Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 05:10:35 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 103192 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #190 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2012, 09:38:49 AM »

Ở Củ Chi, các lực lượng tại chỗ và quần chúng tích cực phối hợp với lực lượng trên. Sáng 29 tháng 4, trong khi bộ đội chủ lực đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, quần chúng ở các xã Tân An Hội, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Phước Hiệp, Phước Thạnh, Tân Thạnh Đông, Trung An, Phú Hòa Đông… được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương, đã nổi dậy chiếm các trụ sở của địch, truy lùng ác ôn, giải tán phòng vệ dân sự. Má Nguyễn Thị Rành, người mẹ của 8 người con và 2 cháu nội là liệt sĩ, tự tay treo lá cờ đỏ sao vàng lên cây điệp đầu ấp Phước Hào, xã Phước Hiệp, nơi 30 năm trước (1945), chính má đã treo lá cờ cách mạng kêu gọi đồng bào đứng lên làm cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. Ở xã Trung Lập, đồng bào xông vào chiếm các bót Trung Hưng, Trung Hòa, Lào Táo, cắm cờ chiến thắng. Má Năm tuổi già sức yếu đã phát động trên 200 người vùng lên truy bắt ác ôn, cắm cờ trên bót. Ở các xã khác, nhân dân hù dọa binh lính, chúng bỏ chạy. Ở một vài xã, địch ngoan cố chống cự, du kích và quần chúng có vũ trang phải nổ súng buộc chúng đầu hàng.

Trưa ngày 29 tháng 4 lực lượng vũ trang Củ Chi kết hợp với nhân dân ác xã xung quanh thị trấn tiến vào quận lị Củ Chi. Đồng bào trong thị trấn nổi dậy hỗ trợ lực lượng ngoài vào. Má Nguyễn Thị Lành cùng đồng bào lao động ở thị trấn xông vào chiếm chi cảnh sát Tân An Hội và dinh quận Củ Chi, hạ cờ ba sọc, treo cờ xanh đỏ sao vàng. Nhân dân phối hợp lực lượng vũ trang lùng bắt ác ôn. Quận trưởng và quận phó quận Củ Chi đều bị bắt. Đêm 29 tháng 4 toàn bộ chính quyền và quận đến xã ở Củ Chi đều về tay nhân dân, tuy địch còn nhiều đồn bót.

Trên hướng đoàn 232 (Tây và Tây Nam) ngày 29 tháng 4 sư đoàn 3 đánh chiếm tỉnh lị Hậu Nghĩa, đánh chiếm bức rút thêm một chi khu, 28 đồn bót, 7 tua, cùng địa phương giải phóng toàn huyện Đức Hòa. Sư đoàn 3, đêm 29 đã triển khai đội hình thọc sâu xuống sát ngoại ô. Trung đoàn đặc công thuộc đoàn 117 cùng 1 tiểu đoàn thuộc đoàn 429 đánh chiếm được khu rada Phú Lâm, một phần khu Bà Hom, Tân Tạo trên đường 10, bắn 100 đạn ĐKB vào sân bay Tân Sơn Nhất. Trung đoàn 16 áp sát cầu An Lạc, cầu Bình Điền trên quốc lộ 4. Bộ đội địa phương Bình Chánh đánh chiếm các chi khu Tân Túc, Tân Hòa và một số xã khác.

Tiểu đoàn 197 đặc công biệt động ém quân tại ấp Hưng Nhơn, xã Tân Kiên (Bình Chánh).

Sư đoàn 5 và sư đoàn 8 tiếp tục cắt hẳn quốc lộ 4, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch.

Trung đoàn 88 đã chiếm được lộ 5, bắc cầu Ông Thìn, Trung đoàn 24 tiến về cầu Chữ Y.

Tiểu đoàn 198 và tiểu đoàn 78 của trung đoàn 429 đặc công, sáng 29 tháng 4 đánh chiếm các bót Bình Hưng, làm chủ bót Kí Thủ Ôn và cầu Nhị Thiên Đường (quận 8). Địch phản công chiếm lại được cầu Nhị Thiên Đường và bót Kí Thủ Ôn. Quân ta tạm lui trở ra.

Ở Duyên Hải, ngày 29 tháng 4, nhân dân ấp An Nghĩa nổi trống mõ hò la vang dậy, lính địch ở đây hoảng sợ vứt súng, bỏ chạy.

Ở Nhà Bè, chiều ngày 29 tháng 4, lực lượng vũ trang địa phương cùng nhân dân nổi dậy chiếm trụ sở ấp 5 xã Long Hậu.

Ở quận 11, suốt đêm 28 và ngày 29 tháng 4 lực lượng vũ trang cùng với nhân dân, lùng diệt ác ôn, hù dọa địch gây khí thế nổi dậy ở phường, khóm. Tối ngày 29 tháng 4 tự vệ và nhân dân phường Bình Thới chiếm trụ sở khóm 4 và khóm 6.

Ở quận 6, lực lượng vũ trang quân khu bám trụ trong các phường từ trước, đêm 28 tháng 4 bí mật tập kết ở phường Bình Phú, 6 giừ sáng ngày 29 tháng 4 chặn đánh một đại đội bảo an ngụy từ hãng sơn kéo xuống. Địch lồng lộn, liên tục phản kích, 30 chiến sĩ ta anh dũng đánh trả suốt ngày 29 tháng 4, giữ vững trận địa, đánh tan đại đội ngụy.

Cánh A của Thành ủy tập kết ở bờ sông Vàm Cỏ Tây từ đêm 29 tháng 4 kế tiếp nhau luồn vào thành phố theo ngõ Bà Hom. Trước sáng 30 tháng 4 đã có 32 điểm quần chúng nổi dậy ở ven và trong thành phố Sài Gòn.

Rạng 29 ngày 30 tháng 4 máy bay lên thẳng Mĩ hối hả lao xuống những mái nhà cao tầng trong thành phố chở người Mĩ, sĩ quan và nhân viên ngụy quyền di tản. Ở Bộ Tổng tham mưu ngụy, các đơn vị bảo vệ đã tan rã, các trưởng phòng Bộ Tổng tham mưu ngụy đã chạy, không còn người chỉ huy. Nhiều đơn vị phòng thủ quanh Sài Gòn tan rã, một số đơn vị vẫn ngoan cố như 2 tiểu đoàn dù đang chốt chặn ở ngã tư Bảy Hiền còn chống cự mạnh. Dương Văn Minh ra lệnh cho Vĩnh Lộc phải giữ cho được trung tâm phát tin Phú Lâm, Quán Tre và hi vọng đại sứ Pháp, Thích Trí Quang liên lạc với Mặt trận Dân tộc Giải phóng để tìm giải pháp chính trị…

23 giờ ngày 29, chỉ còn 6 tiếng đồng hồ nữa là đến giờ tổng công kích vào Sài Gòn. Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh sau khi tính toán lại cuộc tiến quân trên các hướng, đã điện bổ sung cho quân đoàn 3 đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy, coi đó là nhiệm vụ chính của quân đoàn, không phải nhiệm vụ hiệp đồng như trước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #191 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:47:09 AM »

*
*   *

Sáng ngày 30 tháng 4, chiến dịch Hồ Chí Minh vào giai đoạn cuối cùng: Hiệp đồng các cánh, các hướng, đánh chiếm các mục tiêu nội đô, giải phóng Sài Gòn.

Trên hướng Bắc - Tây Bắc: Quân đoàn 1 diệt căn cứ Phú Lợi, chặn diệt một bộ phận sư đoàn 5 ngụy tại An Lợi trên đường số 2, đến chiều cùng với với lực lượng địa phương đánh tiêu diệt bộ phận sư đoàn 5 còn lại tại căn cứ Lai Khê. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ, tư lệnh sư đoàn 5 tự sát, toàn bộ cơ quan tham mưu sư đoàn bị tóm gọn. Lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy bức địch trong thị xã Thủ Dầu Một đầu hàng, giải phóng thị xã.

8 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4, sư đoàn 320 chia 2 mũi: mũi trung đoàn 48 thọc sâu đánh diệt lữ đoàn 3 kị binh tại Bắc cầu Bình Triệu, sau đó tiếp tục phát triển về hướng Bộ Tổng tham mưu ngụy. Mũi trung đoàn 27 sáng ngày 30 tháng 4 cùng với lực lượng địa phương diệt địch ở Lái Thiêu để mở đường phát triển qua cầu Bình Phước (do trung đoàn đặc công 115 đã đánh chiếm lại và đang giữ). Đến 10 giờ 30 phút cùng một bộ phận lữ đoàn đặc công biệt động 316 đánh chiếm các căn cứ Cổ Loa, Phù Đổng (Bộ tư lệnh pháo binh và Bộ tư lệnh thiết giáp) và chiếm cầu An Phú Đông.

Sáng ngày 30 tháng 4, pháo binh quân đoàn 3 bắn vào Bộ tư lệnh quân dù, Bộ tư lệnh thiết giáp, Bộ tư lệnh không quân và Sở chỉ huy sư đoàn 5 không quân, yểm trợ cho bộ binh, xe tăng từ Bà Quẹo tiến vào. Địch dùng quân dù và xe tăng kết hợp với máy bay cất cánh từ sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) lên ném bom ngăn chặn ta từ ngã ba Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả. Trung đoàn 24 xe tăng quân đoàn bị thương vong nhiều. Bộ tư lệnh quân đoàn phải tăng cường pháo 85mm cho trung đoàn 24 bắn thẳng diệt các ổ đề kháng và xe tăng địch, yểm trợ cho bộ binh đánh tan lực lượng ngăn chặn của địch. Giữa bom đạn mù mịt, nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Thị Trung Kiên mang AK đeo băng đỏ ra đứng trước đoàn xe tăng trung đoàn 24 phát tín hiệu người dẫn đường và lên xe hướng dẫn trung đoàn 24 tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất, theo 2 cổng số 4 và 5. Trung đoàn lần lượt đánh chiếm khu thông tin, sở chỉ huy sư đoàn 5 không quân. Bộ tư lệnh dù, Bộ tư lệnh không quân… của địch. Đến 11 giờ 30 phút ta đã đè bẹp các ổ chống cự của địch trong sân bay, đến 13 giờ trung đoàn 24 hoàn toàn làm chủ toàn bộ sân bay.

Tại Bộ tổng tham mưu, trước khi đại quân ta vào tới, đội biệt động Z28 (lữ đoàn 316 đặc công biệt động) do đồng chí Bảy Vinh chỉ huy, có đội biệt động Z32 hỗ trợ (do đồng chí Ba Đen chỉ huy), cùng đội trinh sát lữ đoàn 316 tiến vào cổng số 1 không thành công, kịp thời chuyển sang cổng số 3. Địch ở đây bỏ chạy, ta phát triển sâu vào Khu Điện toán. Đại tá giám đốc trung tâm điện toán Chu Văn Hồ nộp nguyên vẹn cơ sở trung tâm cho Z28. Các đơn vị trên tiếp tục tiến vào sân lớn trước nhà chỉ huy Bộ tổng tham mưu. 6 trinh sát lữ đoàn 316 hạ cờ địch treo cờ Cách mạng. trong khi đó trung đoàn 28 và tiểu đoàn 2 xe tăng thuộc trung đoàn 273, 2 đại đội công binh và trinh sát, 1 tiểu đoàn cao xạ đi cùng, diệt các ổ đề kháng của địch, đánh chiếm Bộ tổng tham mưu từ phía cổng chính (cổng số 1) và vượt qua chiếc xe tăng 927 và xe thiết giáp 001 tiến tới đứng chặn trước thềm nhà Bộ tổng tham mưu, chi viện cho 2 xe tăng 819 và 872 tiến công trong khi Z28, Z32 lữ đặc cộng biệt động 316 và trung đoàn 48 sư đoàn 320B (quân đoàn 1) đã làm chủ một bộ phận lớn căn cứ Bộ tổng tham mưu phía cổng 3, cổng 2. 11 giờ 30 phút, Trần Lưu và Nguyễn Duy Tân, Đại đội 10, trung đoàn 28 thuộc sư đoàn 10 thượng lá cờ giải phóng lớn ở cột cờ và trên nhà Bộ tổng tham mưu ngụy. Hạ sĩ Minh (Ba Minh), một đảng viên mà cơ quan tình báo Miền đã cài vào làm việc trong Bộ tổng tham mưu từ trước, đã ra đón quân ta, bàn giao chùm chìa khóa với toàn bộ tài liệu, tài sản còn nguyên vẹn.

Cùng hướng với quân đoàn 1, sáng ngày 30 tháng 4 trung đoàn đặc cộng 115 từ hướng Đông Bắc sân bay Tân Sơn Nhất tiến chiếm xưởng quân cụ, các trại Phan Sáo Nam, cựu chiến binh Phan Chu Trinh, Nguyễn Trường Tộ và phát triển về ngã năm Chuồng Chó. Trong lúc đó, lực lượng tại chỗ đã giải phóng toàn bộ xã Tân Thới Hiệp. Hàng trăm người cùng bộ đội địa phương và du kích bao vây, kêu gọi tề xã phân chia khu Ba Thông và lực lượng bảo an ở Thanh Lộc đầu hàng. Đến 9 giờ sáng, nhân dân làm chủ phường 2 thị trấn Gò Vấp. Ở nhiều xã như An Phú Đông, Nhị Bình, An Nhơn, Đông Tây Hội… chớp thời cơ địch hoang mang, tan rã, đồng bào nổi dây tự giải phóng ấp mình. Ở Phú Nhuận, sáng 30 tháng 4 theo lệnh trên, tiểu đoàn 195 (trung đoàn Gia Định 1) bao vây, bức hàng 3000 tàn quân ngụy binh từ Đồng Dù, Hậu Nghĩa chạy về co cụm ở Phú Tuất giáp Đức Hòa (Long An). Hỏa lực tiểu đoàn 195 sẵn sàng tiêu diệt bọn này nếu chúng chống cự. Đến 15 giờ toàn bộ cụm này đầu hàng (có 13 sĩ quan cấp tá), ta thu trên 2000 súng các loại, 80 máy thông tin… Trong khi đó, phần lớn lực lượng trung đoàn Gia Định 1 đã phát triển về hướng Ngã tư Bảy Hiền. Sau khi để lại 2 đại đội chiếm giữ trại Quang Trung và Thành Quan Năm, lúc 9 giờ 30 ngày 30 tháng 4 trung đoàn tiến chiếm khu vực bệnh viện Vì Dân, phát triển vào nội thành theo đường Lê Văn Duyệt tiến cộng trại Nguyễn Trung Hiếu, đánh tan một tiểu đoàn dù ngụy, thu hàng trăm súng. Trung đoàn Gia Định 2 sáng 30 tháng 4 từ hướng Đông thị trấn Hóc Môn phát triển về hướng Đông Bắc trại Quang Trung, bộ phận đi đầu đụng tao ngộ với địch, diệt, bắt sống, thu chiến lợi phẩm; đến 18 giờ toàn trung đoàn làm chủ và chiếm giữ nhiều mục tiêu thuộc tiểu khu Gia Định.

Quân dân Củ Chi, Tân Bình kịp thời, chủ động phối hợp chủ lực một cách có hiệu quả.

Tại Củ Chi, lực lượng vũ trang địa phương sát cánh với bộ đội quân đoàn 3 tiến cộng truy lùng địch. Chị Lê Thị Sương, chí trị viên đội nữ du kích Củ Chi, đã phát hiện và bắt sống chuẩn tướng Lí Tòng Bá, sư trưởng sư đoàn 25 ngụy, lúc y đang rúc trong một đám ruộng lúa với độc một chiếc quần cộc.

Du kích Tân Phú Trung xung phong dẫn đường cho trung đoàn 198 đánh chiếm cầu Bông, cầu Xáng và chặn đánh tàn binh địch không cho chúng chạy vô Sài Gòn, tước và thu vũ khí hàng ngàn sĩ quan, binh lính ngụy. Du kích Phú Hòa Đông phối hợp với lực lượng an ninh huyện bức hàng, bức rút đồn bót, đến 15 giờ ngày 30 tháng 4 giải phóng toàn bộ xã này, sau đó phát triển qua chiếm Ba Ri, Tân Quy (chi khu Phú Hòa). Du kích Thái Mĩ ngày 28 tháng 4 diệt bót Bình Đông, ngày 30 tháng 4 diệt bót Bính Thượng, bắt 1 trung đội dân vệ, thu 11 súng, giải phóng xã Thái Mĩ. Du kích Phước Vĩnh An kết hợp với nội tuyến, ngày 30 tháng 4 đánh chiếm bót Bà Già thu 4 súng. Du kích Trung Lập Thượng phối hợp với bộ đội Miền, ngày 29 tháng 4 đánh chiếm các bót Trung Hưng và Dân Hàng; ngày 30 tháng 4 đánh địch từ Tây Ninh chạy về, diệt 37 tên, bắt sống 13 tên, thu 29 súng. Cùng ngày 30 tháng 4, phát hiện tàn binh địch tập trung ở Mũi Lớn, bộ đội địa phương và du kích vây ép diệt 4 tên, buộc 297 tên đầu hàng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #192 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:47:48 AM »

Ở Tân Bình, lực lượng vũ trang cùng nhân dân chiếm đồn Cống Lở, chi cục cảnh sát và xã Phú Thọ Hòa, bót Nguyễn Văn Cự, trụ sở ấp Tân Giang, trường Nhân Chủ, trường nữ quân nhân, trụ sở ấp Chí Hòa 2, trụ sở nhân dân tự vệ ấp Tái Thiết, bót cảnh sát ngã tư Bảy Hiền, giành chính quyền các xã Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa và khu vực chợ Ông Tạ xã Tân Sơn Hòa. Tại trụ sở nhân dân tự vệ ấp Tái Thiết xã Tân Sơn Hòa, sáng 30 tháng 4, anh thanh niên Nguyễn Tấn Thành (tự Cẩm) đã anh dũng hi sinh sau khi cắm được là cờ Mặt trận trên cao. Lá cờ phất phới bay cổ vũ nhân dân xung quanh nổi dậy.
 
Trên hướng Tây - Tây Nam và Nam: Song song và tiếp theo sau đội hình sư đoàn 10 (quân đoàn 3), sáng ngày 30 tháng 4, sư đoàn 9 thọc sâu, mũi chủ yếu theo trục Tây Bà Quẹo, diệt 1 tiểu đoàn địch, tiến vào ngã tư Bảy Hiền, đến 11 giờ 30 phút đánh chiếm biệt khu thủ đô, tướng Lâm Quang Phát đầu hàng. Mũi thứ yếu phối hợp với đặc công đánh chiếm các mục tiêu Bà Hom, Tân Tạo trên đường 10, 13 giờ 30 phút chiếm trường đua Phú Thọ.

Sư đoàn 3 có xe tăng và hỏa lực pháo binh chiến dịch tăng cường tiến công giải phóng Đức Hòa lúc 6 giờ ngày 30 tháng 4.

Trong khi 1 tiểu đoàn của trung đoàn đặc công 429 đánh chiếm đài rađa Phú Lâm, trung đoàn 117 đặc công đánh chiếm chi khu Bình Chánh (lúc 8 giờ) và căn cứ Thái Văn Minh (Tân Tạo) diệt và đánh tan liên đoàn 8 biệt động quân, giải phóng 2 xã Tân Tạo và Bình Trị Đông. Đồng bào xông và chiếm các kho tàng của địch. Đến trưa 30 tháng 4 huyện Bình Chánh hoàn toàn được giải phóng.

Trung đoàn 16 theo trục lộ 4 đánh chiếm cầu Bình Điền, cầu An Lạc và phát triển vào quận 6, quận 5.

8 giờ sáng 30 tháng 4, tiểu đoàn 197 đặc công trên đường từ ấp Hưng Nhơn tiến ra đã chiếm ngã ba lộ 4 và lộ Đại Hàn, diệt một số tên địch, số còn lại chạy tán loạn, ta chỉ bắt được 14 tên (có 3 đại úy) nhưng thu được 450 súng các loại. Thừa cơ thuận lợi, tiểu đoàn dùng xe chuyển quân thọc sâu vào tận quân 1 theo đường Lục tỉnh, Tổng Đốc Phương, Đồng Khánh, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Tự Do… chiếm trụ sở Hạ nghị viện ngụy và công ti điện lực.

Tiểu đoàn đặc công 198, từ 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4, đã tổ chức đánh chiếm lại bót Kí Thủ Ôn rối cùng lực lượng trên chiếm lại cầu Nhị Thiên Đường, sau đó phát triển qua chiếm một phần quận 7, quận 8, bắt liên lạc với cánh Bắc của trung đoàn 429, chiếm giữ hãng pin Con Ó, kho gạo Trung Hưng, kho súng, kho xăng Chợ Lớn và hãng sản xuất gạo sấy.

Ở quân 7, lực lượng vũ trang địa phương quận chớp thời cơ chủ lực và du kích đánh bót Bình Hưng và bót Kì Thủ Ôn, giữ lộ 5 và cầu Nhị Thiên Đương, phát động nhân dân phường Rạch Ông, Hưng Phú, Chánh Hưng lần lượt nổi dậy. Đến 10 giờ, được lực lượng võ trang hỗ trợ, nhân dân kéo về chiếm tòa hành chánh quận. Đến 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 toàn bộ quận 7 và 8 về tay nhân dân.

Lực lượng vũ trang quận 6 từ địa bàn ém giữ được trong thành, ngày 29 tháng 4 sáng 30 tháng 4 đã cùng đồng bào lao động đánh chiếm các bót Bình Tiên, Phú Lâm, Bình Tây, Phú Định, đồn Cây Mai, buộc tên trưởng khóm 7 phường Bình Tây đầu hàng, chiếm kho vũ khí trang bị cho 50 thanh niên trốn lính, chiếm nhà máy rượu Bình Tây và kho lương thực ở bến đò Lê Quang Liêm. Đến 11 giờ ngày 30 tháng 4, quận 6 hoàn toàn được giải phóng; chủ lực có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển đánh chiếm các mục tiêu nội đô.

Ở quân 11, sáng 30 tháng 4, chị Út Vây và anh Sáu Hoàng, cán bộ Đảng tại chỗ, lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quần ở quận 8; ngay sau đó, lúc 9 giờ 15 phút, chiếm luôn tòa hành chính quận 11 trước khi quân chủ lực ta đến. Trưa ngày 30 tháng 4 khi chủ lực tiến vào, đồng bào dùng xe chở bộ đội đi chiếm các vị trí của địch. 24 giờ sau, chính quyền cách mạng quận 11 ra mắt nhân dân.

Ở quận 5, lực lượng vũ trang ém sẵn của quận chia làm 2 cánh. Cánh 1: chiếm các phường Nguyễn Huỳnh Đức, An Đông, cư xá sĩ quan ngụy ở đường Hồng Bàng và cuối cùng chiếm tòa hành chính ở quận 5, lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4. Cánh 2: diệt bót Đồng Khánh, tiến chiếm ti cảnh sát quận, 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4 giải quyết xong ổ kháng cự cuối cùng ở quận 5. Phối hợp với lực lượng vũ trang, đồng bào người Hoa cùng các đội vũ trang tuyên truyền treo 1500 lá cờ, rải 15000 truyền đơn, tước sung phòng vệ dân sự ở bót Nguyễn Ngọc Thạch, chiếm lĩnh chợ An Đông và các phường Chợ Quán, Trang Tử. Trên địa bàn quận 5, ta thu trên 3000 súng, 2000 lựu đạn. Đến trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, hầu hết các phường trong quận 5 đều đã thành lập chính quyền cách mạng.

Ở quận 10, từ trước khi quân chủ lực ta vào, các tổ chức vũ trang và cơ sở cách mạng đã cắm cờ ở các khu vực ngã Bảy, Chợ Cá, Chùa Pháp Hội, chung cư Minh Mạng và nhiều nơi khác, phát loa kêu gọi binh lính ngụy bỏ súng ra đầu hàng và hô hào cô bác nổi dậy giành chính quyền. Nhân dân chính trụ sở nhân dân tự vệ khóm 2, phường Phan Thanh Giản, trung tâm Pétrus Kí, trụ sở tâm lí chiến Nam Hàn, trụ sở nhân dân tự vệ, các lô chung cư Minh Mạng, trụ sở cảnh sát phường Nhật Tảo… Tại chi cảnh sát quận 10 số 336 đường Nguyễn Tri Phương, vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, lực lượng học sinh giáo chức của ta ào ào tới, địch còn lại đã đầu hàng và xin nộp toàn bộ vũ khí cùng hồ sơ lưu trữ. Khi chủ lực ta tiến vào thành phố, nhân dân các khóm 2, 3, 4 phường Chí Hòa và một số nơi nỗi dậy. Lực lượng tù chính trị còn kẹt lại ở khám Chí Hòa phá khám bung ra. Hơn một tiểu đoàn ngụy canh giữ ở vòng ngoài khám Chí Hòa không dám ngăn cản, thậm chí vứt súng bỏ chạy. Ở nhiều nơi khác như trại lính Trần Nguyên Hãn, trại công cụ, quân y viện 115, sân Cộng Hòa … khi các tổ chức vũ trang và nhân dân tiến vào, lính ngụy xin hàng ngay. Tại các điểm nổi dậy, các tổ vũ trang cùng đồng bào thu gom gần 4000 súng các loại trang bị cho thanh niên tiếp tục chiếm lĩnh các cơ sở của địch và làm chủ toàn quận.

Sư đoàn 5 sau khi dứt điểm thị trấn Thủ Thừa và thị xã Tân An diệt và làm tan rã sư đoàn 22 ngụy và liên đoàn 6 biệt động quân, chuyển sang tấn công căn cứ Bến Lức, chiếm cầu Vàm Cỏ Đông và một đoạn lộ 4, cắt đứt giao thông Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long.

Phía nam thành phố, trung đoàn 88 đánh chiếm cầu Ông Thìn, ngã ba An Phú, phát triển sang khu vực Nhà Bè. Trung đoàn 24 theo lộ 5 cùng một bộ phận của trung đoàn đặc công 429 và tiểu đoàn 198 chiếm cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y và thọc vào Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia lúc 10 giờ ngày 30 tháng 4. Sáng ngày 30 tháng 4 lực lượng địa phương Nhà Bè và nhân dân xã Long Hậu chiếm trụ sở Nhân Đức. Đồng bào các xã Phước Long, Phước Lộc, Long Kiển, Long Đước khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng, mặc dù bộ đội chủ lực chưa đến, đã nổi dậy chiếm các trụ sở, hù dọa địch bỏ chạy. Ở xã Tân Quy bọn địch tan rã quá nhanh: khi đồng bào đổ ra đường thu gom vũ khí, giữ gìn chu đáo để giao cho cách mạng thì một số phần tử xấu nguyên là đảng viên đảng Dân chủ của Thiệu lợi dụng tình hình lộn xộn đứng ra thành lập “ủy ban nhân dân cách mạng” ở ấp 3. Nhưng được nhân dân kịp thời phát hiện, ta giải tán ngay tổ chức này. Lực lượng võ trang Nhà Bè cùng nhân dân các ấp 2, 6, 7, xã Phú Xuân tích cực huy động xuồng ghe chở một bộ phận Đoàn 10 sang sông Soài Rạp cùng trung đoàn 88 chiếm giữ cảng và kho Nhà Bè lúc 15 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, sau đó cùng nhân dân ấp 3 xã Phú Mĩ chiếm quận lị Nhà Bè. Đến 17 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn bộ chính quyền ở Nhà Bè về tay nhân dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #193 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:49:31 AM »

Lực lượng trung đoàn 10 còn lại ở Rừng Sác, một mũi tiến lên Hải quân công xưởng, phà Cát Lái; một mũi khác phối hợp với quân dân Duyên Hải tấn công các chi khu Cần Giờ và Quảng Xuyên. Sáng sớm ngày 30 tháng 4 lực lượng vũ trang huyện Duyên Hải cùng du kích và nhân dân phối hợp với lực lượng Đoàn 10 đã bao vây 2 chi khu Quảng Xuyên và Cần Giờ, phát loa kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Tên đại úy Mùi, quận phó Cần Giờ cùng toàn bộ sĩ quan và binh lính trong chi khu kéo cờ trắng đầu hàng (thiếu tá quận trưởng Lê Thành Mĩ và đại úy quận phó Năm đã bỏ chạy về Sài Gòn từ hôm trước). 12 giờ ngày 30 tháng 4 ta chiếm lĩnh chi khu Cần Giờ. Ở Quảng Xuyên, tên trung tá quận trưởng Nguyễn Hữu Nghĩa bỏ trốn, sĩ quan và binh lính còn lại xin hàng. 18 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 ta giải phóng hoàn toàn quận Quảng Xuyên (gồm các xã An Thới Đông, Lí Nhơn, Bình Khánh).

Tại cửa sông Lòng Tàu, đội 12 làm nhiệm vụ chốt chặn, bắn chìm 20 tàu thuyền địch trên đường chạy trốn ra biển.

Ở quận 4. Quận đoàn thanh niên làm nòng cốt trong nổi dậy giành chính quyền ở địa phương. Ngày 30 tháng 4, một tổ vũ trang 8 người với 8 súng do đồng chí Tùng phụ trách chiếm trụ sở khóm 2 phường Vĩnh Hội, sau đó phát triển chiếm các khóm khác trong phường. Đồng chí Hoàng cùng 8 cơ sở làm nghề xích lô tiến chiếm trụ sở khóm 6 và trụ sở phường Lí Nhơn. Cơ sở bí mật của ta trong xí nghiệp Visaca do đồng chí Tám Giai và Lê Minh phụ trách chiến ti cảnh sát Trần Văn Cát, Khánh Hội ở đường Tôn Thất Thuyết. Cơ sở cách mạng cùng quần chúng phường Xóm Chiếu chiếm bót cảnh sát khóm 1… Đặc biệt, một nữ cơ sở mật ở phường Lí Nhơn, dũng cảm cầm cờ giải phóng đến bót Dương Ba phường Cây Bài hù dọa địch, bọn địch ở đây hoảng sợ đầu hàng.

Trên hướng Đông và Đông Bắc: Sư đoàn 6 và sư đoàn 341quân đoàn 4 vào Biên Hòa lúc 8 giờ sáng, tiến chiếm căn cứ Bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, Bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân, sân bay Biên Hòa, phát triển theo trục đường xe lửa về phía Thủ Đức; do cầu Ghềnh yếu, cơ giới không qua được, lực lượng quân đoàn 4 phải vòng lại theo xa lộ Biên Hòa nên đã phải đi sau lữ đoàn 203 quân đoàn 2. Sư đoàn 7 sau khi đánh địch ngăn chặn ở Tam Hiệp, tiến vào Sài Gòn định đi thẳng về phía Dinh Độc Lập, nhưng đã có đơn vị bạn vào trước nên chuyển sang chiếm Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến, căn cứ Hải quân, Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh.

Ở quận Bình Thạnh trên hướng quân đoàn 4, ngày 30 tháng 4 chị Ba Liễu lãnh đạo nhân dân nổi dậy chiếm phường 13 xã Thạnh Mĩ Tây lúc 9 giờ sáng. Đến 10 giờ, lực lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng khởi nghĩa quần chúng nổi dậy làm chủ toàn bộ Bình Hòa và Thạnh Mĩ Tây, chiếm giữ vườn ươm Phú Mĩ và kho gạo 42.000 tấn, thu 100 súng. Cùng lúc này, lực lượng học sinh phối hợp với lực lượng đi đầu của trung đoàn Gia Định 2 tiến và chiếm dinh tỉnh trưởng Gia Định. Địch tháo chạy, để lại toàn bộ hồ sơ các tổ chức phản động từ tỉnh đến ấp.

Sư đoàn 325 quân đoàn 2 vượt sông Cát Lái vào giải phóng quận 9, Thủ Thiêm. Ở đây nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Thị Diễm lãnh đạo quần chúng bao vây cướp trụ sở quận 9. Sư đoàn 3 quân khu 5 sau khi giải phóng Vũng Tàu (lúc 9 giờ) đã đưa một bộ phận sang Cần Giờ cùng Đoàn 10 bắt sống xuồng tàu địch.

Bộ phận thọc sâu quân đoàn 2 do sư đoàn 304 đảm nhiệm, sư đoàn đã tổ chức lữ đoàn xe tăng 203 làm lực lượng đột kích nhanh. 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4 lữ đoàn xe tăng 203 đã đến cầu Đồng Nai do trung đoàn đặc công 116 đang giữ. Đồng chí Tống Viết Dương chỉ huy trưởng đặc công biệt động cánh đông, đồng chí Sĩ, trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công 116 và đồng chí Phạm Duy Đô đại đội trưởng đại đội 1 tiểu đoàn 19 đặc công lên xe tăng cùng các đồng chí chỉ huy lữ đoàn xe tăng 203 theo xa lộ tiến thẳng vào Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và Nguyễn Hữu Có, lên gặp Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự, đã thúc đẩy Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (thủ tướng) đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, chờ “bàn giao trong vòng trật tự”. Dương Văn Minh họp bộ hạ và đưa ra ý kiến “tuyên bố thành phố bỏ ngỏ”. Sau khi bàn luận, Vũ Văn Mẫu viết bản tuyên bố kêu gọi đơn phương ngừng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút.

Trên tất cả các hướng vào Sài Gòn, quân ta tiếp tục tiến công theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị “tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống đối của chúng”(1).

Địch dùng pháo từ phía Đông xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa bắn ra cắt đội hình lữ đoàn xe tăng 203. Một phân đội của lữ đoàn rẽ vào đánh diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây chiếc xe 707 đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng. 9 giờ 30 phút đoàn xe tăng tiến thuận lợi qua cầu Rạch Chiếc do Z23, lữ đoàn 316 đặc công biệt động đang chiếm giữ. Phía trước là cầu Sài Gòn, ở đây tiểu đoàn 4 Thủ Đức đã chiến đấu quyết liệt, giằng co với địch từ đêm 29 rạng 30 tháng 4, đến 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4 mới chiếm lại được đầu cầu phía Đông. Đoàn xe tăng lữ đoàn 203 đến cầu Sài Gòn, 2 xe dẫn đầu đội hình tăng tốc vượt qua được nửa cầu thì bị xe tăng địch ở phía Tây vòm cầu bắn cháy. Đội hình xe tăng ta phải dừng lại ở đầu cầu phía Đông để tổ chức hỏa lực diệt địch ở đầu cầu phía Tây. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng Ngô Văn Nhỡ cầm cờ hiệu vả điện đài chỉ huy tốp xe dẫn đầu lại bị trúng đạn địch và hi sinh trên tháp pháo. Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên chỉ huy vượt cầu. Địch tiếp tục bắn hỏng thêm hai xe tăng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị viên Vũ Đặng Toàn chỉ huy đại đội 4 vượt qua cầu. Địch lui về ngã tư Hàng Xanh, ta bám xát và bắn cháy một xe tăng của chúng tại đây. Các lực lượng tại chỗ đang bao vây, vận động vô hiệu hóa một số xe khác. Địch ở cầu Thị Nghè ngoan cố chống cự, ta bắn cháy thêm một xe tăng, một xe thiết giáp.

Qua cầu Thị Nghè, nữ chiến sĩ biệt động Nga (lữ đoàn 316) lên xe tăng cùng Phạm Duy Đô làm nhiệm vụ dẫn đường. Lữ đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bùi Quang Thận dẫn đầu. Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước Dinh Độc Lập. Trong Dinh cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn Cang, Vũ Ngọc Nhạ, một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến thẳng vào cửa Dinh. Ngay tức khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vui ở cổng Dinh Độc Lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe, cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượng của tòa nhà, giật bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo lá cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo với trung tá chính ủy lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh điều chỉnh đội hình bao vây Dinh đề phòng địch phản kích, đồng thời phái một bộ phận đánh chiếm cảng Sài Gòn.


(1) Trích điện số 149TK-10 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975 Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương gửi Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Lưu trữ tại cục cơ yếu Bộ tổng tham mưu. Hồ sơ số 215 - ĐB.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #194 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:50:20 AM »

Đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng một số cán bộ, chiến sĩ ta được Nguyễn Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu. Tiếp đó, các đồng chí Bùi Văn Tùng và Nguyễn Tấn Tài vào phòng khánh tiết. Hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt ở đây từ sớm với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng: Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can. Dương Văn Minh đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao”. Ta tuyên bố: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao”.

Dương Văn Minh chấp nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phạm Xuân Thệ và đến đài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh.

Từ sáng 30 tháng 4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm nội dậy của quần chúng và lực lượng tại chỗ.

Sau 11 giờ 30 phút ở 41 điểm chủ lực ta chưa tới, quần chúng và lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi dậy.

Ở quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30 tháng 4 khi lực lượng võ trang ta tiến công quận 3, anh Tư và anh Công, người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316) dùng loa hô hào nhân dân nổi đậy giành chính quyền, kêu gọi sĩ quan và binh lính địch nộp vũ khí, đầu hàng. Ngay chiều ngày 30 tháng 4 hàng trăm đồng bào xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng trăm người khác tự động ra đường thu gom vũ khí, quân trang, quân dụng của địch. Đồng bào treo đầy cờ giải phóng trước nhà riêng, công sở và tự nguyện góp cấp thời lương thực thực phẩm cho bộ đội.

Tại phường Bàn Cờ quận 3, các đồng chí cơ sở mật của ta: chị Bảy, anh Châu, anh Ba Đông, phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, chiếm giữ các kho tàng của địch, giữ gìn trật tự, làm vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được 3000 súng các loại đem nộp cho cách mạng. 16 giờ ngày 30 tháng 4, phường Bàn Cờ tổ chức mít tinh, có 13.000 người dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các ban phụ trách phường, khóm và 3 tổ chức chuyên việc đăng kí ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện.

Ở hướng xa lộ Biên Hòa, Z27 sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc cho lữ đoàn 203 đi qua, theo lệnh trên, tiến chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy Zetcô (nay là liên hợp công trình 4) và giữ nhà máy điện Thủ Đức. Nhờ đó, điện ở thành phố chỉ gián đoạn có vài giờ trong ngày 30 tháng 4.

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, sau khi lữ đoàn xe tăng 203 qua cầu Sài Gòn, tiếp tục đánh chiếm các đồn bót địch trên trục lộ 33 đoạn từ ngã ba Bình Trưng đến ngã ba Phú Hữu, cùng cán bộ địa phương phát động quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn, giải phóng hai xã Bình Trưng và Phú Hữu.

Tại nhà máy nước Thủ Đức, từ những ngày 27 và 28 tháng 4, nòng cốt công nhân đã lập đội bảo vệ nhà máy. Hàng trăm công nhân và kĩ sư liên tục bám giữ máy, không cho địch phá, đảm bảo cung cấp đầy đủ nước cho thành phố cả trước và sau khi giải phóng. Ngày 30 tháng 4, khi xe tăng ta tiến đến gần, đồng chí Muống, đứng đầu ủy ban khởi nghĩa nhà máy, lãnh đạo công nhân tung tin hù dọa địch và tự mình leo lên nóc nhà máy treo một lá cờ lớn. Địch ở đây rất đông: thường xuyên có một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an, và ngày 30 tháng 4, còn kéo về đây thêm khoảng 30 xe tăng thiết giáp,… nhưng trước thế tiến công như vũ bão của ta và khí thế công nhân tại chỗ, tất cả địch ở đây đã phải bỏ chạy.

Toàn bộ lực lượng địch ở Thủ Đức tan rã. Quần chúng xông vào chiếm giữ các căn cứ quân sự của địch, tiến chiếm trụ sở quận. Toàn bộ ngụy quyền quận bỏ chạy.

Với mọi chuẩn bị từ trước, khi đại quân ta tiến vào Sài Gòn, cơ sở cách mạng và quần chúng lao động nội thành kịp thời nổi dậy chiếm lĩnh, làm chủ và bảo vệ các cơ sở kinh tế, chính trị văn hóa quan trọng, đảm bảo mọi mặt sinh hoạt bình thường của một thành phố mới giải phóng.

Ở nhà máy điện Chợ Quán, ngay lúc địch đang tồn tại và thiết quân luật, công nhân đã thay phiên nhau đi sữa chữa đường đây, ổn định dòng điện. Anh em kêu gọi binh lính ngụy quay về với chính nghĩa, ủng hộ hành động nổi dậy của công nhân.

Tại xưởng Ba Son, công nhân tháo gỡ hết chất nổ địch gài, bảo vệ nguyên vẹn nhà máy.

Ở các hãng Esso, Shell, công nhân thành lập các ủy ban công nhân võ trang bảo vệ kho xăng Nhà Bè.

Công nhân các xí nghiệp Vimytex, Sicovina, Vinatexco, Biopharma và hàng loạt hãng, xưởng khác bất chấp công an, mật vụ, đã nổi dậy chiếm xưởng bảo vệ máy móc.

Các cơ sở cách mạng và quần chúng nổi đậy chiếm lĩnh, cắm cờ trụ sở khóm hai phường Huyện Sĩ, ngã ba Thủ Khoa Huân, đường Lê Thánh Tôn, chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, ti cảnh sát quận 3, sở văn hóa… Một trí thức, cơ sở của ta, đã giữ gìn và trao lại nguyên vẹn cho cách mạng toàn bộ phòng báo chí Phủ tổng thống ngụy của Hoàng Đức Nhã (Đặt tại số 116 đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).

15 giờ ngày 30 tháng 4 tất cả cán bộ Thành ủy cánh A (luồn vào từ đêm 29 tháng 4) đã có mặt trong thành phố, tập kết nhận nhiệm vụ kế tiếp tại khu trường Pétrus Kí.

Cán bộ, chiến sĩ cánh B của Thành ủy có mặt cùng nhân dân thực hiện nổi dậy giành chính quyền, giành quyền làm chủ từ ấp, xã đến thị trấn ngoại thành, cũng đã hội tụ về nhận nhiệm vụ tại dinh tỉnh trưởng Gia Định.

Quần chúng Sài Gòn - Gia Định đã nổi dậy ở 107 khu vực khi chiến dịch Hồ Chí Minh phát pháo lệnh, trong đó có 31 khu vực ngoại thành, 76 khu vực nội thành, 32 khu vực trong ngày 29 đến rạng ngày 30 tháng 4, 34 khu vực trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, 41 khu vực sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nhưng quân chủ lực chưa tới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #195 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:53:18 AM »

*
*   *

“Nhà Trắng phương Đông” rút chạy từ trước khi Dương Văn Minh quyết định tuyên bố “thành phố bỏ ngỏ”.

Trong “cơn lốc kinh hoàng” của cuộc tháo chạy mệnh danh “người liều mạng” rồi “móng quặp chặt”, hàng ngàn người tranh nhau bám càng trực thăng trong cơn hoảng loạn, mặc dù từ ngày 10 tháng 4 năm 1975 Bộ chỉ huy quân giải phóng đã tuyên bố: “Quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho cố vấn Hoa Kì rút về nước bình an vô sự”.

Ngày 30 tháng 4, sau những cơn giận dữ của Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Schlesinger và cố vấn Kissinger ở Wasington vì sự nấn ná quá đáng của Đại sứ Martin ở Sài Gòn để cố tạo ra vẻ “người Mĩ đàng hoàng ra đi”(1), Tổng thống Ford ra lệnh dứt khoát: “Chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 30 phút, giờ địa phương, sáng 30 tháng 4”. Tuy nhiên, lệnh không thi hành được.

4 giờ 20 phút, tiếp tục cuộc tháo chạy, một máy bay CH-53 đổ xuống lầu thượng tòa Đại sứ, Martin lại nhận được điện của Nhà Trắng: “Tổng thống ra lệnh đại sứ phải đi chuyến này”. Martin vẫn chậm chạp. Một nhân viên cấp dưới tỏ vẻ bực tức: “Lệnh là lệnh, đại sứ phải lên. Mà lên ngay, vì quân đội Bắc Việt Nam đã ở dưới đường. Họ sẽ nổi giận và bắn chúng ta nếu họ thấy chiếc máy bay để ở đây lâu quá”.

Nhà Trắng lại có lệnh rõ ràng: “Cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin đã đi”.

Nhưng khi chiếc CH-53 chở Martin đã rời sân thượng, tòa Đại sứ Mĩ vẫn còn 5 nhân viên, 4 lính thủy đánh bộ người Mĩ và ngót 420 người Việt Nam phần đông là nhân vật cao cấp của Thiệu, nhân viên Sứ quán Nam Triều Tiên, đứng đầu là một thiếu tướng… Tất cả những người này chấp nhận bỏ hành lí để thoát cho được.

Moorefield, người được Martin chọn “giúp cai trị” ở tòa Đại sứ là người Mĩ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút ngày 30 tháng 4. Ông ta kể lại cảnh tượng Sài Gòn lúc đó, nhìn từ bầu trời xuống: “Bình yên, phẳng lặng. Trừ một vài đám cháy ở đàng xa…”.

Tom Polgar, nhân viên cao cấp ở tòa Đại sứ “Người nguy hiểm nhất đối với Martin” vì những nhận định, báo cáo lên Nhà Trắng cứ trái ngược, nhưng rất “hợp Martin” ở chỗ, “chống cộng kịch liệt và ham thích nghiên cứu”, cùng ngồi với Martin trên chiếc CH-53 trong cuộc tháo chạy tán loạn, đã ghi lại nhận xét của mình ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kì chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mĩ đã chấm dứt. Nhưng … Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử!”.

Như vậy, sau cuộc cuốn cờ Hoa Kì cùng với việc ra đi của 2501 người Mĩ cuối cùng ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 27 tháng 3 năm 1973 để chấm dứt trên danh nghĩa sự dính líu quân sự và âm mưu chính trị của Hoa Kì ở Việt Nam, hơn hai năm sau còn có cuộc tháo chạy của những người Mĩ ở lại để “đảm bảo” danh dự Hoa Kì trong cuộc thua trận, thật sự là để tiếp tục giữ miền Nam về lâu về dài trong quỹ đạo Hoa Kì.

Cùng với cuộc tấn công thần tốc giải phóng Sài Gòn, quân dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nhất tề tiến công và nỗi dậy làm tan rã ngụy quân, đập tan chính quyền tay sai các cấp, thực hiện phương châm “tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”.

Ngày 30 tháng 4, các tỉnh Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, đảo Phú Quốc đã được giải phóng. Ngày 2 tháng 5 tỉnh Châu Đốc là tỉnh còn lại cuối cùng đã được giải phóng.

*
*   *

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn - Gia Định đã diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề …thu 12.275 súng và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạn và số công an cảnh sát là 10 vạn.

17 giờ ngày 30 tháng 4, tiếng súng đã thật sự chấm dứt ở “thủ đô” ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3 triệu dân vừa trải qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường ống; dòng điện chỉ tạm dừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ …Người dân Sài Gòn - Gia Định náo nức cắt dán cờ hoa để xuống đường ngày 1-5 mừng cuộc toàn thắng và chờ đêm hội pháo hoa …

Ngoài những yếu tốt có tính chất chiến lược như nắm thời cơ, chọn mục tiêu chiến lược, sử dụng lực lượng, nghệ thuật chỉ đạo…, thắng lợi trọn vẹn đó là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa tiến công táo bạo, thần tốc, của các binh đoàn chủ lực từ ngoài vào với tiến công và nổi dậy tại chỗ của các lực lượng địa phương bao gồm lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và quần chúng, cùng với việc huy động mọi lực lượng, huy động mọi khả năng tiến công khác. Một bộ phận lực lượng cách mạng không chỉ có mặt trong lòng địch trong những ngày giờ quyết định mà đã “lót ổ” 5 năm, 10 năm, 20 năm,…

Khu ủy, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định luôn bám sát các chủ trương và chỉ đạo của cấp trên đồng thời chủ động trong quá trình triển khai thực hiện. Nhất là từ hội nghị Thành ủy từ tháng 9 năm 1974, mọi việc đã phải chạy đua với thời gian để góp phần tạo thế lực đón thời cơ quyết định.

Việc Thành ủy tổ chức sự chỉ đạo ra cánh A, cánh B từ tháng 9 năm 1974 và điều chỉnh kịp thời hai cánh khi vào chiến dịch Hồ Chí Minh để tăng tính sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo, mà không bị xáo trộn, chia cắt, đã giúp cho toàn đảng bộ đảm đương được khối lượng công việc vô cùng to lớn trong thời kì nhảy vọt cách mạng “1 ngày bằng 20 năm”.

Nghệ thuật “ba mũi giáp công” càng về cuối giai đoạn, càng thể hiện sự phối hợp chặt chẽ tiến đến các hình thức khởi nghĩa thích hợp theo khả năng, đã tạo ra được sức mạnh tổng hợp tại chổ lớn nhất để phối hợp tấn công từ ngoài vào, đảm bào thắng lợi trọn vẹn, sớm ổn định mọi sinh hoạt của thành phố ngay từ giờ phút kết thúc chiến tranh.

Công việc và bộ máy tiếp quản Sài Gòn - Gia Định đã được đặt ra và hình thành tổ chức ngay từ trong Sài Gòn còn trong tay địch.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng có điện khen toàn bộ quân dân và Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định:

“Bộ Chính trị nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn - Gia Định, khen ngợi toàn bộ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thuộc các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kì anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng…


(1) Frank Snepp viết trong Cuộc tháo chạy tán loạn: “Hoa Kì phải quỳ gối mà bỏ Việt Nam, nhưng phải làm sao gây được ấn tượng là Hoa Kì đàng hoàng rút khỏi nơi đây. Muốn thế, phải có một thầy phù thủy và có nghệ thuật đạo diễn. Martin là bậc thầy trong vấn đề này. (Martin sang Việt Nam làm Đại sứ ngày 24 tháng 6 năm 1973)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #196 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:54:26 AM »

*
*   *

Lịch sử không trùng lặp, nhưng lịch sử có những trùng hợp diệu kì. Năm 1954, với chiến dịch Điện Biên Phủ 55 ngày đêm ta bắt sống 16 ngàn lính Pháp, Lê dương và ngụy quân, kết thúc thắng lợi cuộc đánh Pháp 9 năm; hai mươi mốt năm sau, 1975, với cuộc tiến công mùa xuân 55 ngày đêm, ta tiêu diệt và làm tan rã đội quân tay sai trên 1 triệu tên, kết thúc toàn thắng cuộc chống Mĩ 21 năm.

Cuộc đụng đầu lịch sử 30 năm kết thúc bằng cuộc toàn thắng của dân tộc ta. Sài Gòn, miền Đông và Nam Bộ đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử “đi trước về sau”: mở đầu cuộc kháng chiến chống xâm lược tại Sài Gòn và 30 năm sau cùng cả nước thực hiên trận quyết chiến cuối cùng, kết thúc toàn thắng cũng chính nơi này.

Hai mươi mốt năm, thua keo này bày keo khác, 4 chiến lược Hoa Kì đã xoay trở từ cố vấn “tố cộng - diệt cộng” đến “chiến tranh hạn chế” rối “leo thang” chiến tranh cục bộ, lại “xuống thang” Việt Nam hóa chiến tranh nhưng chưa lúc nào trúm đế quốc từ bỏ ý định giành thế mạnh và giữ miền Nam trong quỹ đạo của mình, và bất kì với chiến lược nào Sài Gòn - Gia Định vẫn là trọng điểm đầu tư sức mạnh sắt thép, tiền của, thủ đoạn của chúng. Chủ nghĩa thực dân mới lúc đầu có gây mơ hồ cho một số người, nhưng cái vỏ “quốc gia” lừa bịp hào nhoáng của nó không che đậy được mâu thuẫn đối kháng giữa một bên là chính sách xâm lược của đế quốc Mĩ và một bên là yêu cầu độc lập và thống nhất của nhân dân Việt Nam. Dưới mâu thuẫn đó là hàng loạt mâu thuẫn không dung hòa khác trong đó Sài Gòn là nơi biểu hiện đầy đủ, gay gắt: một bên là bóc lột, áp bức giai cấp, một bên là đòi hỏi dân chủ, công bằng; một bên là chiến tranh, một bên là khát vọng hòa bình sau 9 năm đánh Pháp; một bên là tàn bạo, vô luân, sa đọa, một bên là đạo lí dân tộc, phẩm giá con người…

Sáu năm đấu tranh chính trị trong máu lửa và mười lăm năm chiến tranh cách mạng để giải quyết những mâu thuẫn đó, Sài Gòn - Gia Định, do vị trí là thủ đô của kẻ thù, đã đứng ở tuyến đầu không chỉ về tính chất ác liệt mà còn ở tính phức tạp, nhiều vẻ. Những mâu thuẫn không dung hòa là chỗ yếu của kẻ thù đồng thời là cơ sở để ta tập hợp lực lượng tiến công chúng. Nắm vững và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo, tập hợp hàng triệu con người từ trung tâm đô thị đến nông thôn ngoại thành trong những điều kiện cụ thể đầy phức tạp, đòi hỏi có bản lĩnh, nhiều năng động và sáng tạo.

Hai mươi mốt năm đương đầu với trùm đầu sỏ đế quốc và tay sai, đảng bộ và quân dân Sài Gòn - Gia Định chúng minh thực tiễn là trường học lớn nhất để từng bước hoàn thiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy giành thắng lợi từng phần, đi đến cùng cả nước giành toàn thắng.

Cuộc chiến đấu ác liệt, lâu dài cho thấy việc xác định đúng đắn vị trí, tính chất chiến trường, việc nhận thức kẻ thù và đánh giá địch ta từng giai đoạn luôn luôn là vấn đề nóng hổi và chi phối mọi chủ trương, hành động. Không mơ hồ về đế quốc, tay sai sau mỗi thắng lợi dù to lớn, không nao núng trước những tổn thất nặng nề từng lúc, là bài học lớn, lặp đi lặp lại một cách nghiêm khắc. Đã cảnh giác mà có khi vẫn vấp váp, mơ hồ, nhất là sau những chiến thắng lịch sử, từ Hiệp định Genève cho đến Hiệp định Paris, nhưng sự cảnh giác và kiên trì của đảng bộ Sài Gòn - Gia Định là nhất quán, do đó mỗi lệch lạc luôn luôn được nhìn lại một cách nghiêm khắc và có chủ trương cụ thể để khắc phục.

Bên cạnh việc nhận thức rõ chiến trưởng và kẻ thù, đánh giá đúng đắn địch ta, việc phân tích mâu thuẫn địch ta, và lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù để tập hợp lực lượng và xác định phương án tấn công, phân hóa kẻ thù cũng luôn luôn được đặt ra để linh hoạt trong chủ trương và hành động. Nhưng luôn luôn phải đứng trên ý thức vì nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của quần chúng lao động, nhanh nhạy phát hiện những yêu cầu của quần chúng mà đề ra khẩu hiệu và hình thức đấu tranh thích hợp trong từng thời điểm cụ thể vẫn là vấn đề cơ bản.

Tùy từng lúc, từng nơi có những lệch lạc nảy ra vì lập trường giai cấp, về quan điểm bạo lực ở một số cán bộ từng cấp, trong từng thời điểm cụ thể về xây dựng lực lượng, phát động và đánh giá phong trào đô thị, trong chỉ đạo hoạt động chính trị và võ trang của đô thị, nhưng đảng bộ Sài Gòn - Gia Định trước sau vẫn nhất quán về đường lối quần chúng của đảng ta, đồng thời phân tích được các mâu thuẫn, do đó tập hợp được lực lượng, đưa Sài Gòn lên vị trí trung tâm phong trào các đô thị miền Nam ngay từ sau Hiệp định Genève, và khi chuyển sang chiến tranh cách mạng, tạo được thế bao vây uy hiếp đầu não, sào huyệt địch, đồng thời giữ vững vị trí đó trong suốt cuộc đấu tranh lâu dài đầy ác liệt và phức tạp.

Qua những vấn đề có tính chất vừa chung vừa riêng đó, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã tỏ rõ tính năng động, sáng tạo trong vận động phương thức đấu tranh cách mạng “hai chân, ba mũi” trên một địa bàn đô thị đầu não phức tạp: việc tận dụng 3 thế, 3 hình thức tổ chức và hoạt động công khai, nửa công khai, bí mật, hợp pháp, và nửa hợp pháp, không hợp pháp, tùy thời điểm và địa bàn nội đô, ven đô và căn cứ để xác định nhiệm vụ, hình thức đấu tranh sát hợp từng vùng, để vừa đưa được phong trào nội đô lên, vừa giữ được thế tranh chấp và uy hiếp “thủ đô” địch; việc “tấp vô” một phong trào tự phát để biến phong trào từ tự phát lên có lãnh đạo; việc phân hóa kẻ thù qua các cuộc tranh chấp nội bộ của chúng đồng thời tranh thủ tập hợp nhiều lực lượng có xu hướng chính trị khác nhau dưới khẩu hiệu chống Mĩ và đánh đổ tay sai…

Mỗi bài học đều có cái giá, thậm chí ta phải trả bằng xương máu qua thực tiễn, ví như việc vận cụng 3 hình thức, việc giải quyết mối quan hệ giữa giữ gìn và sử dụng lực lượng, việc nhận thức về kẻ thù, đánh giá địch ta, phải qua thực tiễn mới ngày một nhuần nhuyễn, sắc sảo hơn lên. Ta đã lường trước được ngày 20 tháng 7 năm 1956 khó có tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève nhưng ta đã phải qua nhiều mất mát trong thời kì địch “tố cộng, diệt cộng” mới đi đến cuộc Đồng Khởi; ta cũng đã lường trước được cuộc tồng tiến công và nổi dậy xuân năm 1968 diễn ra trong điều kiện địch còn trên 1 triệu quân, đế quốc Mĩ giàu tiềm lực còn rất ngoan cố, nhưng qua nhiều đợt dốc toàn lực quyết tâm “dứt điểm” mà không đạt ý muốn cao nhất mới thấm thía là chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa giữ gìn và sử dụng lực lượng, giữa củng cố phía sau và tấn công phía trước do còn chủ quan trong đánh giá địch ta…

Dưới sự lãnh đạo của một Đảng bộ kiên cường, nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã phát huy truyền thống bất khuất thực hiện nhiệm vụ mà lịch sử giao phó trong chặng đường 21 năm cuối cùng của cuộc chiến tranh 30 năm; không ngừng kiên trì xây dựng tổ chức, tập hợp lực lượng, linh hoạt tấn công và uy hiếp đầu não, sào huyệt kẻ thù, không ngừng tạo thế và tích lũy lực lượng chuẩn bị thế trận cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của cả nước sẽ diễn ra tại đây.

Mỗi sự kiện chính trị, mỗi tiếng nổ từ Sài Gòn đều có tấm vóc khó lường được. Một cuộc bãi công của công nhân ở đây có thể làm tê liệt một bộ phận phục vụ chiến tranh quan trọng của kẻ thù, một lời hô “đả đảo” của của các chiến sĩ Nguyễn Văn Trỗi, Trần Văn Đang… trên pháp trường của kẻ thù vang xa ngoài biên giới, một tiếng nổ nhấn chìm tàu Card hay đánh sập tòa đại sứ Hoa Kì sẽ làm cho Nhà Trắng đau đầu… Với đòn Tổng tấn công Mậu Thân tại Sài Gòn, ta không chỉ “đưa chiến tranh vào thủ đô địch” mà còn “đưa chiến tranh vào đất Mĩ”.

Nhưng dù như vậy, phong trào, lực lượng và hoạt động chính trị, vũ trang nội đô không thể tách rời sức mạnh của cả chiến trường miền Nam, chiến trường cả nước.

Quân dân vùng ven và nông thôn ngoại thành Gia Định đã thực hiện cuộc đồng khởi, đánh bại “quốc sách ấp chiến lược”, thực hiện “toàn dân đánh Mĩ”, vận dụng “10 bài học đánh Mĩ” của chiến tranh nhân dân, để tiến lên cùng cả ba thứ quân ở miền Đông, tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1968 đánh thẳng vào “thủ đô địch”; đã từng bước đánh bại bình định Việt Nam hóa chiến tranh để tiến lên đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng… Sức mạnh chiến trường, sức mạnh vùng ven rất quyết định đối với sự hình thành sức mạnh nội đô.

Đất vùng ven đã ghi tiếp những tên truyền thống hào hùng mới của Sài Gòn - Gia Định: “Củ Chi đất thép thành đồng”, “quê hương địa đạo”, vành đai diệt Mĩ, chiến khu rừng Sác, Bưng Sáu xã, Vườn Thơm, vùng “Tam giác sắt”… bên cạnh những chiến công lịch sử của thành phố.

Quân dân Sài Gòn - Gia Định đã kết hợp chặt chẽ trong ngoài phối hợp các tầng lớp, giai cấp từ trung tâm đô thị đến nông thôn để hình thành sức mạnh tổng hợp tấn công kẻ thù trên cả hai mặt trận chính trị, quân sự, trên cả ba vùng nội đô, ven đô và nông thôn căn cứ.

Đại thắng mùa xuân 1975 là kết quả của 21 năm chiến đấu và xây dựng sức mạnh của cả nước, chuẩn bị thế và lực đầy hi sinh, gian khổ và có nghệ thuật. Một thành phố trên dưới 3 triệu rưỡi dân được giải phóng gần như nguyên vẹn là một thành công kì lạ hiếm thấy trên thế giới, không có giải thích nào hơn đó là sự chuẩn bị hoàn thiện qua quá trình chiến đấu đầy hi sinh của hàng chục vạn đồng bào đồng chí, của cả nước, trong đó có nhân dân và chiến sĩ Sài Gòn đã đóng góp xứng đáng công sức của mình.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #197 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:55:13 AM »



Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn biểu tình đấu tranh trong ngày 1-5-1958



Đồng bào Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành phản đối chính sách đàn áp của chế độ Mỹ - Diệm (1-5-1960)



Nhân dân Củ Chi đồng khởi phá ấp chiến lược - 1960



Đấu tranh chính trị, một trong ba mũi giáp công
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #198 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:57:17 AM »



Đội nữ du kích Củ Chi nổi tiếng, thường xuyên chiến đấu trên vành đai diệt Mĩ



Biệt động Sài Gòn đánh tào Đại sứ Mĩ ở đường Hàm Nghi (30-5-1965)



Lực lượng vũ trang phục kích tàu địch trên sông Lòng Tàu



Các đồng chí lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn – Gia Định tại cuộc họp bàn kế hoạch Tổng tiến công Xuân 1968
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #199 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 06:58:22 AM »



Cố Thiếu tướng Lương Văn Nho, nguyên tư lệnh Đặc khu Rừng Sác



Đồng chí NGUYỄN VĂN LINH
Bí thư khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, trực tiếp phụ trách Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định thời kì 1965-1972
(Ảnh chụp đồng chí đứng trước hầm tại căn cứ Củ Chi năm 1973)




Quân ta đánh kho xăng Nhà Bè



Nhân dân quận 1 cùng nhân dân thành phố tưng bừng trong ngày lễ mừng chiến thắng
được tổ chức tại Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM