Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 10:25:39 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 100924 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:10:49 AM »

Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm xuất bản: 1994
Số hóa: macbupda
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thành viên: tuaans, daibangden, crawling0805, doiviendukichmat trong việc số hóa cuốn sách này.

Chỉ đạo nội dung:
BAN TỔNG KẾT CHIẾN TRANH
THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ biên:
TRẦN HẢI PHỤNG - LƯU PHƯƠNG THANH

Biên soạn:
HỒ SƠN ĐÀI - TRẦN PHẤN CHẤN

Với sự tham gia:
NGUYỄN ĐỨC Y - PHẠM VĂN THẮNG
TRẦN THANH ĐẠT - LỮ CÔNG TRỰC
NGUYỄN ĐỨC MINH - NGUYỄN TỨ PHƯƠNG

Chủ nhiệm công trình:
NGUYỄN VĂN TRÍ
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Ba, 2012, 11:06:24 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:11:56 AM »

LỜI GIỚI THIỆU

Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1975 là lịch sử chiến tranh cách mạng gắn liền với hai cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Nó chứa đựng những đặc điểm chung của cuộc kháng chiến toàn quốc lại vừa mang những nét riêng của một vùng đất là một thành phố lớn, một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở phía Nam của Tổ quốc.

Đối với kẻ thù, Sài Gòn là một đại bản doanh của đội quân xâm lược, là thủ đô của các chế độ ngụy. Hơn ở đâu hết, chúng ra sức kìm kẹp, khủng bố với mọi thủ đoạn tinh vi, tàn bạo nhất, hòng biến nơi đây thành hậu cứ an toàn, thành sào huyệt bất khả xâm phạm của chúng. Thành phố Sài Gòn là nơi thực dân Pháp nổ súng gây chiến trước tiên, cũng là nơi đế quốc Mĩ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược.

Đối với ta, Sài Gòn là nơi tập trung dân cư đông đúc, gồm đủ các thành phần xã hội (công nhân, nông dân, bình dân thành thị, học sinh, nhân sĩ trí thức và tư sản dân tộc), vốn giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm được hun đúc và thử thách lâu dài qua nhiều thời kì khác nhau của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa lí chi phối, Sài Gòn là nơi đặc biệt nhạy cảm với mọi diễn biến chung của thời cuộc, và mỗi biến động của nó đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, ra cả nước, và ở một chừng mực nào đó, ra thế giới. Đây là nơi mở đầu cũng là địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng trong suốt 30 năm (1945-1975). Cuộc đấu tranh chống xâm lược ở Thành phố Sài Gòn vì vậy diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, và thu hút sự tham gia không chỉ toàn thể quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mà còn có lực lượng của toàn miền, của cả nước. “Cả nước chiến đấu vì Sài Gòn và Sài Gòn chiến đấu vì cả nước, cùng cả nước” là bản anh hùng ca tuyệt đẹp về truyền thống đoàn kết keo sơn gắn bó, về sức mạnh dời non lấp biển của nhân dân ta trong thời điểm vận nước đang trải qua những thử thách nghiêm trọng, mang tính chất sống còn.

Từ nhiều năm nay, Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời với việc triển khai công tác tổng kết về hai cuộc kháng chiến vừa qua, đã tổ chức biên soạn công trình lịch sử vô cùng quan trọng này. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng. Nó chẳng những góp phần sưu tầm, giữ lại nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý báu, qua đó đời đời ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc, của hàng triệu đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từng sống và chiến đấu trên mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, mà còn góp phần bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu cho các thế hệ trẻ hiện nay và mai sau. Đồng thời, những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ trong các cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại vừa qua mà công trình này đề cập, chắc chắn sẽ rất bổ ích đối với mỗi chúng ta ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong cuốn sách này, các tác giả đã cố gắng phản ánh một cách có hệ thống và toàn diện cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định khắc họa những yếu tố truyền thống dẫn tới thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược vừa qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch.

Cuốn sách được hoàn thành và ra mắt bạn đọc vào đúng dịp quân đội ta tròn 50 tuổi. Tôi mong muốn công trình này là nén hương thành kính dâng lên anh linh đồng bào và chiến sĩ Thành phố đã anh dũng hi sinh, là bó hoa tươi thắm gửi tặng các gia đình liệt sĩ, gia đình có công trong kháng chiến, các đồng chí thương binh và toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từng hoạt động, chiến đấu trên mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định cũ, nay là Thành phố Hồ Chí Minh quang vinh của chúng ta!

Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, bản thảo lại được nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo chỉ huy của Thành phố, nhiều cơ quan và cán bộ khoa học đọc, góp ý sửa chữa bổ sung, cuốn sách này vẫn không thể nào ghi được hoàn toàn đầy đủ, càng không thể nào ghi tuyệt đối chính xác từng chi tiết của lịch sử Thành phố trong 30 năm chiến tranh ác liệt vừa qua, và chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi hoan nghênh cố gắng của các tác giả và xem đây như là một cơ sở ban đầu cho quá trình tiếp tục chỉnh lí bổ sung, hầu tiến tới có được một công trình lịch sử xứng đáng với những gì mà lịch sử Thành phố đã và đang có.


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7-1994

VÕ TRẦN CHÍ
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:13:21 AM »

MỞ ĐẦU

SÀI GÒN - CHỢ LỚN - GIA ĐỊNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ngày nay, gồm phạm vị đất thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn lúc Cách mạng Tháng năm 1945 thành công.

Trung tâm quần cư sầm uất ngày nay đã mang nhiều tên khác nhau qua các thời kì lịch sử: Bến Nghé, Phiên Trấn Dinh, Tân Bình huyện, Gia Định thành, Gia Định kinh, Gia Định trấn rồi lại Gia Định thành, Phiên An thành, Sài Gòn.

Đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh ba mươi năm hào hùng của dân tộc ta, Sài Gòn - Chợ Lớn, Sài Gòn - Gia Định đã mang những tên: thành phố, đặc khu, quân khu, thành… trong hệ thống tổ chức chiến trường, lấy Sài Gòn làm trung tâm, có giới hạn từng lúc thay đổi theo nhiệm vụ, yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, đồng thời cũng đã có những thay đổi rất lớn về hình thể các mặt.

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ở vào vị trí chếch hướng Tây Nam của miền Đông Nam Bộ, Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Tây và Nam giáp tỉnh Long An, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam ăn thông ra biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo tổ chức hành chính hiện nay, thành phố có 12 quận nội thành (1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận) và 6 huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ).

Thành phố ở vào 10o, 38’ - 11o, 10’ vĩ độ Bắc, 106o 22’ - 186o 54’ kinh độ Đông. Diện tích 2.828,9km2 (239km2 nội thành, 1889km2 ngoại thành).

Trung tâm thành phố cách biển Đông 50km đường chim bay, cách thủ đô Hà Nội 1730km đường bộ. Thành phố có 12km bờ biển. Cao độ trung bình so với mặt biển là 5,3m. Vùng đất phía bắc thành phố (Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức) có độ cao 10 - 25m, vùng trung tâm thành phố từ 5 - 10m, vùng thấp phía Nam và Tây Nam từ 2 - 0,5m.

Cao trình trên các vùng với những quan sát địa chất hiện lên điều rất quan trọng để nghiên cứu tiền sử của thành phố: nằm trên lằn ranh giới giữa hai tầng phù sa cũ và mới ăn từ Tây Ninh xuống Thành phố và từ Thành phố xuống Phước Lễ - Long Điền (Bà Rịa), và đại bộ phận đất đai thành phố là cùng một địa mạo với miền Đông Nam Bộ (vùng phù sa cổ), còn về phía Nam thành phố thì về cơ bản cùng một địa bạo với miền Tây Nam Bộ (vùng phù sa mới).

Nhìn tầm rộng, thành phố nằm ở vị trí trung tâm giữa đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên. Điều này quyết định vị thế thiên nhiên của thành phố trong tổng thể địa hình Nam Đông Dương. Trong chiến tranh giải phóng, đất và rừng miền Đông đủ đảm bảo hoàn chỉnh hệ thống căn cứ kháng chiến cả về chiến lược lẫn chiến thuật tiếp cận Thành phố, nơi địch đặt các cơ quan đầu não và là sào huyệt cuối cùng của chúng.

Rừng miền Đông bằng phẳng, tuy không dày đặc, nhưng kéo dài liên tục từ phía Bắc Tây Ninh, Sông Bé dọc biên giới Campuchia sang tận vùng ven biển Đông, vừa có chiều sâu của bản thân, vừa có lưng dựa Trường Sơn và rừng Nam Đông Dương. Từ những căn cứ Dương Minh Châu, chiến khu Đ… có thế vững chắc liên hoàn có thể thần tốc tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Trong thế chung của miền, các chiến khu lớn đó vươn sâu đến từng khu vực chung quanh Sài Gòn - Gia Định bằng các căn cứ chiến thuật. Không kể “căn cứ lòng dân” trong nội đô, một hệ thống lõm căn cứ với địa hình thiên nhiên đa dạng tiếp cận thành phố, những “căn cứ vệ tinh”, lõm du kích… hình thành thế trận bao vây, áp sát đầu não địch: đồn điền cao su, Rừng Sác, rừng Bời Lời, Củ Chi, tam giác An Điền - An Tây - An Thành, các lõm rừng Hắc Dịch, bưng sáu xã Thủ Đức, lòng chảo Nhơn Trạch, vườn Thơm Bà Vụ… những vườn cây ăn trái của Bình Chánh, Hóc Môn, Gò Vấp, Lái Thiêu, Thủ Đức, Long Thành, Thạnh Lộc, An Phú Đông…

Cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua cho thấy dải căn cứ chiến thuật bao quanh Sài Gòn là vùng tranh chấp quyết liệt giữa lực lượng phản cách mạng chiếm đô thị làm sào huyệt, với lực lượng cách mạng lấy nông thôn, rừng núi làm căn cứ. Ở vị trí trung gian, lực lượng làm chủ vùng rừng xen kẽ đồn điền cao su là lực lượng chiếm ưu thế để uy hiếp đối phương. Ở vị trí “sân sau” sào huyệt kẻ thù, Rừng Sác ngập nước, một “trận đồ” sông nước đảo triều hoang vu rộng trên 60.000 ha bao trùm sông Lòng Tàu, con đường độc đạo cho tàu đại dương từ Sài Gòn thông ra biển. Với thế hiểm của vùng ở vị trí “đấm là trúng” đối với sào huyệt kẻ thù, Rừng Sác trở thành chiến khu trên mặt nước mặn nổi tiếng trong lịch sử chống xâm lăng: những “năm căn”, “ba trại” của Trương Định, chiến khu Rừng Sác, đặc khu Rừng Sác trong chiến tranh ba mươi năm… nơi mà những tên lính Mĩ đã gặp phải “một cuộc chiến đấu kì lạ trong một cuộc chiến tranh kì lạ” (“Tường trình người lính” của Westmoreland, đoạn nói về Rừng Sác).

“Tam giác sắt”, một cái tên gọi do quân viễn chinh đặt trong chiến tranh vừa qua để chỉ một vùng đất “căn cứ của Việt Cộng” chỉ cách Sài Gòn không tới 40km về phía Tây Bắc, thuộc ba huyện Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, cái gạch nối giữa hai vùng chiến khu nổi tiếng của miền Đông, Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, có địa hình xen kẽ nhiều dạng về hình dáng: làng xóm, ruộng rẫy, vườn tược, sông và rừng, tạo nên thế liên hoàn “hai chân ba mũi” trong chiến tranh cách mạng mà quân địch đã tốn bao nhiêu sắt thép, sinh mạng không phá vỡ nổi. Một người Mĩ thừa nhận: “Vị trí này mạnh ở chỗ trên mặt đất thì hầu như không thể nào xâm nhập được, mà ở dưới mặt đất thì có một hệ thống hầm hào vô cùng phức tạp. Đây là một dinh lũy (của lực lượng cách mạng), với đầy đủ ý nghĩa của nó”, “một mũi tên đáng sợ chĩa thẳng vào Sài Gòn”. “Hệ thống hầm hào phức tạp” đó chính là hàng trăm ki-lô-mét địa đạo, một công trình của ý chí độc lập, tự do mà nhân dân Củ Chi đã tạo dựng nen suốt mấy mươi năm.

Bản thân Sài Gòn là một hải cảng quan trọng. Sông Sài Gòn đổ ra các đoạn Nhà Bè (16km), Lòng Tàu (33km), Ngã Bảy (16km), có độ sâu có thể tiếp nhận tàu biển trên 30 ngàn tấn - một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố ở sâu trong nội địa.

Nhìn cửa bể Cần Giờ người ta hiểu tại sao Bến Nghé xưa kia đã được khách nước ngoài ca ngợi là cánh cửa lớn của Việt Nam mở ra Thái Bình Dương, tại sao hồi thế kỉ 18, hai lần Nguyễn Huệ lấy thành Gia Định của Nguyễn Ánh đều ngược sông Lòng Tàu, tại sao hồi thế kỉ 19 quân Pháp và Tây Ban Nha lại cũng chọn ngả sông này làm con đường thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn… và tại sao cũng lại trên khu vực đầu sông Lòng Tàu, Mĩ đã xây dựng những kho tàng chiến tranh lớn nhất Đông Dương.

Cảng Sài Gòn nằm sâu trong lòng đất liền 80km theo đường sông, nhưng lại có bến Rạch Dừa ở gần cửa biển là nơi có thể phát triển thành hải cảng lớn. Sau năm 1954, cảng Sài Gòn có quân cảng dài 2km, 11 cầu tàu và thương cảng dài 1991m, 6 bến, 14 cầu tàu, khả năng tồn trữ 48.000 tấn trong 3 tháng. Cảng Nhà Bè cách cảng Sài Gòn 10 hải lí, có kho chứa xăng dầu 63.000m3. Khi quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, trên sông Sài Gòn - Nhà Bè lại hình thành thêm 6 cảng mới thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự. Với mặt nước tự nhiên chiếm 29.000 ha trên toàn khu vực, hệ thống đường sông đảm bảo thông thương từ Sài Gòn lên miền Đông, xuống miền Tây, sang Campuchia.

Thủy triều có ảnh hưởng đến lưu thông đường sông, gồm 2 loại: thủy triều nửa ngày (khoảng cách thời gian giữa hai lần thủy tiên lên cao nhất là 12 giờ 25 phút), thủy triều hỗn hợp (khoảng cách trên là 24 giờ, biên độ 3m, mực nước trung bình 0,17m.

Thành phố là nơi gặp gỡ đầu mỗi của nhiều xa lộ, quốc lộ, liên tỉnh lộ… ở khu vực Nam Đông Dương, đảm bảo lưu thông từ Sài Gòn ra miền Bắc, đi các tỉnh, lên Lào và Campuchia. Những con đường huyết mạch sống còn của Đông Dương đều qua Sài Gòn: quốc lộ số 1 Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh, lên ải Bắc, xuống miền Tây, quốc lộ 13 lên Campuchia, Lào, quốc lộ 22 lên Campuchia, xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa là đường vận chuyển lớn bổ sung quốc lộ 1 qua các cầu trọng tải 50 tấn (Sài Gòn, Rạch Chiếc, Đồng Nai). Hệ thống cầu vào các cửa ngõ thành phố có trọng hạng đảm bảo xe tăng, tên lửa ra vào nội ngoại đô an toàn.

Sân bay Tân Sơn Nhất cách trung tâm thành phố 7km, là một trong 6 sân bay loại 3 trên toàn miền Nam (sân máy bay phản lực có thể hạ cánh và có đủ phương tiện cho ngày đêm, mọi thời tiết), đứng vào loại lớn trên thế giới, nơi quá cảnh của các đường bay quốc tế qua khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đã có thời 20 hãng hàng không thương mại quốc tế sử dụng sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay có thể tiếp nhận hàng trăm máy bay phản lực, quân sự và dân sự hạng nặng lên xuống trong một ngày.

Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hưởng gió mùa, thuộc vùng khí hậu gần biển, nhiệt độ trung bình 27oC với biên độ 3o8C, ẩm độ 18,5%, lượng mưa trong năm 1779mm. Thời tiết nói chung thuận hòa, ít ngập lụt.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2012, 10:01:39 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:15:27 AM »

*
*   *

Thành phố Hồ Chí Minh còn rất trẻ, chưa đầy 300 năm, nhưng đô thị này đã hình thành trên một vùng văn hóa rất xưa.

Cư dân Sài Gòn - Gia Định gốc từ nhiều vùng trên đất nước Việt Nam đến đây. Trừ một số có tiền của, quyền thế, đi khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn, những con người đi xa là những nông dân cùng khổ, những kẻ bị tội lưu đày, những binh lính sau cuộc viễn chinh không còn đường trở lại… đã giã từ những “khuôn lũy tre” không chỉ để “tha phương cầu thực” mà còn để đi tìm tự do. Miền đất mới vẫy gọi những con người có chí mạo hiểm.

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng.

Và ở đó dường như họ đã bỏ lại đằng sau mình những gì quá nặng nề, những xiềng xích, tập tục nho giáo đã tồn tại hàng bao thế kỉ.

Ở xứ đất rộng người thưa, buổi đầu chim trời cá nước, những người đi xa vốn ít nhiều có đầu óc mạo hiểm phát huy được cái vốn vô giá mang theo là niềm tự hào dân tộc có bốn ngàn năm lịch sử, đã từng thắng giặc Hán, Tống, Nguyên, Minh, từng chế ngự sông Hồng, sông Mã. Niềm tự hào dân tộc trên đất mới, hoàn cảnh mới đã hình thành nét đặc sắc trong tính cách: tâm lí năng động và hào hiệp, ít chuộng hình thức của những con người “tứ chiếng”, tính khí khảng khái, trung thực, “trọng nghĩa khinh tài”, sĩ khí hiên ngang.

Trải qua vài thế kỉ trước khi quân “bạch quỷ” kéo đến, mảnh đất này đã ghi bao chiến công chống xâm lược và chống phong kiến phản động: 4 lần quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh tan tác quân Nguyễn Ánh (từ năm 1777 đến năm 1785), một trận Rạch Gầm - Xoài Mút chỉ trong 1 ngay “quân Xiêm khi đi cả thảy lẫn bộ 5 vạn chỉ còn hơn 1 vạn”.

Tháng 2 năm 1859, ngay từ khi đặt chân lên đất Sài Gòn, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã phải đối đầu với lực lượng 5800 nông dân Gia Định gậy gộc giáo mác tập hợp cùng quân triều đình dưới sự chỉ huy của các sĩ phu yêu nước, quân xâm lăng rơi vào tình thế bị bao vây 1 năm trời “Sĩ phu và dân chúng liều mình đứng lên, khảng khái chịu chết không kể xiết được…, (Nguyễn Thông), “Gươm giáo dùng bằng lưỡi dao phay… trong tay cầm một gậy tầm vông mà chọi với súng sắt tàu đồng” (Nguyễn Đình Chiểu). Quân Pháp phải trả một giá đắt mới lấy được đồn Chí Hòa dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương (từ năm 1859 đến năm 1861). Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau, đứng đầu là các sĩ phu yêu nước Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt… ở miền Đông, phối hợp với các cuộc khởi nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, đốc binh Kiều, Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Tòng… Khi thực dân Pháp đặt xong ách đô hộ ở Nam Kì không có nghĩa là các phong trào đã chấm dứt. Cuộc khởi nghĩa “18 thôn vườn trầu” năm 1886 do Phan Công Hớn và Phan Công Bường tổ chức là một trong những chứng minh. Chỉ một đêm 30 Tết, nghĩa quân đã đốt trụi đồn Hóc Môn, trừng trị tên đốc phủ Việt gian Trần Tử Ca. Đầu thế kỉ hai mươi, phong trào yêu nước tiếp tục nổ ra: phong trào Phan Xích Long và Thiên Địa Hội (năm 1913), các phong trào Duy Tân, Đông Du (từ năm 1925 đến năm 1926), đảng Thanh Hoa (Thanh niên cao vọng đảng) của các nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, Võ Công Tồn… Do hạn chế lịch sử, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào ấy đều thất bại, nhưng đã chứng minh câu trả lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực trước những lời dụ dỗ của tên thống đốc Chier “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

Đất Sài Gòn là nơi sinh ra và hun đúc nhiều nhân vật văn hóa, chính trị lớn: Võ Trường Toản bậc “phu tử” miền Nam, Trịnh Hoài Đức, một trong “Gia Định Tam gia”, tác giả tập sách quan trọng “Gia Định thành thông chí”, Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ yêu nước kiệt xuất, Nguyễn Cư Trinh nhà cai trị, nhà văn có tài. Sĩ phu “mang bút tòng quân” đánh giặc và hun đúc sĩ khí con người trên đất mới: Nguyễn Thông, Hồ Huân Nghiệp, Võ Duy Ninh, Trần Xuân Hòa, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị… Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” tỏ rõ khí phách, tâm hồn, “hào khí Đồng Nai” giữa những tháng năm đau thương mà oanh liệt.

*
*   *

Trên đất Nam Kì 70% nông dân không có đất cắm dùi, 80% đất đai trong tay các điền chủ, thực dân Pháp thực hiện một chính sách thuộc địa gọi là “ưu đãi”, hòng tách Nam Kì và Sài Gòn ra khỏi tổng thế đất nước dựa vào lập luận đơn giản: miền đất khai phá gồm dân lưu tán chống đối chế độ vua chúa và địa chủ hà khắc sẽ tiếp nhận không mấy khó khăn “chế độ thuộc địa” với những điều kiện sinh hoạt “cao hơn”. Một thế kỉ sau đế quốc Mĩ cho “nhập cảng” chính sách thực dân mới với cùng một ảo vọng như vậy.

Lịch sử sẽ chứng minh kết quả trái ngược suy tính của những đầu óc thực dân.

Dân số Sài Gòn - Gia Định từ 317.000 cuối thế kỉ 19 lúc Pháp mới đặt ách đô hộ, lên non nửa triệu năm 1940, gần 2 triệu năm 1954 rồi 4 triệu năm 1975. Như vậy trong 45 năm từ kết thúc chiến tranh 30 năm trở về trước, dân số tăng gấp 8 lần.

Sự tăng dân số nhanh từ năm 1954 đến năm 1975 là một hiện tượng đáng chú ý. Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp và của các ngành phục vụ chiến tranh, do việc mở rộng các căn cứ quân sự của địch, do mở rộng đô thành và đặc biệt do chiến tranh khốc liệt, lâu dài tàn phá nông thôn… nhân dân các nơi đổ về thành phố ngày một đông. Từ hơn 1 triệu rưỡi trước năm 1954 - 1955, dân số Sài Gòn đã lên 2.074.000 người vào cuối năm 1960, 3 triệu vào năm 1970, 4 triệu vào năm 1975. Một bộ phận lớn nông dân đã trở thành công nhân và lao động làm thuê, làm cho lực lượng công nhân và lao động thành phố tăng nhanh và chiếm tỉ lệ cao nhất. Tiếp sau chính sách “Nam Kì thuộc địa” của thực dân Pháp, sự “nhập cảng” chủ nghĩa tực dân mới và việc Mĩ cố tạo ra một tầng lớp xã hội gắn liền với nó, Sài Gòn trở nên điểm tập trung giai cấp tư sản - đặc biệt là tư sản mại bản quan liêu quân phiệt, tư sản mới hình thành từ trong hàng ngũ sĩ quan và ngụy quyền cao cấp - bọn địa chủ phản động tay sai. Quyền lợi của chúng đối lập với quyền lợi của dân tộc, càng gắn liền với đế quốc xâm lược.

Một đặc điểm đáng chú ý khác của Sài Gòn là sự hiện diện cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn. Với khoảng hơn nửa triệu người, số bà con người Hoa ở đây chiếm gần một nửa tổng số người gốc Hoa ở Việt Nam. Bên cạnh số quân lính triều nhà Minh của Trung Hoa chạy sang vào thời Mãn Thanh, phần đông họ là con cháu của những người lao động nghèo khổ, không chịu nổi cảnh cơ cực, khốn cùng ở đất nước Trung Hoa nửa thuộc địa nửa phong kiến, quân phiệt, cát cứ, nội chiến triền miên, buộc phải rời bỏ quê hương sang đất nước Việt Nam làm ăn. Qua quá trình đấu tranh và phát triển, khối người Hoa này dần dần phân hóa thành các giai cấp khác nhau. Bên cạnh đại đa số bà con lao động, dân nghèo, thủ công, một số đảng người Hoa là trung thương, tiểu thương, tiểu chủ nặng lo buôn bán làm ăn, không muốn dính líu chính trị. Trong số đó có người trở nên giàu có và chiếm một tỉ lệ không ít trong tầng lớp tư sản thành phố. Đặc biệt một số người trở thành triệu phú, tư sản mại bản, tài phiệt, có quyền lợi gắn chặt với cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động gốc Hoa rất cần cù, chất phác, và cũng như người Việt, có mâu thuẫn với giai cấp bóc lột và đế quốc xâm lược. Họ đã trở thành những cơ sở trung kiên và tích cực tham gia cách mạng qua vận động cách mạng và cuộc sống thực tế.

Sài Gòn cũng là nơi có nhiều tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo và Thiên chúa giáo.

Sau năm 1975, nhân dân từ nông thôn đã hồi cư một số lớn, một số khá đông đi xây dựng kinh tế mới, tính vào thời điểm 30 tháng 8 năm 1984 số dân thành phố Hồ Chí Minh còn là 3.541.855 người, trong đó 12 quận nội thành có hơn 2,5 triệu, mật độ thuộc loại cao trên thế giới (mật độ trung bình hơn 16.000 người/km2, riêng quận 5 mật độ 47.000 người/km2), 6 huyện ngoại thành số dân hơn 1 triệu (mật độ 510 người/km2).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:19:16 AM »

*
*   *

Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp kéo theo sự hình thành và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời tạo ra cơ sở xã hội cho một đảng của giai cấp công nhân ra đời - Đảng Cộng sản.

Những người công nhân Việt Nam đầu tiên, công nhân theo định nghĩa thời đại cơ khí, đã ra đời ở Sài Gòn từ nửa cuối thế kỉ XIX. Đầu thế kỉ XX, công nhân thành phố đã có một số lực lượng tập trung khá đông đảo và lập tức mở ra các cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, công nhân xưởng Ba Son, 40.000 lao động đào kinh Đời bãi công, học sinh trường Bá Nghệ (sau này là trường Cao Thắng) bãi khóa năm 1912, cuộc bãi công của thợ nhuộm ở Chợ Lớn năm 1922… Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân”, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá phong trào công nhân lao động thành phố lúc đó như là “dấu hiệu của thời đại”(1). Công hội đỏ, tổ chức công hội bí mật thiên tả đầu tiên ở nước ta được đồng chí Tôn Đức Thắng vận động thành lập năm 1920. Dưới luật lệ cấm bãi công rất hà khắc ở xưởng công binh Ba Son của hải quân Pháp, cuộc bãi công của 1000 công nhân ngày 4 tháng 8 năm 1925 do Công hội đỏ lãnh đạo, được công nhân viên chức các xưởng và đông đảo lao động thành phố ủng hộ, đã thắng lợi đúng vào lúc chiếc tàu Pháp J. Michelet cần sửa chữa gấp để lên đường sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu ghi nhận sự việc đó như một tuyên ngôn của giai cấp công nhân Sài Gòn - tuy còn “tự nó” - về sự đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, hơn nữa gắn đấu tranh giai cấp với tinh thần quốc tế vô sản.

Bởi là nơi xâm nhập của trào lưu văn hóa và lí luận cách mạng tư sản lẫn lí luận vô sản rất sớm, Sài Gòn trở thành điểm tụ hội của những người yêu nước mang những xu hướng khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà trước cả các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… Sài Gòn là nơi bắt đầu cuộc ra đi tìm đường cứu nước của một nhân vật lịch sử vĩ đài thầy giáo Nguyễn Tất Thành, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 5 tháng 6 năm 1911 tại Bến Nhà Rồng, Người đã xuống tàu “Đô đốc Latusơ Tơrêvil” (Latouche Trèville). Ai biết rằng, người chiến sĩ ấy - thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc đấu tranh đầy gian lao cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam trước tiên qua bến cảng Sài Gòn từ những năm hai mươi với báo Người Cùng Khổ, Việt Nam Hồn, Nhân Đạo… Từ đó phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thành phố đi vào chiều sâu với tổ chức “Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội” ra đời năm 1927 cùng với sự hình thành các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản năm 1929: Việt Nam Cách mạng Đảng (sau là Tân Việt Đảng), An Nam Cộng sản Đảng, bộ phận Nam Kì của Đông Dương Cộng sản Đảng với các đồng chí Châu Văn Liêm, Ngô Gia Tự…

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, Sài Gòn là một trong những nơi Trung ương Đảng đặt trụ sở đầu tiên. Xứ ủy Nam Kì, Thành ủy Sài Gòn, Tỉnh ủy Gia Định, Tỉnh ủy Chợ Lớn được thành lập ngay trong những tháng đầu của năm 1930. Từ năm 1930 đến năm 1939 đã có nhiều lần hội nghị Trung ương họp tại Sài Gòn - Gia Định(1). Từ khi có Đảng, được Trung ương và Xứ ủy trực tiếp lãnh đạo, Thành phố Sài Gòn đã cùng cả nước mở ra một trang sử mà đồng chí Hồ Chí Minh đánh giá là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng(3).

Phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp phần không nhỏ vào các cao trào cách mạng thời kì năm 1930 đến năm 1945.

Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1930, cuộc đình công của công nhân nhiều xí nghiệp Sài Gòn do Đảng lãnh đạo kéo dài 5 ngày gây tiếng vang lớn.

Thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương, trong 700 ủy ban hành động được thành lập thời đó, đã có 600 ủy ban ở Sài Gòn và Nam Kì. Tờ Dân Chúng ra đời từ tháng 7 năm 1938, tờ báo công khai của Trung ương Đảng ở Sài Gòn, đã mở đầu cho phong trào tự do báo chí ở Nam Kì, có số lượng phát hành lớn nhất có với tất cả các báo khác. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đánh giá: “Tôi nghĩ rằng báo Dân Chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc ở Đông Dương - mỗi số một vạn bản. Phản đối chính phủ tìm cách ngăn cản các ứng cử viên của Mặt trận Dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt trong vòng đầu, báo Dân Chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2985 cử tri đã làm theo”(4).

Cuộc khởi nghĩa Nam Kì, do tình thế chưa chín muồi, tình huống trắc trở, đã không nổ ra được theo kế hoạch ở trung tâm thành phố Sài Gòn, nhưng đã nổ ra đồng loạt ở Hóc Môn, Gò Vấp, Vinh Lộc, Phú Lâm, Trung Quận (Bình Chánh), tức là vùng ngoại thành và 18 tỉnh khác của Nam Kì. Đó là một cuộc quần chúng vũ trang khởi nghĩa có quy mô rộng lớn, tuy không thành công, nhưng có ý nghĩa rất lớn trước cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Nam Bộ.

Trong suốt 15 năm thời kì vận động cách mạng, từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có biết bao người con ưu tú của Đảng, của nhân dân, anh dũng hi sinh tại thành phố, tiêu biểu là các đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng; Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư; Ngô Gia Tự; Bí thư Xứ ủy đầu tiên; Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy; Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành ủy, cùng nhiều đồng chí khác: Lí Tự Trọng, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu…

Tháng 8 năm 1945, chuẩn bị cướp chính quyền ở Sài Gòn, Ủy ban khởi nghĩa Sài Gòn có trong tay trên 12.000 hội viên công đoàn đã sẵn sàng đội ngũ, hơn 100.000 đoàn viên Thanh niên Tiền phong bao gồm cả học sinh, viên chức và trí thức, hàng chục vạn nông dân ngoại thành với gậy gộc, dao rựa và một số quan trọng cơ sở cảm tình trong lực lượng “bảo an binh” của ngụy quyền.

Trong đêm ngày 24 rạng ngày 15 tháng 8, không chỉ hàng chục vạn đồng bào các quận, huyện Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, mà còn đồng bào ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An, Mĩ Tho… kéo về Sài Gòn cùng lực lượng tại chỗ giành chính quyền. 0 giờ ngày 25 tháng 8 năm 1945 toàn bộ chính quyền Sài Gòn đã về tay nhân dân.

Nhưng nhân dân Sài Gòn - Gia Định chỉ mới được hưởng quyền độc lập tự do có 29 ngày. Dưới mắt những tên thực dân Pháp, từng thống trị Đông Dương, chúng vẫn tâm niệm “Nam Kì là cái trục thực sự của chính sách chúng ta ở Đông Dương”(5).

Trong kế hoạch tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp coi Nam Bộ là cái cầu phải chiếm trước trong đó Sài Gòn là điểm nút hành động khởi hấn. Lịch sử lần nữa giao cho Sài Gòn và Nam Bộ nhiệm vụ “đi trước”, mở đầu cuộc kháng chiến 9 năm. Suốt cả cuộc tái xâm lược này, Sài Gòn là thủ phủ, là sào huyệt của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Pháp cuốn gói sau cuộc chiến tranh trở lại Việt Nam lần thứ 2 thất bại, đế quốc Mĩ xông vào thay thế và Sài Gòn trở thành cái gọi là “thủ đô” của “nước Việt Nam cộng hòa”, con bài tay sai cốt tử của chủ nghĩa thực dân mới. Tại đây tập trung 32 cơ quan đầu não cao nhất của bọn xâm lược và tay sai, trong đó có Tòa đại sứ Mĩ - Nhà Trắng và Bộ Tư lệnh Mĩ - Lầu Năm Góc phương Đông, Phủ tổng thống ngụy, các bộ tư lệnh, quân binh chủng… Sài Gòn Gia Định là “thủ đô” của chế độ tay sai, đồng thời là trung tâm đầu não quân sự với hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ từ gần ra xa. Ngoài hệ thống ngụy quyền kềm kẹp, ở đây tính ra trung bình 2 người dân thành phố có 1 tên lính và tay sai, công an, cảnh sát, mật vụ hỗ trợ cho bộ máy đó.

21 năm dài sống và đương đầu dưới ách chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mĩ, trong tình thế cả nước đang có chiến tranh khốc liệt, dĩ nhiên, tinh thần, tư tưởng, nếp suy nghĩ của người dân Thành phố không thể không chịu những tác động sâu sắc các chính sách của kẻ thù, một số không ít người bị kềm kẹp, uy hiếp, mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt rơi vào cầu an, xa lánh cách mạng, thậm chí có kẻ sa đọa gây tội ác. Nhưng “Người Sài Gòn” vẫn là “Người Sài Gòn” bất khuất. Truyền thống yêu nước quật khởi, “hào khí Đồng Nai” đã được phát huy mạnh mẽ trong cuộc chiến đấu mới, kéo dài, vô cùng ác liệt, nhưng tất thắng.

21 năm đánh Mĩ, miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định ngày càng thể hiện rõ và nổi bật vị trí chiến lược là vùng tập trung các mục tiêu đầu não của kẻ thù, phải được giải quyết bằng những đòn quyết định chiến lược nhất của chiến tranh.

“Đi trước” “Về sau” trong cuộc chiến tranh 30 năm, cùng với cả nước, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã làm tròn vẻ vang nhiệm vụ mà lịch sử giao phó.


(1) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I, NXB Sự thật, 1980, tr. 198.
(2) Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 2, tháng 3 năm 1931 do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên chủ trì ở nhà 236 đường Richaud (đường Nguyễn Đình Chiểu hiện nay); Hội nghị BCH TƯ Đảng mở rộng họp tại Tân Thới Nhứt (Bà Điểm) tháng 3 năm 1937; Hội nghị BCH TƯ Đảng mở rộng do đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ tham dự tháng 3 năm 1938; Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 6 có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn dự tháng 11 năm 1939.
(3) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I, NXB Sự thật, 1980, tr. 152.
(4) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập III, NXB Sự thật, 1980, tr. 134.
(5) Trích chỉ thị của Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet gửi Cao ủy D’Argenlieu năm 1946.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:21:04 AM »

Phần thứ nhất

KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)

Chương một

SÀI GÒN MỞ ĐẤU CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(23-9-1945 - 12-1946)

I. THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC NƯỚC TA MỘT LẦN NỮA.
HAI MƯƠI CHÍN NGÀY SÔI SỤC CÁCH MẠNG
VÀ KHÓ KHĂN PHỨC TẠP TRƯỚC “NAM BỘ KHÁNG CHIẾN”


Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa Việt Nam bước sang một kỉ nguyên mới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm đứt tung sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á, ở một khâu trọng yếu, báo hiệu nền thống trị của chủ nghĩa đế quốc đứng trước quá trình sụp đổ. Đế quốc Pháp, dù bị suy yếu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, vẫn ngoan cố tìm cách thủ tiêu thành quả Cách mạng Tháng Tám, lập lại chế độ trống trị thực dân ở Việt Nam.

Ngay từ khi nước Pháp còn đang bị phát xít Đức chiếm đóng, tướng De Gaulle tại Algérie, ngày 8 tháng 12 năm 1943 đã tuyên bố: “Sẽ giải phóng Đông Dương”. Để chứng minh cho tuyên bố trên, De Gaulle cho thành lập phái đoàn quân sự Pháp đặt ở Côn Minh (Trung Quốc), ở Kandy Srilanka, trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC) ở Calcutta (Ấn Độ) và lữ đoàn cơ động Viễn Đông (BMEO) ở Madagascar. Tất cả sẵn sàng trở lại tái chiếm Đông Dương. Cùng với quá trình tiến triển thuận lợi của phe Đồng Minh trong chiến tranh thế giới, âm mưu trên càng được ráo riết thực hiện. Cuối năm 1944, De Gaulle thành lập ủy ban hành động giải phóng Đông Dương. Và ngày 24 tháng 3 năm 1945, De Gaulle tuyên bố:

“Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kì, Bắc Kì, Trung Kì, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền lợi đối ngoại sẽ do Pháp đại diện.

Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang đứng đầu là một viên toàn quyền và gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó. Chính phủ liên bang sẽ là người trọng tài gồm 5 xứ. Bên cạnh viên toàn quyền có một hội đồng nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất 50% số ghế. Một quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp”.

Ý định trở lại xâm lược Đông Dương của giới quân phiệt Pháp càng trở nên hối thúc từ sau khi nước Pháp được giải phóng. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) - gồm sư đoàn thuộc địa số 9 (9è DIC) do Valluy chỉ huy, binh đoàn thiết giáp do Massu chỉ huy và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3è DIC) được thành lập và đưa sang Đông Dương. Ngay sau đó, FEFEO đổi thành đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông là tướng Leclerc. Đô đốc D’Argenlieu được cử làm cao ủy kiêm tổng tư lệnh hải lục quân, không quân Pháp ở Đông Dương.

Cùng ngày thành lập lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, Lelerc đi Kandy và được tướng Mountbatten tư lệnh lục quân Anh ở Đông Nam Á hứa giúp đỡ quân Pháp trở lại Đông Dương, dù Mountbatten biết hội nghị Potsdam ngăn cấm hành động này.

Hạ tuần tháng 8 năm 1945, một kế hoạch dùng biệt kích nhảy dù xuống vùng rừng núi Việt Nam, Lào phối hợp với bọn tàn binh tại chỗ chuẩn bị tiếp đón quân viễn chinh được vạch định. Một đại đội biệt kích theo quân Anh sang làm nhiệm vụ tiền trạm ở Đông Dương nhận được lênh của Leclerc khẩn tốc lên đường.

Ngày 22 tháng 8 năm 1945, một máy bay không quân Hoàng gia Anh thả một nhóm nhân viên quân sự và dân sự xuống Tây Ninh, khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Đại tá Cédille, người được chính phủ Pháp cử làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại miền Nam Việt Nam có mặt trong nhóm nhảy dù này.

Cédille bị thanh niên địa phương bắt, được bọn Nhật giành lại và đưa về Sài Gòn.

Ngày 24 tháng 8 năm 1945, kế hoạch trở lại Đông Dương do Leclerc và Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp vạch ra(1) được Ủy ban Đông Dương - cải tổ từ Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương thông qua.

Vậy là, đến trước ngày Sài Gòn tổng khởi nghĩa, việc trở lại Đông Dương của thực dân Pháp đã không còn chỉ nằm trong ý định! Với sự giúp đỡ của quân đội Anh và sự hứa hẹn viện trợ của đế quốc Mĩ, giới quân phiệt Pháp đã quyết tâm chính thức tái lập ách thống trị thực dân kiểu cũ lên Việt Nam, Lào và Campuchia, mơ tưởng bòn chiếm sức người, sức của ở khu vực này để hàn gắn vết thương chiến tranh, hầu cứu vãn nền kinh tế xã hội Pháp vừa bị cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tàn phá nặng nề.


(1) Kế hoạch gồm 5 nội dung: 1. Dựa vào sự có mặt của quân Anh để xâm chiếm từ Nam vĩ tuyến 16, 2. Thả dù nhân viên quân sự và lực lượng quân sự xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, 3. Xác nhận việc duy trì chủ quyền của nước Pháp ở Đông Dương, trước hết là đối với Đồng minh, 4. Từng bước giành lại những vùng do Trung Quốc kiểm soát, 5. Về phương diện chính trị, tùy hoàn cảnh mà thương thuyết với các nhân vật bản xứ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:24:30 AM »

*
*   *

Ngày 2 tháng 9 năm 1945

Tại Sài Gòn, hơn một triệu người đổ về quảng trường Norodom (nay ở trên đường Lê Duẩn) dự lễ mít tinh mừng ngày độc lập dân tộc. Xen giữa rừng cờ đỏ sao vàng là các biểu ngữ được viết bằng nhiều thứ tiếng “Độc lập hay là chết!”.

Thay mặt Chính phủ, ủy viên Lâm ủy hành chánh Phạm Ngọc Thạch bày tỏ Chính phủ sẽ trung thành với chương trình của Mặt trận Việt Minh, kiên quyết bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đại diện Xứ ủy và kì bộ Việt Minh Nguyễn Văn Nguyễn đọc diễn văn kêu gọi đồng bào các giới ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ ra sức ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Kế đến, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Trần Văn Giàu kêu gọi nhân dân xiết chặt hàng ngũ xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ vững tinh thần, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do. Cả rừng người, rừng cờ lay động, hừng hực khí thế. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất được tổ chức trọng thể giữa thành phố Sài Gòn 8 ngày sau tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Đoàn người chuẩn bị chuyển sang tuần hành thì bất ngờ, từ lâu cao bên cạnh nhà thờ Đức Bà, bọn phản động Pháp chĩa súng bắn thẳng vào đoàn biểu tình. Anh Phạm Nhã, phụ trách công đoàn nhà hàng Sài Gòn ngã xuống. Anh là liệt sĩ đầu tiên của thành phố Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. 47 người chết và bị thương. Căm thù trước hành động của bọn phản động Pháp, hàng trăm người tay không, lập tức tỏa ra, trèo lên các tòa lầu truy lùng bắt và tước khí giới gần 1000 người Pháp(1). Cuộc biểu tình vẫn tiếp tục!

Từ sau ngày 2 tháng 9, máy bay không quân Hoàng gia Anh bay lượn thường xuyên trên bầu trời Sài Gòn và các tỉnh kế cận. Ngày 4 tháng 9, tướng Gracey tư lệnh sư đoàn 20 quân đội Hoàng gia Anh, trưởng phái bộ Đồng minh, vu cáo chính phủ ta không giữ được trật tự và lệnh cho thống chế Têuruchi, tư lệnh phương diện quân Nam của Nhật điều 7 tiểu đoàn quân Nhật từ các tỉnh Nam Bộ về Sài Gòn. Các đơn vị lính Nhật vừa thua trận kéo về đi lại nghênh ngang trong đường phố. Gracey láo xược đòi Ủy ban hành chính địa phương tước khí giới và giải tán các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Ngày 6 tháng 9, quân đội Anh tới Sài Gòn. Trà trộn trong đơn vị này, trong bộ quân phục quân đội Hoàng gia Anh là một đại đội gồm 120 binh sĩ thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC) của Pháp, sang làm nhiệm vụ tiền trạm. Tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, đông đảo Pháp kiều vốn là công chức của bộ máy cai trị cũ, mật thám, chủ nhà băng, chủ đồn điền… kéo ra đón tiếp quân đội Pháp. Bọn phản động tay sai người Việt cũng ngo ngoe ngóc đầu dậy chuẩn bị đón chủ cũ. Bóng mây của một cuộc chiến tranh xâm lược đang đến gần.

Trong khi đó, từ sau cuộc mít tinh tuần hành ngày 2 tháng 9, trên khắp các địa bàn nội ngoại thành phố, phong trào cách mạng như một dòng thác sôi sục, đang chảy mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Từ thành phố đến quận, bộ, làng, xã, ta gấp rút củng cố tổ chức Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cách mạng và Đảng đã có từ trước và sau ngày 25 tháng 8. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh (Thượng Vũ) phụ trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Tỉnh Gia Định vẫn giữ nguyên hai tỉnh ủy Tiền Phong (Phạm Văn Khung làm Bí thư) và Giải Phóng (Huỳnh Văn Thơm làm Bí thư). Hệ thống Ủy ban nhân dân Mặt trận Việt Minh được lần lượt thành lập và củng cố(2). Lâm ủy hành chánh Nam Bộ đổi thành Ủy ban nhân dân Nam Bộ, do Phạm Văn Bạch làm chủ tịch, Trần Văn Giàu làm phó chủ tịch kiêm ủy trưởng quân sự. Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn giữ nguyên bộ máy tổ chức cũ do người của cách mạng nắm giữ (Kha Vạn Cân làm Chủ tịch, Phan Văn Chương làm Phó Chủ tịch). Thành phần tham gia Mặt trận Việt Minh được mở rộng gồm trí thức, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo và quan chức cũ (do Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách). Các tổ chức đoàn thể cách mạng như công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố và hoạt động rầm rộ. các đội Thanh niên Tiền Phong (riêng trong các xí nghiệp con số lên tới 20 vạn) chuyển thành Thanh niên Cứu quốc.

Chỉ trong một thời gian ngắn, các tổ, đội vũ trang được gấp rút hình thành. Đại bộ phận trong số họ là từ đoàn viên công đoàn, Thanh niên Tiền phong ban xí nghiệp đã được tổ chức trong tổng khởi nghĩa, những công nhân, nông dân, thanh niên học sinh, lao động thành thị, trí thức… chỉ có gậy tầm vông, giáo mác hoặc tay không, nhưng tinh thần đặc biệt hăng hái. Cán bộ nòng cốt trong các lực lượng này do Tổng công đoàn tổ chức ngay từ đầu.


(1) Ngay trong đêm ngày 2 tháng 9 năm 1945, ta thả hết số người Pháp bị bắt này để giữ “hòa khí” với quân Đồng Minh.
(2) Ngày 27 tháng 8 năm 1945, đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh vào đến Sài Gòn. Đồng chí đã chỉ thị đổi Lâm ủy hành chánh Nam Bộ thành Ủy ban nhân dân Nam Bộ và thành lập ủy ban nhân dân các cấp, mở rộng thành phần Mặt trận Việt Minh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:25:54 AM »

Ngay chiều ngày 2 tháng 9, đồng chí Nguyễn Lưu, phụ trách Tổng công đoàn Nam Bộ, được lệnh của đồng chí Trần Văn Giàu thành lập ngay lực lượng vũ trang của công nhân để bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng. Chỉ trong hai ngày, Tổng công đoàn Nam Bộ đã tổ chức xong 360 tổ xung phong công đoàn, lúc đầu mới chỉ có 60 cây súng, còn lại là gậy gộc, dao búa. Một Ban chỉ huy được chỉ định gồm: Nguyễn Lưu (chỉ huy trưởng), Từ Văn Ri (chỉ huy phó), Huỳnh Đinh Hai (tham mưu trưởng) và các ủy viên Trần Minh Quyền, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Tư. Đêm 4 tháng 9, lực lượng công nhân vũ trang Sài Gòn hội tụ tại trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ số 72 đường Lagrandière (nay là đường Lí Tự Trọng) lập bàn thờ Tổ quốc, họp mít tinh, tuyên thệ: “Là chiến sĩ xung phong công đoàn, xin thề trước bàn thờ Tổ quốc quyết cùng anh em lao động không nản chí trước khó khăn, không lùi bước trước nguy hiểm để cùng đồng bào bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn non sông”.

Cùng lúc, ở ngoại ô thành phố tại các tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, hàng loạt thanh niên nông dân ngoại thành và công nhân trong thành phố tự nguyện thoát li cũng lần lượt tập hợp thành những nhóm vũ trang nhỏ lẻ do các đảng viên cũ kêu gọi và chỉ huy, như các bộ phận của Cao Đức Luốc, Huỳnh Tấn Chúa, Tô Kí, Nguyễn Văn Thược, Huỳnh Văn Một (phía Tây Bắc), Phạm Văn Khung, Nguyễn Văn Công, Thái Văn Lung, Đào Sơn Tây, Trần Thắng Minh (phía Đông Bắc), Trương Văn Bang, Dương Văn Dương, Nguyễn Văn Mạnh (phía Đông Nam Sài Gòn - Gia Định).

Các đội xung phong công đoàn và nhóm vũ trang kể trên trở thành những đơn vị vũ trang nòng cốt tại chỗ của Sài Gòn - Gia Định trong nội và ngoại ô thành phố.

Cũng ngay trong những ngày đầu độc lập, Ủy ban nhân dân Nam Bộ tiếp nhận một đơn vị vũ trang có tên là Đệ nhất Sư đoàn dân quân cách mạng, lúc đầu do Kiều Công Cung, sau đó Trương Văn Giàu chỉ huy, và đặt tên là Cộng hòa vệ binh. Thành phần của Cộng hòa vệ binh gồm 3 đoàn bảo an binh của chính quyền cũ, được bổ sung thêm nhiều thanh niên, học sinh, công nhân và một số đảng viên cộng sản đưa vào làm nòng cốt, có số lượng khoảng 10.000 người, với khoảng 400 súng các loại.

Bên cạnh những đơn vị vũ trang chủ yếu kể trên mà thành phần hợp thành là những công nhân lao động, nông dân, học sinh, nhân sĩ trí thức, đầy nhiệt huyết cách mạng “Ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến” do các đảng viên cộng sản hoặc những cán bộ cách mạng cốt cán chỉ huy, còn có những tổ chức vũ trang gồm binh lính cũ hoặc vô sản lưu manh do các phần tử chính trị cơ hội, các tay anh chị lục lâm cầu đầu, được vội vã thành lập để tạo thế lực và kiếm chác quyền hành. Họ tự xưng là “đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn…”(1).

Trước tình hình hết sức khẩn trương và phức tạp, quân Anh, Pháp gây hấn, xét trong các đơn vị đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn, phần lớn binh sĩ nguyên là những nông dân thuần phác, vốn tiềm lưu trong huyết quản ý thức dân tộc, lòng yêu nước và giờ đây trước vận mệnh đất nước đang bị đe dọa, vấn đề đoàn kết mọi lực lượng trở thành nhu cầu tối thượng và khẩn bách. Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã chủ trương thừa nhận các “sư đoàn” tự lập kể trên là “dân quân cách mạng” và tổ chức cho họ làm lễ tuyên thệ trung thành với Chính phủ.

Ngày 11 tháng 9, Gracey đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Đi theo Gracey là một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 Hoàng gia anh và hai đại đội còn lại của tiểu đoàn biệt kích thuộc trung đoàn thuộc địa số 5 Pháp. Hai đại đội biệt kích này không cần phải ngụy trang nữa, mà công khai mặc quân phục Pháp. Liên tiếp từ khi Gracey tới Sài Gòn, quân Anh Pháp ngang ngược tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm từng bước chiếm Sài Gòn. Trước đó một ngày (ngày 10 tháng 9), viên trung tá Roe đại diện phái bộ Anh đóng ở dinh toàn quyền cũ, do Nhật giao lại, đòi chiếm Nam Bộ phủ (dinh thống đốc Nam Kì cũ, hiện là Bảo tàng cách mạng, 65 Lí Tự Trọng), nơi Ủy ban nhân dân Nam Bộ đang đặt trụ sở. Tới bản doanh phái bộ Anh, việc làm đầu tiên của Gracey là ra lệnh cho quân đội Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố, cho quân Anh chiếm luôn sân bay Biên Hòa, đòi tước khí giới của quân Cách mạng, lấy vũ khí của Nhật trang bị cho số tù binh Pháp bị Nhật giam giữ, giúp thực dân Pháp từng bước tổ chức lại bộ máy cai trị.

Trước yêu cầu của phái bộ Anh, để giữ “hòa khí” với quân Đồng Minh trong tình thế đang rất phức tạp, Ủy ban nhân dân Nam Bộ dời trụ sở về dinh Đốc Lí (dinh xã Tây, hiện là trụ sở của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh), nhường Nam Bộ phủ cho Gracey lập trụ sở phái bộ Đồng Minh. Nhưng sau khi ta rút đi, Gracey về đóng ở Nam Bộ phủ và trao dinh toàn quyền (đang là trụ sở của phái bộ Đồng Minh) cho Cédille (Pháp). Tại đây, Cédille nhận chức thống đốc Nam Kì và cho treo ngay một lá cờ nước Pháp. Lá cờ ba sắc bay phần phật trước dinh toàn quyền cũ như một thách thức, một hành động khiêu khích trước sự phẫn nộ của nhân dân thành phố. Lập tức, hàng ngàn người kéo đến tập hợp ngoài rào sắt sẵn sàng xông vào hạ cờ Pháp. Trước nguy cơ xảy ra cuộc đụng độ, Cédille, theo yêu cầu của Gracey, buộc phải hạ cờ xuống.

Sau khi giao dinh toàn quyền cũ cho Pháp, Gracey tiếp tục ban hành những lệnh hết sức ngang ngược, can thiệp thô bạo vào chủ quyền của nhân dân ta. Ngày 15 tháng 9, ra sắc lệnh cấm người Việt Nam mang vũ khí và biểu tình. Ngày 17 tháng 9, đình chỉ xuất bản tất cả các báo chí ở Nam Bộ, tuyên bố giữ quyền kiểm soát Sài Gòn, đòi thả những người Pháp đang bị giam giữ, buộc quân ta rút khỏi thành phố, đòi đặt lực lượng tự vệ ta dưới quyền chỉ huy của chúng.


(1) Đệ nhị sư đoàn, nguyên là tổ chức do nhóm Đại Việt, tay sai cũ của Nhật, tuyển mộ thanh niên, binh lĩnh cũ thành lập, có khoảng 1.000 người do Vũ Tam Anh cầm đầu. Đệ tam sư đoàn, vốn là thanh niên “phòng vệ đoàn” của Nhật, do Nguyễn Hòa Hiệp chỉ huy, ban đầu có khoảng 600 người, sau lôi kéo thêm thanh niên nên có khoảng gần 5.000 người. Đệ tứ sư đoàn do một số người thân Nhật tập hợp lính cũ cùng những phần tử Tơrốtkít, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo lập nên, lực lượng khoảng 2.000 người do Lí Huê Vinh (mật thám Nhật) cầm đầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:27:23 AM »

Để tranh thủ thêm thời gian củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng mọi mặt, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã hết sức mềm dẻo. Nhưng ta càng tự kiềm chế, nhân nhượng thì quân Anh - Pháp càng lấn tới. Nhận thức tính chất phức tạp của tình hình, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã lệnh cho sư đoàn Cộng hòa vệ binh và các sư đoàn dân quân cách mạng rút ra ngoại ô, đồng thời ra lệnh tản cư người già và trẻ em ra khỏi thành phố. Các đơn vị vũ trang được khẩn trương bổ sung quân số và trang bị. Khắp nơi, các trạm thu quân được thành lập. Trong không khí Sài Gòn háo hức muốn đánh Pháp, hàng ngàn thanh niên kéo đến các địa điểm ghi danh tòng quân. Lợi dụng tình hình, một số tay anh chị cũng đứng ra lập điểm thu quân, xây dựng đơn vị vũ trang riêng. Nhiều công nhân, thanh niên, học sinh do hăng hái muốn ra mặt trận chiến đấu, không nhận biết kịp thời bản chất của họ, đã sung vào các tổ chức này.

Tiến thêm một bước trên con đường can thiệp, ngày 19 tháng 8, Cédille tổ chức họp báo, tuyên bố “Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam (!) và do đó, Pháp sẽ thành lập một chính phủ. Chính phủ này phù hợp với tinh thần tuyên bố ngày 24 tháng 3 của De Gaulle”. Ngày 20 tháng 9, Gracey triển khai các biện pháp thực sự kiểm soát Sài Gòn, làm áp lực buộc ta trao lại các bót cảnh sát quận 2, quận 3 và đòi quân ta rút khỏi thành phố. Chúng thả hết và trang bị vũ khí cho những tốp tù binh Pháp cuối cùng còn bị giam giữ. Ngày 21 tháng 9, Gracye ban hành lệnh thiết quân luật trong toàn thành phố.

Đến ngày 22 tháng 9, lực lượng quân địch đóng tại những địa điểm ở Sài Gòn đã liên tới 10.000 gồm 1 tiểu đoàn biệt kích Pháp thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC 600 người), tù binh Pháp tái vũ trang thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11è RIC - 1500 người), Pháp kiều có vũ trang (500 người), một lữ đoàn quân đội Hoàng gia Anh (2500 người) và 7 tiểu đoàn Nhật (5000 người). Toàn bộ quân địch đã sẵn sàng. Việc nổ súng đánh chiếm toàn thành phố chỉ còn là vấn đề thời gian!

Trong lúc nền độc lập dân tộc đang đứng trước thử thách nghiêm trọng, toàn thể nhân dân ta vô cùng căm phẫn trước những hành động láo xược của quân đội Anh - Pháp, thì một số phe đảng phản động mưu toan thừa cơ nổi dậy hoặc ráo riết hoạt động chuẩn bị đón chủ cũ trở lại hoặc lợi dụng để kiếm chác, giành nắm lấy lực lượng vũ trang. Nổi bật trong số này là bọn Tơrốtkits. Dựa vào thế lực Anh - Pháp, chúng tung ra các khẩu hiệu quá khích và mị dân như “tiêu diệt người da trắng”, “chánh quyền về tay công nông”, “thực hiện cách mạng ruộng đất”. Chúng còn hô hét “vũ trang toàn dân”, vu khống và đả kích Ủy ban nhân dân và kì bộ Việt Minh Nam Bộ. Một số tên đầu sỏ phản động trong giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và những nhóm vũ trang thân Nhật cũ cấu kết với bọn Tơrốtkít âm mưu đảo chánh, thành lập một chính phủ tay sai cho Pháp gọi là “Chính phủ quốc gia liên hiệp”, xóa bỏ Ủy ban nhân dân và kì bộ Việt Minh Nam Bộ, xóa bỏ thành quả Cách mạng Tháng Tám vừa giành được.

Âm mưu của chúng đã bị ta khám phá và đập tan kịp trước khi thực dân Pháp nổ súng chiếm Sài Gòn. Dù vậy, hoạt động của chúng đã góp phần tiếp tay cho giặc, làm cho tình hình càng trở nên khó khăn phức tạp hơn.

Vào lúc đó, lực lượng của ta, sau khi các đơn vị tập trung đã rút ra ngoại ô, trong nội thành Sài Gòn chỉ còn một số tiểu đội Cộng hòa vệ binh làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác các vị trí công sở và khoảng 8000 người (6000 công đoàn xung phong, 2000 thanh niên xung phong và công an xung phong), với 120 súng các loại, 3000 lựu đạn, còn lại là giáo mác, gậy tầm vông vạt nhọn. Tất cả được tổ chức lại thành 320 đội tự vệ chiến đấu bố trí khắp các khu vực trong thành phố. Cuộc chiến đấu chắc chắn không tránh khỏi sắp diễn ra trong điều kiện tương quan lực lượng nghiêng về phía quân địch.

0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945, trong trang phục quân đội Hoàng gia Anh, các toán quân Pháp lợi dụng đêm tối bất ngờ nổ súng tập kích các vị trí công sở của ta trong thành phố. Các chiến sĩ bảo vệ của ta dũng cảm chống trả, nhưng sức yếu, núng thế, cuối cùng phải rút lui. Ngay trong đêm, quân địch lần lượt chiếm được các vị trí trọng yếu: sở cảnh sát, trụ sở Quốc gia tự vệ Cuộc, đài phát thanh, nhà bưu điện, ngân hàng, nhà đèn, khám lớn, một số bót cảnh sát ở khu vực trung tâm. 3 giờ sáng ngày 23, quân Pháp đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và tiến ra cầu Mac Mahon (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội… Tiếng súng nổ ran xen kẽ khắp thành phố, chính thức báo hiệu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp bắt đầu ngay giữa Sài Gòn.

29 ngày từ 25 tháng 8 đến 22 tháng 9 năm 1945 là quãng thời gian sôi bỏng, chất chứa những sự kiện quan trọng của lịch sử cả nước nói chung, của thành phố Sài Gòn nói riêng trong những ngày đầu độc lập. Thực dân Pháp, được quân đội Anh trợ giúp, ngang nhiên đưa quân vào đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện cuồng vọng thống trị nước ta một lần nữa. Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, sau chưa tròn một tháng hưởng quyền tự do độc lập, lại phải một lần nữa đứng lên chiến đấu chống ngoại xâm. Thời gian dù quá ngán ngủi, nhưng Đảng bộ và nhân dân thành phố đã nỗ lực tạo được một số điều kiện rất quan trọng, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng các đoàn thể kháng chiến, hình thành các đơn vị vũ trang và đặc biệt, động viên được một ý chí, một tinh thần quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc vừa giành được.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 06:28:28 AM »

II. SÀI GÒN KHÁNG CHIẾN,
CUỘC CHIẾN ĐẤU BAO VÂY QUÂN ĐỊCH TRONG THÀNH PHỐ


Trong điều kiện chính quyền nhân dân vừa mới thành lập, tổ chức đảng các cấp chưa được thống nhất, lực lượng vũ trang mới ra đời còn phân tán và phức tạp về thành phần, vũ khí thô sơ, chưa có kinh nghiệm tổ chức và thực hành chiến đấu, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã phải đương đầu với một kẻ thù đông gấp bội, được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại và bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới với tư cách là kẻ chiến thắng (!) Đó là một thử thách hết sức nặng nề.

Sáng ngày 23 tháng 9, trong khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp còn nổ ra ở quanh khu vực dinh Đốc Lí (xã Tây) và các đầu cầu quan trọng của thành phố, tại số nhà 269 đường Cây mai diễn ra cuộc họp khẩn cấp của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn, Huỳnh Văn Tiểng… Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh dự hội nghị quan trọng này.

Hai ý kiến trái ngược nhau được tranh luận gay gắt trong hội nghị: một bên muốn chỉ nên đình công, bãi thị, bất hợp tác chờ lệnh của Trung ương; một bên do Trần Văn Giàu chủ trương muốn phát động ngay cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình thế khẩn bách. Hành động xâm lược của kẻ thù đã đẩy nhân dân ta vào con đường phải kiên quyết đứng lên chiến đấu, không còn con đường nào khác. Bên ngoài nhiều người tụ tập chờ đợi quyết định của hội nghị, tiếng la hét “xin cho đánh” dội vào phòng họp. Cuối cùng, hội nghị đi đến quyết định: một mặt điện báo gấp ra Trung ương và Hồ Chủ tịch xin chỉ thị, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến. Rất khẩn trương, Hội nghị thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ (do Trần Văn Giàu làm chủ tịch) và Ủy ban kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn (gồm Nguyễn Văn Tư, Huỳnh Văn Đạt, Từ Văn Ri) với chức năng chỉ đạo mọi mặt cuộc kháng chiến chống Pháp, hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với địch, đối phó và đánh địch trên đường phố, ngăn chặn, bao vây chúng trong nội thành, kêu gọi đồng bào vạch mặt bọn Việt gian nguy hiểm, triệt để bãi công, bãi thị, bãi khóa, “tẩy chay mọi kêu gọi của địch”, bao vây và phá hoại kinh tế. Hội nghị kết thúc lúc 10 giờ sáng ngày 23 tháng 9.

Ngay sau khi Hội nghị Cây Mai kết thúc, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát lời kêu gọi nhân dân thành phố và các tỉnh:

“Đồng bào Nam Bộ,

Nhân dân thành phố Sài Gòn,

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!

Đêm qua thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung âm Sài Gòn. Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa!

Ngày 2 tháng 9 đồng bào đã thề quyết hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc!

Độc lập hay là chết!

Hôm nay

Ủy ban kháng chiến kêu gọi

Tất cả đồng bào già, trẻ, trai, gái hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân giặc xâm lược.

Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó, thì hãy lạp tức ra khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp.

Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt.

Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu nước.

Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945”(1)


(1) Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr. 356.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM