sức giữ vững tinh thần, nhưng không nên đưa họ ra trận nữa vì tinh thần suy sụp rất mau... Những hạ sĩ quan và đội trưởng tốt nhất đều bị thương”.

Từ đầu tháng 11, quân Pháp buộc phải đóng thêm nhiều đồn bốt nhỏ bảo vệ các tuyến đường số 4 và số 3. Trước khi có đoàn xe qua, địch phải tung quân lùng sục hai bên đường, vẫn không tránh khỏi những trận phục kích bất ngờ của quân ta.

Ngày 20 tháng 11, đợt tiến công mới của địch mang tên Xanh-tuya bắt đầu.

Sau hai ngày nghi binh và chuẩn bị, 2 giờ sáng 22 tháng 11, cánh quân của Com-muy-nan bí mật rút khỏi thị xã Tuyên Quang. Ta không nắm được nên bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Cùng ngày, trung đoàn Ma-rốc số 5 từ Hoà Bình ra càn quét Hưng Hoá, vượt sông Hồng đánh chiếm Việt Trì làm bàn đạp đón đồng bọn. Rút đến Bình Ca, cánh quân của Com-muy-nan chiếm đường liên tỉnh Tuyên Quang - Thái Nguyên hỗ trợ cho quân Bô-phrê từ Bắc Cạn về. Bộ Tổng chỉ huy phán đoán cuộc rút lui của địch bắt đầu. Trong khi rút có thể quân Pháp sẽ kết hợp lùng sục đánh phá các cơ quan đầu não của ta. Do đó đã lệnh cho các đơn vị chuẩn bị đánh địch trên đường rút lui và bố trí bảo vệ các cơ quan Trung ương. Quân ta đánh nhiều trận ở Sơn Dương, Bình Ca, diệt hàng trăm tên. Sáng 2 tháng 12, địch rút khỏi Sơn Dương, chia thành hai toán, một toán rút xuống Thiện Kế (Vĩnh Yên), toán còn lại rút qua đèo Khế sang Văn Lãng bắt liên lạc với quân Bô-phrê. Tại đèo Khế, chúng đã bị nhử vào trận địa phục kích của ta. Tuy có máy bay và bộ binh hộ tống nhưng đoàn quân rút theo đường sông rất chậm. Tại La Hoàng, một tàu trúng thuỷ lôi bốc cháy, gần 100 tên thuộc cơ quan tham mưu Com-muy-nan tử trận. Tới Phan Lương lại bị phục kích, một chiếc LCT trọng thương, nhiều tên địch bị diệt.

Ngày 25 tháng 11, trên mặt trận đường số 3, quân Pháp từ Bắc Cạn xuống từ Chợ Mới theo quốc lộ 3 đến ki-lô-mét 31 lên Quán Vuông và từ Chợ Mới một mũi tiến vào Chợ Chu. Ta đoán sai hướng địch rút nên bỏ lỡ cơ hội diệt địch. Ngày 26 tháng 11, địch rút khỏi Chợ Chu. Một tiểu đoàn quân dù nhảy xuống Thái Nguyên, Cù Vân, La Hiên, Tràng Xá yểm trợ cho quân Bô-phrê truy lùng cơ quan Trung ương ta, nhưng ta đã chủ động di chuyển từ trước. Quân ta di chuyển xuống phía Nam, vừa đánh quân rút chạy, phục kích quân ứng cứu, vừa bao vây uy hiếp những điểm chúng chiếm đóng. Ngày 28, ta diệt hàng trăm tên ở Kam Tra. Ngày 29, tiểu đoàn 102 diệt một đại đội ứng viện ở Lục Rã. Ngày 1 tháng 12, hai đại đội của trung đoàn 174 vừa hành quân từ Chợ Chu xuống gặp địch, đã diệt hơn 100 tên ở Quán Ông Già Thái Nguyên. Quân Pháp phải luồn rừng chạy về Quảng Nạp (Định Hoá), Phú Minh, Phục Linh (Đại Từ) nhưng vẫn bị ta đánh thiệt hại nặng. Thế trận càng nghiêng về phía quân ta.

Nhiều chiến trường trên cả nước đã có những hoạt động chiến đấu phối hợp với chiến trường Việt Bắc. Ở Hà Nội, biệt động hoạt động mạnh trong nội thành, diệt trừ Trương Đình Tri, thủ hiến Bắc phần Việt Nam. Du kích quấy rối ở Chèm, Cầu Giấy, Văn Điển, Vĩnh Tuy. Đại đội độc lập phối hợp với du kích tập kích địch ở Đan Phượng, Hoài Đức và Cần Kiệm (Thạch Thất). Cuộc tổng phá tề ở ngoại thành Hà Nội đã bắt giữ gần 300 tên tề gian ác. Ở nam phần Bắc Ninh, toàn bộ tề bị phá. Quần chúng nổi dậy như thời kỳ Tổng khởi nghĩa.

Khu 14, bộ đội Tây tiến giải phóng Chiềng Sai. Công tác vận động quần chúng ở Sơn La đạt nhiều kết quả, nhiều lính ngụy Thái đào ngũ.

Khu 5 và Khu 6 đánh địch khá mạnh. Những trận tập kích ở Ninh Hoà, Trại Dầu, Cam Ranh gây cho địch nhiều thiệt hại. Trên đường 19, chiến sĩ Ngô Mây dùng bom diệt gọn một trung đội địch, anh dũng hy sinh.

Ở Nam Bộ, bộ đội Gia Định phục kích tại Gò Nổi. Nửa đêm 14 tháng 11 năm 1947, tất cả các vị trí địch ở ven Sài Gòn: Thị Nghè, Gia Định, Gò Vấp, Bến Cát, Bà Quẹo, Bà Điểm, Phú Lộc, Phú Thọ, Ngã Năm v.v... đều bị tập kích. Bộ đội Thủ Dầu Một đánh phục kích ở Phú Văn Hưng. Trận phục kích trên đường Thủ Dầu Một - Phú Riềng phá 10 xe, diệt 60 tên địch. Ở Biên Hoà, Lộc Ninh, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, nhiều vị trí địch bị tập kích, nhiều toán địch đi lẻ bị đánh; hàng trăm binh sĩ ngụy mang súng trở về với kháng chiến...

Đêm 30 tháng 11, tiểu đoàn 160 cùng với một đại đội thuộc trung đoàn 72 và du kích thị xã Bắc Cạn tập kích đồn Phủ Thông, diệt 50 tên. Đây là trận đầu tiên địch bị diệt trong sào huyệt có công sự kiên cố, trận tập kích của tiểu đoàn 160 đã làm rung chuyển hệ thống đồn bốt địch. Quân Pháp hốt hoảng rút lui càng vội vã. Ngày 6 tháng 12 chúng rút khỏi Định Hoá; 7 tháng 12, rút Võ Nhai. Nắm chắc thời cơ, ngày 15 tháng 12, bộ đội trung đoàn 165 đánh trận phục kích xuất sắc tại đèo Giàng, phá huỷ 17 xe, diệt 60 tên, thu hai triệu tiền Đông Dương và nhiều vũ khí, quân dụng. Các cánh quân Pháp trên đường rút chạy đều bị đánh thiệt hại nặng, kế hoạch “vành đai” không thực hiện “siết chặt” được mà bị băm nát. Ngày 19 tháng 12, đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc. Cuộc hành quân hoàn toàn thất bại.

Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947 của ta đã hoàn thành thắng lợi. Quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 7.200 tên (địch chết 3.300 tên, bị thương 3.900 tên, ra hàng 270 tên và một số bị bắt). 18 máy bay địch bị bắn hạ; 16 tàu chiến và 38 ca nô bị đánh chìm; 255 xe các loại bị phá huỷ. Ta thu hai pháo 105 mm, bảy pháo 75mm, 16 khẩu 20mm, 337 súng máy các cỡ, 45 Badoca, 1.660 súng trường, hàng chục tấn quân trang, quân dụng.

Ta: Hy sinh 260 đồng chí, bị thương 168 đồng chí; hỏng một pháo 75mm, mất bốn trung liên và 40 súng trường1.



Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra là “Phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp; bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến; bảo toàn và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội chủ lực, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc”. Ta đã bẻ gãy, đập tan cả bốn mục tiêu của thực dân Pháp; đập tan nát ý đồ chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài để đối phó với ta - rơi vào ý định chiến lược của Trung ương Đảng ta.

Đây là chiến dịch đầu tiên của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Bằng thắng lợi này, quân đội ta đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch ở đây là, khi địch chủ động tiến công, ta không bị động chọn loại hình phòng ngự mà chọn loại hình phản công để đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch (phản công trở thành một trong những loại hình chiến dịch đầu tiên của quân đội ta). Ta đã phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm hình thức tác chiến chủ yếu. Các lực lượng tham gia chiến dịch đã được sử dụng rất linh hoạt, chiến tranh du kích đã được phát huy mạnh mẽ, rộng khắp và liên tục, làm cho địch bị tiêu hao mòn mỏi và bị động đối phó. Trong đó, nét nổi bật là, ta đã chọn đúng thời cơ phản công (từ ngày 15 đến cuối tháng 10, ngay sau khi ta nắm được toàn bộ kế hoạch tiến công của chúng; ngay khi các cánh quân dù ở Bắc Cạn, quân đường thuỷ và quân đường bộ trên quốc lộ 3 gặp khó khăn); chọn đúng thời cơ “đồng loạt tiến công” khi địch bắt đầu rút quân; tổ chức và sử dụng lực lượng phản công hợp lý, đạt được hiệu suất chiến đấu và kết quả của chiến dịch. Ta đã nhận rõ chỗ yếu cơ bản ngay trên chỗ mạnh của “hai gọng kìm” của địch là: quân đông nhưng đường cơ động vừa độc đạo vừa hiểm trở nên đội hình kéo dài; từ đó ta kịp thời điều chỉnh lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội và dân quân du kích tại chỗ với các tiểu đoàn chủ lực cơ động, hình thành thế trận vừa vững chắc, vừa hiểm yếu, thực hiện những trận đánh phục kích, tập kích và vận động phục kích, vừa thực hiện chia cắt đội hình địch vừa phá tan ý đồ “phân tuyến” của chúng, tạo thành thế trận có lợi cho ta. Do đó, địch muốn tiến công nhanh, nhưng trên từng hướng buộc chúng phải dừng lại đối phó. Bằng lối đánh này, không những ta đã tránh được chỗ mạnh của địch mà còn từng bước vô hiệu hoá, tiến tới bẻ gãy từng “gọng kìm” của chúng, trước hết là hướng tây, hướng sông Lô, đường số 2; sau là đường số 4. Quy mô tác chiến phổ biến là tiểu đoàn và đại đội. Kết hợp giữa bộ binh trên bộ với pháo binh, công binh đánh trên sông, nhằm vào các đơn vị nhỏ quân địch đang cơ động hoặc buộc tạm dừng là chủ yếu, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, gây cho chúng những tổn thất nghiêm trọng, tiến tới giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch.

Trong chiến dịch, ta đã phát huy chiến tranh du kích rộng khắp, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt quân địch khắp mọi nơi, địch đi đến đâu cũng bị đánh và tiêu hao. Từ nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch được phát huy tác dụng, ta đã chuyển nhanh từ thế bị động lúc đầu sang thế chủ động đánh địch theo cách đánh của ta, trên những hướng, những nơi đã chọn. Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 là chiến dịch phản công đầu tiên của quân đội ta vận dụng thành công nghệ thuật chiến dịch “Tiến công trong phản công địch trên địa hình rừng núi”. Đây là sự lãnh đạo tài tình sáng tạo, sự chỉ huy, chỉ đạo độc đáo, sắc sảo của Đảng ta.

Song, ta còn bộc lộ những mặt yếu và khuyết điểm:

Một là, nắm địch không chắt; thông tin chậm dẫn đến chỉ huy phán đoán sai về địch kể cả khi chúng bắt đầu tiến công (nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn), cũng như khi địch rút chạy. Thiếu kinh nghiệm đánh truy kích nên ta bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch rút chạy như đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh nói khi tổng kết chiến dịch: “Phán đoán sai nên điều động quân sai và đánh hụt địch, bộ đội mệt mà không lập được công”. Bộ đội, vì không nắm chắc địch nên bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch, hạn chế đến hiệu suất chiến đấu nhất là khi đánh địch rút lui.

Hai là, ở hậu phương ta còn chủ quan, phòng thủ kém, sơ tán chậm nên khi địch nhảy dù, ta bị bất ngờ và tổn thất.

Ba là, vũ khí trang bị và thông tin thiếu, cũ, chất lượng kém, đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chiến đấu của bộ đội, kết qủa của chiến dịch.
__________________________________
1.Hồ sơ VL-11-780, Trung tâm TT-KHQS.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2012, 10:37:19 PM »


CHIẾN DỊCH NGHĨA LỘ
(Tiến công, từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5 năm 1948)


Từ cuối 1947 đầu năm 1948, Pháp kiểm soát được hấu hết các tỉnh lỵ, thị xã, thị trấn và đường giao thông quan trọng ở Tây Bắc. Ở một số vùng, do ta có sai lầm trong chỉ đạo như nặng dùng biện pháp quân sự, coi nhẹ vận động chính trị, chưa dựa hẳn vào quần chúng nên ta mất đất, mất dân, phong trào quần chúng giảm sút, cơ sở tan vỡ, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang bị bật sang địa phương khác. Trước tình hình trên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng từ 15 đến 17 tháng 1 năm 1948 đã phân tích tình hình sau thắng lợi Việt Bắc Thu đông năm 1947 và đề ra nhiệm vụ kháng chiến thời kỳ mới. Triển khai thực hiện chủ trương này, Bộ Tổng chỉ huy chỉ thị cho Khu 10 phá kế hoạch bao vây biên giới của địch, đưa các đại đội độc lập, các đội xung phong công tác, vũ trang tuyên truyền vào sâu trong vùng địch tạm chiếm, xây dựng và đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiến tới xây dựng và mở rộng căn cứ địa Tây Bắc.

Thực hiện chỉ thị trên, Bộ chỉ huy Khu 10 quyết định mở chiến dịch tiến công Nghĩa Lộ vào đầu tháng 4 năm 1948. Cụ thể, sẽ tập trung một lực lượng mạnh tiêu diệt tiểu đoàn số 1 xứ Thái tự trị ở Nghĩa Lộ trong một thời gian ngắn để uy hiếp Sơn La; buộc quân địch ở Lào Cai, Văn Bàn phải phân tán lực lượng về giữ hậu phương, tạo thuận lợi cho các đơn vị khác diệt các vị trí án ngữ biên giới; đồng thời buộc địch phải rút quân từ Hoà Bình lên giữ Sơn La.

Khu vực Nghĩa Lộ, Gia Hội là vùng núi rừng hiểm trở, cánh thị xã (tỉnh lỵ) Yên Bái 50 km về phía tây. Riêng thị trấn và đồn Nghĩa Lộ lại nằm trong dải đồng bằng Mường Lò, một cánh đồng phẳng, trù phú chạy dọc theo ngòi Thia và nằm kẹp giữa hai dãy núi cao. Hai bên ngòi Thia làng mạc đông đúc, phần đông là người Thái, một phần nhỏ là người Thổ và người Kinh. Dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông; đời sống khá nhưng họ rất căm tức quân Pháp vì chúng thường càn quét cướp bóc, nhất là dân vùng Cốc Báng. Mùa mưa nước ngòi Thia dâng cao, chảy xiết, đi lại khó khăn.

Lực lượng địch trong khu vực Nghĩa Lộ có tiểu đoàn số 1 ngụy Thái thuộc tiểu khu Yên Bái, gồm ba đại đội chiến đấu và một trung đội chỉ huy của đại đội số 1 Com-măng-đô Lào và một số đông lính dõng. Vị trí chính đóng ở Nghĩa Lộ, Cốc Báng, Gia Hội, Quang Huy. Các đồn phụ ở Thượng Bằng La, Thu Cúc, Văn Yên, Phong Phụ, Tú Lệ, Cửa Nhì. Vũ khí trang bị có Moóc-chi-ê, súng trung liên và súng trường.

Lực lượng ta có hai trung đoàn bộ đội địa phương của tỉnh Sơn La và Yên Bái, hai tiểu đoàn (tiểu đoàn Sông Lô và tiểu đoàn 45 của Bộ). Tổng số 2.000 chiến đấu viên: Vũ khí có một pháo 75 mm, còn lại là súng trường, lựu đạn và địa lôi tự tạo.

Ban chỉ huy gồm các ông: Bế Sơn Cương, Vũ Lập, đồng chí Nhung và đồng chí Yến. Sở chỉ huy đặt ở Ca Vịnh, thông tin liên lạc bằng chạy chân.

Kế hoạch tác chiến: Ban chỉ huy quyết định đánh chiếm vị trí Nghĩa Lộ. Giải quyết xong Nghĩa Lộ sẽ tập trung quân đánh xuống Quang Huy. Lực lượng chia làm hai hướng (lúc đó gọi là hai mặt: chính, phụ):

Hướng Nghĩa Lộ, sử dụng hai tiểu đoàn (Sông Lô và Yên Bái) và năm đại đội độc lập, được trang bị một cối 81mm, một cối 60mm, chín Badôca, 11 trung liên (FM) và súng trường, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt quân địch tại đây. Dùng tiểu đoàn 45 được trang bị pháo 75 mm, quấy rối, nghi binh ở Gốc Bản, Cửa Nhì. Hướng này do đồng chí Nhung chỉ huy.

Hướng Quang Huy, do đồng chí Yến chỉ huy. Trung đoàn 97 cho hai tiểu đoàn đánh tiêu diệt vị trí Quang Huy; nếu không diệt được thì tổ chức bao vây ba ngày, chờ lực lượng ở mặt Nghĩa Lộ xuống tiếp viện để tiêu diệt.

Nhưng trong quá trình chuẩn bị, do ta không giữ được bí mật nên địch đã tăng cường quân cho mặt Nghĩa Lộ, đóng thêm một số vị trí. Do đó khu quyết định chuyển hướng chính đánh vào Gia Hội. Lực lượng địch tại đây có 150 tên (có một quan hai, và 11 lính Pháp); hai cối và bốn trung liên.

Ta có bốn đại đội (337 người); hai cối, sáu Badôca, tám AT, 12 trung liên (FM) và súng trường.

Kế hoạch dự kiến: Đại đội 520 sẽ đánh Bản Đon, nếu không thấy địch thì đánh Bản Chiêm. Ba đại đội (510, 514 và 518) đánh từ ba mặt vào đồn Cao và trại Con Gái (Gia Hội). Súng cối sẽ bắn vào vị trí địch khi bộ binh xung phong không lên được.

Trong hai ngày 19 và 20 tháng 4, bộ đội xuất phát hành quân đều bị lạc (vì rừng rậm) phải quay về. Đến ngày 21, một đại đội đến chậm, không bắt được liên lạc nên chỉ có hai đại đội đánh. Hai bên bắn nhau trong một giờ, trời sáng, ta rút lui. Đêm 22 tháng 4, cả bốn đại đội thực hiện tiến công. Bộ đội bí mật bò sát vào đồn Cao và Gò Giữa. Đến giờ nổ súng, dùng Badôca bắn phá tường, một số đồng chí xé rào (bằng tre nứa) tiến sát bắn và ném lựu đạn vào hầm địch. Quân địch để lại một bộ phận bắn trả, còn lại bí mật rút ra ngoài rồi dùng cối bắn vào xung quanh đồn để sát thương quân ta. Đến 4 giờ 30 phút ta lui quân. Kết quả: địch bị chết sáu tên Pháp (có một quan hai), 10 lính khố đỏ và bị thương nhiều tên, hai súng máy bị phá huỷ. Ta: hy sinh chín đồng chí, bị thương 19 đồng chí, lạc hai đồng chí; mất hai súng trường; tiêu thụ 2.000 viên đạn các loại.

Trên hướng Cốc Báng: Lực lượng địch có 37 lính Pháp, 196 lính khố đỏ, 27 lính dõng do tên quan ba Pháp Ca-rê (Caret) chỉ huy. Vũ khí có hai súng máy, hai cối và súng trường cá nhân. Ta có bốn trung đội bộ binh, năm tiểu đội trợ chiến, hai tiểu đội địa lôi, một pháo 75 mm, một cối 60mm.

Kế hoạch dự kiến: Hai trung đội bộ binh và một trung đội cối sẽ đánh đồn A ở đồi cao; hai trung đội được tăng cường một trung đội phóng lựu đánh đồn B ở đồi thấp. Pháo 75 mm (có một trung đội với hai khẩu súng máy bảo vệ) đặt cách đồn hai ki-lô-mét. Hai trung đội trang bị địa lôi sẽ đánh phục kích ở đường Cốc Báng - Cửa Nhì.

Diễn biến: 17 giờ 30 phút, pháo ta bắn 20 phát. Bộ binh xung phong đánh vào đồn A, nhưng cả ba lần đều không thành công. Pháo chuyển sang bắn vào đồn B. Bộ binh ta xung phong, tới sát đồn, địch tập trung bốn khẩu đại liên bắn ra, ta không tiến lên được. Pháo ta chuyển sang bắn vào đồn A. Đến 21 giờ ta lui quân.

Kết quả: Địch chết khá nhiều nhưng ta không vào được nên không đếm rõ số lượng. Hai súng máy bị hỏng, hai nhà trong đồn bị phá huỷ. Ta vô sự, có ba lính khố đỏ chạy theo ta. Tiêu thụ hết 70 viên đạn pháo.

Trên hướng Cửa Nhì: Địch có ba đại đội, lực lượng gồm 15 lính Pháp, 120 lính khố đỏ và 30 lính dõng. Kế hoạch dự kiến: Đại đội 146: một trung đội nghi binh phía tây bắc Cửa Nhì, một trung đội phục kích đường Cửa Nhì - Nghĩa Lộ, một trung đội phối hợp với hai trung đội của đại đội 148 theo trục lộ đánh vào đồn. Trung đội còn lại của đại đội 148 phục kích trên đoạn đường Cửa Nhì - Cốc Báng và quấy rối Gốc Bản trong khi đơn vị nổ súng tiến công đồn.

Diễn biến: 3 giờ 10 phút ngày 26 tháng 4, ta bắt đầu nổ súng; đến 5 giờ 30 phút, không đột nhập được vị trí nên phải rút quân.

Kết quả: Địch bị chết một số (ta không đếm được chính xác). Ta hy sinh ba người (hai trung đội phó và một đội viên); lạc hai người, mất bốn súng trường và bốn đại đao.

Trên hướng Quang Huy: Tại đây địch có sáu lính Pháp, 60 lính khố đỏ và một đại đội mới tiếp viện chốt trên đoạn đường Quang Huy - Văn Yên. Ta có hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 97.

Kế hoạch dự kiến: Sử dụng một tiểu đoàn đánh vào Quang Huy. Tiểu đoàn còn lại cho một đại đội phục kích trên đường Quang Huy - Thượng Bằng La; một đại đội phục kích đường Quang Huy - Thu Cúc; một đại đội phục kích đường Thu Cúc - Thượng Bằng La.

Diễn biến: Ngày 18 tháng 4, bộ đội xuất phát hành quân từ Thạch Kiệt. Dự kiến 19 tháng 4 sẽ đến vị trí tập kết để triển khai chiến đấu, nhưng bộ đội bị lạc đường nên đến tối 20 tháng 4 mới tới được điểm tập kết Làng Vừng. Đêm 21, ta tập kích vào vị trí Quang Huy nhưng không kết quả.

Vì địa thế bất lợi, quân ta ở dưới ruộng phẳng, thấp, địch ở vị trí cao, bên sườn Quang Huy là vị trí Văn Yên và dọc trục lộ địch dễ tăng quân tiếp viện (một đại đội), do đó ta không thực hiện được kế hoạch bao vây Quang Huy. Hơn nữa, sau ngày 21, bộ đội đã hết gạo nên đồng chí Yến đã ra lệnh lui quân về Thượng Khê chờ lệnh mới. Ngày 1 tháng 5, chiến dịch kết thúc. Tại Quang Huy ta hy sinh một chính trị viên tiểu đoàn. Địch tổn thất ta không nắm được.

Sau chiến dịch phản công Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, ta có chủ trương đánh sâu vào Tây Bắc để xây dựng khu căn cứ địa và làm áp lực cho mặt trận Yên Bái. Đây là chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta. Được giao nhiệm vụ, Khu 10 đã quyết tâm tập trung một lực lượng lớn để thực hiện “chủ trương chiến lược” của mình, lần đầu tiên thực hiện “tư tưởng tiến công” - tư tưởng quân sự mang bản chất của quân đội ta. Trong kế hoạch, Bộ chỉ huy Khu 10 đã biết tập trung lực lượng đánh trên nhiều hướng, cùng một lúc đánh vào nhiều vị trí quan trọng buộc địch phải căng kéo đối phó, ý định chiến dịch đã bộc lộ rõ và khá tốt.

Nhưng khi dự kiến, chưa phân tích kỹ, thấy rõ tương quan lực lượng địch - ta, nên đã đề ra mục tiêu đánh chiếm đất là phiêu lưu, không thực tế. Trong xây dựng kế hoạch chiến đấu thì chủ quan, quá tin ở sức mình cho là nhất định đánh chiếm được, tiêu diệt được vị trí địch nên không đặt ra “giả định thất bại” sẽ đối phó ra sao. Khi thực hành chiến đấu, công tác chuẩn bị và tổ chức hành quân không chu đáo để bộ đội lạc nhiều, nên lực lượng vừa thiếu, vừa chậm thời gian so với kế hoạch dẫn đến phân bổ lực lượng trên thực tế không phù hợp (ở hướng phụ Quang Huy có tới hai tiểu đoàn, trong khi đó mặt chính Gia Hội chỉ có hơn một đại đội chiến đấu); bộ đội lại mang nặng tư tưởng “trận địa chiến”, nên phần lớn các trận đánh không thành công. Không kết hợp được giữa lực lượng tập kích đánh đồn và lực lượng phục kích đánh viện. Lực lượng phục kích hầu như không có hiệu quả gì cho chiến dịch.

Về chỉ huy: không thực tế, liên lạc lại quá xa nên không nắm được bộ đội (sở chỉ huy đóng ở Ca Vịnh. Từ các hướng chạy về: Gia Hội phải mất hai ngày, Nghĩa Lộ một ngày, Quang Huy năm ngày mới tới).

Không có kế hoạch tiếp tế hậu cần chu đáo nên ở hướng Quang Huy bộ đội hết gạo phải rút quân. Công tác tư tưởng và tổ chức chưa làm được thấu đáo, không nhận rõ khả năng chịu đựng có hạn của bộ đội để có phương án, kế hoạch khắc phục, nên khi đánh không thắng, bộ đội đói nảy sinh tư tưởng bi quan.


Đây là chiến dịch tiến công đầu tiên, thắng lợi của ta là đã tiêu hao, tiêu diệt một lực lượng đáng kể của địch, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót sai lầm, ấu trĩ, nhưng qua thử thách thực tế bước đầu đã tạo ra cho cán bộ chiến sĩ niềm tin mới, giúp cho các cấp chỉ huy và bộ đội có nhiều bài học quý đầu tiên về cách đánh cát cứ điểm địch nằm trong quy mô một chiến dịch tiến công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 09:01:39 PM »


CHIẾN DỊCH YÊN BÌNH XÃ 1
(Tiến công, từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 6 năm 1948)


Chiến dịch diễn ra trên địa bàn huyện Yên Bình, có diện tích rộng 890km2 nằm ở phía đông bắc thị xã Yên Bái, phía tây thị xã Tuyên Quang. Từ năm 1945, Yên Bình thuộc tỉnh Tuyên Quang; từ năm 1956 đến nay thuộc tỉnh Yên Bái. Địa hình rừng núi bán sơn địa thấp dần theo hướng bắc-nam. Phía bắc có nhiều dãy núi cao, như núi Con Voi, núi Ngàng, núi Yến... rừng rậm rạp hiểm trở. Xen kẽ có nhiều dãy núi đá vôi tiện cho việc giấu quân và kho tàng của ta. Phía nam huyện có nhiều đồi cao rồi thấp dần về phía Hạ Hoà (Phú Thọ). Xen kẽ giữa vùng đồi và núi đá vôi có nhiều cánh đồng rộng tươi tốt tạo nên nhiều làng xóm (như cánh đồng Làng Bạc, Mỹ Gia, Đồng Tâm, Văn Chính, Đại Đồng, v.v...)

Về giao thông, huyện lỵ Yên Bình cách Yên Bái 19 ki-lô-mét nối liền với thị xã Yên Bái bằng quốc lộ, từ đây lại có đường liên tỉnh nối với huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; chạy song song với quốc lộ là dòng sông Chảy từ phía bắc chảy qua, dọc địa bàn Yên Bình xuôi xuống Đoan Hùng (Phú Thọ). Sông Chảy có nhiều thác lớn và dữ, như thác Ông, thác Bà, trước đây còn có tên là sông Trôi, sông Đạo Ngạn; với những ngòi lớn như: Ngòi Lự, ngòi Tràng, ngòi Loàn từ hai phía đổ ra sông Chảy tạo thành hệ thống giao thông thuỷ hết sức thuận lợi.

Trong kháng chiến chống Pháp, huyện Yên Bình có gần 24.500 người, gồm nhiều tộc người. Người Kinh và phần lớn người Tày sống ở vùng đồng bằng dọc hai bờ sông Chảy và giữa huyện. Người Dao sống trên vùng núi cao quanh huyện. Người Hoa sống chủ yếu ở chợ Ngọc và chợ Phủ. Đông nhất là người Kinh, từ năm 1900 do bị bần cùng hoá mà từ Nam Định, Thái Bình đi lên định cư dọc hai bờ sông Chảy; nhân dân ở đây rất nhạy bén với chính trị, bị hai tầng áp bức bóc lột của Nhật và Pháp, lại được giác ngộ cách mạng nên sẵn sàng ủng hộ kháng chiến. Tuy thực dân Pháp thực hiện chính sách và thủ đoạn chia rẽ dân tộc, nhưng đồng bào các dân tộc trong vùng vẫn sống hoà thuận và đoàn kết. Việc hôn nhân giữa các tộc người vẫn diễn ra bình thường, không bị ràng buộc nặng nề bởi các hủ tục.

Từ những ngày đầu xâm chiếm, thực dân Pháp thực hiện chính sách “tự trị”, dựng chính quyền tay sai ở huyện Yên Bình giống các huyện miền xuôi. Đứng đầu bộ máy là viên tri phủ, giúp việc có thừa phái, lục sự, kiểm lâm, dưới có chánh tổng, lý trưởng. Hệ thống quân sự cũng được tổ chức từ huyện đến xã phủ có châu đoàn, tổng có tổng đoàn, xã có xã đoàn. Ở huyện có lính cơ canh phòng, lính vệ làm phục dịch, xã có lính dõng. Tại chợ Ngọc (vùng thượng huyện), chúng xây dựng một đồn do bang tá chỉ huy, nằm án ngữ con đường Yên Bái - Lục Yên và Đồng Tâm - Hàm Yên. Từ 1914 đến 1945, chúng xây dựng 39 nhà thờ dọc hai bờ sông Chảy, trong đó có nhà thờ Vật Lầm xây trên quả đồi cao với tháp chuông có cửa sổ mở ra bốn phía như một cứ điểm quân sự, xung quanh có lô cốt với những lỗ châu mai. Từ các nhà thờ này, chúng dùng những tên phản động lợi dụng Thiên Chúa giáo dùng mọi thủ đoạn mê hoặc, chia rẽ nhân dân để phá hoại cách mạng. Ngoài hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, chúng o bế số địa chủ, đại địa chủ và các cố đạo trong vùng để làm tay sai đắc lực cho chúng.

Từ tháng 5 năm 1948, trên phía tây bắc, thực dân Pháp cho quân ráo riết chiếm một số nơi thuộc hữu ngạn sông Hồng. Chúng xây đồn bốt, củng cố những nơi chiếm được như Đại Bục, Đại Phác, Đông Bồ. Một số cơ sở của ta ở vùng Tú Lệ, Gia Hội bị vỡ, đại đội độc lập 520 và đội võ trang đang đứng chân tại đây bị bật ra ngoài. Mặt đường số 4 chúng tích cực tuyển mộ lính ngụy. Mặt Yên Bình Xã và Phố Ràng chúng tiến công chiếm Võ Lăng và Bến Cóc để chuẩn bị đánh xuống Lục An Châu và Vĩnh Tuy, làm bàn đạp cho cuộc tiến công lớn vào căn cứ địa Việt Bắc trong thu đông 1948.

Để phá tan kế hoạch tiến công Lục An Châu - Vĩnh Tuy của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực học tập đánh tập trung, Liên khu 10 chủ trương mở chiến dịch Yên Bình Xã 1 nhằm mục đích: “Tiêu diệt địch trong phạm vi Yên Bình Xã, Võ Lăng, Phố Ràng; nâng cao tinh thần và trình độ tác chiến của bộ đội, củng cố lòng tin trong nhân dân”. Phương châm tác chiến là: Đánh điểm, diệt viện để đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang trong vùng.

Lực lượng địch trong địa bàn chiến dịch gồm một đại đội, sáu trung đội (có hơn hai tiểu đội lê dương) và 300 lính dõng. Bố trí cụ thể: Phố Ràng hai trung đội; Yên Bình Xã: một đại đội (có sáu súng máy, một cối 60mm, một cối 50mm, hai AT); Hữu Bằng (làng Mun) hai trung đội; Làng Cao một trung đội; Bản Ven hơn một tiểu đội lính địa phương; Nghĩa Đô tám lính Pháp, một trung đội lính khố đỏ và 300 lính dõng (có một tên quan ba và một tên quan một Pháp, một tên quan một ngụy, vũ khí đầy đủ) và một số quân địch ở Khôn Lung.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm ba tiểu đoàn và hai đại đội độc lập: Tiểu đoàn 532 (chủ lực Khu), tiểu đoàn 534 (địa phương Hà Giang), tiểu đoàn 45 (chủ lực của Bộ), đại đội 700 và đại đội độc lập Ngô Khê.

Ta chủ trương tập trung lực lượng để tiêu diệt Yên Bình Xã. Phạm vi hoạt động của chiến dịch, một chiều khoảng 8 ki-lô-mét, một chiều 20 km. Chiến dịch tiến công trên ba hướng, cụ thể nhiệm vụ của các đơn vị là:

- Tiểu đoàn 534 và đại đội Ngô Khê từ hướng đường Võ Lăng đánh vào Yên Bình Xã.

- Tiểu đoàn 45 từ Khôi Ma, Hoàng Nam Đông đánh thẳng vào Yên Bình Xã.

- Đại đội 700 cùng một bộ phận của tiểu đoàn 532 từ hướng Phố Ràng đánh vào Yên Bình Xã để nghi binh thu hút địch.

- Bộ phận còn lại của tiểu đoàn 532 phục kích đánh địch trên đường Yên Bình Xã - Nghĩa Đô, Yên Bình Xã - Khôi Lung, bảo đảm cho tiểu đoàn 45 chiến đấu và lui quân.

Bộ tư lệnh Liên khu 10 trực tiếp chỉ huy chiến dịch1. Huyện uỷ và Uỷ ban kháng chiến huyện Yên Bình đã huy động 200 lượt người gồm dân quân du kích và dân công với lương thực, thực phẩm và vũ khí thô sơ đầy đủ tham gia trực tiếp phục vụ chiến dịch.

Ngày 5 tháng 6, trên hướng Võ Lăng - Hữu Bằng, tiểu đoàn 534 và đại đội độc lập Ngô Khê tiến công Gò Chè. Đến tối, vì bao vây không chặt nên địch đã lợi dụng trời mưa rút chạy về Võ Lăng Thượng. Sau đó ta tiếp tục tiến công Võ Lăng Thượng. Vì không có kế hoạch đánh viện nên lúc 14 giờ cùng ngày, 100 tên địch từ Yên Bình Xã đến tiếp viện, ta nổ súng chỉ diệt được hai tên, địch hoang mang bỏ chạy trở lại Yên Bình Xã.

Sáng ngày 6 tháng 6, ta tiếp tục tiến công Võ Lăng Thượng, nhưng cũng lại bao vây không chặt để địch chạy thoát về Yên Bình Xã - Hữu Bằng.

Trên hướng Phố Ràng: 17 giờ 10 phút ngày 6 tháng 6, đại đội 700 cùng một bộ phận của tiểu đoàn 532 tiến công Phố Ràng nhưng không thành công. Ngày 7 tháng 6, ta tiếp tục tiến công nhưng không thu được kết quả, ta chuyển sang bao vây đồn. Sau ba ngày bị vây chặt, không có tiếp tế, quân địch trong đồn hoang mang bỏ chạy. Nhưng đại đội 700 chỉ cho một tiểu đội truy kích diệt được hai tên và làm bị thương một số địch. Quân ta phá huỷ đồn, thu bảy hòm đạn đại liên và 25 quả đạn cối. Cùng ngày, trên một trung đội của tiểu đoàn 45 phục kích địch từ Yên Bình Xã tiếp viện cho Phố Ràng. Đến đoạn Thao Lung ta nổ súng, địch bỏ chạy, ta thu hai súng trường và 550 viên đạn.

Trên hướng Yên Bình Xã, 5 giờ 15 phút ngày 7 tháng 6, một đại đội của tiểu đoàn 532 đã bí mật, áp sát và nổ súng tiến công Yên Bình Xã. Đây là vị trí địch phòng thủ tương đối cứng, địa hình xung quanh là ruộng lầy và đồi thấp. Tiểu đoàn 45 hiệp đồng không khớp, đến chậm, ta phải lui quân. Ta chỉ diệt được ba tên địch, làm bị thương một tên; bên ta bị thương một người.

Từ ngày 10 tháng 6 đến 15 tháng 6, ta tổ chức tiến công Yên Bình Xã hai lần nữa; nhưng kế hoạch không chu đáo, hiệp đồng giữa các mũi không ăn khớp nên cũng không thu được kết quả. Ta chuyển sang bao vây. Quân địch rất hoang mang, 10 tên lính dõng mang vũ khí ra hàng, 10 tên khác bỏ trốn bị ta diệt bốn tên, thu bốn súng trường. Một bộ phận gồm tám lính Pháp, 50 lính dõng lợi dụng đêm tối chạy trốn về Nghĩa Đô.

Cùng trong thời gian trên, ta phục kích đánh địch tiếp viện trên đường Na Khao - Yên Bình Xã và Nghĩa Đô - Yên Bình Xã, diệt nhiều địch (trong đó có một chỉ huy Pháp) làm bị thương 11, bắt bốn tên, ta thu hai súng trường và năm gánh đạn. Chiến dịch kết thúc ngày 15 tháng 6 năm 1948.

Kết quả: Địch bị diệt 77 tên (có bảy lính Pháp, 70 lính khố đỏ và lính dõng), bị thương 70, bị bắt 11, ra hàng 45 tên. Ta thu: 68 súng trường, một khẩu Lơ-vít, một súng phóng lựu, một vạn viên đạn đại liên, 700 viên đạn súng ngắn, 25 quả đạn cối và một số quân trang, quân dụng. Ta hy sinh 17 đồng chí (có một đại đội trưởng), bị thương 35 người.



Chiến dịch Yên Bình Xã là một trong những chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ và ấu trĩ nhưng về cơ bản đã hoàn thành được nhiệm vụ và mục đích đề ra. Tiêu diệt và bức hàng được một bộ phận sinh lực địch, rèn luyện bộ đội, bảo toàn và phát triển lực lượng, gây được niềm tin cho nhân dân. Mục đích chiến dịch đề ra là thích hợp và rõ ràng. Chỉ huy các cấp và bộ đội đã nhận thức được nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch là chính, biết lấy việc tiêu diệt sinh lực địch để phá kế hoạch tiến công của chúng, động viên tinh thần bộ đội và nhân dân. Phạm vi tiêu diệt sinh lực địch cũng rõ ràng, có trọng điểm, do đó kế hoạch tác chiến đã tập trung được lực lượng vào đúng mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu.

Nhưng do chưa nhận thức sâu sắc phương châm tác chiến và tư tưởng chiến thuật “Đánh điểm, diệt viện”, nên trong kế hoạch và thực hành chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ chỉ thiên về “đánh điểm” mà không chuẩn bị chu đáo kế hoạch “diệt viện”, do đó đã bỏ lỡ mất nhiều cơ hội đánh địch cứu viện. Kế hoạch tác chiến chưa hiệp đồng chặt chẽ giữa các mũi nên khả năng tiến công bị giảm sút nhiều, nhất là trận Yên Bình Xã.

Căn cứ vào tình hình địch cụ thể tại địa bàn, nếu nhận thức rõ, sâu sắc mối quan hệ giữa “đánh điểm” và “diệt viện”, trình độ tổ chức và chỉ huy tác chiến chặt chẽ hơn thì bộ đội ta có khả năng tiêu diệt được Võ Lăng, Hữu Bằng, Yên Bình Xã và hoàn thành được nhiệm vụ tác chiến đề ra.
____________________________________
1.Ngày 25 tháng 1 năm 1948, chính phủ ra sắc lệnh 120/SL chính thức sát nhập Khu 10 và Khu 14 thành Liên khu 10; Bộ Tư lệnh Liên khu gồm: Bùi Quang Tạo làm bí thư Liên khu uỷ, Bằng Giang làm Liên khu trưởng, Song Hào làm chính uỷ Liên khu và Lê Trọng Tấn làm Liên khu phó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 09:09:20 PM »


CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG SỐ 3

(Tiến công, từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 12 tháng 12 năm 1948)


Thực hiện nhiệm vụ quân sự của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng từ ngày 15 đến 17 tháng 1 năm 1948 đề ra1, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương mở chiến dịch đường số 3 nhằm mục đích “Bức địch rút khỏi Bắc Cạn và đường số 3”. Phương châm tác chiến là: “Tập trung lực lượng tiêu diệt các cứ điểm, trong đó mục tiêu quan trọng nhất là đánh Phủ Thông, kết hợp phục kích trên đường giao thông, đánh quân tăng viện và tiếp tế của địch từ Bắc Cạn lên”.

Trên địa bàn, quân địch đang chiếm đóng các vị trí: Ở thị xã Bắc Cạn hai đại đội; Phủ Thông một đại đội; Nà Pặc một đại đội; Ngân Sơn một đại đội; Bằng Khẩu hai trung đội; Tài Hồ Sìn một trung đội. Tổng số quân địch trên địa bàn chiến dịch tương đương ba tiểu đoàn. Địch thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc “Dùng người Việt đánh người Việt”, chúng mua chuộc, lôi kéo đồng bào các dân tộc và lập tề điệp làm lực lượng hậu thuẫn bảo vệ xung quanh các căn cứ đã chiếm được. Các cứ điểm xây dựng công sự kiên cố. Vũ khí trang bị đầy đủ và hiện đại hơn hẳn quân ta. Các vị trí của địch xây dựng khá vững chắc, nhưng cách xa nhau nên khi ta tiến công, chúng dễ bị chia cắt cô lập, khó ứng cứu được cho nhau.

Lực lượng ta gồm: Trung đoàn địa phương Bắc Cạn có một tiểu đoàn 55 và một đại đội độc lập. Trung đoàn địa phương Cao Bằng (trung đoàn 74) gồm tiểu đoàn 71 và một đại đội độc lập. Hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ (11 và 54)2, tiểu đoàn 45 mới cơ động từ Tây Bắc về, một đại đội công binh và một đại đội pháo binh của Bộ.

Chiến dịch do Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo; Bộ chỉ huy Liên khu 1 chỉ huy, đồng chí Thanh Phong làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lâm Kính làm chỉ huy phó. Từ phương châm “đánh điểm, diệt viện”, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tâm “Tiêu diệt Phủ Thông - Bằng Khẩu và diệt viện binh từ Bắc Cạn lên”.

Phân công nhiệm vụ các đơn vị, cụ thể như sau: Tiểu đoàn 11 phối hợp với đại đội Ba Bể và đại đội pháo binh 75mm của tiểu đoàn 410 tiêu diệt đồn Phủ Thông, tiểu đoàn 73 thuộc trung đoàn 74 tiêu diệt Bằng Khẩu và dùng một bộ phận quấy rối Ngân Sơn, tiểu đoàn 54 của Bộ và tiểu đoàn 55 thuộc trung đoàn 72 tiêu diệt viện binh địch từ Bắc Cạn lên. Ngoài ra, dùng các đại đội độc lập của trung đoàn 72 và đội biệt động của ban tình báo Liên khu 1 quấy rối Nà Pặc, Bắc Cạn và phục kích Đèo Giàng.

Địa hình khu vực chiến dịch rừng rậm núi cao, đường số 3 độc đạo với nhiều đèo dốc hiểm trở, thuận lợi cho ta đánh phục kích, khó khăn cho việc cơ động binh, hoả lực của cả hai bên. Đây là vùng dân tộc ít người, thưa thớt và rất nghèo, nên ta không có điều kiện giải quyết “hậu cần tại chỗ” đảm bảo cho chiến dịch.

Thời tiết khí hậu trong vùng khắc nghiệt, dễ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đánh dài ngày bộ đội sẽ ốm đau nhiều.

Trong năm tiểu đoàn tham gia chiến dịch có hai tiểu đoàn (11 và 54) đã được bổ sung quân số, vũ khí tương đối khá và có thời gian đắp sa bàn chiến dịch để luyện tập. Các đơn vị khác mới được điều đến, chưa có điều kiện huấn luyện kỹ, lại có nhiều chiến sỹ mới. Chiến dịch tuy không có cơ quan chính trị chuyên trách nhưng các đơn vị đã chủ động tiến hành công tác thành trì trước chiến dịch, động viên được bộ đội tất cả đều rất hăng hái thi đua giết giặc lập công, sẵn sàng lấy súng địch đánh địch.

Về lương thực, việc bảo đảm của Chi cục Quân nhu có khó khăn vì thu mua trong dân được không đáng kể, đường sá khó khăn, nhân công thiếu nên chỉ vận chuyển được một số đến Bản Thi.

Tổ chức nắm địch, vì thiếu người và phương tiện nên chỉ nắm được tình hình địch từ Nà Pặc đến Bắc Cạn.

Thực tế chiến dịch tiến hành theo ba đợt.

Đợt 1 (từ ngày 25 tháng 7 đểu 27 tháng 7).

Ngày 24 tháng 7, các đơn vị đã tới địa điểm quy định, ngày 25 bắt đầu nổ súng (so với kế hoạch chậm 10 ngày). Mục tiêu tiến công đầu tiên là tiêu diệt vị trí Phủ Thông để mở màn chiến dịch3. 18 giờ 30, hoả lực của pháo binh bắn dồn dập vào cứ điểm, sau đó bộ binh đột nhập vào. Pháo của tiểu đoàn 410 bắn sập một phần khu thông tin, phá hỏng một số tường, rào, giao thông hào bao quanh cứ điểm. Tiểu đoàn 11 do đồng chí Vũ Yên chỉ huy chia thành hai mũi tiến công vào đồn. Mũi thứ nhất - đại đội 245 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Thuần chỉ huy - tiến công vào hướng cổng chính; bị địch tập trung hoả lực bắn ra dữ dội, bộ đội thương vong nhiều, không tiến lên được. Ta tập trung súng bắn yểm trợ cho mũi thứ hai - đại đội 243 do đại đội trưởng Đào Đình Luyện chỉ huy - tiến công từ phía bên phải; bộ đội cắt hàng rào kẽm gai, phá hàng rào tre nứa, bắc thang xung phong qua tường trình. Hai chiến sỹ đầu tiên trèo lên bị trúng đạn của địch, hy sinh; người thứ ba lên tiếp, địch hoảng sợ bỏ chạy, tổ xung kích xung phong lên chiếm “đầu cầu”, đại đội xung phong vào đồn. Bộ đội ta dùng lựu đạn, lưỡi lê, mã tấu, mác búp đa đánh giáp lá cà, vật lộn tranh chấp với địch từng gian nhà, từng ụ súng. Địch dựa vào công sự và hoả lực mạnh cố thủ và kiên quyết chống trả, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của quân ta. Trong khi đó, bộ đội ta lần đầu tiên dùng cách đánh cường tập để công đồn nên không khỏi lúng túng. Cán bộ cấp trung đội, đại đội vì quá ham chiến đấu, gặp nơi nào khó liền xông vào giải quyết nên quên mất vai trò bao quát của người chỉ huy. Chiến sĩ phần lớn tự động đánh giặc, thiếu hiệp đồng chặt chẽ. Vì vậy, mặc dù rất dũng cảm nhưng ta vẫn không sớm tiêu diệt được địch. Gần nửa đêm (sau 4 giờ chiến đấu), quân ta chỉ chiếm được 3 phần 4 đồn do còn một tiểu đội địch cố thủ trong hầm ngầm chống trả quyết liệt. Vũ khí ta kém, trong tay không còn lực lượng dự bị nên 23 giờ tiểu đoàn trưởng phải ra lệnh lui quân. Kết quả: Ta đã tiêu diệt đại bộ phận quân địch trong đồn, trong đó có tên đồn trưởng và đồn phó4. Diệt 100 lính lê dương, thu được năm trung liên Bơ-ren, một Tôm-sơn, một Các-bin, hai Sy-ten và 10 súng trường. Ta hy sinh 43 người (không lấy được tử sĩ), bị thương 50, mất 18 súng trường, một Tôm-sơn, một Bơ-ren.

Phía Bằng Khẩu, vì tiếp tế khó khăn, bộ đội vận động chậm, 1 giờ ngày 26 tháng 7 mới tới vị trí. 3 giờ bắt đầu tiến công; bộ đội đang đánh bộc phá để phá hàng rào thì trời sáng nên phải rút. Kết quả chỉ đốt được một vài ngôi nhà của bọn phản động, thu được một súng trường và ba súng kíp.

Phía đường số 3: 2 giờ ngày 26 tháng 7, bốn xe chở một trung đội địch tới gần trận địa phục kích của ta, nhưng chúng nghi ngờ nên lại rút. Đến 10 giờ 25 phút, tám xe chở khoảng một đại đội lên tiếp viện cho Phủ Thông. Vì để lộ nên ta chỉ đánh được trung đội tiền vệ của địch. Kết quả, ta thu được ba súng, 100 viên đạn, phá một cối 60mm, diệt và làm bị thương 6 tên. Bên ta hy sinh 43 người, bị thương tám người và mất ba súng trường.

Cùng đêm 25 tháng 7, ta tiến hành quấy rối Ngân Sơn, Nà Pặc. Riêng Bắc Cạn, do Phủ Thông bị đánh, địch ở đây đã chuẩn bị đối phó nên sang đêm 26 ta mới thực hiện được việc đột nhập quấy rối.

Sau đêm 25 tháng 7, vì không liên lạc được với nhau nên địch tưởng đã mất Phủ Thông, chúng rất lo sợ và dè dặt. Sáng 27 tháng 7, địch cho máy bay lên trinh sát, hai giờ sau hai chiếc lên thả 11 dù tiếp tế, đồng thời chúng dùng 30 xe chở hai đại đội từ Cao Bằng xuống tiếp viện. Tối 28 mới đến Bằng Khẩu, sáng 29 tháng 7 mới tới Phủ Thông.

Ngày 27 tháng 7, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho tiểu đoàn 11 đánh Phủ Thông lần thứ hai, nhưng lệnh không dứt khoát nên tiểu đoàn 11 chỉ cho một trung đội và một Badôka đến quấy rối. Ta bỏ lỡ thời cơ đánh quân tiếp viện từ Cao Bằng xuống. Đợt một của chiến dịch kết thúc.

Đợt 2 (từ 28 tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1948).

Địch tăng quân cho các cứ điểm: Phủ Thông, Bằng Khẩu, Ngân Sơn; tạm ngừng việc lùng sục ra xung quanh, tăng cường canh gác.

Về phía ta: tình trạng cung cấp thiếu thốn chưa khắc phục được, mặc dù đã dùng một bộ phận bộ đội đi vận chuyển. Bởi vậy, Bộ chỉ huy chủ trương phát động công tác phá hoại giao thông trên trục đường 3 và tổ chức bắn máy bay để triệt đường tiếp tế của địch. Nhiệm vụ của các đơn vị phân công cụ thể như sau: Trung đoàn 72 phục kích, đánh địa lôi và phá hoại đoạn từ Nà Pặc đến Bắc Cạn. Tiểu đoàn 11 và 54 dùng bộ phận nhỏ quấy rối Bắc Cạn và Phủ Thông, còn đại bộ phận trở về Chợ Rã chuẩn bị đợt tiến công mới. Tiểu đoàn 45 bảo vệ pháo binh và chuẩn bị cho đợt 3. Kết quả: ta chỉ phá hoại được một ít trên đường số 3, các nơi khác không thực hiện được kế hoạch.

Đợt 3 (từ ngày 7 đến 12 tháng 8 năm 1948).

Trong hai ngày 8 và 9 tháng 8, địch đã khắc phục, mở thông được đường số 3. Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ: Trung đoàn 72 phục kích đánh địch, phá hoại đoạn đường Bắc Cạn - Phủ Thông. Tiểu đoàn 45 và 11, quấy rối Phủ Thông, phục kích đoạn Nà Pặc - Phủ Thông. Trung đoàn 74 tập kích tiêu diệt Bằng Khẩu. Tiểu đoàn 54 về Phiêng Môn sẵn sàng làm nhiệm vụ bao vây Phủ Thông và phục kích đoạn Bắc Cạn - Phủ Thông.

Thực hiện kế hoạch trên, tiểu đoàn 73 của trung đoàn 74 tập kích tiêu hao địch tại Bằng Khẩu, diệt được 20 tên, thu một số súng trường. Các đơn vị khác chỉ phá hoại được một số đoạn đường và tiêu hao được một số ít quân địch khi chúng đi tuần tiễu. Bộ đội ốm đau nhiều, việc vận chuyển hậu cần rất khó khăn. Chiến dịch kết thúc ngày 12 tháng 8 năm 1948.

Chiến dịch đường số 3 là một trong ba chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta, vì vậy không tránh khỏi sự ấu trĩ trong nghệ thuật chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch. Tuy chưa diệt gọn được cứ điểm Phủ Thông, nhưng đây là trận tiến công cứ điểm đầu tiên bằng sự hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh đánh cường tập. Vì vậy, qua chiến dịch cán bộ, chiến sĩ đã rút được nhiều kinh nghiệm tốt cho các trận tiếp sau. Chiến dịch còn bộc lộ khá nhiều khuyết, nhược điểm:

Mục đích chiến dịch đề ra là bức địch rút khỏi Bắc Cạn, đường số 3 là quá cao so với nhiệm vụ chiến lược của giai đoạn “tích cực cầm cự” và so với tương quan lực lượng giữa ta và địch. (Ta năm tiểu đoàn, địch ba tiểu đoàn, nhưng được trang bị mạnh hơn ta gấp nhiều lần, lại cố thủ trong căn cứ kiên cố).

Phương châm “đánh điểm, diệt viện” của Bộ tư lệnh chiến dịch đề ra là hoàn toàn đúng đắn, khoa học, nhưng bộ đội không thực hiện được cả ở khâu quán triệt tư tưởng quân sự và khâu thực hành chiến đấu; do đó đánh được điểm nhưng không diệt được viện, nghĩa là nhiệm vụ chủ yếu nhất để diệt sinh lực địch không thực hiện được.

Hướng chiến dịch lấy đường số 3 là đúng, nhưng trọng điểm ở đâu thì lại không rõ, nên bộ đội phân tán, đánh lung tung.

Khuyết điểm nổi bật trong tổ chức chiến dịch là chưa thực hiện được sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, nên không có cấp uỷ để chỉ đạo chiến dịch, không có cơ quan chính trị để lãnh đạo tư tưởng bộ đội, chưa biết liên hệ chặt chẽ với cấp uỷ và chính quyền địa phương để huy động khả năng của nhân dân phục vụ chiến dịch, do đó khâu hậu cần tiếp tế gặp khó khăn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức chiến đấu của bộ đội.

Về chỉ huy không nắm được đơn vị. Lực lượng, trình độ, khả năng của bộ đội và trang bị có thể diệt được Phủ Thông, Bằng Khẩu và một vài điểm phục kích lớn; nhưng vì sử dụng lực lượng thiếu tập trung (cả bộ binh và pháo cối), nên không dứt điểm được trận nào. Không kịp thời rút kinh nghiệm trong quá trình chiến đấu để linh hoạt điều chỉnh lại lực lượng, nhất là sau đợt 1 khi tác chiến đã ít kết quả.
________________________________________
1.Hội nghị đã chỉ rõ nhiệm vụ quân sự là: “... Phá tan cuộc tiến công mùa đông 1948 của địch. Đánh đuổi địch ra khỏi Việt Bắc, trước hết là Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai...(tiêu diệt sinh lực địch, thực hiện phản công đánh những trận tiêu diệt chiến để rèn luyện bộ đội. Kiên quyết giành chủ động chiến thuật, tiến tới giành chủ động chiến lược bộ phận...)
2.Từ tháng 6 năm 1948, tiểu đoàn 36 đổi phiên hiệu thành tiểu đoàn 11; trung đoàn 17 đổi thành trung đoàn 308.
3.Đồn Phủ Thông nằm ở phía Bắc thị xã Bắc Cạn 20 km, do một đại đội và một trung đội trợ chiến thuộc trung đoàn lê dương số 3 chiếm giữ; được trang bị nhiều súng cối, đại liên do tên đại uý Các-đi-nan làm đồn trưởng, trung uý Sát-lốt-tông đồn phó. Sau hai lần bị ta tập kích trước đây (ngày 30 tháng 11 năm 1947 và 12 tháng 3 năm 1948), đồn Phủ Thông được xây dựng thành cứ điểm vững chắc, có rào dây kẽm gai, nhiều lớp rào tre nứa và tường thành trình bằng đất cao hơn đầu người bao quanh. Đồn có nhiều dãy nhà gạch, với những ụ súng, lô cốt, hầm ngầm kiên cố.
4.Về trận đánh đồn Phủ Thông, trong cuốn “Chiến đấu trong vòng vây” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nxb Thanh niên 1995) tr.267 có đoạn viết: “Gần đây tình cờ tôi được đọc cuốn sách của Pháp mới xuất bản năm 1992, trong đó tác giả viết khá chi tiết về trận Phủ Thông.

Đồn Phủ Thông do đại đội 2 của trung đoàn lê dương số 3 bảo vệ. Quân số gồm 102 người. 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 7 năm 1948, bất thần một trận hoả lực trút xuống đồn. Đạn súng cối, những tràng liên thanh, pháo 75mm bắn thẳng làm tê liệt quân phòng thủ. Hàng rào và cửa lô cốt phía tây bị phá vỡ, bố trí phòng thủ nhanh chóng bị rối loạn. Ngay giờ đầu, đại uý đồn trưởng và trung uý đồn phó đều bị tử thương. Bộ đội Việt Nam hò hét xung phong chiếm các khu 1, 2, 3; chỉ còn khu 4 là chống cự trong tình trạng tuyệt vọng. Đại đội đã bị loại khỏi vòng chiến đấu một nửa quân số (14 chết, 33 bị thương). Riêng về lực lượng tiến công của ta, tác giả viết: gồm 5, 6 tiểu đoàn với hơn 3.000 người trong khi đó, quân số của tiểu đoàn 11 không quá 400 người.

Trận đánh không thành công trọn vẹn, nhưng đã mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm và một niềm tin mới: nếu chuẩn bị đầy đủ hơn thì đã tiêu diệt được đồn địch. Cũng phải thấy rằng trong một trận thí điểm, lẽ ra ta nên chọn một mục tiêu phù hợp hơn với trình độ tác chiến của bộ đội ta. Tiểu đoàn 11 được nhận danh liệu “Tiểu đoàn Phủ Thông”. Tiểu đoàn đã mở đầu cho truyền thống đánh cứ điểm của quân đội ta và trở thành một đơn vị đánh cứ điểm nổi tiếng sau này”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #7 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 09:18:05 PM »


CHIẾN DỊCH YÊN BÌNH XÃ 2

(Tiến công, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1948)


Sau khi bị ta tiến công lần thứ nhất, tháng 6 năm 1948, địch tiếp tục chiếm đóng và củng cố, xây dựng Yên Bình Xã thành một cứ điểm tương đối mạnh để làm bàn đạp tiến công xuống phía nam và quốc lộ số 2 trong cuộc tiến công lớn vào thu đông 1948 sắp tới. Xung quanh cứ điểm có tường dày và cao gần hai mét. Bốn góc có bốn lô cốt. Trong tường có hào chiến đấu và hầm ngầm. Bên ngoài có một lớp rào dây thép gai dày 1,5m và một hàng chông. Binh lực có hơn một đại đội gồm 18 lính Pháp, hai trung đội lính khố đỏ, một trung đội lính dõng, do tên quan hai Cơ-lốt Vê-lê-át (Claude Veléard) chỉ huy. Vũ khí có một đại liên, bốn trung liên, hai súng cối (60mm và 50mm), tiểu liên và súng trường đầy đủ1.

Đầu tháng 10 năm 1948, Liên khu 10 chủ trương mở chiến dịch nhằm tiêu diệt Yên Bình Xã lần 2, phá kế hoạch chiếm đóng và âm mưu tiến công thu đông 1948 của thực dân Pháp; đồng thời tạo điều kiện thực tế để tập dượt cho bộ đội chủ lực cách đánh tập trung, tiêu diệt địch trong trận địa kiên cố.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn 453 chủ lực khu, có ba đại đội (664, 666 và 676), đại đội xung kích 522 của trung đoàn 115; đại đội độc lập 671 (đang hoạt động từ Yên Bình Xã đến Trịnh Tráng), đại đội độc lập 672 (đang hoạt động từ Yên Bình Xã đến Nghĩa Đô), đại đội sơn pháo 75mm (1 khẩu và 100 viên đạn). Tuy là năm đại đội nhưng tổng quân số tham gia chiến đấu chỉ vẻn vẹn có 145 người, chưa kể pháo binh.

Nhiệm vụ tác chiến được phân công cho các đơn vị như sau: Đại đội 522 và 664, có pháo binh yểm hộ, nhanh chóng và bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng xung phong vào đồn. Đại đội 522 đánh từ phía tây vào. Đại đội 664 đánh từ phía đông nam đánh vào, diệt hỏa điểm, sinh lực và đề phòng địch tập kích.

Đại đội 676 có đại đội trợ chiến yểm hộ, tiến công tiêu diệt Phố Lu, sau đó phối hợp cùng 2 đại đội 522 và 664 tiêu diệt Yên Bình Xã.

Đại đội 671 phục kích gần đồn khố đỏ và đoạn đường sau Phố Lu, sẵn sàng đánh quân địch tiếp viện cho Yên Bình Xã và tiêu diệt quân địch ở Yên Bình Xã rút chạy.

Đại đội 672 bao vây và quấy rối Nà Khao, đại đội 666 bảo vệ pháo và tổ chức các tổ nghi binh.

Chỉ huy chiến dịch: Bộ tư lệnh Liên khu 102. Trong khi chuẩn bị chiến dịch, ta đã tiến hành các mặt công tác quân vận, dân vận và địch vận. Quán triệt nhiệm vụ chiến đấu và động viên tinh thần, xây dựng quyết tâm cho bộ đội. Liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức nhiều buổi tuyên truyền, vận động, liên hoan văn nghệ làm cho nhân dân thấy được âm mưu, thủ đoạn của địch, nâng cao lòng tin tưởng vào thắng lợi của kháng chiến để huy động nhân dân giúp đỡ bộ đội trong quá trình chiến đấu. Viết và thả nhiều truyền đơn bằng nhiều thứ chữ (quốc ngữ, chữ Pháp, chữ và tiếng dân tộc), tổ chức các tổ địch vận len lỏi vào vùng địch tạm chiếm để tuyên truyền và giải thích chính sách khoan hồng của ta cho binh lính địch.

Sáng 5 tháng 10, đại đội 664 đang hành quân vào vị trí tập kết thì bất ngờ gặp một tốp địch đi lấy củi, tốp này nổ súng rồi chạy về đồn. Sau đó, địch cho máy bay thả 18 dù tiếp tế cho Yên Bình Xã. Từ giờ phút đó, các đơn vị phải tiến hành công tác chuẩn bị rất gấp.

Trận đánh thứ nhất diễn ra lúc 17 giờ 35 phút ngày 5 tháng 10. Do hiệp đồng và tổ chức hành quân không chu đáo, hai trung đội của đại đội 664 bị lạc đường, một trung đội đến chậm; đại đội 676 chưa giải quyết được Phố Lu nên không thực hiện được hiệp đồng tập trung đánh vào Yên Bình Xã. Khi phát lệnh nổ súng, chỉ có đại đội 522 tới được vị trí tập kết và thực hành xung phong. Trung đội của đại đội 664 đến chậm 30 phút, sau khi có lệnh mới xung phong, nên không thực hiện được kế hoạch tác chiến. Do đó, quân địch lúc đầu có hoang mang, nhưng sau ít phút chúng trấn tĩnh lại và tập trung binh lực, hoả lực đối phó với mũi tiến công của đại đội 522.

Trận đánh của ta không thành công. Ta chỉ phá hỏng được một số công sự, một khẩu trung liên và đốt cháy một kho đạn. Số địch thương vong ta không biết rõ. Ta hy sinh một người, tiêu thụ hết 90 viên đạn pháo.

Trận thứ hai diễn ra lúc 22 giờ cùng ngày 19 giờ 30 phút, bắt liên lạc được với đại đội 522 và 664 ở bờ suối Nậm Luông, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng đại đội 522 và đại đội 664 tiến công Yên Bình Xã lần thứ hai. Kế hoạch tác chiến căn bản vẫn như lần thứ nhất, khác là thay việc sử dụng pháo bằng dùng công binh bí mật mở đường, mở hàng rào và dùng Badôca bắn phá huỷ lô cốt, yểm hộ cho bộ binh xung phong. Cũng lại vì hiệp đồng không chặt chẽ và tích cực (đại đội 664 xung phong chậm, các hướng nghi binh không tích cực hoạt động), nên trận đánh cũng không thu được kết quả. Chỉ bắn sập một lô cốt, phá huỷ một trung liên. Ta hy sinh hai người, bị thương bốn người.

Ngày 6 tháng 10, trung đội của đại đội 672 hai lần phục kích trên đồng Nghĩa Đô - Yên Bình Xã. Lần thứ nhất, khi Yên Bình Xã bị tiến công, vì hoảng sợ, một trung đội địch bỏ chạy về Nghĩa Đô (có bốn lính Pháp và 20 lính khố đỏ), tới Cầu Đen bị ta chặn đánh, bọn này bỏ chạy tán loạn về Na Khao và Yên Bình Xã. Lần thứ hai ta chặn đánh một trung đội địch từ Nghĩa Đô lên tiếp tế cho Yên Bình Xã, địch cũng chạy thoát. Cả hai lần địch bị chết năm tên, bị thương ba tên, ta thu ba súng trường và nhiều lương thực.

Trận thứ ba diễn ra lúc 3 giờ 30 phút ngày 7 tháng 10. Nhận thấy lực lượng địch ở Yên Bình Xã đã bị giảm sút vì thương vong và bỏ chạy, tinh thần chúng đang hoang mang, Bộ chỉ huy quyết định đánh lần thứ ba.

Kế hoạch vạch ra là: Đại đội 522 và 664 xung phong đánh vào phía tây nam đồn. Đại đội 671 và 676 đánh từ mặt sau vào. Pháo binh chuyển vị trí xuống đông nam, cách đồn 150 mét. Tổ chức các tổ nghi binh hoạt động xung quanh đồn, mỗi tổ từ ba đến năm người.

Nhưng việc tổ chức hiệp đồng vẫn không tỉ mỉ, việc kiểm tra không đầy đủ, nên đại đội 676 bị mất liên lạc trong khi điều động nên không tham gia đánh được. Pháo binh thực chất chỉ còn bảy viên đạn (Hội nghị rút kinh nghiệm báo cáo còn 25 viên). 3 giờ 30 phút, pháo và cối phát hoả, các tổ nghi binh hoạt động tích cực nên đã thu hút được địch. 4 giờ, bộ đội gỡ chông và mở thêm đường. 4 giờ 45, mỗi đại đội (522 và 664) sử dụng một tiểu đội bắt đầu xung phong vượt tường. Địch rút xuống hào bắn lại và dùng chín lính khố đỏ đánh vòng ra phía sau ta, nhưng bị hoả lực ta diệt bốn tên, số còn lại bỏ chạy. Địch trong đồn dùng lựu đạn và đạn cối tháo chốt ném ra ngoài tường để chặn quân ta. Vì binh lực ta ít, không còn lực lượng tiến công tiếp, bộ phận xung phong thì bị chặn lại, 5 giờ 15, trời đã sáng, Bộ chỉ huy nhận thấy nếu tiếp tục đánh cũng không kết quả nên ra lệnh lui quân, kết thúc chiến dịch. Cùng ngày, trên một trung đội địch từ Nghĩa Đô tiếp viện cho Yên Bình Xã, bị một trung đội của đại đội 672 chặn đánh cách Nà Khao 2 ki-lô-mét. Địch bị chết một tên, còn lại rút chạy về Nghĩa Đô. Ta thu một súng trường và một lựu đạn.

Kết quả: địch chết 36 tên, bị thương 23 tên, một đại liên và hai trung liên bị phá huỷ3. Ta hy sinh 11 người, bị thương 33 người và mất hai súng trường.



Tuy không đạt được mục đích “tiêu diệt hoàn toàn Yên Bình Xã” nhưng ta đã tiêu hao, tiêu diệt được một số địch, đáng kể nhất là đã làm cho quân địch trong đồn Yên Bình Xã và các đồn xung quanh hoang mang lo sợ, tạo nên một yếu tố khó khăn trở ngại khi quân Pháp chuẩn bị mở cuộc tiến công thu đông mới. Đây là những trận đầu tiên ta hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh đánh địch trong cứ điểm, qua chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ đã trưởng thành thêm một bước và rút ra được những bài học quý báu cho những trận, những chiến dịch tiếp sau. Củng cố và gây được lòng tin trong quần chúng nhân dân.

Qua ba trận chiến đấu cũng bộc lộ rõ khuyết điểm:

Một là, xác định mục đích chiến dịch quá sức của ta (địch có 18 lính Pháp, ba trung đội lính Việt) ở mục tiêu chính (Yên Bình Xã), chưa kể lực lượng tiếp viện ở bên ngoài mà ta chỉ dùng có 145 người với trình độ và trang bị còn rất thấp kém.

Hai là, sử dụng binh lực rất phân tán. Quân số đã ít mà tổ chức ba mũi đánh chính, hai đến ba bộ phận nghi binh để tiến công Yên Bình Xã. Đồng thời lại tổ chức phục kích đánh viện trên năm địa điểm, binh lực quá phán tán nên không thể tiêu diệt được cứ điểm mà đánh viện cũng không đạt hiệu quả cao, chỉ có tính chất tiêu hao.

Ba là, tổ chức hiệp đồng giữa các cánh quân, các mũi, giữa bộ binh và pháo binh không chặt chẽ, chu đáo, bộ đội bị lạc hoặc đến chậm, do đó hiệu quả chiến đấu thấp, không đạt được mục tiêu đề ra.
______________________________________
1.Phần địa hình, thời tiết, dân cư không có gì thay đổi so với Chiến dịch Yên Bình Xã 1, nên không nêu lại ở đây.
2.Xem “Chiến dịch Yên Bình Xã 1”.
3.Ta thu bốn súng trường, 126 viên đạn, một lựu đạn và nhiều lương thực thực phẩm. Ta giải phóng được 70 gia đình gồm hơn 100 người bị địch tập trung ở Yên Bình Xã.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #8 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 09:26:49 PM »


CHIẾN DỊCH ĐÔNG BẮC 1
(Tiến công, từ ngày 8 tháng 10 đến ngày 7 tháng 12 năm 1948)


Đông Bắc Bắc Bộ có vị trí chiến lược rất quan trọng nên thực dân Pháp chiếm đóng rất sớm. Sau thất bại ở Việt Bắc Thu-Đông 1947, Pháp càng ra sức củng cố địa bàn này. Chúng đã xây dựng được mạng lưới tề điệp, thổ phỉ dày đặc, phát triển ngụy binh (trên 95 phần trăm là người địa phương), lập được một hệ thống cứ điểm ăn sâu vào nội địa; lợi dụng thực trạng nghèo nàn lạc hậu của đồng bào các dân tộc địa phương, địch thực hiện thủ đoạn thâm độc để chia rẽ dân tộc, kìm kẹp khống chế; thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”; trước mắt chúng thực hiện phong toả biên giới Việt - Trung để vừa ngăn chặn, vừa cô lập cách mạng Việt Nam, bảo vệ việc khai thác, vơ vét khu mỏ than trù phú và củng cố bàn đạp để tiến công Việt Bắc một lần nữa.

Cuối thu 1948, Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Đông Bắc nhằm mục đích: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, phá kinh tế và triệt đường tiếp tế cầm chân một bộ phận lực lượng của chúng để phá kế hoạch tiến công thu đông của chúng vào Việt Bắc. Lấy thắng lợi quân sự để củng cố cơ sở chính trị và phong trào chiến tranh du kích, chuẩn bị địa bàn hoạt động cho các đại đội độc lập sau khi quân chủ lực lui quân.

Phương châm của ta là: chủ động đánh thắng trận đầu, đánh liên tục. Bộ đội chủ lực tích cực đánh điểm, diệt viện, triệt phá giao thông và cơ sở hậu cần của địch; kết hợp với tác chiến của du kích, chia cắt địch để đánh từng bộ phận. Vừa đánh vừa xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có đủ sức chiến đấu bảo vệ địa bàn sau khi chủ lực rút.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Ba trung đoàn chủ lực của Liên khu 1 (98, 28 và 55), năm tiểu đoàn chủ lực của Bộ (ba tiểu đoàn độc lập: 215, 426, 517; tiểu đoàn 18 và tiểu đoàn 29 thuộc trung đoàn 308), một đại đội và một trung đội trợ chiến và toàn bộ dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch.

Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo, Bộ chỉ huy Liên khu 1 trực tiếp chỉ huy. Chỉ huy trưởng: đồng chí Lê Quảng Ba.

Địa hình Đông Bắc chủ yếu là đồi núi, có rất nhiều rừng rậm xen lẫn một số đồng bằng. Khu vực phía nam - tây nam (Đông Triều, Phả Lại đến Lục Nam, Lục Ngạn) là vùng đồi rừng, cây cối rậm rạp. Có ba trục đường chính: đường số 4 từ Móng Cái đến Lạng Sơn. Đường số 18 từ Phả Lại qua Đông Triều, Hòn Gai, Cẩm Phả nối liền quốc lộ 4 ở Tiên Yên. Đường số 13 từ Lục Nam nối quốc lộ 1 ở Bắc Giang, quốc lộ 18 ở Phả Lại, chạy lên hướng đông bắc qua An Châu, Lục Ngạn nối với quốc lộ 4 ở Đình Lập.

Địa bàn chiến dịch là khu tứ giác An Châu - Đình Lập - Tiên Yên - Hòn Gai rộng 1.800 km2 trong đó phân khu An Châu được chọn là khu vực chủ yếu của chiến dịch.

Vì thời gian chuẩn bị gấp nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định vừa đánh vừa chuẩn bị vật chất hậu cần, trước mắt ưu tiên tập trung chuẩn bị cho hướng An Châu. Do đó, trước giờ nổ súng, hậu cần đã chuẩn bị tương đối đủ gạo và đạn cho hướng An Châu, Đồng Dương, Tuấn Đạo.

Về công tác chính trị, lần này cơ quan chính trị được thành lập để giúp việc đắc lực cho Bộ chỉ huy chiến dịch lãnh đạo, động viên tinh thần bộ đội khắc phục khó khăn, chiến đấu liên tục. Bộ chỉ huy cũng đã thành lập ban gây dựng cơ sở, tiến hành vũ trang tuyên truyền ở nhiều nơi, đã củng cố được những cơ sở cũ, xây dựng được một số cơ sở mới, động viên được tinh thần của cán bộ dân chính địa phương và nhân dân tích cực tham gia phục vụ chiến dịch. Đồng thời đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền làm lung lạc, hoang mang tinh thần bọn thổ phỉ; giác ngộ được một số lính ngụy tình nguyện làm nội ứng khi ta đánh đồn.

Chiến dịch chia làm hai đợt:

Đợt 1 (từ ngày 8 đến 30 tháng 10). Trước ngày mở màn ta hoạt động tạo thế (sau ba lần đánh), diệt căn cứ thổ phỉ Trại Thán để triển khai lực lượng.

Ngày 8 tháng 10, ta đồng loạt nổ súng tập kích An Châu, Đồng Dương, Tuấn Đạo, Sông Rang. Ta tiêu diệt được cứ điểm Đồng Dương, bức rút ba vị trí Sông Rang, Tuấn Đạo và đồn Dấn. Nhưng không thành công trong việc tiêu diệt cứ điểm chính An Châu (chỉ chiếm được hai phần ba). Ta thu được ba trung liên, 20 súng trường, ba vạn đồng Đông Dương, phá huỷ một đại liên, ba trọng liên 12,7mm. 10 ngày sau, quân dù Pháp nhảy xuống Mai Siu tiến về An Châu. Ta bỏ lỡ cơ hội diệt viện binh địch. Cùng lúc, tỉnh Hồng Quảng phát động hai đợt đấu tranh của nhân dân, phá 2.000 mét đường, cắt năm vạn mét dây điện thoại, diệt 27 địch, làm bị thương 6 tên, gọi hàng 114 tên, thu hàng trăm súng và giải tán trên 95 phần trăm hội tề. Từ 9 đến 30 tháng 10 ta đánh nhiều trận nhỏ, quấy rối, phục kích địch trên đường 13. Ngày 1 tháng 11 ta tiêu diệt cứ điểm Đồng Khuy.

Đợt 2 (từ 31 tháng 10 đến 7 tháng 12). Sau đợt 1, địch đã phản ứng quyết liệt, chúng tổ chức tiến công khu tự do Ái Quốc, cho quân dù nhảy xuống Mai Siu càn quét đánh phá căn cứ của ta, sau đó chúng tiến về An Châu. Đồng thời chúng tăng cường sục sạo kiểm soát ở Làng Bang, phòng thủ Hòn Gai, Đình Lập, Tiên Yên, Khe Tù; tổ chức hành quân ngăn chặn và phá kế hoạch tiếp tế của ta. Ta gặp khó khăn, không đột nhập được vào vùng tạm chiếm để gây cơ sở và khai thác hậu cần tiếp tế cho bộ đội. Do đó ta không thực hiện được kế hoạch phát triển chiến dịch theo hướng Hòn Gai, Tiên Yên, mà phải chuyển sang khu vực Khe Cháy, Pắc Lang, Châu Sơn. Nhưng do chuyển hướng gấp, bộ đội chuẩn bị chưa đầy đủ nên cả hai lần tiến công, tiểu đoàn 29 và 215 không dứt điểm được Khe Cháy. Ngày 25 tháng 11, tiểu đoàn 18 tiến công Khe Mó cũng không thành công. Ngày 29 tháng 11, các tiểu đoàn 29 và 426 đánh viện nhỏ. Ta tiếp tục tiến công Pắc Lang, Châu Sơn và phá hoại đường số 4 nhưng kết quả không cao. Tình hình bảo đảm hậu cần khó khăn. Bộ đội ốm đau, sức khoẻ giảm sút nhiều. Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch ngày 7 tháng 12.

Kết quả: Ta tiêu diệt được hai cứ điểm Đồng Dương và Đồng Khuy, đánh thiệt hại nặng phân khu An Châu, bức rút bảy vị trí; diệt 150 địch, (có một quan tư Pháp) làm bị thương tám tên. Ta thu 48 súng trường, ba trọng liên 12,7mm, phá huỷ hai xe bọc thép, đốt cháy hai kho lương thực. Ta thực hiện đánh vào khu vực địch vẫn coi là “tuyệt đối an toàn”, góp phần phá kế hoạch tiến công thu đông của chúng. Ta hy sinh và bị thương hơn một đại đội.



Lần đầu tiên ta mở chiến dịch quy mô xấp xỉ bốn trung đoàn chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn rộng, địa hình khá đặc biệt và xa hậu phương trong thời gian gần hai tháng. Ưu điểm nổi bật là sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, nhất là giai đoạn chuẩn bị chiến dịch. Do đó đã phát huy được tác dụng của các đại đội độc lập và các lực lượng vũ trang địa phương, đội tuyên truyền, gây được cơ sở chính trị tốt trong quần chúng nhân dân; việc chuẩn bị chiến dịch khá chu đáo và đã có “bài bản”. Cũng lần đầu tiên ta biết dự kiến chủ động chia chiến dịch thành nhiều đợt có nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể cho từng đợt để có điều kiện củng cố bộ đội khi chiến đấu dài ngày.

Thiếu sót lớn nhất của ta là chưa biết tạo điều kiện đảm bảo chắc thắng cho trận mở đầu. Không chọn vào chỗ yếu mà chọn An Châu là cứ điểm mạnh; trong khi đó kế hoạch dứt điểm bằng đánh kỳ tập nhưng không dự kiến tình huống nhân mối bị lộ, phải chuyển sang đánh cường tập thì binh lực, hoả lực phải tập trung đến mức nào, do đó không dứt điểm được An Châu. Ta cũng không dự kiến và có kế hoạch cụ thể đánh quân tăng viện bằng đường không, nên khi địch nhay dù xuống Mai Siu (trung tâm chiến dịch) ta bỏ lỡ thời cơ diệt địch, kể cả khi chúng tiến về An Châu. Đợt 2 cũng không dự kiến hết các tình huống nên khi chuyển hướng tiến công đột ngột, bộ đội không chuẩn bị kịp, do đó các mục tiêu tiến công đều không thành công. Chiến dịch kết thúc trong thế bất lợi và bị động.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #9 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2012, 09:28:34 PM »


CHIẾN DỊCH QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG
(Tiến công, từ ngày 24 tháng 1 đến ngày 30 tháng 3 năm 1949)


Năm 1948 và đầu 1949, cảng lớn Đà Nẵng trở thành đầu cầu tiếp nhận người, phương tiện chiến tranh phục vụ cho kế hoạch bình định Đông Dương của thực dân Pháp. Do đó, quốc lộ 1 trở thành tuyến giao thông chiến lược cực kỳ quan trọng đối với quân Pháp, trong đó đoạn đường chạy từ Đà Nẵng ra Huế qua đèo Hải Vân vừa độc đạo, vừa rất hiểm trở đã trở thành “yết hầu” vô cùng hiểm yếu đối với địa bàn chiến lược bắc Trung Bộ, Bình - Trị - Thiên và kể cả với nam Khu 4.

Trước tình hình trên, đầu năm 1949, Bộ chỉ huy Liên khu 5 chủ trương mở chiến dịch “Quảng Nam - Đà Nẵng” nhằm mục đích: đánh giao thông, làm tê liệt đoạn đường Đà Nẵng - Hải Vân - Huế. Tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu khối ngụy quân, ngụy quyền; đồng thời thông qua chiến đấu nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội và dân quân du kích, xây dựng lực lượng vũ trang của quân khu.

Phương châm tác chiến là: Kết hợp các hình thức chiến thuật, trong đó chủ yếu là đánh phục kích, đi đôi với phá đường, làm tê liệt giao thông của địch. Tập kích, bao vây quấy rối các đồn bốt, vừa uy hiếp vừa tiêu hao, tiêu diệt và triệt tiếp tế của địch. Đẩy mạnh công tác binh vận địch vận. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng để đạt được hiệu suất chiến đấu cao, thực hiện được mục đích chiến dịch.

Lực lượng tham gia chiến dịch: Trung đoàn 108 chủ lực của Liên khu, được tăng cường có tiểu đoàn 19 và 79; hai đại đội độc lập và lực lượng dân quân du kích.

Chỉ huy: Bộ tư lệnh Liên khu 5. Chỉ huy trưởng: Nguyễn Bá Phát; Chính uỷ Nguyễn Quyết.

Địa bàn chiến dịch trải dài từ thị xã Hội An về thành phố Đà Nẵng, qua đèo Hải Vân ra giáp Huế. Từ Hội An về Đà Nẵng trừ khu vực núi đá Ngũ Hành Sơn, còn lại địa hình bằng phẳng, đồng ruộng, phố xá, làng mạc liên tiếp nhau, dân cư đông đúc. Quân ta dễ ém quân trong dân và trong căn cứ Ngũ Hành Sơn để ra tập kích, phục kích đánh địch. Từ Đà Nẵng ra Huế là đường đèo Hải Vân hiểm trở. Một bên là vực thẳm tiếp giáp biển Đông, một bên nối liền với dãy núi chạy theo hướng đông tây, rất thuận lợi cho quân ta đánh xong rút lui lên phía tây nhập vào đại ngàn đông Trường Sơn.

Lực lượng địch trên địa bàn có 5.000 quân (gồm một tiểu đoàn Ma-rốc; một tiểu đoàn hỗn hợp quân lê dương và quân ngụy; một tiểu đoàn (gồm một đại đội cơ giới một đại đội pháo, một đại đội cơ động); lực lượng thường trực ở sân bay Đà Nẵng có năm máy bay oanh tạc và một đại đội dù (trong đó có 60 phần trăm là lính Pháp và Đức, 20 phần trăm lính thuộc địa và 20 phấn trăm lính ngụy). Quân địch đóng trên 63 vị trí, chia thành ba phân khu. Phân khu Nam, phân khu Bắc và phân khu Chỉ huy. Lô cốt ở các vị trí xây bằng gạch. Thủ đoạn đóng quân kết hợp hành quân càn quét là chủ yếu, khi cần ứng chiến ở gần thì dùng một trung đội, ở xa dùng hai trung đội.

Để đảm bảo cho chiến dịch, Bộ chỉ huy dự kiến phải huy động được 15 tấn gạo, trong đó cần đưa đến Trung Man tám tấn, Khe Sô ba tấn rưỡi và Hải Vân ba tấn. Nhân dân trong vùng đã và đang chịu đựng nhiều thảm họa do địch gây ra, nhưng bộ đội đã cùng với các huyện ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền vận động nhân dân tìm mọi cách vượt lên gian khổ, khắc phục khó khăn, dành dụm đóng góp gạo cho bộ đội đánh giặc. Phụ nữ và thiếu nhi vùng tây bắc Hoà Vang lấy củi, bắt tôm cá bán lấy tiền mua gạo; nhiều bà con bí mật xuống thành phố Đà Nẵng mua gạo để gửi lên chiến khu cho bộ đội, v.v... Tuy đường xa, địch lại phong toả, nhưng sát ngày nổ súng, nhân dân Hoà Vang vẫn đưa được bảy tấn gạo đến khu vực đèo Hải Vân.

Trong thời gian chuẩn bị chiến trường, du kích và bộ đội địa phương Hoà Vang đã bám đánh địch suốt một tháng, đẩy lùi hai tiểu đoàn địch ra khỏi địa bàn cho bộ đội vào tập kết theo kế hoạch để đánh địch cơ động trên đèo Hải Vân. Dân quân du kích các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An, Đà Nẵng liên tục quấy rối tiêu hao địch để đánh lạc hướng chú ý của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chuẩn bị chiến đấu trên các hướng dự kiến.

Ngày 5 tháng 1 năm 1949, lực lượng của thị đội và công an xung phong thị xã Hội An đột nhập vào thị xã tiến công khống chế đồn Nghè Thạch và bắt tên tỉnh trưởng Hồ Ngận cùng hai tên cán bộ ngụy quyền quan trọng của thị xã Hội An (do Pháp vừa cử lên), gây hoang mang lớn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp ở trong vùng.

Chiến dịch (đợt hoạt động) chia làm ba đợt:

Đợt 1 (từ 24 tháng 1 đến 9 tháng 2 năm 1949): 6 giờ ngày 24 tháng 1, một đoàn tàu quân sự gồm một đầu máy và 12 toa xe chở đầy lính từ Đà Nẵng chạy ra Huế. Đến đoạn hầm số hai trên đèo Hải Vân bị tiểu đoàn 79 dùng lượng nổ lớn đánh lật nhào cả đoàn tàu. Bộ đội tràn lên đánh giáp lá cà tiêu diệt binh lính địch.

7 giờ, một đoàn xe vận tải 18 chiếc, có xe bọc thép hộ tống, từ Đà Nẵng chạy ra Huế, lên khu vực đèo Hải Vân đã lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 19 (ở phía nam đồn Nhất), trong loạt súng đầu tiên, quân ta tiêu diệt ba chiếc xe đi đầu. Đoàn xe địch dừng lại, bọn địch trên xe bọc thép chống cự bị quân ta bám sát bắn mãnh liệt, địch phải quay đầu tháo chạy, ta diệt thêm ba xe và nhiều binh lính địch.

12 giờ, một đoàn xe 12 chiếc từ Huế vào tiếp viện. Đến cầu Rô-zê1, từ trên các xe 200 lính Pháp nhảy xuống dàn đội hình chiến đấu, các đơn vị chặn viện nổ súng xung phong. Địch liên tục nổ súng chống trả, tổ chức phản xung phong bốn lần đều bị quân ta bẻ gãy, 40 lính Pháp bị ta tiêu diệt tại chỗ, quân địch tháo chạy. Đến xế chiều quân ta rút về vị trí tập kết. Chỉ huy Pháp ở Đà Nẵng cay cú huy động một tiểu đoàn Âu - Phi, triển khai bao vây từ Quan Nam, eo ngựa Khe Sô, qua đèo Mũi Trâu và suốt hữu ngạn sông Trường Định hòng tiêu diệt lực lượng ta ở vùng tây bắc Hoà Vang. Để triệt đường quân ta vượt sông Trường Định, địch thu hết ghe thuyền của dân tập trung về đồn bốt phá huỷ, đồng thời nhấn chìm một số khác ở sông Cửa Cấm và ra lệnh thiết quân luật cả vùng tây bắc Hoà Vang không cho bất kỳ ai qua sông. Địch hy vọng quân ta bị bao vây chặt, bị đói, phải ra hàng.

Đêm 27 tháng 1, dưới sự lãnh đạo của huyện uỷ Hoà Vang và chi uỷ các xã vùng tây bắc Hoà Vang, nhân dân đã gom được 30 thuyền. Một lực lượng quân ta bí mật bơi qua sông, tập kết ở Nam Ô để nghi binh, tạo điều kiện cho lực lượng vượt sông Trường Định. Các mẹ, các chị lo tiếp tế, các em thiếu nhi dẫn đường, dân quân du kích cảnh giới và canh gác. Để phối hợp, các đội du kích Hoà Vang nổ súng vào các đồn bốt xung quanh để kiềm chế địch. Nhân dân toàn huyện nổi thanh la, trống mõ để phô trương thanh thế và đánh lạc hướng địch. Hơn 1.800 cán bộ, chiến sĩ, 28 cáng thương binh đã vượt khỏi vòng vây địch, lui quân thắng lợi. Mờ sáng 28 tháng 4, nhân dân lùa trâu bò ra đồng, xoá dấu vết, giữ bí mật đường lui quân của bộ đội.

Đợt 2 (từ 9 tháng 2 đến 15 tháng 3): Các đơn vị chủ lực của Liên khu không tổ chức đánh các trận lớn, mà liên tục kết hợp với dân quân du kích và tự vệ tổ chức nhiều trận nhỏ đánh tập kích vào các vị trí địch khắp trên địa bàn từ thị xã Hội An về thành phố Đà Nẵng và từ Đà Nẵng ra sát Huế. Trong đó vẫn chú trọng đánh giao thông bằng địa lôi, mìn tự tạo và phục kích nhỏ. Đợt hoạt động này chủ yếu làm hậu thuẫn cho việc phát triển chiến tranh du kích và xây dựng các đội võ trang (du kích thoát ly, bộ đội địa phương huyện). Ta đã xây dựng được mỗi xã có một tiểu đội du kích thoát ly (chuyên trách việc đánh địch, thoát ly hẳn việc sản xuất, dân nuôi để tập trung đánh giặc); mỗi huyện có từ 16 tiểu đội du kích thoát ly trở lên. Bộ đội và dân quân du kích đánh mạnh làm các tuyến giao thông của địch liên tục bị tê liệt. Sự vận chuyển của quân Pháp thường xuyên bị bế tắc, nhất là trên tuyến giao thông chiến lược quốc lộ 1A.

Đợt 3 (từ 15 đến 31 tháng 3): Quân ta thực hiện phá hoại và “Tổng phá hoại”, đã tổ chức nhiều trận phục kích trên các tuyến đường, đặc biệt là tuyến quốc lộ 1 - Hải Vân. Đi đôi với tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch trên cả đường bộ và đường sắt, quân ta đã đánh sập hai cầu trên đường xe lửa, phá trên 200 mét đường sắt, phá hỏng nặng nhiều đoạn đường bộ, làm chủ đoạn đèo Hải Vân, cắt đứt việc cơ động vận chuyển của địch. Pháp phải huy động một tiểu đoàn Âu-Phi thực hiện cuộc hành quân càn quét hòng đẩy quân ta ra khỏi khu vực đèo, giải toả tuyến giao thông Hải Vân. Bộ đội ta phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích và tự vệ địa phương tổ chức nhiều trận địa hiểm hóc trên suốt dọc 10 km đường đèo, liên tục chặn đánh; cùng lúc kết hợp việc đột nhập, tập kích thẳng vào một số vị trí địch ở thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An, buộc địch ở khu vực đèo Hải Vân phải lui quân. Dân quân du kích khắp vùng hoạt động mạnh, chống càn, quấy rối các đồn bốt và đánh địa lôi chim sẻ trên các tuyến giao thông. Sau đó cùng với nhân dân địa phương giúp đỡ phương tiện cho bộ đội vượt sông, vượt biển, rút về khu tập kết an toàn.

Cuối tháng 3, theo lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, tiểu đoàn 19 ra phối hợp với lực lượng vũ trang ở nam Thừa Thiên đánh thắng một số trận ở La Vang, Cầu Hai, Nước Ngọt... góp phần phát triển chiến tranh du kích trên địa bàn huyện Phú Lộc. Các đơn vị còn lại thực hiện phân tán đánh nhỏ, hỗ trợ cho phong trào du kích ở khắp vùng từ nam Thừa Thiên vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng và ra đến ven biển Hội An.

Đêm 30 tháng 3 năm 1949, tiểu đoàn 79 do tiểu đoàn trưởng Võ Thứ chỉ huy, phối hợp với một đại đội của tiểu đoàn 19, bí mật phục kích tài Gò Cà, nằm trên đường Ái Nghĩa đi Tuy Loan. Ta thực hiện nghi binh nhử địch. Sáng 3 tháng 2, một đoàn xe địch chở đầy lính Âu Phi từ Đà Nẵng lên Tuy Loan, Gò Cà, đã lọt vào trận địa phục kích. Quân ta bất ngờ đồng loạt nổ súng, địch trên xe hoảng hốt nhảy xuống tháo chạy. Bộ đội ta truy kích. Nhân dân quanh vùng Đại Hiệp, Hoà Khương mang gậy, cuốc, dao, rựa đuổi đánh địch khắp cánh đồng. Kết thúc trận đánh, ta tiêu diệt hoàn toàn đại đội Ta-bo Âu Phi và 14 xe cơ giới. Ở địa bàn phối hợp, đại đội 8 bộ đội địa phương Điện Bàn do đại đội trưởng Đỗ Phúc Đáp chỉ huy, dùng hình thức “phục kích, độn thổ” trên đường 100 từ Bình Long đi Phong Thử, diệt hai tiểu đội, thu một trung liên và một số súng trường. Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc chiến dịch.

Kết quả: Qua hai tháng chiến đấu, ta đã đánh 299 trận lớn, nhỏ (có 163 trận phục kích, 27 trận tập kích, 51 trận quấy rối); diệt 660 địch, có một quan tư, 18 quan ba. Ta phá huỷ tám đầu máy xe lửa, 22 toa xe, 20 xe vận tải, hai xe thiết giáp, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, trong đó có 24 tiểu liên, 155 súng trường. Ta hy sinh và bị thương 79 người.

Chiến dịch đã đạt được mục tiêu đề ra, quân ta giữ được quyền chủ động tác chiến trên toàn vùng, đánh phá liên tục và quyết liệt làm tê liệt tuyến giao thông chiến lược của địch nhiều đợt trong nhiều ngày. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Ta đã giữ được yếu tố bí mật bất ngờ; kết hợp khá chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang trên toàn địa bàn (chủ lực Khu bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ chiến đấu). Nét đặc sắc ở đây là sự kết hợp hài hoà giữa các hình thức chiến thuật: đánh phục kích, tập kích với chống càn, quấy rối, đánh phá giao thông, đạt được hiệu suất chiến đấu cao vừa tiêu hao, tiêu diệt địch, vừa giữ gìn và bồi dưỡng, rèn luyện được lực lượng ta. Qua chiến đấu đã phát triển được phong trào chiến tranh du kích gây được cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, nhất là quanh thị xã Hội An và thành phố Đà Nẵng.

Song, bao quát cả hai tháng chiến đấu thì lực lượng chủ lực đánh còn ít. Phần lớn các trận chiến đấu của các lực lượng còn nặng về lối đánh du kích, trong đó đánh phục kích để ngăn chặn, phá hoại giao thông và tiêu hao, tiêu diệt quân địch cơ động trên tuyến giao thông là chủ yếu. Chưa hình thành rõ lối đánh chính quy, bài bản, do đó nghệ thuật chiến dịch chưa bộc lộ rõ nét.
____________________________________
1.Ngày 15 tháng 5 năm 1947, quân ta diệt tên quan năm Rô-zê (Roger) Pháp tại cầu này, từ đó quân ta quen gọi là cầu Rô-zê.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM